MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ. Hiện nay kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phụ thuộc cao vào xuất khẩu thô và đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đây là nền kinh tế lớn thứ 6 ở Đông Nam Á;thứ 14 ở Châu Á; lớn thứ 44 trên thế giới xét theo quy mô GDP danh nghĩa (năm 2019) hoặc lớn thứ 32 nếu xét GDP theo sức mua tương đương (năm 2019), đứng thứ 127 xét theo GDP danh nghĩa bình quân đầu người hoặc đứng thứ 117 nếu tính GDP bình quân đầu người theo sức mua tương đương. Tổng sản phẩm nội địa GDP năm 2019 là 261,637 tỷ USD theo danh nghĩa hoặc 770,227 tỷ USD theo sức mua tương đương. Lịch sử Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm khác nhau, mỗi giai đoạn sẽ ứng một nên kinh tế riêng, với mục tiêu, nhiệm vụ và phương hướng khác nhau. Nhìn chung từ năm 1986 trở về trước nền kinh tế Việt Nam hoạt động theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung. Nhà nước chi phối mọi hoạt động kinh tế, thành phần kinh tế tư nhân dần bị xóa bỏ, nông dân làm việc trong các hợp tác xã. Nên kinh tế sản xuất nhỏ, mang tính tự cung tự cấp vận hành theo lối quan liêu bao cấp. Mặt khác do những sai lầm trong nhận thức về mô hình nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế nước ta lúc đó ngày càng tụt hậu, GDP giảm, khủng hoảng trầm trọng kéo dài, đời sống nhân dân thấp. Muốn thoát khỏi tình trạnh đó con đường duy nhất là phải đổi mới kinh tế. Sau đại hội Đảng lần thứ 6 năm 1986 nước ta mở cửa cải cách nền kinh tế giúp nền kinh tế nước ta dần chuyển sang hướng đi mới: phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhờ đó đã giúp nước ta thoát khỏi tình trạng khó khăn, tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng tăng, đời sống người dân được nâng cao. Từ sau năm 1986, Việt Nam vẫn luôn đề ra và thực hiện kế hoạch 5 năm, đồng thời tiếp tục hoàn thiện, sửa đổi và thay thế một số điều lệ chính sách phù hợp với tình hình phát triển đất nước của từng thời kỳ. Ngày nay với sự phát triển của cuộc Cách mạng 4.0 và với sự biến động của tình hình thế giới cũng như trong nước, nhưng nước ta vẫn đang cố gắng hoàn thành tốt kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 20162020, đồng thời cũng xác định phát triển đất nước năm 2025 và 2030, tầm nhìn đến năm 2045. PHẦN 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Phát triển Phát triển là một phạm trù của triết học, là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật. Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ. Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình diễn ra theo đường xoắn ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở mức (cấp độ) cao hơn. 2. Phát triển bền vững Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau. Phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội. Phát triển bền vững là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, các cấp chính quyền, các Bộ, ngành và địa phương, các cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư và mỗi người dân. 3. Chiến lược phát triển kinh tếxã hội Chiến lược phát triển kinh tếxã hội là bản kế hoạch hoạch phát triển dài hạn kinh tếxã hội cho đất nước. Chiến lược sẽ định hướng cho sự phát triển kinh tếxã hội của quốc gia phù hợp với trạng thái trình độ phát triển của nền kinh tế, điều kiện nguồn lực, xu thế của thế giới cùng với cách thức để thực hiện thành công nó trong thời kì chiến lược. Để có được những thành quả như ngày hôm nay, Việt Nam đã trải qua vô vàn những giai đoạn thăng trầm trong suốt chiều dài lịch sử. Và, tiểu luận trên đây của nhóm xin được khái quát lại những mục tiêu phát triển của đất nước chủ yếu qua 2 thời kì: Thời kì trước đổi mới (trước năm 1986) và thời kì sau đổi mới (từ năm 1986 đến nay).
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
- -ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM
QUA CÁC THỜI KỲ
Hà Nội – 2020
Trang 2ĐIỂM VÀ NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Trang 3MỤC LỤC
ĐIỂM VÀ NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN ii
ĐÁNH GIÁ SỰ THAM GIA CỦA CÁC THÀNH VIÊN TRONG NHÓM iii
MỤC LỤC iv
MỞ ĐẦU 1
PHẦN 1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 3
