Dù vậy, vẫn cònnhiều vấn đề cần được giải quyết để tối ưu hóa hoạt động hải quan tại Chi cục TâyTrang, từ đó rút ra kinh nghiệm cho nhiều Chi cục Hải quan khác trên cả nước, gópphần thúc
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆN ĐẠI HÓA HẢI QUAN VÀ TỔNG QUAN CHƯƠNG TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA HẢI QUAN TRONG CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN 6
1.1 Cơ sở lý luận về hiện đại hóa hải quan 6
1.1.1 Khái niệm về hiện đại hóa 6
1.1.2 Hiện đại hóa trong lĩnh vực hải quan 7
1.2 Tổng quan về Cộng đồng kinh tế ASEAN 9
1.2.1 Cơ sở lý luận về liên kết kinh tế quốc tế và Cộng đồng kinh tế khu vực 9
1.2.2 Quá trình hình thành và sự cần thiết thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN 12
1.2.3 Những nội dung cơ bản của Cộng đồng kinh tế ASEAN 14
1.3 Chương trình hiện đại hóa hải quan trong Cộng đồng kinh tế ASEAN 14
1.3.1 Sự cần thiết của hợp tác hải quan trong Cộng đồng kinh tế ASEAN 14
1.3.2 Cơ sở pháp lý của hợp tác hải quan trong Cộng đồng kinh tế ASEAN 15
1.3.3 Các chương trình hiện đại hóa hải quan trong Cộng đồng kinh tế ASEAN 19
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN HIỆN ĐẠI HÓA HẢI QUAN TẠI CHI CỤC HẢI QUAN TÂY TRANG TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN 23
2.1 Giới thiệu chung về Chi cục Hải quan cửa khẩu Tây Trang 23
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Cục Hải quan Điện Biên và Chi cục Hải quan Tây Trang 23
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Chi cục Hải quan Tây Trang 24
2.2 Thực trạng thực hiện hiện đại hóa hải quan tại Chi cục Hải quan Tây Trang 26
2.2.1 Thực hiện quá trình hoàn thiện khuôn khổ pháp lý 26
2.2.2 Thực trạng cải cách công tác thu thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu 28
2.2.3 Thực hiện đơn giản hóa và hài hòa hóa thủ tục hải quan 40
2.2.4 Thực trạng hiện đại hóa công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại 51
2.3 Đánh giá việc thực hiện hiện đại hóa hải quan tại Chi cục Hải quan Cửa khẩu Tây Trang 54
Trang 22.3.1 Những điểm đã đạt được khi thực hiện hiện đại hóa hải quan 54
2.3.2 Những khó khăn, hạn chế của Chi cục trong quá trình thực hiện hiện đại hóa hải quan 57
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC THỰC HIỆN HIỆN ĐẠI HÓA HẢI QUAN CHI CỤC TÂY TRANG 61
3.1 Những cam kết của Việt Nam về lĩnh vực hải quan trong bối cảnh hội nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN 61
3.1.1 Các cam kết của Việt Nam với ASEAN 61
3.1.2 Những vấn đề đặt ra đối với Chi cục Hải quan Tây Trang 62
3.2 Phương hướng thực hiện hiện đại hóa hải quan khi hội nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN 63
3.2.1 Quan điểm và mục tiêu của Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020 63
3.2.2 Mục tiêu và chỉ tiêu hiện đại hóa hải quan tại Chi cục Hải quan Tây Trang 65
3.3 Các giải pháp cụ thể tiếp tục hiện đại hóa hải quan tại Chi cục Hải quan Tây Trang 67
3.3.1 Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để thực hiện hiện đại hóa hải quan 67
3.3.2 Cải cách và hiện đại hóa công tác thu thuế 69
3.3.3 Giải pháp về hiện đại hóa thủ tục hải quan 70
3.3.4 Hiện đại hóa hải quan qua việc tăng cường áp dụng công nghệ thông tin 73
3.3.5 Hoàn thiện công tác quản lý rủi ro tăng cường hiệu quả chống buôn lậu và gian lận thương mại 75
3.3.6 Đào tạo nhân lực cho Chi cục Hải quan Tây Trang 76
KẾT LUẬN 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO a
Trang 3ASEAN Association of South East Asian Hiệp hội các quốc gia Đông
ATIGA ASEAN Trade in Goods Hiệp định Thương mại Hàng hóa
C/O Certificate of Origin Giấy chứng nhận xuất xứ
CEPT Common Effective Preferential Chương trình Ưu đãi Thuế quan
GATT General Agreement on Tariffs Hiệp ước chung về Thuế quan và
HS Harmonized Commodity Hệ thống Hài hòa mô tả và mã
Description and Coding System hóa hàng hóa
NSW National Single Window Một cửa quốc gia
VCIS Vietnam Customs Intelligence Hệ thống thông tin tình báo Hải
Information System quan Việt NamVNACCS Vietnam Automated Cargo Hệ thống thông quan hàng hóa
Trang 4WCO World Customs Organization Tổ chức Hải quan thế giớiWTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Đặc điểm các mức độ liên kết kinh tế quốc tế 10
Bảng 2.1 Trích đoạn danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam 2015 34
Bảng 2.2 Trích đoạn biểu thuế nhập khẩu ưu đãi 2016 35
Bảng 2.3 Trích đoạn biểu thuế xuất khẩu theo mặt hàng chịu thuế 2016 36
Bảng 2.4 Biểu mức thu phí hải quan, lệ phí hàng hóa, phương tiện quá cảnh 43
DANH MỤC HÌNH Hinh̀ 1.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu toàn quốc giai đoạn 2008-2016 7
Hinh̀ 2.1 Tình hình xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan Tây Trang giai đoạn 2008-2016 (đơn vị: triệu USD) 36
Hinh̀ 2.2 Tình hình thu thuế xuất khẩu tại Chi cục Hải quan Tây Trang giai đoạn 2008-2016 (đơn vị: triệu VNĐ) 37
Hinh̀ 2.3 Tình hình thu thuế nhập khẩu và thuế tiêu thụ đặc biệt tại Chi cục Hải quan Tây Trang giai đoạn 2008-2016 (đơn vị: triệu VNĐ) 39
Hinh̀ 2.4 Tình hình thu phí tại Chi cục Tây Trang giai đoạn 2008-2016 45
Hinh̀ 2.5 Tổng số tờ khai xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan Tây Trang giai đoạn 2008-2016 (đơn vị: tờ) 48
Hinh̀ 2.6 Hệ thống thông tin một cửa quốc gia kết nối với Hải quan Tây Trang 51
Hinh̀ 2.7: Tình hình xử phạt hành chính tại Chi cục Hải quan Tây Trang 53
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xu hướng hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế đang có ảnh hưởng lớn đến nhiềukhía cạnh của cuộc sống hiện đại với đặc điểm nổi bật là cầu nối giữa các quốc gia
có vị trí địa lý gần nhau và tương đồng nhiều mặt về văn hóa, lịch sử Nhiều tổ chứckhu vực được ra đời, thúc đẩy sự liên kết và tương trợ lẫn nhau của các nước, xóanhòa khoảng cách phát triển kinh tế của các nước thành viên Tại khu vực ĐôngNam Á, sự ra đời của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vào ngày8/8/1967 đã đánh dấu mốc mới trong lịch sử phát triển và quan hệ ngoại giao giữacác nước trong khu vực này ASEAN đã định hướng các thành viên kết hợp nguồnlực trong nước với nguồn lực trong khu vực, góp phần vào sự thịnh vượng, ổn định,hữu nghị và hòa bình của toàn khối Việc xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN(AEC) đánh dấu nỗ lực của ASEAN trong việc thúc đẩy thương mại nội khối, xóanhòa khoảng cách phát triển kinh tế của các quốc gia thành viên, tận dụng lợi thếcủa các nước để khẳng định vị thế của cả khu vực
Chương trình hợp tác hải quan trong AEC thành công sẽ là bước đệm quan trọng
để thực hiện nhiều mục tiêu khác của AEC Chính vì vậy, Hải quan các nướcASEAN có vai trò và nhiệm vụ lớn trong hợp tác, hỗ trợ thực hiện các cam kếthướng tới xây dựng AEC và tiêu chuẩn hóa theo xu hướng phát triển của hải quanthế giới
Hiện đại hóa hải quan trở thành mục tiêu quan trọng để Việt Nam hội nhập khuvực và thế giới cũng như thu hút đầu tư phát triển đất nước, nâng cao vị thế củamình trên trường quốc tế Trước nhiều khó khăn, thách thức, ngành Hải quan phảiliên tục thay đổi và hoàn thiện qua các chính sách quản lý và cơ chế hoạt động trênphạm vi cả nước Ngoài việc tuân thủ những chính sách đưa ra từ Tổng cục, từngChi cục Hải quan đều phải là những đơn vị chủ động trong công tác hiện đại hóahoạt động hải quan trong bối cảnh hội nhập AEC
Tuy nhiên, ở Việt Nam còn tồn tại những Chi cục Hải quan ở vùng kinh tế khókhăn, điều kiện cơ sở vật chất cũng như nguồn nhân lực chưa đủ đáp ứng tốc độ hộinhập khu vực, đồng thời còn phải đương đầu với nạn buôn lậu ma túy, gian lậnthương mại mà điển hình là Chi cục Hải quan Tây Trang – tỉnh Điện Biên Với vị trí
Trang 7trọng yếu giáp biên giới Lào, chi cục đã đạt được nhiều thành tích trong hiện đạihóa, cải cách thủ tục, nâng cao năng lực quản lý và áp dụng công nghệ thông tin vàolĩnh vực hải quan đúng như yêu cầu của các cấp lãnh đạo đề ra Dù vậy, vẫn cònnhiều vấn đề cần được giải quyết để tối ưu hóa hoạt động hải quan tại Chi cục TâyTrang, từ đó rút ra kinh nghiệm cho nhiều Chi cục Hải quan khác trên cả nước, gópphần thúc đẩy ngành Hải quan Việt Nam nói riêng và kinh tế nước ta nói chung hộinhập sâu rộng với nền kinh tế khu vực và trên thế giới.
Với những lí do khách quan trên, tác giả lựa chọn: “Thực trạng thực hiện hiện
đại hóa hải quan tại Chi cục Hải quan Tây Trang – Điện Biên trong bối cạnh hội nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN” làm đề tài cho Khóa luận tốt nghiệp của mình.
