1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bảo vệ quyền con người của người làm chứng trong luật tố tụng hình sự việt nam

25 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 116,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu Vấn đề bảo vệ quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình sự vốn là vấn đề rất lớn, liên quan đến rất nhiều khía cạnh của tố tụng hình sự nhưng lâu nay việc nghiên cứu về vấn đề này thường thiên về một khía cạnh là làm sao để pháp luật tố tụng hình sự bảo vệ tốt hơn quyền của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo... mà ít chú ý đến việc đảm bảo quyền con người của người làm chứng trong pháp luật tố tụng hình sự bởi vì trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, những thông tin do người làm chứng cung cấp có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần phát hiện tội phạm và giải quyết vụ án hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam cho thấy trong nhiều vụ án hình sự người làm chứng bất hợp tác hoặc hợp tác không tích cực với các cơ quan có thẩm quyền để phát hiện, xử lý tội phạm, đặc biệt cũng có không ít các trường hợp đe dọa, hành hung người làm chứng từ phía người tham gia tố tụng hoặc người thân thích của họ. Căn nguyên của tình trạng trên không chỉ do chủ quan của người làm chứng mà trước hết là do những thiếu sót, bất cập của chế định pháp lý và công tác bảo vệ người làm chứng hiện nay. Từ lâu, nhiều quốc gia trên thế giới và trong khu vực đã nghiên cứu, ban hành các đạo luật về bảo vệ nhân chứng hoặc các chương trình bảo vệ nạn nhân và nhân chứng, làm cơ sở pháp lý cho việc tổ chức công tác bảo vệ và giúp đỡ cho những người cung cấp thông tin về tội phạm mà bị đe dọa đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của họ hoặc người thân thích của họ. Do đó, công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm ở các nước này đạt hiệu quả cao, là kinh nghiệm để chúng ta nghiên cứu, ứng dụng. Ở Việt Nam, trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã bổ sung một nội dung mới, quan trọng về người làm chứng. Tuy nhiên, quy định này mang tính nguyên tắc và cho đến nay vẫn chưa được cụ thể hoá thành những chế định pháp lý có hiệu lực cụ thể để tổ chức thực hiện, gây khó khăn, lúng túng không chỉ cho người có quyền được bảo vệ, mà còn cho cả các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm áp dụng. Điều này không chỉ vi phạm nguyên tắc tố tụng hình sự, ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, mà nghiêm trọng hơn là xâm phạm quyền con người, quyền công dân trong vụ án hình sự. Từ những lý do nêu trên, tôi chọn đề tài: “Bảo vệ quyền con người của người làm chứng trong luật tố tụng hình sự Việt Nam”

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu

Vấn đề bảo vệ quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình sự vốn là vấn

đề rất lớn, liên quan đến rất nhiều khía cạnh của tố tụng hình sự nhưng lâu nayviệc nghiên cứu về vấn đề này thường thiên về một khía cạnh là làm sao để phápluật tố tụng hình sự bảo vệ tốt hơn quyền của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bịcáo mà ít chú ý đến việc đảm bảo quyền con người của người làm chứng trongpháp luật tố tụng hình sự bởi vì trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự,những thông tin do người làm chứng cung cấp có ý nghĩa hết sức quan trọng, gópphần phát hiện tội phạm và giải quyết vụ án hình sự đúng người, đúng tội, đúngpháp luật Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam cho thấy trong nhiều vụ án hình sựngười làm chứng bất hợp tác hoặc hợp tác không tích cực với các cơ quan cóthẩm quyền để phát hiện, xử lý tội phạm, đặc biệt cũng có không ít các trường hợp