1 Phát triển 3
2 Phát triển bền vững 3
3 Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 3
PHẦN 2 MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KÌ 4
A Thời kì trước đổi mới (trước năm 1986) 4
B Thời kì sau đổi mới (từ năm 1986 đến nay) 6
I Giai đoạn 1986-1990 (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI) 6
1 Tình hình đất nước 6
2 Nguyên nhân 6
3 Mục tiêu 6
4 Nhiệm vụ chủ yếu 7
5 Thành tựu và khó khăn 8
II Giai đoạn 1991-1995 (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII) 8
1 Bối cảnh thế giới và trong nước 8
2 Mục tiêu 9
3 Nhiệm vụ chủ yếu 10
5 Thành tựu 11
6 Khó khăn, hạn chế 11
Trang 4III Giai đoạn 1996-2000 (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII) 12
1 Bối cảnh thế giới và trong nước 12
1.1 Bối cảnh thế giới 12
2 Mục tiêu 12
3 Nhiệm vụ chủ yếu 13
4 Khó khăn, thách thức 14
5 Giải pháp chủ yếu 14
6 Thành tựu 15
7 Hạn chế 15
IV Giai đoạn 2001-2005, tầm nhìn đến năm 2010 (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX) 16
1 Bối cảnh thế giới và trong nước 16
1.1 Bối cảnh trong nước 16
1.2 Bối cảnh thế giới 17
2 Mục tiêu 17
3 Nhiệm vụ chủ yếu 17
4 Thành tựu 19
5 Yếu kém 21
V Giai đoạn 2006-2010 (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X) 23
1 Bối cảnh thế giới và trong nước 23
1.1 Bối cảnh thế giới 23
1.2 Bối cảnh thế giới 24
2 Mục tiêu 24
3 Nhiệm vụ chủ yếu 25
4 Thành tựu 25
Trang 55 Hạn chế, yếu kém 26
VI Giai đoạn 2011-2015 (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI) 27
1 Bối cảnh thế giới và trong nước 27
2 Mục tiêu 27
3 Nhiệm vụ chủ yếu 27
4 Thành tựu 29
5 Hạn chế, yếu kém 29
VII Giai đoạn 2016-2020 (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII) 30
1 Bối cảnh thế giới và trong nước 30
1.1 Bối cảnh thế giới 30
1.2 Bối cảnh trong nước 30
2 Mục tiêu 31
3 Nhiệm vụ chủ yếu 31
4 Thành tựu 32
5 Những tồn tại, hạn chế 33
C Nhận xét, đánh giá 34
KẾT LUẬN 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO i
Trang 6MỞ ĐẦU
Hiện nay kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,phụ thuộc cao vào xuất khẩu thô và đầu tư trực tiếp nước ngoài Đây là nền kinh tế lớnthứ 6 ở Đông Nam Á;thứ 14 ở Châu Á; lớn thứ 44 trên thế giới xét theo quy mô GDPdanh nghĩa (năm 2019) hoặc lớn thứ 32 nếu xét GDP theo sức mua tương đương (năm2019), đứng thứ 127 xét theo GDP danh nghĩa bình quân đầu người hoặc đứng thứ 117nếu tính GDP bình quân đầu người theo sức mua tương đương Tổng sản phẩm nội địaGDP năm 2019 là 261,637 tỷ USD theo danh nghĩa hoặc 770,227 tỷ USD theo sứcmua tương đương
Lịch sử Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm khác nhau, mỗi giai đoạn sẽứng một nên kinh tế riêng, với mục tiêu, nhiệm vụ và phương hướng khác nhau Nhìnchung từ năm 1986 trở về trước nền kinh tế Việt Nam hoạt động theo cơ chế kế hoạchhóa tập trung Nhà nước chi phối mọi hoạt động kinh tế, thành phần kinh tế tư nhândần bị xóa bỏ, nông dân làm việc trong các hợp tác xã Nên kinh tế sản xuất nhỏ, mangtính tự cung tự cấp vận hành theo lối quan liêu bao cấp Mặt khác do những sai lầmtrong nhận thức về mô hình nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Nền kinh tế nước ta lúc đóngày càng tụt hậu, GDP giảm, khủng hoảng trầm trọng kéo dài, đời sống nhân dânthấp Muốn thoát khỏi tình trạnh đó con đường duy nhất là phải đổi mới kinh tế
Sau đại hội Đảng lần thứ 6 năm 1986 nước ta mở cửa cải cách nền kinh tế giúpnền kinh tế nước ta dần chuyển sang hướng đi mới: phát triển kinh tế hàng hóa nhiềuthành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa- đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa Nhờ đó đã giúp nước ta thoát khỏi tình trạng khó khăn, tốc độ tăng trưởng kinh
tế ngày càng tăng, đời sống người dân được nâng cao
Từ sau năm 1986, Việt Nam vẫn luôn đề ra và thực hiện kế hoạch 5 năm, đồngthời tiếp tục hoàn thiện, sửa đổi và thay thế một số điều lệ chính sách phù hợp với tìnhhình phát triển đất nước của từng thời kỳ Ngày nay với sự phát triển của cuộc Cáchmạng 4.0 và với sự biến động của tình hình thế giới cũng như trong nước, nhưng nước
Trang 72020, đồng thời cũng xác định phát triển đất nước năm 2025 và 2030, tầm nhìn đếnnăm 2045.
