Mỗilần giá xăng dầu biến động đều dẫn tới sự thay đổi giá cả của các mặt hàng khác, vìvậy chủ đề giá xăng dầu luôn nhận được sự quan tâm của không chỉ các nhà nghiêncứu và các cơ quan Nh
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG XĂNG DẦU VIỆT NAM VÀ CƠ CHẾ ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỘNG GIÁ XĂNG DẦU ĐẾN CHI TIÊU CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH 4
1.1 Tổng quan về thị trường xăng dầu Việt Nam 4
1.1.1 Nguồn cung xăng dầu và các sản phẩm xăng dầu chính trên thị trường Việt Nam 4
1.1.2 Cơ chế quản lý giá xăng dầu tại Việt Nam 8
1.1.3 Diễn biến thị trường xăng dầu Việt Nam trong thời gian gần đây 11
1.2 Tổng quan nghiên cứu về tác động của biến động giá xăng dầu 15
1.2.1 Tổng quan nghiên cứu về tác động của biến động giá xăng dầu lên nền kinh tế 15
1.2.2 Tổng quan nghiên cứu về cơ chế ảnh hưởng của biến động giá xăng dầu lên đời sống hộ gia đình 20
CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIẢM GIÁ XĂNG DẦU ĐẾN CHI TIÊU CỦA CÁC NHÓM HỘ GIA ĐÌNH VIỆT NAM 23
2.1 Ước lượng ảnh hưởng trực tiếp của việc giảm giá xăng dầu đến CPI thông qua cấu trúc giỏ hàng hóa tính CPI hiện thời 23
2.1.1 Tổng quan về Chỉ số giá tiêu dùng CPI 23
2.1.2 Ảnh hưởng của việc giảm giá xăng dầu đến đời sống của hộ gia đình Việt Nam thông qua chỉ số CPI 25
2.2 Ước lượng ảnh hưởng của việc giảm giá xăng dầu lên ngân sách thực của khu vực hộ gia đình 26
2.2.1 Giới thiệu về dữ liệu nghiên cứu VHLSS 2012 26
2.2.2 Ảnh hưởng của việc giảm giá xăng dầu lên tổng thể các hộ gia đình 29
2.2.2 Ảnh hưởng của việc giảm giá xăng dầu lên các nhóm hộ gia đình phân theo thu nhập 31
Trang 2nhóm thu nhập khác nhau ở khu vực nông thôn và thành thị 34
CHƯƠNG 3: DỰ BÁO XU HƯỚNG DIỄN BIẾN GIÁ XĂNG DẦU TRONG
THỜI GIAN TỚI VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 41
3.1 Dự báo xu hướng diễn biến giá xăng dầu trong thời gian tới 41
3.1.1 Một số phân tích mang tính dự báo về thị trường thế giới và thị trường trong nước 41
3.1.2 Dự báo định lượng về giá dầu thô thế giới trong ngắn hạn 42
3.2 Một số phân tích và kiến nghị chính sách 48
3.2.1 Ảnh hưởng của biến động giá xăng dầu mới nhất lên chi tiêucủa các hộ gia đình 48
3.2.2 Kiến nghị chính sách đếhỗ trợ người thu nhập thấp trong trường hợp giá xăng dầu tăng 51
KẾT LUẬN 57
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
PHỤ LỤC 63
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Mức giá điều chỉnh của các mặt hàng xăng dầu ngày 11/03/2015 13
Bảng 1.2: Mức giá điều chỉnh của các mặt hàng xăng dầu ngày 05/05/2015 14
Bảng 2.1: Quyền số dùng tính CPI thời kỳ 2009 – 2014 của toàn quốc 25
Bảng 2.2 Các chỉ tiêu tính toán chi tiêu của hộ gia đình Việt Nam năm 2012 29
Bảng 2.3: Các mặt hàng thuộc nhóm hàng xăng dầu và giá trị tiêu dùng trung bình tính theo tháng của hộ gia đình Việt Nam 30
Bảng 2.4: Chi tiêu trung bình hàng tháng dành cho xăng dầu của các nhóm hộ phân theo thu nhập 32
Bảng 2.5: Chi tiêu dành cho xăng dầu của các hộ gia đình phân theo nhóm thu nhập tại khu vực thành thị 35
Bảng 2.6: Chi tiêu dành cho xăng dầu của các hộ gia đình phân theo nhóm thu nhập tại khu vực nông thôn 37
Bảng 3.1: Dự báo giá dầu thô trong ngắn hạn 47
Bảng 3.2: Ảnh hưởng của thay đổi giá xăng và dầu hỏa ngày 05/05/2015 lên các hộ gia đình phân theo ngũ phân vị thu nhập 49
Bảng 3.3: Ảnh hưởng của thay đổi giá xăng và dầu hỏa ngày 05/05 lên các hộ gia đình phân theo ngũ phân vị thu nhập tại thành thị 50
Bảng 3.4: Ảnh hưởng của thay đổi giá xăng và dầu hỏa ngày 05/05 lên các hộ gia đình phân theo ngũ phân vị thu nhập tại nông thôn 50
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ1.1:Diễn biến giá của các sản phẩm xăng dầu từ tháng 6/2014 đến nay 15
Biểu đồ 2.1: Tỉ trọng của các mặt hàng thuộc nhóm hàng xăng dầu trong tổng chi tiêu của hộ gia đình Việt Nam 31
Biểu đồ 2.2: Tỉ trọng chi tiêu dành cho các mặt hàng xăng dầu của các hộ gia đình chia theo ngũ phân vị thu nhập 34
Biểu đồ 2.3: Tỉ trọng chi tiêu cho các mặt hàng xăng dầu của các nhóm hộ gia đình tại khu vực thành thị theo ngũ phân vị thu nhập 36
Trang 4tại khu vực nông thôn theo ngũ phân vị thu nhập 37
Biểu đồ 2.5: Mức độ mở rộng ngân sách thực theo ngũ phân vị thu nhập tại thành thị và nông thôn 39
Biểu đồ 3.1: Diễn biến giá dầu thô thế giới từ đầu năm 2014 đến nay 41
DANH MỤC HÌNH Hình 1.1: Chuỗi ảnh hưởng của việc tăng giá xăng dầu 21
Hình 3.1: Kiểm định tính dừng của chuỗi giá dầu thế giới 43
Hình 3.2: Kiểm định tính dừng của chuỗi sai phân bậc 1 của giá dầu thế giới 44
Hình 3.3: Correlogram của chuỗi sai phân bậc một của giá dầu thế giới 45
Hình 3.4: Kết quả hồi quy chuỗi sai phân bậc một của giá dầu thế giới 46
Hình 3.5:Kết quả kiểm định tính dừng của phần dư 46
Hình 3.6: Correlogram của chuỗi phần dư 47
Trang 5Tên viết tắt Tên đầy đủ (Tiếng Anh) Tên đầy đủ (Tiếng Việt)
CCA Caucasus and Central Asia
CCTP Conditional Cash Transfer Chương trình hỗ trợ tiền mặt
IEA International Energy Agency Viện năng lượng quốc tế
IMF International Moneytary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
MENAP Middle East, North Africa,
Afghanistan, and Pakistan
CountriesOECD Organisation for Economic Tổ chức Hợp tác và Phát triển
Development
PACF Partial Autocorrelation Hàm tự tương quan riêng
VHLSS Vietnam Household Living Dữ liệu điều tra mức sống hộ
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Xăng dầu là một nguồn năng lượng được sử dụng phổ biến trong mọi mặtcủa đời sống xã hội, từ sản xuất công nghiệp cho đến đời sống sinh hoạt hàng ngày.Theo báo cáo điều tra năm 2014 của Cơ quan năng lượng quốc tế (InternationalEnergy Agency- IEA), dầu chiếm 40,7% tổng lượng năng lượng sử dụng trên toànthế giới Do nhu cầu ngày càng tăng cao trong khi trữ lượng ngày càng giảm màkhông có sự tái tạo hay bổ sung thêm, cộng với tình hình chính trị-xã hội phức tạptại các nước xuất khẩu dầu chính trên thế giới mà giá xăng dầu trên thị trường quốc
tế luôn biến động phức tạp
Việt Nam tuy có tiềm năng về dầu (trữ lượng dầu mỏ của Việt Nam xếp thứ
28 trên thế giới, đứng thứ 2 ở khu vực Đông Á chỉ sau Trung Quốc) nhưng trình độcông nghệ kĩ thuật còn hạn chế khiến chúng ta chủ yếu vẫn chỉ khai thác và xuấtkhẩu dầu thô trong khi nguồn xăng dầu phục vụ cho các nhu cầu trong nước phầnlớn vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài Điều này càng làm tăng thêm sự phụ thuộccủa giá dầu ở thị trường trong nước với diễn biến giá cả trên thị trường quốc tế Mỗilần giá xăng dầu biến động đều dẫn tới sự thay đổi giá cả của các mặt hàng khác, vìvậy chủ đề giá xăng dầu luôn nhận được sự quan tâm của không chỉ các nhà nghiêncứu và các cơ quan Nhà nước mà còn của mọi tầng lớp người dân trong xã hội.Trong xu hướng biến động giá cả phức tạp hiện nay, việc tìm hiểu những ảnh hưởngcủa việc thay đổi giá cả xăng dầu lên đời sống dân cư sẽ là một bước đệm cần thiết
để tìm ra những biện pháp khắc phục những hậu quả tiêu cực và đảm bảo ổn địnhđời sống cho người dân trong tình huống xảy ra biến động bất lợi và ngược lại,khuếch đại những tác động tích cực trong trường hợp có những thay đổi có lợi
Trên thực tế đã có nhiều bài viết liên quan tới tác động của biến động giáxăng dầu đến đời sống của các hộ gia đình nói chung và tác động của việc giá xăngdầu tăng nói riêng, trong đó đã chỉ ra các hậu quả mà chủ yếu là hậu quả tiêu cựccủa việc tăng giá xăng dầu.Tuy nhiên số lượng các nghiên cứu về tác động của việcgiảm giá xăng dầuvẫn còn rất hạn chế và các kết luận vẫn chủ yếu là các kết luậnđịnh tính mà thiếu đi các số liệu cụ thể Do đó, việc có một nghiên cứu có thể chỉ rađược những tác động cụ thể, định lượng của việc giá xăng dầu giảm tới đời sống của
hộ gia đình là vô cùng cần thiết
Trang 72 Mục tiêu nghiên cứu
Bài viết hướng tới tìm ra những tác động cụ thể của giảm giá xăng dầu đếnđời sống của các hộ gia đình Việt Nam, trước tiên là về tổng thể và sau đó dần đisâu vào các nhóm cư dân khác nhau chia theo thu nhập, khu vực địa lý, v.v… để trảlời câu hỏi: ai là người được lợi nhất khi giá xăng dầu giảm, lợi ích đó được đolường như thế nào, trường hợp giá mặt hàng xăng dầu nào giảm thì hộ gia đình thuđược ích lợi nhiều nhất và cụ thể hóa các kết quả này thông qua các kết quả tínhtoán định lượng Từ đó, bài khóa luận cũng liên hệ đến trường hợp giá cả xăng dầutăng và phân tích thiệt hại của từng bộ phân dân cư khác nhau trong tình huống này
và đưa ra một số khuyến nghị chính sách
3 Phương pháp nghiên cứu
Bài viết chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê mô tả để phân tích dữ liệu,cộng với các phương pháp khác như phương pháp phân tích- tổng hợp, phương pháp hệ thống hóa tài liệu, phương pháp so sánh… Các dữ liệu trong bài viết đượctổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau như Tổng cục thống kê, Cục Hải quan, các cơ quan quốc tế như OPEC, IEA và một số tạp chí có uy tín trong nước và quốc tế
4 Phạm vi nghiên cứu
Bài viết phân tích tác động của việc giá xăng dầu giảm đến chi tiêu của hộgia đình dựa trên Bộ số liệu điều tra mức sống hộ gia đình năm 2012 (VHLSS2012), là bộ số liệu mới nhất và đầy đủ nhất được công bố bởi Tổng cục Thống kê
về các chỉ tiêu phản ánh mức sống của các hộ gia đình Việt Nam
5 Kết cấu của khóa luận
Nội dung khóa luận được chia thành 3 phần chính như sau:
Chương I: Tổng quan về thị trường xăng dầu Việt Nam và cơ chế ảnh hưởngcủa giá xăng dầu đến chi tiêu của các hộ gia đình
Chương II: Tác động của việc giảm giá xăng dầu đếnchi tiêu của các nhóm
hộ gia đình Việt Nam
Chương III: Dự báo xu hướng diễn biến giá xăng dầu trong thời gian tới và kiến nghị chính sách
Do năng lực nghiên cứu có hạn nên bài viết không thể tránh khỏi thiếu sót, rất mong nhận được sự nhận xét góp ý của thầy cô để bài luận trở nên hoàn
Trang 8thiệnhơn Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS,TS Từ Thúy Anh đã hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình lựa chọn đề tài và hoàn thành bài khóa luận này.