2 Tình hình nghiên cứu
Các tác giả trong và ngoài nước đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề hiện đại hóahải quan trong bối cảnh hội nhập kinh tế nói chung và trong phạm vi Cộng đồngKinh tế ASEAN nói riêng Những công trình khoa học ở nhiều cấp độ tiêu biểu là:
Tại nước ngoài:
- Dự án “Tracing the progress toward the ASEAN Economic Community” đăng
trên Báo cáo dự án nghiên cứu của ERIA, số 03 năm 2009 Hai tác giả Misa Okabe
và Shujirourata dựa trên phương pháp nghiên cứu định lượng để thể hiện quá trìnhxây dựng AEC, chỉ rõ thủ tục hải quan được tối ưu hóa có thể giảm nhiều chi phíkinh tế và nhấn mạnh vai trò của cơ chế một cửa quốc gia, cơ chế một cửa ASEAN
- Sổ tay “Hiện đại hóa hải quan” do Ngân hàng Thế giới phát hành, tác giả: Luc
De Wulf – José B Sokol Sổ tay đưa ra những bài học kinh nghiệm hỗ trợ cải cáchhải quan của Ngân hàng Thế giới và bàn về các vấn đề của hải quan Nhiều tìnhhuống thực tiễn của các quốc gia, tổ chức là cơ sở để đưa ra bài học cho các nhàhoạch định chính sách, nhà nghiên cứu về hải quan trên khắp thế giới
- Luận án tiến sĩ “Tiếp tục cải cách, hiện đại hóa hải quan Việt Nam đáp ứng
nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế” của Nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan
Nguyễn Ngọc Túc bảo vệ tại Đại học Ngoại Thương năm 2007 Luận án đưa ra cácgiải pháp hiện đại hóa hải quan trên cơ sở phân tích lý luận và kinh nghiệm các
Trang 8quốc gia trên thế giới, đánh giá công cuộc cải cách Hải quan Việt Nam từ năm 1990
và so sánh các kinh nghiệm, thông lệ hải quan quốc tế với thực tiễn ở nước ta
- Luận án Kinh tế Chính trị “Hải quan Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh
tế khu vực và quốc tế”, TS Lê Văn Tới, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
năm 2005 Dưới góc độ kinh tế chính trị, tác giả đã chỉ ra vai trò của hải quan tronghội nhập kinh tế và đưa ra các giải pháp để công tác hải quan tại nước ta thực hiệntốt nhiệm vụ của mình trong giai đoạn hội nhập hiện nay
Các công trình nghiên cứu có đóng góp không nhỏ vào việc nghiên cứu lý luận
và thực tiễn công tác hải quan trên phạm vi thế giới, phạm vi khu vực ASEAN vàphạm vi quốc gia Tuy nhiên, chưa có tác giả nào đi sâu phân tích thực tiễn và đưa
ra giải pháp cải thiện thực hiện hiện đại hóa hải quan tại một chi cục đơn lẻ để từ đótrở thành bài học kinh nghiệm cho các chi cục khác tại Việt Nam Đây là lý do chủquan để đề tài tiếp tục được nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Khóa luận nghiên cứu và đánh giá về thực trạng hiện đại
hóa hải quan tại Tây Trang nhằm mục đích:
- Đưa ra các giải pháp để tối ưu hóa và đẩy nhanh công tác hiện đại hóa hải quantại chi cục trong bối cảnh các đơn vị hải quan cả nước thi đua cải cách, hiện đại hóađáp ứng yêu cầu hội nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN về hải quan
- Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp xuất nhậpkhẩu (XNK) trên địa bàn Tây Trang nói riêng và Điện Biên nói chung, phối hợpcùng với các cơ quan liên quan khác liên quan đến nghiệp vụ hải quan đẩy nhanhtốc độ phát triển của ngành XNK tại Điện Biên
- Đưa ra những ý kiến giải quyết những vướng mắc, khó khăn của cả Chi cụcHải quan Tây Trang và các doanh nghiệp trong quá trình hiện đại hóa, góp phần đẩymạnh phát triển ngành xuất nhập khẩu của tỉnh theo chiều sâu
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu trên, Khóa luận có các nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hiện đại hóa hải quan và cơ sở thực tiễn của việcxây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN cùng chương trình Hợp tác Hải quan
Trang 9- Phân tích và làm rõ sự cần thiết của hợp tác hải quan trong ASEAN và thựctrạng thực hiện chương trình hiện đại hóa hải quan hướng tới quá trình hình thành
và phát triển AEC
- Đánh giá những yếu tố ảnh hưởng, những kết quả đạt được và hạn chế trongquá trình thực hiện hiện đại hóa hải quan tại Tây Trang và nguyên nhân dẫn đến sựhạn chế đó
- Đề xuất các kiến nghị, giải pháp đối với Chi cục để đẩy nhanh công tác hiện đại hóa hải quan tại Tây Trang sao cho hiệu quả và đi đúng định hướng phát triển
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Khóa luận là thực tiễn hiện đại hóa hải quan tại ViệtNam nói chung và tại Chi cục Hải quan cửa khẩu Tây Trang nói riêng
Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: khuôn khổ Khóa luận tốt nghiệp không đi sâu phân tích mọi vấn
đề liên quan đến hiện đại hóa hải quan tại Việt Nam mà chỉ tập trung nghiên cứuthực trạng hiện đại hóa hải quan Việt Nam tại Chi cục Hải quan cửa khẩu Tây Trangtrên các lĩnh vực: xây dựng khuôn khổ pháp lý, hiện đại hóa công tác thuế tại hảiquan, đơn giản hóa và hài hòa hóa thủ tục hải quan, xây dựng hải quan điện tử và ápdụng công nghệ thông tin vào hải quan, triển khai cơ chế một cửa quốc gia, đào tạonhân lực và chống buôn lậu, gian lận thương mại
Chi cục Hải quan cửa khẩu Tây Trang được lựa chọn như một điển hình thựctiễn để tìm ra những bài học kinh nghiệm cho bản thân Chi cục Tây Trang, từ đóđóng góp cho quá trình hiện đại hóa của Chi cục khác trên cả nước
- Về mặt không gian và thời gian nghiên cứu: Khóa luận giới hạn ở việc phân
tích công tác hiện đại hóa hải quan ở Chi cục Hải quan cửa khẩu Tây Trang từ 2008đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, Khóa luận dự kiến sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: phân tích và tổng hợp lý thuyết, phân loại
và hệ thống hóa lý thuyết
Trang 10- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: quan sát khoa học, phân tích tổng kết kinh nghiệm, điều tra thống kê.
6 Kết cấu của Khóa luận
Ngoài phần mục lục, bảng kí hiệu viết tắt, danh mục bảng biểu, lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Khóa luận được trình bày thành 3chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hiện đại hóa hải quan và tổng quan chương trình hiện
đại hóa hải quan trong Cộng đồng kinh tế ASEAN
Chương 2: Thực trạng và đánh giá thực hiện hiện đại hóa hải quan tại Chi cục Hải
quan cửa khẩu Tây Trang trong bối cảnh hội nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN
Chương 3: Phương hướng và giải pháp tiếp tục thực hiện hiện đại hóa Hải quan Chi
cục Tây trang
Trang 11CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆN ĐẠI HÓA HẢI QUAN VÀ TỔNG QUAN CHƯƠNG TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA HẢI QUAN TRONG CỘNG
ĐỒNG KINH TẾ ASEAN 1.1 Cơ sở lý luận về hiện đại hóa hải quan
1.1.1 Khái niệm về hiện đại hóa
Hiện đại hóa là quá trình biến đổi xã hội thông qua công nghiệp hóa, đô thị hóanhằm làm thay đổi xã hội từ trình độ nguyên sơ lên phát triển và văn minh cao.(Nguyễn Cảnh Thắng, 2013) Theo Đại từ điển tiếng Việt (năm 1999 của NXB Vănhóa Thông tin) thì hiện đại hóa là “làm cho có tính chất tinh xảo, đầy đủ tiêu chuẩncủa một nền khoa học tiên tiến nhất” Chiến lược phát triển kinh tế của nước ta nóichung từ trước đến nay luôn gắn liền hiện đại hóa với công nghiệp hóa Quá trìnhhiện đại hóa – công nghiệp hóa được đề ra với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành mộtquốc gia tiến bộ, hiện đại nhưng vẫn giữ được bản sắc dân tộc, hòa nhập kinh tếnhưng không bị hòa tan
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ bảy khóa VII xác định “côngnghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt độngsản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủcông là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ,phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của côngnghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao” ( BanChấp hành Trung ương Đảng, 1994) Nội hàm của khái niệm này được Đảng ta xácđịnh rộng hơn quan niệm của một vài quốc gia khác, bao gồm cả sản xuất, kinhdoanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội và được sử dụng thông qua các phươngpháp, phương tiện hiện đại, tiên tiến, có hàm lượng công nghệ, kĩ thuật cao Thựchiện hiện đại hóa là thực hiện một cách hợp lý cuộc cách mạng đưa khoa học kĩthuật, công nghệ thông tin vào hệ thống kinh tế, xã hội Quá trình này đòi hỏi cómột bộ máy tổ chức chuyên môn hóa cao, hệ thống phương tiện thông tin đại chúngchất lượng tốt, phục vụ tốt cho toàn dân
Trang 121.1.2 Hiện đại hóa trong lĩnh vực hải quan
1.1.2.1 Khái niệm hiện đại hóa trong lĩnh vực hải quan
Theo báo cáo kết quả Hội thảo Cải cách quản lý Hải quan tại Singapore, hiện đạihóa hải quan là việc đơn giản hóa toàn diện các quy trình, thủ tục, chứng từ, tài liệu
do cơ quan hải quan quản lý với sự hỗ trợ của khung pháp lý và quy định hiệu quả,tăng cường thể chế, tăng cường ứng dụng các giải pháp công nghệ thông tin và cảithiện chính sách quản lý nguồn nhân lực (IMF, 2004)
Theo Tổ chức Hải quan thế giới (WCO), hiện đại hóa hải quan bao gồm công táccải tiến quản lý, hoạt động, trách nhiệm, liêm chính hải quan và hệ thống kiểm soát,lập kế hoạch (World Customs Organization, 1995)
Từ những quan điểm trên, có thể nhận xét hiện đại hóa hải quan là sự đổi mới về
cả quan điểm tư tưởng nhận thức, về cả thủ tục, quy trình để nâng cao hiệu quả côngviệc, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển Hiện đại hóa hải quan không chỉ diễn ratrong ngành Hải quan mà còn yêu cầu sự tham gia của Chính phủ và các cơ quanliên quan khác, cùng hợp tác để đảm bảo quá trình được thực hiện nhanh chóng vàhiệu quả
1.1.2.2 Tính tất yếu của thực hiện hiện đại hóa hải quan
Kim ngạch XNK tăng nhanh dẫn tới yêu cầu rút ngắn thời gian thông quan
Từ sau khủng hoảng kinh tế năm 2008, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam
có xu hướng tăng đều hằng năm Số liệu cụ thể ở biểu đồ dưới đây:
Hinh̀ 1.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu toàn quốc giai đoạn 2008-2016 (đơn vị: tỷ
(Nguồn: Tổng cục Hải quan, 2016)
Trang 13Số liệu trên thể hiện rõ sự tăng trưởng đều của giá trị và lượng hàng hóa XNKqua các năm Đứng trước sự tăng trưởng ấy, hải quan bắt buộc phải cải tiến, hiện đạihóa để có thể phát triển theo kịp tốc độ gia tăng của khối lượng hàng hóa XNK, rútngắn thời gian thông quan, đảm bảo cho thương mại không bị đình trệ vì quá tải.
