1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ths van hoa tín ngưỡng và lễ hội chựa cổ lễ huyện trực ninh, tỉnh nam định hiện nay

134 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 632 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Mỗi dân tộc, quốc gia đều có bề dày lịch sử, được gắn với những người tài năng, những nhân vật nổi tiếng, có những đóng góp lớn lao cho nhân dân, cho dân tộc, họ đã đi vào sử sách và trở thành huyền thoại trong dân gian. Nước Việt Nam trong suốt mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, trải qua bao thăng trầm, dân tộc Việt vẫn đứng vững trong độc lập tự chủ. Sự vĩ đại ấy, trước hết thuộc về toàn thể nhân dân. Sự tồn tại, phát triển đất nước Việt Nam còn có những công lao đóng góp to lớn của các vị anh hùng dân tộc, của nhân vật truyền thuyết với những huyền thoại được ghi trong sử sách. Chúng ta luôn tự hào với những Thánh Gióng, Chử Đồng Tử hay các thiều sư như Từ Đạo Hạnh, thiền sư Giác Hải, thiền sư Nguyễn Minh Không…. Với những trang sử vẻ vang của thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Quang Trung v.v… Thế hệ hôm nay, cần phải luôn ghi nhớ những công lao đóng góp của các nhân vật huyền thoại, các vị anh hùng dân tộc và phát huy những giá trị tinh thần ấy cho thế hệ mai sau, họ là những nhân vật tiêu biểu của một dân tộc anh hùng. Để làm sống lại những trang sử vẻ vang, lịch sử văn hóa hàng ngàn năm của một dân tộc, không chỉ là khôi phục những di tích, đình chùa, miếu mạo, đó có thể là tạo dựng hình thức để chuyển tải nội dung lịch sử, văn hóa qua sự thể hiện thầm lặng trên khuôn mặt, hình hài của pho tượng, của kiến trúc mái đình, mà còn cần đến sự xuất hiện trong chính cuộc sống của nhân dân bằng ngôn ngữ của tín ngưỡng và lễ hội. Chúng ta đều nhận thấy rằng, lịch sử đã khoác cho những huyền thoại, những truyền thuyết những lớp lang mới, thêm nhiều điều kỳ ẩn thiêng liêng, song không làm lu mờ sự chân thực cuộc sống. Các nhân vật, các sự kiện lịch sử còn được tô đậm thêm những nét son vàng trong các hoạt động tín ngưỡng và lễ hội, đó là một bằng chứng sinh động cho chân lý ở thời nào, dân tộc nào cũng có những người con ưu tú đáng được tôn thờ, ca tụng. Lễ hội, một hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần biểu hiện những giá trị tiêu biểu của một cộng đồng, một dân tộc. Lễ hội là sự kết tinh từ sản phẩm văn hóa truyền thống của dân tộc, được tổ chức gắn liền với tín ngưỡng, tôn giáo, tín ngưỡng dân gian, phong tục tập quán, hay về sự tích các anh hùng, nó có vai trò và vị trí cực kỳ quan trọng trong đời sống văn hóa xã hội, đã đi vào tiềm thức của người dân Việt như một thứ nhu cầu thiết yếu của đời sống xã hội. Tín ngưỡng, tôn giáo từ xa xưa tới nay vẫn được coi là địa hạt hấp dẫn nhân loại. Sự bí ẩn, sự hư huyễn dường như là mục tiêu để mỗi chúng ta nghiên cứu, tìm tòi và khám phá. Đó chính là sự khám phá cái bên trong của chính mỗi chúng ta, tức là cái tự thân của nhân loại. Có thể nói tín ngưỡng và lễ hội là sản phẩm của chính hoạt động của con người, phản ánh một bình diện đời sống tinh thần của nhân loại. Phát sinh và tồn tại từ buổi bình minh của nhân loại và là kết tinh văn hóa tinh thần đặc biệt. Tín ngưỡng và lễ hội là một trong những hiện tượng sinh hoạt văn hóa cổ truyền tiêu biểu của nhiều tộc người ở nước ta cũng như trên thế giới. Nó là “tấm gương” phản chiếu khá trung thực đời sống văn hóa của mỗi dân tộc. Việt Nam là một quốc gia đa văn hóa. Các hình thức tín ngưỡng, lễ hội ở Việt Nam cũng rất phong phú và đa dạng, trong đó có các hình thức tín ngưỡng phổ biến như: Thờ cúng tổ tiên, thờ thần, thờ mẫu, thờ các vị anh hùng dân tộc, thờ những người có công với dân với nước, thờ ông tổ nghề…… Những hình thức tín ngưỡng và lễ hội có lịch sử từ lâu đời, tồn tại cùng với quá trình lịch sử dụng nước và giữ nước của cha ông ta. Nam Định là một trong những cái nôi văn hóa tín ngưỡng dân gian và những lễ hội của vùng Đồng bằng Sông Hồng, nơi đây có nhiều đình, chùa, đền, miếu làng với nhiều hoạt động tín ngưỡng, lễ hội có sức ảnh hưởng và lôi cuốn rộng rãi trong tỉnh và khu vực. Nơi đây vẫn còn lưu giữ được những di sản văn hóa vô cùng phong phú và đặc sắc, trong hệ thống các di tích lịch sử văn hóa. Một trong di sản văn hóa đó chính là những sinh hoạt tín ngưỡng và lễ hội chùa Cổ Lễ, được diễn ra từ ngày 1316 tháng 9 âm lịch hàng năm. Thời gian và nội dung diễn ra lễ hội là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân địa phương. Quá trình đổi mới xây dựng và phát triển đất nước những năm gần đây đã khiến đời sống kinh tế, văn hóa xã hội nước ta có những tiến bộ rõ rệt. Đời sống kinh tế ngày càng được nâng cao, kéo theo đó là nhu cầu hưởng thụ các giá trị văn hóa tinh thần ngày càng lớn. Hàng năm, trên phạm vi cả nước có hơn 8600 lễ hội được tổ chức, gắn với các tín ngưỡng tôn giáo khác nhau đã cho thấy những đổi mới căn bản trong nhu cầu sinh hoạt văn hóa tinh thần của nhân dân. Thực tế cho thấy, sự phát triển của các lễ hội thời gian gần đây đã có tác động nhiều chiều đến đời sống kinh tế, văn hóa của nhân dân. Một mặt đã đem lại những lợi ích to lớn về kinh tế, du lịch và làm gia tăng sự cố kết cộng đồng, đó cũng là nhu cầu to lớn của nhân dân với các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc; mặt khác cũng có những hạn chế nhất định, làm ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động tín ngưỡng, lễ hội như nạn cờ bạc, lợi dụng lòng tin để hành nghề mê tín dị đoan, đốt vàng mã gây lãng phí, nạn trộm cắp.... Để nhận thức một cách đúng đắn về tín ngưỡng, lễ hội nói chung và tín ngưỡng và lễ hội chùa Cổ Lễ nói riêng cần có sự nghiên cứu công phu, mang tính khách quan và khoa học, từ đó tìm ra những giá trị văn hóa cần được gìn giữ và phát huy là vấn đề mang ý nghĩa quan trọng, góp phần lành mạnh hóa những sinh hoạt tín ngưỡng và lễ hội, hướng các hoạt động tín ngưỡng vào những giá trị đạo đức truyền thống cao đẹp của dân tộc, để xây dựng đất nước Việt Nam phát triền bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Xuất phát từ thực tiễn đó, để nghiên cứu một mô hình cụ thể về tín ngưỡng, lễ hội ở chùa Cổ Lễ (Trực Ninh, Nam Định), góp thêm một cách nhìn, một cách tiếp cận dưới góc độ văn hóa nhằm định hướng cho những hoạt động tín ngưỡng, lễ hội đi đúng hướng: Vừa bảo tồn được bản sắc văn hóa dân tộc, vừa phát huy và hội nhập văn hóa thế giới, tác giả chọn đề tài: “Tín ngưỡng và lễ hội chựa Cổ Lễ huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định hiện nay” làm nội dung nghiên cho luận văn thạc sỹ chuyên ngành văn hóa học của mình.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Mỗi dân tộc, quốc gia đều có bề dày lịch sử, được gắn với nhữngngười tài năng, những nhân vật nổi tiếng, có những đóng góp lớn lao chonhân dân, cho dân tộc, họ đã đi vào sử sách và trở thành huyền thoại trongdân gian Nước Việt Nam trong suốt mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữnước, trải qua bao thăng trầm, dân tộc Việt vẫn đứng vững trong độc lập tựchủ Sự vĩ đại ấy, trước hết thuộc về toàn thể nhân dân Sự tồn tại, phát triểnđất nước Việt Nam còn có những công lao đóng góp to lớn của các vị anhhùng dân tộc, của nhân vật truyền thuyết với những huyền thoại được ghitrong sử sách Chúng ta luôn tự hào với những Thánh Gióng, Chử Đồng Tửhay các thiều sư như Từ Đạo Hạnh, thiền sư Giác Hải, thiền sư Nguyễn MinhKhông… Với những trang sử vẻ vang của thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, TrầnHưng Đạo, Quang Trung v.v… Thế hệ hôm nay, cần phải luôn ghi nhớ nhữngcông lao đóng góp của các nhân vật huyền thoại, các vị anh hùng dân tộc vàphát huy những giá trị tinh thần ấy cho thế hệ mai sau, họ là những nhân vậttiêu biểu của một dân tộc anh hùng

Để làm sống lại những trang sử vẻ vang, lịch sử văn hóa hàng ngànnăm của một dân tộc, không chỉ là khôi phục những di tích, đình chùa, miếumạo, đó có thể là tạo dựng hình thức để chuyển tải nội dung lịch sử, văn hóaqua sự thể hiện thầm lặng trên khuôn mặt, hình hài của pho tượng, của kiếntrúc mái đình, mà còn cần đến sự xuất hiện trong chính cuộc sống của nhândân bằng ngôn ngữ của tín ngưỡng và lễ hội Chúng ta đều nhận thấy rằng,lịch sử đã khoác cho những huyền thoại, những truyền thuyết những lớp langmới, thêm nhiều điều kỳ ẩn thiêng liêng, song không làm lu mờ sự chân thựccuộc sống Các nhân vật, các sự kiện lịch sử còn được tô đậm thêm những nétson vàng trong các hoạt động tín ngưỡng và lễ hội, đó là một bằng chứng sinhđộng cho chân lý ở thời nào, dân tộc nào cũng có những người con ưu tú đáng

Trang 2

được tôn thờ, ca tụng.

Lễ hội, một hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần biểu hiện những giátrị tiêu biểu của một cộng đồng, một dân tộc Lễ hội là sự kết tinh từ sản phẩmvăn hóa truyền thống của dân tộc, được tổ chức gắn liền với tín ngưỡng, tôngiáo, tín ngưỡng dân gian, phong tục tập quán, hay về sự tích các anh hùng,

nó có vai trò và vị trí cực kỳ quan trọng trong đời sống văn hóa xã hội, đã đivào tiềm thức của người dân Việt như một thứ nhu cầu thiết yếu của đời sống

xã hội

Tín ngưỡng, tôn giáo từ xa xưa tới nay vẫn được coi là địa hạt hấp dẫnnhân loại Sự bí ẩn, sự hư huyễn dường như là mục tiêu để mỗi chúng tanghiên cứu, tìm tòi và khám phá Đó chính là sự khám phá cái bên trong củachính mỗi chúng ta, tức là cái tự thân của nhân loại

Có thể nói tín ngưỡng và lễ hội là sản phẩm của chính hoạt động củacon người, phản ánh một bình diện đời sống tinh thần của nhân loại Phát sinh

và tồn tại từ buổi bình minh của nhân loại và là kết tinh văn hóa tinh thần đặcbiệt Tín ngưỡng và lễ hội là một trong những hiện tượng sinh hoạt văn hóa cổtruyền tiêu biểu của nhiều tộc người ở nước ta cũng như trên thế giới Nó là

“tấm gương” phản chiếu khá trung thực đời sống văn hóa của mỗi dân tộc

Việt Nam là một quốc gia đa văn hóa Các hình thức tín ngưỡng, lễhội ở Việt Nam cũng rất phong phú và đa dạng, trong đó có các hình thức tínngưỡng phổ biến như: Thờ cúng tổ tiên, thờ thần, thờ mẫu, thờ các vị anhhùng dân tộc, thờ những người có công với dân với nước, thờ ông tổnghề…… Những hình thức tín ngưỡng và lễ hội có lịch sử từ lâu đời, tồn tạicùng với quá trình lịch sử dụng nước và giữ nước của cha ông ta

Nam Định là một trong những cái nôi văn hóa tín ngưỡng dân gian vànhững lễ hội của vùng Đồng bằng Sông Hồng, nơi đây có nhiều đình, chùa,đền, miếu làng với nhiều hoạt động tín ngưỡng, lễ hội có sức ảnh hưởng và lôi

Trang 3

cuốn rộng rãi trong tỉnh và khu vực Nơi đây vẫn còn lưu giữ được những disản văn hóa vô cùng phong phú và đặc sắc, trong hệ thống các di tích lịch sử -văn hóa Một trong di sản văn hóa đó chính là những sinh hoạt tín ngưỡng và

lễ hội chùa Cổ Lễ, được diễn ra từ ngày 13-16 tháng 9 âm lịch hàng năm.Thời gian và nội dung diễn ra lễ hội là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng trongđời sống tâm linh của người dân địa phương