Trang 9CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG XĂNG DẦU VIỆT NAM VÀ
CƠ CHẾ ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỘNG GIÁ XĂNG DẦUĐẾN CHI TIÊU
CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH 1.1 Tổng quan về thị trường xăng dầu Việt Nam
1.1.1 Nguồn cung xăng dầu và các sản phẩm xăng dầu chính trên thị trường Việt Nam
1.1.1.1 Nguồn cung xăng dầu cho thị trường Việt Nam
Theo bản xếp hạng của OPEC, Việt Nam là nước có trữ lượng dầu khá lớn,đứng thứ 28 trên thế giới và đứng thứ 2 chỉ sau Trung Quốc ở khu vực Đông Á vớitrữ lượng 4.400 triệu thùng Tuy nhiên, phần lớn các sản phẩm xăng dầu trên thịtrường hiện nay được nhập khẩu từ bên ngoài do Việt Nam mới chỉ hoàn thiện vàđưa vào sử dụng một nhà máy lọc dầu duy nhất là nhà máy lọc dầu Dung Quất nằmtrong Khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi Nhà máy bắt đầu đi vào hoạt động
từ tháng 2 năm 2009 với công suất tối đa là 6,5 triệu tấn dầu thô/năm tương đương148.000 thùng/ngày, đáp ứng khoảng 30% nhu cầu tiêu thụ xăng dầu ở Việt Nam.Ngoài ra còn có một số dự án xây dựng nhà máy lọc dầu khác với quy mô khá lớnnhư nhà máy lọc dầu Nghi Sơn (Thanh Hóa) tuy nhiên đều đang trong giai đoạn xâydựng, chưa đi vào hoạt động
Ngoài nguồn cung từ nhà máy Dung Quất, nhu cầu còn lại được đáp ứng bởinguồn nhập khẩu thông qua hệ thống các đơn vị nhập khẩu xăng dầu Hiện có 19tập đoàn, công ty, doanh nghiệp được cấp phép kinh doanh xuất nhập khẩu xăngdầu tại Việt Nam trong đó 3 tập đoàn chiếm thị phần lớn nhất là Petrolimex, PV Oil
và Saigonpetro, chiếm tổng cộng trên 70% thị phần trong đó Petrolimex chiếm thịphần lớn nhất tương đương gần 47,8% thị phần trong thị trường xăng dầu tại ViệtNam Trong năm 2014, Việt Nam đã nhập khẩu tổng cộng gần 8,62 triệu tấn sảnphẩm xăng dầu các loại trong đó Singapore là đối tác lớn nhất; lượng nhập khẩu đạt2,6 triệu tấn tăng 28,4% so với năm 2013 Tiếp sau Singapore là Trung Quốc (1,73triệu tấn), Đài Loan (1,26 triệu tấn) và Thái Lan (888 nghìn tấn)
1.1.1.2 Các sản phẩm xăng dầu chủ yếu trên thị trường Việt Nam
a Xăng
Trang 10Xăng là nhiên liệu sản xuất từ dầu mỏ, được sử dụng cho các động cơ xăng(xe máy, ô tô, các loại phương tiện vận chuyển,…) Chỉ tiêu chất lượng của xăng làthành phần chưng cất, tỉ trọng, áp suất hơi, độ axit, hàm lượng lưu huỳnh, trị sốoctan… trong đó trị số octan (viết tắt là RON ) thường được coi là chỉ tiêu chấtlượng quan trọng nhất Ví dụ như xăng RON 92 (hay còn gọi là A9 hoặc Mogas 92)
là loại xăng có chất lượng cháy tương đương với một chất chuẩn có 92% chấtizooctan + 8% chất n-Heptan được so sánh với nhau khi cùng chạy trong một động
cơ chuẩn, gọi là máy đo trị số octan Chất izooctan là chất cháy nghiêm túc, khônggây kích nổ được lấy làm chuẩn cao và gán cho trị số octan là 100 Ngược lại mộtchất cháy kém nhất, dễ bị kích nổ được dùng làm chuẩn thấp và gán cho trị số octanbằng không (0) là n-Heptan Các loại xăng khác như xăng RON95, RON 98 là xăng
có trị số octan tương ứng là 95 và 98 Nhà máy lọc dầu Dung Quất hiện đã trang bịđược công nghệ sản xuất xăng chất lượng cao có trị số octan RON 92 và RON 95
mà không cần pha thêm phụ gia hóa học khác Việc phân biệt các loại xăng có trị sốoctan khác nhau sẽ giúp người tiêu dùng lựa chọn được loại xăng phù hợp để có thểbảo vệ tốt động cơ mà không làm hao phí nhiên liệu Theo đó, RON 92 (hay còn gọi
là A92 hoặc Mogas 92) được khuyên sử dụng cho phương tiện có tỉ số nén dưới9,5/1 như xe gắn máy số, xe tay ga đời cũ trong khi RON 95 (hay A95 hoặc Mogas95) được sử dụng cho phương tiện có tỉ số nén trên 9,5/1 như các xe hơi đời mới, xeđua, xe gắn máy tay ga đời mới,v.v
b Dầu diesel (DO)
Dầu diesel, hay còn gọi là dầu DO, dùng cho các thiết bị chạy bằng động cơdiesel như ô tô du lịch, xe tải nặng, các máy phát điện, tầu thủy Trên thị trườngViệt Nam hiện nay đang lưu hành 2 loại dầu diesel là dầu DO 0,05S có hàm lượnglưu huỳnh (S)nhỏ hơn hoặc bằng 500 mg/kg áp dụng cho phương tiện giao thông cơgiới đường bộ và dầu DO 0,25S có hàm lượng lưu huỳnh nhỏ hơn hoặc bằng 2.500mg/kg dùng cho phương tiện giao thông đường thủy Hàm lượng lưu huỳnh (S)trong diesel rất quan trọng do hàm lượng lưu huỳnh cao sẽ làm sản sinh ra axitsunfuric (H2SO4) gây ăn mòn động cơ, phá hỏng dầu nhớt bôi trơn, giảm tuổi thọcủa động cơ DO có hàm lượng lưu huỳnh (S) càng cao khi cháy sẽ tạo ra càng
Trang 11nhiều chất độc hại cho môi trường, do đó tác động gây ô nhiễm môi trường của DO2,5S lớn hơn hơn DO 0,05.