Hiện đại hóa để thống nhất chuẩn mực và thông lệ quốc tế về hải quan
Hiện nay, WCO có 181 thành viên (World Customs Organization, 2017b), mỗinước lại có hệ thống thủ tục hải quan không giống nhau Trong khi đó, mỗi cửakhẩu, mỗi cơ quan hải quan lại là bộ mặt của quốc gia trước các du khách và doanhnghiệp nước ngoài Điều này đòi hỏi Hải quan Việt Nam phải hài hòa hóa thủ tụchải quan theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế để hàng hóa, dịch vụ, con người từ cácnước khác dễ dàng vào Việt Nam và tạo được hình ảnh tốt đẹp nhất về Việt Nam
Đáp ứng yêu cầu quản lý về hải quan phù hợp với hệ thống thương mại hiện đại Sự
phát triển của các hoạt động thương mại quốc tế cũng đã nâng tầm quan trọng củahải quan Ngày càng xuất hiện nhiều loại hình thương mại, phương thức kinh doanhhay các công ty lớn với cơ chế hoạt động chặt chẽ Hải quan Việt Nam đứng trước
nhu cầu tất yếu phải đổi mới, hiện đại để tương xứng với sự phát triển
đó của thương mại, đặc biệt là về thương mại điện tử
Đáp ứng các cam kết khi hội nhập quốc tế
Từ khi tham gia vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và các hiệp địnhsong phương, đa phương, Hải quan Việt Nam đứng trước các cam kết thực hiệnhiệp định về rất nhiều lĩnh vực hải quan như cam kết về xuất xứ hàng hóa ASEAN,
về thực hiện trị giá hải quan, Để thực hiện các cam kết đó, Hải quan Việt Namkhông còn cách nào khác ngoài hiện đại hóa và cải cách từ nội bộ ngành
Hiện đại hóa để tăng cường phòng, chống tham nhũng, gian lận
Theo WCO, chi phí cho thủ tục giấy tờ liên quan đến thông quan chiếm từ 13% tổng giá trị thương mại hàng hóa (World Custom Organization, 2003) Nhữngchi phí này hầu hết thuộc mục chi phí khác, nhiều khi là không cần thiết, thiếu hiệuquả, dễ dẫn đến các hành vi hối lộ hay gian lận khác Tham nhũng luôn là vấn đềnhức nhối của ngành Hải quan, đặt ngành dưới áp lực cải cách, hiện đại hóa thủ tụchành chính để giảm thiểu những quy trình rườm rà, hạn chế tối đa kẽ hở có thể bị lợidụng để tham nhũng, gian lận, hướng tới xây dựng ngành Hải quan liêm chính
Trang 145-1.2 Tổng quan về Cộng đồng kinh tế ASEAN
1.2.1 Cơ sở lý luận về liên kết kinh tế quốc tế và Cộng đồng kinh tế khu vực
1.2.1.1 Khái niệm, đặc điểm và các cấp độ của liên kết kinh tế quốc tế
Sự phát triển của hoạt động thương mại cho tới thời điểm hiện tại rất đa dạng và
có phạm vi rất lớn Các quốc gia gắn kết mình vào các mối quan hệ song và đaphương hoặc các tổ chức hợp tác về kinh tế để dần trở thành một phần của các liênkết kinh tế quốc tế (LKKTQT) ở các cấp độ khác nhau
Về khái niệm, TS Phạm Quốc Trụ (2011) đưa ra khái niệm LKKTQT là quá
trình các nước tiến hành các hoạt động tăng cường gắn kết với nhau dựa trên sự chia
sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực và tuân thủ các luật chơi chungtrong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế Chủ thể chính của LKKTQT làcác quốc gia, có đủ thẩm quyền để đàm phán, ký kết và thực hiện các cam kết quốc
tế (Phạm Quốc Trụ, 2011)
Về đặc điểm, ThS Nguyễn Thị Hoa (2004) cho rằng LKKTQT có năm đặc điểm
chính Thứ nhất, LKKTQT bao trùm lên mọi khía cạnh của nền kinh tế, thể hiện sự gắn bó giữa nền kinh tế của nhiều quốc gia Thứ hai, LKKTQT phát triển lên từ phân công lao động trên trường quốc tế Thứ ba, LKKTQT có tính liên quốc gia, đặc trưng ở việc chịu sự điều chỉnh từ các Chính phủ thành viên Thứ tư, LKKTQT
trung hòa hai luồng tư tưởng cạnh tranh gay gắt nhau là bảo hộ mậu dịch và tự do
thương mại Thứ năm, sự hình thành LKKTQT cần sự tự nguyện của các thành viên
để phục vụ điều chỉnh và hợp tác các dự án phát triển kinh tế dựa trên nguyên tắcmọi thành viên đều có lợi (Nguyễn Thị Hoa, 2004)
Về các cấp độ của LKKTQT, các nhà kinh tế học có nhiều điểm tương đồng
nhưng không thống nhất hoàn toàn với cách phân loại Bàn đến vấn đề này, Giáo sưBalassa (2013) cho rằng “có năm hình thức của các cấp độ này, bao gồm khu vựcmậu dịch tự do, liên minh thuế quan, thị trường chung, liên minh kinh tế và hộinhập hoàn toàn” (Balassa, 2013, p 2); được mô tả các đặc điểm chính qua bảng sau:
Trang 15Thương Chính sách Dịch Hài hòa Xóa bỏ
chuyển hóa các phân biệtCác hình thức liên kết mại tự do chung thuế
tự do chính tiền tệ,kinh tế quốc tế trong quan ngoài
nhân tố sách chính sách,
sản xuất kinh tế chính trịKhu vực mậu dịch tự do Có
(Nguồn: The Theory of Economic Integration, 2013)
- Khu vực mậu dịch tự do (FTA) là khối thương mại mà các nước thành viên đã
ký một hiệp định thương mại tự do để cắt giảm rào cản thương mại và đẩy mạnhmua bán hàng hóa, dịch vụ (O'Sullivan, Arthur; Sheffrin, Steven M;, 2003) Ví dụ:Khu vực Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN(AFTA)
- Liên minh thuế quan là khối thương mại bao gồm khu vực mậu dịch tự do với
một biểu thuế đối ngoại chung, nhưng có thể sử dụng các hạn ngạch nhập khẩu khácnhau (Winters, 1991) Ví dụ: Cộng
đồng kinh tế châu Âu (EEC)1, Liên minh thuế quan Nga – Belarus – Kazakstan, Cộng đồng ANDEAN ở Nam Mỹ
- Thị trường chung là hình thức khối thương mại mà đa phần rào cản thương mại
về hàng hóa đều đã được dỡ bỏ, có chính sách thuế quan chung, đồng thời có sự tự
do di chuyển các yếu tố sản xuất giữa các nước (Suranovic, 2010) Ví dụ: Thị
trường chung châu Âu (ECM), Hệ thống Liên kết Trung Mỹ (CACM)
- Liên minh kinh tế là khu vực thương mại bao gồm cả liên minh thuế quan và
thị trường chung, mang đặc điểm chung của cả hai hình thái này Khi liên minh kinh
tế có sự thống nhất tiền tệ nó trở thành liên minh kinh tế và tiền tệ Ví dụ: Liên minhChâu Âu, Cộng đồng Switzerland – Liechtenstein
1Được thành lập năm 1957 bởi Tây Đức, Pháp, Ý, Hà Lan, Luxembourg; nay là thành Liên minh châu Âu
Trang 16- Hội nhập kinh tế hoàn chỉnh là khu vực thương mại mà các đơn vị trong nó
hầu như không có quyền hạn điều chỉnh gì về chính sách kinh tế Hội nhập kinh tếhoàn chỉnh phát triển hơn liên minh kinh tế ở liên kết chính trị và khả năng đưa rachính sách tài khóa Ví dụ: Liên bang Hoa Kỳ, được coi như một liên minh chặt chẽgiữa các quốc gia nhỏ với nhau (Essien & Dickson, 2014)
Ngoài những hình thái kể trên, hiện nay các nhà kinh tế học cũng chấp nhận một
số hình thái như Thỏa thuận Thương mại Ưu đãi (PTA ASEAN) năm 1977; Hiệpước chung về Thuế quan và Mậu dịch (GATT) năm 1994; Diễn đàn hợp tác kinh tếnhư Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) và Diễn đàn hợptác Á – Âu (ASEM); Khu vực miễn thuế (DFZ) hay Khu vực kinh tế tự do (FEZ)
1.2.1.2 Vị trí của Cộng đồng kinh tế trong quá trình liên kết kinh tế quốc tế
Với các cấp độ LKKTQT được chấp nhận rộng rãi nêu trên, có thể thấy Cộngđồng kinh tế không thuộc một cấp độ cụ thể nào cả Hiện nay, chưa có một địnhnghĩa hoàn hảo nào được công nhận rộng rãi về Cộng đồng kinh tế nói chung Các
mô hình Cộng đồng kinh tế đang tồn tại không hoàn toàn giống nhau, phụ thuộc vàothể chế và đặc điểm riêng của từng khu vực
ThS Nguyễn Thị Hoa (2004) có nêu định nghĩa liên kết khu vực: “là sự tập hợpmột cách tự nguyện các nguồn lực của các quốc gia, dân tộc khác nhau trên cùngđơn vị địa lý, sinh thái cho một mục đích tiến bộ chung, nhằm thúc đẩy phát triểnkinh tế, ổn định chính trị - xã hội, hạn chế các tiêu cực từ bên ngoài, nâng cao khảnăng cạnh tranh của mỗi nước thành viên.” (Nguyễn Thị Hoa, 2004) Xét ở khu vựcĐông Nam Á, Cộng đồng kinh tế ở đây đã hướng tới việc tự do lưu thông hàng hóa,dịch vụ kết hợp với lưu chuyển tự do các nguồn lực sản xuất, tức là đã vượt qua môhình FTA nhưng lại chưa đủ điều kiện toàn diện để được coi là liên minh thuế quanhoàn toàn, nhưng vẫn nhắm tới mục tiêu là Liên minh Kinh tế ASEAN Tóm lại,liên kết khu vực ASEAN hiện tại đang nằm giữa FTA và liên minh thuế quan, đangtừng bước phấn đấu để trở thành một liên minh kinh tế
1.2.1.3 Điều kiện hình thành Cộng đồng kinh tế
Dựa theo sự phân cấp của Cộng đồng kinh tế, có thể thấy để hình thành nên mộtCộng đồng kinh tế, cần có 4 điều kiện cơ bản: tự do lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ;
Trang 17tự do lưu chuyển tư bản; tự do lưu chuyển lao động và các điều kiện khác về trình
độ phát triển kinh tế, chính trị
1.2.2 Quá trình hình thành và sự cần thiết thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN
1.2.2.1 Quá trình hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN
Trung tâm WTO và hội nhập thuộc VCCI cho biết khái niệm “hội nhập kinh tếASEAN” lần đầu tiên được đưa ra năm 1992 trong Hiệp định khung về Thúc đẩyHợp tác Kinh tế ASEAN ký tại Singapore (VCCI, 2016a) Hiệp định này nhấnmạnh tầm quan trọng trong hợp tác về các lĩnh vực thương mại, công nghiệp, nănglượng và khoáng sản, tài chính và ngân hàng, thực phẩm, nông nghiệp và lâmnghiệp, giao thông và truyền thông
Năm 1997, các quốc gia thành viên ASEAN thông qua Tầm nhìn ASEAN 2020với định hướng tạo ra Khu vực Kinh tế ổn định, phát triển mạnh mẽ và đồng đều vớinăng lực cạnh tranh cao, tiến tới xóa bỏ sự phân hóa kinh tế - xã hội
Mục tiêu phát triển ASEAN thành một Cộng đồng kinh tế phù hợp với Tầm nhìnASEAN 2020 được tuyên bố tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN 9 năm 2003
Năm 2006, cuộc họp các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN công bố Kế hoạch tổng thểxây dựng AEC (AEC Blueprint), vạch rõ mục tiêu, lộ trình cụ thể của AEC
Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 12 tổ chức vào năm 2007 đã đi tới quyếtđịnh hình thành AEC vào năm 2015 thay vì 2020 như ban đầu, đẩy nhanh tiến độhội nhập hóa
Tuyên bố Kuala Lumpur về việc thành lập AEC tại Hội nghị thượng đỉnhASEAN lần thứ 27 được ký kết vào ngày 22/11/2015
1.2.2.2 Sự cần thiết của việc thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN
Yêu cầu tất yếu của xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa
Đứng ngoài xu thế của LKKTQT sẽ khiến mỗi nước mất đi sức cạnh tranh và cơhội phát triển kinh tế Nắm rõ điều đó, các nước ASEAN đã thống nhất mục tiêuthành lập một Cộng đồng kinh tế trong lộ trình của Tầm nhìn ASEAN 2020
Các quốc gia ASEAN kí kết tràn lan các FTA, gây chồng chéo và phức tạp
Xu hướng kí kết các hiệp định mậu dịch tự do FTA của các nước nội khốiASEAN trong những năm qua mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng kéo theo các hệquả xấu Thương mại quốc tế trở nên khá phức tạp với số lượng thuế quan ưu đãi và
Trang 18các chính sách thương mại, các quy định về đầu tư chồng chéo Cùng với đó, nguy
cơ phát triển không bền vững và đi chệch định hướng chung của ASEAN khi xuhướng song phương mạnh hơn xu hướng đa phương làm tăng dần sự phân hóa vàkhiến lợi ích quốc gia không thống nhất toàn khối
Vì lí do đó, các thành viên ASEAN cần một cơ chế điều chỉnh thống nhất, tạolập khung pháp lý chung cho các FTA song phương Cộng đồng kinh tế ra đời sẽđưa khối ASEAN đi đúng lộ trình, trở thành điểm tựa định hướng cho mỗi quốc gia
ASEAN chưa khai thác hết các thế mạnh để phát triển kinh tế
Mặc dù đạt được nhiều bước tiến trong tăng trưởng, ASEAN vẫn chưa có ngànhcông nghiệp chủ đạo thực sự với khả năng cạnh tranh quốc tế cao do còn bỏ ngỏnhiều thế mạnh vốn có Một số quốc gia thành viên còn thiếu sự đầu tư chính đángcho hệ thống giáo dục, ngân sách đầu tư phát triển nhân lực và nghiên cứu khoahọc Điều này khiến quốc gia đó và khu vực ASEAN nói chung thiếu đội ngũ laođộng lành nghề, chuyên môn cao, có khả năng làm việc trong môi trường cạnh tranhquốc tế Bên cạnh đó, khối ASEAN chưa thống nhất được nền tảng chung cho phâncông lao động để tận dụng lợi thế và dung hòa hạn chế của lao động mỗi quốc gia.Công nghiệp phụ trợ tại ASEAN đang có nhiều bước tiến phát triển nhưng thiếu
sự liên kết, bổ sung và kết hợp một cách hài hòa mang tầm khu vực Sản phẩm tạo
ra vẫn có chi phí cao do nguồn lực bị bó hẹp tại địa phương và quốc gia dẫn tới hệlụy là khối vẫn chưa trở thành nguồn cung ứng sản phẩm lớn cho toàn thế giới.Hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) chưa thực sự được đầu tư thích đáng
ở nhiều nước thành viên, đặt biệt là sự hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ
để ứng dụng công nghiệp Việc thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN sẽ đưa ra địnhhướng với các thể chế, chính sách cụ thể nhằm hợp tác có trọng điểm vào R&D,thúc đẩy khoa học công nghệ phát triển, tạo hiệu quả mạnh mẽ hơn trong sản xuấthàng hóa và cung cấp dịch vụ
Hợp tác là nhu cầu cấp bách để nâng cao vị thế của ASEAN trên trường quốc tế
Sau khủng hoảng kinh tế 1997, khu vực ASEAN đã nhận thấy nhu cầu hợp tác kinh
tế và tài chính nhằm củng cố sức mạnh khu vực trước rủi ro và dễ dàng hội nhập sâu
rộng vào kinh tế thế giới Một AEC đoàn kết với mối liên hệ khăng khít về
Trang 19cả chính trị lẫn kinh tế sẽ trở thành Cộng đồng kinh tế đáng tin cậy trong những mốiquan hệ thương mại với các quốc gia khác trên thế giới.
