1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu sự biến đổi tính chất co rút và giãn nở từ tâm ra vỏ của gỗ sa mộc (cunninghamia lanceolata (lamb ) hook) trồng ở huyện sa pa, tỉnh lào cai

47 112 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

---o0o--- NÔNG THU HƯƠNG NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI TÍNH CHẤT CO RÚT VÀ GIÃN NỞ TỪ TÂM RA VỎ CỦA GỖ SA MỘC Cunninghamia lanceolata Lamb... ---o0o--- NÔNG THU HƯƠNG NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI

Trang 1

-o0o -

NÔNG THU HƯƠNG

NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI TÍNH CHẤT CO RÚT VÀ GIÃN NỞ

TỪ TÂM RA VỎ CỦA GỖ SA MỘC (Cunninghamia lanceolata (Lamb.)

Hook.) TRỒNG Ở HUYỆN SAPA – TỈNH LÀO CAI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Nông lâm kết hợp Khoa : Lâm nghiệp

Khóa học : 2015 – 2019

Thái Nguyên – 2019

Trang 2

-o0o -

NÔNG THU HƯƠNG

NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI TÍNH CHẤT CO RÚT VÀ GIÃN NỞ

TỪ TÂM RA VỎ CỦA GỖ SA MỘC (Cunninghamia lanceolata (Lamb.)

Hook.) TRỒNG Ở HUYỆN SAPA – TỈNH LÀO CAI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Nông lâm kết hợp

Khóa học : 2015 – 2019 Giảng viên hướng dẫn : TS Dương Văn Đoàn

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu là điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, chưa được công bố trên tài liệu, nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

XÁC NHẬN CỦA GVHD

TS DƯƠNG VĂN ĐOÀN

Thái Nguyên, ngày…tháng…năm 2019

Người viết cam đoan

NÔNG THU HƯƠNG

XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN

Xác nhận sinh viên đã sửa theo yêu cầu của

Hội đồng chấm khóa luân tốt nghiệp

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Đề tài “Nghiên cứu sự biến đổi tính chất co rút và giãn nở từ tâm ra vỏ

của gỗ Sa mộc (Cunninghamia lanceolata (Lamb.) Hook) trồng ở huyện Sa

Pa – tỉnh Lào Cai” là nội dung tôi chọn để nghiên cứu tốt nghiệp sau 4 năm theo học chương trình đại học chuyên ngành nông lâm kết hợp tại Trường đại học Nông lâm Thái Nguyên

Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi có môi trường học tập tốt trong suốt thời gian tôi học, nghiên cứu tại trường

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới TS Dương Văn Đoàn đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành đề tài tốt nghiệp này Đồng thời, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới thầy cô trong Khoa Lâm Nghiệp, bạn bè đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập

và hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp lần này./

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng năm 2019

Sinh viên

Nông Thu Hương

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Thông tin cơ bản của các cây mẫu 13

Bảng 4.1 Kết quả sự biến đổi KLTT trên mẫu co rút 18

Bảng 4.2 Kết quả sư biến đổi KLTT trên mẫu giãn nở 20

Bảng 4.3 Kết quả sự biến đổi tính chất co rút theo chiều xuyên tâm 21

Bảng 4.4 Kết quả sự biến đổi tính chất co rút theo chiều tiếp tuyến 23

Bảng 4.5 Kết quả sự biến đổi tính chất giãn nở theo chiều xuyên tâm 24

Bảng 4.6 Kết quả sự biên đổi tính chất giãn nở theo chiều tiếp tuyến 26

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Quy trình xẻ mẫu cho thí nghiệm 14 Hình 4.1 Biểu đồ thể hiện sự biến đổi KLTT theo hướng từ tâm ra vỏ trên mẫu co rút 19 Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện sự biến đổi KLTT theo hướng từ tâm ra vỏ trên mẫu giãn nở 20 Hình 4.3 Biểu đồ thể hiện sự biến đổi tính chất co rút từ tâm ra vỏ theo chiều xuyên tâm 21 Hình 4.4 Biểu đồ thể hiện sự biến đổi tính chất co rút từ tâm ra vỏ theo chiều tiếp tuyến 23 Hình 4.5.Biểu đồ thể hiện sự biến đổi tính chất giãn nở từ tâm ra vỏ theo chiều xuyên tâm 25 Hình 4.6 Biểu đồ thể hiện sự biến đổi tính chất giãn nở từ tâm ra vỏ theo chiều tiếp tuyến 26 Hình 4.7 Đồ thị thể hiện mối tương quan giữa KLTT và tính chất CRXT 27 Hình 4.8 Đồ thị thể hiện mối tương quan giữa khối lượng thể tích và tính chất co rút theo chiều tiếp tuyến 28 Hình 4.9 Đồ thị thể hiện mối tương quan giữa khối lượng thể tích và tính chất giãn nở theo chiều xuyên tâm 29 Hình 4.10 Đồ thị thể hiện mối tương quan giữa khối lượng thể tích và tính chất giãn nở theo chiều tiếp tuyến 29