đe dọa, hành hung người làm chứng từ phía người tham gia tố tụng hoặc ngườithân thích của họ Căn nguyên của tình trạng trên không chỉ do chủ quan củangười làm chứng mà trước hết là do những thiếu sót, bất cập của chế định pháp lý

và công tác bảo vệ người làm chứng hiện nay

Từ lâu, nhiều quốc gia trên thế giới và trong khu vực đã nghiên cứu, banhành các đạo luật về bảo vệ nhân chứng hoặc các chương trình bảo vệ nạn nhân

và nhân chứng, làm cơ sở pháp lý cho việc tổ chức công tác bảo vệ và giúp đỡcho những người cung cấp thông tin về tội phạm mà bị đe dọa đến tính mạng, sứckhoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của họ hoặc người thân thích của họ Do đó,công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm ở các nước này đạt hiệu quả cao, làkinh nghiệm để chúng ta nghiên cứu, ứng dụng

Ở Việt Nam, trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã bổ sung một nộidung mới, quan trọng về người làm chứng Tuy nhiên, quy định này mang tính

Trang 2

nguyên tắc và cho đến nay vẫn chưa được cụ thể hoá thành những chế định pháp

lý có hiệu lực cụ thể để tổ chức thực hiện, gây khó khăn, lúng túng không chỉ chongười có quyền được bảo vệ, mà còn cho cả các cơ quan tiến hành tố tụng cótrách nhiệm áp dụng Điều này không chỉ vi phạm nguyên tắc tố tụng hình sự, ảnhhưởng tiêu cực đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, mà nghiêm trọng hơn

là xâm phạm quyền con người, quyền công dân trong vụ án hình sự

Từ những lý do nêu trên, tôi chọn đề tài: “Bảo vệ quyền con người của người làm chứng trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” để làm để tài nghiên cứu

của luận văn thạc sĩ luật học

2 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của Đề tài là trên cơ sở phân tích lý luận về bảo vệngười làm chứng, đánh giá thực trạng và tham khảo pháp luật một số nước, đưa racác kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ ngườilàm chứng ở Việt Nam

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:

- Nghiên cứu một số vấn đề chung về bảo vệ quyền con người của ngườilàm chứng bằng pháp luật tố tụng hình sự

- Thực trạng pháp luật bảo vệ quyền con người của người làm chứng bằngpháp luật tố tụng hình sự ở nước ta hiện nay

- Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và hoàn thiện cơ sở pháp lý bảo

vệ quyền con người của người làm chứng bằng pháp luật tố tụng hình sự ở nướcta

2.3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Phạm vi nghiên cứu của Đề tài là các vấn đề bảo vệ quyền con người bằngpháp luật tố tụng hình sự đối với người làm chứng trong vụ án hình sự Cụ thể là:

Trang 3

- Nghiên cứu văn kiện, tài liệu chuyên khảo, văn bản pháp luật thực địnhliên quan đến chế định bảo vệ người làm chứng trong vụ án hình sự.

- Nghiên cứu thực tiễn tổ chức và cơ chế bảo vệ người làm chứng trong vụ

án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng

- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật và bảo vệ người làm chứng trong

vụ án hình sự

- Nghiên cứu kinh nghiệm bảo vệ người làm chứng ở một số quốc gia trênthế giới

3 Những đóng góp mới của luận văn

Luận văn có liên hệ việc bảo vệ quyền con người của người làm chứngbằng pháp luật tố tụng hình sự trong một số mô hình tố tụng khác nhau trên thếgiới, phân tích các qui định của pháp luật tố tụng hình sự nước ta về bảo vệ quyềncon người của người làm chứng, nhất là mặt hạn chế; đánh giá khá toàn diệnnhững ưu điểm và hạn chế về bảo vệ quyền con người của người làm chứng trongthực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự ở nước ta trong những năm qua; làm

rõ tính tất yếu, khách quan và căn cứ xây dựng cơ sở pháp lý, nguyên tắc và nộidung chế định bảo vệ người làm chứng phù hợp với vị trí pháp lý của họ trong tốtụng hình sự Từ đó kiến nghị, đề xuất nhiều giải pháp quan trọng nhằm nâng caohiệu quả bảo vệ quyền con người của người làm chứng bằng pháp luật tố tụnghình sự ở nước ta, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm ởViệt Nam trong giai đoạn hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu là chủ nghĩa Mác- Lê nin, tưtưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng ta về Nhà nước và pháp luật,nhất là các quan điểm của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa hiện nay và về đấu tranh phòng, chống tội phạm