Quá trình đổi mới xây dựng và phát triển đất nước những năm gần đây

đã khiến đời sống kinh tế, văn hóa xã hội nước ta có những tiến bộ rõ rệt Đờisống kinh tế ngày càng được nâng cao, kéo theo đó là nhu cầu hưởng thụ cácgiá trị văn hóa tinh thần ngày càng lớn Hàng năm, trên phạm vi cả nước cóhơn 8600 lễ hội được tổ chức, gắn với các tín ngưỡng tôn giáo khác nhau đãcho thấy những đổi mới căn bản trong nhu cầu sinh hoạt văn hóa tinh thần củanhân dân Thực tế cho thấy, sự phát triển của các lễ hội thời gian gần đây đã

có tác động nhiều chiều đến đời sống kinh tế, văn hóa của nhân dân Một mặt

đã đem lại những lợi ích to lớn về kinh tế, du lịch và làm gia tăng sự cố kếtcộng đồng, đó cũng là nhu cầu to lớn của nhân dân với các giá trị văn hóatruyền thống của dân tộc; mặt khác cũng có những hạn chế nhất định, làm ảnhhưởng tiêu cực đến hoạt động tín ngưỡng, lễ hội như nạn cờ bạc, lợi dụnglòng tin để hành nghề mê tín dị đoan, đốt vàng mã gây lãng phí, nạn trộmcắp

Để nhận thức một cách đúng đắn về tín ngưỡng, lễ hội nói chung vàtín ngưỡng và lễ hội chùa Cổ Lễ nói riêng cần có sự nghiên cứu công phu,mang tính khách quan và khoa học, từ đó tìm ra những giá trị văn hóa cầnđược gìn giữ và phát huy là vấn đề mang ý nghĩa quan trọng, góp phần lànhmạnh hóa những sinh hoạt tín ngưỡng và lễ hội, hướng các hoạt động tínngưỡng vào những giá trị đạo đức truyền thống cao đẹp của dân tộc, để xâydựng đất nước Việt Nam phát triền bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa hiệnnay

Trang 4

Xuất phát từ thực tiễn đó, để nghiên cứu một mô hình cụ thể về tínngưỡng, lễ hội ở chùa Cổ Lễ (Trực Ninh, Nam Định), góp thêm một cáchnhìn, một cách tiếp cận dưới góc độ văn hóa nhằm định hướng cho nhữnghoạt động tín ngưỡng, lễ hội đi đúng hướng: Vừa bảo tồn được bản sắc vănhóa dân tộc, vừa phát huy và hội nhập văn hóa thế giới, tác giả chọn đề tài:

“Tín ngưỡng và lễ hội chựa Cổ Lễ huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định hiện nay” làm nội dung nghiên cho luận văn thạc sỹ chuyên ngành văn hóa học

của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Các hình thức tôn giáo, tín ngưỡng và lễ hội ở Việt Nam rất phongphú và đa dạng, nó đã ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội.Trong những năm vừa qua các công trình nghiên cứu về tôn giáo, tín ngưỡng

và lễ hội được quan tâm nhiều hơn những năm trước đổi mới Trên nhiều bìnhdiện khác nhau như tôn giáo học, khoa học xã hội, văn hóa dân gian, dân tộchọc, chính trị học, quản lý nhà nước vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng và lễ hộiđược đề cập ở những mức độ khác nhau Được thể hiện ở một số công trìnhsau:

2.1 Nhóm công trình nghiên cứu về lễ hội – tôn giáo, tín ngưỡng

- Lễ hội cổ truyền của Viện Văn hóa Dân gian, Nhà xuất bản (Nxb)Khoa học Xã hội (1992) Công trình đề cập đến các vấn đề lễ hội đời sốngtinh thần, môi trường tự nhiên xã hội liên quan đến hình thành lễ hội, lịch sử

lễ hội, cơ cấu, phân loại, các biểu hiện và giá trị của hội làng của người Việtđồng bằng Bắc Bộ

- 60 lễ hội truyền thống ở Việt Nam Nxb KHXH (1992) Đề cập đến

60 lễ hội truyền thống ở Việt Nam trong đó có đề cập đến lễ hội chùa Keo ởtỉnh Thái Bình và Nam Định

- Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian Việt Nam của PGS.TS

Trang 5

Nguyễn Đức Lữ, Nxb Tôn giáo, Hà Nội 2005 Trong đó đề cập đến các tínngưỡng dân gian như tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam, tín ngưỡng thờ thầnthành hoàng, tín ngưỡng phồn thực

- Văn hóa tín ngưỡng của một số dân tộc trên đất Việt Nam của tác giảNguyễn Mạnh Cường, Nxb Văn hóa thông tin và Viện văn hóa

- Công trình gần đây của GS.TS Ngô Đức Thịnh “Về tín ngưỡng lễhội cổ truyền" Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội 2007, là những chuyên luận

đề cập đến các vấn đề “Tín ngưỡng dân gian” của người Việt, các dân tộcthiểu số với đa sắc diện ở các vùng của đất nước; đề cập đến “Đạo mẫu vàLên đồng” của người Việt, Tày, Chăm; đề cập đến “Lễ hội cổ truyền” với môitrường tự nhiên, xã hội, văn hóa, đến vai trò của “tín ngưỡng, môi trường nảysinh, tích hợp bảo tồn sinh hoạt văn hóa-nghệ thuật dân gian ”

2.2 Nhãm c«ng tr×nh nghiªn cøu vÒ lÔ héi - v¨n ho¸, lÞch sö

- V¨n hãa - lÔ héi cña c¸c d©n téc ë §«ng Nam ¸, Nxb Văn hóa Dântộc, Hà Nội (1992) của tập thể các giả do GS Phan Hữu Dật chủ biên đề cậpđến lễ hội các dân tộc ở Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Miến Điện,Inđônêxia, Philippin, Singapor, Malayxia

- Lễ hội và danh nhân lịch sử Việt Nam của Hà Tiến Hùng, Nxb Vănhoá Thông tin (1997)

- Lễ hội một nét đẹp trong sinh hoạt văn hoá cộng đồng của Hồ HoàngHoa, Nxb KHXH (1998)

- Khảo sát thực trạng văn hoá lễ hội của Nguyễn Quang Lê H.2001

- Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và các lễ hội về anh hùngcủa Lê Văn Kỳ, Nxb Khoa học xã hội

- Lễ hội cổ truyền ở Nam Định của Hồ Đức Thọ, Nxb Khoa học xãhội, Hà Nội 2003 Công trình đề cập đến quá trình hình thành và phát triển lễ

Trang 6

hội ở Nam Định, nhấn mạnh nội dung của 40 hội làng điển hình trong đó có lễhội chùa Cổ Lễ và lịch lễ hội cổ truyền ở Nam Định hàng năm

- Lược sử chùa Cổ Lễ và Lịch sử Phật giáo huyện Trực Ninh củaĐồng Ngọc Hoa, Nguyên sỹ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, Hội viên HộiVHNT Trong đó đề cập đến sự hình thành chùa Cổ lễ và kiến trúc của Chùa

2.3 Một số luận văn liên quan đến đề tài nghiên cứu.

- Luận văn thạc sỹ của Lee Bo Yong (2001), với đề tài, Một số hìnhthức sinh hoạt tín ngưỡng dân gian của người Việt ở làng Triều Khúc

- Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Dậu năm (2003), với đề tài: Lễ hộitruyền thống Đình Bảng Bắc Ninh

- Luận văn tốt nghiệp đại học của Nguyễn Thế Anh (1998), với đề tài:

Lễ hội chùa Cổ Lễ huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định

- Khóa luận tốt nghiệp đại học của Nguyễn Thị Thanh Tú, với đề tài

Lễ hội chùa Cổ Lễ huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định

Trên đây chỉ là một số tác phẩm cơ bản của các nhà nghiên cứu trongnước những năm gần đây về tín ngưỡng và lễ hội cổ truyền, tác giả luận vănchưa có điều kiện liệt kê tất cả những danh mục viết về tín ngưỡng, lễ hộihiện đang có ở nhiều tác phẩm và bài viết khác Mặt khác, tác giả luận văncũng chưa có cơ hội được đọc hết các luận văn nghiên cứu về tín ngưỡng dângian và lễ hội cổ truyền của các tác giả Việt Nam dưới nhiều góc độ khácnhau

Tác giả luận văn đã tiếp thu, kế thừa thành quả của các công trìnhnghiên cứu của các nhà khoa học, các tác giả đi trước, kết hợp với những kiếnthức do chính bản thân sưu tầm, tích luỹ chọn lọc trong quá trình học tập,công tác và khảo sát thực tế về lễ hội chùa Cổ Lễ nghiên cứu và làm sáng tỏthêm về tín ngưỡng và lễ hội chùa Cổ Lễ huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Địnhhiện nay

Trang 7

3 Mục tiờu nghiờn cứu

3.1 Tỡm hiểu lịch sử hỡnh thành, tớn ngưỡng và lễ hội ở chựa Cổ Lễ.3.2 Khảo sỏt tớn ngưỡng, lễ hội chựa Cổ Lễ hiện nay

3.3 Tỡm hiểu những giỏ trị của tớn ngưỡng, lễ hội chựa Cổ Lễ để bảotồn và phỏt huy

4 Đối tượng và phạm vi nghiờn cứu của luận văn

* Đối tượng nghiờn cứu:

Luận văn lấy sinh hoạt tớn ngưỡng và lễ hội ở chựa Cổ Lễ huyện TrựcNinh, tỉnh Nam Định là đối tượng nghiờn cứu Trong đú tập trung làm rừ ýnghĩa của sinh hoạt tớn ngưỡng, lễ hội đối với đời sống tinh thần của nhõn dõntrong vựng

* Phạm vị nghiờn cứu:

- Về thời gian: Luận văn tiếp cận nghiên cứu sinh hoạt tớn ngưỡng và

lễ hội chựa Cổ Lễ từ năm 1992 đến nay (mốc thời gian 20 năm), trờn cơ sở đútỡm ra những giỏ trị văn húa truyền thống nhằm bảo tồn và phỏt huy trong bốicảnh toàn cầu húa hiện nay

- Về không gian: Luận văn lấy toàn cảnh chựa Cổ Lễ huyện Trực

Ninh, tỉnh Nam Định để khảo sát, nghiên cứu về tớn ngưỡng và lễ hội

5 Cơ sở lý luận và phương phỏp nghiờn cứu của luận văn

5.1 Nghiờn cứu và sử dụng cỏc nguồn sử liệu

5.2 Khảo sỏt thực địa, tỡm gặp những người cao tuổi, cỏn bộ địaphương và sư trụ trỡ để phỏng vấn

5.3 Quan sỏt mụ tả và tham dự lễ hội nhằm thu thập tài liệu để xõydựng luận văn

6 Những đúng gúp về khoa học của luận văn

Trang 8

6.1 Xác định lịch sử ra đời, tồn tại và phát triển của chùa Cổ Lễ.6.2 Luận văn có thể được xem như một công trình khoa học nghiêncứu có hệ thống về tín ngưỡng và lễ hội chùa Cổ Lễ dưới góc độ văn hoá học

và văn hoá dân gian; cung cấp cho người đọc một hệ thống tư liệu phong phú,những giá trị đích thực về tín ngưỡng và lễ hội ở một địa phương cụ thể

6.3 Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giátrị văn hoá của lễ hội, luận văn sẽ góp phần xây dựng những định hướng chocông tác chỉ đạo, quản lý lễ hội chùa Cổ Lễ nói riêng và trên phạm vi toàntỉnh; đồng thời đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy giátrị văn hoá của lễ hội chùa Cổ Lễ trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc

tế hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần đầu, kết luận, phụ lục và danh muc tài liệu tham khảo,luận văn được chia thành 3 chương và 10 tiết:

Chương 1: Một số vấn đề chung về tín ngưỡng và lễ hội

Chương 2: Thực trạng và những giá trị văn hóa trong tín ngưỡng,

lễ hội chùa Cổ Lễ hiện nay

Chương 3: Bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa trong tín ngưỡng và lễ hội chùa Cổ Lễ

Trang 9

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÍN NGƯỠNG VÀ LỄ HỘI

1.1 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CHUNG VỀ TÍN NGƯỠNG

1.1.1 Nguồn gốc, khái niệm tín ngưỡng.

Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giảithích thế giới và để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng Tínngưỡng đôi khi được hiểu là tôn giáo Song tín ngưỡng mang tính dân tộc,dân gian nhiều hơn tôn giáo, tín ngưỡng có tổ chức không chặt chẽ như tôngiáo Khi nói đến tín ngưỡng người ta thường nói đến tín ngưỡng của một dântộc hay một số dân tộc có một số đặc điểm chung, còn tôn giáo thì thường làkhông mang tính dân gian Tín ngưỡng không có một hệ thống điều hành và

tổ chức như tôn giáo, nếu có thì hệ thống đó cũng lẻ tẻ và rời rạc Tín ngưỡngnếu phát triển đến một mức độ nào đó thì có thể thành tôn giáo

Để tìm hiều về tín ngưỡng của mỗi dân tộc, mỗi tộc người haymột tín ngưỡng, lễ hội nào đó, chúng ta cần hiểu một cách khái quát nhữngquan niệm chung, đó là cơ sở, phương pháp luận cho vấn đề phức tạp và nhạycảm này

Khi nói đến thuËt ng÷ tÝn ngìng là nói đến: TÝn ngìng d©n gian vµ tÝnngìng t«n gi¸o

- Tín ngưỡng dân gian

Tín ngưỡng dân gian là phản ánh những ước nguyện tâm linh của conngười và cả cộng động, là niềm tin vào thần linh thông qua những nghi lễ, gắnliền với phong tục tập quán, truyền thống của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia

Tín ngưỡng dân gian là một loại hình sinh hoạt tinh thần đã ra đời vàphát triển rộng khắp trong các cộng đồng dân cư Ngay từ khi xã hội loàingười xuất hiện thì tín ngưỡng dân gian đã bắt đầu phôi thai

Trang 10

Theo GS,TS Phạm Ngọc Quang: Tớn ngưỡng dõn gian cũng cú thể vàcần được xem là một yếu tố, một bộ phận văn húa dõn gian Từ quan niệm đú,nếu văn húa dõn gian (folklore) được hiểu là loại hỡnh văn húa ra đời nhờ sựsỏng tạo của chớnh nhõn dõn, thỡ tớn ngưỡng dõn gian cũng cú thể xem là loạihỡnh tớn ngưỡng tụn giỏo do chớnh nhõn dõn - trước hết là những người laođộng - sỏng tạo ra trờn cơ sở những tri thức phản ỏnh sai lạc dưới dạng kinhnghiệm cảm tớnh từ cuộc sống thường nhật của bản thõn mỡnh [37, tr 8] ỞViệt Nam từ trớc đến nay, vấn đề tín ngỡng cũng có nhiều quan điểm khácnhau.