1.2.3 Những nội dung cơ bản của Cộng đồng kinh tế ASEAN
Vụ ASEAN, Bộ Ngoại giao liệt kê bốn nội dung cơ bản hay yếu tố cấu thànhAEC gồm: một thị trường đơn nhất và cơ sở sản xuất chung, một khu vực kinh tếcạnh tranh, phát triển kinh tế cân bằng, hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu (Ban thư
kí ASEAN quốc gia Việt Nam, 2015)
Một thị trường đơn nhất và cơ sở sản xuất chung, được xây dựng thông qua: tự
do lưu chuyển hàng hoá; tự do lưu chuyển dịch vụ; tự do lưu chuyển đầu tư; tự dolưu chuyển vốn và lao động có tay nghề Để đạt được điều này, các quốc gia triểnkhai nhiều thỏa thuận và hiệp định nhằm thuận lợi hóa thương mại như dỡ bỏ hàngrào thuế và phi thuế, hài hòa hóa tiêu chuẩn sản phẩm, giảm thời gian thực hiện thủtục hành chính và cải thiện môi trường đầu tư Bên cạnh đó, việc hợp tác để cảithiện cơ sở hạ tầng, phát triển mạng lưới thông tin trong khối cũng được quan tâm
Một khu vực kinh tế cạnh tranh, được xây dựng thông qua các khuôn khổ chính
sách về cạnh tranh, bảo hộ người tiêu dùng, quyền sở hữu trí tuệ, phát triển cơ sở hạtầng, thuế quan và thương mại điện tử
Phát triển kinh tế cân bằng, được thực hiện thông qua các Kế hoạch phát triển
doanh nghiệp vừa và nhỏ và thực hiện Sáng kiến Hội nhập nhằm thu hẹp khoảngcách phát triển trong ASEAN
Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, được thực hiện thông qua việc tham vấn
chặt chẽ trong đàm phán đối tác và trong tiến trình tham gia vào mạng lưới cung cấptoàn cầu Trong đó, điển hình là việc nỗ lực xây dựng và ký kết nhiều hiệp định,thỏa thuận liên kết kinh tế với các quốc gia Đông Á cùng 6 hiệp định FTA với cácnước đối tác quan trọng và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện khu vực (RCEP)
1.3 Chương trình hiện đại hóa hải quan trong Cộng đồng kinh tế ASEAN
1.3.1 Sự cần thiết của hợp tác hải quan trong Cộng đồng kinh tế ASEAN
Hiệp định khung về Thúc đẩy Hợp tác Kinh tế ASEAN ký tại Singapore năm
1992 mở đầu cho một mục tiêu lớn mà ASEAN hướng tới trong quá trình thành lậpAEC sau này: hợp tác trong các lĩnh vực thương mại bằng việc xóa bỏ hàng rào thuế
và phi thuế giữa các quốc gia nội khối Cùng năm đó, hiệp định về Chương
Trang 20trình Ưu đãi Thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) được ký kết2, thống nhất giữa cácthành viên về giảm mức thuế nội khối xuống còn 0-5% và bỏ mọi hạn ngạch cùngcác rào cản phi thuế quan Những hiệp định khung này là tiền đề cho nội dung cơbản đầu tiên của ASEAN về thị trường đơn nhất.
Muốn tiến tới một thị trường ASEAN đơn nhất và có cơ sở sản xuất chung, hiệnđại hóa về hải quan và hợp tác giữa các nước là điều thiết yếu, không thể tách rời.AFTA với định hướng lưu thông hàng hóa và dịch vụ không biên giới giữa các quốcgia trong khu vực như vậy rất cần một cơ chế hải quan đơn giản về thủ tục vànguyên tắc để đảm bảo thực hiện hiệp định trôi chảy, nhanh chóng và hiệu quả.ASEAN cũng đã đưa ra những mục tiêu quan trọng bao gồm thống nhất quản lý hảiquan và hài hòa hóa, đơn giản hóa thủ tục hải quan trong khu vực dựa trên quychuẩn của hải quan quốc tế
1.3.2 Cơ sở pháp lý của hợp tác hải quan trong Cộng đồng kinh tế ASEAN
1.3.2.1 Bộ quy tắc ứng xử Hải quan ASEAN
Bộ quy tắc ứng xử Hải quan ASEAN lần đầu được ký kết vào tháng 3/1983 tạiJakarta, Indonesida bởi Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan của 5 nước thành viênASEAN: Thái Lan, Indonesia, Singapore, Philippines, Malaysia Văn bản này là cộtmốc đầu tiên mở đầu quá trình hợp tác hải quan ASEAN trong những năm về sau,bao gồm các nguyên tắc cơ bản của hải quan, xây dựng tiêu chuẩn trị giá hải quan,
cơ sở để phân loại hàng hóa và các vấn đề khác về chống buôn lậu qua biên giới
Bộ quy tắc ứng xử này có phiên bản sửa đổi năm 1995 để cập nhật những diễnbiến mới tại ASEAN, nhất là những vấn đề xoay quanh AFTA Theo đó, các nướcthành viên cam kết tạo thuận lợi cho buôn bán hàng hóa, dịch vụ trong khối bằngviệc hài hòa hóa và đơn giản hóa thủ tục hải quan, đồng thời đẩy mạnh hợp tác khuvực về hải quan
1.3.2.2 Hiệp định Hải quan ASEAN
Sau khi sửa đổi Bộ quy tắc ứng xử Hải quan ASEAN, Bộ trưởng Tài chính cácnước thành viên ASEAN đã ký kết hiệp định Hải quan ASEAN lần đầu vào tháng 3năm 1997 tại Phuket, Thái Lan, tiếp tục mở rộng quá trình hợp tác hải quan nộikhối Hiệp định này không quy định cụ thể từng vấn đề mà chỉ mang tính nguyên
2Sau này được thay thế bởi Hiệp định về Thương mại Hàng hoá ASEAN 2010
Trang 21tắc, sơ lược, định hướng để hỗ trợ nhau dựa theo Bộ quy tắc ứng xử Hải quan đề ra.Ngoài ra, tại lễ kí kết này, các thành viên cũng thống nhất việc thực hiện danh mụcbiểu thuế hài hòa ASEAN để tạo thuận lợi cho quá trình phân loại; tuân thủ hiệpđịnh Hiệp định về Xác định Trị giá tính thuế Hải quan (ACV), không sử dụng trị giáhải quan vào mục đích bảo hộ hay rào cản cho thương mại; cam kết đơn giản hóacác quy trình, thủ tục hải quan để cắt giảm thời gian và chi phí thông quan; chia sẻthông tin để thực thi các hoạt động chống buôn lậu, ma túy, gian lận thương mại.Với sự phát triển mạnh mẽ, đẩy nhanh tiến trình hình thành cộng đồng kinh tếASEAN vào năm 2015 thay vì năm 2020, hải quan các nước đã có quá trình đàmphán một Hiệp định Hải quan ASEAN mới kéo dài từ tháng 4/2008 tại Hội nghị Bộtrưởng Tài chính ASEAN lần thứ 12 đến tháng 3/2012 tại Hội nghị Bộ trưởng Tàichính ASEAN lần thứ 16 ở Phnompenh, Campuchia mới hoàn thành và kí kết thànhcông Hiệp định Hải quan mới được xây dựng dựa theo các quy định của Công ướcKyoto sửa đổi về đơn giản hóa và hài hòa hóa thủ tục, quy trình hải quan; theo đótổng hợp và đưa vào các nội dung về nghiệp vụ, ứng dụng khoa học công nghệ,kiểm soát hải quan và hỗ trợ hành chính lẫn nhau.
Hiệp định mới cũng tổng hợp các cam kết hội nhập ASEAN có liên quan đến hảiquan đã được thống nhất như cam kết tham gia cơ chế một cửa ASEAN, cam kết tạothuận lợi cho hàng hóa quá cảnh và cam kết trong khuôn khổ chương VI của Hiệpđịnh Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA), Nghị định thư về thực hiện Danhmục biểu thuế hài hòa ASEAN (Tổng cục Hải quan, 2012)
1.3.2.3 Kế hoạch Chiến lược Phát triển Hải quan ASEAN
Tổng cục trưởng Hải quan các nước ASEAN đã họp bàn và thông qua Tầm nhìnHải quan ASEAN 2015 tại Lào vào năm 2008 nhằm đáp ứng nhu cầu đẩy nhanh hộinhập khu vực trước nhiều thách thức mới từ những diễn biến phát triển kinh tế toàncầu Các quốc gia đã triển khai Tầm nhìn này thành 15 chương trình hành động của
Kế hoạch Chiến lược Phát triển Hải quan ASEAN (SPCD) (Hải quan Việt Nam,2009)
Chương trình hành động và Thực hiện Chính sách Hải quan (PIWP) theo Hiệpđịnh Hải quan ASEAN 1997 nêu rõ các hoạt động hải quan sẽ được thực hiện theomục đích tăng cường hợp tác trên cơ sở Kế hoạch Hành động Hà Nội – tạo nên
Trang 22“một nhóm hài hoà các dân tộc Đông Nam Á hướng ngoại, sống trong hoà bình, ổnđịnh và thịnh vượng, gắn bó với nhau bằng quan hệ đối tác trong phát triển năng
động và trong một cộng đồng các xã hội đùm bọc lẫn nhau.” (ASEAN, 1997).
Kế hoạch SPCD ASEAN được xây dựng từ giai đoạn 2005-2010 đã được tiếptục làm mới và cụ thể hóa trong giai đoạn 2011-2015 và hiện nay là giai đoạn 2015-
2020 Những nội dung cơ bản về Phát triển Hải quan ASEAN mặc dù được đưa ra
từ năm 2004, nhưng tới nay vẫn còn là chiến lược cốt lõi để tiếp tục hiện đại hóa
thủ tục hải quan, quy trình phân loại và xác định mã số thuế, xác định trị giá hải
quan và xác định xuất xứ hàng hóa; ba là, tiêu chuẩn hoá các giới hạn thông tin và
dữ liệu phục vụ cho hải quan; bốn là, hiện đại hoá hoạt động quá cảnh hải quan ASEAN; năm là, hiện đại hóa và tăng cường sự minh bạch, hợp tác với Cộng đồng doanh nghiệp và Cơ quan quản lý; sáu là, nâng cao năng lực hoạt động và năng lực nghiệp vụ của cán bộ hải quan; bảy là, bảo vệ xã hội và các giao dịch quốc tế; tám
là, thu hẹp khoảng cách phát triển đối với các thành viên mới (ASEAN, 2004)
Kế hoạch SPCD ASEAN giúp thúc đẩy hội nhập kinh tế thông qua việc đơn giảnhóa và hài hòa hóa hệ thống hải quan toàn khối Với các hoạt động giám sát hảiquan hiện đại và năng lực quản lý hải quan được nâng cao, kế hoạch là một phầnquan trọng trong xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN Qua mỗi giai đoạn, Hảiquan Việt Nam đều cố gắng hoàn thành nhiệm vụ của giai đoạn trước và học hỏikinh nghiệm để đưa ra những mục tiêu cho giai đoạn sau
1.3.2.4 Hiệp định về xây dựng và thực hiện Cơ chế một cửa ASEAN
Lãnh đạo các nước thành viên khối ASEAN đã ký Hiệp định về xây dựng vàthực hiện Cơ chế một cửa ASEAN (ASW) vào 09/12/2005 Theo đó, các nước camkết thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia (NSW) và kết nối tạo môi trường một cửaASEAN vào năm 2012 dựa trên các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật và kế hoạch hànhđộng do nhóm làm việc về kỹ thuật và nhóm làm việc về pháp lý xây dựng
Ngày 4/9/2015, sau một thời gian dài Việt Nam chuẩn bị và đã sẵn sàng cơ sở kỹthuật đáp ứng tiêu chuẩn để kết nối vào hệ thống ASW, được ủy quyền từ Chínhphủ, Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng đã đã thay mặt Chính phủ ký Nghị địnhthư về Khung pháp lý thực hiện Cơ chế ASW Ngày 8/9/2015, tại trụ sở Tổng cục
Trang 23Hải quan, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã nhấn nút công bố chính thứcthực hiện Cơ chế NSW và kết nối kỹ thuật Cơ chế ASW Ngày 22/4/2016, Thủtướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc ký ban hành Nghị quyết 31/NQ-CP phê duyệtNghị định thư về Khung pháp lý thực hiện Cơ chế ASW Để Nghị định thư nàychính thức có hiệu lực và đi vào thực hiện phải được sự phê chuẩn của đủ 10 quốcgia thành viên ASEAN Hiện nay, ngoài Việt Nam mới có 2 quốc gia khác phêchuẩn Nghị định thư này là Malaysia và Myanmar (Báo Hải quan Điện tử, 2016b).