Trang 4

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng để thực hiện đề tài này là:phân tích, tổng hợp, lịch sử, so sánh và thống kê vv…

Để thực hiện đề tài, học viên còn tham khảo các tư liệu thực tiễn và ý kiếncủa các nhà chuyên môn về tố tụng hình sự

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungchính của luận văn gồm có 3 chương 8 tiết

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA

NGƯỜI LÀM CHỨNG TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1 Quyền con người của người làm chứng trong tố tụng hình sự

1.1.1 Khái niệm quyền con người trong tố tụng hình sự

Quyền con người trong tố tụng hình sự là quyền dễ bị xâm phạm, dễ bị tổnthương nhất và hậu quả để lại cũng nghiêm trọng nhất khi nó động chạm đếnquyền được sống, quyền tự do và sinh mệnh chính trị của một cá nhân Việc pháthiện, xử lý tội phạm là công việc của bất kỳ Nhà nước nào nhằm bảo vệ lợi íchcủa nhà nước, của xã hội và của cá nhân trong xã hội đó

Nghiên cứu quyền con người trong tố tụng hình sự không thể không đưa rađịnh nghĩa về nó Hiện nay, có một số khái niệm về quyền con người trong tốtụng hình sự đã được đưa ra nhưng chủ yếu là nhấn mạnh đến quyền của người bịbuộc tội mà chưa chú ý đến quyền của những người khác tham gia tố tụng hình

sự Tuy vậy, qua nghiên cứu quyền con người của các nước và của nước ta tronglịch sử, có thể đưa ra khái niệm về quyền con người trong tố tụng hình sự như

sau: Quyền con người trong tố tụng hình sự là những giá trị thiêng liêng chỉ dành

cho con người khi họ tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự mà Nhà nước

Trang 5

có nghĩa vụ phải ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật và đảm bảo thực hiện trên thực tế.

1.1.2 Quyền con người của người làm chứng trong tố tụng hình sự

1.1.2.1 Khái niệm người làm chứng

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định “Người nào biết được nhữngtình tiết liên quan đến vụ án đều có thể được triệu tập đến làm chứng” Như vậy,

có thể hiểu: Người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến vụ

án và được các cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập khai báo về những tình tiết cần chứng minh trong vụ án Người làm chứng tham gia vào vụ án trên cơ sở

quyết định triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng (Điều 133 BLTTHS) Bên cạnhnhững thuộc tính chung như bất kỳ chứng cứ nào thì lời khai người làm chứng cónhững đặc điểm riêng đó là tính không thể thay thế của nó Lời khai người làmchứng là loại chứng cứ mà nguồn của nó là những con người cụ thể - tính cá biệtcao Những thông tin về vụ án được phản ánh và tái hiện lại qua lời khai củanhững con người cụ thể hoàn toàn khác nhau về tâm lý, về kinh nghiệm xã hội, vềtính cách và nhân cách So với nhiều chế định khác thì chế định người làmchứng là một trong những chế định cổ xưa nhất của tố tụng hình sự

1.1.2.2 Vị trí, vai trò của người làm chứng trong tố tụng hình sự

Với tư cách là người tham gia tố tụng, người làm chứng được pháp luật tốtụng hình sự quy định các quyền và nghĩa vụ pháp lý tại Điều 55 Bộ luật tố tụnghình sự năm 2003 như sau:

- Người làm chứng có quyền: Yêu cầu cơ quan triệu tập họ bảo vệ tínhmạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp kháccủa mình khi tham gia tố tụng; khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan,người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí

đi lại và những chi phí khác theo quy định của pháp luật

Trang 6

- Người làm chứng có nghĩa vụ: Có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quanđiều tra, Viện kiểm sát, Toà án; trong trường hợp cố ý không đến mà không có lý

do chính đáng và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc điều tra, truy tố, xét

xử thì có thể bị dẫn giải; khai trung thực tất cả những tình tiết mà mình biết về vụ

án cho cơ quan có thẩm quyền Người làm chứng từ chối hoặc trốn tránh việckhai báo mà không có lý do chính đáng thì phải chịu trách nhiệm hình sự theoĐiều 308 của BLHS năm 1999, khai báo gian dối thì phải chịu trách nhiệm hình

sự theo Điều 307 của BLHS năm 1999

Như vậy, người làm chứng là người biết được các tình tiết liên quan đến vụ

án và tham gia tố tụng nhằm xác định công lý mà không hề có quyền lợi, nghĩa vụliên quan đến vụ án Tuy nhiên, pháp luật tố tụng hình sự nước ta quy định nghĩa

vụ và trách nhiệm của người làm chứng rất nặng nề, thậm chí có cả trách nhiệmhình sự Đồng thời, pháp luật cũng quy định các quyền cụ thể để bảo đảm chongười làm chứng thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tố tụng quy định

1.1.2.3 Quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm

và tài sản của người làm chứng

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có một số bổ sung về quyền của ngườilàm chứng so với Bộ luật tố tụng hình sự 1988 là quy định mới của pháp luật tốtụng hình sự Việt Nam, là tín hiệu đáng mừng về sự thay đổi tư duy lập pháp vềngười làm chứng, một mặt khẳng định quyền được bảo vệ của những người này.Mặt khác quy định về trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việcbảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người làm chứngcũng như người thân thích của họ

Có thể nói quyền được bảo vệ của người làm chứng là một yêu cầu tất yếukhách quan Người làm chứng là công dân có vai trò đặc biệt khi tham gia vụ ánhình sự với tư cách là người tham gia tố tụng, lời khai của họ mang ý nghĩa quantrọng trong quá trình giải quyết vụ án và giúp các cơ quan tiến hành tố tụng giảiquyết án một cách khách quan, nhanh chóng và chính xác Vì vậy, họ có nguy cơ

Trang 7

bị người phạm tội ngăn cản và trả thù Khả năng người làm chứng bị xâm hại tínhmạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản cao nên Nhà nước cần phải có cơchế đặc biệt để bảo vệ và đảm bảo quyền con người cho họ.

1.2 Công tác bảo vệ người làm chứng trong vụ án hình sự

1.2.1 Khái niệm bảo vệ người làm chứng và ý nghĩa của việc bảo vệ người làm chứng trong tố tụng hình sự

Từ trước đến nay, do chưa được giải quyết một cách toàn diện và có hệthống, đồng bộ và thỏa đáng những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền con người củangười làm chứng nên trong khoa học pháp lý nói chung và chuyên ngành khoahọc pháp lý về tố tụng hình sự nói riêng của Việt Nam vẫn chưa có một công trìnhkhoa học nào xây dựng khái niệm về vấn đề này Từ thực tiễn của các quốc giahiện đại trên thế giới trong việc bảo vệ quyền con người của người làm chứngbằng pháp luật tố tụng hình sự, đồng thời từ sự phân tích các quy định của phápluật trong lĩnh vực tố tụng hình sự có liên quan đến việc bảo vệ quyền con ngườicủa người làm chứng và đặc biệt là từ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm

2003 về người làm chứng, có thể đưa ra khái niệm bảo vệ người làm chứng như

sau: Bảo vệ người làm chứng trong tố tụng hình sự là việc Nhà nước bằng quyền

lực của mình quy định và bảo đảm để các quyền con người của người làm chứng không bị xâm phạm và được thực thi trong đời sống, đảm bảo cho người làm chứng thực hiện việc tham gia tố tụng một cách tự do, góp phần giải quyết vụ án một cách chính xác, khách quan, nhanh chóng, công minh và đúng pháp luật