Nhà máy lọc dầu Dung Quất chỉ sản xuất DO chất lượng cao, có hàm lượnglưu huỳnh < 0,05% Để có chất lượng này nhà máy đã phải đầu tư thêm công nghệloại lưu huỳnh bằng hydro tên là Hydrodesulfuration, trị giá khoảng 80 triệu USD.Theo tiêu chuẩn mới của Việt Nam TCVN 5689:2005, nhiên liệu diesel DO buộcphải có hàm lượng lưu huỳnh trong phạm vi 0,05% - 0,25% thay vì trước kia có loại
có hàm lượng tối đa là 0,5%
c Dầu hỏa (KO)
Dầu hỏa còn gọi là dầu KO, là sản phẩm thu được từ chưng cất phân đoạndầu mỏ ở nhiệt độ 150°C đến 275°C hoặc từ cracking dầu mỏ, hiện nay nó được sửdụng chủ yếu làm nhiên liệu cho máy bay phản lực (Avtur, Jet-A, Jet-B, JP-4 hayJP-8) Ngoài ra, loại nặng hơn có thể có nhiệt độ sôi từ 250 – 350°C; loại nàythường dùng cho các loại đèn dầu đặc biệt như đèn tín hiệu đường sắt, đèn hải đăng,đèn thắp sáng cho những loại tàu nhỏ Một dạng của dầu hỏa là RP-1 cháy trongôxy lỏng, được sử dụng làm nhiên liệu cho tên lửa
d Dầu mazut (FO)
Dầu mazut (FO - hay còn gọi là nhiên liệu đốt lò) là sản phẩm chủ yếu củaquá trình chưng cất thu được khi chưng cất dầu thô ở nhiệt độ sôi lớn hơn 350°C.Loại dầu này thường được sử dụng nhiên liệu đốt lò trong công nghiệp nồi hơi, lònung, lò đốt dạng bay hơi, dạng ống khói trong các nhà máy nhiệt điện, máy phátđiện, tàu thủy và trong các nhà máy công nghiệp Dầu mazut có 2 loại: loại nặng(FO nặng) là nhiên liệu đốt lò chủ yếu dùng trong công nghiệp; loại nhẹ (FO nhẹ)bao gồm cả các loại dầu giống như diesel (DO), dầu hỏa (KO) … khi chúng được sửdụng làm nhiên liệu để đốt lò dạng bay hơi, dạng ống khói hoặc lò đốt gia đình
e Xăng sinh học
Xăng sinh học là một sản phẩm đặc biệt trong nhóm các sản phẩm xăng dầu
do nó không phải là sản phẩm thuần túy từ dầu mỏ Xăng sinh học là hỗn hợp củaxăng truyền thống và cồn sinh học (bio-ethanol), được sử dụng làm nhiên liệu chocác loại động cơ đốt trong như xe gắn máy, ô tô Xăng sinh học được ký hiệu là EXtrong đó X là % ethanol nhiên liệu biến tính trong công thức pha trộn xăng sinh
Trang 12học Do ethanol có trị số octan cao (RON = 109) nên khi pha ethanol vào xăng gốcgiúp gia tăng trị số octan cho hỗn hợp nhiên liệu, đồng thời nâng cao hiệu suấtcháy, động cơ vận hành êm hơn và tăng tuổi thọ động cơ Việc sử dụng xăng sinhhọc không những giúp giảm lệ thuộc vào nguồn nhiên liệu hóa thạch đang dần cạnkiệt (sản xuất từ các nguyên liệu tái tạo, phân hủy sinh học thân thiện với môitrường) mà còn góp phần giảm hiệu ứng nhà kính do độ phát thải các khí gốc lưuhuỳnh và ni tơ độc hại (SOx, NOx) ít hơn so với xăng truyền thống.
Trên thực tế Tổng Công ty Dầu Việt Nam (PV Oil) đã chính thức đưa xăngsinh học E5 vào bán thử nghiệm tại khu vực miền Trung từ năm 2010 Theo địnhnghĩa ở trên, xăng sinh học E5 là nhiên liệu chứa 5% thể tích cồn sinh học và 95%thể tích xăng truyền thống RON92 Xăng E5/E10 đã đượcTrung tâm Nghiên cứu vàphát triển chế biến dầu khí (PVPro) thuộc Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) nghiêncứu, thử nghiệm từ năm 2003 Trải qua 3 giai đoạn nghiên cứu từ phòng thí nghiệmđến chạy thử nghiệm trên hiện trường và lấy ý kiến người tiêu dùng, kết quả thuđược đều cho thấy sử dụng xăng E5/E10 giúp giảm mạnh hàm lượng khí thải gây ônhiễm môi trường, đặc biệt là giảm phát thải khí CO đến 44%, giảm phát thảiHydrocarbon đến 25% và giảm phát thải các khí NOx đến 10% Theo Viện Cơ khíđộng lực học- Đại học Bách khoa, các thử nghiệm đã chứng minh nhiên liệu E5 dotrong nước sản xuất hoàn toàn có thể sử dụng an toàn trên các động cơ xăng đanglưu hành ở Việt Nam mà không cần phải thay đổi kết cấu hay vật liệu chi tiết Việc
sử dụng xăng sinh học E5 sẽ giúp cải thiện công suất động cơ, suất tiêu hao nhiênliệu, giảm hiện tượng kích nổ, làm cho động cơ vận hành êm hơn và tăng tuổi thọcho động cơ, đồng thời giảm phát thải HC, CO Mặc dù vậy, việc sử dụng xăngE95 còn vấp phải nhiều nghi ngại từ người tiêu dùng về khả năng gây hỏng động
cơ, cháy nổ, chết máy … Ngoài ra giá thành xăng sinh học cũng chỉ ở mức tươngđương xăng A92 thông thường nên không đủ để khuyến khích người tiêu dùng chuyểnsang sử dụng xăng sinh học Theo thống kê của PV Oil, tới giữa năm 2014 lượng xăngsinh học bán ra chỉ tương đương 1/8 lượng bán của xăng dầu truyền thống Tuy nhiêntheo xu hướng phát triển của ngành năng lượng thế giới, việc sử dụng nhiên liệu xăngsinh học sẽ là xu hướng tất yếu do nhiều ưu điểm như đốt cháy hiệu quả,
Trang 13thân thiện môi trường, tận dụng nguồn nguyên liệu từnông nghiệp và thay thế hoànhảo cho các nguồn nhiên liệu hóa thạch đang dần cạn kiệt.
Brazil là nước đi đầu về nhiên liệu sinh học sử dụng ethanol Trong khu vựcĐông Nam Á, Thái Lan đã sử dụng đến xăng E10, E20 Ở Châu Âu cũng đã phổbiến rộng rãi xăng E5 Từ ngày 1/12/2014, xăng sinh học E5 đã được bán tại cáccây xăng tại 7 địa phương trên cả nước bao gồm Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, HảiPhòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Quảng Ngãi, Bà Rịa - Vũng Tàu Theo lộ trình củaChính phủ, từ ngày 1/12/2015, xăng E5 sẽ được sử dụng bắt buộc trên phạm vi toànquốc và tiến tới sử dụng xăng E10 vào năm 2017
1.1.2 Cơ chế quản lý giá xăng dầu tại Việt Nam
Nghị định 83/2014/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là Nghị định 83) được Chính phủ banhành từ ngày 3/9/2014 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/11/2014 thay thế cho Nghịđịnh 84⁄2009⁄NĐ-CP ban hành ngày 15⁄10⁄2009, là văn bản pháp luật hiện hành quyđịnh về hoạt động kinh doanh xăng dầu và quản lý giá xăng dầu tại Việt Nam
1.1.2.1 Về quy tắc xác định giá:
Giá bán xăng dầu được quyết định theo cơ chế thị trường, có sự định hướngcủa Nhà nước Thương nhân đầu mối được quyền quyết định giá bán buôn và cùngvới thương nhân phân phối xăng dầu điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu theo nguyêntắc, trình tự quy định Cụ thể:
Giá xăng dầu thế giới là giá các sản phẩm xăng dầu được giao dịch trên thịtrường quốc tế do Liên Bộ Công thương – Tài chính xác định và công bố
Giá cơ sở bao gồm các yếu tố và được xác định như sau:
Giá cơ sở bằng (=) {Giá CIF cộng (+) Thuế nhập khẩu cộng (+) Thuế tiêuthụ đặc biệt} nhân (x) Tỷ giá ngoại tệ cộng (+) Thuế giá trị gia tăng cộng (+) Chiphí kinh doanh định mức cộng (+) Mức trích lập Quỹ Bình ổn giá cộng (+) Lợinhuận định mức cộng (+) Thuế bảo vệ môi trường cộng (+) Các loại thuế, phí và cáckhoản trích nộp khác theo quy định của pháp luật hiện hành
Giá cơ sở được tính bình quân của 15 ngày sát với ngày tính giá của chu kỳ
dự trữ xăng dầu bắt buộc
Giá bán lẻ xăng dầu là giá bán tại các cửa hàng bán lẻ xăng dầu Giá bán lẻđược điều chỉnh dựa theo giá cơ sở theo quy tắc trình bày ở mục sau
Trang 141.1.2.2 Về quy tắc điều chỉnh giá:
Theo Nghị định 83, thời gian giữa 2 lần điều chỉnh giá liên tiếp tối thiểu là
15 ngày đối với trường hợp tăng giá, tối đa là 15 ngày đối với trường hợp giảm giá.Nếu giá xăng dầu biến động mà Chính phủ không thực hiện bình ổn giá, thươngnhân đầu mối phải gửi đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Văn bản kê khaigiá và quyết định điều chỉnh giá theo quy định Trường hợp Chính phủ thực hiệnbình ổn giá theo quy định tại Điều 17 và 18 Luật Giá, thương nhân đầu mối phải gửiđến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Văn bản đăng ký giá và quyết định điềuchỉnh giá của thương nhân Cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ căn cứ vào văn bản
kê khai giá hoặc văn bản đăng ký giá và quyết định điều chỉnh giá của thương nhânđầu mối gửi, có trách nhiệm kiểm tra, giám sát để bảo đảm việc điều chỉnh giá củathương nhân đầu mối thực hiện đúng quy định của pháp luật
Trong trường hợp giá cơ sở giảm so với giá liền kề trước đó, thương nhânphải điều chỉnh giảm giá bán; giá giảm tương ứng tối thiểu giá cơ sở tại thời điểmđiều chỉnh giảm Thương nhân phải gửi văn bản kê khai giá, quyết định điều chỉnhgiảm giá đến Liên Bộ Tài chính – Công thương và chịu trách nhiệm trước pháp luật
về mức giá được điều chỉnh; không giới hạn về mức giảm giá, khoảng thời giangiữa 2 lần giảm giá và số lần giảm giá
Mặt khác, trong trường hợp giá cơ sở tăng so với giá liền kề trước đó, quyđịnh về điều chỉnh tăng giá được phân theo mức độ tăng của giá cơ sở Cụ thể:
Nếu giá cơ sở tăng dưới 3% thương nhân đầu mối có quyền điều chỉnh giábán tại thời điểm đó đồng thời gửi báo cáo văn bản cho Liên Bộ Tài chính – Côngthương và chịu trách nhiệm trước pháp luật về mức điều chỉnh;
Nếu giá cơ sở tăng trong phạm vi từ 3% đến 7%, thương nhân đầu mối phảigửi văn bản kê khai giá và dự kiến mức điều chỉnh giá cho Liên Bộ Tài chính –Công thương xem xét và đưa ra mức điều chỉnh phù hợp, nếu trong vòng 3 ngàylàm việc mà không có văn bản trả lời thì thương nhân có quyền điều chỉnh giá tối đatương ứng với mức giá cơ sở ở thời điểm điều chỉnh, tuy nhiên không được lớn hơn7% so với giá cơ sở liền kề trước đó;
Nếu giá cơ sở tăng lớn hơn 7% hoặc việc tăng giá làm ảnh hưởng đến đờisống nhân dân và phát triển kinh tế- xã hội, Liên Bộ Tài chính – Công thương sẽ có
Trang 15văn bản trình Thủ tướng Chính phủ xem xét và cho ý kiến về phương pháp điềuhành cụ thể.