1.3.2.5 Công ước Kyoto về đơn giản hóa và hài hòa hóa thủ tục hải quan
Công ước Kyoto về đơn giản hoá và hài hoà hoá thủ tục hải quan hướng đến hàihòa hóa, đơn giản hóa thủ tục hải quan với 31 phụ lục quy định về từng thủ tục hảiquan ra đời năm 1973 và được sửa đổi vào tháng 6 năm 1999 (Công ước Kyoto sửađổi) Tính đến tháng 5/2017, có 110 thành viên tham gia Công ước Kyoto sửa đổi,trong đó có Việt Nam (World Customs Organization, 2017a)
Công ước Kyoto là công cụ pháp lý của WCO được nhiều nước phê chuẩn, là kếhoạch chi tiết cho phát triển hải quan từng quốc gia theo hướng thuận lợi hóathương mại mà WTO khuyến khích
Công ước Kyoto sửa đổi gồm Nghị định thư Kyoto, thân công ước (5 chương,
20 Điều khoản), phụ lục tổng quát, phụ lục chuyên đề và hướng dẫn thi hành Nội dung quan trọng của Công ước bao gồm (Tổ chức Hải quan Thế giới, 1999):
Thứ nhất là áp dụng các thủ tục hải quan theo hướng đơn giản hóa trong một
môi trường minh bạch và dự đoán được;
Thứ hai là tăng cường sử dụng công nghệ thông tin, quản lý rủi ro (QLRR) trong
hoạt động kiểm soát hải quan một cách tối ưu;
Thứ ba là thúc đẩy hợp tác chặt chẽ trong thương mại;
Thứ tư là hệ thống giải quyết khiếu nại dễ dàng được tiếp cận và xử lý.
Trong những năm gần đây, WCO mong muốn đưa Công ước trở thành công cụchuẩn quốc tế với những thủ tục hiện đại, hiệu quả và liên tục được sửa đổi bổ sungnhằm phù hợp với xu hướng phát triển và các thách thức mới được đặt ra trong bốicảnh thương mại thế giới ngày nay
Trang 241.3.3 Các chương trình hiện đại hóa hải quan trong Cộng đồng kinh tế ASEAN
1.3.3.1 Về phân loại mã số hàng hóa
Trước khi có biểu thuế hài hòa ASEAN, việc xác định đúng tên gọi của hànghóa XNK để áp dụng mức thuế còn gặp nhiều khó khăn, cho thấy sự cần thiết củaviệc hài hòa và chi tiết hóa danh mục biểu thuế Bắt đầu từ năm 2002, các quốc giathành viên ASEAN sử dụng Danh mục biểu thuế hài hòa chung ASEAN (AHTN)làm cơ sở xây dựng Danh mục hàng hóa XNK và chuyển đổi Biểu thuế XNK ưuđãi, các biểu thuế ưu đãi đặc biệt AHTN được xây dựng dựa trên phiên bản mớinhất của Hệ thống Hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa (HS) do WCO ban hành Việcphân loại hàng hóa trong AHTN phải tuân theo các quy tắc giải thích tổng quát(GIRs) và chú giải pháp lý của HS cũng như những quy định của các văn bản pháp
lý về HS (ASEAN, 2012) Tại Việt Nam, AHTN 2017 đã được chính phủ phê duyệt
tại Nghị quyết 109/NQ-CP ngày 28/12/2016 và đang được áp dụng để soạn thảoDanh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam 2017 Dự thảo thông tư về việcban hành danh mục này dự kiến sẽ được ban hành trong tháng 7/2017 và có hiệu lực
từ 1/1/2018 (Báo Hải quan Điện tử, 2017)
1.3.3.2 Về cách xác định trị giá hải quan
Một trong những khó khăn cản trở việc thực hiện các hiệp định thương mại tự do
là sự khác biệt trong việc tính trị giá hải quan giữa các nước Để giải quyết, cácthành viên ASEAN đã thống nhất cách xác định trị giá hải quan chung giữa cácnước và cam kết không sử dụng chúng để bảo hộ hay tạo rào cản thường mại vớicác quốc gia trong khối Phương pháp xác định trị giá hải quan được nhất trí là trịgiá GATT (GATT transaction value - GTV) được nêu trong Hiệp định về Xác địnhTrị giá tính thuế Hải quan thực hiện điều khoản VII của Hiệp ước chung về thuếquan và mậu dịch 1994 Có thể hiểu phương thức tính trị giá này là tính theo giá trịthực tế của giao dịch giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu chứ không bị Nhànước áp đặt
Việt Nam nội luật hóa Hiệp định ACV qua Nghị định 155/2005/NĐ-CP ngày15/12/2005 của Chính phủ quy định về việc xác định trị giá hải quan đối với hànghoá xuất khẩu, nhập khẩu
Trang 251.3.3.3 Về thủ tục hải quan
Thủ tục hải quan cũng là công cụ quản lý thương mại quốc tế, có ảnh hưởng lớntới việc lưu thông hàng hóa Khi thiết lập AFTA, việc đảm bảo hài hòa, minh bạchcác thủ tục hải quan, tạo thuận lợi cho thương mại cũng là một nội dung được cácnhà quản lý đặt lên hàng đầu ASEAN đã thống nhất ưu tiên thực hiện hài hòa cácthủ tục hải quan của các nước thành viên trên nhiều lĩnh vực
Mẫu tờ khai hải quan cho hàng hóa theo chương trình CEPT: tất cả các hàng
hóa thuộc diện CEPT khi giao dịch phải có giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) mẫu D
để xác định mặt hàng đó có ít nhất 40% hàm lượng ASEAN Do các tờ khai hảiquan của các nước thành viên tương tự như nhau nên thủ tục có thể được đơn giảnhóa bằng cách gộp tờ khai hải quan xuất khẩu, tờ khai hải quan nhập khẩu và C/Omẫu D thành một mẫu tờ khai hải quan chung duy nhất cho hàng hóa CEPT, đượcgọi là Tờ khai Hải quan Chung ASEAN (ASEAN Customs Declaration Document -ACDD) Mẫu tờ khai này đang được triển khai trao đổi giữa bốn nước ASEAN đãthực hiện kết nối cơ chế một cửa ASEAN, trong đó có Việt Nam
Đơn giản hóa thủ tục hành chính: các vấn đề sau đây được đặt trọng tâm ưu tiên
tối giản hóa: các thủ tục trước khi nộp khai báo hàng hóa xuất khẩu; các thủ tụctrước khi nộp khai báo hàng hóa nhập khẩu; giám định, kiểm tra hàng hóa; gửi hàng
mà C/O được cấp sau và có hiệu lực hồi tố; hoàn thuế
Xây dựng hệ thống luồng xanh hải quan: Để tạo thuận lợi cho việc thực hiện
chương trình CEPT, hội nghị hội đồng AFTA lần thứ tám đã thông qua khuyến nghịcủa hội nghị tổng cục trưởng hải quan ASEAN xây dựng hệ thống luồng xanh hảiquan và thực hiện từ năm 1996 nhằm đơn giản hóa hệ thống thủ tục hải quan dànhcho hàng hóa thuộc diện được hưởng ưu đãi theo chương trình CEPT (ASEAN,1995) Hệ thống này sau đó được đưa vào VNACCS/VCIS
Mô hình thông quan ASEAN 3 đã được xây dựng và được các Tổng cục trưởng
Hải quan ASEAN thông qua tại Hội nghị Tổng cục trưởng Hải quan ASEAN lầnthứ 13 (tháng 6/2005) Về căn bản, mô hình này phù hợp với Công ước Kyoto 1999
và cũng khá bám sát quy trình thủ tục mà Hải quan Việt Nam áp dụng
3 bao gồm 8 tiểu mô hình cho thủ tục đối với hàng hóa nhập khẩu đường không, nhập khẩu đường biển/đường bộ, xuất khẩu, quá cảnh, chuyển tải, vận chuyển vào kho ngoại quan, hàng hóa trong kho ngoại quan, và tạm nhập
Trang 26Hệ thống VNACCS/VCIS và hải quan điện tử: nằm trong lộ trình hiện đại hóa
thủ tục hải quan với mục tiêu là vận hành hệ thống thông quan tự động gắn với cơchế một cửa quốc gia VNACCS/VCIS vốn là phiên bản Việt hóa, áp dụng côngnghệ của Hệ thống NACCS/CIS đã và đang được triển khai thành công tại Nhật Bảnnhiều năm qua, đồng thời có sự điều chỉnh cho phù hợp với các điều kiện và đặc thùcủa Việt Nam trên cơ sở kế thừa những kinh nghiệm rút ra trong quá trình triển khaithủ tục hải quan điện tử tại Nhật Bản
Việc triển khai VNACCS/VCIS đã tạo nhiều thuận lợi cho doanh nghiệp, gópphần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan, rút ngắn thờigian thông quan hàng hóa Sự kết nối, phối hợp luồng thông tin giữa các nước thànhviên ASEAN còn khiến môi trường hải quan trở nên minh bạch hơn và đưa Cộngđồng ASEAN nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh trước hội nhập kinh tế toàn cầu
1.3.3.4 Về cơ chế một cửa quốc gia và cơ chế một cửa ASEAN
Cơ chế một cửa là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong kế hoạch hànhđộng ASEAN để hiện thực hóa AEC vào năm 2015 Khi Cơ chế ASW hoạt độngvới đầy đủ chức năng và hệ thống dữ liệu, lợi thế thương mại và dòng luân chuyểnhàng hóa trong khu vực sẽ được cải thiện đáng kể qua việc áp dụng cơ chế trao đổi
dữ liệu điện tử về hàng hóa thông quan trong ASEAN ASW sẽ là môi trường trong
đó Cơ chế NSW của từng quốc gia thành viên ASEAN chia sẻ và hội nhập Theocam kết tại Hiệp định thư về thực hiện và triển khai Cơ chế ASW, việc thực hiện Cơchế ASW sẽ được tiến hành theo lộ trình, kết nối từng quốc gia thành viên dựa trêntiến độ thực hiện Cơ chế NSW tại từng nước
Hệ thống NSW các quốc gia thành viên ASEAN sẽ liên kết với nhau thông qua
Cơ chế ASW, cho phép các doanh nghiệp nộp mọi các giấy tờ liên quan tới hoạtđộng thương mại, đặc biệt là hoạt động thông quan, về cùng một nơi và các cơ quanchuyên trách trong ASEAN sẽ xem xét và đưa ra quyết định ở nơi mà doanh nghiệplàm thủ tục đó Các doanh nghiệp đang tận dụng hệ thống NSW để nộp và tiếp cậncác mẫu tờ khai hải quan khác nhau cũng như để hoàn thành nghĩa vụ pháp lý củamình nhờ sự tiện lơi, nhanh chóng của hệ thống
Trang 271.3.3.5 Một số chương trình hợp tác hiện đại hóa hải quan khác
Xây dựng Hệ thống Hải quan điện tử quá cảnh ASEAN (ACTS): Hiệp định
khung ASEAN về thuận lợi cho hàng hóa quá cảnh đã được ký kết năm 1997.Chương trình được thử nghiệm từ tháng 5/2016 nhưng vẫn chưa được chính thức ápdụng
Bản Hướng dẫn Quản lý rủi ro Hải quan ASEAN được thông qua.