Theo GS Đặng Nghiờm Vạn, với quan điểm là: Thuật ngữ tớn ngưỡng

cú thể cú hai nghĩa Khi núi đến tự do tớn ngưỡng, người ngoại quốc cú thểhiểu đú là niềm tin núi chung (belief, lelieve, croyance) hay niềm tin tụn giỏo(belief, believe, croyance riligieuse) Nếu hiểu tớn ngưỡng là niềm tin thỡ cúmột phần ở ngoài tụn giỏo, nếu hiểu là niềm tin tụn giỏo (belief, believer theonghĩa hẹp croyance riligieuse) thỡ tớn ngưỡng chỉ là một bộ phận chủ yếu nhấtcấu thành của tụn giỏo [62,tr76]

Các học giả nh Toan ánh, Phan Kế Bính Xem tín ngỡng là tín ngỡngdân gian với các nghi lễ thờ cúng thể hiện qua lễ hội, tập quán, phong tụctruyền thống của dân tộc Việt Nam Có ý kiến khác thì cho rằng nội hàm cơbản của tín ngỡng là “Lòng tin, sự ngỡng vọng của con ngời vào một lực lợngsiêu nhiên nào đó - một lực lợng siêu thực, h ảo, vô hình” [37, tr.6]

Nguyễn Chính cho tín ngỡng là tâm linh, vì tín ngỡng và tâm linh làhạt nhân của tín ngỡng tôn giáo Đây là niềm tin, sự trông cậy và yêu quý mộtthế lực siêu nhiên mà với tri thức con ngời và kinh nghiệm cha đủ để giải thích

Trang 11

(Croyance religieuse)” [46, tr.50], “tín ngỡng”, nếu xét về mặt ngữ nghĩa, chỉ

là một niềm tin tôn giáo; còn những dạng thức sinh hoạt tâm linh mà chúng tathờng gọi là “tín ngỡng”, tức là những dạng thức tôn giáo cha đạt tới cấp độcủa một tôn giáo hiểu theo nghĩa cấu thành của nó thì các nhà tôn giáo học th-ờng dùng với thuật ngữ là “sự thờ cúng” hay “sự thờ phụng”, dịch từ chữCultre của tiếng Pháp hay chữ Whorship của tiếng Anh

Trong Hán-Việt từ điển, Đào Duy Anh đã giải nghĩa: Tín ngỡng làlòng ngỡng mộ mê tín đối với một tôn giáo hay một chủ nghĩa Ngoài ra, còn

có quan điểm cho rằng: “tín ngỡng đồng nghĩa với tâm linh (niềm tin thiêngliêng) cũng có nghĩa tâm linh không phải là tôn giáo, tâm linh chỉ là khả năngdẫn tới tôn giáo” [55, tr.97]

Trong cuộc sống của mỡnh, con người ở thời kỳ đầu chưa thể hiểuđược cỏc hiện tượng tự nhiờn, khụng biết được qui luật vận động và biến đổicủa tự nhiờn nờn họ đó cho tất cả cỏc hiện tượng ấy đều do thần linh tạo ra.Cho nờn họ đó thờ cỳng thần linh, cầu mong sự che chở của thần linh

Hơn nữa, sự bất cụng, bất bỡnh đẳng trong đời sống xó hội đó khiếnnhiều người phải chịu cảnh khốn cựng, khổ đau, lo õu và sợ sệt Trước tỡnhcảnh ấy, họ khụng cũn cỏch nào khỏc là cầu xin sự ban ơn, cứu rỗi và sự chechở của cỏc lực lượng siờu nhiờn, của thần linh, Thượng đế Chớnh vỡ thế màtớn ngưỡng dõn gian đó thành hỡnh

Như vậy, tớn ngưỡng dõn gian là lũng ngưỡng mộ, tin tưởng của conngười đối với cỏc lực lượng siờu nhiờn nào đấy Người ta tin rằng, cỏc lựclượng siờu nhiờn này cú năng lực ban ơn, giỏng họa, cú khả năng che chở chocon người Đối tượng sựng bỏi trong tớn ngưỡng dõn gian ở Việt Nam càngngày càng nhiều Ở thời kỳ đầu, người dõn thờ thần nỳi, thần sụng, thần mặttrời, thần sấm sột, thần cõy cỏ,… sau đú thờ thờm thành hoàng, thổ cụng, cỏc

vị anh hựng dõn tộc, tổ tiờn, ụng bà, cha mẹ Đến khi cỏc tụn giỏo du nhậpvào Việt Nam thỡ cỏc vị giỏo chủ của cỏc tụn giỏo ấy cũng được xem là thần

Trang 12

thánh nên người dân cũng sùng bái Tín ngưỡng dân gian được xem là đa thầngiáo.

- Tín ngưỡng, tôn giáo

Khi nói đến khái niệm “tôn giáo” và “tín ngưỡng”, tôn giáo tínngưỡng hay tín ngưỡng tôn giáo đã có nhiều học giả đưa ra những quan niệm

về cách gọi này Có ý kiến cho rằng, người ta có ý thức phân biệt tôn giáo vàtín ngưỡng, song cũng có quan điểm khác là thống nhất tôn giáo tín ngưỡng.Trên thực tế tùy theo từng góc độ tiếp cận và quan điểm nhìn nhận mà mỗihọc giả có cách sử dụng của mình Tín ngưỡng là niềm tin của con người vàonhững điều thiêng liêng, huyền bí vượt khỏi thế giới tự nhiên Còn tôn giáo làtín ngưỡng của những người cùng chung một tổ chức có hệ thống giáo lý,giáo luật và nghi lễ Tín ngưỡng, tôn giáo có sự khác nhau, song lại có quan

hệ chặt chẽ mà ranh giới để phân biệt giữa chúng chỉ là tương đối

Trong khuôn khổ luận văn, không đi sâu nghiên cứu các quan niệm

ấy, cho nên tác giả xin được dùng thuật ngữ tín ngưỡng tôn giáo được sử dụngnhư một công cụ làm việc, mang tính chất quy ước cho công trình

Theo đó, tín ngưỡng tôn giáo là niềm tin vào lực lượng siêu nhiên theonhững nguyên tắc thực hành tôn giáo nhất định, đó là niềm tin và sự sùng báithần thánh hay các quyền lực vô biên, siêu nhiên, vào cuộc sống sau khichết , tóm lại, là những phát biểu mà vì đó các thành viên của một tôn giáonào đó gắn bó vào đó Tín ngưỡng thường phát sinh khi một lãnh tụ tinh thầnkhẳng định một số hiểu biết đặc biệt về chân lý thần thánh và tổ chức tín đồcủa mình

Cơ sở của mọi tôn giáo, tín ngưỡng là niềm tin của con người vàothực thể, lực lượng siêu nhiên, hay nói gọn lại là niềm tin, sự ngưỡng vọngvào “cái thiêng”, đối lập với cái “trần tục”, hiện hữu mà ta có thể sờ mó, quansát được Có nhiều loại niềm tin, nhưng ở đây là niềm tin tôn giáo, tín

Trang 13

ngưỡng, tức là niềm tin vào “cái thiêng” Do vậy, niềm tin vào cái thiêngthuộc về bản chất của con người, nó ra đời và tồn tại cùng với loài người, nó

là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, tồn tại bên cạnhđời sống vật chất, đời sống xã hội, tinh thần - tư tưởng, đời sống tình cảm

Song, niềm tin vào “cái thiêng” cũng còn theo hoàn cảnh và trình độphát triển kinh tế xã hội của mỗi dân tộc, mỗi địa phương, mỗi quốc gia màthể hiện ra dưới các hình thức tín ngưỡng tôn giáo khác nhau

Từ niềm tin vào lực lượng siêu nhiên, mà những cái đó được biểutrưng bằng các thần linh dưới nhiều dạng vẻ khác nhau, con người “tìm cách”thông quan với các thần linh bằng vô vàn cách thức, như thông qua các lờikhấn, các phép thuật, bằng các vật dâng cúng, bằng âm thanh, vũ đạo, thôngqua những con người có năng lực “siêu phàm” để cầu mong thần linh phùtrợ, độ trì Đó chính là các hành vi thực hành tín ngưỡng tôn giáo Các hành vinhằm thông quan với thần linh cũng được biểu hiện bằng vô vàn cách thức,

mà những cái đó phụ thuộc vào các hình thức tôn giáo tín ngưỡng, vào truyềnthống văn hoá của mỗi tộc người và địa phương, phụ thuộc vào trình độ pháttriển xã hội của mỗi dân tộc, quốc gia

Từ niềm tin và hành vi thực hành tín ngưỡng ấy, dần hình thành ở conngười những tình cảm tôn giáo tín ngưỡng Trong xã hội hiện đại, có thể niềmtin vào cái siêu nhiên, tức vào thần linh có thể thay đổi, nhưng các hành vi vàtình cảm tín ngưỡng vẫn tồn tại lâu bền, như một thói quen, một quán tính củacon người

Như vậy, tín ngưỡng tôn giáo với tư cách là các hình thái ý thức cụthể, như Kitô giáo, Phật giáo, Đạo giáo, Đạo Tổ tiên, có thể thay đổi, mất đi,nhưng niềm tin vào cái siêu nhiên, niềm tin tín ngưỡng thì không mất đi, nóvẫn là một trong những nhân tố mang tính bản chất người

Chñ nghÜa M¸c- Lªnin coi tÝn ngìng t«n gi¸o lµ mét lo¹i h×nh th¸i ý

Trang 14

thức xã hội phản ánh một cách hoang đờng, h ảo hiện thực khách quan Điềunày đã đợc Ph.Ăngghen khẳng định: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sựphản ánh h ảo vào trong đầu óc của con ngời” [68, tr.437]

Chủ nghĩa duy tâm khách quan cho rằng: Tín ngỡng tôn giáo là mộtsức mạnh thần bí, thuộc lĩnh vực "tinh thần" tồn tại vĩnh hằng, là cái chủ yếu

đem lại sinh khí, sức mạnh cho con ngời

GS,TS Ngụ Đức Thịnh, quan niệm tớn ngưỡng tụn giỏo:

Đú là một bộ phận của đời sống văn hoỏ tinh thần con người mà ở đú con người cảm nhận được sự tồn tại của cỏc vật thể, lực lượng siờu nhiờn, mà những cỏi đú chi phối, khống chế con người, nú nằm ngoài giới hạn hiểu biết của con người hiện tại; sự tồn tại của cỏc phương tiện biểu trưng giỳp con người thụng quan với cỏc thực thể, cỏc sức mạnh siờu nhiờn đú; đú là chất kết dớnh, tập hợp con người thành một cộng đồng nhất định và phõn định với cộng đồng khỏc Tất cả những niền tin, thực hành và tỡnh cảm tụn giỏo tớn ngưỡng trờn đều sản sinh và tồn tại trong một mụi trường tự nhiờn, xó hội và văn hoỏ mà con người đang sống, theo cỏch suy nghĩ và cảm nhận của nền văn hoỏ đang chi phối họ.[53,tr.14].

Cho đến nay, đó cú rất nhiều những cụng trỡnh nghiờn cứu về tớnngưỡng tụn giỏo và tớn ngưỡng dõn gian ở nhiều khớa cạnh khỏc nhau, đó đưa

ra nhiều những quan niệm về thuật ngữ này Tuy nhiờn, ở đõy tỏc giả sử dụngkhỏi niệm tớn ngưỡng với tư cỏch như một hỡnh thức thể hiện niềm tin vào cỏithiờng của con người, của một cộng đồng người ở một trỡnh độ phỏt triển xóhội cụ thể, nhằm đỏp ứng quỏ trỡnh nghiờn cứu của luận văn

Tớn ngưỡng là hỡnh thức sinh hoạt tõm linh, đó xuất hiện từ xó xưatrong lịch sử loài người, nú là sản phẩn của chớnh hoạt động của con người,phản ỏnh một bỡnh diện của đời sống tinh thần của nhõn loại Chớnh sự bớ ẩn,

sự hư huyễn đó trở thành mục tiờu để con người nghiờn cứu và khỏm phỏ, đú

Trang 15

là khỏm phỏ cỏi bờn trong của con người, cỏi tự thõn của nhõn loại, cũng nhưcon người lao vào khỏm phỏ một địa hạt nhõn khỏc đú là cỏi bờn ngoài củachớnh mỡnh, tức là giới tự nhiờn.