Đối với giá bán lẻ của các thương nhân phân phối, thương nhân phân phốidựa vào giá bán của thương nhân đầu mối để quyết định giá bán trong hệ thống củamình tuy nhiên không cao hơn mức giá cơ sở do Liên Bộ Tài chính – Công thươngcông bố Khi có quyết định điều chỉnh giá bán, thương nhân phân phối phải có vănbản báo cáo cho các cơ quan quản lý Nhà nước theo đúng quy định
1.1.2.3 Về quy tắc trích lập quỹ bình ổn giá:
Quỹ bình ổn giá xăng dầu được trích lập theo quy định của Nghị định84⁄2009⁄NĐ-CP nhằm bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng khi giá xăng dầu tăng quácao, đồng thời san sẻ gánh nặng với doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng xăngdầu Quỹ bình ổn giá được trích lập thường xuyên, liên tục bằng một khoản tiền cụthể tính trên lượng xăng dầu thực tế tiêu thụ và được xác định là một khoản mục chiphí trong cơ cấu giá bán của thương nhân đầu mối Quỹ bình ổn giá sẽ được dùngkhi giá bán lẻ thấp hơn giá cơ sở hoặc việc tăng giá bán làm ảnh hưởng đến pháttriển kinh tế -xã hội hoặc đời sống người dân
Thương nhân đầu mối có trách nhiệm tham gia bình ổn giá theo quy định củapháp luật hiện hành và được nhà nước bù đắp lại những chi phí hợp lý khi tham giabình ổn giá Trong trường hợp cần thiết, Liên Bộ Công thương - Tài chính xem xétđiều chỉnh mức trích lập cho phù hợp với biến động của thị trường
Tuy nhiên, kể từ khi thành lập Quỹ năm 2009 đến nay, tác dụng của Quỹbình ổn giá xăng dầu vẫn là một đề tài gây nhiều tranh cãi trong xã hội Theo BộCông thương, Quỹ bình ổn giá đã góp phần ổn định giá cả các mặt hàng xăng dầu,đặc biệt tại một số thời điểm nhạy cảm như cuối năm 2010, đầu 2011 khi giá dầuthế giới tăng cao Tuy nhiên theo một số nhà nghiên cứu thì việc sử dụng Quỹ bình
ổn giá chưa thực sự đem lại lợi ích thiết thực cho người tiêu dùng Nói một cách cụthể hơn, Quỹ bình ổn giá thực chất được trích lập ngay trên giá bán lẻ xăng dầu tạithời điểm trích lập, nghĩa là chính người dân là người trực tiếp đóng góp vào quỹbình ổn giá Điều này giống như việc người dân trả một khoản phí ở hiện tại để bảo
vệ họ khỏi rủi ro tăng giá trong tương lai Thêm vào đó, việc trích Quỹ hay xả Quỹ
là những quyết định mang nặng tính can thiệp trực tiếp vào thị trường, có thể gây
Trang 16nên các méo mó thị trường ở cả hai phía cung và cầu gây ảnh hưởng đến quá trìnhphát triển kinh tế về lâu dài, đồng thời còn những chi phí phát sinh liên quan đếnviệc quản lý Quỹ, kiểm soát hoạt động trích Quỹ- xả Quỹ và các chi phí hành chínhkhác.
1.1.2.4 Về quy tắc điều hành giá công khai và minh bạch
Nghị định 83 nêu trách nhiệm của Liên Bộ Tài chính- Công thương trongviệc điều hành giá công khai và minh bạch như sau:
Bộ Công thương phải công bố trên trang thông tin điện tử của mình về giáthế giới, giá cơ sở, giá bán lẻ xăng dầu hiện hành; thời điểm sử dụng, số trích lập, số
sử dụng và số dư Quỹ bình ổn giá xăng dầu hàng quý; các biện pháp điều hành khác; trong đó:
Bộ Tài chính có trách nhiệm giám sát việc điều hành giá xăng dầu; giám sát việc trích lập, mức sử dụng Quỹ bình ổn giá của thương nhân đầu mối
Ngoài ra, Nghị định yêu cầu thương nhân đầu mối có trách nhiệm công bốcông khai trên các phương tiện thông tin đại chúng về giá bán lẻ hiện hành; số tríchlập, số sử dụng và số dư Quỹ bình ổn giá xăng dầu hàng tháng và trước mỗi lần điềuchỉnh giá bán xăng dầu trong nước; điều chỉnh mức trích, mức sử dụng Quỹ bình ổngiá; công bố báo cáo tài chính trong năm tài chính khi đã được kiểm toán
1.1.3 Diễn biến thị trường xăng dầu Việt Nam trong thời gian gần đây
Năm 2014 là năm giá xăng dầu thay đổi nhiều nhất từ trước đến nay với tổngcộng 24 lần điều chỉnh trong đó có 5 lần điều chỉnh tăng và 19 lần điều chỉnh giảm.Trong những tháng đầu năm 2014 giá xăng tăng mạnh và đạt đỉnh ngày 07/07/2014với giá xăng A92 là 25.640 đồng/l Từ tháng 8 trở đi, thị trường dầu thế giới có dấuhiệu giảm giá kéo theo sự sụt giảm giá xăng dầu trong nước Có thể kể đến một sốnguyên nhân chủ yếu của hiện tượng này như sau:
Thay đổi trong xu hướng cung- cầu của thị trường: hiện nay trên thị trườngdầu thế giới đang xuất hiện tình trạng cung vượt quá kì vọng và cầu thấp hơn kìvọng, đặc biệt xu hướng này có khả năng duy trì trong dài hạn Từ năm 2011, sảnlượng dầu đá phiến của Mỹ tăng mạnh dẫn tới dư thừa cung dầu trên thị trường,đồng thời tình hình kinh tế thế giới không có nhiều khởi sắc dẫn đến nhu cầu về dầucho hoạt động sản xuất giảm mạnh Theo báo cáo Triển vọng kinh tế thế giới tháng
Trang 171 năm 2015 của WB, dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới sẽ tiếp tục ở mức thấptrong năm 2015 Thêm vào đó, các tiến bộ công nghệ và khoa học kỹ thuật đã giúpphát hiện ra nhiều nguồn năng lượng thay thế cho dầu và đồng thời làm giảm đáng
kể mức độ thâm dụng dầu trong sản xuất đến 50% trên toàn thế giới, làm nhu cầu vềdầu giảm đi đáng kể
Những thay đổi trong mục tiêu của khối OPEC: Saudi Arabia đóng vai trò lànhà sản xuất chủ đạo (swing producer) trong khối OPEC; bằng cách sử dụng đặcquyền của mình Saudi Arabia có thể nâng hoặc giảm nguồn cung về dầu của OPEC
và ổn định giá dầu thế giới ở mức mong muốn Tuy nhiên trong năm 2014, khốiOPEC đã không đạt được thỏa thuận chung về việc cắt giảm sản lượng sản xuất vàtiếp tục duy trì khai thác ở mức 30 triệu thùng dầu/ ngày Điều này báo hiệu mộtthay đổi lớn trong mục tiêu của khối OPEC: thay vì duy trì giá cả ở mức mongmuốn, OPEC chuyển mục tiêu sang duy trì thị phần trong thị trường dầu thế giới
Những bất ổn địa chính trị có thể gây gián đoạn nguồn cung được giảm bớt
và loại trừ: trong nửa sau năm 2014, dù cho Trung Đông vẫn tồn tại nhiều bất ổnnhưng thực tế cho thấy sự ảnh hưởng của nó lên nguồn cung về dầu là không thực
sự trầm trọng Tại Libi, dù xảy ra nội chiến nhưng sản xuất dầu đã có dấu hiệu phụchồi ở mức 0,5 triệu thùng dầu/ ngày (khoảng 0,5% tổng sản lượng sản xuất dầu củathế giới) trong quý thứ 3 năm 2014
Dưới ảnh hưởng của sự sụt giảm giá trên thị trường quốc tế, giá các mặt hàngxăng dầu tại Việt Nam cũng giảm liên tục từ thời điểm tháng 8 cho tới hết năm
2014 Tuy nhiên đến đầu năm 2015, do chiến tranh bùng phát tại Yemen – nơi tậptrung nhiều điểm sản xuất và vận chuyển dầu quan trọng của thế giới, đồng thời sảnlượng dầu thô của Mỹ giảm mạnh và dự trữ tồn kho giảm dẫn tới Mỹ phải mua thêmdầu từ thị trường quốc tế mà nhu cầu dầu tăng lên, tạo cơ hội phục hồi cho giá dầuthế giới Theo diễn biến này, vào ngày 11/03/2015, giá bán lẻ xăng dầu đã tăng trởlại lần đầu tiên sau một loạt chuỗi điều chỉnh giảm giá Theo Bộ Công thương,nguyên nhân của lần tăng giá này là do trong thời gian qua giá xăng A92 trên thịtrường Singapore bình quân đã tăng 20,5% cùng với giá diesel tăng 16,3%; giá dầuhỏa tăng 15,3% và giá dầu mazut tăng 21,4% Do Thủ tướng Chính phủ có chỉ thị
về việc bình ổn tâm lý người tiêu dùng trong dịp Tết nguyên đán, Bộ Công thương
Trang 18đã sử dụng Quỹ bình ổn giá để kiềm chế tăng giá xăng dầu, tuy nhiên chênh lệchgiữa giá bán lẻ và giá cơ sở vẫn rất cao, cụ thể là: chênh lệch của giá xăng A92 sovới giá cơ sở là 3.452 đồng/l; chênh lệch của giá dầu diesel là 1.588 đồng/l; chênhlệch của giá dầu hỏa là 1.537 đồng/l và chênh lệch giá dầu mazut là 1.827 đồng/kg.Thêm vào đó, nhu cầu tiêu thụ của thị trường quá lớn dẫn đến việc không thể dựavào nguồn Quỹ bình ổn để tiếp tục giữ giá xăng dầu trong thời gian dài, cộng thêmviệc thuế nhập khẩu các mặt hàng xăng dầu vẫn giữ ở mức cao dẫn tới bắt buộc phảităng giá xăng dầu để dung hòa lợi ích cho các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu.Mức điều chỉnh cụ thể của các mặt hàng trong đợt điều chỉnh giá này cụ thể nhưtrong bảng sau:
Bảng 1.1: Mức giá điều chỉnh của các mặt hàng xăng dầu ngày 11/03/2015
Đơn vị: nghìn đồng
(%)
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ trang tin Petrolimex
Tuy nhiên trong diễn biến gần đây nhất, giá xăng dầu tiếp tục biến độngmạnh do có quyết định tăng thuế bảo vệ môi trường đối với các mặt hàng xăng dầutheo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 1269/2011/UBTVQH12 của Ủyban thường vụ Quốc hội Theo đó, kể từ ngày 01/05/2015 thuế bảo vệ môi trường sẽtăng cụ thể với từng mặt hàng như sau:
- Xăng : tăng từ 1.000 đồng/lít lên 3.000 đồng/lít;
- Dầu diezel: tăng từ 500 đồng/lít lên 1.500 đồng/lít;
- Dầu mazut, dầu nhờn: tăng từ 300 đồng/lít lên 900 đồng/lít;
- Mỡ nhờn: tăng từ 300 đồng/kg lên 900 đồng/kg
Từ khi có thông tin về việc thuế bảo vệ môi trường tăng tới 300%, nhiềuchuyên gia cũng như đại bộ phận người dân trong xã hộiđều e ngại rằng giá xăngdầu sẽ tăng mạnh; tuy nhiên Bộ Tài chính cho rằnggiá xăng dầu sẽ không biến độngnhiều do thuế bảo vệ môi trường tăng nhưng thuế nhập khẩu các sản phẩm xăng dầu
Trang 19lại giảm Cụ thể theoThông tư số 48/2015/TT-BTC có hiệu lực kể từ ngày
14/04/2015, thuế nhập khẩu các mặt hàng xăng dầu sẽ được điều chỉnh như sau:
- Xăng RON92/95: giảm từ 35% xuống mức 20% (giảm 15%);
- Dầu diesel: giảm từ 30% xuống 20% (giảm 10%);
- Dầu hoả: giảm từ 35% xuống 20% (giảm 15%);
- Dầu mazut: giảm từ 35% xuống 25%;
Theo tính toán của Bộ Tài chính, mức tăng thuế bảo vệ môi trường thấp hơn
so với mức giảm thuế nhập khẩu các sản phẩm xăng dầu nên giá xăng dầu bán lẻkhông những không tăng mà có khả năng còn giảm, đồng thời giá xăng dầu trongnước vẫn sẽ thấp hơn giá xăng dầu ở một số nước trong khu vực Ngoài ra trongtrường hợp giá xăng dầu thực sự diễn biến theo chiều hướng tăng, Bộ Công thươngkhẳng định sẽ sử dụng các quy định của Nghị định 83 để bình ổn hoặc điều chỉnhgiá nhằm đảm bảo lợi ích tốt nhất cho người tiêu dùng
Trên thực tế, giá xăng đã tăng khi quyết định tăng thuế bảo vệ môi trường cóhiệu lực dù thuế nhập khẩu giảm,ngược lại với dự tính trên của Bộ Tài chính Cụ thể
là vào ngày 05/05/2015, giá xăng A92 và A95 đã tăng thêm đến gần 2.000đồng/l.Ngoài dầu hỏa giảm giá ở mức 260đồng/l, các mặt hàng xăng dầu còn lại vẫn giữnguyên mức giá của lần điều chỉnh trước đó Chi tiết giá của các mặt hàng xăng dầutrong lần điều chỉnh này được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 1.2: Mức giá điều chỉnh của các mặt hàng xăng dầu ngày 05/05/2015
Nguồn: Tổng hợp từ trang tin Petrolimex
Dưới đây là đồ thị diễn biến các đợt điều chỉnh giá các mặt hàng xăng dầu kể
từ tháng 6/2014 đến nay
Trang 20Biểu đồ 1.1:Diễn biến giá của các sản phẩm xăng dầu từ tháng 6/2014 đến nay
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ trang tin của Petrolimex
Từ đồ thị ta có thể nhìn thấy rõ giá các mặt hàng xăng dầu đạt đỉnh vào tháng7/2014, tiếp theo là chuỗi giảm giá liên tiếp cho tới hết năm 2014 Hai đợt kiềm chếgiá dầu tương ứng với khoảng ổn định của đồ thị (gần như song song với trụchoành) khi giá xăng duy trì ở mức hơn 15.000 đồng/l vào đầu năm 2015 Đoạn cuốicủa đồ thị có xu hướng đi lên, thể hiện diễn biến tăng giá mới đây trong đó đườngmàu xanh lam tương ứng với giá xăng A92 có độ dốc lớn nhất, thể hiện đợt điềuchỉnh giá ngày 05/05 trong đó giá xăng tăng đến hơn 11% trong khi giá dầu hỏagiảm, giá dầu diesel và dầu mazut không thay đổi
1.2 Tổng quan nghiên cứu về tác động của biến động giá xăng dầu
1.2.1 Tổng quan nghiên cứu về tác động của biến động giá xăng dầu lên nền kinh tế
Kể từ khi dầu mỏ được khai thác công nghiệp vào thế kỉ 19, dầu mỏ và cácchế phẩm từ dầu mỏ đã trở thành nguồn nhiên liệu quan trọng cho rất nhiều ngànhcông nghiệp trên thế giới Vai trò của nó trong đời sống kinh tế- xã hội cũng do đó
mà ngày càng trở nên quan trọng và thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu họcthuật trong nhiều lĩnh vực, bao gồm cả lĩnh vực kinh tế Các công trình nghiên cứucủa Hamilton (1983), Rotemberg và Woodford (1996) đã chỉ ra có một mối liên hệ
Trang 21chặt chẽ giữa giá dầu và sản lượng thực của nền kinh tế Những nghiên cứu củaLoungani (1986), Perron (1989) cũng công nhận những thay đổi trong giá dầu cóảnh hưởng đáng kể lên các biến số kinh tế vĩ mô, đặc biệt kể từ khi cuộc khủnghoảng dầu mỏ lần đầu tiên nổ ra vào năm 1973, tác động mạnh mẽ của nó đã làmchao đảo nền kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới Theo Munasinghe (1984) vàRotemberg và Pindyck (1984), cuộc khủng hoảng dầu năm 1973 đã gây nên tìnhtrạng lạm phát cao kéo dài, làm xói mòn tốc độ tăng trưởng kinh tế ở cả các quốcgia phát triển lẫn các quốc gia đang phát triển Hamilton (1983, 1996) cũng chỉ raviệc giá dầu tăng là một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên suy thoái ở
Mỹ trong giai đoạn từ sau Thế chiến thứ 2 đến trước 1972 Trong nghiên cứu năm
1996 khi áp dụng mô hình VAR, Hamilton đã chứng minh được mối quan hệ nhânquả chặt chẽ giữa giá dầu và tốc độ tăng trưởng GNP thực của nền kinh tế Mỹ giaiđoạn 1948-1980; theo đó ông kết luận tăng trưởng GNP chắc chắn có quan hệngược chiều với giá dầu tăng nhưng có liên hệ không đáng kể với việc giá dầu giảm.Kết luận này cũng được khẳng định lại trong nghiên cứu của Mork và Olson (1994)
Cả hai nghiên cứu này đều thống nhất ở điểm: bất kì thay đổi nào trong giá dầu dù
là tăng giá hay giảm giá cũng đều gây ra việc tái phân bổ tài nguyên và gây tốnnhiều chi phí cho nền kinh tế Do đó, khi giá dầu giảm thì lợi ích từ giá giảm và chiphí của tái phân bổ tài nguyên bù trừ cho nhau dẫn tới tác động chung đến nền kinh
tế là gần như không có, trong khi nếu giá dầu tăng thì tác động được cộng gộp lạilàm tổn thất trở nên nặng nề hơn
Tuy nhiên trong giai đoạn sau này có ý nhiều ý kiến cho rằng mối quan hệgiữa giá xăng dầu và các chỉ số vĩ mô đang trở nên ngày càng lỏng lẻo, đặc biệt từkhi các cuộc khủng hoảng dầu trong giai đoạn những năm 2000 không gây tác độngtương tự lên kinh tế các nước như các cuộc khủng hoảng trước đó Hamilton (2009)cho rằng mối quan hệ giữa thay đổi của giá dầu và tăng trưởng kinh tế là rất khó xácđịnh thông qua phân tích thống kê, và ông chỉ ra rằng có thể còn một biến số chưaxác định được đã tác động lên cả hai đại lượng này làm các nghiên cứu mất đi tínhchính xác
Khi nghiên cứu về tác động của việc tăng giá dầu lên nền kinh tế vĩ mô,nhiềunghiên cứu cho rằng hậu quả của các cú sốc giá dầu phụ thuộc vào đặc điểm
Trang 22kinh tế riêng của nước đó Khan (1993) khẳng định phản ứng của các nền kinh tế nhậpkhẩu dầu đối với cú sốc về giá dầu phụ thuộc vào cấu trúc hàng hóa nhập khẩu, cán cânvãng lai, những thay đổi trong dịch chuyển tài nguyên khu vực tư nhân và nhà nước,mức độ đáp ứng nhu cầu nội địa và khả năng tiếp nhận trợ giúp tài chính từ nước khác.Chang et al (2011) khi nghiên cứu về tác động của biến động giá dầu tới kinh tế vĩ môcủa các nước Châu Á – Thái Bình Dương đã kết luận rằng: các nước xuất khẩu dầu nhưMalaysia và Indonesia sẽ được lợi khi giá dầu tăng (thể hiện ở GDP tăng); các nướcnhỏ có nền kinh tế mở cửa như Singapore, Đài Loan, New Zealand chịu ảnh hưởng tiêucực trong ngắn hạn, tuy nhiên dễ hồi phục trong dài hạn nhờ vào thương mại; cuối cùng