Trang 8PHẦN 1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1 Phát triển
Phát triển là một phạm trù của triết học, là quá trình vận động tiến lên từ thấp đếncao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật.Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cáimới thay thế cái cũ Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần về lượng dẫnđến sự thay đổi về chất, quá trình diễn ra theo đường xoắn ốc và hết mỗi chu kỳ sự vậtlặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở mức (cấp độ) cao hơn
- Phát triển bền vững là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, các cấp chính quyền,các Bộ, ngành và địa phương, các cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộngđồng dân cư và mỗi người dân
3 Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội
- Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội là bản kế hoạch hoạch phát triển dài hạn kinhtế-xã hội cho đất nước Chiến lược sẽ định hướng cho sự phát triển kinh tế-xã hội củaquốc gia phù hợp với trạng thái trình độ phát triển của nền kinh tế, điều kiện nguồnlực, xu thế của thế giới cùng với cách thức để thực hiện thành công nó trong thời kìchiến lược
Để có được những thành quả như ngày hôm nay, Việt Nam đã trải qua vô vànnhững giai đoạn thăng trầm trong suốt chiều dài lịch sử Và, tiểu luận trên đây củanhóm xin được khái quát lại những mục tiêu phát triển của đất nước chủ yếu qua 2 thờikì: Thời kì trước đổi mới (trước năm 1986) và thời kì sau đổi mới (từ năm 1986 đếnnay)
Trang 10PHẦN 2 MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KÌ
A Thời kì trước đổi mới (trước năm 1986)
Trong nhiều thập kỷ trước đổi mới, cũng giống như các nước XHCN khác, ViệtNam thực hiện công cuộc xây đựng nước theo mô hình XHCN được quan niệm lúcbấy giờ Theo đó, chế độ sở hữu toàn dân và tập thể về tư liệu sản xuất và cơ chế kếhoạch hoá tập trung đóng vai trò là những yếu tố chủ đạo của mô hình phát triển Việcthực hiện mô hình phát triển này đã mang lại những kết quả to lớn không thể phủnhận Đó là sự bảo đảm quyết định để giành thắng lợi trong cuộc chiến giải phóng vàbảo vệ Tổ quốc, tạo lập những cơ sở vật chất - kỹ thuật ban đầu rất quan trọng củaXHCN, mang lại cho nhân dân cuộc sống tự do, việc làm, quyền làm chủ xã hội cùngvới những cải thiện đáng kể trong đời sống vật chất và tinh thần
Tuy nhiên, thực tế trước đổi mới, nhất là của hơn 10 năm tiến hành xây dựngCNXH trên phạm vi cả nước ( 1975 - 1986), chứng tỏ rằng trong nền kinh tế mangđậm bản sắc nông dân - nông nghiệp, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, mô hình pháttriển gắn với cơ chế kế hoạch hoá tập trung có những khiếm khuyết lớn trong việc giảiquyết các nhiệm vụ phát triển, nhất là trong lĩnh vực kinh tế Sau nhiều năm vận độngtrong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, tuy đất nước có đạt được những thành tựu to lớn,song nhiều vấn đề mấu chốt và thiết yếu nhất của cuộc sống nhân dân (ăn, mặc, ở) vẫnchưa được giải quyết đầy đủ; đất nước chưa có những thay đổi sâu sắc và triệt để trongphương thức phát triển; tình trạng mất cân đối trong nền kinh tế ngày càng trầm trọng;nhiệt tình lao động và năng lực sáng tạo của nhân dân, tài nguyên và các nguồn lựcchưa được khai thác, phát huy đầy đủ, thậm chí bị xói mòn Nhìn tổng quát, với cơ chế
kế hoạch hoá tập trung, nền kinh tế Việt Nam vận động thiếu năng động và kém hiệuquả Những mất cân đối và nguy cơ bất ổn định tiềm tàng trong đời sống kinh tế - xãhội bị tích nén lại Tình trạng thiếu hụt kinh niên làm gia tăng các căng thẳng trong đờisống xã hội Lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hànhcủa Nhà nước giảm sút
Trên thực tế, đến cuối những năm 70, đất nước đã thực sự lâm vào cuộc khủnghoảng kinh tế - xã hội Vấn đề cấp bách đặt ra cho Đảng cộng sản và Nhà nước Việt
Trang 11Nam lúc này là tìm kiếm cách thức phát triển mới có khả năng đáp ứng các mục tiêucủa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong đó quan trọng nhất là phải tháo gỡ cácràng buộc về cơ chế và thể chế để giải phóng các nguồn lực phát triển của đất nước.Chính vậy Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam (12/ 1986) đã chính thức tuyên bốtiến hành công cuộc đổi mới toàn diện và triệt để Chương trình phát triển đất nướcđược thông qua tại Đại hội này có nội dung đặc biệt quan trọng là chuyển nền kinh tếsang cơ chế thị trường - mở cửa theo định hướng XHCN.
Trang 12B Thời kì sau đổi mới (từ năm 1986 đến nay)
I Giai đoạn 1986-1990 (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI)
1 Tình hình đất nước
Tình hình kinh tế - xã hội đang có những khó khăn gay gắt; sản xuất tăng chậm;hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp; phân phối lưu thông có nhiều rối ren; những mất cânđối lớn trong nền kinh tế chậm được thu hẹp; quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chậmđược củng cố; đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn… Nhìn chung, chúng
ta chưa thực hiện được mục tiêu tổng quát kế trước đó đề ra là về cơ bản ổn định tìnhhình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân
2 Nguyên nhân
Về nguyên nhân dẫn đến tình hình trên, Đại hội nhấn mạnh trong những năm quaviệc nhìn nhận, đánh giá tình hình cụ thể về các mặt kinh tế, xã hội của đất nước đã cónhiều thiếu sót Do vậy đã dẫn đến nhiều sai lầm “trong việc xác định mục tiêu vàbước đi về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinhtế” Đại hội thẳng thắn cho rằng: “Những sai lầm nói trên là những sai lầm nghiêmtrọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổchức thực hiện”, đặc biệt là bệnh chủ quan duy ý chí, lạc hậu về nhận thức lý luận
3 Mục tiêu
Báo cáo chính trị đã xác định các mục tiêu chủ yếu về kinh tế, xã hội cho nhữngnăm còn lại của chặng đường 5 năm đổi mới đầu tiên 1986 - 1990 là:
- Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy
- Bước đầu tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất
- Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất vàtrình độ phát triển của lực lượng sản xuất
- Tạo chuyển biến tốt về mặt xã hội
- Bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng an ninh, tất cả nhằm ổn định mọi mặt tìnhhình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy nhanhcông nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo
Trang 13Thực hiện những mục tiêu đó, phải kết hợp đồng bộ cả ba mặt: sắp xếp, cải tạo vàphát triển với những nội dung cụ thể phù hợp với đặc điểm của từng ngành, từng địaphương và cơ sở Như vậy, ổn định không phải là hạn chế các hoạt động kinh tế, mà làmột quá trình vận động tiến lên, vừa phát triển, vừa điều chỉnh các quan hệ tỷ lệ củanền kinh tế quốc dân.