Ngay từ buổi bỡnh minh của nhõn loại, con người đó chịu ảnh hươngcủa quan niệm vũ trụ luận nguyờn sơ õm - dương tương khắc tương sinh, sựgiao hoà đầy bớ ẩn giữa õm dương là nguồn gốc sản sinh ra con người và vạnvật của vũ trụ Hơn thế nữa, trong điều kiện xó hội cổ xưa cũn lạc hậu, với sựtrắc trở và khắc nghiệt của thiờn nhiờn, lụt bóo, hạn hỏn, thiờn tai, con ngườiđành bất lực và hướng sự trợ giỳp vào thần linh, vào đấng siờu nhiờn và tinrằng đú sẽ đem lại sự tốt đẹp cho sự sống của loài người

Như vậy, sinh loạt tớn ngưỡng, lễ nghi ra đời để cầu mong cho mựamàng tốt tươi và no ấm của nhõn loại Đỳng như quan niệm của X A.Tụcarộp khi ụng bàn tới nguồn gốc của lễ nghi nụng nghiệp: "Nguồn gốc nàychớnh là sự bất lực của con người trồng trọt Cõy trồng khụng phải bao giờcũng được mựa, mà mựa màng bị phụ thuộc vào những điều kiện mà conngười viện đến sự phự trợ, giỳp đỡ việc trồng cấy, từ đú cỏc nghi lễ ma thuật

giáo-Trong Pháp lệnh tín ngỡng, tôn giáo Chơng I, điều 3 có ghi: Hoạt

động tín ngỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên; tởng niệm và tôn vinhnhững ngời có công với nớc, với cộng đồng; thờ cúng thần, thánh, biểu tợng

có tính truyền thống và các hoạt động tín ngỡng dân gian khác tiêu biểu chonhững giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội [1, tr.10]

Trang 16

Vậy, có thể hiểu tín ngưỡng như sau: Tín ngưỡng là một bộ phận của

ý thức xã hội, là một yếu tố thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần, là hệ quả của các quan hệ xã hội, được hình thành bởi quá trình lịch sử - văn hóa, là sự biểu hiện niềm tin dưới dạng tâm lý xã hội vào cái thiêng liêng thông qua hệ thống lễ nghi thờ cúng của con người và cộng đồng người trong xã hội.

Sự ra đời và trong quá trình tồn tại, tín ngưỡng ảnh hưởng sâu sắc đếnđời sống chính trị, văn hóa, xã hội, đến tâm lý, đạo đức lối sống, phong tụctập quán của nhiều dân tộc, nhiều quốc gia Bản thân tín ngưỡng cũng chứađựng nội dung về lịch sử, tư tưởng, triết học, đạo đức, văn hóa, chính trị…

Nó đã trở thành nhu cầu nhằm thỏa mãn đời sống tinh thần của con người, của

xã hội và là nguồn gốc của giá trị đạo đức, niềm tin, sự nâng đỡ về tinhthần…

1.1.2 Đặc điểm tín ngưỡng

Tín ngưỡng có thể hiểu một cách nôm na là niềm tin, sự ngưỡng

mộ đối với một đối tượng siêu nhiên nào đó có ảnh hưởng, chi phối đến đờisống sinh hoạt của con người

Có thể hiểu, tín ngưỡng là một sản phẩm văn hoá do con người quan

hệ với tự nhiên, xã hội và chính bản thân mà hình thành Tín ngưỡng là niềmtin về những điều linh thiêng, những sức mạnh huyền bí, vĩ đại mà con ngườichỉ cảm nhận được mà khó có thể nhận thức được

Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải

thích thế giới và để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng Điểm khácbiệt của tín ngưỡng chính là ở chỗ, tín ngưỡng mang tính dân tộc, dân gian.Khi nói đến tín ngưỡng người ta thường nói đến tín ngưỡng của một dân tộchay một số dân tộc có một số đặc điểm chung mang tính dân gian Tínngưỡng không có một hệ thống điều hành và tổ chức, nó xuất phát chính bằngniềm tin và sự ngưỡng vọng của con người thuộc bản chất người, nó ra đời và

Trang 17

tồn tại, phát triển cùng với con người và loài người, nó là nhân tố cơ bản tạonên đời sống tâm linh, đời sống tinh thần của con người, cũng giống như đờisống vật chất, đời sống xã hội tinh thần, tư tưởng, đời sống tình cảm… Có thểnói, nó là nhân tố tạo nên văn hóa dân gian, nền văn hóa dân tộc.

Tùy theo hoàn cảnh, trình độ phát triển kinh tế, xã hội của mỗi dântộc, địa phương, quốc gia mà niềm tin vào "cái thiêng" thể hiện ra các hìnhthức tín ngưỡng cụ thể khác nhau Chẳng hạn như niềm tin vào Đức Chúa,Đức Mẹ Đồng Trinh của Kito giáo, niềm tin vào Đức Phật của Phật giáo,niềm tin vào Thánh, Thần của tín ngưỡng Thành Hoàng, Đạo thờ Mẫu Cáchình thức tín ngưỡng này dù phạm vi ảnh hưởng rộng, hẹp khác nhau, dù phổquát toàn thế giới hay là đặc thù của mỗi dân tộc thì cũng đều là một sự biểuhiện niềm tin vào cái thiêng của con người

Đặc tính của tín ngưỡng là hệ thống giáo lý hầu như chưa được hìnhthành, mà chỉ là các huyền thoại, thần tích, truyền thuyết Tín ngưỡng mangtính chất dân gian, gắn với sinh hoạt văn hóa dân gian Trong tín ngưỡng có

sự hòa nhập giữa thế giới thần linh và con người Nơi thờ cúng và nghi lễ cònphân tán, chưa thành quy ước chặt chẽ

Một đặc tính khác nữa là tín ngưỡng có nhiều bộ phận, nhiều thành tốlàm nên văn hóa dân gian, các bộ phận này có mối quan hệ qua lại với nhau.Tín ngưỡng, tín ngưỡng dân gian được coi là chỗ dựa tâm linh cho sự sáng tạonghệ thuật, hơn thế, tín ngưỡng còn được nghệ thuật hóa để trở thành nhữngbiểu tượng nghệ thuật mang ý nghĩa kép, ý nghĩa tâm linh và ý nghĩa nhânvăn

Như đã nói ở trên, từ tâm thức sùng bái, tin tưởng vào cái thiêng,trong các cộng đồng hình thành các phong tục tập quán và nghi lễ thờ cúng tựnhiên, thờ cúng tổ tiên, thờ Mẫu và nghi lễ phồn thực… Đó là những nghi lễ

và phong tục rất quen thuộc đối với người Việt khắp nơi trong cả nước Mỗiloại tín ngưỡng này đều có nguồn gốc sâu xa từ quan hệ giữa con người với

Trang 18

các đối tượng siêu nhiên kia Chẳng hạn, tại sao con người lại sùng bái tựnhiên? Là bởi trong sinh hoạt và lao động, hằng ngày hằng giờ tự nhiên gắn

bó mật thiết và chi phối sự thành bại, tốt xấu, hay dở trong hoạt động của conngười Khi khoa học chưa phát triển, con người lý giải các hiện tượng đóbằng cách thần bí hóa, thần thánh hóa tự nhiên Từ đó, tự nhiên trở thành biểutượng trong tín ngưỡng thờ cúng, trong văn hóa mỗi dân tộc, trong văn họcnghệ thuật qua nhiều thời đại Đó cũng là con đường chung để các tín ngưỡngthẩm thấu vào văn hóa, vào các sinh hoạt cộng đồng dân tộc

Tín ngưỡng dân gian Việt Nam chủ yếu dựa trên lòng biết ơn vàngưỡng mộ của các thế hệ sau đối với tiền thần, tiền nhân Tín ngưỡng dângian khá phong phú, nó là tâm thức tôn sùng các lực lượng siêu nhiên như: sựtôn sùng tự nhiên (mặt trời, mặt trăng, nước, mưa, gió, sấm, chớp…), các loạicây trồng (bầu bí, lúa, ngô, đậu…), vật nuôi (trâu, bò, lợn…); tôn sùng vật tổ(vật tổ chim, cá, cây, trâu…), tôn sùng tổ tiên (quốc tổ, thành hoàng, tổ tiên,ông bà); tôn sùng sự sinh sản: sinh thực khí và các hoạt động tính giao; tônsùng Mẫu: các nữ thần, tứ mẫu (thiên phủ, địa phủ, nhạc phủ (thượng ngàn),thủy phủ (mẫu thoải), Bà chúa xứ và Thiên Yana và tôn sùng các anh hùngdân tộc, anh hùng địa phương, người có công lớn với dân với nước: ThánhGióng, Đức thánh Trần, Tản Viên Sơn Thánh, Lý Ông Trọng, Bà Trưng,…

Việt Nam nằm ở trung tâm khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, thiên nhiêntương đối phong phú, đa dạng Việc sản xuất của người Việt chủ yếu dựa vào

tự nhiên, vì vậy, việc thờ cúng các vị thần tự nhiên (nhiên thần) đã sớm gầngũi với họ Hơn nữa, Việt Nam lại là nơi giao lưu của nhiều tộc người, củanhiều luồng văn minh, hai yếu tố đó làm cho Việt Nam trở thành một quốc

gia đa tôn giáo, tín ngưỡng Tính đa thần ấy không chỉ biểu hiện ở số lượng

lớn các vị thần mà, các vị thần ấy cùng đồng hành trong tâm thức một người

Việt, dẫn đến đời sống tín ngưỡng - tôn giáo của người Việt mang tính hỗn

dung tôn giáo Trước sự du nhập của các tôn giáo ngoại lai, người Việt không

Trang 19

tiếp nhận một cách thụ động mà luôn có sự cải biến cho gần gũi với tư tưởng,tín ngưỡng tôn giáo bản địa Vì vậy, ở nước ta, trong khi các tôn giáo vẫnphát triển thì các tín ngưỡng dân gian vẫn giữ vai trò quan trọng trong đờisống tâm linh của người dân Cũng chính vì tính hỗn dung tôn giáo ấy mà

người Việt thể hiện sự bàng bạc trong niềm tin tôn giáo Đa số người Việt đều

có nhu cầu tín ngưỡng, song trong họ không trở thành những tín đồ thànhkính của riêng một tín ngưỡng tôn giáo nào Một người vừa có thể đến chùa,vừa có thể đến phủ miễn là việc làm ấy mang lại lợi ích cho họ, có thể thoảmãn điều họ cầu xin Vì thế, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, một đặc điểm

trong đời sống tín ngưỡng của người Việt là tính dụng Tín ngưỡng chính là

yếu tố để phục vụ nhu cầu cần thiết và trực tiếp trong sinh hoạt đời thườngcủa cuộc sống

Như vậy, tín ngưỡng dân gian là một phần không thể thiếu trong đờisống xã hội Con người còn khổ đau, bất an thì tín ngưỡng dân gian còn tồntại Suy cho cùng thì động cơ khiến con người tìm đến với tín ngưỡng dângian là muốn có được một đời sống an lành, hạnh phúc, muốn giải quyếtnhững bức bách trong cuộc sống Đấy là những động cơ tích cực Tín ngưỡngdân gian là một liều thuốc quan trọng, nó cần thiết đối với những chứng bệnhtrong thân tâm của con người hiên tại Vì thế, chúng ta không thể nào loại bỏđược tín ngưỡng dân gian Thực tế cho thấy hệ thống tín ngưỡng dân gianchính thống có ý nghĩa không nhỏ trong đời sống của xã hội, chúng góp phầngiữ gìn và phát huy nếp sống đạo đức cho xã hội Dưới góc nhìn văn hóa, tínngưỡng dân gian được coi như một thực thể văn hóa, những biểu hiện của nótrong thực hành văn hóa truyền thống, vị trí của nó trong các hình thức vănhóa khác nhau như văn học, âm nhạc, hội họa, nghi lễ…đó là những thành tốquan trọng làm nên nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đập đà bản sắc dân tộc

1.1.3 Một số tín ngưỡng dân gian Việt Nam

Tín ngưỡng dân gian Việt Nam chủ yếu dựa trên niềm tin, lòng biết ơn

Trang 20

của cỏc thế hệ sau đối với tiền thần, tiền nhõn Tớn ngưỡng Việt Nam khỏphong phỳ, đú là sự tụn sựng cỏc lực lượng vũ trụ và tự nhiờn như trời, đất,mặt trời, mặt trăng, nước, mưa, giú, sấm, chớp; Tụn sựng cỏc loại cõy trồng,vật nuụi như lỳa, bũ, lợn, gà ; Tụn sựng vật tổ như chim, cỏ, cõy, trõu; Tụnsựng sự sinh sản như sinh thực khớ và tớnh giao; Tụn sựng tổ tiờn như thànhhoàng, tổ tiờn, ụng bà; Tụn sựng cỏc Mẫu trong tục thờ Tam Mẫu, Tứ Mẫu

Từ tớn ngưỡng chuyển di vào văn húa dõn gian sẽ thành cỏc hỡnh tượng, cỏc

mụ tớp với diện mạo hỡnh hài rừ nột và sinh động hơn

- Tớn ngưỡng thờ Mẫu

Nội hàm của tớn ngưỡng thờ Mẫu được dựng để biểu thị sự tụnvinh một nhõn vật nào đú, hay cú thể đồng nhất với việc thờ cỏc vị nữ thầnhiển linh, được tụn phong là Mẫu như: Quốc Mẫu, Vương Mẫu, Thỏnh Mẫu.Tớn ngưỡng thờ Mẫu cũn được hiểu theo một nghĩa hẹp hơn đú chỉ là dạnghỡnh thức tớn ngưỡng với tờn gọi là Mẫu Tam phủ - Tứ phủ, hỡnh thức thờcỳng những vị Mẫu cai quản trong vũ trụ

Hiện nay, Vấn đề thờ Mẫu là loại hình gì? cũng cũn nhiều ý kiến khỏcnhau, song ở Việt Nam đa phần các nhà nghiên cứu đều cho rằng tín ngỡngthờ Mẫu là một loại hình tín ngỡng dân gian Tớn ngưỡng thờ Mẫu là một nộtđặc trưng của tớn ngưỡng bản địa Việt Nam, được bắt nguồn từ tớn ngưỡng thờ

Mẹ Đất đó vốn cú trong thời tiền sử

Tỏc giả Hoàng Quốc Hải cho rằng: “Về mặt tõm linh, cũng như quy

mụ tớn đồ nú đầy đủ yếu tố một tụn giỏo, nhưng nú lại thiếu hẳn một triếtthuyết để đủ sức trở thành một tụn giỏo hoàn chỉnh [26, tr.276] Tớn ngưỡngthờ Mẫu là sản phẩm bản địa song, chịu nhiều ảnh hưởng của cỏc loại hỡnhtụn giỏo chớnh thống như Nho, Phật, Lóo nhưng cỏc tụn giỏo này đều đó bịdõn gian húa rồi mới bồi đắp vào tũa điện Mẫu Và tỏc giả viết: “ Hỡnh tượngMẫu hoàn toàn là sản phẩm của loại hỡnh tớn ngưỡng dõn gian chứ khụng phải

là một tụn giỏo chớnh thống Xu thế biến Mẫu thành Tụn giỏo chớnh thống như

Trang 21

hiện nay của một số cá nhân là việc làm trái qui luật, không đúng với tiếntrình phát triển…" [57, tr.53-54].