Bản Kế hoạch hoàn thiện và Phát triển nguồn nhân lực hải quan được thông
qua
Diễn đàn các nhà điều phối các Trung tâm đào tạo Hải quan ASEAN (ACCTC),
có nhiệm vụ thúc đẩy hợp tác, điều phối hoạt động đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật giữacác thành viên ASEAN với nhau thông qua mạng lưới đào tạo hải quan ASEAN
Dự án hiện đại hoá hải quan sử dụng nguồn vốn của Ngân hàng Thế giới (WB)
từ 2006 đến 2010 được tổ chức hợp lý và thành công.
Trang 28CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN HIỆN ĐẠI HÓA HẢI QUAN TẠI CHI CỤC HẢI QUAN TÂY TRANG TRONG BỐI CẢNH HỘI
NHẬP CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN 2.1 Giới thiệu chung về Chi cục Hải quan cửa khẩu Tây Trang
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Cục Hải quan Điện Biên và Chi cục Hải quan Tây Trang
Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Tây Trang là một đơn vị cơ sở trực thuộcCục Hải quan Điện Biên, có trụ sở nằm tại biên giới phía tây của tỉnh Điện Biên,thông thương với cửa khẩu Sốp Hùn4 thuộc huyện May, tỉnh Phongsaly, Lào
Lực lượng Hải quan Điện Biên tồn tại từ khi tỉnh Lai Châu vẫn còn là một tỉnhtrong khu tự trị Tây Bắc những năm 1960 Ngày đó đã tồn tại Trạm Hải quan TâyTrang trực thuộc Cục Hải quan Trung ương với nhiệm vụ giữ vững biên giới cùngđồng bào Điện Biên bên cạnh quản lý hoạt động XNK
Năm 1989, Tổng cục Hải quan thành lập Hải quan tỉnh Lai Châu theo Quyếtđịnh số 130/TCHQ-TCCB ngày 19/5/1989 của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan,
là tiền thân của cục Hải quan Điện Biên Trạm hải quan Tây Trang nằm dưới sựlãnh đạo của Hải quan Lai Châu
Từ năm 1990 đến năm 2000, quan hệ giao thương giữa Việt Nam với Lào pháttriển và mở rộng; hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu ở cửa khẩu có nhiều thay đổikhiến cho công tác quản lý nhà nước về hải quan cũng cần có sự thay đổi Năm
1994, Hải quan Lai Châu được đổi tên thành Cục Hải quan tỉnh Lai Châu Trạm Hảiquan Tây Trang được đổi tên là Đơn vị Hải quan Sau quyết định số 207/QĐ-TTgngày 25/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc sắp xếp, tinh giảm bộ máy tổchức, Cục Hải quan Lai Châu thực hiện cơ cấu lại tổ chức các phòng tham mưu.Đến năm 2000, cơ cấu tổ chức của Cục gồm: phòng Nghiệp vụ, phòng Điều trachống buôn lậu, đơn vị hải quan cửa khẩu và đơn vị hải quan ngoài cửa khẩu
Cuối năm 2001, Luật Hải quan ra đời và chính thức có hiệu lực từ ngày01/01/2002, bộ máy tổ chức của Cục Hải quan tỉnh được sắp xếp lại để thực hiệnLuật có hiệu quả: các đơn vị Hải quan cửa khẩu được đổi tên thành Chi cục Hải
4Còn được gọi là Xốp Hùn, Sop Hun, Sop Hao, Pang Hoc.
Trang 29quan cửa khẩu, trong đó có Chi cục Hải quan cửa khẩu Tây Trang; giải thể Hải quancửa khẩu Pa Thơm, thành lập Cửa khẩu quốc gia Huổi Puốc thay thế và đặt dướiquyền lãnh đạo của Chi cục Hải quan Tây Trang.
Năm 2004, tỉnh Lai Châu được chia tách thành 2 tỉnh Lai Châu và Điện Biên,Cục Hải quan tỉnh Lai Châu được đổi tên thành Cục Hải quan tỉnh Điện Biên theoquyết định số 790/QĐ - BTC ngày 15/3/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài chính
Trong những năm gần đây, Cục Hải quan Điện Biên đã có nhiều phát triển trongchế độ quản lý XNK và hoạt động thương mại nhằm phù hợp với xu hướng biến đổicủa kinh tế thế giới và tuân thủ các chính sách của Nhà nước Số thu ngân sách nhànước của cục liên tục tăng và vượt chỉ tiêu đề ra Các nhiệm vụ phòng chống matúy, phòng chống buôn lậu được phối hợp với cơ quan biên phòng và cảnh sát chống
ma túy rất hiệu quả Chi cục Tây Trang đã phối hợp với cơ quan Biên phòng ĐiệnBiên, phát hiện và bắt giữ nhiều vụ buôn lậu lớn, từ đó nhận được nhiều Huânchương và Bằng khen cao quý của Nhà nước Với những bước tiến tích cực trongcải cách bộ máy hành chính, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộcông chức, hiện đại hóa và công khai hóa các thủ tục hải quan qua việc ứng dụngcông nghệ thông tin và phương tiện kỹ thuật, Cục Hải quan Điện Biên nói chung vàChi cục Hải quan cửa khẩu Tây Trang nói riêng hứa hẹn sẽ tiếp tục góp phần lớncho sự phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh cho tỉnh cũng như cho cảnước
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Chi cục Hải quan Tây Trang
2.1.2.1 Chức năng và nhiệm vụ của Chi cục Hải quan Cửa khẩu Tây Trang
Theo Quyết định số 4292/QĐ-TCHQ ngày 12/12/2016 của Tổng cục Hải quan
về Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Chi cục Hảiquan, Chi cục Hải quan Tây Trang thực hiện nhiệm cụ thể như sau:
Một là, thực hiện thủ tục hải quan, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất nhập
khẩu và phương tiện vận tải xuất nhập cảnh tại địa bàn Tây Trang và Huổi Puốc
Hai là, áp dụng các biện pháp nghiệp vụ kiểm soát hải quan để phòng, chống
buôn lậu hàng hóa, ma túy, gian lận thương mại
Ba là, tiến hành thu thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; thực hiện việc
miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, theo quy định của pháp luật
Trang 30Bốn là, thực hiện các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ QLRR, công tác kiểm tra sau
thông quan đối với hàng hóa XNK theo quy định của pháp luật
Năm là, tổ chức thực hiện chế độ ưu tiên đối với doanh nghiệp, công tác kiểm
định và kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa XNK
Sáu là, thực hiện cập nhật, phân tích thông tin nghiệp vụ hải quan; thống kê nhà
nước về hải quan đối với hàng hóa XNK và phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh
Bảy là, thực hiện việc tạm giữ, giải quyết khiếu nại, cưỡng chế hàng hóa,
phương tiện vi phạm hành chính về hải quan; xử lý vi phạm hành chính về hải quan
Tám là, kiến nghị với các cấp có thẩm quyền những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung
vào chính sách quản lý nhà nước về hải quan
Chín là, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định, quy trình nghiệp vụ hải
quan của công chức hải quan thuộc Chi cục Hải quan Tây Trang để kịp thời pháthiện, xử lý đối với hành vi tiêu cực, vi phạm pháp luật hải quan
Mười là, tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn thực hiện chính sách, pháp luật về Hải
quan cho các tổ chức, cá nhân có hoạt động XNK trên địa bàn
Mười một là, tổ chức triển khai thực hiện ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ
và phương pháp quản lý hải quan hiện đại vào các hoạt động của Chi cục Hải quan
Mười hai là, thực hiện các quy định về quản lý công chức và quản lý tài chính,
tài sản, các trang thiết bị của Chi cục Hải quan Tây Trang; báo cáo và cung cấpthông tin về hoạt động của Chi cục theo quy định của Cục và Tổng cục Hải quan
2.1.2.2 Quyền hạn của Chi cục Hải quan Cửa khẩu Tây Trang
Chi cục được phép xử lý các vụ việc, công việc theo quyền hạn sau:
Một là, quyết định các biện pháp kiểm tra, giám sát, quản lý về Hải quan phù
hợp với từng trường hợp, đảm bảo đúng nguyên tắc và chế độ quản lý của ngành
Hai là, xác minh và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về Hải quan theo đúng
quy định của pháp luật
Ba là, sử dụng con dấu riêng để giải quyết các công việc nghiệp vụ của Hải quan
cửa khẩu theo quy định
Bốn là, bố trí, phân công công tác, luân chuyển cán bộ, công chức trong nội bộ
Chi cục theo thẩm quyền được phân cấp
Trang 312.2 Thực trạng thực hiện hiện đại hóa hải quan tại Chi cục Hải quan Tây Trang
2.2.1 Thực hiện quá trình hoàn thiện khuôn khổ pháp lý
2.2.1.1 Bối cảnh hoàn thiện khuôn khổ pháp lý của Hải quan Việt Nam
Trong bối cảnh xây dựng AEC, việc đầu tiên cần làm là hoàn thiện khuôn khổpháp lý để phù hợp với tiêu chuẩn của khu vực và quốc tế, bao gồm cả những vănbản thuộc ngành Hải quan Những cam kết thực hiện hiện đại hóa hải quan đã đượcđưa vào thực tiễn từ việc xây dựng hệ thống pháp luật mới, sửa đổi, bổ sung nhữngvăn bản chưa phù hợp với quốc tế và nội luật hóa những văn bản pháp luật của khuvực và thế giới Những văn bản mang tính chất tiên phong cho công cuộc hoàn thiệnkhuôn khổ pháp lý của Việt Nam là Pháp lệnh Hải quan 1990, Luật Hải quan 2002,Luật Hải quan sửa đổi, bổ sung 2005 và mới đây nhất là Luật Hải quan 2014, đánhdấu những mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập AEC
Pháp lệnh Hải quan 1990 được ngành Hải quan trình lên Ủy ban Thường vụQuốc hội sau 5 năm đổi mới và 30 năm thực hiện Điều lệ Hải quan Sau một thập kỷđược ban hành, Pháp lệnh Hải quan đã thực hiện tốt vai trò của mình đối với ngànhHải quan, nhưng dần dần gặp phải những bất cập do sự chênh lệch với thể chế,chính sách mới của Đảng và Nhà nước trong quá trình đổi mới và hội nhập
Vì vậy, Luật Hải quan mới đã được thông qua ngày 29/6/2001 sau 18 lần dựthảo trước Quốc hội Bộ luật này có điểm mới khi đã tăng thẩm quyền cho lãnh đạongành Hải quan, giúp mở rộng độ linh hoạt khi ban hành các quy định hướng dẫn vềnghiệp vụ chuyên môn của ngành
Bám sát việc thực hiện Công ước Kyoto sửa đổi đồng thời thể hiện mong muốngia nhập WTO của Việt Nam, Luật Hải quan sửa đổi năm 2005 được thông qua.Luật sửa đổi đã có những nội dung điều chỉnh quan trọng như điều 5a – hoạt độnghợp tác quốc tế về hải quan; điều 8 – hiện đại hóa quản lý hải quan; điều 71 – trị giáhải quan,… nhắm đến mục đích hiện đại hóa mọi hoạt động trong ngành Hải quan.Việc xây dựng Luật Hải quan 2014 bắt đầu từ năm 2010 với mục đích thay thếLuật Hải quan năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quannăm 2005, hướng tới mục tiêu đạt được yêu cầu của Chiến lược phát triển Hải quanđến năm 2020 Trong suốt 3 năm sau đó, công tác nghiên cứu, xin ý kiến của các
Vụ, Cục khác trong Tổng cục của Vụ Pháp chế được tiến hành hết sức cẩn thận để