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

KLTT Khối lượng thể tích HVN Chiều cao vút ngọn D1.3 Đường kính của cây tại chiều cao 1.3 m TCVN Tiêu chuẩn việt nam

PEG Polyethylenglycol

GNXT Giãn nở xuyên tâm GNTT Giãn nở tiếp tuyến CRXT Co rút xuyên tâm CRTT Co rút tiếp tuyến

Trang 8

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC HÌNH iv

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v

MỤC LỤC vi

PH Ầ N 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa khoa học, học tập 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 4

2.1.1 Tính chất hút nước của gỗ 4

2.1.2 Tính chất thoát ẩm của gỗ 4

2.1.3 Khối lượng thể tích của gỗ 5

2.2 Những nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam 6

2.2.1 Trên Thế giới 6

2.2.2 Ở Việt Nam 8

2.3 Đặc điểm cây Sa mộc 10

2.3.1 Đặc điểm hình thái 10

2.3.2 Đặc điểm sinh học và sinh thái học 10

2.3.3 Giá trị 11

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

Trang 9

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 12

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 12

3.3 Nội dung nghiên cứu 12

3.4 Phương pháp nghiên cứu 12

3.4.1 Thu thập mẫu 12

3.4.2 Phương pháp thí nghiệm 14

3.4.2.1 Phương pháp đo khối lượng thể tích 14

3.4.2.2 Phương pháp đo tính chất co rút theo phương xuyên tâm và tiếp tuyến 15

3.4.2.3 Phương pháp đo tính chất giãn nở theo phương pháp xuyên tâm và tiếp tuyến 16

PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 18

4.1 Sự biến đổi KLTT theo hướng từ tâm ra vỏ 18

4.1.1 Sự biến đổi khối lượng thể tích theo hướng từ tâm ra vỏ trên mẫu co rút 18

4.1.2 Sự biến đổi khối lượng thể tích theo hướng từ tâm ra vỏ trên mẫu giãn nở 19

4.2 Sự biến đổi tính chất co rút và giãn nở gỗ Sa mộc theo hướng từ tâm ra vỏ 21

4.2.1 Sự biến đổi tính chất co rút theo chiều xuyên tâm 21

4.2.2 Sự biến đổi tính chất co rút theo chiều tiếp tuyến 22

4.2.3 Sự biến đổi tính chất giãn nở theo chiều xuyên tâm 24

4.2.4 Sự biến đổi tính chất giãn nở theo chiều tiếp tuyến 25

4.3 Mối tương quan giữa khối lượng thể tích và tính chất co rút, giãn nở 27

4.3.1 Mối tương quan giữa khối lượng thể tích và tính chất co rút 27

4.3.2 Mối tương quan giữa khối lượng thể tích và tính chất giãn nở 28

PHẦN 5: KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ 31

5.1 Kết luận 31

5.2 Kiến nghị 31

TÀI LIỆU THAM KHẢO 32

Trang 10

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Rừng vốn được xem là “lá phổi” của trái đất và có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và sự đa dạng sinh học trên hành tinh của chúng ta Ở Việt Nam hiện nay, gỗ rừng cũng có vai trò quan trọng

và ngày càng khan hiếm khi nhu cầu sử dụng gỗ ngày càng tăng, đặc biệt là

loài gỗ quý hiếm

- Một trong số loài cây gỗ điển hình đang được quan tâm đó là cây gỗ Sa

mộc (Cunninghamia lanceolata (Lamb.) Hook.) là một trong hai loài thuộc

chi Sa mộc hay sa mu (Cunninghamia), thuộc họ Hoàng đàn (Cupressaceae)

có phân bố ở khu vực Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam

Sa mộc là cây gỗ lớn có tán hình tháp, cao trên 30 m và đường kính có thể tới trên 200 cm Cây mọc rải rác thành các đám nhỏ trong rừng nguyên sinh rậm thường xanh hỗn giao nhiệt đới gió mùa núi thấp hoặc trung bình Là loài cây có giá trị cao về kinh tế và bảo vệ nguồn gen Gỗ và tinh dầu là hai sản phẩm quan trọng của nguồn gen Sa mộc Gỗ sa mộc là bền, ít mối mọt, có hoa văn, màu sắc rất đẹp, và rất được ưa dùng đồ thủ công mĩ nghệ, làm các vật dụng trong gia đình, làm nhà