GS Đinh Gia Khánh cho rằng: “Thờ Mẫu là một tín ngưỡng có nguồngốc dân gian, một tín ngưỡng bản địa, khác với các tôn giáo phổ quát” [32,tr.8]

“Mẫu” là xuất phát từ Hán-Việt, còn thuần Việt là Mẹ, Mụ Nghĩa banđầu Mẫu (mẹ) đều chỉ người phụ nữ sinh ra con Mẫu (mẹ) còn có ý nghĩa tônvinh, tôn xưng như Mẫu nghi thiên hạ, Mẹ Âu Cơ, Mẫu Liễu Hạnh, MẫuThượng Ngàn…

Tín ngưỡng thờ Mẫu là loại hình tín ngưỡng phổ biến của cư dân nôngnghiệp, thờ Mẫu - thờ Mẹ - thờ sự sinh sôi, phồn thực Vậy có thể hiểu rằng:

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ

nữ thần (nhưng không phải tất cả nữ thần đều là Mẫu),là một bộ phận của ý thức xã hội, được hình thành từ chế độ thị tộc mẫu hệ, để tôn vinh những người phụ nữ có công với nước, với cộng đồng tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hoá, đạo đức xã hội làm Thánh mẫu, Vương mẫu… và qua

đó người ta gửi gắm niềm tin vào sự che chở, giúp đỡ của các lực lượng siêu nhiên thuộc nữ thần.

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng có nguồn gốc bản địa và: “ cóthể là tín ngưỡng sớm nhất của con người Việt trước khi du nhập tam giáoPhật, Nho và Đạo” [25, tr.145]

Tín ngưỡng thờ Mẫu ra đời ở Việt Nam còn xuất phát từ nền văn minhnông nghiệp lúa nước điển hình, thờ Mẫu nảy nở trên một miền đất nhiều đờitrồng cây lúa nước Đối với dân cư nông nghiệp thì hình ảnh người mẹ từ việchái lượm đã tìm ra hạt lúa để từ đó trở thành hồn lúa như một tác giả đã nhậnxét: “Trong các loại cây trồng, lúa là cây duy nhất trong thời kỳ làm đòngđược các tộc người ở Đông Dương gọi là có chửa (Việt) = bun(cơ ho) =

Trang 22

mtian(Giarai) như người mẹ; là cõy duy nhất được coi cú hồn (Việt) =soan(Cơho)…” [24, tr.196].

Người và vạn vật sinh sụi nảy nở thỡ khỏi niệm Trời Đất, Âm Dương được hỡnh thành trong tư duy nguyờn thủy thụ sơ Ở Việt Nam cũngbiểu hiện khỏ rừ niềm tin “Vạn vật hữu linh” của chớnh họ Vỡ vậy, “ Cỏc thầntrời, thần nỳi, thần sụng…xuất hiện khỏ sớm và ngự trị trong đời sống tõmlinh của hầu hết cỏc tộc người” [27, tr.77]

-Người Việt xưa kia sống nhờ vào thiờn nhiờn rất nhiều, nhưng cũngphải chống chọi nhiều với thiờn nhiờn Do đú, con người luụn cầu mong sựphự hộ, giỳp đỡ của cỏc “Mẹ” thiờn nhiờn và cỏc Mẫu cú nguồn gốc nhiờnthần cũng lần lượt ra đời

Điện thờ Mẫu cú ở khắp nơi trờn đất nước Việt Nam, từ đồng bằng lờnmiền nỳi và cả khu cư trỳ của người Việt ở nước ngoài Cú nơi tồn tại là mộtphủ nguy nga, cú nơi chỉ là một bàn thờ khiờm tốn đặt trong gúc của ngụichựa…Cho nờn, chỳng ta chỉ cú thể nhận diện được nơi thờ Mẫu bởi nhữngnột riờng trong từng chi tiết của kiến trỳc tổng thể thờ thần Chớnh những nộtriờng đú đó làm nờn những đặc trưng của tớn ngưỡng thờ Mẫu (được xuất phỏt

từ quan niệm : mọi vật đề sinh ra từ Mẹ), chớnh vỡ vậy, tớn ngưỡng này trởthành một hỡnh thức tớn ngưỡng thuần phỏc, đặc biệt của dõn tộc Việt Nam

Trong tớn ngưỡng thờ Mẫu, hỡnh tượng ở mỗi vựng, miền cú khỏcnhau “Trong số 250 di tớch thờ cỳng nữ thần để được ghi nhận ở nước ta, sốđụng được gọi là Mẫu, Thỏnh Mẫu, Vương Mẫu, Quốc Mẫu” [67,tr332] Ởmiền Trung là thỏnh Mẫu, Bà Chỳa Xứ, cũn ở miền Bắc phổ biến là Mẫu LiễuHạnh

Có thể nói Mẫu Liễu Hạnh ra đời đã làm hoàn chỉnh hệ thống thờ Tamphủ - Tứ phủ và thể hiện đầy đủ triết lý thờ Mẫu, triết lý theo vũ trụ quan ph -

ơng Đông Tục thờ Mẫu cú sức lan truyền mạnh, cú nơi đó song hành cựng

Trang 23

đạo Phật, trong nhiều ngụi chựa đó lập điện thờ Mẫu, phổ biến ở dạng “tiềnPhật, hậu Mẫu” .

- Tớn ngưỡng thờ Thỏnh sư (tổ nghề)

Thỏnh sư cũn cú cỏc tờn gọi khỏc như: Tiờn sư, Nghệ sư, Tổ sư, Tổ

nghề, tức là người đó cú cụng sỏng tạo hay truyền dạy một nghề nào đú cho

những người đời sau Do vậy, đõy là thứ tớn ngưỡng của cộng đồng nhữngngười cựng nghề nghiệp, thường là nghề thủ cụng Trong một làng hay mộtkhu phố, thành phố, họ họp chung thành phường Một số trường hợp vị Thỏnh

sư, Tổ sư nghề trở thành Thành hoàng của cả làng, như trường hợp cụ HoàngĐụn Hoà là Thỏnh sư nghề thuốc ở làng Đa Sĩ, Hà Đụng; hay Đức ThỏnhTrần ở đền Trần - đền Bảo Lộc Nam Định; Đức Thỏnh tổ Nguyễn MinhKhụng ở chựa Cổ Lễ huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định…

Thờ Thỏnh sư là một biểu hiện nột đẹp trong tõm thức người ViệtNam Người ta tin rằng vị Thỏnh sư xưa đó sỏng chế ra ngành nghề thỡ nayvẫn quan tõm và phự hộ cho cỏc thế hệ sau tiếp tục ngành nghề một cỏch phỏtđạt

Người ta thờ riờng Thỏnh sư ở miếu, đền, chựa song ở làng nghề trongmỗi nhà, cạnh bàn thờ gia tiờn cũng cú thờm bàn thờ Thỏnh sư, thể hiện sựtụn trọng đối với ụng tổ nghề Một số phường lớn ngoài nhà thờ, cũn cú tàisản riờng, ruộng vườn dựng hoa lợi vào việc tế tự Ngày cỳng lễ Thỏnh sưthường vào ngày kỵ giỗ, mọi thành viờn của phường nghề phải đúng gúp vàtập trung tại đền miếu để cỳng tế Ngày giỗ Thỏnh sư, thường khi được làmrất to, uy nghi, và cú tổ chức cỏc trũ vui như: mỳa rối, hỏt chốo, đỏnh đu, đỏnhcờ…

- Tớn ngưỡng Thành Hoàng làng

Thuật ngữ Thành hoàng là một từ Hán Việt; “Thành hoàng có nghĩa làthành hào, hào có nớc gọi là trì, không có nớc gọi là hoàng Đắp đất làm

Trang 24

"thành", đào hào làm "hoàng" [28, tr.23-24] ở Việt Nam vào khoảng thế kỷ

IX, ở Trung Quốc là thời kỳ nhà Đờng, Lý Nguyên Gia đã cho xây La thành

và dựng đền thờ Tô Lịch làm Thành hoàng “Sau đó vào khoảng năm 866 CaoBiền cho mở rộng thành, lại phong Tô Lịch làm Đô Phủ Thành hoàng ThầnQuân” [28, tr.31] Từ đây ra đời thuật ngữ Thành hoàng, Thành hoàng ban đầu

ở nớc ta là Thành hoàng Đại La, đây là vị thần bảo vệ cho thành Đại La, têncủa ngài là Tô Lịch

Tín ngỡng Thành hoàng thực chất là tín ngỡng phúc thần đóng vai tròliên kết cộng đồng ngời trong một cộng đồng lãnh thổ nông nghiệp hữu hạn,làm nơi quy y tâm linh cho c dân “Tín ngỡng Thành hoàng mang màu sắcViệt trong bản chất dù đã tiếp thu bao nhiêu yếu tố tôn giáo và văn hoá khác”[28, tr.410-411]

Thật khó có thể xác định chính xác niên đại của các Thành hoàng.Theo các nguồn t liệu khác nhau thì có lẽ Thành hoàng du nhập về nông thônnớc ta từ khoảng thế kỷ 13 đến thể kỷ 15 Tuy nhiên, đặc điểm nổi bật củaThành hoàng nông thôn Việt Nam là những vị thần đã đợc nhân dân thờ từ tr-

ớc, sau đó mới đợc vua phong tớc vơng với danh vị Thành hoàng

Việc thờ Thành hoàng trở nên phổ biến khi triều đình biểu dơng côngtrạng của các bậc trung thần, nghĩa sỹ và những ngời có công lao với nớc bằngviệc lập đền cho dân xã ở gần thờ khi họ hy sinh vì dân, vì nớc hay khi họ chết

đi Tục này lan truyền từ làng nọ sang làng kia, làng nào cũng phải tìm một vịlàm chủ tế của làng mình Các làng đã thấy sự cần thiết có vị thần che chở cholàng mình; làng nào có ngời anh hùng hào kiệt, hay có công khai làng, lập ấpkhi mất đi rồi thì thờ ngay ngời đó, làng nào không có thì đi cầu lấy một vị vềthờ, có nơi thì vì một sự ngẫu nhiên nào đó cho là linh thiêng xin duệ hiệu đểthờ; làng nào cũng có đền, có miếu Thành hoàng làng đảm bảo cho sự thốngnhất cộng đồng

Tín ngỡng thờ Thành hoàng bắt đầu ở cỏc làng Bắc bộ, rồi lan truyền

Trang 25

đến các vùng nông thôn trong cả nước, nơi tín ngỡng thờ thần in đậm dấu ấntrong nét văn hoá của ngời dân làm nông nghiệp lúa nớc Chẳng bao lâu, nhândân đồng lòng suy tôn làm Thành hoàng làng, những vị thần bảo vệ cho cuộcsống của ngời dân trong làng, nhất là những nhân vật lịch sử từng có công tạolập hay phát triển đời sống kinh tế - văn hoá - xã hội cho làng, nớc Trớc hết,

đó là những ngời anh hùng có công đức lớn với dân, với nớc nh Hai Bà Trng,Trần Hng Đạo, Trần Quốc Tảng , hay những vị thần linh trong truyền thuyết

đã giúp dân chống thiên tai nh Thần núi Tản Viên, hay những ngời có côngkhai ấp, lập làng, dạy dân các nghề thủ công Ngoại lệ, cũng có làng còn thờcả các vị Thành hoàng vốn làm những nghề không mấy vinh quang nh ăn xin,

ăn trộm, gắp phân Tín ngỡng Thành hoàng Việt Nam vừa mang một số nétcủa tín ngỡng nguyên thuỷ vừa vợt ra ngoài nội hàm của tôn giáo nguyênthuỷ

Tất cả các nghi thức thờ cúng Thành hoàng đều diễn ra ở đình làng;tuỳ theo điều kiện kinh tế của mỗi làng mà đình có quy mô to hay nhỏ khácnhau Nhng nói chung thì đình làng đợc xây dựng theo hình chữ T, phần dọc

là nội điện, nơi thâm nghiêm thờ thần, phần ngay là đình ngoài, thờng đợcchia làm 3 gian: gian giữa gọi là trung đình là nơi thờ tế tự, hai bên tả và hữugian, ở trong có bàn thờ thổ điạ hoặc thờ thuộc hạ của thần ở hai bên có hànhlang là chỗ dân làng sửa soạn lễ vật để cúng tế Như vậy, trong tõm thức dõngian, tụn thờ thành hoàng là một nhu cầu tõm lý; thành hoàng là biểu tượngquyền lực tinh thần tối cao của một làng, chi phối cả đời sống tinh thần và vậtchất của người dõn trong làng Nú trở thành biểu tượng thể hiện tập trungniềm tự hào về làng của người dõn