4 Nhiệm vụ chủ yếu
Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình đất nước, tự phê bình về những sai lầmkhuyết điểm, đổi mới tư lý luận trải qua nhiều tìm tòi, khảo nghiệm từ thực tiễn, Đạihội đề ra đường lối đổi mới:
- Trước hết là đổi mới cơ cấu kinh tế (cơ cấu công – nông nghiệp; cơ cấu nội bộngành nông nghiệp; ngành công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp; công nghiệp nặng
và kết cấu hạ tầng; cơ cấu kinh tế huyện)
- Thực hiện ba chương trình kinh tế bao gồm chương trình lương thực, thực phẩm;chương trình hàng tiêu dùng; chương trình hàng xuất khẩu
- Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng và cải tạo đúngđắn các thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa; thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa;kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc
Đại hội VI đã đưa ra quan điểm mới về cải tạo xã hội chủ nghĩa dựa trên 3 nguyêntắc:
- Nhất thiết phải theo quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất
và trình độ của lực lượng sản xuất để xác định bước đi và hình thức thích hợp
- Phải xuất phát từ thực tế của nước ta và là sự vận dụng quan điểm của Lênin coinền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ
- Phải xây dựng quan hệ sản xuất mới trên cả 3 mặt xây dựng chế độ công hữu về
tư liệu sản xuất, chế độ quản lý và chế độ phân phối xã hội chủ nghĩa
Trên lĩnh vực đối ngoại nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước ta là:
Trang 14- Ra sức kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phấn đấu giữ vững hoàbình ở Đông Dương, góp phần tích cực giữ vững hoà bình ở Đông Nam Á và trên thếgiới.
- Tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với Liên Xô và các nướctrong cộng đồng xã hội chủ nghĩa, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệpxây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc
- Đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vìhoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội
Xây dựng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động vừa là mụctiêu, vừa là động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Cơ chế Đảng lãnhđạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý đã được Đại hội lần thứ VI xác định là “cơchế chung trong quản lý toàn bộ xã hội” Phương thức vận động quần chúng phải đượcđổi mới theo khẩu hiệu: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra Đó là nền nếp hàngngày của xã hội mới, thể hiện chế độ nhân dân lao động tự quản lý nhà nước củamình
5 Thành tựu và khó khăn
Tại Đại hội lần thứ VI, Đảng đã tự phê bình và đề ra đường lối đổi mới Đại hội VI
là cột mốc lịch sử quan trọng trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa của nhândân ta Công cuộc đổi mới qua hơn bốn năm đã đạt những thành tựu bước đầu rất quantrọng Tình hình kinh tế - xã hội có chuyển biến tích cực, tạo thế đi lên và khẳng địnhcon đường chúng ta đang đi là đúng Tuy nhiên khó khăn còn nhiều, đất nước chưa rakhỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội
II Giai đoạn 1991-1995 (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII)
1 Bối cảnh thế giới và trong nước
Bối cảnh quốc tế và trong nước đang có những diễn biến phức tạp Đó là sự khủnghoảng trầm trọng của chế độ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, sự chống phánhiều phía vào chủ nghĩa xã hội, vào chủ nghĩa Mác – Lênin và Đảng Cộng sản,những âm mưu và thủ đoạn của các thế lực thù địch quốc tế hòng xoá bỏ chủ nghĩa xãhội hiện thực và sự hoang mang dao động của một bộ phận những người cộng sản trên
Trang 15thế giới đã tác động đến tư tưởng và tình cảm của một bộ phận cán bộ, đảng viên vànhân dân Việt Nam
Đất nước ta cũng phải đương đầu với các hoạt động phá hoại của các lực lượng thùđịch ở cả trong và ngoài nước Tình hình kinh tế và đời sóng của nhân dân vẫn cònkhó khăn, đất nước vẫn trong tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội Tuy nhiên, côngcuộc đổi mới được Đảng ta đề ra từ Đại hội lần thứ VI (12/1986), bước đầu đã đạtđược những thành tựu đáng kể, nhờ đó mà nước ta đã đứng vững và tiếp tục pháttriển
2 Mục tiêu
Xuất phát từ đặc điểm tình hình, căn cứ vào mục tiêu của chặng đường đầu thời kìquá độ lên Chủ nghĩa xã hội, tại Đại hội VII đề ra Kế hoạch 5 năm 1991-1995, Báocáo chính trị xác định: “Mục tiêu tổng quát của 5 năm tới là vượt khó khăn thử thách
ổn định và phát triển kinh tế, xã hội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực vàbất công xã hội, đưa nước ta cơ bản thoát khỏi tình trạng khủng hoảng hiện nay” Báocáo cũng chỉ rõ công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu bước đầu, đó là:
- Tình hình chính trị của đất nước ổn định
- Nền kinh tế có những bước phát triển đã đạt được những tiến bộ rõ rệt trong việcthực hiện các mục tiêu của 3 chương trình kinh tế, bước đầu hình thành nền kinh tếhàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhànước, huy động được nguồn lực sản xuất của xã hội, tốc độ lạm phát được kiềm chế,đời sống của một bộ phận nhân dân đã được cải thiện
