1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Bảo Hóa (97-03)

103 10 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 504 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở một nơi như Sài Gòn, là trung tâm tiếp xúc văn hóa Đông – Tây, dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa, nền văn học đô thị diễn tiến hết sức phức tạp do tính đachiều nhưng vẫn có hệ thống riêng,

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

***********

KHÓA LUẬN

CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA NGUYỄN BẢO HÓA

Khóa luận tốt nghiệp ngành: Văn học Việt Nam Giảng viên hướng dẫn: TS Phan Mạnh Hùng Sinh viên thực hiện: Lã Thị Hồng Thuấn

MSSV: 1156010178 Khóa: 2011 – 2015 Lớp: Văn học

TP.HỒ CHÍ MINH – 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi muốn bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến Tiến sĩ Phan Mạnh Hùng, là người đã nhiệt tình hướng dẫn, góp ý cẩn thận và giúp đỡ một số tài liệu cho tôi trong quá trình hoàn thành khóa luận

Cảm ơn PGS TS Võ Văn Nhơn đã giúp đỡ về tác phẩm của Nguyễn Bảo Hóa để tôi thực hiện đề tài này

Cảm ơn các thầy cô khoa Văn học & Ngôn ngữ cùng những bài nghiên cứu đã hỗ trợ rất nhiều cho tôi trong quá trình thực hiện khóa luận

Cảm ơn Võ Anh Vũ đã chia sẻ một số tư liệu về Văn học miền Nam

Cảm ơn gia đình đã tạo điều kiện cho tôi học tập và nghiên cứu Cảm ơn thầy cô

và bạn bè đã ủng hộ những gì tôi làm

TÁC GIẢ

Trang 3

MỤC LỤC

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

4 Phương pháp nghiên cứu 7

5 Cấu trúc của đề tài: 8

NỘI DUNG 9

CHUƠNG I 9

NGUYỄN BẢO HÓA – GUƠNG MẶT TIÊU BIỂU CỦA VĂN CHUƠNG ĐÔ THỊ NAM BỘ GIAI ĐOẠN 1945 – 1975 9

1.1 Giới thiệu văn học đô thị Nam Bộ 1945 – 1975 9

1.1.1 Văn học yêu nước ở đô thị Nam Bộ (1945 – 1975) 10

1.1.2 Văn học tự do (1954 – 1975) 13

1.2 Nguyễn Bảo Hóa – cuộc đời và khái quát sự nghiệp 16

1.2.1 Cuộc đời 16

1.2.2 Khái quát sự nghiệp văn học 19

TIỂU KẾT 28

CHƯƠNG 2 30

NGUYỄN BẢO HÓA – NHÌN TỪ HOẠT ĐỘNG BÁO CHÍ, XUẤT BẢN, 30

PHÊ BÌNH VĂN HỌC VÀ BIÊN KHẢO 30

2.1 Hoạt động báo chí 30

2.1.1 Phong trào Báo chí thống nhất năm 1946 32

2.1.2 Phong trào Bảo vệ hòa bình năm 1954 34

2.1.3 Phong trào “Ngày ký giả đi ăn mày” năm 1974 38

2.2 Hoạt động xuất bản 40

Trang 4

2.3 Hoạt động biên khảo (lịch sử) và phê bình văn học 44

2.4 Những đóng góp của Nguyễn Bảo Hóa cho sự phát triển của báo chí 50

TIỂU KẾT 52

CHƯƠNG 3 53

NGUYỂN BẢO HÓA - NHÌN TỪ HOẠT ĐỘNG SÁNG TÁC 53

3.1 Các khuynh hướng tiểu thuyết 53

3.1.1 Tiểu thuyết lịch sử 53

3.1.2 Tiểu thuyết tâm lý xã hội 58

3.1.3 Tiểu thuyết trinh thám 62

3.2 Các đề tài chính trong tiểu thuyết của Nguyễn Bảo Hóa 64

3.2.1 Đề tài yêu nước 64

3.2.2 Đề tài lịch sử 68

3.3 Các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Bảo Hóa 71

3.3.1 Nhân vật người anh hùng - chiến sĩ 71

3.3.2 Kiểu nhân vật nữ tranh đấu 76

3.4 Mấy đặc điểm về nghệ thuật 79

3.4.1 Ngôn ngữ 79

3.4.2 Kết cấu tác phẩm 80

3.5 Đóng góp của Nguyễn Bảo Hóa về nội dung tư tưởng 81

TIỂU KẾT 86

KẾT LUẬN 87

PHỤ LỤC 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 5

D N NH P ẪN NHẬP ẬP

1 Lý do ch n đ tài ọn đề tài ề tài

Lịch sử Việt Nam trải qua hai cuộc chiến tranh chia cắt đất nướcc kéo theo

sự chia cắt về địa lý, văn hóa văn nghệ,… đã khiến cho sự phát triển các giá trị nàykhông đựơc đồng bộ giữa hai miền Chính vì thế mà có sự khác biệt trong tiếntrình phát triển và gắn kết đất nước thống nhất

Trong dòng chảy đó của lịch sử - xã hội, văn chương là địa hạt thấy rõ sự

khác biệt nhất Trong quyển Văn học Việt Nam 1945 – 1975 (1988) do Nguyễn

Đăng Mạnh, Nguyễn Trác, Trần Hữu Tá đồng biên soạn, có phân hai ranh giới vănhọc giữa hai miền Bắc - Nam thành văn học miền Bắc và văn học đô thị miền

Nam Lê Đình Kỵ cũng có quyển Nhìn lại tư tuởng văn nghệ thời Mỹ - Nguỵ

(1987) bàn về văn nghệ ở đô thị miền Nam Tuy nhiên, điểm chung của hai quyểnsách trên đều nhìn về văn học đô thị miền Nam với cái nhìn tiêu cực, phiến diện

Lâu nay, nói đến văn học Việt Nam, hầu hết chúng ta đều chú trọng đếnvăn học Bắc Việt – mảng văn học được coi như “chính thống” của nước ta Trongkhi đó, bộ phận văn học đô thị miền Nam là một vùng đất hoang vu cần thêmngười khai phá nhưng đến nay vẫn còn để ngỏ Có lẽ người ta còn e ngại trướcmột nền văn học bị coi là “lai căng”, mất gốc khi nhìn vào bối cảnh thời bấy giờ

Ở đô thị miền Nam từ 1945 – 1975 là giai đoạn phát triển rực rỡ của các thể loạitiểu thuyết, báo chí, kể cả các tác phẩm chịu ảnh hưởng của nước ngoài, cụ thể làPháp và Trung Quốc Đồng thời, sự du nhập của các học thuyết triết học được đưavào chính trị như một công cụ điểu khiển của chính quyền Sài Gòn, đã khiến chomọi cái nhìn về nên văn nghệ miền Nam thời kỳ này đều mang sắc thái tiêu cực,bài xích Chính vì thế mà việc nghiên cứu văn học đô thị miền Nam vẫn là mộtcánh cửa còn dấu niêm phong, chưa có thật nhiều những công trình nghiên cứu vềcác tác gia, tác phẩm một cách đầy đủ và toàn vẹn nhất

Tuy nhiên trong nhiều năm trở lại đây, hàng loạt các tác phẩm, tác giả củavăn học đô thị miền Nam đã được xuất hiện trở lại Như một cuộc khai quật di chỉ

Trang 6

văn chương, ngày càng nhiều những bài viết, công trình nghiên cứu về văn học đôthị miền Nam xuất hiện, với cái nhìn khách quan và sáng rõ hơn Nhiều tác giả, tácphẩm được khẳng định lại về giá trị một cách công tâm và minh bạch hơn.

Nhìn lại lịch sử để thấy, sau năm 1945, khi văn học miền Bắc chuyểnhướng sang thời kỳ văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa thì ở miền Nam, luồng giócách mạng đã thổi bùng lên không khí đấu tranh sôi động của lớp nhà văn trẻ hiệnthời Ở một nơi như Sài Gòn, là trung tâm tiếp xúc văn hóa Đông – Tây, dưới chế

độ Việt Nam Cộng hòa, nền văn học đô thị diễn tiến hết sức phức tạp do tính đachiều nhưng vẫn có hệ thống riêng, trong đó nổi lên hai xu huớng chính: văn họcyêu nước và văn học phản ánh cái cá nhân theo các trào lưu văn học phương Tây.Nói về văn học yêu nước, có lẽ ở đô thị miền Nam, dòng văn học này phát triểnmạnh mẽ không thua kém miền Bắc

Mảng văn học yêu nước ở đô thị miền Nam thời kỳ này tuy có phần kém rõrệt so với mảng văn học tự do, nhưng cũng để lại nhiều tên tuổi tiêu biểu nhưThẩm Thệ Hà, Vũ Anh Khanh, Lý Văn Sâm, Nguyễn Bảo Hóa (Tô Nguyệt Đình),

… Trong số các nhà văn ấy, Nguyễn Bảo Hóa là một gương mặt khá tiêu biểu.Cuộc đời văn nghệ song hành cùng cuộc đời cách mạng Ông viết cả văn học và sửhọc, biên khảo Một lúc đóng vai trò là nhà văn, nhà báo, sử gia, lại cùng vớiThẩm Thệ Hà đứng tên chung một nhà xuất bản Nguyễn Bảo Hóa là một nhân vậthoạt động khá sôi nổi và có nhiều đóng góp đáng kể Đặc biệt về văn chương vàbáo chí Nếu các tác giả cùng thời như Thẩm Thệ Hà, Vũ Anh Khanh,… sáng táctheo chủ đề thanh niên yêu nướcc, thể hiện tư tuởng tiến bộ, tiếp thu cái mới, ảnhhuởng của Tự Lực Văn Đoàn thì Nguyễn Bảo Hóa vui vẻ đi ngược về lịch sử,chọn dòng tiểu thuyết lịch sử để sống một đời văn của riêng mình, ngợi ca và khơidậy lòng yêu nước trong thanh niên Có thể coi đó là lí do mà ngừơi viết muốnchọn đề tài về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Nguyễn Bảo Hóa, một phần đểgiới thiệu gương mặt mà chúng ta ít nhiều chưa được biết đến, mặt khác, góp phầngiúp cho cái nhìn về văn học đô thị miền Nam thời kỳ 1945 – 1975 được rõ nét,sinh động và đầy đủ hơn

Trang 7

2 L ch s nghiên c u v n đ ịch sử nghiên cứu vấn đề ử nghiên cứu vấn đề ứu vấn đề ấn đề ề tài

Nguyễn Bảo Hóa là một nhà văn, nhà báo đồng thời cũng là một chiến sĩcách mạng Cuộc đời nghệ thuật song hành với đời hoạt động cách mạng đã manglại cho văn chương Nguyễn Bảo Hóa cái khí thế yêu nước chung của hầu hết cácnhà văn – chiến sĩ nhưng vẫn mang đậm dấu ấn riêng Tuy nhiên, đến nay vẫnchưa có một công trình nghiên cứu nào về nhà văn này đươc thực hiện, ngoại trừmột số bài viết ít ỏi, khái quát sơ bộ về cuộc đời ông

Trên trang namkyluctinh.org có hai bài của tác giả Nguyễn Văn Sâm viết về Nguyễn Bảo Hóa: Tô Nguyệt Đình (1920 – 1988), tóm tắt tiểu sử Nguyễn Bảo Hóa – nhà văn và Nguyễn Bảo Hóa sử gia với lập trưòng ngừơi dân bị áp bức trích trong quyển Văn chương tranh đấu miền Nam (1969), dưới góc nhìn và đánh giá

về một ngừơi viết sử Trong đó, tác giả cũng bày tỏ thái độ rõ ràng đối với bộ sử

Nam Bộ chiến sử (1949) của Nguyễn Bảo Hóa.

Nguyễn Q Thắng trong Văn học Việt Nam nơi miền đất mới (2008) với bài viết Tô Nguyệt Đình với “Bộ áo cà sa nhuộm máu” mang tính chất giới thiệu tác giả và tác phẩm, đồng thời trích đăng truyện ngắn Mã Lê của Nguyễn Bảo Hóa được đăng trên Nhân loại bộ mới (1956) – một truyện ngắn hiếm hoi của Nguyễn

Bảo Hóa được tìm thấy

Bài viết đầy đủ nhất phải kể đến Người cầm bút thắp sáng một niềm tin của tác giả Nguyễn Mẫn, trích trong quyển Ấn tượng văn chuơng phuơng Nam (2009).

Bài viết đã khái luợc cuộc đời hoạt động của Nguyễn Bảo Hóa và điểm qua một số

tác phẩm tiêu biểu của ông như Bộ áo cà sa nhuộm máu, Tiếp Bội, Mía sâu có đốt, trong đó, tác giả tỏ rõ thái độ yêu thích và đánh giá cao tác phẩm Bộ áo cà sa nhuộm máu, tác phẩm được cho là xuất sắc nhất của Nguyễn Bảo Hóa

Phan Mạnh Hùng trong bài viết Tiểu thuyết lịch sử - một khuynh hướng nổi bật trong văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ đầu thế kỷ XX (2009) đăng trên trang khoavanhoc-ngonngu.edu.vn cũng có vài dòng nhận xét, đánh giá về các tác phẩm

của Tô Nguyệt Đình, nhưng cũng chỉ nói chung chung về đề tài tác phẩm của Tô

Trang 8

Nguyệt Đình, nhằm làm nổi bật lên khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử ở miền Namđầu thế kỷ XX.

Trong quyển Văn học miền Nam 1954 – 1975 (2012), tác giả Huỳnh Ái

Tông cũng chỉ dừng lại ở việc điểm qua tên tuổi Nguyễn Bảo Hóa dưới bút danh

Tô Nguyệt Đình, ngoài ra cũng không bổ sung được thêm thông tin nào khác

Ngoài ra trong một số bài viết về văn học đô thị miền Nam như Văn học miền Nam tự do 1954 – 1975 của tác giả Nguyễn Vy Khanh, Văn học miền Nam tổng quan của Võ Phiến, Ảnh hưởng của tiểu thuyết Tự lực văn đòan đến tiểu thuyết ở đô thị Nam Bộ 1945 – 1954 của Nguyễn Thị Phuơng Thúy, Tổng luận sáu mươi năm văn nghệ Việt Nam 1900 - 1956 của Thế Phong, cái tên Nguyễn

Bảo Hóa Tô Nguyệt Đình chỉ được nhắc qua như một sự điểm mặt chứ chưa hề cómột bài viết, công trình cụ thể và hoàn chỉnh nào nghiên cứu về sự nghiệp vănchương của ông

Bắt nguồn từ những điều trên, đề tài này với tham vọng của ngừơi viết là cóthể ít nhiều có một công trình nghiên cứu về Nguyễn Bảo Hóa một cách đầy đủnhất có thể, đặt viên gạch đầu tiên cho việc nghiên cứu chuyên sâu về Nguyễn BảoHóa sau này

3 Đối tuợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tuợng nghiên cứu: Cuộc đời và sự nghiệp văn chuơng của Nguyễn Bảo

Trang 9

5 C u trúc c a đ tài: ấn đề ủa đề tài: ề tài

Ngoài phần dẫn nhập, cấu trúc đề tài đi theo lối ổn định gồm 3 chương:

Chuơng 1: Nguyễn Bảo Hóa – gương mặt tiêu biểu của văn chương đô thị Nam Bộ giai đọan 1945 – 1975

Chương này sẽ trình bày khái quát về tình hình văn học đô thị miền Namtrong giai đoạn 1945 – 1975 theo hai giai đoạn 1945 – 1954 và 1954 – 1975, qua

đó làm rõ mảng văn học theo khuynh hướng yêu nước Từ đó, trình bày cuộc đời

và sự nghiệp của Nguyễn Bảo Hóa, định vị Nguyễn Bảo Hóa trong giai đoạn vănhọc này

Chuơng 2: Nguyễn Bảo Hóa – nhìn từ hoạt động báo chí, xuất bản, phê bình văn học và biên khảo.

Nhiệm vụ của chương này là trình bày cụ thể về những hoạt động của

Nguyễn Bảo Hóa trong các lĩnh vực từ báo chí, xuất bản đến phê bình văn học vàbiên khảo Từ quá trình tham gia sôi nổi các phong trào báo chí đến hoạt độngxuất bản, viết biên khảo, phê bình, đưa ra cái nhìn toàn diện về cuộc đời đấu tranhcủa Nguyễn Bảo Hóa

Chuơng 3: Nguyễn Bảo Hóa nhìn từ hoạt động sáng tác văn học

Chương này chỉ đánh giá vai trò và những đóng góp Nguyễn Bảo Hóa trênđịa hạt văn học bằng việc tìm hiểu, phân tích nội dung, tư tưởng các tác phẩm củaông Qua việc tìm hiểu sâu sát các giá trị tinh thần mà Nguyễn Bảo Hóa mang lại,chúng ta có cái nhìn sâu sắc hơn về cuộc đời ông, đồng thời thấy được ở ông mộtcon người suốt đời sống và đấu tranh, kiên định với lý tưởng yêu nước

Trang 10

N I DUNG ỘI DUNG

CHU NG I ƠNG I

NGUY N B O HÓA – GU NG M T TIÊU BI U C A VĂN CHU NG ĐÔ TH NAM ỄN BẢO HÓA – GUƠNG MẶT TIÊU BIỂU CỦA VĂN CHUƠNG ĐÔ THỊ NAM ẢO HÓA – GUƠNG MẶT TIÊU BIỂU CỦA VĂN CHUƠNG ĐÔ THỊ NAM ƠNG I ẶT TIÊU BIỂU CỦA VĂN CHUƠNG ĐÔ THỊ NAM ỂU CỦA VĂN CHUƠNG ĐÔ THỊ NAM ỦA VĂN CHUƠNG ĐÔ THỊ NAM ƠNG I Ị NAM

B GIAI Đ AN 1945 – 1975 ỘI DUNG ỌAN 1945 – 1975 1.1 Gi i thi u văn h c đô th Nam B 1945 – 1975 ới thiệu văn học đô thị Nam Bộ 1945 – 1975 ệu văn học đô thị Nam Bộ 1945 – 1975 ọn đề tài ịch sử nghiên cứu vấn đề ộ 1945 – 1975

Từ những bước chân đầu tiên của người Pháp in dấu ở miền Nam Việt Namvào thế kỷ XX, các cuộc tiếp xúc với văn hóa phương Tây đã mang lại chomảnh đất Nam Bộ này một sắc thái mới mẻ Miền Nam là nơi chịu sự đô hộcủa Pháp sớm nhất, trước miền Trung và miền Bắc hai mươi năm nên nền vănhóa ở đây cũng bắt nhịp với phương Tây và phát triển sớm hơn so với các vùngkhác Từ những biến đổi về kinh tế, chính trị, một nền văn nghệ mới được rađời, hay nói đúng hơn là có sự thay đổi về bộ mặt của nó

Xét về mặt chính trị, lịch sử, có lẽ không phải là vô lý khi có những quanđiểm cho rằng đây là thời kỳ phân ly, chia cắt; thời kỳ đen tối của đất nước.Nhưng đứng trên bình diện văn nghệ, phải thừa nhận một điều rằng văn nghệđang đi lên trong tiến trình của nó Gạt bỏ những thiên kiến phủ định, coi thứvăn hóa Pháp thuộc là văn hóa đồi trụy, là “nghệ thuật đen” như trước đâychúng ta đã từng nhận định, có thể thấy rằng văn học ở miền Nam, đặc biệt làvăn học đô thị đã sống một cuộc đời hết sức rực rỡ Nếu gọi đó là thời “hoàngkim” của văn học đô thị miền Nam có vẻ không phải là ngoa

Từ những năm đầu của thế kỷ XX, sự tiếp xúc văn hóa phương Tây, màảnh hưởng nặng nề nhất là Pháp và với Trung Hoa đã khiến cho văn nghệ miềnNam mang một diện mạo hết sức đặc sắc Sự xuất hiện của văn xuôi viết bằngchữ quốc ngữ, của những truyện dịch từ tiểu thuyết Trung Hoa một cách ồ ạt

đã mang đến một đời sống văn nghệ sôi động ở miền Nam thời bấy giờ, sôiđộng hơn hẳn so với miền Bắc Những tác giả đầu tiên đặt nền móng cho tiểuthuyết viết bằng chữ quốc ngữ như Nguyễn Trọng Quản, Nguyễn Chánh Sắt,

Trang 11

Hồ Biểu Chánh, với sự ảnh hưởng của kỹ thuật tiểu thuyết phương Tây đãlàm cho văn học đổi mới nhưng vẫn giữ được tinh thần, đạo lý của người ViệtNam Sự học tập, tiếp thu cái mới và tinh thần lưu giữ tinh hoa cái cũ đã giúpcho văn học đô thị miền Nam dù hiện đại nhưng vẫn đậm tinh thần dân tộc.Cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 nổ ra trên toàn quốc như một làn sónglan tỏa từ Bắc chí Nam Nếu ở miền Bắc, không khí đấu tranh quyết liệt, ngờingời thì ở miền Nam, sự ảnh hưởng từ cuộc cách mạng đó đã dậy lên sức chiếnđấu mạnh mẽ trong giới hầu hết các tầng lớp nhân dân Mà thấy rõ nhất, tiêubiểu nhất là sự chuyển biến tư tưởng trong tầng lớp trí thức Như một ngọn lửacháy âm ỉ gặp ngọn gió mãnh liệt, các cuộc đấu tranh ở đô thị miền Nam diễn

ra sôi nổi Bởi lẽ Sài Gòn khi ấy là trung tâm văn hóa - chính trị, nơi Pháp đặtchính phủ cai trị, nhằm chia cắt miền Nam ra khỏi Việt Nam

Văn học đô thị Nam Bộ trong giai đoạn này cũng có những chuyển biến hếtsức phức tạp và đa dạng do bị chi phối bởi các yếu tố chính trị và ảnh hưởngvăn hóa ngoại quốc Chính vì thế, muốn xác định một bộ mặt thống nhất chovăn học Nam Bộ thời kỳ này không phải là dễ, cần phải có sự dung hòa, tổnghợp được tất cả các khía cạnh của nó Có nhiều quan điểm khác nhau về cáchphân kỳ văn học ở giai đoạn này, nhưng phần lớn có hai xu hướng chính và rõrệt nhất là chia theo mốc thời gian lịch sử: giai đoạn 1945 – 1954, 1955 – 1965,

1965 – 1975 và chia theo khuynh hướng văn học: văn học yêu nước và văn họcảnh hưởng phương Tây Tuy nhiên, để làm rõ văn học Nam Bộ trong giai đoạnnày, người viết chọn cách chia theo khuynh hướng văn học nhằm thể hiện rõ sựvận động của từng khuynh hướng

1.1.1 Văn h c yêu n ọn đề tài ưới thiệu văn học đô thị Nam Bộ 1945 – 1975 ở đô thị Nam Bộ (1945 – 1975) c đô th Nam B (1945 – 1975) ịch sử nghiên cứu vấn đề ộ 1945 – 1975

Thực chất, mảng văn chương yêu nước ở đô thị miền Nam không phảiđến sau 1945 mới xuất hiện, mà trước đó đã có một vài sáng tác lẻ tẻ, nhưngchưa thể hiện rõ rệt ý thức tranh đấu mà chỉ dừng lại ở việc bày tỏ những rungđộng, những nghĩ suy về những vấn đề quốc gia, dân tộc Đến năm 1945, hầunhư các nhà văn đều hướng ngòi bút về phía tranh đấu

Trang 12

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, trong giới văn nghệ có một sự chuyểnđổi vai trò, vị trí của các văn nghệ sĩ, trí thức Những nhà văn thuộc lớp cũ,trước 1945 như Hồ Biểu Chánh, có xu hướng khựng lại, không còn viết vănnữa mà chuyển sang nghiên cứu Phật học, Nho giáo Do một số trí thức, trong

đó có Hồ Biểu Chánh, tham gia chính phủ “Nam Kỳ quốc tự trị” của bác sĩNguyễn Văn Thinh mà không hề biết đó là âm mưu của Pháp Một phần do đờisống thay đổi nhanh chóng sau 1945, các vấn đề nóng bỏng của xã hội đã thuhút các nhà văn Lớp nhà văn cũ không bắt kịp thời đại, thêm nữa do thị hiếucủa độc giả cũng bắt đầu thay đổi Từ đó, văn học có sự nổi lên của các cây búttrẻ như Thẩm Thệ Hà, Vũ Anh Khanh, Hồ Hữu Tường, Lý Văn Sâm, Dương

Tử Giang, Nguyễn Bảo Hóa, Việt Quang, Bùi Nam Tử, với những sáng tácgiàu lý tưởng tranh đấu, giàu tình cảm yêu thương quê hương, bà con lao động,nông dân Sự ra đời và trưởng thành của lớp nhà văn trẻ đã mang lại một diệnmạo mới cho văn học miền Nam sau 1945 Văn học yêu nước phát triển rấtmạnh mẽ, một phần vì dư âm của khí thế tháng Tám năm 1945 vừa qua, mộtphần vì sự xâm lược trở lại của thực dân Pháp khiến cho văn nghệ phải đấutranh trên trường tư tưởng Các tác phẩm ra đời nhằm cổ vũ, khích lệ tinh thầnđấu tranh vì độc lập dân tộc

Chịu ảnh hưởng của văn nghệ cách mạng đi ra từ cuộc Cách mạngTháng Tám nên các nhà văn miền Nam thời kỳ này cũng có sự chuyển hướngtrong ngòi bút của mình Nhà văn không chỉ đơn thuần viết về các đề tài đạo

lý, phong tục, truyện võ hiệp, anh hùng hành hiệp trượng nghĩa nữa mà thêmvào đó, nhiệm vụ của các nhà văn là tranh đấu

“Nhà văn ở miền Nam Việt Nam, trước hết là một chiến sĩ.Nhiệm vụ của họ là bằng sở trường của mình, cổ võ nhân dân và bộ đội

ta đánh thắng giặc Mỹ Những lời họ viết ra phải có ích lợi cho sựnghiệp kháng chiến hiện nay Phong cách diễn đạt, thể loại biểu hiện tấtnhiên có nhiều vẻ, nhưng mục đích trước mắt chỉ là 1: văn học phải tỏ

rõ bản lĩnh của mình là một thứ vũ khí sắc bén và có sức mạnh thôi

Trang 13

thúc, làm cho người đọc phải nhỏm dậy, lao vào cuộc kháng chiến vớitất cả sự hả hê khoái trá, sôi nổi và phơi phới.” [3; tr.41]

Thể loại văn xuôi thời kỳ này là phần lớn là tiểu thuyết Dễ dàng thấy rằngcác nhà văn trẻ trên phần lớn chịu ảnh hưởng lối tiểu thuyết luận đề của Tự lựcvăn đoàn ở miền Bắc Tiểu thuyết luận đề minh họa cho một tư tưởng, mộtquan niệm có sẵn, một vấn đề mà nhà văn muốn thể hiện, tìm cách đấu tranhcho nó Các nhà văn trẻ ở miền Nam thời bấy giờ xuôi theo dòng đấu tranh,dùng văn nghệ làm vũ khí để tranh đấu, đã chọn thể loại tiểu thuyết luận đề đểbày tỏ quan điểm, tư tưởng của mình Họ cũng cùng chung quan niệm với cácnhà văn miền Bắc khi sử dụng văn chương để cổ vũ cho cuộc đấu tranh chungcủa dân tộc, dùng văn chương làm phương tiện chiến đấu Điều đó thể hiện rõ

trong các tác phẩm Nửa bồ xương khô, Cây ná trắc của Vũ Anh Khanh, Người yêu nước, Đời tươi thắm của Thẩm Thệ Hà, Chàng đi theo nước của Tô

Nguyệt Đình (Nguyễn Bảo Hóa), Từ 1945 đến 1950, có rất nhiều tác phẩm rađời được viết theo xu hướng này, ngoài thể hiện tinh thần tranh đấu còn nhuốmchất hào hoa, lãng mạn

Bước sang giai đoạn 1954 – 1975, văn học nói chung mang một diện mạomới Văn học tự do, phản ánh ý thức hệ, cái tôi cá nhân được đề cao và pháttriển mạnh mẽ Tuy nhiên, mảng văn học yêu nước vẫn là dòng chảy ngầm,nhưng không hẳn mờ nhạt so với dòng văn học bình dân nhưng do bị kiểmduyệt gắt gao nên các tác phẩm thuộc dòng văn học này không được công bốrộng rãi

Sau Hiệp định Genève năm 1954, không khí tự do ở miền Nam đã đưa cácvăn nghệ sĩ đi theo nhiều hướng rẽ khác nhau Các nhà văn tranh đấu thời kỳ

1945 – 1954, có người tiếp tục sự nghiệp văn chương, báo chí cách mạng nhưNguyễn Bảo Hóa, Phú Đức, Nguyễn Đức Nhuận, Thẩm Thệ Hà cùngNguyễn Bảo Hóa lập nhà xuất bản Lá Dâu và tập trung chuyên môn hơn vềsách giáo khoa, nâng bước cho các ngòi bút trẻ Trong khi đó, Dương TửGiang, Lý Văn Sâm tiếp tục hoạt động cách mạng, Vũ Anh Khanh tập kết ra

Trang 14

Bắc, còn Sơn Nam, Trang Thế Hy tiếp tục nằm vùng tại miền Nam Riêng cácnhà văn thuộc lớp cũ lui về hoạt động xuất bản và báo chí Văn học thời kỳ nàyvẫn tiếp tục khuynh hướng yêu nước ở thời kỳ trước nhưng kém phần sôi nổihơn trước

Khó có thể phủ định mối liên hệ giữa chính trị và văn nghệ trong bối cảnhđương thời, bởi văn nghệ thời kỳ này là sự phản ánh hiện thực sống động của

xã hội Tuy nhiên, khác với ý niệm “phản ánh” của văn nghệ miền Bắc, vănhọc “phản ánh” ở đô thị miền Nam là sự phản ánh đa diện, sự phản ánh củatâm thức, của một ý thức hệ, không tuyên ngôn cho một trường phái, một chínhquyền nào Dòng văn học này phát triển mạnh mẽ, sục sôi như vũ bão, ngay lậptức, nó chấm dứt hoàn toàn nền văn học yêu nước rực rỡ của giai đoạn 1945 –

1954 Võ Phiến trong Văn học miền Nam tổng quan đã nhận định:

“ Trong Nam tiếng tăm vang dội nhất là Vũ Anh Khanh, Thẩm Thệ

Hà, Trúc Khanh, Lý Văn Sâm, với những nhà khảo luận như TamÍch, Thiên Giang, Thê Húc, Sau 1954, loay hoay chừng mấy tháng,

tự dưng những vị ấy lui vào bóng tối, lặng lẽ, từ đó cho đến hai chụcnăm kế tiếp không còn cơ hội xuất hiện thắng lợi trên văn đàn nữa

Và một lớp người mới xông ra, ồ ạt: Doãn Quốc Sỹ, Thanh TâmTuyền, Võ Phiến, Sơn Nam, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Mạnh Cônrồi Dương Nghiễm Mậu, rồi Nhã Ca, Thật nhanh chóng: thoắt cái

Trang 15

những người mới được quần chúng độc giả đón tiếp niềm nở, chừngmột năm sau họ nghiễm nhiên thay thế các lớp nhà văn trước” [35]

Có lẽ trong lịch sử văn học Việt Nam, chưa bao giờ có một cuộc thay đổichóng vánh và dứt khoát đến thế

Sau Hiệp định Gienève, một cuộc di dân diễn ra trên toàn quốc Thêm mộtlần nữa, miền Nam chuyển mình trong cuộc xáo trộn và chia li Cũng trong giaiđoạn này, văn học đô thị miền Nam tiếp tục có sự phân hóa thành nhiều xu

hướng Trong bài viết về Văn học miền Nam tự do 1954 – 1975, tác giả

Nguyễn Vy Khanh có đưa ra quan điểm về việc phân tách văn học:

“Theo thiển ý nên phân biệt ba dòng văn học tại miền Nam từ 1954đến 1975 mà nếu công bằng ta có thể ghi nhận: một thuần Nam, từPetrus Ký qua Hồ Biểu Chánh đến Phi Vân, Bình Nguyên Lộc, SơnNam, Vương Hồng Sển, Trang Thế Hy, bình dân hoặc trưởng giảtrí thức với những đòi hỏi thông thường những giá trị dân chủ củaCách mạng Pháp 1789; một dòng giữa gồm miền Nam cộng vớiTrung và một ít Bắc đã khởi từ trước 1954, thiên chính trị cách mạng

và công bằng xã hội; và dòng cuối là dòng nước mới từ miền Bắc di

cư vào từ 1954, dòng trí thức tiêu tư sản và chính trị lý thuyết” [23]Việc phân chia như thế dựa vào tính cách văn học của các tác phẩm để địnhhình xu hướng

Văn học miền Nam ở giai đoạn 1954 – 1975 là một giai đoạn hết sức phứctạp bởi sự pha trộn của nhiều dòng văn học khác nhau Do xã hội miền Namthời bấy giờ là một xã hội của sự pha trộn nhiều nền văn hóa, mở cửa tiếp xúc,

du nhập văn hóa nước ngoài một cách tự do Kỳ thực ở giai đoạn này, sự bùngphát của báo chí, văn chương, triết học, tôn giáo và các phong trào văn nghệcủa nhiều nhóm trí thức tiểu tư sản đã khiến cho không khí ở miền Nam sục sôihẳn lên

Từ 1965 đến 1969, các phong trào văn nghệ ờ miền Nam lần lượt nổ ra như

phong trào Tâm Ca (1965), Da Vàng Ca (1966), Dân Ca (1966), Kháng chiến

Trang 16

Ca, Tranh Đấu Ca gắn với tên tuổi các văn nghệ sĩ như Phạm Duy, Trịnh Công

Sơn, Phạm Thế Mỹ, Nhất Hạnh, Trần Quang Long, Các phong trào này làtiếng nói trung lập, tiếng nói vì hòa bình, vì sống còn, là tiếng nói kêu gọichấm dứt chiến tranh, khơi gợi lòng nhân, yêu hòa bình trong mỗi con ngườiđồng thời phản ánh tâm thức của một thế hệ trí thức trước cảnh đất nước nộichiến tan xương đổ máu Những phong trào ấy đã tạo nên tiếng vang trong xãhội bấy giờ, dậy lên khí thế sục sôi của một miền Nam đang chờ ngày hòabình, thống nhất Tuy nhiên, một mặt nào đó, có những nghệ sĩ đã thất bạitrong cuộc tranh đấu của mình, bởi mắc mưu nhà cầm quyền, bởi quá tin vàomột viễn ảnh tốt đẹp

Giai đoạn 1954 – 1975 còn nổi lên làn sóng triết học từ những thế hệ tríthức Nguyễn Văn Trung, Trần Thái Đỉnh, Nguyễn Khắc Hoạch, Sự du nhậpcủa các triết thuyết phương Tây đã đưa văn học vào một hướng đi mới, văn họcdấn thân, hiện sinh, phân tâm học Tuy nhiên, không phải đến bây giờ thuyếtphân tâm mới xuất hiện ở miền Nam Theo Nguyễn Phúc, phân tâm học đã tồntại ở Việt Nam vào thời Pháp thuộc nhưng ít ai biết đến, “bởi vì nó chưa đủ sứclàm suy yếu nền luân lý, đạo đức, tâm lý cổ truyền trong nhân dân ta, mà cũng

do nhà cầm quyền thực dân Pháp chưa dám lộ liễu sử dụng, khai thác mặt tiêucực để đầu độc nhân dân ta” [37; tr.27] Cho đến khi Mỹ thay Pháp thống trịmiền Nam Việt Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm đã dùng “chủ nghĩa duylinh nhân vị” làm công cụ để chi phối ý thức, gieo rắc những thói xấu xa, tiêucực làm suy đồi văn hóa, đạo đức của con người Tuy nhiên, vì tính mơ hồ của

nó nên chủ nghĩa nhân vị được đón nhận khá mờ nhạt và thờ ơ, cho đến khicuộc đảo chính năm 1963 nổ ra, cùng với sự du nhập của chủ nghĩa hiện sinhnhư một làn sóng mới được đón nhận nồng nhiệt đã chìm lấp thuyết nhân vị.Nhưng chủ nghĩa hiện sinh khi du nhập vào miền Nam Việt Nam liền bị phânhóa thành nhiều xu hướng, do những cách tiếp nhận khác nhau Những trào lưuvăn học du nhập từ phương Tây ấy đã thúc đẩy lý luận – phê bình văn học thời

kỳ này phát triển mạnh mẽ với những khát vọng đổi thay, sáng tạo mãnh liệt

Trang 17

Từ phân tâm học, chủ nghĩa hiện sinh, đến cấu trúc luận, chủ nghĩa siêu thực,

đã tạo nên tiền đề, làm nên bước nhảy vọt trong văn học nghệ thuật miền Namlúc bấy giờ

Về báo chí ở thời kỳ này cũng rất đa dạng, có thể gọi là “trăm hoa đua nở”.Bên cạnh những tờ báo yêu nước đấu tranh công khai đã xuất hiện thêm nhiều

tờ báo “trẻ” với xu thế mới Do những biến động của chính trị mà nhiều tờ báo

được lập ra, phần lớn là báo của các nhóm đấu tranh chính trị như Thái độ, Hành trình, Lập trường, Đối diện, Nhưng tờ báo được coi là có nhiều đóng góp với văn học nhất là tờ Sáng tạo Với những chủ trương đổi mới, cách tân nghệ thuật, văn chương Sáng tạo trở thành diễn đàn cho giới trí thức trẻ có

khát vọng sáng tạo, tiếp thu cái mới

Từ 1954 – 1975 là thời kỳ của sự đổi mới văn nghệ Trong giai đoạn này,văn học yêu nước chưa hẳn đã chấm dứt cuộc đời của nó mà chỉ chìm lấp bởidòng văn học mới lên ngôi Văn học yêu nước trở thành dòng chảy ngầm, vàtrong mạch chảy của nó, vẫn cuồn cuộn, vẫn sục sôi khí thế chiến đấu, vẫn nêucao tinh thần yêu nước

1.2 Nguy n B o Hóa – cu c đ i và khái quát s nghi p ễn Bảo Hóa – cuộc đời và khái quát sự nghiệp ảo Hóa – cuộc đời và khái quát sự nghiệp ộ 1945 – 1975 ời và khái quát sự nghiệp ự do (1954 – 1975) ệu văn học đô thị Nam Bộ 1945 – 1975

Nhà văn Nguyễn Bảo Hóa có thể được coi là một trong những gương mặt tiêubiểu của văn chương yêu nước ở đô thị Nam Bộ cùng với Thẩm Thệ Hà, Vũ AnhKhanh, Lý Văn Sâm, Dương Tử Giang, Cũng như các nhà văn khác, cuộc đờihoạt động cách mạng song hành với văn nghệ đã mang đến lịch sử một NguyễnBảo Hóa với một vị trí khá tiêu biểu, nhất là trong địa hạt văn nghệ cách mạng ởmiền Nam giai đoạn 1945 – 1975

1.2.1 Cu c đ i ộ 1945 – 1975 ời và khái quát sự nghiệp

Nguyễn Bảo Hóa sinh ngày 1 tháng 1 năm 1920 tại làng Phước Lễ, tỉnh BàRịa (nay thuộc Bà Rịa – Vũng Tàu)

Thuở nhỏ, ông học tiểu học ngay tại Bà Rịa nhưng khi lên bậc trung học,ông chuyển vào Sài Gòn Sau khi đậu bằng Thành chung, ông trở về quê nhà Vào

Trang 18

khoảng năm 1940, Nguyễn Bảo Hóa mở một cửa hàng bán sách, báo tại quê

hương Bà Rịa Đồng thời, ông làm thông tín viên cho hai tờ báo Tin Điển và Tiểu thuyết thứ bảy Năm 1941, ông nhận được giải thưởng Văn chương của hai tờ báo

trên, bước đầu đánh dấu tên tuổi Nguyễn Bảo Hóa trong làng văn

Cách mạng tháng Tám năm 1945 nổ ra như một bước ngoặt trên bướcđường của nhà văn Nguyễn Bảo Hóa Từ cột mốc đó, Nguyễn Bảo Hóa bắt đầutham gia các hoạt động yêu nước tại Sài Gòn

Từ năm 1946, Nguyễn Bảo Hóa chính thức gia nhập vào làng báo Sài Gòn,

ông cộng tác rộng rãi trên các báo Tin điển, Ánh sáng, Việt thanh, Việt báo, Tiếng dội, Lên đàng, Đoàn kết, Dân thanh, Việt Nam, Thế giới, Tuần Báo Thứ năm Thời

kỳ từ 1946 – 1949 là thời kỳ sôi động của báo chí miền Nam trước những vấn đềlịch sử Cũng trong khí thế đó mà Nguyễn Bảo Hóa đã hoạt động rất tích cực và

sôi nổi Trong Lời giới thiệu tiểu thuyết Bộ áo cà sa nhuộm máu (NXB Trẻ tái

bản, 1989) của Nguyễn Bảo Hóa, Nguyễn Văn Y có viết: “Chính trong quãng thờigian 1946 – 1950, ông là một ký giả hoạt động chính trị rất hăng hái: tham giaphong trào “Báo chí thống nhất” (1946), chống thuyết phân ly “Nam Kỳ quốc tựtrị” (1947), gia nhập tổ chức “Liên Hiệp Báo chí Việt Nam” (1948)” [7] Cũngtrong thời gian này, Nguyễn Bảo Hóa đã cho ra đời nhiều tác phẩm dưới bút danh

Tô Nguyệt Đình: Ải Chi Lăng (NXB Việt Bút, 1947), Bóng giai nhơn (Đoàn Kết, 1948) và bộ biên khảo lịch sử Nam Bộ chiến sử (NXB Lửa Sống, 1949).

Năm 1946, Nguyễn Bảo Hóa cùng với nhiều nhà báo, ký giả của các tờ Tin điển, Việt bút, Nam Kỳ, Kiến thiết, Tân văn, Justice tham gia phong trào Báo chí thống nhất do nhà báo Vũ Tùng làm trụ cột, với mục đích đấu tranh cho một Việt

Nam thống nhất, ủng hộ chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của chủ tịch HồChí Minh và lên án cuộc chiến tranh tại Sài Gòn

Năm 1947, thực dân Pháp áp dụng thuyết phân ly nhằm chia cắt Nam Kỳ rakhỏi Việt Nam, thành lập một chính phủ Nam Kỳ tự trị, lập ra nhà nội các, giaocho bác sĩ Nguyễn Văn Thinh làm Thủ tướng Các tờ báo, ký giả trong đó có

Trang 19

Nguyễn Bảo Hóa đã mạnh mẽ đứng lên đấu tranh, viết bài vạch trần âm mưu đằngsau nhằm đánh đổ chủ trương của thực dân Pháp.

Năm 1948, Nguyễn Bảo Hóa gia nhập tổ chức Liên hiệp Báo chí Việt Nam.Năm 1951, Nguyễn Bảo Hóa bị bắt vào bót Catinat giam ba tháng vì tội chủ

trương Tuần Báo Thứ Năm, chống giải pháp Bảo Đại, đòi Pháp chấm dứt chiến

tranh Sau đó, ông được thả ra, lại tiếp tục hoạt động cách mạng dưới lốt một kýgiả

Tháng 10 năm 1954, phong trào mít-tinh “Bảo vệ hòa bình” nổ ra tại chợBến Thành với sự tham gia của nhiều trí thức như Lưu Văn Lang, Phạm HuyThông, luật sư Nguyễn Hữu Thọ, ký giả Tô Nguyệt Đình (Nguyễn Bảo Hóa), Tư

Mã Việt, Lý Văn Sâm, Dương Tử Giang, nhà sư Thích Huệ Quảng, dược sĩ TrầnKim Quan, đã bị chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp, bắt giam những nhân vậtchủ chốt, đứng đầu phong trào này Sau nhờ Ủy hội Quốc tế can thiệp nên chỉ cóhai người bị đưa ra Bắc Giáo sư Phạm Huy Thông bị đưa về Hải Phòng Số cònlại bị đưa đi các nhà giam Tân Hiệp hoặc Côn Đảo

Sau một thời gian tạm lắng, cuối năm 1955, Nguyễn Bảo Hóa trở về Sài

Gòn và từ đó cho đến trước 1975, ông tiếp tục cộng tác viết bài cho các báo: Trời Nam, Chuông mai, Buổi sáng, Ngày mai, Tiếng chuông, Tuần Báo Nhân loại, Tầm nguyên, Tân dân, Đuốc thiêng, Chị cùng em, Dân tộc, Tiến, Vận hội mới, Tin sớm, Phổ thông, Tranh thủ, Tin mật, Thời đại mới, Dân nguyện Cũng trong thời gian này, Nguyễn Bảo Hóa nhận phụ trách biên tập các sách thiếu nhi cho NXB Sống Mới của Trịnh Đình Thu ở số 12, đường Huỳnh Thúc Kháng, đồng thời ông cũng

viết truyện cho thiếu nhi với các bút hiệu Thanh Tuyền, Nguyễn Duy Khanh,Thiện Tâm

Sau đó, theo chỉ thị của ông Nguyễn Văn Hiếu, Nguyễn Bảo Hóa đã mướn

được manchette tuần báo Nhân loại của Anh Đào Từ tháng 4 năm 1956 đến năm

1959, tờ Nhân Loại trở thành bệ phóng cho các nhà văn trẻ sau này Nguyễn Bảo

Hóa cũng có tham gia viết truyện ngắn “tranh đấu” cho báo Nhân loại.

Trang 20

Cuối năm 1956, Nguyễn Bảo Hóa tìm đến nhà văn Thẩm Thệ Hà bàn việclập ra tủ sách Thanh Niên nhằm “ngăn chặn sự xuyên tạc kháng chiến, bôi lọ lịch

sử của chế độ Sài Gòn” đối với thanh niên Nguyễn Bảo Hóa cùng Thẩm Thệ Hàthành lập Nhà xuất bản Lá Dâu Trụ sở Lá Dâu được đặt chung địa chỉ với tờ

Nhân loại, nhà in ở 316, bến Chương Dương của ông Huỳnh Văn Lợi – người hỗ

trợ vốn cho báo và nhà xuất bản

Năm 1958, nhà văn Nguyễn Bảo Hóa bị mật vụ của chính quyền Ngô ĐìnhDiệm bắt vào lúc nửa đêm mùng 6 Tết (2/1958), giam ở bót Ngô Quyền Vụ việcxôn xao dư luận được báo chí Sài Gòn quan tâm và đăng rộng rãi trên các báo thờiđó

Ngày 10 tháng 10 năm 1974, Nguyễn Bảo Hóa với vai trò cố vấn Nghiệpđoàn Ký giả Việt Nam đã cùng các ký giả báo chí xuống đường biểu tình tại SàiGòn, chống lại sắc luật 007 của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu về báo chí Theosắc luật 007 của Tổng thống Thiệu, dùng “bàn tay sắt” với báo chí khiến cho nhiều

tờ báo bị đóng của, chủ bút bị phạt, bị tịch thu tiền ký quỹ, có người còn đi tù Con

số thống kê lên đến 70% nhà báo, ký giả thất nghiệp Chính vì thế mà cuộc biểutình “Ngày ký giả đi ăn mày” đã nổ ra với đoàn ký giả được trang bị gậy, nón lá lànhững vật dụng của ăn mày Cuộc biểu tình bị chính quyền đàn áp, nhưng đã gâymột tiếng vang lớn trong báo giới

1.2.2 Khái quát s nghi p văn h c ự do (1954 – 1975) ệu văn học đô thị Nam Bộ 1945 – 1975 ọn đề tài

Dù là một người hoạt động cách mạng nhưng Nguyễn Bảo Hóa cũng “làmột người viết báo suốt cả cuộc đời cầm bút” – đó là nhận định của Nguyễn Văn

Y trong Lời giới thiệu cuốn tiểu thuyết Bộ áo cà sa nhuộm máu Tuy nhiên, ngoài

việc viết báo, Nguyễn Bảo Hóa đã cho ra đời nhiều sáng tác cũng như biên khảo

Dù ở lĩnh vực nào, các tác phẩm của Nguyễn Bảo Hóa cũng lấy đề tài lịch sử, cuộcđấu tranh của nước nhà, vừa khơi dậy lòng yêu nước trong nhân dân lại vừa mang

ý thức đấu tranh giành độc lập dân tộc Nguyễn Bảo Hóa viết ở cả hai giai đoạntrước và sau 1954 Nhưng thời kỳ sung sức nhất của ông, có lẽ là giai đoạn chống

Mỹ, dựa vào mức độ tập trung và số lượng tác phẩm có thể khẳng định điều đó

Trang 21

Không kể những tác phẩm đã đăng báo, các tác phẩm sách in của Nguyễn BảoHóa được chia làm hai loại: loại sáng tác và loại biên khảo.

Về loại sáng tác, hầu hết là tiểu thuyết lịch sử

- Ải Chi Lăng, NXB Việt Bút, Sài Gòn, 1947

- Bóng giai nhơn, NXB Đoàn Kết, Sài Gòn, 1948

- Mỵ Lan Hương, NXB Tấn Phát, Sài Gòn, 1950

- Bộ áo cà sa nhuộm máu, NXB Tấn Phát, Sài Gòn, 1952

- Bức địa đồ máu, NXB Tấn Phát, Sài Gòn, 1952

- Chàng đi theo nước, NXB Tấn Phát, Sài Gòn, 1952

- Tiếp Bội (bút danh Tiêu Kim Thủy), NXB Lá Dâu, Sài Gòn, 1957

- Mía sâu có đốt (viết chung với Thâm Giao), NXB Lá Dâu, Sài Gòn, 1957.

- Cờ bay theo gió, NXB Hương Nam, Sài Gòn, 1962

Tác phẩm Mỵ Lan Hương được viết năm 1950, là một tác phẩm thuộc dòng

tiểu thuyết lịch sử Tác phẩm lấy bối cảnh vào cuối đời nhà Trần, khi Lê Quý Ly(Hồ Quý Ly) đang âm mưu soán ngôi vua Trần, cũng là lúc nàng Mỵ Lan Hương,hoàng hậu Chiêm Thành bị bắt giam ở Thăng Long Tác phẩm được chia làm haiphần Phần đầu kể về nàng Mỵ Lan Hương cùng cận thần thân tín Muồng Sẩu vàhai con bị bắt giam ở Thăng Long Khi vua Chiêm thành Chế Bồng Nga tử trận,thành Chà Bàn lọt vào tay La Khải – một tên ác ôn, bạo ngược Mỵ Lan Hươngmuốn cầu cứu viện binh ở Thăng Long nhưng không được Nhờ sự che chở củathượng tướng Lê Tuấn – cận thần của Lê Quý Ly, mà Mỵ Lan Hương giữ đượcmạng sống Lê Tuấn yêu Mỵ Lan Hương nhưng không được nàng đáp lại Nhờ LêTuấn giúp đỡ, Mỵ Lan Hương bắt liên lạc với Tín Sèo ở Chà Bàn và cho MuồngSẩu về lập kế hoạch giành lại đất nước từ tay La Khải Nhưng sau đó, kế hoạch bịbại lộ, Muồng Sẩu hy sinh tại Chà Bàn cùng Tín Sèo, Sẻo Rao và các trung thầnkhác

Phần thứ hai là câu chuyện về mối tình giữa quận chúa Thúy Liễu và tướngquân Lê Kiệt Thúy Liễu được hứa gả cho Lê Tuấn nhưng Lê Tuấn quá si mê MỵLan Hương mà muốn từ hôn Thúy Liễu Cơn hờn ghen nổi lên, khi đó, biết Lê

Trang 22

Kiệt yêu mình, Thúy Liễu đã mượn tay chàng giết Lê Tuấn cho hả giận Nhưngkhi Tuấn chết rồi, Mỵ Lan Hương cũng tự sát Thúy Liễu hối hận, quy y cửa Phậtnhưng lòng còn day dứt Lê Kiệt được Quý Ly tin dùng thay thế Lê Tuấn Để đượclòng chàng, Quý Ly ép Trần Nguyên Đán gả Thúy Liễu cho Lê Kiệt Kiệt đếnchùa gặp Thúy Liễu cùng thầy học là Chiếu Không Thiền sư Thúy Liễu và LêKiệt cùng được Chiếu Không Thiền sư giác ngộ, cả hai cùng hóa giải hận thù,hướng tình yêu cho lý tưởng chung vì giang sơn đất nước Kế hoạch lật đổ Lê Quý

Ly thất bại, tất cả tôi trung nhà Trần đều bị giết, Chiếu Không Thiền sư tự sáttrong ngục, Lê Kiệt hy sinh oanh liệt bên bờ sông Mã Thúy Liễu quyết tâm trả thùQuý Ly nhưng thất bại, nàng rút dao tự vẫn

Tác phẩm được in lần đầu tiên tại Nhà xuất bản Tấn Phát, Sài Gòn, sau đó được táibản lại ở Nhà xuất bản Cửu Long vào năm 1990

Trong số những tác phẩm của Nguyễn Bảo Hóa, Bộ áo cà sa nhuộm máu được

coi là tác phẩm có giá trị nhất Hầu hết các tác phẩm của Nguyễn Bảo Hóa đều

được ký dưới tên Tô Nguyệt Đình (trừ Tiếp Bội ký Tiêu Kim Thủy), nhưng riêng

Bộ áo cà sa nhuộm máu ra đời vào thời điểm nhà văn bị chính quyền thực dân

Pháp chú ý theo dõi và kiểm duyệt gắt gao nên phải ký tên viết tắt là N.B.H

Bộ áo cà sa nhuộm máu là một tác phẩm trinh thám và là tác phẩm trinh thám

duy nhất trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Bảo Hóa Tác phẩm kể về sự đốiđầu giữa Sở mật thám mà đại diện là Tôn Bình và đảng hoạt động bí mật - SaoĐen do Lương Huyết Hùng đứng đầu cùng các đồng chí Lê Hồng Long, ĐạoKhông hòa thượng, Đội Võ Toàn bộ tác phẩm là một cuộc đấu trí gay cấn, bắtđầu từ việc Sở Mật thám và Đảng Sao Đen cùng điều tra vụ án ba viên ngọc bịđánh cắp Từ đó, một cuộc rượt đuổi giữa Sở Mật thám và Đảng Sao Đen bắt đầu.Trong truyện, mối liên hệ công khai giữa hai tổ chức này chính là nhân vật HiĐình – phóng viên trinh thám đóng vai trò trung gian trong tác phẩm Hi Đìnhkhông đứng về phía Sở Mật thám, cũng không phải là thành viên Đảng Sao Đennhưng lại được hai bên hết sức nể trọng Tôn Bình xâm nhập Long Vân Am nhưng

bị phát hiện và bị thương Ông được đảng Sao Đen cứu chữa và trả về với Sở Mật

Trang 23

Thám Không chịu thua trước đảng Sao Đen, Tôn Bình cùng Lê Thái Dương bàn

kế sách đột nhập Long Vân Am lần nữa Đội Võ bị lộ tung tích cuối cùng đã hysinh Kết thúc tác phẩm, Long Vân Am bị phục kích, Đảng Sao Đen bị lộ tung tích

và bị đàn áp Đạo Không hòa thượng hi sinh để lại một chiếc cà sa đẫm máu, nhưmột tín vật cũng như lòng yêu nước của người truyền lại cho các đồng đội cònsống tiếp tục đấu tranh cho sự nghiệp chung

Về văn bản Bộ áo cà sa nhuộm máu, Nguyễn Bảo Hóa sau này đã viết thêm

phần kết thúc truyện khi tác phẩm được tái bản lần thứ ba năm 1964 Phần kết này

được Nguyễn Q Thắng trích lại nguyên văn trong Văn học Việt Nam nơi miền đất mới, đó là chương cuối cùng của tác phẩm Khi Lê Hồng Long tỉnh lại sau khi

thoát khỏi vụ càn quét Long Vân Am của Sở Mật thám, gặp được đồng đội và

nhận lấy chiếc áo cà sa đẫm máu Lời bài hát “Có một đàn chim” được tác giả trích

vào chương này như một niềm tin, hy vọng mãnh liệt về tương lai sự nghiệp cáchmạng

Có lẽ không ngoa khi tác phẩm này được đánh giá là “bộ tiểu thuyết có giá trịnổi bật nhất của nhà văn Nguyễn Bảo Hóa” (Nguyễn Mẫn) về cả nội dung và tưtưởng Cốt truyện trinh thám ly kỳ hấp dẫn cùng với tư tưởng ẩn chứa bên trong,tác giả đã “khéo bày tỏ lập trường yêu nước” trong thời kỳ bị kiểm duyệt gắt gao.Nguyễn Q Thắng cũng không tiếc lời khen ngợi tác phẩm này bằng những nhậnxét xác đáng:

“Từ hình thức đến nội dung, tác phẩm này đã gây nên sự chú ý đối với độc giảmột phần do nhan đề câu chuyện mà cũng một phần nữa là do cách viết truyện củatác giả hấp dẫn, lôi cuốn người đọc từ đầu cho đến hồi kết cuộc Nhưng điều quantrọng nhất là tác giả đã kí thác được tinh thần yêu nước của mình qua các nhân vậtđiển hình của câu chuyện cũng như qua việc làm đầy mưu trí của các chiến sĩtrong tổ chức yêu nước mà “Đảng Sao Đen” là một điển hình của tác phẩm” [45;

tr 385]

Chỉ trong một thời gian ngắn, từ năm 1952 là thời điểm tác phẩm được xuấtbản, đến năm 1964, tác phẩm đã được tái bản đến ba lần, đến năm 1989, nhà xuất

Trang 24

bản Trẻ cho tái bản một lần nữa Điều đó đủ cho thấy sức sống mãnh liệt của tácphẩm cũng như những giá trị mà tác phẩm mang lại đã được thấu hiểu và ghinhận.

Năm 1952 có thể coi là thời điểm sáng tác không ngơi nghỉ của Nguyễn BảoHóa Cùng trong một năm đó, ông đã cho ra đời ba cuốn tiểu thuyết mà trong đó,

Bộ áo cà sa nhuộm máu là tác phẩm đỉnh cao trong sự nghiệp của ông Riêng cuốn Bức địa đồ máu hiện nay không tìm được Còn lại Chàng đi theo nước viết trong

thời gian này lại là một tiểu thuyết lịch sử Điều đó cho thấy Nguyễn Bảo Hóa viết

song song cả tiểu thuyết tranh đấu và tiểu thuyết lịch sử Chàng đi theo nước cũng

do nhà xuất bản Tấn Phát in Tác phẩm viết theo lối chương hồi, ảnh hưởng củatiểu thuyết Trung Hoa Nội dung kể về chàng trẻ tuổi Trịnh Bằng Phi, hậu duệcuối cùng của chúa Trịnh, mang trong mình mối thù dòng họ phải báo và đoạt lạivương vị Cũng trong thời gian đó, đất nước phải đối mặt với nạn thù trong giặcngoài Ở phía Bắc, vua Lê Chiêu Thống cầu viện quân Thanh đánh Tây Sơn, ởphía Nam, Nguyễn Ánh lăm le đem quân về báo thù Trong bối cảnh đó, TrịnhBằng Phi vẫn ẩn mình ở Đồng Xanh chờ thời, không theo phe vua Lê cũng khôngphò nhà Tây Sơn Quân Thanh kéo vào nước ta, Bằng Phi lui về Đồng Xanh thànhlập căn cứ quân đội riêng, bảo vệ dân làng vùng phụ cận Việc làm của chàng đãthu hút được dân chúng về Đồng Xanh ẩn náu và chống lại quân Thanh Tuy nhiêntrong thời gian này, chàng nhận ra người dân chỉ mong muốn hòa bình, khôngmuốn nạn cát cứ phân tranh, vì thế chàng dần từ bỏ ý định trả thù riêng mà đemchí hướng của mình phục vụ cho việc bảo vệ hòa bình của nhân dân

Về nội dung, tác phẩm này chưa thể coi là nổi bật nhưng vẫn có sức truyềnđạt tư tưởng nhất định, nhất là khi tác giả bày tỏ thái độ muốn gạt bỏ đi những ýnghĩ phân cách quyền lực mà tập trung vào sự nghiệp hòa bình, thống nhất chungcho dân tộc

Tác phẩm Tiếp Bội thuộc dòng văn học tranh đấu, kể về hai thanh niên Tiếp

và Bội, sinh trưởng trong hoàn cảnh gia đình khác nhau nhưng cùng chung lýtưởng Tiếp là chàng thanh niên sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng, trong khi đó

Trang 25

Bội là thiếu nữ quen sống trong nhung lụa ấm êm Cả hai gặp nhau trong đám tangTrần Văn Ơn, từ đó nảy sinh tình cảm và Bội đã được Tiếp giác ngộ Bội từ bỏ giađình, theo Tiếp hoạt động cách mạng Mối tình của họ được ví như mối tìnhNguyễn Thái Học và cô Giang, cả hai gác lại tình riêng vì lý tưởng chung Nhưngcha của Bội đã lợi dụng sự mềm lòng của người con gái hiếu thảo để bắt Bội sốngtheo sự mù quáng của mình, phục vụ thực dân Sau biến cố xóm Sáu Lèo cháy, vụđuổi đất dỡ nhà do cha của Bội làm, cha Bội bị thực dân trở mặt Chính lúc nàyông mới tỉnh ngộ và giải thoát cho Bội đi theo cách mạng Còn ông thì tự kết liễu

đời mình Tiếp Bội là tác phẩm duy nhất ký tên Tiêu Kim Thủy, được Lá Dâu xuất

bản vào tháng 2 năm 1957 viết về cuộc đấu tranh của người thanh niên và ngườilao động Qua đó thể hiện tình yêu nước mãnh liệt, cồn cào trong tâm can tác giả

Trong lời giới thiệu Tiếp Bội, Tiêu Kim Thủy đã phải đau đớn mà thốt lên rằng:

“Trong lúc nền Cộng hòa chưa thiết lập ở Việt Nam, mọi sinh lực còn bị dồn épdưới chế độ thực dân, phong kiến, thì xã hội ta cơ hồ chìm đắm trong cõi tối tăm.Chua chát nhứt là mọi người không được công khai biểu lộ lòng yêu nước” [11]Vượt lên cái “chua chát” đó, Nguyễn Bảo Hóa đã dũng cảm thể hiện tình cảm củamình vào tác phẩm, với mục đích là “làm sao đưa được trót lọt nội dung yêu nước

qua bài viết của mình” như lời nhà văn Lý Văn Sâm đã nói Và quả thật, Tiếp Bội

thể hiện tinh thần tranh đấu ngoan cường Dù có gặp phải nhiều cản trở, khó khăn,người cách mạng vẫn lạc quan, kiên định với lý tưởng của mình

Sau khi Tiếp Bội ra đời được 2 tháng, Nguyễn Bảo Hóa cùng với Thâm Giao cho ra đời tác phẩm Mía sâu có đốt, một tác phẩm mang màu sắc tiểu thuyết

luận đề của văn chương Tự lực văn đoàn Theo như lời tác giả kể, ông đã thainghén tác phẩm này từ tháng 2 năm 1955, lúc ấy ông cùng các thành viên trong

“Phong trào hòa bình” bị đưa đi an trí ở Lạch Tray, Hải Phòng Mục đích của ôngkhi viết tác phẩm này là “kín đáo đưa vào tác phẩm vấn đề đấu tranh của nông

dân” Mía sâu có đốt lấy bối cảnh vùng nông thôn miền Nam, viết về cuộc sống cơ

cực, cùng khổ của những tá điền chịu ách áp bức của giai cấp thống trị Tác phẩm

kể về cô Thìn, con gái của tá điền Tư Mẹo ở ấp Đình Trung, huyện Cao Lãnh bị

Trang 26

ông Phán lập kế bắt về hãm hiếp cho thỏa mãn thú tính Sau đó, Thìn có thai vàtìm cách tố cáo ông Phán nhưng bị ông Phán lập mưu giết Thìn trốn thoát và bỏlên Sài Gòn, lưu lạc đến nhà vợ chồng bác sĩ Trân Được hai vợ chồng bác sĩ nhânhậu cứu giúp và cho ở lại, Thìn gặp lại bà Phán Phát hiện ra vợ chồng bác sĩ Trân

là con gái và con rể ông Phán, Thìn ngất xỉu và được đưa vào bệnh viện Ông Phánhay tin, viết thư lên bảo vợ chồng bác sĩ Trân phải giết Thìn đi nhưng cả hai lạiđang tính toán một chuyện xa xôi khác, đó là tiến tới hòa giải Trong khi đó, Hoài– người đã có hôn ước với Thìn, hay tin người yêu bị bắt và hãm hại Uất ức, Hoàitìm cách trả thù và tố cáo ông Phán Hoài bỏ Đình Trung, đến kinh ông Kho cùngnhững anh em tá điền khác lập mưu Bao Công xử Quách Hòe, bắt Hai Ngào khai

ra toàn bộ sự thật và nhận tội Biết tin Thìn đang ở Sài Gòn, ông Tư Mẹo và Hoàiđến tìm vợ chồng bác sĩ Trân Được hai vợ chồng bác sĩ giúp đỡ, mọi mâu thẫnđược giải quyết, ông bà Phán nhận tội của mình và sửa sai, Hoài và Thìn lấy nhau,

Mía sâu có đốt đã xuất bản Ông ghi chú: “Tuy thể hiện khá rõ nét tội ác của tên

điền chủ ác ôn, nhưng tác phẩm không đi đến chỗ kết thúc như ý muốn Khi tôiviết quyển này, chánh quyền Diệm đang tuyên truyền chính sách “Khu trù mật”.Muốn xuất bản phải sửa đổi nhiều chỗ, nên phần kết lệch sang hướng khác.” [28;

tr ] Rõ ràng, khi đọc đoạn kết, người đọc hoàn toàn cảm thấy hụt hẫng bởi cái kếtkhông như mong đợi Việc kết thúc mâu thuẫn bằng phương pháp giải hòa hoàntoàn thiếu logic so với diễn tiến tác phẩm

Cũng giống như Mỵ Lan Hương, Chàng đi theo nước, tiểu thuyết lịch sử thứ ba của Nguyễn Bảo Hóa là Cờ bay theo gió, được viết năm 1962 do nhà xuất bản

Trang 27

Hương Nam ấn hành Cờ bay theo gió lấy bối cảnh nước ta khi là quận Giao Chỉ

thời Bắc thuộc Cũng theo kết cấu hai phần, chia làm hai tuyến truyện Phần một,tác phẩm viết theo tuyến nhân vật Triệu Quang Phục, kể về giai đoạn chàng còn làmột anh hùng theo phò Lý Phần (Lý Bí) Quận Giao Chỉ do Thái thú Tiêu Tư cạitrị, dân chúng lầm than, oán hận không cùng Triệu Quang Phục khi ấy là vị anhhùng đất Chu Diên nổi tiếng, đột nhập vào dinh Thái thú nhưng giết hụt tên giặcbạo ngược Trong khi bị bắt giam, Quang Phục làm quen với nhà sư Viên ĐạoHành và Trương Hống, cả hai đều là người của Khuất Liêu Động do Lý Phầnđứng đầu Trong đêm phá ngục, Quang Phục giải cứu nhà sư và Trương Hống,chàng được mời về Khuất Liêu Động, nhưng do trong lòng không phục Lý Phầnnên đã chối từ Sau cùng, chàng cùng Lữ Từ Quy, Bàn Nhị nhân lúc quân Lươngkhông phòng bị, đã tấn công chúng trên đường qua xóm Mai, vô tình gây cảnhtang thương Trong thời điểm đó, một vị sư cô trẻ tuổi xuất hiện và thuyết phục bachàng về Khuất Liêu Động Quang Phục y hẹn, tìm đến Khuất Liêu Động, được

Lý Phần phong làm chủ soái và kết nghĩa anh em với Lý Thu Nương, chính làngười đã giả dạng sư cô Cuộc tấn công của Khuất Liêu Động đã đuổi được quânLương về nước nhưng lại để thoát Tiêu Tư, tên giặc nguy hiểm nhất Lý Phần lênngôi, lập ra nước Vạn Xuân, Lý Thu Nương làm công chúa, Triệu Quang Phụcvẫm giữ chức Tả tướng quân

Phần hai của tác phẩm được viết theo tuyến nhân vật Lý Thu Nương Khi quânLương lập mưu trở lại xâm lăng Long Biên, hai cánh quân của Lý Phần và TriệuQuang Phục không chống cự nổi Lý Phần tử trận, Triệu Quang Phục lui về đầm

Dạ Trạch xây dựng quân đội chờ ngày phản công Từ Thăng Long, công chúa LýThu Nương giả dạng sư cô, lưu lạc khắp nơi tìm về đầm Dạ Trạch tìm Dạ TrạchVương Triệu Quang Phục Trên đường đi, nàng nghe tin nhà sư Viên Đạo Hành bị

hổ vồ thì tỏ lòng thương xót vô hạn Nàng tiếp tục lang thang đến một ngôi chùa

đổ, vô tình bị giặc phát hiện và vây bắt Thân phận bại lộ, nàng bị đưa về LongBiên và bị tra tấn đến mù mắt Trong tù, nàng gặp lại nhà sư Viên Đạo Hành cũng

bị chọc mù cả hai mắt, được nhà sư kể lại quá trình gian truân vừa rồi Trong khi

Trang 28

đó, Triệu Quang Phục nhận được tin Thu Nương bị bắt nhưng không đến cứu kịp,cuối cùng chàng quyết định tấn công thành Thăng Long Giặc đem Thu Nương vànhà sư Viên Đạo Hành ra dụ hàng nhưng Thu Nương và nhà sư đã khẳng kháichọn cái chết, khích lệ binh sĩ tiến lên vì độc lập, hạnh phúc của nhân dân Trướccái chết của Thu Nương, Quang Phục nghẹn ngào Khởi nghĩa thắng lợi, QuangPhục lên ngôi vua Kết thúc tác phẩm là tiếng cờ bay trong gió và ánh mặt trời từphương Đông chiếu lại, soi sáng những chuỗi ngày tăm tối của nhân dân Đó làniềm tin vào sự chiến thắng của chính nghĩa, niềm tin vào sức mạnh dân tộc, vàonhững hy sinh oanh liệt của những con người can trường, quả cảm

Ngoài những sáng tác trên, Nguyễn Bảo Hóa còn sáng tác truyện ngắn đăng

báo, trong đó truyện ngắn Mã Lê tìm được trên Tuần báo Nhân loại bộ mới viết về

sự giác ngộ của chàng thanh niên tên Thủy trước sự cám dỗ của ham muốn Thủycùng hai người bạn quen sống cuộc đời hưởng lạc, xa hoa Trong một lần nhìnthấy Mã Lê, cô cái làm nghề đàn ca kiếm tiền mưu sinh, một trong ba người bạnkhông kiềm chế nổi dục vọng Họ lập mưu lừa Mã Lê để chiếm đoạt thân xác cô

Mã Lê phản kháng và trốn thoát về nhà Thủy kịp thời chạy theo, chứng kiến đượctất cả nỗi cơ cực của gia đình Mã Lê Từ đó, anh thay đổi, rời xa cuộc sống xa hoa

trụy lạc đó Tác phẩm Mã Lê được viết năm 1965 với mục đích cảnh tỉnh thanh

niên trước sự xâm lăng của văn hóa ngoại lai, vượt thoát khỏi sự đầu độc của vănhóa hưởng lạc, định hướng cho thanh niên tránh khỏi chính sách mị dân bằng vănhóa đồi trụy của chính quyền Sài Gòn Bên cạnh công việc sáng tác, Nguyễn BảoHóa còn làm công tác phê bình văn học và viết lời đề tựa cho một số tác phẩm,

trong đó có tiểu thuyết Đời Tươi Thắm của nhà văn Thẩm Thệ Hà, do Lá Dâu xuất

bản năm 1956

Về loại biên khảo gồm các tác phẩm:

- Nam Bộ chiến sử, NXb Lửa Sống, Sài Gòn, 1949

- Phạm Hồng Thái, NXB Sống Mới, Sài Gòn, 1957

- Tàn phá Cổ Am, NXB Tấn Phát, Sài Gòn, 1958

- Việt Nam 25 năm máu lửa, NXB Khai Trí, Sài Gòn, 1971.

Trang 29

- Chuyện xưa tích cũ (viết chung với Sơn Nam), NXB Tổng hợp Quảng Ngãi, 1991.

Nguyễn Bảo Hóa viết biên khảo dưới ngòi bút của một nhà văn, lồng vào đấy

tinh thần đấu tranh dân tộc, khơi gợi lòng yêu nước của thanh niên Nam Bộ chiến

sử (1949) ra đời vào thời điểm lĩnh vực biên khảo, phê bình đang vắng bóng

những tác phẩm thật sự có tiếng vang Chính vì thế mà bộ sử này được coi là cuốn

khảo luận nối tiếng nhất miền Nam thời bấy giờ Nam Bộ chiến sử được đánh giá

là có giá trị về mặt tuyên truyền nhưng lại còn quá nhiều thiếu sót do sử liệu ít vàkhả năng hạn chế của tác giả

Trong hai năm liền từ 1957 - 1958, song song với việc sáng tác, Nguyễn Bảo

Hóa vẫn cho ra đời hai cuốn sử về Phạm Hồng Thái, nằm trong bộ Danh nhân truyện ký, do nhà xuất bản Sống Mới ấn hành và cuốn Tàn Phá Cổ Am viết về khởi nghĩa Yên Bái của Nguyễn Thái Học do nhà Tấn Phát xuất bản Cuốn Phạm Hồng Thái nằm trong dự án sách về các danh nhân yêu nước của nhà xuất bản

Sống Mới, nhằm mục đích định hướng cho thanh thiếu niên lúc bấy giờ tránh khỏicám dỗ của văn học đồi trụy, đồng thời khơi gợi lòng yêu nước trong thanh niên

Trong khi đó tác phẩm Việt Nam 25 năm máu lửa từng được in trên Nhật báo Tin

sớm ra ngày 18 tháng 11 năm 1970 đã bị cấm xuất bản

TI U K T ỂU CỦA VĂN CHUƠNG ĐÔ THỊ NAM ẾT

Sự kiện Cách mạng tháng Tám 1945 đem lại một kỷ nguyên mới cho dân tộc ta, làcột mốc đánh dấu thời kỳ tự do ở miền Bắc, đồng thời mở ra một hành trình dàitranh đấu ở miền Nam Cơn gió tháng Tám ấy đã thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranhsục sôi trong tâm thức những người yêu nước Trong cơn xoay vần, văn học đô thịmiền Nam đã phô bày bộ mặt nhiều sắc thái của mình Sự pha trộn, đấu tranh giữacác khuynh hướng văn học yêu nước với văn học bình dân đã tạo nên một chỉnhthể thống nhất, một bộ mặt toàn vẹn của văn học miền Nam Nếu như giai đoạn

1945 - 1954 là thời kỳ của văn học yêu nước, văn học tranh đấu thì giai đoạn sau

đó, từ 1955 – 1975 là thời kỳ nội chiến diễn ra ác liệt trên lãnh thổ miền Nam, văn

Trang 30

học đã thay đổi hoàn toàn Văn học bình dân lên ngôi, chịu ảnh hưởng của các triếtthuyết phương Tây, là tiếng nói mới mẻ của lớp trí thức trẻ Nó như một làn sóngmới cuồng nhiệt vượt lên dòng văn học yêu nước ở giai đoạn trước

Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Bảo Hóa trải qua cả hai giai đoạn trên,

ở giai đoạn nào ông cũng có sáng tác và đóng góp trên nhiều mặt, nhất là báo chí

và văn học Nguyễn Bảo Hóa sáng tác khá đều tay và tập trung nhất từ 1946 –

1960, đó là giai đoạn sung sức nhất của ông, dù đã có lúc bị bắt giam vì hoạt độngcách mạng Cuộc đời của Nguyễn Bảo Hóa cũng như cuộc đời của các nhà văn –chiến sĩ khác, vừa hoạt động văn nghệ vừa đấu tranh Dù đứng ở góc độ nào,Nguyễn Bảo Hóa cũng nêu cao tinh thần tranh đấu, giữ vững chí khí can trường,lòng yêu nước và tinh thần dân tộc Cả một đời ông đã cống hiến tất cả tài năng vàsức lực cho một tương lai hòa bình, thống nhất của dân tộc

Trang 31

CH ƯƠNG I NG 2

NGUY N B O HÓA – NHÌN T HO T Đ NG BÁO CHÍ, XU T B N, ỄN BẢO HÓA – GUƠNG MẶT TIÊU BIỂU CỦA VĂN CHUƠNG ĐÔ THỊ NAM ẢO HÓA – GUƠNG MẶT TIÊU BIỂU CỦA VĂN CHUƠNG ĐÔ THỊ NAM Ừ HOẠT ĐỘNG BÁO CHÍ, XUẤT BẢN, ẠT ĐỘNG BÁO CHÍ, XUẤT BẢN, ỘI DUNG ẤT BẢN, ẢO HÓA – GUƠNG MẶT TIÊU BIỂU CỦA VĂN CHUƠNG ĐÔ THỊ NAM

PHÊ BÌNH VĂN H C VÀ BIÊN KH O ỌAN 1945 – 1975 ẢO HÓA – GUƠNG MẶT TIÊU BIỂU CỦA VĂN CHUƠNG ĐÔ THỊ NAM

Nguyễn Bảo Hóa là một trong những trí thức có hoạt động khá sôi nổi ởmiền Nam Ông tham gia và hoạt động năng nổ trên nhiều lĩnh vực từ biên khảo,sáng tác, phê bình văn học, báo chí, xuất bản Ở mỗi lĩnh vực, ông đều có đónggóp và đạt được những thành tựu nhất định

2.1 Ho t đ ng báo chí ạt động báo chí ộ 1945 – 1975

Trong những hoạt động của Nguyễn Bảo Hóa, hoạt động mạnh mẽ và sôinổi nhất là hoạt động báo chí với vai trò ký giả Từ năm 1940, khi đặt những bướcchân đầu tiên vào làng báo, Nguyễn Bảo Hóa đã tham gia hoạt động rộng rãi trênnhiều tờ báo khác nhau, giữ nhiều chức vụ khác nhau từ ký giả đến biên tập Ôngcộng tác với khoảng 10 tờ báo, có khi với vai trò là ký giả, có khi lại chịu trách

nhiệm biên tập: Việt bút, Việt báo, Tin điển, Buổi sáng, Sáng tạo, Tuần báo Nhân loại, Phổ thông, Tin sáng, Ánh sáng, Tiếng dội, Sài Gòn mai, Khi làm báo cũng

như viết văn, Nguyễn Bảo Hóa sử dụng bút danh chủ yếu là Tô Nguyệt Đình,

riêng khi cộng tác với Tuần báo Nhân loại, ông lấy bút danh là Tiêu Kim Thủy Trong số những tờ báo mà Nguyễn Bảo Hóa đã cộng tác, có thể nói tờ Tin điển, Tuần báo Nhân loại và Ánh sáng là ba tờ báo có sức ảnh hưởng mạnh mẽ trong

giới báo chí thời bấy giờ

Tờ Tin điển ra đời năm 1946, nhưng trên thực tế trước đó nó có tên là Điển tín, xuất hiện ở Sài Gòn từ năm 1935 – 1945, do ông Lê Trung Cang làm chủ

nhiệm Từ 1940 – 1945, ông Cang giao trọn quyền biên tập cho ký giả Nam Đình

và Trần Chí Thành Ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp tái chiếm Sài Gòn,

các tờ báo phải tản cư, Điển tín cũng đình bản Đến năm 1946, bà Anna Lê Trung Cang lập lại tờ Điển tín và đổi tên thành Tin điển, do ký giả Trần Tấn Quốc làm

Trang 32

chủ bút Từ 1946 trở đi, tờ Tin điển thu hút được nhiều phóng viên, ký giả cộng

tác bởi tính chiến đấu mạnh mẽ của nó, trong đó có nhà báo Nam Đình (Nguyễn

Kỳ Nam), Hoa Đường, Nam Quốc Cang, Tô Nguyệt Đình Tin điển là tờ báo có nhiều ký giả tham gia phong trào Báo chí thống nhất chống thuyết phân ly “Nam

Kỳ tự trị” và có tiếng nói yêu nước mạnh mẽ nhất trong phong trào, được công

chúng đánh giá và hoan nghênh Đến ngày 23 tháng 6 năm 1946, tờ Tin điển bị

khủng bố, tạm đình bản rồi sau đó là bị thu hồi giấy phép Trải qua nhiều lần tục

bản rồi lại tạm ngưng, đến năm 1958, Tin điển chính thức ngừng hoạt động với số

báo cuối cùng ra ngày 12 tháng 7

Sau Tin điển là nhật báo Ánh sáng ra đời năm 1953, cũng do bà Anna Lê

Trung Cang làm chủ nhiệm, nhà báo Thanh Sang làm chủ bút, Tô Nguyệt Đìnhkhi ấy làm biên tập viên và Hà Mặc đứng tên quản lý, điều hành vấn đề tiền bạc.Tòa soạn đặt tại đường Bonard Nội dung của tờ báo vẫn hướng về các vấn đềtrong xã hội, tuy nhiên chú trọng mảng đời sống lao động của công nhân, nổi bật

là những bài phóng sự điều tra của Thanh Thế về đời sống công nhân bị áp bức,bóc lột cùng nhiều tác phẩm kịch mang tính chất trào phúng, đả kích các sản phẩmkhiêu dâm, đồi trụy Đến 1954, tờ báo này cũng bị đình bản dưới chính quyền NgôĐình Diệm Sau sự kiện Ngô Đình Diệm bị đảo chính, bà Anna Lê Trung Cang

quyết định tái bản tờ Ánh sáng, số đầu tiên ra ngày 1 tháng 1 năm 1964 Vị trí chủ

bút được giao cho nhà báo Hoàng Hồ, ban biên tập giao cho Tô Nguyệt Đình vàĐặng Văn Nhâm phụ trách chính Nhưng thời gian này, Tô Nguyệt Đình khôngphụ trách vị trí biên tập viên thường trực mà chỉ viết bài và tiểu thuyết gửi về tòasoạn Đến tháng 12 năm 1964, tờ báo bị đóng cửa

Năm 1953, Tô Nguyệt Đình làm biên tập cho Tuần báo Nhân loại do nhà báo Anh Đào (Đào Tiến Đạt) làm chủ nhiệm Tờ Nhân loại với chủ trương

“chuyên sâu về văn nghệ, đăng nhiều tác phẩm có nội dung sâu sắc, đi sâu vào

lòng người đọc” [50; tr.204] đã thu hút được khá đông độc giả Tờ Nhân loại quy

tụ khá đông đảo nhà văn, cây bút yêu nước nổi bật như: Bình Nguyên Lộc,

Trang 33

Nguyên Hùng, Thiếu Sơn, Lý Văn Sâm, Sơn Nam, Truy Phong, Lê Văn, TháiBạch,

Chính việc cộng tác với nhiều tờ báo, hoạt động sôi nổi và tinh thần trách nhiệm, ýthức được “thiên chức” nhà báo của mình, Nguyễn Bảo Hóa đã sống và chiến đấuhết mình trong vai trò của một ký giả Đặc biệt ông tham gia nhiều phong trào báochí sôi nổi từ 1945 đến 1975

2.1.1 Phong trào Báo chí th ng nh t năm 1946 ống nhất năm 1946 ấn đề

Năm 1946, chính phủ Pháp với sự viện trợ của quân Anh đã quay lại đánhchiếm miền Nam, đặt ách thống trị nhằm chia cắt miền Nam ra khỏi Việt Nam Đểthực hiện âm mưu đó, Pháp đã dùng kế sách phân ly, thành lập một chính phủNam Kỳ tự trị, đứng đầu chủ trương ấy là Cédile Cédile đã tập hợp một lực lượnglưu manh tự xưng là “Mặt trận bình dân Nam Kỳ” do Nguyễn Tấn Cường, Lê VănTrương, Nguyễn Phong Tân, Nguyễn Phong Cảnh cầm đầu; dùng nhóm này làmtay sai để đàn áp những nhà yêu nước tiến bộ, đòi chống phân ly Cédile cũngdựng nên một “Hội đồng tư vấn Nam Kỳ” nhưng hội viên chủ yếu là đều là người

Pháp Nhà báo Sơn Tùng, trên tờ Sự thật đã khẳng định “Hội đồng tư vấn Nam

Kỳ” là “một thủ đoạn chính trị phụ vào những thủ đoạn quân sự và khủng bố dãman” mà thực dân Pháp thực hiện để thi hành chính sách phân ly ấy

“Cứ xem thành phần của Hội đồng ấy cũng đủ rõ: 1 ủy viên Cộng hòaPháp, 4 hội viên Pháp do thượng sứ Pháp chỉ định, 8 hội viên bản xứ (trong

số ấy, 7 người quốc tịch Pháp) Vậy trong số 13 hội viên, có 5 người Phápchính tông và nếu kể cả người quốc tịch Pháp thì người Pháp chiếm trọn 12ghế: 12 hội viên Pháp đại diện cho 20.000 Pháp kiều vây quanh 1 hội viênViệt Nam tự xưng là đại diện cho 5 triệu người Việt Nam Thật là một trò

hề Nhiều thân hào Việt Nam bị mời làm hội viên trong cái Hội đồng kỳquặc ấy, đã cương quyết từ chối.” [49; tr.2]

Trước âm mưu của thực dân Pháp, giới trí thức yêu nước, nhà báo đã thể

hiện sự chống đối của mình thông qua việc thành lập một Mặt trận Báo chí Thống nhất, ủng hộ quan điểm cách mạng và tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh, phản

Trang 34

đối phân ly Tham gia phong trào Báo chí Thống nhất có các tờ: Tin điển, Tân Việt, Nam Kỳ, Việt bút, Justice, Sud, Trung lập, Quần chúng, Dư luận, Lên đàng, Dân quyền, Dân thanh, Ánh sáng, Thời báo, Tân sanh, Sài Gòn mới.

Phong trào đã tập hợp được nhiều nhà báo tên tuổi, phụ trách bài vở chonhiều mục khác nhau từ truyện ngắn đến ký sự, bút ký, nhưng nội dung chínhvẫn tập trung vào nhiệm vụ chính trị nóng bỏng lúc bấy giờ là chống phân ly Banbiên tập được thành lập tại Xóm Thơm, Gò Vấp và lấy tên là Ban biên tập XómThơm do nhà báo Lê Thọ Xuân và Triệu Công Minh lập ra Nguyễn Bảo Hóa làmột trong những ký giả tham gia phong trào từ những ngày đầu tiên và là thànhviên của ban biên tập, cùng các nhà báo nổi tiếng khác như: Lý Vĩnh Khuông, LêThọ Xuân, Triệu Công Minh, Thiên Giang, Thanh Giang, Trần Thọ Phước, PhiVân, Lê Văn Ngôn, Họ đều là những cây bút chịu trách nhiệm chính, đóng vaitrò chủ lực trong phong trào này Ngoài ra còn có sự hợp tác của nhiều ký giả, nhàbáo khác và các cây bút nổi tiếng như Vũ Tùng, Thiếu Sơn, Dương Tử Giang,Tam Ích, Nam Quốc Cang, Nguyễn Kỳ Nam, Trần Tấn Quốc, Vũ Anh Khanh, LýVăn Sâm, Có thể thấy Báo chí Thống nhất đã tập hợp được rất nhiều những kýgiả, nhà báo tên tuổi tham gia, chứng tỏ phong trào này có sức lan tỏa rất lớn, cũngnhư tinh thần “thống nhất” trỗi dậy mạnh mẽ trong dư luận

Hoạt động đầu tiên của tổ chức gắn liền với sự kiện ngày 6 tháng 3 năm

1946, thời điểm Hiệp định Sơ bộ được ký kết Nhân thời cơ này, Báo chí Thống

nhất thực hiện quyết tâm đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị Ngày 1 tháng 5, họ tổchức một cuộc mít-tinh lớn tại trụ sở phân bộ Đảng Xã hội Pháp trên đườngFarinole (nay là đường Đặng Trần Côn) Cuộc mít-tinh này bị nhóm tay sai Phápbủa vây và đàn áp nhưng không thành công Pháp tiếp tục thực hiện khủng bốnhững thành phần chủ chốt của phong trào Ban Biên tập Xóm Thơm bị lộ phải

chuyển địa điểm hoạt động về hẻm chùa Kỳ Viên Trong khi đó các báo Tân Việt, Tin điển, Nam kỳ, Kiến thiết, Kiều liên, có tờ bị đình chỉ, có tờ thì chủ báo bị sát

hại Tuy nhiên, cuộc đấu tranh vẫn diễn ra sôi nổi và ác liệt hơn trên trường báochí Các nhà báo vẫn hoạt động tích cực và quyết liệt, cụ thể hơn

Trang 35

Đến ngày 10 tháng 10 năm 1946, tổ chức Báo chí thống nhất chính thứcđược thành lập, ra bản Tuyên ngôn vạch rõ chí hướng hoạt động Năm 1947, nhàbáo Nam Quốc Cang ra mặt đấu lý với tổng trưởng Bộ thuộc địa Marius Moutet vềvấn đề chiến tranh và hòa bình Cũng trong thời gian đó, Báo chí thống nhất vẫntiếp tục hoạt động mạnh mẽ cùng với kháng chiến toàn quốc, chĩa mũi nhọn vàochính phủ Trần Trọng Kim và âm mưu phục hồi chế độ quân chủ ở nước ta củaPháp, Mỹ Trong suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, báo chí đã có một đời sốngđấu tranh vô cùng mạnh mẽ và quyết liệt, sản sinh ra một thế hệ những nhà báotiêu biểu, can trường, dũng cảm chiến đấu, kiên trì liên tục với những tên tuổi nổitiếng như Vũ Tùng, Nam Quốc Cang, Khuông Việt, Lê Thọ Xuân Cũng nằmtrong đội ngũ những nhà báo yêu nước tiến bộ và trưởng thành từ cuộc khángchiến chống Pháp, Nguyễn Bảo Hóa với vai trò là thành viên của Ban biên tậpXóm Thơm, chịu trách nhiệm biên tập, viết bài đã có những đóng góp nhất địnhtrong phong trào Báo chí thống nhất nói riêng và cuộc kháng chiến chống Phápnói chung.

2.1.2 Phong trào B o v hòa bình năm 1954 ảo Hóa – cuộc đời và khái quát sự nghiệp ệu văn học đô thị Nam Bộ 1945 – 1975

Năm 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève được ký kết,hai miền Nam – Bắc tạm đình chiến Thế nhưng đế quốc Mỹ không muốn Hiệpđịnh Genève được thi hành, Mỹ đã thay chân Pháp xâm chiếm miền Nam, nhen lạingọn lửa chiến tranh

Thời kỳ này giới báo chí ở Sài Gòn đang có sự chuyển mình hết sức phứctạp và sôi động Đời sống báo chí cách mạng như được tiếp thêm lửa, hừng hựckhí thế đấu tranh Lực lượng báo chí ở vùng tự do với nhiều nhà báo nổi tiếng như

Lý Văn Sâm, Dương Tử Giang, Vũ Tùng, Thiếu Sơn, nay được tăng cườngthêm một số cán bộ phụ trách và nhà văn, nhà báo trưởng thành từ kháng chiếnnhư Viễn Phương, Trang Thế Hy, Vũ Hạnh, Nguyễn Khắc Cần, Phan Ba Khôngnhững thế, báo chí còn có sự nhập cư của các nhà báo từ miền Bắc chuyển vàonhư Tam Lang, Vũ Bằng, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Những nhà báo này

di cư theo chính sách của chính quyền miền Nam được Mỹ viện trợ Trong thời

Trang 36

gian này, Nguyễn Bảo Hóa cộng tác với một số tờ báo chủ yếu như Tuần báo Nhân loại với bút hiệu là Tiêu Kim Thủy; báo Ánh sáng, Việt thanh với vai trò là

biên tập viên thường trực

Trước ý định không muốn thi hành Hiệp định Genève của chính quyền Ngô

Đình Diệm, giới báo chí đã hành động Một Phong trào bảo vệ hòa bình Sài Gòn – Chợ Lớn được thành lập với sự góp mặt đông đảo của lực lượng trí thức, ký giả.

“Chiều 1/8/1954, Ban chấp hành (còn gọi là Ban sáng lập) “Phong trào bảo

vệ hòa bình Sài Gòn – Chợ Lớn” ra mắt nhân dân thành phố Ban chấphành có trên 30 người, gồm những nhân vật danh tiếng và đại diện của cácngành, các giới:

- Chủ tịch danh dự gồm có: kỹ sư Lưu Văn Lang, chủ tịch HộiTăng Già Thích Huệ Quảng, Giám đốc ngân hàng Nguyễn Văn

Vỹ, luật sư Trịnh Đình Thảo và dược sĩ Nguyễn Văn Liễn

- Chủ tịch BCH: Dược sĩ Trần Kim Quan

- Phó chủ tịch: Luật sư Nguyễn Hữu Thọ và nhà báo Nguyễn ThịLựu

- Ban thư ký: Giáo sư sử học Phạm Huy Thông, giáo sư luật họcNguyễn Văn Dưỡng, đại biểu công nhân Nguyễn Văn Để

- Thủ quỹ: Tử Bá Đước, Năm Châu

Trong BCH có các đảng viên như Hoàng Quốc Tân, Nguyễn HữuThọ, Nguyễn Thị Lựu, Phạm Huy Thông và nhiều đồng chí khác ởtrong các tiểu ban của phong trào Đại diện cho giới báo chí có kýgiả Nguyễn Bảo Hóa (Tô Nguyệt Đình, đảng viên) và ký giả Tư Mã

Việt BCH quyết định ra báo lấy tên là Hòa bình, làm cơ quan ngôn

luận cho phong trào” [21; tr.303 – 304]

Mục đích của phong trào là “làm cho hòa bình ở Đông Dương được củng

cố, quyền tự do dân chủ được đảm bảo và thống nhất nước nhà được thực hiệnbằng tổng tuyển cử tự do theo tinh thần Hiệp định Genève” [21; tr.304]

Trang 37

“Phong trào bảo vệ hòa bình” không xin phép chính quyền miền Nam, côngkhai hoạt động, đặt trụ sở tại đường Galliéni (Trần Hưng Đạo), liên lạc tiếpxúc với ủy ban Quốc tế kiểm soát đình chiến Mỗi ngày phong trào pháthành bản tin in ronéo, hàng tuần phát hành tờ nội san khổ lớn, 16 trang;giáo sư Phạm Huy Thông phụ trách biên tập, Lê Dân, Nguyễn Bảo Hóa thư

ký tòa soạn.” [12; tr.597]

Phong trào được phần lớn báo công khai ủng hộ, tuy còn một số báo vẫngiữ thái độ dè dặt Mặc dù vậy, phong trào đã thu hút được trên 5.000 thanh niên,nhân dân Sài Gòn xuống đường mít-tinh, biểu tình mừng hòa bình, đòi thi hànhHiệp định Genève, đòi tổ chức tuyển cử tự do, hòa bình và thống nhất đất nước.Đồng thời, ban biên tập tòa soạn do giáo sư Phạm Huy Thông, Lê Dân, Nguyễn

Bảo Hóa phụ trách, cho xuất bản báo Hòa bình và các tập sách nhỏ đăng toàn văn

các văn kiện của Hiệp định Genève, giải thích các điều khoản của Hiệp định nhằmvạch rõ sự xuyên tạc, vi phạm trắng trợn Hiệp định Genève của chính quyền SàiGòn Tổng thống Ngô Đình Diệm ra tay đàn áp phong trào dã man nhưng vấp phải

sự bênh vực và kháng cự mạnh mẽ từ phía dư luận Chính quyền Diệm ra tay lùngsục, bắt bớ, truy quét các cơ sở cách mạng cùng những thành phần khởi xướngphong trào Nhiều trí thức bị bắt bớ, một số cơ sở cách mạng bị phá vỡ NguyễnBảo Hóa cùng với các trí thức đi đầu phong trào như luật sư Nguyễn Hữu Thọ, kỹ

sư Lưu Văn Lang, Thầy Thích Huệ Quảng, Nguyễn Văn Vĩ, dược sĩ Trần KimQuan, ký giả Tư Mã Việt và nhiều trí thức khác bị bắt vào cuối tháng 10

“Sau mấy tháng giam giữ ở Gia Định, Chí Hòa, đầu tháng 12 năm

ấy, chính quyền Diệm đày 26 thành viên trong phong trào ra Hải Phòng.Tranh đấu với Ủy hội quốc tế kiểm soát đình chiến, cuối cùng nhóm Hòabình được đưa về Sài Gòn, trừ giáo sư Phạm Huy Thông về Hà Nội Nhưngvừa xuống phi trường Tân Sơn Nhất vào cuối tháng 4 năm 1955, luật sưNguyễn Hữu Thọ, giáo sư Nguyễn Văn Dưỡng và điền chủ Tử Bá Đước bịmật vụ của Diệm bắt lại, đưa đi Phú Yên” [27; tr.48]

Trang 38

Dù vậy, sự đàn áp đó không dập tắt được ngọn lửa đấu tranh mà chỉ làmcho phong trào lắng xuống.

Sau “Phong trào bảo vệ Hòa bình”, Nguyễn Bảo Hóa vẫn kiên trì hoạt động

cách mạng bằng ngòi bút báo chí Năm 1957, khi đang cộng tác với báo Ánh Sáng, Nguyễn Bảo Hóa cùng với các nhà báo Triệu Công Minh (báo Tiếng chuông), Lương Ngọc (báo Trời Nam), Trường Xuân Trúc (báo Dân chúng), Phan Ba (báo Buổi sáng), bị bắt đưa về giam ở khám đường Mỹ Tho Ký giả Triệu Công Minh

đã thay mặt tất cả những nhà báo, ký giả bị bắt lúc đó lên tiếng đấu lý với Tỉnhtrưởng Nguyễn Trân về vấn đề chính quyền miền Nam bắt người làm báo cựukháng chiến và những nhà trí thức về quy tội chính trị là không đúng và yêu cầuđược thả tự do Vụ việc này được đăng lên trang nhất của các báo làm xôn xao dưluận lúc bấy giờ đã khiến cho uy tín của các nhà báo được nâng lên

Trong những năm từ 1957 đến 1960, tình hình ở miền Nam hết sức căngthẳng vì Ngô Đình Diệm bị ám sát hụt, sau đó lại xảy ra cuộc đảo chính củaNguyễn Chánh Thi Báo chí bị khủng bố mạnh mẽ hơn nữa, mọi hoạt động đều bịkiểm soát gắt gao, một số tờ báo phải đóng cửa, nhiều tờ báo là cơ sở nội thànhcủa cách mạng bị đánh tan Báo chí cách mạng bị tổn thất nặng nề do nhiều cán bộtrí vận đã bị bắt Nhưng trong thời gian ấy, năm 1960 là một cột mốc lịch sử, đánhdấu ngày nhân dân Nam Bộ đồng khởi và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Namthành lập Trước tình hình đó, Nguyễn Bảo Hóa dưới tên Tô Nguyệt Đình, cùng

nhà báo Trà Tiên, Văn Mại đã tổ chức vận động các báo Tiếng chuông, Sài Gòn mới, Tiếng Dội tự bán báo của mình, gọi là “báo cổ động” Từ cuộc vận động ở

quy mô nhỏ này đã dấy lên một phong trào phát hành “báo cổ động”, góp phầnlàm suy yếu vai trò của Nha Tổng phát hành thống nhất

Năm 1964, Nguyễn Bảo Hóa tiếp tục tham gia trong Bộ biên tập của báo

Dân tộc do Lê Thọ Xuân làm thư ký Ban biên tập gồm các ký giả: Tô Nguyệt

Đình, Đoàn Hùng, Hướng Nam, Phạm Lê, Cánh Thành, Quốc Phượng, Tờ báođầu tiên ra đời vào ngày 9 tháng 1 năm 1964, chủ trương của báo là vận động nhândân đấu tranh đòi hòa bình, trung lập hóa miền Nam Việt Nam Được sự hậu thuẫn

Trang 39

của nhiều bang hội, nghiệp đoàn, tờ báo phát triển mạnh mẽ, số lượng ngày một

tăng Nhưng Dân tộc mới chỉ ra được 9 số thì bị chính quyền Sài Gòn lên án, ra

lệnh đóng cửa Riêng ban biên tập gồm Nguyễn Bảo Hóa và 13 ký giả khác bịcông an, tình báo theo dõi nên phải ẩn mình, giấu mặt

Từ 1965 đến 1972, Mỹ thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt” ở miềnNam, lấy quân đội Sài Gòn làm quân chủ lực Mỹ tăng cường chiến tranh bằngbom đạn, thuốc độc hóa học, tâm lý, văn hóa đến cực độ Sài Gòn lúc này nghẹtthở giữa bầu không khí căng thẳng Thế nhưng lực lượng báo chí vẫn miệt màitranh đấu Thời gian này, Nguyễn Bảo Hóa tham gia vào lực lượng văn học, báochí công khai, theo kế hoạch của Đảng giao cho đồng chí Trần Trọng Tân, vớimục đích thông tin rõ ràng cho dư luận nắm được, gạt bỏ âm mưu bóp méo, bưngbít thông tin của chính quyền Sài Gòn trong cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân

1968

Nguyễn Bảo Hóa tham gia với vai trò Trưởng ban Ký giả nội thành cùngvới hai ủy viên là Văn Mại và Quốc Phương Cùng với thành phần chủ chốt còn cónhững ký giả nòng cốt, phụ trách việc đưa thông tin, tài liệu trong và ngoài nước,giúp cho dư luận có cái nhìn đúng đắn về tình hình cuộc chiến tranh ở nước ta

2.1.3 Phong trào “Ngày ký gi đi ăn mày” năm 1974 ảo Hóa – cuộc đời và khái quát sự nghiệp

Cuộc biểu tình ngày 10 tháng 10 năm 1974 mang tên “Ngày ký giả đi ănmày” là một ngày khó quên đối với làng báo chí miền Nam Nguyễn Bảo Hóa lúcnày đang giữ chức Cố vấn Nghiệp đoàn ký giả Nam Việt và cố vấn Hội Ái hữu kýgiả Việt Nam, là một trong những gương mặt đại diện đi đầu của phong trào

Theo sắc luật 007/47 của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, buộc các chủ báophải nộp tiền ký quỹ xuất bản là 20 triệu đồng cho báo phát hành hằng ngày và 10triệu đồng cho tạp chí Nếu không đóng tiền ký quỹ thì tờ báo sẽ bị đóng cửa và tờnào bị tịch thu lần thứ hai cũng phải đóng cửa Sắc luật ấy đã khiến cho hầu hếtcác tờ báo phẫn nộ Sau nhiều lần thương thuyết, đấu tranh không thành công, các

nhà báo, ký giả quyết định tổ chức biểu tình, lấy tên là Ngày ký giả đi ăn mày.

Trang 40

Phương án đấu tranh là mỗi người tham gia biểu tình sẽ mang một cái gậy, một cái

bị, đoàn bắt đầu đi từ đường Lê Lợi tới chợ Bến Thành rồi trở lên, giải tán

Ngày 10 tháng 10 năm 1974, đoàn biểu tình đi theo kế hoạch đã định Đạidiện phong trào có chủ tịch Nghiệp đoàn Nam Việt Nguyễn Kiên Giang, Tô Văn,Phi Vân của đoàn ký giả Nam Việt, nhà báo Văn Mại, Lý Bình Hiệp, Trần KimUẩn, Nguyễn Bảo Hóa, Đoàn Hùng, Ái Lan,

Đúng 8 giờ sáng, nhà báo Nguyễn Kiên Giang thay mặt Ban tổ chức đọcdiễn văn và phát lệnh xuống đường biểu tình Chính quyền Sài Gòn đã dùng mậtthám, xe jeep, cảnh sát để ngăn chặn nhưng vấp phải sự phản ứng quyết liệt từphía ký giả cùng với các nhóm học sinh, sinh viên lúc bấy giờ Cùng với khẩu hiệu

“Ký giả đi ăn mày” còn có những khẩu hiệu đòi “Tự do ngôn luận, tự do báo chí”

và “Yêu cầu Tổng thống Thiệu từ chức” Cuộc biểu tình đã diễn ra thành công, kếtthúc lộ trình như kế hoạch đã sẵn Sau khi các ký giả lui về trụ sở Nghiệp đoàn Kýgiả Nam Việt, chính quyền Sài Gòn đã cho cảnh sát đến đàn áp, trả thù bằng cáchđánh đập các nhà báo, ký giả bằng dùi cui làm nhiều người bị thương nặng

Ngày 28 tháng 11, tòa án xử lý báo chí bị tịch thu theo sắc lệnh 007 Ngaylập tức, Ủy ban tổ chức tranh đấu của ký giả liên minh với các lực lượng quầnchúng và tôn giáo xuống đường đấu tranh Một đoàn với 100 nhà báo giương caobăng rôn “Ngày báo chí thọ nạn lần thứ hai”, do Tô Nguyệt Đình và Ký Ninh dẫnđầu, cùng với Nguyễn Minh Đăng và linh mục Trần Hữu Thanh tiếp tục cuộc biểutình lần thứ hai

Chính quyền Sài Gòn đã huy động một lực lượng hùng hậu để đàn áp gồm

an ninh tình báo, cảnh sát bao vây, chia cắt đoàn biểu tình Dù hỗn loạn vì bị đàn

áp mạnh tay, đoàn vẫn đến được cổng pháp đình, nhưng tòa án đóng chặt cửa Tòa

án không dám xử báo chí và đoàn biểu tình lại rút về để giữ sức cho cuộc biểu tìnhlần thứ ba Cuộc xuống đường lần thứ ba thuận lợi hơn lần thứ hai, nhưng sốlượng nhà báo đã giảm sút Cảnh sát cô lập, không cho quần chúng tiếp cận đoànbiểu tình “Đoàn đi đến cổng tòa Cửa vẫn đóng chặt, im re! Trước khi tự giải tán,đoàn cột biểu ngữ trên cổng pháp đình và hô khẩu hiệu đòi tự do báo chí, tự do

Ngày đăng: 11/05/2020, 23:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w