Tóm lại, tín ngỡng thờ Thành hoàng dới ảnh hởng của tín ngỡng dângian của người xưa, đã trở thành một bộ phận cấu thành trong tín ngỡng thờcúng tổ tiên, một hình thức tín ngỡng dân gian thể hiện nét văn hoá uống nớcnhớ nguồn của con ngời Việt Nam

Trang 26

- Tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn

Cũng nh các c dân Đông Nam á cổ xa khác, ngời dân Việt Nam thờitiền sử luôn tin rằng có sự tồn tại của một thế giới hồn linh song song với thếgiới hiện thực của con ngời Họ lý giải các giấc mơ, sự đau, ốm bệnh tật là

do có sự tồn tại của một thế giới khác mà con ngời không nhìn thấy đợc, ở đó

có sự tồn tại của linh hồn bất diệt Theo quan niệm dân gian, ở con ngời, linhhồn tồn tại một cách độc lập với ý thức và ý chí của chủ thể mà nó c trú; nó

điều khiển mọi suy nghĩ và hành động của chủ thể đó, khi linh hồn rời bỏ thểxác thì những suy nghĩ và hành động của chủ thể mà nó c trú sẽ không thựchiện đợc, đó là lúc mà ta ngủ hoặc chết Những quyền năng vô hạn của linhhồn mà ngời xa gắn cho nó chủ yếu là do sự chiêm nghiệm của họ qua cácgiấc mơ, trong giấc mơ đó thấy ngời chết hiện về Việc vỗ về, an ủi và tranhthủ các linh hồn che chở cho những ngời đang sống đợc bình yên, tránh mọirủi ro bất hạnh trong đời đã hình thành nên tâm lý tôn vinh các linh hồn Do

đó, việc thờ cúng các linh hồn hay thờ cúng ngời đã chết là một phản ứng ứng

xử tâm lý của ngời xa nhằm thoả mãn những nhu cầu lợi ích của chính họ đãdần dần trở thành một hành vi không thể thiếu đợc trong đời sống tâm linh củacon ngời ở rất nhiều nơi trên thế giới

Việc thờ cỳng tổ tiờn rất quan trọng và khụng thể thiếu trong phongtục người Việt Ở Việt Nam, việc thờ cỳng cỏc linh hồn người đó chết thường

là cỏc linh hồn cú quan hệ gần gũi với người sống, thường diễn ra trong cỏcgia đỡnh Trong số cỏc tớn ngưỡng cổ cũn tồn tại đến bõy giờ, hiếm thấy cúhỡnh thỏi tớn ngưỡng nào lại in đậm trong tõm thức và đời sống của mỗi conngười Việt Nam như tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn gia tộc

Thờ cỳng tổ tiờn theo nghĩa rộng là thờ cỳng những người đó khuấttrong cựng cộng đồng Theo nghĩa hẹp, thờ cỳng tổ tiờn là thờ cỳng nhữngngười cựng dũng mỏu như ụng, bà, cha, mẹ, Đõy là một nột văn hoỏ đẹp củacon người Việt Nam, tưởng nhớ tới những người cú cụng trong việc tạo lập

Trang 27

cuộc sống ngày nay của mọi gia đình, làng xóm

Có thể khái quát tục thờ cúng tổ tiên các cấp từ nhà đến nước của conngười Việt Nam sau:

- Nhà (gia đình): Tổ của gia đình (gia tiên) là Ông, bà; Cha, mẹ Về cơ

sở vật chất thể hiện ý niệm là Bàn thờ gia tiên, với nghi thức cúng - giỗ

- Họ (Gia tộc): Tổ của họ là Trưởng họ (Tộc), hay Thủy tổ Về cơ sở

là Nhà thờ họ, với nghi thức cúng - giỗ

- Làng: Tổ của làng là Thành hoàng làng (vua làng) Cơ sở vật chấtthực hiện ý niệm là Đình, đền, miếu, với nghi thức là Hội làng

- Nước: Vua tổ (vua Hùng) Cơ sở vật chất thể hiện ý niệm là ĐềnHùng nghi thức (sinh hoạt văn hóa tôn giáo) là Hội đền

Về nơi thờ tự, việc thờ cúng tổ tiên được tiến hành ở trong các giađình và được đặt ở vị trí trang trọng nhất Với các họ tộc lớn còn có cả nhàthờ tộc, hay nhà thờ tổ tiên Ngày nay, ở nhiều vùng của đồng bằng Bắc bộvẫn còn nhiều nhà thờ tộc như vậy và đang có xu hướng khôi phục

Có thể nói, vượt lên trên cả khía cạnh tín ngưỡng, tôn giáo, thờ cúng

tổ tiên thấm đượm đạo lý uống nước nhớ nguồn, một thứ ứng xử cộng đồnggia tộc, dòng họ và mở rộng cực đại tới cộng đồng dân tộc, quốc gia, nó trởthành một chuẩn mực khuôn mẫu của ứng xử của con người Việt Nam Bởivậy, tục thờ tổ tiên vừa tiếp nhận nguồn cội xa xưa của tín ngưỡng nguyênthuỷ (tô tem giáo), vừa có sức sống trường tồn và có sức vươn tới tiếp cận vớiđời sống hiện đại

1.2 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CHUNG VỀ LỄ HỘI

1.2.1 Nguồn gốc, khái niệm lễ hội.

Khi nói về thuật ngữ lễ hội, trước năm 1945 ở Việt Nam thường đượcdùng bằng các tên gọi “lễ hội cổ truyền”, “lễ hội dân gian”, “lễ hội truyền

Trang 28

thống”, “ lễ hội dân gian truyền thống" mỗi cách sử dụng tùy thuộc vào góc

độ tiếp cận và quan điểm nhìn nhận mà các học giả có cách sử dụng riêng.Mặc dù có những tên gọi khác nhau nhưng theo các nhà nghiên cứu thì có thểchia lịch sử lễ hội cổ truyền (trước 1945) của người Việt ở Bắc bộ thành bốnthời kỳ:

- Lễ hội trong thời kỳ xây dựng nền văn hoá Đông Sơn (từ khoảngsáu, bảy thế kỷ trước Công nguyên đến một vài thế kỷ sau Công nguyên) “Đó

là những lễ hội của cư dân nông nghiệp, được mở vào mùa thu, là hình thứcsinh hoạt văn hoá- xã hội tổng hợp, thể hiện một trình độ văn minh khá cao,bản sắc văn hoá độc đáo của người Việt cổ, thể hiện tập trung nhất tính chấtnhân văn và tính chất nguyên Việt” [13, tr 47]

- Lễ hội trong thời kỳ Bắc thuộc Lễ hội trong thời kỳ này có nhữngđặc điểm cơ bản sau:

* “Hội được mở vào cả hai mùa xuân, thu trong đó hội mùa xuânnhiều hơn”

* “Hội chùa xuất hiện, không chỉ phản ánh tín ngưỡng phồn thực của

cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, mà còn thể hiện ý nghĩa Phật giáo đãđược Việt hoá”

* “Mỗi dịp mở hội là một lần cư dân Việt sùng bái, tưởng niệm, diễnlại sự tích các anh hùng dân tộc Các vị này đã trở thành thần thành hoàng củanhiều xóm làng cư dân Việt” [13, tr.51]

- Lễ hội trong thời kỳ xây dựng quốc gia Đại Việt độc lập tự chủ (từthế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX) Trong giai đoạn này bên cạnh hội chùa cònxuất hiện thêm hội đình Mặt khác trong một lễ hội, thường có sự pha trộn củanhiều tín ngưỡng: “tín ngưỡng nguyên thuỷ, tín ngưỡng Phật giáo, tín ngưỡngĐạo giáo, tín ngưỡng thành hoàng Trong các sinh hoạt văn nghệ của các lễhội, đã có sự phân biệt rạch ròi giữa cung đình, bác học với dân gian, quan

Trang 29

nhạc (nhạc chớnh thức của Nhà nước) khỏc hẳn nhạc giỏo phường (nhạc dõngian)…”[13, tr.59].

- Lễ hội trong thời kỳ đất nước dưới chế độ thực dõn nửa phong kiến(từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1945) “ở giai đoạn này lễ hội vẫn đợc tổ chứcvào hai mùa xuân, thu Địa điểm diễn ra lễ hội là ở đình, đền, chùa Lễ hội vẫnmang ý nghĩa là lễ hội nông nghiệp, bên cạnh những t tởng mê tín, dị đoan,những hủ tục nặng nề đã tồn tại những yếu tố dân chủ, bình đẳng Đáng chú ý,trong thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, những lễ hội tởng niệm các anh hùng dântộc, lễ hội nhắc nhở mọi ngời nhớ về cội nguồn dân tộc vẫn đợc mở, thu hút sựtham gia của đông đảo ngời dân nớc Việt” [13, tr.65]

Những lễ hội ra đời sau năm 1945 đợc gọi là “lễ hội hiện đại" Có thể

nói, lễ hội đã kết tinh những nét đẹp của truyền thống văn hoá dân tộc, truyềnthống đó thể hiện một phần ở những tinh hoa lắng đọng trong hoạt động lễhội Chính ở trong hoạt động văn hoá đặc sắc này, các tàn d lạc hậu, khôngphù hợp với thời cuộc đã và sẽ đợc sàng lọc, loại bỏ theo thời gian Khi nghiêncứu tổng thể về lễ hội cổ truyền và lễ hội hiện đại, thuật ngữ “lễ hội truyềnthống” đề cập đầy đủ nhất về hai loại hình lễ hội này Những lễ hội có từ trớcnăm 1945 nay còn tồn tại trong đời sống văn hoá ở các địa phơng cùng những

lễ hội ra đời từ sau năm 1945 đã và đang trở thành hoạt động văn hóa thờngniên ở các cộng đồng dân c Cả hai loại hình lễ hội đó đều đã và đang trởthành truyền thống của dân tộc Việc sử dụng tên gọi “lễ hội truyền thống”vừa thể hiện đợc đặc trng của lễ hội dân gian, vừa làm rõ nội dung của các loạihình lễ hội hiện đại

Có thể nói, từ những năm 90 của thể kỷ XX đổ về trớc, các nhà nghiêncứu thờng dùng thuật ngữ hội, lễ hội Điều này có vẻ phù hợp với cách gọi dân

gian nh: đi hội, chơi hội.

GS Đinh Gia Khỏnh cho rằng “Danh từ hội lễ nờn được dựng nhưmột thuật ngữ văn húa Cú thể sơ bộ xỏc định ý nghĩa của thuật ngữ này theo

Trang 30

hai thành tố là hội và lễ Hội là tập hợp đông người trong một sinh hoạt cộngđồng Lễ là các nghi thức đặc thù gắn với sinh hoạt ấy” [31,tr172].

Song, từ năm 1990 đến nay, xu thế sử dụng thuật ngữ lễ hội được phổbiến hơn với các tác giả như: Lê Trung Vũ, Phan Đăng Nhật, Ngô Đức Thịnh,Nguyễn Xuân Kính, Lê Văn Kỳ có thể nói được bắt đầu bằng công trình Lễhội cổ truyền Việt Nam do tác giả Lê Trung Vũ chủ biên

Điều đó thể hiện rõ hơn ý nghĩa của thuật ngữ lễ hội, nó được coi làmột chỉnh thể nguyên hợp, đan quện vào nhau trong lễ có hội, trong hội có lễ,với ý nghĩa lớn lao của lễ hội là nhằm “đưa quá khu hội nhập vào hiện tại,quy tụ toàn bộ năng lương của vũ trụ, của không gian và thời gian đậm đặcnăng lượng thiêng mà con người đi dự hội có nguyện vọng tắm mình trong

đó, để sau đó họ là con người khác đáp ứng cho năm mới, mùa mới” [47,tr6]

Cố GS Trần Quốc Vượng đã viết “Lễ hội gồm hai phần vừa tách rờivừa không tách rời nhau: Lễ (nghi lễ cúng Thần, Thánh, Phật, Mẫu) và Hội(tụ hội của dân một làng hay liên làng, vùng)”, “Trên thực tế và về lý thuyết

Lễ – Hội xoắn xuýt hữu cơ vào nhau, không thể tách rời” [65,tr9; 31,tr.31].Phải chăng, khi nghiên cứu lễ hội, nếu không xem xét dưới gốc độ đó sẽ dễlàm thô thiển và mất đi những ý nghĩa đích thực của nó Có lẽ, việc dùngthuật ngữ lễ hội của các nhà nghiên cứu chính là muốn nhấn đến ý nghĩathiêng liêng của lễ hội, của nhân dân ta trong quá khứ, bởi trong rất nhiều tròchơi của lễ hội đã ảnh hưởng bởi ý nghĩa thiêng và niềm tin một cách có ýthức của những nhà tổ chức

Như vậy, từ những quan điểm trên chúng ta thấy rằng về cơ bản hội lễhay lễ hội đều bao hàm cả hai yếu tố đó là lễ và hội, hai phần này gắn bó chặtchẽ với nhau Trong lễ hội luôn gắn bó và chứa đựng những niềm tin, nhữngphong tục, những ước vọng, những khao khát mà con người đã dành và đặtvào những nghi thức tín ngưỡng hết sức trang trọng, thành kính Để cuối cùngđạt được mục đích của nghi thức tín ngưỡng và lễ hội đó là tính thiêng liêng

Trang 31

và niềm tin của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng gửi gắm vào đó.