- Nền dân chủ của nhân dân ngày càng được phát huy
- Quốc phòng được giữ vững, an ninh quốc gia được bảo đảm
So với trước đây thì hiện nay mức độ khủng hoảng đã giảm được một phần, songđất nước ta vẫn chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội Trên đà chuyển biến tíchcực của hơn bốn năm thực hiện đổi mới vừa qua, chúng ta phải bằng mọi cách phấnđấu để về cơ bản ra khỏi khủng hoảng Không làm được việc này thì toàn bộ mục tiêu
đề ra trong các văn kiện của Đại hội không thể thực hiện được, nhân dân ta không
Trang 16chấp nhận và hậu quả về các mặt chính trị, kinh tế, xã hội sẽ vô cùng lớn lao Nhưngnếu cho rằng trong 5 năm 1991-1995 sẽ khắc phục được hoàn toàn khủng hoảng kinh
tế - xã hội để từ năm 1996 trở đi là thời kỳ phát triển nhanh thì quá lạc quan
3 Nhiệm vụ chủ yếu
Cương lĩnh xác đinh trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ
Tổ quốc, hoàn thành các mục tiêu đề ra cần nắm vững 7 phương hướng cơ bảnsau:
- Một là, xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân vàtầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo Thực hiện đủ quyềndân chủ của nhân dân
- Hai là, phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hoá đất nước theo
hướng hiện đại gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện là nhiệmvụ trung tâm nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa
xã hội, không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội và cait thiện đời sốngnhân dân
- Ba là, phát triển lực lượng sản xuất phù hợp với quan hệ sản xuất xã hội
chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu, phát triển nềnkinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hànhtheo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
- Bốn là, trong lĩnh vực tư tưởng và văn hoá lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng trong đời sống tinh thần xã hội Kế thừa và pháthuy những truyền thống văn hoá tốt đẹp cảu tất cả các dân tộc trong nước, tiếpthu những tinh hoa văn hoá nhân loại
- Năm là, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, củng cố và mở rộng
Mặt trận dân tộc thống nhất, tập hợp mọi lực lượng phấn đấu vì sự nghiệp dângiàu nước mạnh Thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình, hợp tác và hữu nghịvới tất cả các nước
- Sáu là, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ
chiến lược của cách mạng Việt Nam
Trang 17- Bảy là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ
chức ngang tầm nhiệm vụ
5 Thành tựu
Đây là Đại hội đầu tiên sau khi đất nước đã tiến hành công cuộc Đổi mới Kếhoạch 5 năm 1991-1995 do Đại hội đề ra đã đạt được nhiều thành tựu trên các lĩnh vựccủa sự nghiệp đổi mới:
- Nhịp độ phát triển kinh tế cao, những mục tiêu chủ yếu của kế hoạch hoàn thànhvượt mức Tổng sản phẩm trong nước tăng 8,2%/năm Công nghiệp tăng 13,3%/năm.Sản lượng lương thực tăng 26% Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nôngthôn Dịch vụ tăng 80% Vận tải tăng 62% Lạm phát từ 67.1% (1991) giảm còn12.7% (1995)
- Kinh tế đối ngoại phát triển Xuất khẩu đạt 17 tỉ USD Nhập khẩu 21 tỉ USD Cóquan hệ buôn bán với hơn 100 nước Nhà nước mở rộng quyền xuất nhập khẩu cho tưnhân Vốn đầu tư nước ngoài tăng 50%, đạt trên 19 tỉ USD
- Khoa học công nghệ, văn hóa xã hội phát triển Thu nhập quốc dân tăng và giảiquyết được nạn đói
- Chính trị xã hội, quốc phòng an ninh được củng cố
- Mở rộng quan hệ đối ngoại, không còn bị bao vây do đã rút quân khỏiCampuchia từ năm 1988 Bình thường quan hệ với Mỹ và gia nhập ASEAN năm 1995
Bắt đầu phân hóa giàu nghèo giữa các vùng và các tầng lớp dân cư
III Giai đoạn 1996-2000 (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII)
1 Bối cảnh thế giới và trong nước
1.1 Bối cảnh thế giới
Trang 18Nguy cơ chiến tranh thế giới huỷ diệt bị đẩy lùi, nhưng xung đột vũ trang, chiếntranh cục bộ, xung đột về dân tộc, sắc tộc và tôn giáo chạy đua vũ trang, hoạt động canthiệp, lật đổ, khủng bố vẫn xảy ra ở nhiều nơi
Cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao,tăng nhanh lực lượng sản xuất, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tếthế giới, quốc tế hoá nền kinh tế và đời sống xã hội
Bối cảnh quốc tế nói trên, có ảnh hưởng lớn đến công cuộc đổi mới, xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc
1.2 Bối cảnh trong nước
Đến năm 1996, công cuộc đổi mới đã tiến hành được 10 năm và đạt được nhiềuthành tựu quan trọng về mọi mặt Đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội,cải thiện một bước đời sống vật chất của đông đảo nhân dân, giữ vững ổn định chínhtrị, quốc phòng, an ninh được củng cố Đồng thời, thành tựu 10 năm đổi mới đã tạođược nhiều tiền đề cần thiết cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Bên cạnh những thành tựu dạt được, nước ta cũng phải đối đầu với nhiều tháchthức như nguy cơ tụt hậu xa về kinh tế, “diễn biến hoà bình”; tệ quan liêu, thamnhũng; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa Tình hình thế giới và thực tiễn côngcuộc đổi mới đặt ra cho Đảng ta những nhiệm vụ và bước đi mới