Trong quá trình sử dụng và lưu trữ, gỗ luôn có xu hướng hút và nhả ẩm

để đạt được độ ẩm thăng bằng nên trong quá trình gia công chế biến và sử dụng, đối với mọi loại hình sản phẩm thì nguyên liệu gỗ phải được hong phơi hoặc sấy khô đến độ ẩm nhất định Khi hong phơi hoặc sấy khô đến độ ẩm sử dụng luôn luôn xảy ra hiện tượng co rút hoặc giãn nở Và đã có một số nghiên cứu về hiện tượng co rút và giãn nỡ của các loài cây gỗ như Cao su, Mỡ, Keo tai tượng,… Đối với cây Sa mộc thì vẫn chưa có nghiên cứu nào rõ về sự biến

Trang 11

đổi tính chất co rút và giãn nở từ tâm ra vỏ gỗ nên việc nghiên tính chất trên của loài cây này là rất cần thiết

Khi hiểu biết tính chất co rút và giãn nở của gỗ sẽ góp phần hết sức quan trọng trong việc tính toán độ bền kết cấu của gỗ Xác định lựa chọn chế

độ gia công làm đồ gia dụng, nội thất, chế biến và sử dụng hợp lí phục vụ đời sống hàng ngày, và là cơ sở cho việc thẩm định chất lượng, giá trị của gỗ Khi xác định các thông số công nghệ của quá trình gia công cơ học hoặc xử lí thủy nhiệt, tính toán kết cấu gỗ và các trường hợp khác cần thiết phải xác định các khả năng chịu lực và biến dạng của gỗ

Vì vậy tôi chọn đề tài “Nghiên cứu sự biến đổi tính chất co rút và

giãn nở từ tâm ra vỏ của gỗ Sa mộc (Cunninghamia lanceolata (Lamb.)

Hook.) được trồng ở huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai”

1.2 Mục tiêu của đề tài

- Tạo điều kiện cho sinh viên được tiếp xúc, làm quen với thực tế công

tác nghiên cứu khoa học

Trang 12

- Góp phần hoàn chỉnh dữ liệu khoa học về nghiên cứu chuyên sâu độ

co rút giãn nở của loài cây gỗ hiếm Sa mộc

- Là cơ sở khoa học để lựa chọn các giải pháp bảo tồn, phát triển và sử dụng loài cây gỗ Sa mộc

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Xác định được ảnh hưởng của môi trường đến sự co rút và giãn nở bên trong cây gỗ cây Sa mộc

- Số liệu thu thập phải khác quan, trung thực và chính xác

- Nâng cao kiến thức thực tế của bản thân phục vụ cho công tác sau khi

ra trường

Trang 13

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

2.1.1 Tính chất hút nước của gỗ

Sức hút nước của gỗ là năng lực hút lấy nước vào gỗ khi ngâm gỗ trong nước Tính chất hút nước của gỗ được thể hiện ở độ hút nước Độ hút nước, thời gian hút nước phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như khối lượng thể tích, vị trí, chiều thớ, kích thước, nhiệt độ nước và độ ẩm ban đầu, trong đó yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất là khối lượng thể tích Khối lượng thể tích càng lớn thì khả năng hút nước càng chậm, gỗ lõi hút nước chậm hơn gỗ giác Mặt cắt xuyên tâm và mặt cắt tiếp tuyến của gỗ hút nước rất chậm Diện tích mặt cắt ngang càng lớn thì tố độ hút nước càng nhanh, ở nhiệt độ cao gỗ hút nước 16 nhanh nhưng không nhiều Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sức hút nước của gỗ là vấn đề có ý nghĩa thực tế trong kỹ thuật ngâm tẩm gỗ bằng hoá chất, dưới điều kiện áp suất thường Gỗ hút nước làm thay đổi độ ẩm của gỗ,