1.2.2 Cơ chế, các hình thức, biện pháp bảo vệ người làm chứng trong tố tụng hình sự

Từ thực tiễn tham khảo pháp luật tố tụng hình sự của một số nước trên thếgiới có thể thấy những biện pháp bảo vệ Người làm chứng rất đa dạng và chúng

có thể chia thành những nhóm sau đây:

Trang 8

- Những biện pháp chung: là những biện pháp có thể áp dụng trong quátrình tiến hành điều tra xét xử vụ án cũng như ngoài phạm vi vụ án, áp dụng vớingười làm chứng cũng như với người thân thích của họ;

- Những biện pháp bảo vệ người làm chứng trong giai đoạn khởi tố và giaiđoạn điều tra vụ án: Những biện pháp bảo vệ này chỉ do các cơ quan tiến hành tốtụng áp dụng trong phạm vi vụ án cụ thể đã được khởi tố, điều tra;

- Những biện pháp bảo vệ người làm chứng ở giai đoạn xét xử

1.3 Khái quát về bảo vệ quyền con người của người làm chứng ở một

số nước trên thế giới

1.3.1 Chương trình bảo vệ nhân chứng của Hoa Kỳ

Ở Hoa Kỳ, Chương trình bảo vệ nhân chứng (còn có tên gọi là Chươngtrình an ninh cho nhân chứng hay WITSEC) Chương trình này bảo đảm sự antoàn thân thể, cũng như nhân dạng và nơi ở mới; được áp dụng cho nhân chứng vàcác thành viên gần gũi trong gia đình - những người có thể bị đe dọa ( Nhân chứng

ở Hoa Kỳ bao gồm cả người tố cáo tội phạm, người làm chứng và cả người bị hại)

1.3.2 Chương trình bảo vệ nạn nhân, nhân chứng và những người tham gia tố tụng hình sự khác của Liên bang Nga

Năm 2004, Liên bang Nga đã ban hành Luật bảo vệ nhân chứng và năm

2006 Chính phủ Nga đã thông qua chương trình Nhà nước bảo vệ nạn nhân, nhânchứng và những người tham gia tố tụng hình sự khác Theo đó, công dân gặpnguy hiểm và chấp thuận tham gia chương trình bảo vệ nhân chứng sẽ được bảo

vệ an toàn tính mạng, tài sản đồng thời được trợ giúp để bí mật thay đổi chổ ở

1.3.3 Đề án không nhân chứng, không công lý của Vương quốc Anh

Năm 2003 Vương quốc Anh xây dựng Đề án không nhân chứng, không

công lý để hỗ trợ cho các bộ phận chăm sóc nhân chứng tại 42 khu vực ở Vương

quốc Anh và xứ Wales Bộ phận này có trách nhiệm: Liên hệ với nơi nhân chứng

Trang 9

làm việc, đề nghị chủ lao động sắp xếp cho nhân chứng ra toà Thời gian tham dựphiên toà, nhân chứng sẽ được hoàn trả toàn bộ phí tổn phát sinh

1.3.4 Bảo vệ nhân chứng tại Úc

Luật về bảo vệ nhân chứng của Úc được ban hành vào năm 1994 Luật này

đã lập ra Chương trình quốc gia về bảo vệ nhân chứng (NWPP) và giao tráchnhiệm duy trì chương trình cho người đứng đầu Cảnh sát liên bang Úc (AFP)

Một số nội dung của Luật bảo vệ nhân chứng năm 1994 của Úc đã đượcsửa đổi vào năm 2000 và 2002, theo đó đối tượng được bảo vệ bao gồm cả ngườilàm công của lực lượng Cảnh sát liên bang NWPP được quyền tiếp nhận cảnhững người làm chứng theo yêu cầu của Toà hình sự quốc tế