Trang 32phù hợp với thực tiễn hoạt động hải quan và dự báo được những nội dung mới tronglĩnh vực hải quan, bảo đảm tính ổn định và lâu dài Luật Hải quan 2014 đã có nhữngthay đổi đáng chú ý so với các văn bản luật trước đó: quy định cơ sở pháp lý đầy đủcho việc quản lý hải quan theo hướng hiện đại, thực hiện chính thức và mở rộngphạm vi thực hiện thủ tục hải quan điện tử đối với các khâu nghiệp vụ hải quan(điều 8); thông quan; thủ tục thuế điện tử; nộp chứng từ điện tử; xử lý hồ sơ điệntử;lưu trữ hồ sơ điện tử (bao gồm cả việc bổ sung các chế định pháp lý về điện tửhoá: e- C/O, e-payment, e-cargo, e-clearance, e-permit ) để tạo thuận lợi cho doanhnghiệp và tăng cường năng lực quản lý của cơ quan Hải quan; nội luật hóa cácchuẩn mực tại Công ước Kyoto 1999; cải cách quy trình thủ tục theo phương phápQLRR như phân loại hàng hóa XNK để áp dụng 3 hình thức kiểm tra, kiểm tra sauthông quan, bảo vệ sở hữu trí tuệ, thông quan điện tử (điều 77 – 82) Những hiệpđịnh chung lớn như ACV, hiệp định TRIPS về sở hữu trí tuệ, hệ thống AHTN, HS,
… cũng đều đã được nội luật hóa
Tới giai đoạn 2016-2020, Tổng cục Hải quan đã quyết định thành lập Nhómchuyên môn thẩm định Kế hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hóa giai đoạn2016-2020 do Trưởng nhóm là Phó Tổng cục trưởng Vũ Ngọc Anh quản lý vớinhiệm vụ đánh giá thực trạng các chương trình đã và đang được thực hiện trongtoàn ngành Hải quan dựa trên các mục tiêu đặt ra trong Chiến lược phát triển Hảiquan đến năm 2020, đồng thời xác định các yêu cầu mới phù hợp với sự phát triểncủa ngành Hải quan trong giai đoạn tiếp theo Ngày 13/3/2017, Tổng cục Hải quan
ra quyết định số 762/QĐ-TCHQ ban hành kế hoạch chi tiết triển khai các hoạt độngcải cách, hiện đại hóa trọng tâm của ngành hải quan năm 2017
2.2.1.2 Tình hình áp dụng khuôn khổ pháp lý của Chi cục Hải quan Tây Trang
Vì chỉ là một Chi cục nhỏ trực thuộc Cục Hải quan Điện Biên nên các cá nhâncán bộ cũng như toàn thể đơn vị không có nhiều tiếng nói trong quá trình hoàn thiệnpháp lý trong ngành Hải quan Tuy nhiên, nội bộ ngành có hệ thống đóng góp ýkiến và cung cấp thông tin riêng, nơi mà các cán bộ Hải quan có thể đưa ra những
đề xuất dựa trên tình hình thực tế tại đơn vị mình công tác
Giai đoạn xây dựng Luật Hải quan sửa đổi 2014 đánh một dấu mốc lớn trongquá trình hoạt động của Chi cục khi được tham gia khảo sát ý kiến Việc một Chi
Trang 33cục cửa khẩu quy mô nhỏ với số lượng nhân sự không nhiều ở khu vực biên giới mà
có tiếng nói tới một bộ Luật áp dụng cho cơ quan Hải quan toàn quốc là điểm nhấnlớn Chi cục đã tổ chức những buổi họp thu thập ý kiến đánh giá thực tiễn nhằm đềxuất những sửa đổi trong Luật Hải quan để Chi cục trưởng tổng hợp, gửi ý kiến lêncấp trên Đợt khảo sát ý kiến các Vụ, Cục của Vụ Pháp chế đã thu được nhiều ý kiếnđáng giá để áp dụng sửa đổi các điều luật, đặc biệt là những điều luật về Hải quanđiện tử cùng phương thức áp dụng tại những nơi điều kiện còn khó khăn như ở Chicục Tây Trang Tuy nhiên, những ý kiến hợp lý nhưng không phù hợp với Luật Hảiquan sẽ được Vụ Pháp chế chuyển lại tới Tổng cục trưởng để xin ý kiến ban hànhcác văn bản dưới luật quy định cụ thể hơn, ví dụ như quyết định 1780/QĐ-TCHQđược ban hành ngày 17/6/2016 để thay thế cho 2424/QĐ-TCHQ năm 2008 về Quytrình hoàn thuế, không thu thuế, xét giảm thuế đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu vốnđược Chi cục Tây Trang áp dụng cho các hàng hóa đặc biệt từ Lào
Ngoài những đợt khảo sát ý kiến như trên thì nói chung, Chi cục Tây Trangkhông có nhiều đóng góp vào việc xây dựng hệ thống pháp lý để hiện đại hóa hảiquan, mà chỉ tuân theo những văn bản được quy định đó, đảm bảo những hoạt độngtại Chi cục đi theo đúng định hướng mà cấp trên đã vạch ra
Hiện nay, Tổng cục Hải quan cũng đã ban hành quyết định số 55/QĐ-TCHQthực hiện kế hoạch triển khai nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính của ngành Hảiquan năm 2017, yêu cầu các Chi cục, Cục Hải quan địa phương cùng với Vụ Phápchế thực hiện rà soát, đơn giản hóa thủ tục hải quan báo cáo lên cấp trên tổng hợpvào 22/5/2017 và 15/11/2017 Chi cục Hải quan Tây Trang đang gấp rút hoàn thànhbáo cáo nửa đầu năm 2017 này
2.2.2 Thực trạng cải cách công tác thu thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu
Công tác thu thuế đối với hàng hóa XNK là nhiệm vụ được giao cho ngành Hảiquan Việt Nam Vì các loại thuế Hải quan thu góp phần không nhỏ vào ngân sáchnhà nước đồng thời giúp điều tiết các yếu tố sản xuất trong nước nên công tác thuthuế là một trong những nội dung quan trọng nhất trong quá trình hiện đại hóa hảiquan của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập AEC
Trang 342.2.2.1 Các phương pháp xác định trị giá hải quan
Tổng quan về các phương pháp xác định trị giá hải quan
Khi tính thuế hải quan cho hàng hóa nhập khẩu, hải quan các nước thường dùngphương tính thuế theo phần trăm trị giá hàng hoá vì nó được xem là công bằng vàthuận tiện nhất so với tính thuế theo định lượng và tính thuế phức hợp Công bằng
vì thuế phải nộp cho hàng giá rẻ sẽ thấp hơn thuế phải nộp cho hàng giá cao; thuậntiện vì doanh nghiệp dễ xác định mức thuế để tính toán giá khi giao dịch, Nhà nướccũng dễ ước tính nguồn thu từ thuế Muốn tính thuế theo phương thức “phần trămtrị giá hàng hoá”, điểm mấu chốt là xác định trị giá hàng hoá5 để tính thuế Nếukhông có một trị giá hải quan thống nhất, ngay cả chỉ trong quốc gia mỗi bên sẽmuốn áp dụng một cách tính khác nhau vì cơ quan nhà nước luôn muốn thu nhiềuthuế trong khi Doanh nghiệp thì luôn muốn nộp ít thuế Sự mẫu thuẫn này ở cấp độkinh tế khu vực lại càng lớn khi có nhiều chủ thể lớn tham gia vào quá trình tínhthuế hơn khiến cả WTO lẫn WCO đều coi đây là ưu tiên hàng đầu cần phải giảiquyết Từ nguyên nhân đó, Hiệp định ACV đã được xây dựng và thông qua, kèmtheo những văn bản hướng dẫn cụ thể với mục tiêu thuận lợi hóa thương mại quốctế
Tại Việt Nam, trị giá hải quan được coi là trị giá phục vụ mục đích tính thuế vàthống kê hải quan; được đưa vào Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Hải quannăm 2006 Trước đó, người ta chỉ đề cập đến trị giá hải quan nhằm mục đích tínhthuế mà không nhắc đến lĩnh vực thống kê hải quan
Từ trước đến nay, trên thế giới tồn tại nhiều phương pháp xác định trị giá hải
quan, có thể kể đến một vài phương pháp nổi bật sau: giá thị trường trong các nước
hiện hành, là phương pháp Anh đưa ra trong thế kỉ XX để bảo hộ hàng hóa sản xuất
tại Anh bán cho các nước thuộc địa; giá thị trường hợp lý, chủ yếu áp dụng ở Philippines; hệ thống giá bán của Mỹ, nhà sản xuất trong nước gián tiếp kiểm soát trị giá áp dụng cho hàng hóa của đối thủ cạnh tranh; định nghĩa Brussels về trị giá,
được xây dựng và áp dụng tại 30 nước vào những năm 1950 trước khi có Hiệp định
GATT/WTO; phương pháp dùng giá tối thiểu, cơ quan hải quan đưa ra giá tối thiểu
cho mọi loại hàng hóa nhập khẩu mà không phản ánh giá thực tế, thường áp dụng ở
5hay còn gọi là “trị giá tính thuế hải quan”
Trang 35các nước kém phát triển vì dễ thực hiện và thu được nhiều thuế, tuy nhiên thiếu
khoa học và minh bạch, đã từng được áp dụng tại Việt Nam; tính giá hải quan theo
giá CIF đối với hàng nhập khẩu và theo giá FOB đối với hàng xuất khẩu; xác định theo trị giá GATT, là giá thực tế đã thanh toán hoặc phải thanh toán cho lô hàng
nhập khẩu (Nguyễn Thị Thương Huyền, 2008)
Hiệp định ACV xác định trị giá hải quan của hàng hóa theo sáu phương pháp,bắt buộc áp dụng theo trình tự, nếu không xác định được trị giá tính thuế theophương pháp trước thì mới thực hiện theo phương pháp tiếp theo
Thứ nhất, phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu Phương pháp
này được nội luật hóa tại điều 6, Thông tư 39/2015/TT-BTC (sau đây gọi tắt làThông tư 39) của Bộ Tài chính, là phương pháp đầu tiên và được sử dụng chủ yếu
để xác định trị giá của hàng nhập khẩu
Thứ hai, phương pháp trị giá của hàng hóa nhập khẩu giống hệt Phương pháp
này được nội luật hóa tại điều 8 Thông tư 39, thường được sử dụng trong trongtrường hợp giao dịch giữa các bên có mối quan hệ đặc biệt ảnh hưởng tới giá cả củahàng hóa hay trong các trường hợp không xác định được giá hàng hóa
Thứ ba, phương pháp trị giá của hàng hóa nhập khẩu tương tự Phương pháp
được quy định tại điều 9 Thông tư 39, nội dung không khác nhiều so với phươngpháp thứ hai, ngoài định nghĩa hàng tương tự và hàng giống hệt
Thứ tư, phương pháp trị giá khấu trừ Phương pháp này được quy định tại điều
10 Thông tư 39 Trị giá hải quan được căn cứ vào giá bán của hàng hóa nhập khẩu,hàng hóa nhập khẩu giống hệt hoặc tương tự trên thị trường Việt Nam và trừ đi cácchi phí hợp lý, lợi nhuận thu được sau khi bán hàng hóa nhập khẩu
Thứ năm, phương pháp trị giá tính toán Phương pháp được quy định tại điều 11
Thông tư 39 Trị giá hải quan khi ấy là tổng các khoản chi phí của người sản xuất đểsản xuất và bán hàng hóa cần xác định trị giá, cụ thể gồm giá thành nguyên vật liệu,chi phí gia công, chi phí chung, chi phí vận chuyển, bảo hiểm, lợi nhuận
Thứ sáu, phương pháp suy luận Phương pháp này được cụ thể hóa ở điều 12
Thông tư 39, còn được gọi là phương pháp dự phòng Phương pháp này được hiểu
là cách áp dụng cả 5 phương pháp trên theo thứ tự nhưng được linh hoạt dựa trên sốliệu thu thập được ở nước nhập khẩu
Trang 36Thực tiễn tại Hải quan Việt Nam và Chi cục Hải quan Tây Trang
Trước 2002, Việt Nam áp dụng phương pháp định giá theo điều 7 Nghị định 54/
CP năm 1993 của Chính phủ Khi đó, trị giá tính thuế là giá mua tại cửa khẩu nhậpbao gồm cả phí vận tải và bảo hiểm hoặc giá bán tối thiểu tại cửa khẩu nếu khôngxác định được Quy định của Bộ Tài chính khi ấy tạo nên rất nhiều các áp dụng trịgiá tính thuế với nhiều đối tượng khác nhau, dễ tạo nên sơ hở để các đối tượng lợidụng gian lận về thuế Trị giá tính thuế vốn được coi như công cụ đảm bảo thu thuế
và chống gian lận thương mại nhưng đã gặp phải khiếm khuyết khá lớn, đặt ra yêucầu phải thay đổi để đảm bảo công bằng, minh bạch