2 Mục tiêu
Trên cơ sở phân tích những đặc điểm nổi bật của tình hình thế giới, những xu thếchủ yếu trong quan hệ quốc tế, nêu rõ những thời cơ và thách thức lớn, Đại hội định ramục tiêu phấn đấu tổng quát của sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước là:
Tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ
Tổ quốc, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xây dựng nước ta thành mộtnước công nghiệp có cơ sở - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuấtphù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thầncao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, vănminh
Trang 193 Nhiệm vụ chủ yếu
Trên cơ sở mục tiêu tổng quát, Đại hội chỉ rõ nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu củagiai đoạn 1996-2000 là:
- Tập trung sức cho mục tiêu phát triển, đến năm 2000, GDP bình quân đầu ngườităng gấp đôi năm 1990 Nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân hằng năm đạt khoảng 9-10%
- Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp, gắn với công nghiệp chế biến nông,lâm, thuỷ sản và đổi mới cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiệnđại hoá Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp bình quân hằng năm 4,5-5%
- Phát triển các ngành công nghiệp, chú trọng trước hết công nghiệp chế biến,công nghiệp hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; xây dựng.có chọn lọc một số cơ sỏcông nghiệp nặng về dầu khí, than, xi măng, cơ khí, điện tử, thép, phân bón, hoá chất,một số cơ sở công nghiệp quốc phòng Tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp bìnhquân hằng năm 14-15%
- Đến năm 2000, tỷ trọng công nghiệp và xây dựng chiếm khoảng 34-35% trongGDP; nông, lâm, ngư nghiệp chiếm khoảng 45-46%
- Tăng nhanh khả năng và tiềm lực tài chính của đất nước, lành mạnh hoá nền tàichính quốc gia
- Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại
- Giải quyết tốt một số vấn đề xã hội
- Bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của Tổ quốc,giữ vững ổn định chính trị và an toàn xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vữngmạnh, sẵn sàng đối phó với mọi tình huống
- Tích cực chuẩn bị và tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao hơn sau năm
2000, chủ yếu là phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng lực khoa học và công nghệ,
Trang 20xây dựng kết cấu hạ tầng và một số công trình công nghiệp then chốt, hình thành đồng
bộ cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
5 Giải pháp chủ yếu
Nhiệm vụ tổng quát nêu trên đòi hỏi việc xây dựng và thực hiện kế hoạch 5 năm
1996 - 2000 phải thấu suốt tư tưởng chỉ đạo dưới đây:
- Thực hiện đồng thời ba mục tiêu về kinh tế: tăng trưởng cao, bền vững và cóhiệu quả; ổn định vững chắc kinh tế vĩ mô; chuẩn bị các tiền đề cho bước phát triểncao hơn sau năm 2000, chủ yếu là phát triển nguồn nhân lực, khoa học và công nghệ,kết cấu hạ tầng, hoàn thiện thể chế
- Tiếp tục thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế nhiềuthành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa; phát huy mọi nguồn lực để phát triển lực lượng sản xuất, đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Kết hợp hài hoà tăng trưởng kinh tế với phát triển xã hội - văn hoá, tập trung giảiquyết những vấn đề bức xúc nhằm tạo được chuyển biến rõ nét về thực hiện công bằng
Trang 21- Kinh tế đối ngoại phát triển Xuất khẩu đạt 51,6 tỉ USD Nhập khẩu 61 tỉ USD.
Có quan hệ buôn bán với hơn 140 nước nhà nước mở rộng quyền xúât nhập khẩu cho
tư nhân Vốn đầu tư nước ngoài tăng, đạt trên 40 tỉ USD Bắt đầu đầu tư sang các nướckhác
- Khoa học công nghệ, văn hóa, xã hội phát triển 100% tỉnh thành đạt tiêu chuẩnphổ cập giáo dục, xóa xong nạn mù chữ Thu nhập quốc dân tăng và giải quyết đượcnạn đói
- Chính trị xã hội, quốc phòng an ninh được củng cố, quan hệ đối ngoại được mởrộng
7 Hạn chế
- Kinh tế Việt Nam còn phát triển chưa vững chắc, lạc hậu, trình độ kém, thu nhậpquốc dân, năng suất còn thấp, đời sống nhân dân khó khăn, tỉ lệ thất nghiệp và thiếuviệc làm cao
- Xã hội nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực tham nhũng, lãng phí, buôn lậu vànhiều tiêu cực còn tồn tại trong nhà nước
- Trình độ khoa học kĩ thuật kém không đáp ứng nhu cầu đất nước Tình trạngchảy máu chất xám xuất hiện
IV Giai đoạn 2001-2005, tầm nhìn đến năm 2010 (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX)
1 Bối cảnh thế giới và trong nước
1.1 Bối cảnh trong nước
Trang 22Bước vào kế hoạch 5 năm đầu tiên của thế kỷ mới, tình hình trong nước và bốicảnh quốc tế có nhiều thuận lợi, cơ hội lớn đan xen với nhiều khó khăn, thách thứclớn.
- Thế và lực của nước ta mạnh hơn nhiều so với trước Chính trị - xã hội tiếp tục
ổn định; quan hệ sản xuất được đổi mới phù hợp hơn; thể chế kinh tế thị trường đãbước đầu hình thành và vận hành có hiệu quả Hệ thống luật pháp, cơ chế chính sáchphù hợp đang phát huy trong phát triển kinh tế và đời sống xã hội
- Năng lực sản xuất và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đã tạo ra tiền đề cần thiếtcho bước phát triển mới Cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch tích cực Quan hệ kinh
tế, ngoại giao của nước ta được mở rộng trên trường quốc tế
Năm 2000, nền kinh tế đã bắt đầu lấy lại được nhịp độ tăng trưởng tương đốikhá, tạo đà phát triển trong những năm tiếp theo
Tuy vậy, trình độ phát triển kinh tế của nước ta còn thấp; chất lượng, hiệu quả
và sức cạnh tranh còn kém, quy mô sản xuất nhỏ bé, các cân đối nguồn lực còn hạnhẹp; mức thu nhập và tiêu dùng của dân cư thấp, chưa đủ tạo sức bật mới đối với sảnxuất và phát triển thị trường Lĩnh vực xã hội tồn tại nhiều vấn đề bức xúc Cải cáchhành chính tiến hành còn chậm
1.2 Bối cảnh thế giới
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới, đặc biệt là công nghệthông tin và công nghệ sinh học; xu thế toàn cầu hoá; khả năng ổn định và phục hồicủa nền kinh tế khu vực và thế giới trong thập kỷ tới có những tác động tích cực, tạođiều kiện cho nước ta mở ra khả năng hợp tác kinh tế, khai thác lợi thế so sánh, tranhthủ nguồn lực bên ngoài để phát huy tốt hơn nội lực, tạo thành sức mạnh tổng hợp pháttriển đất nước Đồng thời cũng có những yếu tố không thuận, tăng sức ép cạnh tranhđối với nền kinh tế nước ta
Vấn đề đặt ra là phải phát huy cao độ sức mạnh của toàn dân tộc, đặc biệt là trítuệ và kỹ năng lao động của người Việt Nam, nguồn lực của mọi thành phần kinh tế,
Trang 23khắc phục những khó khăn, yếu kém, tận dụng mọi thuận lợi và thời cơ để phát triểnkinh tế, xã hội nhanh và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
2 Mục tiêu
Kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 thể hiện các quan điểm phát triển và mục tiêu chiếnlược 10 năm tới mà nội dung cơ bản là: Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; nângcao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân; tạo nền tảng để đến năm 2020nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nguồn lực con người,năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh đượctăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơbản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao
3 Nhiệm vụ chủ yếu
Mục tiêu tổng quát nêu trên được cụ thể hoá thành định hướng phát triển và cácnhiệm vụ chủ yếu như sau:
- Phấn đấu đạt nhịp độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm cao hơn 5 nămtrước và có bước chuẩn bị cho 5 năm tiếp theo
- Phát triển kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước có vai trò chủ đạo;củng cố kinh tế tập thể; hình thành một bước quan trọng thể chế kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng tăng
tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, tăng nhanh hàm lượng công nghệ trong sản phẩm
- Tăng nhanh vốn đầu tư phát triển kinh tế, xã hội; xây dựng cơ cấu kinh tế có hiệuquả và nâng cao sức cạnh tranh Hoàn chỉnh một bước cơ bản hệ thống kết cấu hạtầng Đầu tư thích đáng cho các vùng kinh tế trọng điểm; hỗ trợ đầu tư nhiều hơn chocác vùng còn nhiều khó khăn
- Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại Củng cố thị trường đã có và mởrộng thêm thị trường mới Tạo mọi điều kiện thuận lợi để tăng nhanh xuất khẩu, thuhút vốn, công nghệ từ bên ngoài Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả, thựchiện các cam kết song phương và đa phương
- Tiếp tục đổi mới và lành mạnh hoá hệ thống tài chính - tiền tệ, tăng tiềm lực vàkhả năng tài chính quốc gia, thực hành triệt để tiết kiệm; tăng tỷ lệ chi ngân sách dành
Trang 24cho đầu tư phát triển; duy trì ổn định các cân đối vĩ mô; phát triển thị trường vốn đápứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
- Tiếp tục đổi mới, tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về phát triển giáo dục và đàotạo, khoa học và công nghệ; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực với cơ cấu hợp lý;triển khai thực hiện chương trình phổ cập trung học cơ sở; ứng dụng nhanh các côngnghệ tiên tiến, hiện đại; từng bước phát triển kinh tế tri thức
- Giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc: tạo nhiều việc làm, giảm tỷ
lệ thất nghiệp ở cả thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn; cải cách cơ bản chế độ tiềnlương; cơ bản xoá đói, giảm nhanh hộ nghèo; chăm sóc tốt người có công; an ninh xãhội; chống tệ nạn xã hội Phát triển mạnh văn hoá, thông tin, y tế và thể dục thể thao;nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của nhân dân
- Đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính, đổi mới và nâng cao hiệu lực của bộmáy nhà nước Đẩy lùi tình trạng quan liêu, tham nhũng Thực hiện tốt dân chủ, nhất
là dân chủ ở xã, phường và các đơn vị cơ sở
- Thực hiện nhiệm vụ củng cố quốc phòng và an ninh; bảo đảm trật tự kỷ cươngtrong các hoạt động kinh tế, xã hội
Trang 25Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đến năm 2005, tỉ trọng giá trị nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp trong GDP
còn 20,9% (kế hoạch 20 - 21%), công nghiệp và xây dựng 41% (kế hoạch 38 - 39%),dịch vụ 38,1% (kế hoạch 41 - 42%) Các thành phần kinh tế đều phát triển
- Giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển khá
+ Giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển và được đầu tư nhiều hơn Năm 2005, chicho giáo dục và đào tạo chiếm khoảng 18% tổng chi ngân sách nhà nước Cơ sở vậtchất được tăng cường Quy mô đào tạo mở rộng, nhất là ở bậc trung học chuyênnghiệp và dạy nghề Trình độ dân trí được nâng lên Đến hết năm 2005 có 31 tỉnh đạttiêu chuẩn phổ cập trung học cơ sở Tỉ lệ học sinh trong độ tuổi đi học ở bậc tiểu họcđạt 97,5% Quy mô giáo dục tiếp tục được mở rộng và trình độ dân trí đã được nânglên rõ rệt
+ Đã huy động được nhiều nguồn vốn khác để phát triển giáo dục thông qua việcphát hành công trái giáo dục, đóng góp của dân cư, của doanh nghiệp, vốn từ bênngoài
- Khoa học và công nghệ có nhiều bước tiến bộ
+ Bước đầu đổi mới cơ chế quản lý, đa dạng hoá phương thức giao nhiệm vụnghiên cứu như đấu thầu cạnh tranh hoặc hỗ trợ một phần kinh phí nghiên cứu ứngdụng cho các doanh nghiệp, khuyến khích các doanh nghiệp liên kết hoặc ký hợp đồngvới các tổ chức khoa học và công nghệ
+ Khoa học và công nghệ góp phần tích cực vào việc hoạch định đường lối, chínhsách, điều tra đánh giá tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học, nghiên cứuứng dụng công nghệ mới phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh
- Hoạt động kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế có bước tiến mới rấtquan trọng Một số sản phẩm đã có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế Xuất khẩu,nhập khẩu có tốc độ tăng trưởng khá, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 50% GDP.Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) liêntục tăng qua các năm Đã có một số dự án đầu tư ra nước ngoài
Trang 26- Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng và an ninh được tăng cường; quan hệ đốingoại có bước phát triển mới
+ Độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh chính trị được giữ vững, trật
tự an toàn xã hội được bảo đảm Thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninhnhân dân được củng cố
+ Hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân phát triển mạnh, gópphần giữ vững môi trường hoà bình, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao uy tín củaViệt Nam trong khu vực và trên thế giới Đã giải quyết được một số vấn đề về biêngiới, lãnh thổ, vùng chồng lấn trên biển với một số quốc gia; chủ động và tích cựctham gia các diễn đàn thế giới; tổ chức thành công nhiều hội nghị quốc tế và khu vựctại Việt Nam
- Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có tiến bộ trên cả ba lĩnhvực lập pháp, hành pháp và tư pháp Sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc đượcphát huy
- Công tác xây dựng Đảng đạt một số kết quả tích cực
+ Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, công tác tổ chức và cán bộ, xây dựng
tổ chức cơ sở đảng gắn với xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, phát triển đảng, côngtác kiểm tra có những chuyển biến mới Đa số cán bộ, đảng viên phát huy vai trò tiênphong, năng động, sáng tạo, giữ gìn phẩm chất đạo đức
Đạt được những thành tựu trên là nhờ đường lối đúng đắn của Đảng; sự quản lýthống nhất theo pháp luật của Nhà nước, điều hành năng động của Chính phủ và nỗ lựccủa toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các ngành, các cấp, các cơ sở sản xuất kinhdoanh Đó còn là do tác động tích cực của những cơ chế, chính sách đã ban hành; dokết quả đầu tư trong nhiều năm qua đã làm cho năng lực sản xuất của nhiều ngành vàtoàn bộ nền kinh tế tăng khá
5 Yếu kém
- Tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với khả năng; chất lượng, hiệu quả, sứccạnh tranh của nền kinh tế còn kém; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm
Trang 27+ Các cân đối vĩ mô trong nền kinh tế chưa thật vững chắc, dễ bị ảnh hưởng bởinhững biến động từ bên ngoài Trình độ khoa học, công nghệ, năng suất lao động thấp;giá thành nhiều sản phẩm còn cao so với khu vực và thế giới Nhiều nguồn lực và tiềmnăng trong nước chưa được huy động và khai thác tốt Đầu tư của Nhà nước dàn trải,hiệu quả chưa cao, thất thoát nhiều Lãng phí trong chi tiêu ngân sách nhà nước và tiêudùng xã hội còn nghiêm trọng Môi trường tự nhiên ở nhiều nơi bị huỷ hoại, ô nhiễmnặng.
+ Lĩnh vực dịch vụ phát triển chậm Nội dung và các biện pháp công nghiệp hoá,hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn chưa cụ thể Sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệuquả của doanh nghiệp nhà nước, nhất là cổ phần hoá, còn nhiều vướng mắc Chấtlượng nguồn nhân lực thấp, lao động chưa qua đào tạo vẫn là phổ biến, lao động nôngnghiệp còn chiếm tỉ lệ cao Hoạt động kinh tế đối ngoại còn hạn chế Nhiều doanhnghiệp chưa đủ sức vượt qua những khó khăn về cạnh tranh và thị trường
+ Việc hoạch định và thực hiện các chủ trương, chính sách thúc đẩy phát triển vàvận hành hệ thống thị trường chưa đồng bộ; một số nguyên tắc của thị trường bị viphạm; tư duy bao cấp chưa được khắc phục triệt để
- Cơ chế, chính sách về văn hoá - xã hội chậm đổi mới; nhiều vấn đề xã hội bứcxúc chưa được giải quyết tốt
+ Kết quả xoá đói giảm nghèo chưa thật vững chắc, nguy cơ tái nghèo còn lớn.Khoảng cách chênh lệch về thu nhập, mức sống giữa các tầng lớp nhân dân, giữa cácvùng có xu hướng doãng ra Nhu cầu về việc làm ở thành thị và nông thôn chưa đượcđáp ứng tốt
+ Chất lượng giáo dục và đào tạo còn thấp Khoa học và công nghệ chưa đáp ứngkịp yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá Trong một bộ phận báo chí, xuất bản,văn hoá, nghệ thuật, xu hướng xa rời tôn chỉ, mục đích, chạy theo lợi ích vật chất đơnthuần chưa được khắc phục Quản lý nhà nước đối với một số lĩnh vực trong giáo dục,
y tế, thể dục thể thao còn yếu kém