1.3.5 Chương trình bảo vệ nhân chứng của Philippines

Chương trình bảo vệ nhân chứng của Philippines được thiết lập theo Luật

Cộng hoà số 6981, "Luật bảo vệ nhân chứng, an ninh là lợi ích", nhằm khuyến

khích người đã chứng kiến hoặc biết về việc thực hiện một tội phạm làm chứngtrước toà hoặc một cơ quan có thẩm quyền xét xử hoặc trước các nhà điều trabằng cách bảo vệ người này khỏi sự trả thù hoặc khỏi các trục trặc về kinh tế

Nhìn chung lại, người làm chứng là người tham gia tố tụng, lời khai của họ

là nguồn chứng cứ quan trọng giúp các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết đúngđắn vụ án Do vậy, việc tổ chức và tiến hành bảo vệ người làm chứng trong vụ ánhình sự là một đòi hỏi khách quan và bước đầu đã được ghi nhận trong pháp luậtViệt Nam

Trang 10

2.1.1 Khái quát pháp luật tố tụng hình sự về bảo vệ người làm chứng trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự 2003

Từ thời Lê và Nguyễn những quy định về người làm chứng đã được đề cậpđến nhưng rất mờ nhạt dù họ đã phần nào nhận thức được tầm quan trọng củangười làm chứng Vấn đề bảo vệ quyền lợi của người làm chứng mãi vẫn khôngđược đề cập đến trong pháp luật Việt Nam cho đến thế kỷ 18, thời chúa Trịnh Sâm(1767-1782) mới có một điều lệ ghi rõ ràng về việc bảo vệ quyền lợi của ngườilàm chứng trong Mục Lệ kiện tụng khi bị lăng mạ

Vào thời kỳ thuộc địa Pháp (1884-1945) là thời kỳ Việt Nam bị lệ thuộcPháp Luật pháp về cơ bản là để bảo vệ quyền lợi của tầng lớp thống trị và bộmáy tay sai Tuy nhiên, trong pháp luật thời kỳ này vẫn còn tồn tại một vài tưtưởng còn mơ hồ về người làm chứng

Những quy định của Luật tố tụng hình sự kể trên được áp dụng suốt mộtthời gian dài cho đến năm 1945 Trong thời gian đó, có nhiều quy định được bổsung, sửa đổi Một trong những sự bổ sung trong thời kỳ Bảo Đại đó là ban hànhDân luật năm 1931 nhưng đối với các quy định về bảo vệ người làm chứng thì vẫnkhông thấy có một sự bổ sung nào

Như vậy, trước năm 1945 do tính chất nhà nước phong kiến hoặc thực dân,quyền con người chưa được đảm bảo nên người dân chỉ được khuyến khích việclàm chứng, thậm chí bị ràng buộc trách nhiệm phải làm mà không có một quyđịnh nào chính thức trong các Bộ luật về quyền lợi cũng như đảm bảo an toàn chonhững người đó

Thời kỳ giai đoạn từ năm 1945 cho đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụnghình sự năm 2003 trong hệ thống các quy phạm pháp luật của Nhà nước ta không

có quy định nào đề cập đến việc bảo vệ người làm chứng Bộ luật tố tụng hình sựnăm 1988 mới chỉ dừng lại ở việc quy định nghĩa vụ của người làm chứng

2.1.2 Các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về bảo vệ người làm chứng

Trang 11

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 được ban hành đã lần đầu tiên quy định

về quyền của người làm chứng Điểm tiến bộ của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 là

đã bổ sung một loạt quyền của người làm chứng trong tố tụng hình sự, bao gồmcác quyền: quyền được bảo vệ về nhân thân và tài sản; quyền được khiếu nại;Quyền được thanh toán chi phí khi đi làm chứng

Việc bổ sung trong Bộ luật tố tụng hình sự mới những quy định về đảm bảoquyền và lợi ích hợp pháp của người làm chứng trong tố tụng hình sự là quantrọng và cần thiết Tuy nhiên, về thực thi các quyền tiến bộ này trên thực tế chưathực sự đáp ứng được yêu cầu của xã hội như mục tiêu đề ra Việc thực hiện cácquy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về bảo đảm quyền của người làmchứng trong tố tụng hình sự còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế như sau:

- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 chưa quy định địa vị tố tụng tương

xứng của người làm chứng để người làm chứng có thể góp phần có hiệu quả vàohoạt động tố tụng hình sự

- Bộ luật tố tụng hình sự không có những quy định bảo đảm quyền củangười làm chứng trong hoạt động tố tụng hình sự

- Vấn đề bảo vệ người làm chứng là người chưa thành niên vẫn còn nhữngđiểm hạn chế

2.2 Thực trạng xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm

và tài sản của người làm chứng trong tố tụng hình sự

Trong những năm gần đây, tình hình hoạt động của các loại tội phạm đang

có sự gia tăng với tính chất tội phạm ngày càng tinh vi và nguy hiểm, đặc biệt làtội phạm có tổ chức Những kẻ phạm tội biết rõ những thông tin, tài liệu do ngườilàm chứng cung cấp có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định sự thật của vụ án,giúp các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự đưa ra những quyết định chính xác,giải quyết kịp thời đúng đắn vụ án hình sự Do đó, cùng với việc che dấu hành viphạm tội, đối tượng phạm tội, đồng bọn hoặc thân nhân chúng ngày càng chú ý

Trang 12

tạo ra những tác động tiêu cực như tung tin đe dọa, mua chuộc, khống chế nhằmhạn chế hoặc loại trừ khả năng tham gia tố tụng của người làm chứng

Thực trạng đó đã dẫn đến thái độ thờ ơ, né tránh của một bộ phận nhân dânđối với các hành vi vi phạm pháp luật nói chung, hành vi phạm tội nói riêng Việcbất cập trong pháp luật cũng như trong thực tiễn về người làm chứng, dẫn đếnthực trạng người làm chứng không tham dự phiên tòa, người làm chứng khai báosai sự thật, người làm chứng và người thân của họ bị đe dọa và hành hung… gây

ra nhiều thiệt hại đáng kể cho nhà nước và xã hội

2.3 Thực tiễn bảo vệ quyền con người của người làm chứng trong tố tụng hình sự ở nước ta hiện nay

Từ khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có hiệu lực cho đến nay, nhữngquy định về bảo vệ người làm chứng cũng như người thân thích của họ khôngnhững chưa được hướng dẫn chi tiết mà trên thực tế vẫn chưa được triển khaithực hiện một cách nghiêm túc mặc dù trong thực tiễn hoạt động tố tụng hình sự

đã xuất hiện rất nhiều tình huống cần phải áp dụng các biện pháp để bảo vệ họ vàngười thân thích của họ

Nhìn chung, các cơ quan tiến hành tố tụng đều biết mình có trách nhiệmphải bảo vệ những người này khỏi sự đe dọa hoặc xâm hại từ phía người phạmtội, của đồng bọn hoặc thân nhân của chúng nhưng do chưa có những quy định vềtrách nhiệm, thủ tục, biện pháp và cơ sở vật chất, nhân lực phục vụ cho công tácnày nên còn lúng túng trong việc quyết định và triển khai được các biện pháp bảo

vệ Còn về phía người làm chứng cũng như người thân thích của họ, đa số hiểubiết pháp luật hạn chế, không biết mình có quyền được yêu cầu bảo vệ và cũngkhông thật tin tưởng cơ quan tố tụng có khả năng bảo vệ được mình, gia đìnhmình hay không, nên thoái thác nghĩa vụ pháp lý, thoái thác hợp tác hoặc tự tìmcách bảo vệ mình

Nguyªn nh©n s©u xa cña thùc tr¹ng trªn mét phÇn lµ doph¶n øng ®e dọa, tr¶ thï cña ngêi ph¹m téi MÆt kh¸c, theo

Ngày đăng: 12/05/2020, 00:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w