độ ẩm ảnh hưởng nhiều đến các tính chất vật lý và cơ học, đặc biệt trong giới hạn độ ẩm bão hoà thớ gỗ Trong công nghệ cần phải chú ý đặc điểm này của

gỗ để lựa chọn độ ẩm gỗ cho thích hợp Với loại gỗ có hút nước lớn, tốc độ hút nước nhanh, trong quá trình nấu bột giấy, dịch nấu dễ dàng thẩm thấu vào

gỗ Tuy nhiên trong sản xuất ván nhân tạo, lượng keo dễ bị thấm sâu, nhiều gây thiếu keo trên bề mặt dán dính nếu điều chỉnh độ nhớt của keo không phù hợp (Dương Văn Đoàn và cs, 2018) [2]

2.1.2 Tính chất thoát ẩm của gỗ

Đối với quá trình thoát ẩm từ gỗ tơi, ướt Trong thực tế khi co dãn người

ta dễ dàng nhận thấy rằng nó không đều theo 3 chiều Sở dĩ có sự sai khác nhau về co dãn giữa hai chiều dọc thớ và ngang thớ là do sự sắp xếp tế bào và cấu trúc vách tế bào Trong thân cây đại bộ phận tế bào xếp dọc thân cây (ở

Trang 14

gỗ lá rộng tổng cộng chiếm khoảng 90% thể tích) chỉ có tia gỗ là sắp xếp theo chiều ngang thân cây) Theo cấu trúc vách tế bào thì trong mỗi tế bào đại bộ phận các mixen sắp xếp song song với trục dọc tế bào Như vậy ta rút ra một kết luận: trong cây đại bộ phận các mixen sắp xếp song song với trục dọc thân cây Theo chiều ngang thớ, co dãn xuyên tâm nhỏ hơn theo chiều tiếp tuyến là

do tia gỗ gây nên Các tế bào tia gỗ nằm vuông góc với trục dọc thân cây Với mỗi tia gỗ thì co dãn ngang thớ là lớn hơn rất nhiều so với chiều dọc tia gỗ, chiều ngang tia gỗ chính là chiều tiếp tuyến của thân cây, chiều dọc tia gỗ là chiều xuyên tâm của thân cây Sự chênh lệch co dãn theo ba chiều, nhất là theo hai chiều xuyên tâm và tiếp tuyến dễ gây nên biến hình, cong vênh, nứt

nẻ (Dương Văn Đoàn và cs, 2018) [2]

2.1.3 Khối lượng thể tích của gỗ

Khối lượng thể tích là cơ sở hợp lý cho việc đánh giá giá trị của gỗ trong những lĩnh vực sử dụng khác nhau Khối lượng thể tích có mối liên quan mật thiết với các tính chất vật lý, cơ học khác của gỗ Khối lượng thể tích liên quan chặt chẽ đến sức co giãn của gỗ, theo các chiều thớ khác nhau, ảnh hưởng của khối thể tích là khác nhau Khối lượng thể tích là nhân tố quan trọng đối với khả năng truyền nhiệt của gỗ, gỗ nặng có khả năng truyền nhiệt cao hơn gỗ nhẹ Khối lượng thể tích cũng ảnh hưởng tới độ cứng của gỗ, gỗ

có khối lượng thể tích càng lớn thì độ cứng càng cao đồng thời có khả năng chịu mài mòn cao Khối lượng thể tích của gỗ nặng hay nhẹ là do cấu tạo của

gỗ quyết định, do đó khối lượng thể tích có ảnh hưởng đến hầu hết các tính chất vật lý, cơ học của gỗ Gỗ có khối lượng thể tích thấp thì cường độ cơ học của gỗ cũng thấp Khối lượng thể tích là một nhân tốc quan trọng trong việc

sử dụng nguyên liệu gỗ (Nguyễn Quý Nam và cs, 2018) [5]