là nhóm nước lớn và phát triển nhanh như Ấn Độ và Trung Quốc không chịu tác độngđáng kể từ việc tăng giá xăng dầu Mặc dù vậy, nhiều nghiên cứu đều nhất trí rằng xéttrên góc độ toàn cầu thì việc tăng giá dầu sẽ gây ra tổn thất Cantore, Antimiani vàAnciaes (2012) cho rằng ngay
ở các nước xuất khẩu dầu mỏ đang phát triển, lợi ích từ việc giá dầu tăng không đủ
để bù đắp cho chi phí sản xuất tăng ở các ngành sản xuất không sử dụng dầu
Ở góc độ ngành, Lee và Ni (2002) kết luận các cú sốc giá dầu có ảnh hưởngđáng kể và hoạt động theo cơ chế sốc cung đối với các ngành thâm dụng dầu hay sửdựng dầu như là nguyên liệu đầu vào (ví dụ như lọc dầu) và hoạt động như một cúsốc cầu đối với nhiều ngành khác Nguyen Van Chung (2014) khi nghiên cứu về tácđộng của biến động giá dầu lên kinh tế Việt Nam theo mô hình Input-Output đã kếtluận rằng giá dầu tăng để lại tác động lớn hơn trong dài hạn so với ngắn hạn; đồngthời giá dầu tăng 10% sẽ gây ra tác động tiêu cực đến nền kinh tế tuy nhiên giá dầuchỉ tăng 5% lại cho ảnh hưởng tích cực, ám chỉ rằng một cú sốc giá dầu vừa phải sẽtạo điều kiện tốt cho kinh tế
Theo Weiqi Tang, Libo Wu và Zhong Xiang Zhang (2009), giá dầu có thể tácđộng tới nền kinh tế và các biến số vĩ mô thông qua rất nhiều kênh dẫn truyền Chuku(2012) đã liệt kê ra 6 kênh dẫn truyền chủ yếu là: hiệu ứng sốc cung, hiệu ứng dịchchuyển thu nhập, hiệu ứng lạm phát, hiệu ứng cán cân thương mại, hiệu ứng điều chỉnhngành, hiệu ứng không kì vọng (không chắc chắn) Schneider (2004) cũng đã mô tả cáckênh dẫn truyền sốc giá dầu theo 3 hướng: phía cung, phía cầu và tỉ giá trao đổi thươngmại (terms of trade) Theo ông, ảnh hưởng phía cung được giải thích
Trang 23bằng chi phí sản xuất tăng do dầu là nguyên liệu đầu vào của quá trình sản xuất, dẫntới sản lượng tiềm năng của nền kinh tế giảm Thêm vào đó, giá dầu tăng gây ảnhhưởng lên quyết định đầu tư do các quyết định này phụ thuộc vào kỳ vọng của nhàđầu tư về những biến đổi giá cả trong tương lai Mặt khác ở phía cầu, mặt bằng giá
cả tăng lên làm mức thu nhập thực và nhu cầu tiêu dùng giảm đi Đáng chú ý lànhững diễn biến này chỉ xảy ra ở các nước nhập khẩu dầu, trong khi các nước xuấtkhẩu dầu nhìn chung là được lợi khi giá dầu tăng
Khi nghiên cứu tác động của việc giá dầu giảm lên nền kinh tế, Baffes (2015)khẳng định giá dầu giảm là tín hiệu tích cực cho sự phục hồi của nền kinh tế thế giớithông qua việc kiềm chế lạm phát ở quy mô toàn cầu và kích thích phát triển kinh
tế Hơn thế nữa, việc giá xăng dầu giảm còn giúp tạo động lực thực hiện cải cách cơcấu sản xuất, xóa bỏ trợ cấp năng lượng, cải cách hệ thống thuế và các thay đổi cấutrúc có lợi khác tại các quốc gia lệ thuộc vào xuất khẩu dầu Theo nghiên cứu này,tác động của việc giá dầu giảm được dẫn truyền qua một số kênh như: tác động trựctiếp lên giá cả hàng hóa và hoạt động kinh doanh của nước xuất khẩu dầu và nướcnhập khẩu dầu; tác động gián tiếp thông qua thương mại và các thị trường hàng hóakhác; tác động gián tiếp thông qua các chính sách ứng phó của chính phủ các nướcbao gồm chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ Các kênh dẫn truyền này có thể
có mức độ tác động và độ trễ so với thời điểm giá dầu giảm khác nhau, tùy thuộcvào nguyên nhân của sự giảm giá, xu hướng giảm giá và mức độ phụ thuộc vào dầucủa nước đó Cụ thể hơn, khi xét từ phía cung, giá dầu giảm giúp giảm chi phí sảnxuất của một loạt các hàng hóa dịch vụ và dẫn tới làm giảm tỉ lệ lạm phát đồng thờikích thích hoạt động đầu tư, mở rộng sản xuất Về phía cầu, giá dầu giảm giúp làmgiảm chi tiêu dành cho năng lượng và nâng cao thu nhập thực tế của người dân, dẫntới tăng tiêu dùng hàng hóa dịch vụ Các ảnh hưởng gián tiếp khác đến từ các chínhsách mà các quốc gia áp dụng khi giá dầu giảm: nếu giá dầu giảm giúp kiềm chếlạm phát tại các nước nhập khẩu dầu, chính sách tiền tệ nới lỏng có thể khuếch đạithêm hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế Mặt khác, nếu giá dầugiảm làm mất đi nguồn thu của chính phủ tại các nước xuất khẩu dầu thì nhiều khảnăng chính phủ sẽ phải áp dụng chính sách tài khóa thắt chặt, từ đó tác động lêntổng sản lượng của nền kinh tế
Trang 24Ích lợi từ việc giá dầu giảm tại các nước lệ thuộc vào dầu nhập khẩu thể hiện
ở thu nhập thực tế của doanh nghiệp và hộ gia đình tăng:Rasmussen vàRoitman(2011)đã chỉ ramức giảm 10% của giá dầu có thể tạo ra tăng trưởng khoàng0.1 đến 0.5% tại các nước nhập khẩu dầu, tùy thuộc vào tỉ trọng giá trị nhập khẩudầu so với GDP Tại các nước xuất khẩu dầu, bên cạnh nguy cơ gây thâm hụt ngânsách do một phần lớn trong nguồn thu của chính phủ các nước này xuất phát từ hoạtđộng xuất khẩu dầu, việc giá dầu giảm trong thời gian dài có thể gây thâm hụt cáncân vãng lai và làm mất giá tiền tệ của quốc gia.Một báo cáo mới đây về tình hìnhkinh tế thế giới năm 2014 của IMF đãcho thấy các nước xuất khẩu dầu thuộckhốiMENAP và CCA đã chịu thiệt hại về ngân sách khi giá dầu trải qua những lầnxuống giá liên tiếp trong năm 2014 và buộc phải thi hành những chính sách cắtgiảm chi tiêu để ứng phó với thâm hụt ngân sách.Tuy nhiên lợi ích của các nướcnhập khẩu dầu khi giá dầu giảm cũng có thể bị giảm đi đáng kể do phải bù trừ nhiềuchi phí khác, ví dụ như sự sụt giảm giá của những mặt hàng xuất khẩu của chínhnhững nước này, nhu cầu tiêu thụ của người dân các nước xuất khẩu dầu giảm đi,v.v…
Về mối liên hệ giữa giá dầu giảm và lạm phát, De Gregorio, Landerretche vàNielson (2007) đã rút ra kết luận rằng khi giá dầu giảm 10% chỉ giúp lạm phát giảmkhoảng 0,2% Như vậy, ảnh hưởng của việc giá dầu giảm lên lạm phát là tương đốinhỏ Theo tính toán của World Bank, lạm phát của nền kinh tế toàn cầu có thể giảm
từ 0,4 đến 0,9% trong năm 2015 nếu giá dầu giảm 30% Tuy nhiên, mức độ ảnhhưởng của giá dầu giảm lên lạm phát trong nội bộ từng quốc gia còn phụ thuộc vàonhững đặc điểm riêng của nền kinh tế nước đó như trọng số của các sản phẩm liênquan đến dầu trong giỏ hàng hóa tính CPI, ảnh hưởng của giá dầu đến tiền lương vàcác chi phí khác, tỉ giá hối đoái, độ mềm dẻo của chính sách tiền tệ và cơ chế đánhthuế và/hoặc trợ cấp dành cho các sản phẩm liên quan đến dầu Baffes (2015) cũngnhận định rằng tác động của việc giảm giá dầu đến lạm phát giá tiêu dùng của mộtnước phụ thuộc vào cơ cấu tiêu dùng năng lượng của người dân, chính sách điềuhành giá và chính sách tỉ giá hối đoái Đối với những quốc gia nhập khẩu một lượnglớn dầu, việc đồng tiền của quốc gia đó tăng giá sẽ làm nhấn mạnh thêm hiệu quảlàm giảm phát của giá dầu giảm và ngược lại
Trang 251.2.2 Tổng quan nghiên cứu về cơ chế ảnh hưởng của biến động giá xăng dầu lên đời sống hộ gia đình
Nghiên cứu của Yanagisawa (2012) tiếp cận ảnh hưởng của việc giá dầu tăngđến nền kinh tế ở góc độ của các doanh nghiệp tại nước nhập khẩu dầu: doanhnghiệp phải đối mặt với chi phí tăng và doanh thu giảm, dẫn tới việc cắt giảm đầu tư