- Khái niệm Lễ và Nghi lễ:

Trong tiếng Hán -Việt, Lễ chính là những khuôn mẫu của người xưa

đã quy định; các phép tắc buộc phải tôn trọng, tuân theo trong các mối quan

hệ xã hội Đó chính là rường mối, cơ tầng, nền tảng của mọi mối quan hệ giữangười với người trong bất kỳ một xã hội nào Lễ được coi là những phép tắctheo khuôn mẫu đã được hình thành và củng cố theo thời gian, được quy địnhmột cách chặt chẽ từ “ quan - hôn- tang - tế” đến đi đứng, nói năng, cư xửhàng ngày của mọi người dân Đây là những quy định, lễ nghi, phép tắc buộcmỗi con người phải tuân theo trong các mối quan hệ ứng xử của mình trong

xã hội

Tác giả Lê Văn Kỳ, Viện Văn hoá dân gian cho rằng: “Lễ trong lễ hội

là một hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của dânlàng đối với các thần linh, lực lượng siêu nhiên nói chung, với thần thànhhoàng nói riêng Đồng thời lễ cũng phản ánh những nguyện vọng ước mơ,chính đáng của con người trước cuộc sống đầy rẫy những khó khăn mà bảnthân họ chưa có khả năng cải tạo” [13, tr.67]

Tác giả Hoàng Lương trong công trình Lễ hội truyền thống của cácdân tộc thiểu số miền Bắc Việt Nam đã kết luận: Đối với các dân tộc thiểu số

ở nước ta nói chung và ở miền bắc nói riêng, lễ được thực hiện chủ yếu liênquan đến việc cầu mùa, "người an, vật thịnh" Có thể nói, “Lễ là phần đạo,phần tâm linh của cộng đồng, nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần, nhucầu tín ngưỡng của mọi thành viên trong cộng đồng” [39, tr.35]

- Khái niệm Hội:

Trong tiếng Việt, Hội là danh từ để chỉ sự tập hợp một số cá nhân vàotrong một tổ chức nào đó, tồn tại trong một không gian và thời gian cụ thể

Tác giả Bùi Thiết quan niệm: Hội là các hoạt động lễ nghi đã phát

Trang 32

triển đến mức cao hơn, có các hoạt động văn hoá truyền thống [56, tr.5].

Theo tác giả Lê Văn Kỳ “hội là một sinh hoạt văn hoá dân dã phóngkhoáng diễn ra trên bãi sân để dân làng cùng bình đẳng vui chơi với hàng loạttrò tục hấp dẫn do mình chủ động tham gia ” [13, tr.83] Hội là sự liên kếtgiữa các cá nhân, tổ chức có chung mục đích hoặc các mục đích gần giốngnhau Trong hội lưu giữ một phần kho tàng di sản văn hoá đặc sắc của địaphương và dân tộc Trong các hoạt động của hội còn có thể bao gồm cácchương trình vui chơi giải trí hiện đại mang sắc thái thời gian, phản ánh và thểhiện trình độ phát triển của cộng đồng dân cư của một địa phương hay toàn xãhội ở vào thời điểm mà nó ra đời và tồn tại

Trong hội, có thể tìm thấy những biểu tượng điển hình của sự thể hiệntâm lý cộng đồng; những đặc trưng của văn hoá dân tộc; những quan niệm,cách ứng xử đối với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội của các cánhân và cả cộng đồng người Những hoạt động diễn ra trong hội phải luônphản ánh và thể hiện một phần lịch sử địa phương, đất nước Từ những quanniệm trên có thể hiểu:

Hội là tập hợp những hoạt động kinh tế, văn hoá - xã hội, giải trí của một cộng đồng dân cư nhất định; là cuộc vui tổ chức cho đông đảo người dự theo phong tục truyền thống hoặc nhân những dịp đặc biệt Những hoạt động diễn ra trong hội phản ánh điều kiện, khả năng và trình độ phát triển của địa phương, đất nước ở vào thời điểm diễn ra các sự kiện đó.

- Khái niệm Lễ hội

Trong những năm vừa qua đồng thời với việc nghiên cứu về Lễ hội thìcác quan niệm về Lễ hội cũng được quan tâm nhất định Tuy nhiên qua nhiềucông trình nghiên cứu về lễ hội thì việc bàn đến khái niệm lễ hội không nhiều

Lễ hội là một khái niệm được tiếp cận trên nhiều góc độ khác nhau

Trong Từ điển tiếng Việt quan niệm lễ hội là: “cuộc vui chung có tổ

Trang 33

chức, cú cỏc hoạt động lễ nghi mang tớnh văn húa truyền thống ” Bựi Thiếtcho rằng: Hội lễ là cỏch gọi cụ đọng nhằm để chỉ toàn bộ cỏc hoạt động tinhthần và ứng xử, phản ỏnh những tập tục, vật hiến tế, lễ nghi dõng cỳng, nhữnghội hố đỡnh đỏm của một cộng đồng làng xó nhất định” [56, tr.5].

Cỏc tỏc giả trong Từ điển Bỏch khoa Việt Nam đưa quan niệm: “Lễhội là hệ thống cỏc hành vi, động tỏc nhằm biểu hiện lũng tụn kinh của conngười đối với thần linh, phản ỏnh những ước mơ chớnh đỏng của con ngườitrước cuộc sống mà bản thõn họ chưa cú khả năng thực hiện Hội là sinh hoạtvăn húa, tụn giỏo, nghệ thuật của cộng đồng xuất phỏt từ nhu cầu cuộc sống,

từ sự tồn tại và phỏt triển của cộng đồng, sự bỡnh yờn cho từng cỏ nhõn, hạnhphỳc cho từng gia đỡnh, sự vững mạnh cho từng dũng họ, sự sinh sụi nảy nởcủa gia sỳc, sự bội thu của mựa màng mà từ bao đời nay quy tụ niềm mơ ướcchung vào bốn chữ “nhõn khang, vật thịnh”

Theo thư tịch cổ, lễ hội của người Việt xuất hiện từ thời nhà Lý (thế

kỷ 11), nhưng cú người cho rằng lễ hội của dõn tộc Việt Nam đó hỡnh thành

và phỏt triển cựng với lịch sử của dõn tộc, của đất nước biểu hiện qua trốngđồng Đụng Sơn, mà tiờu biểu là Hội mựa, Hội làng ở vựng đồng bằng Bắc Bộ,ngày hội cố kết cộng đồng biểu trng những giá trị của đời sống tâm linh, đờisống xã hội và văn hóa của cộng đồng Có những lễ hội mang tính toàn quốc

nh Hội đền Hùng, Hội đền Kiếp Bạc

Có thể thấy quan niệm về Lễ hội trên đây trong Từ điển Bách khoaViệt Nam là quan niệm tơng đối toàn diện so với nhiều quan niệm khác về lễhội ở nớc ta, thể hiện đợc nhiều góc độ phản ánh các vấn đề lịch sử, nội dung

và những biêủ hiện cụ thể của nó gắn với tộc ngời chủ thể - ngời Việt ở nớc ta

Lễ hội của ngời Kinh hay nhiều dân tộc thiểu số cũng luôn gắn với cácyếu tố tín ngỡng, tôn giáo, với mùa Xuân… Những tín ngỡng dân gian của

đời sống tâm linh nằm trong thế giới ý niệm đợc khách thể hóa, hiện thực hóa.Tuy nhiên ở mỗi cộng đồng tộc ngời, mỗi vùng quê cụ thể các hoạt động lễ

Trang 34

hội gắn với đời sống tâm linh- tôn giáo, tín ngỡng đều có những biểu hiện cụthể khác nhau và phụ thuộc vào nhiều yếu tố liên quan đến kinh tế-xã hội, sựbảo tồn và tơng quan mạnh yếu giữa các giá trị văn hóa truyền thống và hiện

Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng diễn ra trên địa bàn dân c trong thời gian và không gian xác định; nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại; đồng thời là dịp để biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con ngòi với thiên nhiên, thần thánh và con ngời trong xã hội.

1.2.2 Một số đặc điểm của Lễ hội

Cỏc lễ hội truyền thống đều cú xu hướng tỏi hiện lại những truyềnthuyết, những cụng lao, những nghi thức sinh hoat trong cuộc sống ngườiViệt, với cỏc nghi thức, lễ nghi trang trọng và với phần hội thể hiện cỏc trũdiễn của người dõn và cộng đồng Vỡ thế lễ hội cú giỏ trị như một kho bỏusống về lịch sử thời đại của dõn tộc Việt Nam Song, cho dự lễ hội được gắnvới hỡnh thức tớn ngưỡng nào và với những vựng đất khỏc nhau thỡ cũng đều

cú những đặc điểm chung sau:

- Tớnh thiờng: Muốn hỡnh thành một lễ hội, bao giờ cũng phải tỡm ra

được một lý do mang“tớnh thiờng”nào đú Đú là người anh hựng đỏnh giặc tử

thương, ngó xuống mảnh đất ấy Cũng cú khi lễ hội hỡnh thành nhằm ngày

Trang 35

sinh ngày mất của một người có công với làng, với nước ở lĩnh vực này haylĩnh vực khác (có khi là đánh giặc, dạy nghề, trị thủy, chữa bệnh… ) Cũng

có khi là những lễ hội mang tính dân gian như cầu mưa, cầu mùa màng….Song, tất cả những lễ nghi đó đã được “thiên hóa” , đã trở thành thần thánhtrong tâm trí người dân Nhân dân tin tưởng, đặt niềm tin vào điều thiêngliêng đó với mong muốn được phù hộ, được che chở giúp con người vượt quanhững khó khăn, những phức tạp trong cuộc sống

Chính tính “thiêng” ấy đã trở thành chỗ dựa tinh thấn cho con người

và cộng đồng trong những thời điểm khó khăn, cũng như tạo cho họ niềm tin,

hy vọng vào những điều tốt đẹp sẽ đến

- Tính cộng đồng: Lễ hội chỉ sinh ra, tồn tại và phát triển khi nó trở

thành nhu cầu tự nguyện của mỗi cá nhân và cộng đồng Cộng đồng lớn thìphạm vi lễ hội cũng lớn Với quy mô lễ hội của họ, của làng, của vùng hay cảnước

- Tính địa phương: Lễ hội được hình thành thường gắn với một vùng

đất nhất định, lễ hội vùng nào thì mang sắc thái của vùng đó Tính địa phươngchính là lễ hội gắn bó chặt chẽ với đời sống nhân dân trong vùng, nó đáp ứngđược nhu cầu tinh thần và văn hóa của nhân dân không chỉ ở nội dung lễ hội

mà cả phong cách của lễ hội nữa Phong cách đó thể hiện ở văn tế, ở trangphục, kiểu lọng, kiểu kiệu, kiểu cờ, ở lễ vật dâng cúng…

- Tính cung đình: Đa phần các nhân vật được suy tôn thành Thần

thánh trong các lễ hội của người Việt, là những người đã được giữ chức vịtrong Triều đình xưa Bởi thế các nghi thức diễn ra trong lễ hội, từ tế lễ, dânghương, rước kiệu….đều mô phỏng sinh hoạt cung đình Sự mô phỏng đó thểhiện cách bài trí, trang phục, động tác đi lại…điều này làm cho lễ hội trở lêntrang trọng hơn, lộng lẫy hơn Mặt khác lễ nghi cung đình cũng làm chongười tham gia cũng cảm thấy được nâng lên một vị trí khác với ngày thường,đáp ứng những tâm lý, những khao khát, nguyện vọng của người dân

Trang 36

- Tính đương đại: Tuy mang nặng sắc thái cổ truyền, song lễ hội

trong quá trình vận động của lịch sử, cũng dần dần tiếp thu các yếu tố đươngđại Những trò chơi mới, những cách bài trí mới, những phương tiện kỹ thuậtmới…tham gia vào lễ hội, giúp công tác tổ chức được thuận lợi, đáp ứng yêucầu mới Tuy nhiên, những tiếp thu này đều phải dần dần qua sự sàng lọc tựnguyện của người dân, được cộng đồng chấp nhận, không thể là sự tùy tiện,lắp ghép vô lý

Với những đặc điểm trên, lễ hội ở Việt Nam thực sự là một kho tàngvăn hóa của dân tộc Sự phong phú của lễ hội ở Việt Nam vừa là sự kiện vănhóa được tổ chức mang tính cộng đồng vừa là một sinh hoạt văn hóa mangđậm bản sắc dân tộc

1.2.3 Một số lo¹i h×nh Lễ hội ở nước ta

Theo thống kê của Cục văn hóa thông tin cơ sở, hàng năm Việt Nam

có khoảng 8902 lễ hội Trong đó: 7005 lễ hội dân gian, 1399 lễ hội tôn giáo,

409 lễ hội lịch sử cách mạng, 25 lễ hội du nhập từ nước ngoài và 64 lễ hộikhác (nguồn từ Cục văn hóa thông tin cơ sở, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịchnăm 2004), được trải rộng khắp cả nước trong bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.Mỗi lễ hội mang một nét tiêu biểu và giá trị riêng, nhưng bao giờ cũng hướngtới một một đối tượng linh thiêng cần được suy tôn như những vị anh hùngchống ngoại xâm, những người có công dạy dỗ truyền nghề, chống thiên tai,diệt trừ ác thú, giàu lòng cứu nhân độ thế Với tư tưởng uống nước nhớnguồn, ăn quả nhớ người trồng cây, ngày hội diễn ra sôi động bằng những sựtích, công trạng, là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, làm cho thế hệ trẻ hômnay hiểu được công lao tổ tiên, thêm tự hào về truyền thống quê hương, đấtnước của mình Đặc biệt, lễ hội ở nước ta gắn bó với làng xã, địa danh, vùngđất như một thành tố không thể thiếu vắng trong đời sống cộng đồng nhândân