Trang 15

2.2 Những nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam

2.2.1 Trên Thế giới

Nghiên cứu tính chất vật lí cơ học của gỗ và sự ổn định kích thước gỗ là

cơ sở quan trọng nhằm lựa chọn chế độ gia công làm đồ gia dụng, nội thất, chế biến và sử dụng hợp lí phục vụ đời sống hàng ngày, và là cơ sở cho việc thẩm định chất lượng, giá trị của gỗ Vì vậy trên thế giới đã có những tính

chất của các loài cây gỗ được nghiên cứu và tuyên bố

Từ những năm 30 thế kỉ trước, các nhà khoa học Nga, Đức, đã nghiên cứu và công bố tài liệu nói về tính chất của gỗ Mỡ Các nhà khoa học đã dùng phương pháp vật lý, hóa học hay kiêm dụng cả hai loại để xử lý gỗ, làm cho các chất xử lý thấm đọng vào trong các vách tế bào, hoặc làm phát sinh các mối liên kết giao nhau giữa các thành phần của gỗ, từ đó làm cho mật độ của

gỗ tăng lên, cường độ của gỗ cũng được nâng cao

Năm 1937, Stamm và Hansen đã nghiên cứu về độ co rút và giãn nở trên

gỗ qua xử nhiệt Các dữ liệu cho thấy tính hút ẩm của gỗ giảm một các đáng

kể Đối với gỗ được xử lý trong môi trường không khí thì độ cứng mất đi nhiều hơn khi được xử lí trong môi trường chất khí Đến năm 1946, Stamm lần đầu tiên có báo cáo thử nhiệm một hệ thống về khả năng làm tăng tính kháng nấm mốc cho gỗ khi xử lí trong bồn kim loại nóng Báo cáo cũng xác định về khả năng cái thiện được độ bền và ổn định kích thước Hệ số co rút và giãn nở (ASE) tăng lên 40 %, còn độ uốn tĩnh là 20 %

Một nghiên cứu về tính chất cơ học vật lý của một số loài gỗ được trồng

ở Việt Nam đã chỉ ra các tính chất cơ học vật lý của các loài cây như sau: Gỗ Bông gòn, Dó trầm, Gáo trắng, Lát mexico có khối lượng thể tích rất nhẹ (320

- 490 kg/m3); Hệ số co rút thể tích nhỏ (0,31 - 0,38); Giới hạn bền khi nén dọc thớ và giới hạn bền khi uốn tĩnh yếu (lần lượt là 203 – 369,5 kg/cm2 và 337 -

677 kg/cm2) Bông gòn và Dó trầm có sức chống tách yếu (6,28 - 9,8 kg/cm),

Trang 16

hệ số uốn va đập trung bình (0,51 – 0,54); Gỗ Gáo trắng cả 2 giá trị ở mức trung bình trong khi Lát Mexico có sức chống tách trung bình và hệ số va đập lớn Điểm bão hòa thớ gỗ thấp (24%) ở gỗ Dó trầm, trung bình (25 – 27,8%)

ở gỗ Gáo trắng và gỗ Lát Mexico nhưng cao (36,9%) ở gỗ Bông gòn Gỗ Keo

lá tràm, keo lai, Keo tai tượng, Xoan ta có khối lượng thể tích nhẹ (524 - 597 kg/m3); Hệ số co rút thể tích trung bình (0,39 – 0,46); Giới hạn bền khi uốn tĩnh yếu (627 - 1013 kg/cm2); Sức chống tách trung bình (10,5 – 12,7 kg/cm) Keo lai và Xoan ta có giới hạn bền khi nén dọc thớ yếu (335 - 417 kg/cm2) Keo lá tràm và Keo tai tượng có giới hạn bền khi nén dọc thớ ở mức trung bình (432 - 462 kg/cm2) Hệ số uốn va đập nhỏ (0,54) ở Xoan ta và cao (1,1)

ở Keo lá tràm.Gỗ Dầu rái, Sao đen, Xoan mộc có khối lượng thể tích trung bình (690 - 754 kg/m3); Điểm bão hòa thớ gỗ thấp (18 - 24%); Giới hạn bền khi nén dọc và uốn tĩnh ở mức trung bình ( lần lượt là 570 - 740 kg/cm2 và

1145 - 1635 kg/cm2); Sức chống tách trung bình (16 – 16,6 kg/cm) Hệ số co rút thể tích trung bình (0,45 – 0,54) ở gỗ Dầu rái và gỗ Sao đen nhưng cao (0,64) ở gỗ Xoan mộc Gỗ Dầu rái và gỗ Xoan mộc có hệ số uốn va đập trung bình (0,6 – 0,7), gỗ Sao đen có hệ số uốn va đập cao (1,08)(Lê Thu Hiền và

cs, 2011) [3]