Để theo sát với các cam kết quốc tế về hải quan, từ năm 2002, Tổng cục Hảiquan đã đóng góp ý kiến để Chính phủ ban hành Nghị định 60/2002/NĐ-CP hướngdẫn thực hiện việc xác định trị giá hải quan theo Hiệp định ACV đã được các nướcthành viên WTO thông qua
Ngày 29/12/2003, Hải quan Việt Nam bắt đầu thực hiện việc xác định trị giá Hảiquan theo Hiệp định ACV song song với việc xác định trị giá có sử dụng bảng giátối thiểu Việc triển khai tại Chi cục Hải quan Tây Trang bắt đầu thực hiện từ năm
2004 áp dụng đối với một số đối tượng như: hàng hóa nhập khẩu trong danh mụchàng hóa của Việt Nam có form D để thực hiện Hiệp định CEPT của các nướcASEAN; hàng hóa nhập khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thuộcđối tượng điều chỉnh của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; hàng hóa nhập khẩucủa một số nước hay tổ chức quốc tế đã ký kết thực hiện xác định trị giá tính thuếtheo nguyên tắc của Hiệp định ACV Ngoài ra, Hải quan Tây Trang cũng áp dụngvới những mặt hàng có form S do Lào cấp theo FTA song phương giữa Việt Nam
và Lào Ở giai đoạn này, Chi cục Tây Trang mới chỉ thực hiện áp dụng hạn chếHiệp định ACV, cụ thể là mới áp dụng một phần phương pháp 4 (khấu trừ) và chưa
áp dụng phương pháp 5 (tính toán), đồng thời vẫn áp dụng phương pháp xác định trịgiá tính thuế theo bảng giá tối thiểu với các mặt hàng nhập khẩu không bị điềuchỉnh bởi nghị định 60/2002/NĐ-CP của Chính phủ Tại Chi cục Hải quan TâyTrang, 90% tổng số lượng tờ khai hàng hóa nhập khẩu từ Lào đã được tính giá trịhải quan theo phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu
Trang 37Đến đầu năm 2006 toàn bộ hàng hóa nhập khẩu tại Chi cục Hải quan Tây Trangđều được xác định giá tính thuế theo Hiệp định ACV theo quy định tại Luật Thuếxuất nhập khẩu sửa đổi cùng nhiều văn bản hướng dẫn, đặc biệt là Nghị định155/2005/NĐ-CP quy định về xác định trị giá hải quan Sau nhiều lần thay đổi, cậpnhật, Hiệp định ACV đã được nội luật hóa qua Nghị định 40/2007/NĐ-CP xác địnhtrị giá hải quan đối với hàng hoá XNK và sau đó là Thông tư 39/2015/TT-BTC của
Bộ Tài chính quy định về trị giá hải quan hàng hóa XNK
2.2.2.2 Áp dụng danh mục biểu thuế hài hòa thống nhất ASEAN nhằm hoàn thiện Danh mục hàng hóa, Biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu
Quá trình điều chỉnh Danh mục hàng hóa và Biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu
Năm 2002, AHTN lần đầu tiên được xây dựng trên cơ sở Danh mục hài hòa củaWCO bản 2002 Tới tháng 4/2004, Bộ trưởng Tài chính ASEAN đã kí Nghị địnhthư thực thi AHTN sửa đổi làm công cụ pháp lý để các nước thành viên tuân thủAHTN Tháng 1/2007 đánh dấu mốc hoàn thành việc rà soát, kiểm tra và áp dụngAHTN 2007 ở cấp độ 10 số Năm 2012, AHTN một lần nữa thay đổi với nội dungthay đổi là mã số hàng hóa từ 10 chữ số thành 8 chữ số Ngày 28/12/2016, Chínhphủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số 109/NQ-CP về việc phê duyệt AHTN 2017.AHTN 2017 có 10.813 dòng hàng ở cấp độ 8 chữ số So với AHTN 2012, danh mục
2017 đã tăng lên 1.255 dòng hàng, tách mã, chuyển mã và mở 2.321 dòng với mô tảmới AHTN 2017 xây dựng với mục tiêu thống nhất Danh mục và Biểu thuế giữacác nước ASEAN, đồng bộ hóa các chú giải, mã số, mô tả hàng hóa nhằm thúc đẩy
tự do luân chuyển hàng hóa trong khu vực, thúc đẩy hội nhập kinh tế trong khu vực
và đặc biệt góp phần vào quá trình hình thành AFTA và AEC (Báo Hải quan Điện
tử, 2017)
Trước năm 1992, Biểu thuế xuất khẩu, biểu thuế nhập khẩu của Việt Nam đượcban hành dựa trên Danh mục hàng hóa XNK của Hội đồng tương trợ kinh tế cácnước Xã hội Chủ nghĩa Biểu thuế khi đó được chia làm hai cột, thuế suất phổ thông
và thuế suất tối thiểu, nhằm mục đích phân loại các mối quan hệ thương mại giữaViệt Nam và các quốc gia khác Lịch sử của Danh mục hàng hóa và biểu thuế ViệtNam bắt đầu bước sang trang mới từ tháng 4/1992 khi được xây dựng dựa trên nềntảng HS Ngày 31/3/1992, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 110/HĐBT quy
Trang 38định việc thi hành Luật Thuế XNK kèm theo biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu So vớibiểu thuế dựa trên Danh mục của Hội đồng kinh tế, biểu thuế mới đã có thay đổiquan trọng về sự thống nhất giữa thuế của hàng mậu dịch và phi mậu dịch Tuynhiên, điểm bất cập của danh mục này là việc phân loại chương, nhóm, phân nhómchưa hoàn toàn tuân thủ HS, thậm chí vẫn có sự kết hợp với nguyên tắc phân loại cũcủa Hội đồng tương trợ kinh tế Mức thuế suất khi ấy vẫn còn chia làm hai dù đãthay đổi tên gọi và thể hiện sự phân biệt đối xử trong các mối quan hệ thương mạicủa Việt Nam với các quốc gia khác nhau.
Từ năm 1998, sau khi có định hướng tới một Cộng đồng kinh tế ASEAN, ViệtNam áp dụng toàn bộ các chú giải phần, chương, mục của Danh mục HS vào Danhmục biểu thuế xuất khẩu và nhập khẩu ưu đãi Việt Nam, tuy nhiên khi ấy vẫn chưahoàn toàn tuân thủ theo HS Hai quyết định số 1802/1998/QĐ-BTC và1803/1998/QĐ-BTC được ban hành đính kèm với Biểu thuế xuất khẩu và nhập khẩucủa Việt Nam Theo đó, có 6 nhóm hàng chịu thuế xuất khẩu với mức thuế suất dàntrải từ 1% đến 45% Biểu thuế nhập khẩu khi ấy có 28 mức thuế suất, giảm từ 34mức thuế suất so với Danh mục trước đó Danh mục và tên hàng hóa khi ấy đã tuânthủ các quy định của HS nhưng lại chưa hoàn toàn tuân thủ nguyên tắc phân loạichương và nhóm hàng
Đầu năm 2002, Hải quan Việt Nam bắt đầu xây dựng những Trung tâm phântích phân loại hàng hóa đầu tiên để phục vụ cho công tác tại các đơn vị cơ sở Saumột năm xây dựng, tới tháng 9/2003, Bộ tài chính đã ban hành Biểu thuế nhập khẩu
và xuất khẩu tuân thủ hoàn toàn HS 2002 cũng như AHTN 2002 về cả danh mục lẫnnguyên tắc phân loại Dù vậy, biểu thuế này vẫn quy định mức thuế suất riêng chomột số mặt hàng tại danh mục số 2 Mức thuế suất tại biểu thuế lần này được điềuchỉnh phù hợp hơn và số lượng giảm chỉ còn 19 mức Năm 2007 và 2011, Bộ Tàichính ra các quyết định, thông tư ban hành danh mục hàng hóa XNK số107/2007/QĐ-BTC ngày 25/12/2007 và số 156/2011/TT-BTC ngày 14/11/2011nhưng không có nhiều thay đổi lớn
Hiện tại, danh mục hàng hóa XNK Việt Nam bản mới nhất đang được sử dụngtại Chi cục Hải quan Tây Trang là bản được đính kèm theo thông tư 103/2015/TT-BTC được ban hành ngày 1/7/2015 Cho tới danh mục này thì đã hài hòa với
Trang 39AHTN, đã tổng hợp những mặt hàng chịu thuế suất đặc biệt ở mục số 2 vào danhmục chung, tiếp tục chọn lọc để định hướng luồng vốn đầu tư đúng hướng cho ViệtNam Bộ Tài chính đang thực hiện kế hoạch xây dựng Danh mục hàng hóa XNK
2017, dự kiến ban hành vào tháng 7/2017 và có hiệu lực từ tháng 1/2018
Về danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam
Thông tư 103/2015/TT-BTC nói trên cũng ban hành kèm theo Bản Phụ lục sáuquy tắc tổng quát giải thích việc phân loại hàng hóa theo Danh mục hàng hóa xuấtkhẩu, nhập khẩu Việt Nam Bên cạnh các quy tắc này, ở đầu các phần, chương củaDanh mục còn có các chú giải bắt buộc Danh mục hàng hóa chi tiết gồm 21 phần,
97 chương (trong đó có chương 77 để dự phòng), các nhóm, phân nhóm và chi tiếtcác mặt hàng, được chia làm 3 cột Ngoài ra danh mục hàng hóa cũng có 3 cột bằngtiếng Anh là bản gốc AHTN
Bảng 2.1 Trích đoạn danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam 2015
7008.00.00 Kính dùng làm tường ngăn nhiều lớp. kg
84.81 Vòi, van và các thiết bị tương tự dùng cho
đường ống, thân nồi hơi, bể chứa
8481.80 - Thiết bị khác:
- - Van dùng cho săm:
8481.80.11 - - - Bằng đồng hay hợp kim đồng chiếc
- - - - Loại dung tích xi lanh trên 3.000 cc:
(Nguồn: Danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam 2015) Trong mã hàng, 4 chữ
số đầu là mã hiệu nhóm hàng, 2 chữ số tiếp theo là mã hiệu phân nhóm 6 số, 2 chữ
số cuối là mã hiệu phân nhóm 8 số Các phần này đượcngăn tách bởi dấu chấm
Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam 2015 là cơ sở cho việc xâydựng biểu thuế xuất khẩu, biểu thuế nhập khẩu ưu đãi,… cũng như phân loại hànghóa XNK hoặc liên quan đến hoạt động XNK phục vụ cho quá trình thống kê, quản
Trang 40lý nhà nước trong lĩnh vực thương mại hoặc các lĩnh vực khác Việc hiểu rõ cấu trúc
để áp dụng danh mục này là điều cực kì quan trọng trong quá trình thực hiện cácnghiệp vụ hải quan tại Chi cục Hải quan Tây Trang Nếu phân loại hàng hóa sainhóm sẽ ảnh hưởng lớn tới việc áp dụng biểu thuế để tính thuế và thống kê hảiquan Sự thay đổi, cải tiến hằng năm của danh mục để phù hợp với quá trình hộinhập AEC cũng đã được thực hiện hết sức kịp thời, ngay ở cả địa phương còn kémphát triển như Tây Trang
Về biểu thuế nhập khẩu ưu đãi
Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi hầu như được cập nhật hằng năm từ 2006 tới 2016qua các thông tư, nghị định của Bộ Tài chính Trải qua nhiều thay đổi cho phù hợp,văn bản cập nhật nhất hiện tại xác định cấu trúc biểu thuế nhập khẩu ưu đãi nóichung là Nghị định số 122/2016/NĐ-CP về biểu thuế xuất khẩu, biểu thuế nhậpkhẩu ưu đãi, danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhậpkhẩu ngoài hạn ngạch thuế quan có hiệu lực từ 1/9/2016 vừa bãi bỏ thông tư182/2015/TT-BTC ban hành Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theodanh mục mặt hàng chịu thuế và các thông tư khác bổ sung các mặt hàng cụ thể.Cấu trúc của biểu thuế nhập khẩu gồm các phần, chương, chú giải của phần,chương, phân chương, các nhóm, phân nhóm hàng, tương tự như Danh mục hànghóa XNK Trong đó, phân nhóm cấp độ 8 chữ số là theo AHTN và Danh mục hànghóa XNK Việt Nam 2015, phân nhóm cấp độ 10 chữ số là của Việt Nam Biểu thuếđược chia làm 3 cột: mã hàng, mô tả hàng hóa và thuế suất Mức thuế suất có thể làcủa nhóm nếu không chia tiếp các phân nhóm, của phân nhóm 6 số nếu không chiatiếp thành 8 số, của phân nhóm 8 số nếu phân nhóm 6 số chia tiếp, của phân nhóm
10 số.
Bang 2.2 Trích đoạn biểu thuế nhập khẩu ưu đãi 2016
̉y
03.03 Cá, đông lạnh, trừ phi-lê cá (fillets) và các loại
thịt cá khác thuộc nhóm 03.04
- Cá hồi, trừ gan, sẹ và bọc trứng cá:
(Nguồn: Phụ lục II Nghị định 122/2016/NĐ-CP)