và tiền lương cho công nhân đồng thời tăng giá các sản phẩm bán ra Ngân sáchthực của người tiêu dùng bị thu hẹp làm cho họ phải giảm tiết kiệm cũng như giảmlượng tiền chi tiêu mua sắm, dẫn tới điều kiện sống nói chung bị suy giảm.Naranpanawa và Bandara (2011) khi nghiên cứu tác động của tăng giá dầu lên cácnhóm dân cư và các ngành kinh tế khác nhau thông qua mô hình GTAP đã đi đếnkết luận: các hộ gia đình thu nhập thấp ở thành thị chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từgiá dầu tăng cao, tiếp đến là các hộ thu nhập thấp ở nông thôn; đồng thời các ngànhkinh tế sử dụng nhiều năng lượng như công nghiệp và dịch vụ chịu ảnh hưởng mạnhhơn ngành nông nghiệp Cantore, Antimiani và Anciaes (2012) cũng khẳng định giádầu tăng làm tăng bất ổn về an ninh lương thực và làm trầm trọng hơn tình trạng đóinghèo; một số thành phần xã hội đặc biệt chịu ảnh hưởng nặng nề như người nghèo,người vô gia cư, người không có việc làm ổn định và tựu trung lại, những người cóthu nhập càng thấp thì ảnh hưởng bởi giá dầu tăng càng nặng nề
Trong một bài nghiên cứu chính sách, Nguyễn Đức Thành, Bùi Trinh, ĐàoNguyên Thắng (2008) cũng đã định lượng sơ bộ một số ảnh hưởng của việc giáxăng dầu tăng lên đời sống hộ gia đình tại Việt Nam Theo nhóm tác giả, các ảnhhưởng trực tiếp và gián tiếp, ngắn hạn và dài hạn của việc giá xăng dầu tăng đượcthể hiện thông qua hình vẽ ở trang bên
Trang 26Hình 1.1: Chuỗi ảnh hưởng của việc tăng giá xăng dầu
Xăng dầu
Giảm sức ép lên ngân
sách do cắt giảm trợ
giá
Tiêu dùng cuối cùng (xăng
xe, đun nấu)
Tiêu dùng trung gian (nhiênliệu đầu vào cho quá trìnhsản xuất, chế biến…)
Tăng mức giáchung (ảnhhưởng trựctiếp)
Giảm sức ép thâm hụt
ngân sách, giảm mức
vay nợ hoặc thu thuế
trong tương lai
Tăng giá các mặt hàng khác Sức ép tăng(ảnh hưởng gián tiếp, dây lương
chuyền)
Giảm méo mó nền
kinh tế, giúp ổn định
vĩ mô trong dài hạn
Tái cấu trúc lại nền kinh tế, dịchchuyển lợi thế cạnh tranh giữa cácngành, ảnh hưởng đến đời sống cácnhóm dân cư
Nguồn: Nguyễn Đức Thành, Bùi Trinh, Đào Nguyên Thắng (2008)
Như vậy, việc giá xăng dầu tăng xét về dài hạn có thể có lợi cho nền kinh tếquốc gia, tuy nhiên xét trong ngắn hạn lại để lại tác động tiêu cực tới đời sống củacác hộ gia đình
Ngược lại trong trường hợp giá dầu giảm, các hộ gia đình cũng sẽ thu đượclợi ích thông qua các ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp Theo Baffes (2015), trongkhi ảnh hưởng trực tiếp là tương đối hạn chế do chi tiêu cho các sản phẩm xăng dầuchỉ chiểm một phần nhỏ trong tổng chi tiêu của hộ gia đình thì ảnh hưởng gián tiếpthông qua tăng trưởng kinh tế và giảm mặt bằng giá cả hàng hóa nói chung lại lớnhơn rất nhiều Giá xăng dầu giảm giúp giảm bớt chi phí sản xuất, các ngành kinh tế
Trang 27có điều kiện mở rộng và phát triển dẫn tới tăng nhu cầu thuê lao động, người dân cóđiều kiện nâng cao thu nhập Khi thu nhập của người dân tăng đồng thời mặt bằnggiá cả chung giảm xuống thì ngân sách thực của người dân tăng lên và họ có điềukiện để chi tiêu tiêu dùng hàng hóa dịch vụ nhiều hơn.
Trong bài khóa luận này, tác giả tập trung vào phân tích mức độ ảnh hưởngcủa việc giá xăng dầu giảm đến chi tiêu của các hộ gia đình tại Việt Nam thông quatác động của nó lên ngân sách thực và định lượng cụ thể tác động đó
Trang 28CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIẢM GIÁ XĂNG DẦU ĐẾN CHI
TIÊU CỦA CÁC NHÓM HỘ GIA ĐÌNH VIỆT NAM 2.1 Ước lượng ảnh hưởng trực tiếp của việc giảm giá xăng dầu đến CPI thông qua cấu trúc giỏ hàng hóa tính CPI hiện thời.
2.1.1 Tổng quan về Chỉ số giá tiêu dùng CPI
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI – Consumer Price Index) là một chỉ tiêu thống kêphản ánh xu hướng và mức độ biến động giá cả chung của một số lượng cố định cácloại hàng hoá dịch vụ (được gọi là “rổ” hàng hoá) đã được chọn đại diện cho tiêudùng, phục vụ đời sống bình thường của người dân qua thời gian CPI là một chỉtiêu thống kê quan trọng, được sử dụng cho các mục đích như sau:
Cung cấp số liệu về tỷ lệ tăng giá (hay là tỷ lệ lạm phát) cho chính phủ, các
Bộ, ngành để sử dụng trong công tác điều hành, quản lý, nghiên cứu chính sách điềuchỉnh tiền lương, lãi suất ngân hàng, quản lý tài chính tiền tệ, dự báo thị trường,kiểm tra kết quả của các kế hoạch, chính sách đã thực hiện và xây dựng kế hoạchphát triển sản xuất kinh doanh trong tương lai
Đối với người dân, CPI là thông tin quan trọng mang tính thời sự, được công
bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm làm căn cứ cho các quyếtđịnh chi tiêu trong đời sống hàng ngày CPI là căn cứ để người dân xác định đượcmức độ thay đổi, biến động của giá cả các mặt hàng phổ biến cần thiết cho đời sốngnhư lương thực thực phẩm, nhiên liệu, dịch vụ y tế… qua đó xem xét việc điềuchỉnh chi tiêu một cách hợp lý
CPI đồng thời là một chỉ tiêu phản ánh tình trạng phát triển kinh tế của đấtnước, vì vậy nó là một nguồn thông tin tham khảo cho các Tổ chức quốc tế trongđánh giá tình hình kinh tế của Việt Nam; đồng thời các nhà đầu tư nước ngoài cóthể dùng CPI làm một nguồn tham khảo trong việc hoạch định chiến lược, chínhsách đầu tư tại Việt Nam
Ngoài ra, Tổng cục Thống kê và các Cục Thống kê sử dụng CPI để loại trừyếu tố biến động (tăng /giảm) giá trong việc tính toán một số chỉ tiêu thống kê tổnghợp theo giá so sánh (như giá trị sản xuất, tốc độ tăng trưởng kinh tế của một sốngành dịch vụ, v.v…)
Trang 29Rổ hàng hóa dùng để tính CPI của nước ta được xác định về số lượng vàquyền số 5 năm 1 lần và sử dụng cố định trong 5 năm tiếp theo, tính cho năm gốcđồng nhất với năm cập nhật danh mục mặt hàng, dịch vụ đại diện Rổ hàng cho giaiđoạn 2009-2014 gồm 572 mặt hàng đại diện, chia làm 11 nhóm cấp I và 3 nhóm cấp
II (nằm trong nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống); quyền số của các nhóm hàngđược xác định dựa trên dữ liệu điều tra mức sống hộ gia đình do Tổng cục thống kêthực hiện năm 2008 CPI của cả nước, của 6 vùng kinh tế, tỉnh/ thành phố trực thuộctrung ương trong giai đoạn 2009-2014 được tính và cập nhật bổ sung hàng thángtheo các tiêu thức sau:
Chỉ số giá chung, chỉ số giá 11 nhóm cấp I và 3 nhóm cấp II (lương thực,thực phẩm và ăn uống ngoài gia đình) và chia theo khu vực thành thị, khu vực nôngthôn;
Theo 5 gốc so sánh: năm gốc 2009, cùng kỳ năm trước, kỳ trước; chỉ số giábình quân cùng kỳ
Do xăng dầu là mặt hàng nằm trong danh mục các hàng hóa dùng để tính CPInên việc thay đổi giá cả của các mặt hàng xăng dầu sẽ lập tức tác động trực tiếp đếnchỉ số này Ngoài ra, nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ ra mối liên hệ giữa giá xăng dầu
và CPI Theo Kook và Crilley (2012), những thay đổi về giá của các mặt hàng xăngdầu và khí đốt có tác động lên chỉ số CPI, thậm chí tác động này còn mạnh hơn tácđộng của việc thay đổi giá các mặt hàng lương thực thực phẩm như sản phẩm trồngtrọt, chăn nuôi hay sản phẩm sữa Tại Việt Nam, do có sự kiểm soát giá của nhànước mà biến động của giá xăng dầu thế giới thể hiện tác động không thực sự rõ rệtlên CPI do độ trễ của chính sách; tuy nhiên tác động này là có thực do xăng dầu làmột trong những hàng hóa quan trọng nhất chi phối mặt bằng giá cả chung trongnền kinh tế (Trương Văn Phước và Chu Hoàng Long, 2005)
Việc CPI tăng thể hiện khả năng xảy ra lạm phát, giảm sức mua của tiền tệ(người dân mua được ít hàng hóa hơn với cùng một lượng tiền) làm ảnh hưởng đếnđiều kiện sống của người dân trong xã hội Ngược lại, việc CPI giảm có thể là tínhiệu tích cực cho thấy lạm phát trong nền kinh tế ở mức thấp, mặt bằng giá cả hànghóa ổn định, người dân có điều kiện chi tiêu mua sắm nhiều hàng hóa dịch vụ hơn
Do vậy, việc xác định mức độ ảnh hưởng của việc giảm giá xăng dầu lên CPI là một
Trang 30phần quan trọng trong xác định tác động tổng thể của nó lên đời sống các hộ giađình.