Theo một tài liêu nhiên cứu về độ co rút của các loài cây gỗ Xoan ta tác giả Duong và cs (2018) [9] đã chỉ ra độ co rút tiếp tuyến (CRTT) trung bình

và độ co rút xuyên tâm (CRXT) lần lượt là 7,05%; 4,38%, và các giá trị này

có xu hướng tăng dần từ tâm ra vỏ Tác giả cũng chỉ rằng giữa khối lượng thể tích với CRTT và CRXT có mối tương quan tích cực

Một số nghiên cứu khác có liên quan đến cây sa mộc như: Đặc tính

chống vi khuẩn và chống oxy hóa của loài Cunninghamia lanceolata

(Poonam Jyoti và cs, 2018); Dự đoán tính chất cơ học của gỗ linh sam Trung

Trang 17

cây linh sam Trung Quốc (Cunninghamia lanceolata (Lamb.) Hook.) dựa trên

phương pháp Bayes (Zhang và cs, 2013); Thông số di truyền và tương tác

kiểu gen - môi trường của linh sam Trung Quốc (Cunninghamia lanceolata

(Lamb.) Hook.) ở tỉnh Phúc Kiến (Bian và cs, 2014)

2.2.2 Ở Việt Nam

Nghiên cứu về sự biến đổi tính chất co rút và giãn nở của gỗ cây Sa mộc đến thời điểm hiện tại ở Việt Nam vẫn chưa có nghiên cứu nào nhưng đã có một số công trình, nghiên cứu liên quan đế sự biến tính, thay đổi tính chất của một số loài cây khác

Những năm 60 của thế kỷ XX, nhà máy gỗ Cầu Đuống đã sản xuất sản phẩm tay đập và thoi dệt từ ván mỏng dán ép nhiều lớp, có thể coi đây là sản phẩm gỗ biến tính đầu tiên ở Việt Nam, theo phương pháp nhiệt - hoá - cơ

Phạm Văn Chương và các cộng sự ở Trường Đại học Lâm nghiệp trong

Đề tài Khoa học Công nghệ cấp bộ (2005): “Nghiên cứu sự thay đổi của tính chất vật lý, cơ học, hoá học của gỗ Sa Mộc và gỗ Mỡ theo tuổi cây làm cơ sở cho việc sử dụng hai loại gỗ này trong công nghiệp sản xuất ván ghép thanh”,

đã nghiên cứu một cách rất cơ bản về tính chất vật lý, cơ học, hoá học của gỗ

Sa Mộc và gỗ Mỡ Kết quả nghiên cứu cho thấy: Gỗ Mỡ phù hợp cho nhiều mục đích sử dụng như: sản xuất đồ mộc, ván nhân tạo, bột giấy,.… Tuy nhiên

về đặc tính công nghệ và tính năng sử dụng, gỗ Mỡ còn một số tồn tại như: cấu tạo không đều theo phương bán kính làm cho gỗ dễ bị biến dạng trong quá trình sử dụng, gỗ rất dễ bị nấm, mốc phá hoại, độ bền tự nhiên thấp (Phạm Văn Chương, 2005) [1]

Nghiên cứu về tính chất vật lý của loài cây Sa mộc trồng theo tài liệu Trong báo cáo tổng kết đề tài cấp bộ Nghiên cứu cấu tạo, tính chất vật lý, cơ học và thành phần hoá học của một số loài gỗ và tre thông dụng ở việt nam làm cơ sở cho chế biến, bảo quản và sử dụng năm 2015, của Nguyễn Tử Kim

Trang 18

và cộng sự Tác giả đã chỉ ra rằng: Đối với cây Sa mộc có KLTT là 0,31 – 0,42 /cm3, CRXT 1,33 %, CRTT là 2,9 %, GNXT là 3,1 % và GNTT là 4,3 % (Nguyễn Tử Kim, 2015) [4]

Nghiên về tính chất vật lý của loài Sa mộc dầu cùng chi với Sa mộc tác giả Hồ Ngọc Sơn, Nguyễn Thị Tuyên (2017) [6], có chỉ ra rằng: Đối với gỗ già có KLTT là 0,49 g/cm3, CRXT là 3,73 %, CRTT là 3,21%, GNXT là 2,66

% và GNTT là 3,06 % Tác giả kết luận rằng giá trị này là rất thấp

Một nghiên cứu cho thấy giữa Sa mộc trồng (Cunninghamia lanceolata

(Lamb.) Hook.) và Sa mộc dầu (Cunninghamia Konishii) có mối quan hệ họ hàng mật thiết với nhau (bootsttap 99%) với hệ sai khác rất nhỏ (0,018) (Nguyễn Thị Phương Trang và cs, 2009) [8], do vậy các nhà khoa học đã nhất trí nhập hai loài này làm một coi như là một thứ

Một số đề tài nghiên cứu có liên quan về cây Sa mộc và Sa mộc dầu ở Việt Nam như: Nghiên cứu đa dạng di truyền quần thể nhằm mục đích bảo tồn hai loài pơ mu (Fokienniahodginsii (DUNN) A Henry & Thomas)

và sa mộc dầu (Cunninghamia konishii), mối quan hệ họ Hoàng của một số loài trong họ Hoàng đàn (Cupressaceae) ở Việt Nam (Nguyễn Thị Phương

Trang, 2012); Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và kỹ thuật gieo ươm sa mộc

dầu (Cuninghamia konishii) từ hạt tại khu bảo tồn tây côn lĩnh tỉnh Hà Giang

(Nguyễn Công Hoan, 2015) Nghiên cứu thực trạng phát triển rừng trồng Sa

mộc(Cunninghamia lanceolata Hook) tại huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang

(Nguyễn Ngọc Tuấn, 2016); Góp phần xác định mức độ quan hệ họ hàng giữa

sa mộc trồng (Cunninghamia lanceolata (Lamb.) Hook.) và sa mộc Cunninghamia Konishii (họ hoàng đàn Cupressaceae) ở Việt Nam bằng

phương pháp xác định trình tự 18s-rDNA ( Nguyễn Thị Phương Trang, Nguyễn Minh Tâm, Phan Kế Long, Phan Kế Lộc, 2009); Đa dạng di truyền

Trang 19

áp dụng cho công việc bảo tồn (Nguyễn Minh Tâm, Nguyễn Thị Phương Trang, Nguyễn Thị Hoa, 2009); Nghiên cứu biến động cấu trúc và chất lượng rừng trồng Sa mộc theo tuổi tại huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai (Dương Văn Huy, Bùi Mạnh Hưng); Đặc điểm sinh học và thành phần hóa học tinh dầu

loài sa mộc dầu (cunninghamiakonishii hayata) ở khu bảo tồn thiên nhiên Pù

Hoạt, Nghệ An (Nguyễn Danh Hùng, Nguyễn Thành Chung , Phan Thị Quỳnh Nga, Nguyễn Xuân Trường , Đỗ Ngọc Đài)

2.3 Đặc điểm cây Sa mộc

2.3.1 Đặc điểm hình thái

Sa mộc là loài gỗ lớn, thường xanh, cao tới 40 – 45 m, đường kính ngang ngực đạt tới 70 – 120 cm, thân thẳng, hình trụ, phân cành cao trên 20m Vỏ nâu đen, thường tách ra từng mảnh Cành con phân ngang tạo thành nhiều tầng Tán cây hình tháp, dày, màu sẫm Lá màu xanh, nhọn, mọc trên mặt phẳng, xếp xoắn, dài 4-5 cm, rộng 0,2-0,3 cm, cứng, đầu lá nhọn, mép có răng cưa Mặt trên xanh bóng, mặt dưới mốc hai bên gân chính Nón đơn tính hình trứng, vảy có râu ở đỉnh Nón đực mọc tập trung 15-20 chiếc thành bông ở đầu cành Nón cái dạng trứng, dài 3-4cm, rộng 3cm, mọc ở thấp hơn nón đực, đơn độc Hạt dạng trái xoan, có cánh, dài 5-7 mm, rộng 3-5 mm [13]

2.3.2 Đặc điểm sinh học và sinh thái học

Cây sa mộc ưa nơi khí hậu ôn hòa, ít tháng rét quá và cũng không có tháng quá nóng Thích hợp ở nhiệt độ trung bình năm từ 16-19 0C lượng mưa năm 1400-1900 mm Độ ẩm không khí của các tháng trong năm trên 75%, vùng có nhiều sương mù và ánh sang tán xạ [10]

Cây Sa mộc ưa đất sâu ẩm, cát pha, thoát nước, mát thoáng, độ pH lớn hơn 5, nhiều mùn, còn mang tính chất đất rừng Ưa đất phát triển trên đá phiến thạch sét hoặc phiến thạch mica, đá vôi, đá macma các loại, có tầng dầy 0,7-0,8 m trở lên Không thích hợp trên đất kiềm hoặc mặn

Trang 20

Phân bố tự nhiên ở miền trung và nam Trung Quốc, Đài Loan, bắc Lào

và Việt Nam Loài từ lâu được coi là loài bản địa của Việt Nam vì đã được nhập trồng thành công ở một số tỉnh biên giới phía Bắc, ở các vùng núi có độ cao trên 700m như Hà Giang, Lào Cai, Cao Bằng, Quảng Ninh, Lạng Sơn và thích hợp cho việc trồng cảnh quan trong các thành phố, khu nghỉ mát như Đà Lạt, Sa Pa, Tam Đảo, Ba Vì Loài cây này cũng đã được trồng rất thành công

ở Nam Trung Quốc [10]

2.3.3 Giá trị

Gỗ vàng nhạt hay trắng, xốp nhưng cứng, chịu mối mọt Được dùng để làm nhà, công cụ và đồ gia dụng Sa mộc được trồng từ lâu tại Sa Pa (Lào Cai), Đà Lạt (Lâm Đồng) như loài cây trồng cảnh quan Do có dáng đẹp, thân cây to, thẳng nên rất được ưa chuộng Sa mộc dễ trồng, không bị sâu bệnh phá hoại nên trồng rừng có có nhiều thuận lợi Sa mộc có khả năng tái sinh chồi rất cao [10]

Trang 21

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là biến đổi khối lượng thể tích, tính chất co rút

và giãn nở của gỗ Sa mộc thuộc rừng trồng ở huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai

- Thuộc họ: Hoàng đàn (Cupressaceae)

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành

- Địa điểm: Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

- Thời gian tiến hành: từ ngày 01 tháng 01 năm 2019 đến ngày 30 tháng

05 năm 2019

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu sự biến đổi khối lượng thể tích gỗ Sa mộc theo hướng từ

Trang 22

Chọn 3 cây Sa mộc có đường kính tương đương nhau từ rừng trồng thuần loài tại xã San Sả Hồ, huyện Sapa, tỉnh Lào Cai, đường kính tại 1.3 m tính từ mặt đất của mỗi cây sẽ được đo và đánh dấu vị trí Bắc - Nam trước khi chặt Sau khi chặt chiều cao của mỗi cây được đo Thông tin cơ bản của các cây mẫu được trình bày trong bảng 3.1

Bảng 3.1 Thông tin cơ bản của các cây mẫu

Chú thích: D1.3 là đường kính của cây tại vị trí 1.3 m tính từ mặt đất;

Hvn là chiều cao của cây tính từ gốc đến ngọn

Từ mỗi cây các khúc gỗ dài 50cm sẽ được cắt ở 1 vị trí là 1.3 (m) từ mặt đất lên Sau đó từ mỗi khúc, 1 tấm ván dày tấm 6 cm được xẻ đi qua tâm của khúc gỗ Tổng số tấm ván xẻ được là 3 tấm Các tấm ván được để khô tự nhiên cho ráo nước trong 1 tháng Mỗi tấm sẽ được đánh lần lượt là: Tên cây đánh dấu thứ tự: I, II, III

Cắt mẫu từ mỗi tấm ván liên tiếp từ tâm ra vỏ tại các vị trí 2 cm, 4 cm, 6

cm, 8 cm, 10 cm thành các mẫu có kích thước 2×2×50 cm, ở mỗi vị trí cắt được 4 mẫu có kích thước 2×2×50 (cm), như vậy tổng số mẫu từ 3 mẫu ván là

60 mẫu Sau đó từ mỗi mẫu 2×2×50 (cm) cắt ra được 4 mẫu có chiều dài x chiều rộng x dày: 2×2×2 (cm) Như vậy tổng số mẫu có kích thước 2×2×2 (cm) đem đi thí nghiệm là 240 mẫu Sau khi cắt tổng là 240 mẫu cho cả tính chất co rút và giãn nở

Trang 23

3.4.2.1 Phương pháp đo khối lượng thể tích (theo TCVN 8048-2: 2009) [7]

Trong nghiên cứu này chúng tôi sẽ sử dụng khối lượng thể tích ở trạng thái khô kiệt Khối lượng thể tích khô kiệt được tính cho từng mẫu theo công thức sau:

Dài 50 cm

Hướng nam

Dài 50 cm

Mẫu kích

thước:

2×2×2 cm

Ngày đăng: 11/05/2020, 23:35

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w