Các nhà nghiên cứu đã thống kê được một số loại hình lễ hội sau:

Trang 37

- Lễ hội theo không gian lãnh thổ

Đây là hình thức phân loại theo quy mô, mức độ và phạm vi ảnhhưởng, chi phối, tác động của các lễ hội Không gian lễ hội là phạm vi khôngchỉ về mặt hành chính mà còn nằm trong không gian chịu tác động và ảnhhưởng của sự kiện văn hoá đó Không gian lễ hội được quyết định bởi nộidung và hình thức biểu hiện, trong hoạt động thực tiễn Không gian sinh tồncủa cộng đồng cư dân đồng thời là không gian lịch sử và không gian văn hoá

Lễ hội cộng đồng vừa phản ánh lịch sử, lưu giữ và tưởng niệm lịch sử, vừa làbiểu trưng văn hoá của tộc người sống trong không gian đó Căn cứ vàokhông gian, có thể chia lễ hội theo các hình thức sau đây:

Lễ hội mang tính quốc tế: Là những lễ hội thường được du nhập từ

bên ngoài vào trong đời sống chính trị, văn hoá, xã hội của người Việt Nam,được cả người Việt Nam và thế giới tổ chức Những lễ hội này trước hết làcác lễ hội của các tôn giáo như những lễ hội của Kitô giáo, Phật giáo, Hồigiáo, Tin lành

Lễ hội mang tính quốc gia: Những lễ hội mà nhân vật hoặc sự kiện

được thờ cúng có liên quan ảnh hưởng sâu sắc, rộng lớn tới cả dân tộc trongquốc gia và đất nước (như lễ hội Đền Hùng, lễ hội Chùa Hương )

Lễ hội mang tính vùng miền: Là những lễ hội mà nhân vật hoặc sự

kiện được thờ khá nổi tiếng Khi tổ chức lễ hội được sự tham gia, có mặt củanhân dân trên một địa bàn của nhiều địa phương ở gần nhau nằm trên mộtvùng rộng lớn: Lễ hội Trường Yên- Hoa Lư (Ninh Bình); lễ hội Đền ĐồngNhân (Hà Nội)

Lễ hội làng: Với người Việt, làng là một đơn vị cư dân sống tụ cư,

mang tính cộng đồng cao, có mối liên hệ huyết tộc và láng giềng chặt chẽ.Làng là một cộng đồng văn hoá khá hoàn chỉnh với các yếu tố văn hoá vậtchất và tinh thần thuộc về làng xã và phục vụ làng xã Lễ hội ở làng là hình

Trang 38

thức phổ biến rộng rãi, với số lượng nhiều, có nội dung phong phú, đa dạng

và sinh động nhất.Hội làng truyền thống đã góp phần tạo dựng và vun đắp lốisống, phong cách và văn hoá Việt Lễ hội làng là lễ hội chủ đạo trong đờisống văn hoá của các tầng lớp dân cư Đây trở thành hạt nhân, nền tảng chokho tàng, lễ hội của dân tộc tồn tại, phát sinh, phát triển trong suốt tiến trìnhlịch sử

- Lễ hội theo thời gian, mùa vụ sản xuất

Người Việt Nam chủ yếu là cư dân nông nghiệp trong lịch sử, đại đa

số cư dân sinh sống ở làng, vì vậy những lễ hội làng chủ yếu phản ánh cuộcsống nông nghiệp Điều đó thể hiện qua thời gian mở hội thường gắn với mùa

vụ sản xuất Các lễ hội là một phần của cuộc sống, nó gắn bó mật thiết, chặtchẽ với cuộc sống lao động sản xuất của người nông dân

Khi bắt đầu khai phá đất đai hay mùa vụ mới, người ta tổ chức lễ cầuxin cho gặp được đất tốt, khai phá an toàn Bước vào mùa gieo cấy thì làm lễkhai canh động thổ, tổ chức “lễ xuống đồng” cầu cho mùa màng bội thu.Trong quá trình chăm bón lúa, cây màu, hoa trái lại cầu mưa thuận gió hoàcho cây cối đơm hoa kết trái Đến khi thu hoạch thì tổ chức cúng cơm mới,cúng phần hoa quả đầu tiên Sau đó tổ chức mở hội ăn mừng thành quả laođộng, mời thần lúa về kho Sau vụ thu hoạch, vào dịp nông nhàn thì mở hộivui chơi giải trí, gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm làm ăn Mùa vụ truyền thốngcủa người Việt thường bắt đầu và kết thúc vào dịp Xuân - Thu, do vậy lễ hộicũng thường diễn ra vào mùa Xuân và mùa Thu Tạo ra hai hình thức lễ hộimùa Xuân và lễ hội mùa Thu, gọi là Xuân - Thu nhị kỳ Mùa xuân, mùa củavạn vật sinh sôi nảy nở, con người được tiếp thêm sức mạnh trong cuộc sốngmới Mùa Thu là mùa thư thái an nhàn Cả hai dịp ấy, người ta cùng mở hội

để vui chơi và thưởng ngoạn Như vậy những lễ hội làng, lễ hội mùa là những

lễ hội thường mở vào hai mùa Xuân - Thu trong năm

Tuy nhiên, có một số lễ hội không tuân theo mùa vụ thời gian xuân

Trang 39

thu như thông lệ mà có thể được mở vào những thời gian bất kỳ trong năm.Những lễ hội như vậy thường gắn với ngày sinh, ngày hoá của các nhân vật

có công với dân, với nước Đó là các anh hùng dân tộc, danh nhân trên nhiềulĩnh vực, các vị tổ sư, tổ nghề, Thành hoàng làng Người dân Việt Nam luônquan niệm: “sinh có hạn, tử bất kỳ” Thời điểm sinh - hoá của mỗi con người

là thời điểm Thiêng, đặc biệt là đối với các vị thần, không ai có thể dự địnhđược cho “ngày ra đi” của mình Lễ hội thường được tổ chức vào đúng cácdịp Thiêng đó, do vậy, đôi khi các lễ hội kỷ niệm ngày sinh, ngày hoá củaThần có thể rơi vào bất kỳ thời gian nào trong năm, không nhất thiết vào đúngmùa xuân hay mùa thu Đó có thể được coi là những trường hợp đặc biệt: Lễhội đình Chèm (Đông Ngạc - Từ Liêm - Hà Nội), thờ Lý Ông Trọng đi sứsang Tàu thời Tần Thuỷ Hoàng (221 -206 TCN) Lễ hội tổ chức vào chínhgiữa mùa hè, vào ngày 15/5 âm lịch Lễ hội chùa Cổ Lễ tổ chức vào 13-16tháng 9 âm lịch để tưởng nhớ đến Thánh sư Nguyễn Minh Không

- Lễ hội theo tôn giáo

Lễ hội của các tôn giáo không giới hạn về không gian mà chỉ giới hạn

về thời gian tổ chức lễ hội.Thời gian lễ hội diễn ra vào các dịp kỷ niệm, lễtrọng gắn với các mốc thời gian có liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp của cácĐấng Giáo chủ Lễ hội tôn giáo diễn ra trong không gian cụ thể là các Thánhđường, những nơi thờ tự của các tôn giáo và phạm vi ảnh hưởng của nó.Không gian lễ hội tôn giáo thường diễn ra rất rộng, trên tất cả những nơi có hệthống giáo đường của các tôn giáo Ví dụ như trong Kitô giáo, lễ Giáng sinh

Noel chỉ diễn ra vào ngày 24-25 tháng 12; Lễ Phục sinh là lễ kỷ niệm việc

chúa Jesus sống lại sau khi bị giết chết 3 ngày, thường cử hành vào ngày chủnhật của tuần thứ 3 tháng 4 dương lịch

Hay lễ hội của của Phật giáo Là một tôn giáo có số tín đồ lớn nhất

trong các tôn giáo ở Việt Nam, cũng là tôn giáo du nhập vào Việt Nam sớmnhất và có ảnh hưởng sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân trong cả nước

Trang 40

Trong một năm, Phật giáo có khá nhiều lễ liên quan đến những mốc thời gian

gắn với người sáng lập Phật giáo như: Lễ Đản sinh 15/4 âm lịch, hay còn gọi

là ngày phật đản, là lễ kỷ niệm ngày sinh của Đức Thích Ca, người sáng lập ra

đạo Phật; Lễ Vu Lan 15/ 7 âm lịch ngày này có ý nghĩa xã hội sâu sắc trong

truyền thống, văn hoá của dân tộc, với người Việt Nam, lễ Vu lan là dịp cho

họ nhớ đến cội nguồn, nhớ đến tổ tiên ông bà, cha mẹ

- Một số loại hình lễ hội khác

Với một số lượng đồ sộ, các lễ hội trong đời sống văn hoá cộng đồngngười Việt bao gồm nhiều hình thức phong phú, đa dạng Dù có nội dungkhác nhau nhưng nhìn chung kho tàng hệ thống lễ hội Việt Nam ngoài ra cònđược phân loại theo các tiêu chí sau:

* Hệ thống lễ hội dân gian truyền thống: Đây là đại đa số những lễ

hội đã hình thành, tồn tại và phát triển trong lịch sử Đó là kho tàng di sản vănhoá đặc sắc của người Việt Nam, mang dấu ấn những giai đoạn phát triển củacác địa phương và cả dân tộc trong tiến trình lịch sử Kho tàng lễ hội dân giantruyền thống chủ yếu bao gồm các “lễ hội làng”, đây chính là những lễ hộinông nghiệp, gắn với cuộc sống lao động sản xuất của các tầng lớp cư dân ởcác địa phương khác nhau.Về thời gian, những lễ hội này đã xuất hiện và tồntại từ trước 1945.Với số lượng đồ sộ và nội dung vô cùng phong phú, tạo nênnhững giá trị lớn trong kho tàng văn hoá quý báu của dân tộc Kho tàng này

đã và đang được khai thác có hiệu quả nhằm phục vụ các mục đích khác nhaucủa đất nước trong thời kỳ mới.Có thể nói, những lễ hội dân gian truyền thống

là phần cốt lõi của kho tàng di sản văn hoá phi vật thể của dân tộc, cần tiếptục phải đầu tư, nghiên cứu và khai thác đúng hướng, đạt hiệu quả cao

- Những lễ hội hiện đại: Ra đời từ sau Cách mạng tháng Tám năm

1945, nội dung và tính chất của lễ hội hiện đại chủ yếu gắn với các nhân vật

và sự kiện lịch sử liên quan đến cách mạng và kháng chiến, với những chiếncông do Đảng Cộng sản Việt Nam và Bác Hồ vĩ đại lãnh đạo Lễ hội hiện đại

Ngày đăng: 12/05/2020, 00:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Cục Thống kê tỉnh Nam Định (2011), Niên giám thống kê 2010 tỉnh Nam Định, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2010 tỉnh NamĐịnh
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Nam Định
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2011
7. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2000), Giáo trình Lý luận văn hoá và Đường lối văn hoá của Đảng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận vănhoá và Đường lối văn hoá của Đảng
Tác giả: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
10. Tên tác giả *** k tìm được tên tác giả "Quan niệm về tín ngưỡng của Mác – Ăngghen" (1997), Tạp chí Thông tin lý luận (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về tín ngưỡng củaMác – Ăngghen
Tác giả: Tên tác giả *** k tìm được tên tác giả "Quan niệm về tín ngưỡng của Mác – Ăngghen
Năm: 1997
13. Viện Văn hoá dân gian (1992), Lễ hội cổ truyền, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội cổ truyền
Tác giả: Viện Văn hoá dân gian
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1992
14. Toan Ánh (1991), Phong tục Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục Việt Nam
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1991
15. Toan Ánh (1992), Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam, Nxb Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 1992
16. Trần Lâm Biền (1992), "Mẫu thần điện", Tạp chí Văn hoá dân gian (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mẫu thần điện
Tác giả: Trần Lâm Biền
Năm: 1992
18. Đoàn Văn Chúc (2004), Văn hoá học, Viện Văn hoá và Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá học
Tác giả: Đoàn Văn Chúc
Nhà XB: Nxb Văn hoáThông tin
Năm: 2004
20. Phạm Duy Đức (2006), Thách thức của văn hoá Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Văn hoá Thông tin - Viện Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thách thức của văn hoá Việt Nam trong quá trìnhhội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Phạm Duy Đức
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin - Viện Văn hoá
Năm: 2006
21. Lê Quý Đức (chủ biên) (2005), Vai trò của văn hoá trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng, Nxb Văn hoá Thông tin và Viện Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của văn hoá trong sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằngsông Hồng
Tác giả: Lê Quý Đức (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin và Viện Văn hoá
Năm: 2005
22. Phạm Duy Đức (2006), Thách thức của văn hoá Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Văn hoá Thông tin - Viện Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thách thức của văn hoá Việt Nam trong quá trìnhhội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Phạm Duy Đức
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin - Viện Văn hoá
Năm: 2006
1. Ban Tôn giáo Chính phủ (2005), Văn bản pháp luật Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Khác
2. Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (2004), Tài liệu kết luận Hội nghị lần thứ Mười Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1990), Nghị quyết số 24/NQ-TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới, Hà Nội Khác
4. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (ngày 29/6/2004), Pháp lệnh về tín ngưỡng, tôn giáo Khác
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
8. Ban chấp hành Đảng Bộ huyện Trực Ninh (Năm 2000), Lịch sử Đảng bộ huyện Trực Ninh 1930-2000, Công ty In Nam Định Khác
9. Quốc hội Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Luật Di sản văn hóa và Nghị định hướng dẫn thi hành, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
11. Tên tác giả *** Tôn giáo tín ngưỡng hiện nay, mấy vấn đề lý luận và Khác
12. Viện Tôn giáo, Về tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay. Nxb KHXH.1996 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w