2.1.2 Ảnh hưởng của việc giảm giá xăng dầu đến đời sống của hộ gia đình Việt Nam thông qua chỉ số CPI
Cụ thể cấu trúc giỏ hàng hóa tính CPI của nước ta trong giai đoạn 2009-2014được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 2.1: Quyền số dùng tính CPI thời kỳ 2009 – 2014 của toàn quốc
Đơn vị tính: %
04 IV Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây 10,01
dựng
Trang 31khoảng 2,02% trong tổng thể giỏ hàng hóa tính CPI, hay nói cách khác giả dụ khigiá xăng dầu giảm 10% thì ảnh hưởng trực tiếp ngay lập tức của nó lên CPI sẽ làlàm CPI giảm 0,202% Điều này tương ứng với việc hàng hóa rẻ hơn 0,202% so vớitrước khi giảm giá, hay với cùng một lượng tiền tệ người dân sẽ mua được thêm0,202% lượng hàng hóa mua được tại thời điểm trước giảm giá.
2.2 Ước lượng ảnh hưởng của việc giảm giá xăng dầu lên ngân sách thực của khu vực hộ gia đình
2.2.1 Giới thiệu về dữ liệu nghiên cứu VHLSS 2012
Từ năm 1993 đến nay, Tổng cục thống kê đã thực hiện 8 cuộc điều tra mứcsống với 2 tên gọi khác nhau: khảo sát mức sống dân cư (1993-1994; 1997-1998);khảo sát mức sống hộ gia đình (2002, 2004, 2006, 2008, 2010, 2012) Các dữ liệukhảo sát mức sống từ năm 2002 đến nay được gọi tắt là VHLSS (VietnamHousehold Living Standard Survey) Bộ dữ liệu VHLSS đóng vai trò rất lớn trongviệc đánh giá mức sống, tình trạng nghèo đói và phân hóa giàu nghèo để phục vụcông tác hoạch định chính sách của các cơ quan Nhà nước nhằm nâng cao chấtlượng đời sống dân cư Ngoài ra, VHLSS còn có vai trò cung cấp số liệu để tínhquyền số chỉ số giá tiêu dùng CPI và nhiều thông tin kinh tế- xã hội khác phục vụcho việc nghiên cứu, hoạch định chính sách về quản lý điều hành và quản lý rủi ro
và phục vụ tính toán tài khoản quốc gia
2.2.1.1 Đối tượng, đơn vị và phạm vi khảo sát
Đối tượng khảo sát: Hộ dân cư, các thành viên hộ và các xã có hộ được khảo sát
Đơn vị khảo sát: Hộ dân cư và xã được chọn khảo sát
Phạm vi khảo sát: 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là tỉnh)
2.2.1.2 Thời điểm, thời kì và thời gian khảo sát
Thời điểm, thời kỳ khảo sát: Cuộc khảo sát được tiến hành trong 4 kỳ vào các tháng 3, 6, 9 và 12 năm 2012
Thời gian khảo sát: Thời gian thu thập thông tin tại địa bàn mỗi kỳ là 1 tháng
2.2.1.3 Nội dung khảo sát
a Đối với hộ dân cư
Trang 32Thu thập các thông tin phản ánh mức sống của hộ, gồm:
Thu nhập của hộ, gồm: mức thu nhập, thu nhập phân theo nguồn thu (tiềncông, tiền lương; hoạt động sản xuất tự làm nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản; hoạtđộng ngành nghề sản xuất kinh doanh dịch vụ phi nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản của hộ; thu khác)
Chi tiêu của hộ: mức chi tiêu, chi tiêu phân theo mục đích chi và khoản chi(chi cho ăn, mặc, ở, đi lại, giáo dục, y tế, văn hoá, v.v… và chi khác)
Một số thông tin khác của hộ và các thành viên trong hộ để phân tích nguyênnhân và sự khác biệt của mức sống, gồm: những đặc điểm chính về nhân khẩu học(tuổi, giới tính, dân tộc, tình trạng hôn nhân); trình độ học vấn; tình trạng ốm đau,bệnh tật và sử dụng các dịch vụ y tế; việc làm; đồ dùng, điện, nước, điều kiện vệsinh; tham gia chương trình xoá đói giảm nghèo; tác động của di cư đến mức sốngcủa hộ
Thu thập các thông tin phản ánh điều kiện sống trong phạm vi xã ảnh hưởngđến mức sống của hộ dân cư, gồm:
Một số tình hình chung về nhân khẩu, dân tộc
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chủ yếu, gồm: hiện trạng điện, đường, trườnghọc, trạm y tế, chợ, bưu điện, nguồn nước
Tình trạng kinh tế, gồm: tình hình sản xuất nông nghiệp (đất đai, xu hướng
và nguyên nhân tăng giảm sản lượng các cây trồng chính, các điều kiện hỗ trợ phát triển sản xuất như tưới tiêu, khuyến nông); cơ hội việc làm phi nông nghiệp
Một số thông tin cơ bản về trật tự an toàn xã hội, môi trường, tín dụng và tiếtkiệm
2.2.1.4 Phiếu thu thập số liệu và các bảng danh mục có trong khảo sát
a Các loại phiếu thu thập số liệu
Phiếu số 1A-PVH/KSMS12: Phiếu phỏng vấn hộ (thu nhập);
Phiếu số 1B-PVH/KSMS12: Phiếu phỏng vấn hộ (thu nhập và chi tiêu);
Phiếu số 2-PVX/KSMS12: Phiếu phỏng vấn xã;
Phiếu số 3-PT/KSMS12: Phiếu phúc tra hộ;
Trang 33 Phiếu số 4A-KSCL/KSMS12: Bảng phân công khối lượng công việc;
Phiếu số 4B-KSCL/KSMS12: Báo cáo công tác kiểm tra giám sát tại địa bàn;
Phiếu số 4C-KSCL/KSMS12: Phiếu kiểm tra bảng câu hỏi;
Phiếu số 4D-KSCL/KSMS12: Phiếu dự phỏng vấn hộ điều
tra b Các bảng danh mục
Danh mục các dân tộc Việt Nam được ban hành theo Quyết định số TCTK/PPCĐ ngày 02 tháng 3 năm 1979 của Tổng cục Thống kê (được in sẵn trong phiếu khảo sát)
121- Danh mục nghề nghiệp được ban hành tạm thời cho Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009 (được in sẵn trong phiếu khảo sát)
Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam được ban hành kèm theo Quyết định số10/2007/QĐ-TTg ngày 23 tháng 01 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ (được in sẵn trong phiếu khảo sát)
Bảng danh mục các đơn vị hành chính Việt Nam 2010 được ban hành theoQuyết định số 124/2004/QĐ-TTg ngày 08 tháng 7 năm 2004 của Thủ tướng ChínhPhủ và những thay đổi đã được Tổng cục Thống kê cập nhật đến thời điểm 31 tháng
12 năm 2010
2.2.1.5 Phương pháp thu thập số liệu
Cuộc khảo sát sử dụng hai loại phiếu phỏng vấn: Phiếu phỏng vấn hộ vàPhiếu phỏng vấn xã Phiếu phỏng vấn hộ gồm Phiếu phỏng vấn thu nhập và chi tiêu(áp dụng cho mẫu thu nhập chi tiêu) bao gồm tất cả các thông tin của nội dung khảosát và Phiếu phỏng vấn thu nhập (áp dụng cho mẫu thu nhập) gồm các thông tin củanội dung khảo sát trừ các thông tin về chi tiêu của hộ Phiếu phỏng vấn được thiết
kế tương đối chi tiết, giúp điều tra viên ghi chép thuận lợi, đồng thời tránh bỏ sótcác khoản mục và tăng tính thống nhất giữa các điều tra viên, từ đó nâng cao chấtlượng số liệu khảo sát
Cuộc khảo sát áp dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp: điều tra viên đếngặp chủ hộ và những thành viên trong hộ có liên quan để phỏng vấn và ghi thông tinvào phiếu phỏng vấn hộ Đội trưởng đội khảo sát phỏng vấn lãnh đạo xã và các cán
bộ địa phương có liên quan và ghi thông tin vào phiếu phỏng vấn xã Để bảo đảmchất lượng thông tin thu thập, cuộc khảo sát không sử dụng phương pháp điều tra
Trang 34gián tiếp hoặc sao chép các thông tin từ các nguồn có sẵn khác vào phiếu phỏngvấn.
2.2.1.6 Tổng hợp và công bố kết quả
Các dữ liệu thu thập được xử lý và công bố dưới dạng các chỉ tiêu đầu ra vàphân tổ của hộ dân cư và của xã Kết quả của khảo sát sẽ được công bố dưới dạngcác báo cáo, ấn phẩm, dữ liệu vi mô và trên trang Web chính thức của Tổng cụcThống kê Do cần nhiều thời gian để tổng hợp và xử lý dữ liệu, thông thường mất từ1-2 năm để công bố kết quả khảo sát tính từ thời điểm kết thúc khảo sát
2.2.2 Ảnh hưởng của việc giảm giá xăng dầu lên tổng thể các hộ gia đình
Để đo lường được ảnh hưởng của việc giá xăng dầu giảm lên tổng chi tiêu,trước tiên ta cần xác định được tỉ trọng chi tiêu dành cho xăng dầu trong tổng chitiêu của hộ gia đình là bao nhiêu Theo bản điều tra về mức sống hộ gia đìnhVHLSS năm 2012, chi tiêu của một hộ gia đình được xác định thông qua 9 chỉ tiêu.Sau khi sử dụng phần mềm STATA để bóc tách dữ liệu ta thu được giá trị cụ thểcủa các chỉ tiêu được trình bày trong bảng sau:
Bảng 2.2 Các chỉ tiêu tính toán chi tiêu của hộ gia đình Việt Nam năm 2012
5 27 Chi tiêu dùng hàng không phải lương Tháng 824,9236
thực thực phẩm hàng ngày
6 28 Chi tiêu dùng hàng không phải lương Năm 5494,25
thực thực phẩm hàng năm
9 31 Chi thường xuyên nhà ở, điện, nước sinh Năm 3215,186
hoạt
Nguồn: Tổng cục thống kê, tính toán của tác giả
Từ bảng trên, ta tính được chi tiêu trung bình hàng năm của một hộ gia đìnhlà: