THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NỢ NƯỚC NGOÀI CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA CHÂU ÂU. I. TỔNG QUAN VỀ NỢ CÔNG 1.1 Tổng quan nợ công ở các nước Châu Âu Khủng hoảng tài chính thế giới năm 20072008 làm cho chính phủ nhiều nước gia tăng nợ công nhanh chóng. Khủng hoảng làm cho nhiều tổ chức tài chính và ngân hàng sụp đổ. Để tránh một sự sụp đổ dây chuyền trong hệ thống tài chính gây ra một cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng buộc các chính phủ phải can thiệp mạnh để giải cứu các tổ chức tài chính. Việc giải cứu của chính phủ làm cho nợ công tăng lên nhanh chóng. Ngoài ra, khủng hoảng làm cho nền kinh tế suy thoái nghiêm trọng buộc các chính phủ phải tung ra các gói kích thích kinh tế. Chính điều này cũng làm cho thâm hụt ngân sách tăng cao và nợ công tăng lên. Các nước phát triển có mức thâm hụt ngân sách cao hơn các nước đang phát triển (bao gồm các nước mới nổi và các nước thu nhập thấp). Việc vay mượn của các chính phủ không phải là điều gì mới mẻ mà đã tồn tại từ lâu trong lịch sử. Việc thu thuế để trang trải chi tiêu của chính phủ thường không đủ, nhất là các giai đoạn của chiến tranh hay khủng hoảng. Vì vậy, trong lịch sử, các chính phủ thường xuyên vay mượn của dân chúng và vay mượn từ bên ngoài là khá phổ biến. Khi cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu khởi đầu từ Mỹ vào năm 2008, nợ công các nước thành viên EU đều tăng đáng kể, hầu hết đều vượt quá ngưỡng quy định (60%) của khối, trong đó, điển hình là Italia và Hy Lạp đều có mức nợ công lần lượt lên tới 112,5% và 126,7% GDP năm 2009. Khi lợi tức trái phiếu chính phủ kỳ hạn 2 năm của Hy Lạp liên tục tăng cao từ 3,47% vào tháng 12010, lên 9,73% vào tháng 72010, thế giới nhận ra rằng Hy Lạp có thể sẽ vỡ nợ, đây chính là dấu hiệu khởi đầu cho cuộc khủng hoảng nợ công diễn ra tại EU. Khủng hoảng nợ công bắt đầu từ Hy Lạp, sau đó lan sang Ireland và các quốc gia khác trong khu vực Eurozone. Giai đoạn 20102015, diễn biến nợ công của khu vực Eurozone ngày càng xấu đi, khi mức nợ công chung tăng từ 65% GDP năm 2007 lên 91,6% GDP năm 2013 và ngân sách các nước liên tục trong tình trạng thâm hụt vượt quá mức giới hạn 3% mà EU quy định. Tỷ lệ nợ công của Ireland tăng từ 23,9% năm 2007 lên 110,3% GDP trong năm 2011; nợ công của Bồ Đào Nha tăng từ 68,4% năm 2007 lên 96,2% GDP trong năm 2010. Đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng nợ công là Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ireland và Cộng hoà Síp đã phải xin cứu trợ khẩn cấp để tránh vỡ nợ. Đến năm 2011, khủng hoảng nợ công của khu vực Eurozone đã trở thành nguy cơ có ảnh hưởng nghiêm trọng lớn nhất đến thế giới, khi Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Italia và Ireland tiếp bước Hy Lạp lâm vào tình trạng sắp phá sản. Theo thống kê của Eurostat, tính đến cuối năm 2014, nợ công ở khu vực Eurozone lên tới 91,9% GDP, mức cao nhất kể từ khi đồng Euro được lưu hành từ năm 1999. Năm 2014, chi tiêu công của các nước trong Eurozone tương đương 49% GDP, trong khi thu ngân sách chỉ đạt 46,6% GDP. Đứng trước nguy cơ cuộc khủng hoảng lan rộng, Liên minh châu Âu (EU) đã thực hiện các chính sách giải cứu. Vào ngày 09052010, chính phủ 27 nước EU đã đồng ý thành lập Quỹ ổn định tài chính châu Âu (European Financial Stability Facility – EFSF). Năng lực cho vay của Quỹ này đạt đến 440 tỉ Euro. Trái phiếu do Quỹ phát hành được bảo lãnh bởi chính phủ các nước EU. Chức năng của Quỹ là hỗ trợ tài chính cho những nước thành viên EU gặp khó khăn. Đến ngày 26102011, Liên minh châu Âu đã tăng cam kết cho quy mô Quỹ lên 1000 tỉ Euro. Cho đến nay Quỹ này đã hỗ trợ Hy Lạp 144,6 tỉ Euro, Ireland 18,4 tỉ Euro, Bồ Đào Nha 26 tỉ Euro. Ngoài ra, Ủy ban châu Âu (European Commission) cũng thành lập công cụ ổn định tài chính châu Âu (European Financial Stabilisation Mechanism EFSM) với năng lực hỗ trợ 60 tỉ Euro dựa trên sự đảm bảo từ ngân sách của Liên minh châu Âu. Cho đến nay công cụ này đã hỗ trợ cho Ireland 22,5 tỉ Euro, Bồ Đào Nha 26 tỉ Euro. Ngoài các biện pháp trên, chính phủ các nước EU cũng đã đồng ý xóa nợ một phần (ví dụ như 50% cho Hy Lạp) cho các nước khủng hoảng. Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cũng đã hành động mạnh mẽ để ngăn chặn khủng hoảng. ECB đã tăng cường mua trái phiếu chính phủ và thậm chí là các công cụ nợ của khu vực tư nhân. ECB đã liên tục cắt giảm lãi suất xuống mức thấp kỷ lục. Cho đến cuối năm 2013, lãi suất của ECB chỉ còn 0,25%năm. ECB đã cho một số lượng lớn ngân hàng vay tiền để giải quyết khó khăn về thanh khoản. Sự kết hợp giữa các biện pháp tài khóa và chính sách tiền tệ của ECB đã dần có kết quả. Đến cuối năm 2013, đầu năm 2014 tình hình đã được cải thiện đáng kể. Một số nước gặp khủng hoảng đã không cần sự hỗ trợ từ EU nữa. Ngoài ra, để ngăn chặn cho các cuộc khủng hoảng tương lai, EU đã tiến hành hàng loạt các cải cách trong hệ thống tài chính, hệ thống tài khóa và tái cơ cấu nền kinh tế. Tuy nhiên, EU vẫn còn nhiều khó khăn và phải mất nhiều năm mới trở lại tốc độ tăng trưởng kinh tế bình thường. 1.2 Khái niệm nợ công Theo quy định của Luật Quản lý nợ công tại Việt Nam, nợ công bao gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương. Nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, ủy quyền phát hành theo quy định của pháp luật. Nợ chính phủ không bao gồm các khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ Nợ được chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được chính phủ bảo lãnh Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ký kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành. 1.3 Đặc điểm của nợ công Tuy có nhiều cách tiếp cận rộng hẹp khác nhau về nợ công, nhưng về cơ bản, nợ công có những đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, nợ công là khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của nhà nước. Khác với các khoản nợ thông thường, nợ công được xác định là một khoản nợ mà Nhà nước (bao gồm các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) có trách nhiệm trả khoản nợ ấy. Trách nhiệm trả nợ của nhà nước được thể hiện dưới hai góc độ trả nợ trực tiếp và trả nợ gián tiếp. Thứ hai, nợ công được quản lý theo quy trình chặt chẽ với sự tham gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc quản lý nợ công đòi hỏi quy trình chặt chẽ nhằm đảm bảo hai mục đích: Một là, đảm bảo khả năng trả nợ của đơn vị sử dụng vốn vay và cao hơn nữa là đảm bảo cán cân thanh toán vĩ mô và an ninh tài chính quốc gia; Hai là, đề đạt được những mục tiêu của quá trình sử dụng vốn. Thứ ba, mục tiêu cao nhất trong việc huy động và sử dụng nợ công là phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích cộng đồng. Nợ công được huy động và sử dụng không phải để thỏa mãn những lợi ích riêng của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào, mà vì lợi ích chung của cộng đồng, để phát triển kinh tế xã hội của đất nước và phải coi đó là điều kiện quan trọng nhất.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Đề Tài:
“THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NỢ NƯỚC NGOÀI CỦA
MỘT SỐ QUỐC GIA CHÂU ÂU”
Trang 2DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Tên đầy đủ tiếng Anh Tên đầy đủ tiếng Việt
ECB European Central Bank Ngân hàng Trung ương châu Âu
EFSM European Financial Stabilisation Mechanism Cơ chế bình ổn tài chính châu Âu
Trang 3Danh mục các bảng biểu
Bảng 1.1 Các chỉ số kinh tế tại Hy Lạp
Bảng1.2 Nợ công và thâm hụt ngân sách nhà nước tại Hy Lạp
Bảng 1.3 Các chỉ số kinh tế của Bồ Đào Nha
Danh mục các hình
Trang Hình1.1 Biểu đồ thể hiện nợ công và thâm hụt ngân sách nhà nước tại Hy
Hình 1.2 Tỷ lệ nợ công trên GDP 12 Hình 1.3 Nợ nước ngoài của Ireland 12
Hình1.5 Đầu tư trực tiếp nước ngoài giai đoạn năm 2009 đến 2016 15 Hình1.6 Biểu đồ thể hiện nợ công và thâm hụt ngân sách nhà nước tại Bồ
Trang 4MỤC LỤC
I TỔNG QUAN VỀ NỢ CÔNG 5
1.1 Tổng quan nợ công ở các nước Châu Âu 5
1.2 Khái niệm nợ công 6
1.3 Đặc điểm của nợ công 7
II THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN NỢ CÔNG Ở MỘT SỐ NƯỚC CHÂU ÂU 8
1 Nợ công ở Hy Lạp 8
1.1 Thực trạng nợ công ở Hy Lạp 8
1.2 Nguyên nhân khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp 10
1.2.1 Nguyên nhân bên trong 10
1.2.2 Nguyên nhân bên ngoài 11
1.2.3 Tác động của nợ công 12
2 Nợ công ở Ireland 12
2.1 Thực trạng nợ công ở Ireland 12
2.2 Nguyên nhân 14
2.3 Tác động của nợ công 15
2.3.1 Gía trái phiếu và lãi suất 15
2.3.2 Cắt giảm chi tiêu 15
2.3.3 Đầu tư trực tiếp FDI 15
3 Nợ công ở Bồ Đào Nha 16
3.1 Thực trạng nợ công tại Bồ Đào Nha 16
3.2 Nguyên nhân 17
III GIẢI PHÁP 18
1 Giải pháp nợ công ở Hy Lạp 18
2 Giải pháp nợ công ở Ireland 18
3 Giải pháp nợ công ở Bồ Đào Nha 19
IV KẾT LUẬN VÀ BÀI HỌC RÚT RA TỪ NỢ CÔNG Ở CHÂU ÂU CHO VIỆT NAM 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
Trang 5I TỔNG QUAN VỀ NỢ CÔNG
1.1 Tổng quan nợ công ở các nước Châu Âu
Khủng hoảng tài chính thế giới năm 2007-2008 làm cho chính phủ nhiều nước gia tăngnợ công nhanh chóng Khủng hoảng làm cho nhiều tổ chức tài chính và ngân hàng sụp
đổ Để tránh một sự sụp đổ dây chuyền trong hệ thống tài chính gây ra một cuộc khủnghoảng kinh tế nghiêm trọng buộc các chính phủ phải can thiệp mạnh để giải cứu các tổchức tài chính Việc giải cứu của chính phủ làm cho nợ công tăng lên nhanh chóng.Ngoài ra, khủng hoảng làm cho nền kinh tế suy thoái nghiêm trọng buộc các chính phủphải tung ra các gói kích thích kinh tế Chính điều này cũng làm cho thâm hụt ngânsách tăng cao và nợ công tăng lên Các nước phát triển có mức thâm hụt ngân sách caohơn các nước đang phát triển (bao gồm các nước mới nổi và các nước thu nhập thấp).Việc vay mượn của các chính phủ không phải là điều gì mới mẻ mà đã tồn tại từ lâutrong lịch sử Việc thu thuế để trang trải chi tiêu của chính phủ thường không đủ, nhất
là các giai đoạn của chiến tranh hay khủng hoảng Vì vậy, trong lịch sử, các chính phủthường xuyên vay mượn của dân chúng và vay mượn từ bên ngoài là khá phổ biến Khi cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu khởi đầu từ Mỹ vào năm 2008, nợcông các nước thành viên EU đều tăng đáng kể, hầu hết đều vượt quá ngưỡng quy định(60%) của khối, trong đó, điển hình là Italia và Hy Lạp đều có mức nợ công lần lượtlên tới 112,5% và 126,7% GDP năm 2009 Khi lợi tức trái phiếu chính phủ kỳ hạn 2năm của Hy Lạp liên tục tăng cao từ 3,47% vào tháng 1/2010, lên 9,73% vào tháng7/2010, thế giới nhận ra rằng Hy Lạp có thể sẽ vỡ nợ, đây chính là dấu hiệu khởi đầucho cuộc khủng hoảng nợ công diễn ra tại EU
Khủng hoảng nợ công bắt đầu từ Hy Lạp, sau đó lan sang Ireland và các quốc gia kháctrong khu vực Eurozone Giai đoạn 2010-2015, diễn biến nợ công của khu vựcEurozone ngày càng xấu đi, khi mức nợ công chung tăng từ 65% GDP năm 2007 lên91,6% GDP năm 2013 và ngân sách các nước liên tục trong tình trạng thâm hụt vượtquá mức giới hạn 3% mà EU quy định Tỷ lệ nợ công của Ireland tăng từ 23,9% năm
2007 lên 110,3% GDP trong năm 2011; nợ công của Bồ Đào Nha tăng từ 68,4% năm
2007 lên 96,2% GDP trong năm 2010 Đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng nợ công là HyLạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ireland và Cộng hoà Síp đã phải xin cứu trợ khẩn cấpđể tránh vỡ nợ
Đến năm 2011, khủng hoảng nợ công của khu vực Eurozone đã trở thành nguy cơ cóảnh hưởng nghiêm trọng lớn nhất đến thế giới, khi Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Italia vàIreland tiếp bước Hy Lạp lâm vào tình trạng sắp phá sản Theo thống kê của Eurostat,tính đến cuối năm 2014, nợ công ở khu vực Eurozone lên tới 91,9% GDP, mức caonhất kể từ khi đồng Euro được lưu hành từ năm 1999 Năm 2014, chi tiêu công của các
Trang 6nước trong Eurozone tương đương 49% GDP, trong khi thu ngân sách chỉ đạt 46,6%GDP.
Đứng trước nguy cơ cuộc khủng hoảng lan rộng, Liên minh châu Âu (EU) đã thực hiệncác chính sách giải cứu Vào ngày 09/05/2010, chính phủ 27 nước EU đã đồng ý thànhlập Quỹ ổn định tài chính châu Âu (European Financial Stability Facility – EFSF).Năng lực cho vay của Quỹ này đạt đến 440 tỉ Euro Trái phiếu do Quỹ phát hành đượcbảo lãnh bởi chính phủ các nước EU Chức năng của Quỹ là hỗ trợ tài chính cho nhữngnước thành viên EU gặp khó khăn Đến ngày 26/10/2011, Liên minh châu Âu đã tăngcam kết cho quy mô Quỹ lên 1000 tỉ Euro Cho đến nay Quỹ này đã hỗ trợ Hy Lạp144,6 tỉ Euro, Ireland 18,4 tỉ Euro, Bồ Đào Nha 26 tỉ Euro Ngoài ra, Ủy ban châu Âu(European Commission) cũng thành lập công cụ ổn định tài chính châu Âu (EuropeanFinancial Stabilisation Mechanism - EFSM) với năng lực hỗ trợ 60 tỉ Euro dựa trên sựđảm bảo từ ngân sách của Liên minh châu Âu Cho đến nay công cụ này đã hỗ trợ choIreland 22,5 tỉ Euro, Bồ Đào Nha 26 tỉ Euro
Ngoài các biện pháp trên, chính phủ các nước EU cũng đã đồng ý xóa nợ một phần (vídụ như 50% cho Hy Lạp) cho các nước khủng hoảng Ngân hàng Trung ương châu Âu(ECB) cũng đã hành động mạnh mẽ để ngăn chặn khủng hoảng ECB đã tăng cườngmua trái phiếu chính phủ và thậm chí là các công cụ nợ của khu vực tư nhân ECB đãliên tục cắt giảm lãi suất xuống mức thấp kỷ lục Cho đến cuối năm 2013, lãi suất củaECB chỉ còn 0,25%/năm ECB đã cho một số lượng lớn ngân hàng vay tiền để giảiquyết khó khăn về thanh khoản Sự kết hợp giữa các biện pháp tài khóa và chính sáchtiền tệ của ECB đã dần có kết quả Đến cuối năm 2013, đầu năm 2014 tình hình đãđược cải thiện đáng kể Một số nước gặp khủng hoảng đã không cần sự hỗ trợ từ EUnữa Ngoài ra, để ngăn chặn cho các cuộc khủng hoảng tương lai, EU đã tiến hànhhàng loạt các cải cách trong hệ thống tài chính, hệ thống tài khóa và tái cơ cấu nền kinh
tế Tuy nhiên, EU vẫn còn nhiều khó khăn và phải mất nhiều năm mới trở lại tốc độtăng trưởng kinh tế bình thường
1.2 Khái niệm nợ công
Theo quy định của Luật Quản lý nợ công tại Việt Nam, nợ công bao gồm nợ chính phủ,nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương
- Nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài đượcký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác
do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, ủy quyền phát hành theo quy định của pháp luật.Nợ chính phủ không bao gồm các khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam pháthành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ
- Nợ được chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tíndụng vay trong nước, nước ngoài được chính phủ bảo lãnh
Trang 7- Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương ký kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành.
1.3 Đặc điểm của nợ công
Tuy có nhiều cách tiếp cận rộng hẹp khác nhau về nợ công, nhưng về cơ bản, nợ côngcó những đặc điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, nợ công là khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của nhà nước Khác vớicác khoản nợ thông thường, nợ công được xác định là một khoản nợ mà Nhà nước (baogồm các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) có trách nhiệm trả khoản nợ ấy Tráchnhiệm trả nợ của nhà nước được thể hiện dưới hai góc độ trả nợ trực tiếp và trả nợ giántiếp
Thứ hai, nợ công được quản lý theo quy trình chặt chẽ với sự tham gia của cơ quan nhànước có thẩm quyền Việc quản lý nợ công đòi hỏi quy trình chặt chẽ nhằm đảm bảohai mục đích: Một là, đảm bảo khả năng trả nợ của đơn vị sử dụng vốn vay và cao hơnnữa là đảm bảo cán cân thanh toán vĩ mô và an ninh tài chính quốc gia; Hai là, đề đạtđược những mục tiêu của quá trình sử dụng vốn
Thứ ba, mục tiêu cao nhất trong việc huy động và sử dụng nợ công là phát triển kinh tế
- xã hội vì lợi ích cộng đồng Nợ công được huy động và sử dụng không phải để thỏamãn những lợi ích riêng của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào, mà vì lợi ích chung của cộngđồng, để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và phải coi đó là điều kiện quan trọngnhất
Trang 8II THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN NỢ CÔNG Ở MỘT SỐ NƯỚC
tế tăng vọt Ngày 22/10/2009, tổ chức xếp hạng tín nhiệm Fitch hạ mức tín nhiệm quốcgia của Hy Lạp từ A xuống A- Tiếp sau đó, ngày 08/12/2009, Fitch lại tiếp tục hạ mứctín nhiệm quốc gia của Hy Lạp từ A- xuống BBB+ Các tổ chức Standard & Poor vàMoody cũng làm tương tự Kết quả là chi phí lãi vay của chính phủ Hy Lạp tăng vọt.Vào cuối tháng 01/2010, lợi suất trái phiếu (bond yield) của chính phủ Hy Lạp so vớilợi suất trái phiếu chính phủ Đức chênh lệch quá 3% Có nghĩa là các nhà đầu tư đòihỏi một lãi suất cao hơn rất nhiều để cho chính phủ Hy Lạp vay tiền so với cho chínhphủ Đức vay tiền Tiếp đó, ngày 09/04/2010, Fitch tiếp tục hạ mức tín nhiệm quốc giacủa Hy Lạp từ BBB+ xuống BBB- và Standard & Poor hạ xếp hạng trái phiếu chínhphủ Hy Lạp xuống mức dưới chuẩn (junk bond) Đến cuối tháng 04/2010, lợi suất tráiphiếu (bond yield) của chính phủ Hy Lạp so với lợi suất trái phiếu chính phủ Đứcchênh lệch quá 10%
Vào 20/10/2009, khi chính phủ mới được bầu của Hy Lạp công bố là thâm hụt ngânsách năm 2009 của Hy Lạp không phải là 3,6% như chính phủ cũ công bố mà là12,8%, sau đó nâng lên 13,6% thì cuộc khủng hoảng niềm tin vào nợ công của Hy Lạpthật sự bắt đầu
Theo IMF (2014) thì thâm hụt ngân sách trên GDP của Hy Lạp năm 2006 là 6,0%, năm
2007 là 6,8%, năm 2008 là 9,9% Chính sự che giấu này làm cho khủng hoảng niềm tinvào nợ của chính phủ Hy Lạp càng trở nên trầm trọng
Khủng hoảng tài chính thế giới năm 2007-2008 tác động tiêu cực đến Hy Lạp dẫnđến khủng hoảng Thị trường tài chính dần nhận ra các yếu kém của nền kinh tế HyLạp và đòi hỏi một lãi suất cao hơn đối với nợ của Hy Lạp phá thành để bù lại các rủi
ro tăng lên Lợi suất trái phiếu chính phủ Hy Lạp tăng rất cao so với lợi suất trái phiếuchính phủ Đức Theo Alogoskoufis (2012), chênh lệch lợi suất trái phiếu chính phủ Hy
so với lợi suất trái phiếu chính phủ Đức là 0,3% vào cuối 2007 tăng lên 2% vào cuốinăm 2008 sau khi ngân hàng đầu tư Lehman Brothers sụp đổ và chênh lệch trên 10%khi khủng hoảng nổ ra Vì đã tham gia đồng tiền chung Euro nên Hy Lạp không cònchính sách tiền tệ của riêng mình, không thể phát hành nợ chính phủ thông qua việc
Trang 9phát hành thêm tiền của ngân hàng trung ương của chính mình nên khi thị trường tàichính mất niềm tin vào nợ của chính phủ Hy Lạp thì họ gặp khủng hoảng
Hậu quả của khủng hoảng nợ công là Hy Lạp rơi vào suy thoái kinh tế nghiêmtrọng (trong khi phần lớn các nước phát triển đã dần hồi phục) Tăng trưởng GDP bìnhquân âm 4,4% trong giai đoạn 2008-2013 Đến năm 2013, Hy Lạp vẫn còn tăng trưởngâm 3,9% Tỉ lệ thất nghiệp vào cuối năm 2013 đã lên đến 24,2% Nợ công vào cuốinăm 2013 đã lên đến 174% GDP
Bảng 1.1 Các chỉ số kinh tế tại Hy Lạp
(Nguồn: : World Development Indicators
Trang 10Bảng1.2 Nợ công và thâm hụt ngân sách nhà nước tại Hy Lạp
(Nguồn: : World Development Indicators)
Hình1.1 Biểu đồ thể hiện nợ công và thâm hụt ngân sách nhà nước tại Hy Lạp
(Nguồn: : World Development Indicators)
1.2 Nguyên nhân khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp
1.2.1 Nguyên nhân bên trong
Do chính phủ Hy Lạp theo đuổi mô hình tăng trưởng không bền vững, dựa quá nhiềuvào việc vay nợ do tỉ lệ đầu tư cao nhưng tỉ lệ tiết kiệm nội địa lại rất thấp Chênh lệch
Trang 11giữa tiết kiệm nội địa và đầu tư luôn âm trên 10% GDP trong suốt giai đoạn
1990-2007 Điều này cho thấy Hy Lạp tăng trưởng nhanh không phải bằng chính nội lực củamình mà bằng nguồn vốn bên ngoài rất lớn Do vậy, nợ công và nợ nước ngoài ngàycàng tăng cao
Nền kinh tế Hy Lạp tăng trưởng nhanh chủ yếu dựa vào khu vực dịch vụ chứ khôngphải khu vực sản xuất công nghiệp Vào năm 2007, dịch vụ chiếm 76% GDP Côngnghiệp chế tạo tăng trưởng âm 1% giai đoạn 2002-2007 Xuất khẩu hàng hóa và dịchvụ chỉ tăng trưởng 4,3%/năm trong giai đoạn 2002-2007 Năng lực cạnh tranh của HyLạp yếu kém làm cho cán cân thương mại và cán cân tài khoản vãng lai luôn thâm hụttrên 10% GDP Tín dụng cho khu vực tư nhân được mở rộng rất nhanh, kết quả là nợxấu tăng rất cao ngay cả trước khi khủng hoảng nợ công xảy ra Nợ công liên tục tăngcao và duy trì ở mức rất cao trước khi khủng hoảng nổ ra năm 2009
Trong thời gian dài, Hy Lạp bằng nhiều thủ thuật khác nhau đã che giấu mức độ nợcông thật sự của mình Vào 20/10/2009, khi chính phủ mới được bầu của Hy Lạp công
bố là thâm hụt ngân sách năm 2009 của Hy Lạp không phải là 3,6% như chính phủ cũcông bố mà là 12,8%, sau đó nâng lên 13,6% thì cuộc khủng hoảng niềm tin vào nợcông của Hy Lạp thật sự bắt đầu
1.2.2 Nguyên nhân bên ngoài
Việc tham gia đồng tiền chung châu Âu (Euro) đã có tác động to lớn đến Hy Lạp Khiđồng Euro được hình thành vào năm 1999, lãi suất ở các nước thành viên tiến gần vớinhau và có xu hướng giảm mạnh Lãi suất thấp kích thích vay mượn nhiều, tăng đầu tư
và tiêu dùng Các ngân hàng và tổ chức tài chính trong nước giờ được tiếp cận thịtrường tín dụng rộng lớn của châu Âu Ngoài ra, tỉ lệ dự trữ bắt buộc của các ngânhàng cũng giảm đi nhiều do áp dụng tiêu chuẩn chung của khu vực Euro Khi gia nhậpđồng Euro, Hy Lạp đã hưởng lợi lớn từ việc lãi suất hạ xuống rất thấp Kết quả là tíndụng tăng rất nhanh và nợ công cũng tăng lên nhanh
Khủng hoảng tài chính thế giới năm 2007-2008 tác động tiêu cực đến HyLạp dẫn đến khủng hoảng Do sự liên thông giữa các tổ chức tài chính của Mỹ và châuÂu nên khi Mỹ gặp khủng hoảng thì các tổ chức tài chính châu Âu bị ảnh hưởng nặng
nề Khi hệ thống tài chính gặp khủng hoảng thì tín dụng giảm mạnh, dẫn đến đầu tư vàtiêu dùng giảm mạnh Kết quả là các nền kinh tế châu Âu rơi vào suy thoái, thất nghiệptăng cao Khi kinh tế suy thoái thì nguồn thu thuế của các chính phủ bị ảnh hưởngnghiêm trọng trong khi đó các chính phủ phải tăng chi tiêu rất nhiều để giải cứu hệthống tài chính và nền kinh tế Hệ quả là thâm hụt ngân sách tăng rất cao và nợ côngtăng nhanh Đối với Hy Lạp, thị trường tài chính dần nhận ra các yếu kém của nền kinh
tế Hy Lạp và đòi hỏi một lãi suất cao hơn đối với nợ của Hy Lạp phát hành để bù lại