Các biện pháp kiềm chế tài chính tại một nước đang phát triển Việt Nam. I. Giới thiệu chung a. Khái niệm Kiềm chế tài chính là khái niệm để chỉ luật và chính sách của chính phủ hoặc những biện pháp phi thị trường nhằm ngăn chặn các tổ chức trung gian tài chính của một kinh nền kinh tế vận hành tối đa năng lực. Các chính sách dùng trong việc kiềm chế tài chính bao gồm: Kiểm soát ngân hàng Dự trữ bắt buộc Kiểm soát dòng vốn Áp trần lãi suất Kiểm soát tín dụng b. Mục tiêu của kiềm chế tài chính Kiểm soát nguồn lực tài chính khi đó chính phủ có thể chủ động rót vốn mà không cần thông qua những thủ tục pháp lý. Đảm bảo tỷ lệ tăng trưởng cao và giảm tỷ lệ thất nghiệp cũng như các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội khác. Đảm bảo khả năng tài trợ cho các ngân hàng đối với các nhu cầu tài chính của Nhà nước. Chính phủ có thể tạo ra sự độc quyền hoặc những hoạt động tín dụng cho vay cho các ngân hàng. c. Tác động thực tế đến Việt Nam Chính phủ dễ dàng kiểm soát tài chính áp dụng lãi suất trần để tránh lạm phát xảy ra. Áp dụng các biện pháp kiểm soát dòng vốn giúp Việt Nam thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài nhiều hơn tăng ngân sách nhà nước và có tính dài hạn. Kiểm soát tín dụng cũng giúp Chính phủ hỗ trợ xóa đói giảm nghèo trên nhiều địa phương. Chính phủ có thể điều chỉnh đưa ra mức lãi suất trần tránh các trường hợp các ngân hàng tự do điều chỉnh lãi suất. II. Kiểm soát ngân hàng: 1. Khái niệm: • Là các hoạt động của Chính phủ bao gồm thanh tra, giám sát sát đối với các Ngân Hàng Thương mại, xây dựng chính sách văn bản quy phạm pháp luật, cấp phép thông qua Ngân Hàng nhà nước. • Mục đích: Thanh tra, giám sát ngân hàng nhằm góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống các tổ chức tín dụng và hệ thống tài chính. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của tổ chức tín dụng. Duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống các tổ chức tín dụng. Bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng. Góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng từ đó kiềm chế tài chính. 2. Các biện pháp kiểm soát ngân hàng của chính phủ: • Ngân hàng Nhà nước ban hành các văn bản nhằm hạ dần lãi suất đối với tiền gửi huy động nhằm hạ lãi suất cho vay, kích thích cho việc tăng trưởng tín dụng trở lại ở các ngân hàng thương mại. • Dự trữ bắt buộc cũng là công cụ để chính phủ các nước áp dụng đối với hệ thống các tổ chức tín dụng, chủ yếu là các ngân hàng thương mại nhằm đảm bảo an toàn khi xảy ra khủng hoảng tài chính vì nếu khủng hoảng tài chính xảy ra thường kéo theo việc rút tiền ồ ạt và để giảm chi phí các khoản nợ cho Chính phủ. • Từ năm 2012 đến nay, nhiều ngân hàng thương mại đã tham gia quá trình tái cơ cấu, xử lý các ngân hàng yếu kém, theo đó, cơ chế trên mở ra khả năng nhiều thành viên có thể được giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc trong thời gian
Trang 1ĐỀ TÀI: Các biện pháp kiềm chế tài chính tại một nước đang phát triển -Việt Nam
I. Giới thiệu chung
Kiềm chế tài chính là khái niệm để chỉ luật và chính sách của chính phủ hoặc những biện pháp phi thị trường nhằm ngăn chặn các tổ chức trung gian tài chính của một kinh nền kinh tế vận hành tối đa năng lực
Các chính sách dùng trong việc kiềm chế tài chính bao gồm:
+Kiểm soát ngân hàng
+Dự trữ bắt buộc
+Kiểm soát dòng vốn
+Áp trần lãi suất
+Kiểm soát tín dụng
b. Mục tiêu của kiềm chế tài chính
Kiểm soát nguồn lực tài chính khi đó chính phủ có thể chủ động rót vốn
mà không cần thông qua những thủ tục pháp lý
Đảm bảo tỷ lệ tăng trưởng cao và giảm tỷ lệ thất nghiệp cũng như các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội khác
Đảm bảo khả năng tài trợ cho các ngân hàng đối với các nhu cầu tài chính của Nhà nước
Chính phủ có thể tạo ra sự độc quyền hoặc những hoạt động tín dụng cho vay cho các ngân hàng
c.Tác động thực tế đến Việt Nam
Chính phủ dễ dàng kiểm soát tài chính áp dụng lãi suất trần để tránh lạm phát xảy ra
Áp dụng các biện pháp kiểm soát dòng vốn giúp Việt Nam thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài nhiều hơn tăng ngân sách nhà nước và có tính dài hạn
Kiểm soát tín dụng cũng giúp Chính phủ hỗ trợ xóa đói giảm nghèo trên nhiều địa phương
Chính phủ có thể điều chỉnh đưa ra mức lãi suất trần tránh các trường hợp các ngân hàng tự do điều chỉnh lãi suất
II. Kiểm soát ngân hàng:
Trang 2•Là các hoạt động của Chính phủ bao gồm thanh tra, giám sát sát đối với các Ngân Hàng Thương mại, xây dựng chính sách văn bản quy phạm pháp luật, cấp phép thông qua Ngân Hàng nhà nước
•Mục đích:
Thanh tra, giám sát ngân hàng nhằm góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống các tổ chức tín dụng và hệ thống tài chính
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của
tổ chức tín dụng
Duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống các tổ chức tín dụng
Bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng
Góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng từ đó kiềm chế tài chính
2. Các biện pháp kiểm soát ngân hàng của chính phủ:
•Ngân hàng Nhà nước ban hành các văn bản nhằm hạ dần lãi suất đối với tiền gửi huy động nhằm hạ lãi suất cho vay, kích thích cho việc tăng trưởng tín dụng trở lại
ở các ngân hàng thương mại
•Dự trữ bắt buộc cũng là công cụ để chính phủ các nước áp dụng đối với hệ thống các tổ chức tín dụng, chủ yếu là các ngân hàng thương mại nhằm đảm bảo an toàn khi xảy ra khủng hoảng tài chính vì nếu khủng hoảng tài chính xảy ra thường kéo theo việc rút tiền ồ ạt và để giảm chi phí các khoản nợ cho Chính phủ
•Từ năm 2012 đến nay, nhiều ngân hàng thương mại đã tham gia quá trình tái cơ cấu, xử lý các ngân hàng yếu kém, theo đó, cơ chế trên mở ra khả năng nhiều thành viên có thể được giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc trong thời gian tới Với thị trường tài chính, khả năng một nguồn vốn từ dự trữ bắt buộc sẽ được “thả” ra
•Các mức lãi suất Ngân hàng công bố năm 2009:
Trang 33. Thực trạng, tác động của áp dụng biện pháp kiểm soát ngân hàng:
•Nhiều ngân hàng áp dụng chuẩn mực Basel 2 (bao gồm các nguyên tắc chung
và các luật ngân hàng của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng), chất lượng tài sản tăng ổn định biểu hiện bằng tỷ lệ nợ xấu giảm đều đặn, khả năng sinh lời được cải thiện đáng kể, thanh khoản hệ thống khá ổn định,
•Việc giám sát, đảm bảo an toàn hệ thống còn bất cập chủ yếu gồm: giám sát, ổn định tài chính tiền tệ do nhiều nơi đảm trách; vai trò của Uỷ ban Giám sát Tài chính quốc gia và Bảo hiểm tiền gửi còn mờ nhạt; rủi ro hệ thống chưa được kiểm soát chặt chẽ, đầy đủ, chưa có cơ chế xử lý khủng hoảng; hoạt động thanh tra giám sát chủ yếu theo phương thức giám sát hành chính, giám sát trên cơ sở rủi ro chưa nhiều; văn bản pháp quy còn thiếu tính nhất quán, thiếu cơ chế chia sẻ thông tin; chế tài xử lý vi phạm chưa đủ mạnh
•Lãi suất liên ngân hàng tiếp tục ổn định ở mức thấp
Trang 4•Phát triển các dịch vụ, phương tiện thanh toán, dịch vụ thanh toán mới, hiện đại
Trang 5III. Dự trữ bắt buộc:
•Dự trữ bắt buộc, hay tỷ lệ dự trữ bắt buộc là một quy định của ngân hàng trung ương về tỷ lệ giữa tiền mặt và tiền gửi mà các ngân hàng thương mại bắt buộc phải tuân thủ để đảm bảo tính thanh khoản
•Các ngân hàng có thể giữ tiền mặt cao hơn hoặc bằng tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhưng không được phép giữ tiền mặt ít hơn tỷ lệ này Nếu thiếu hụt tiền mặt các ngân hàng thương mại phải vay thêm tiền mặt, thường là từ ngân hàng trung ương để đảm bảo tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Trang 6•Mục đích Việt Nam sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc:
+ Sự phát triển của thị trường tài chính
+ Việt Nam là 1 trong những quốc gia áp dụng khuôn khổ chính sách tiền
tệ theo khối lượng cung tiền
+ Dự trữ bắt buộc tác động lên lãi suất nhanh hơn khi hệ thống ngân hàng
ở giai đoạn đầu của cạnh tranh (mức độ cạnh tranh không cao và lợi nhuận phụ thuộc nhiều từ tín dụng)
+ Dự trữ bắt buộc tác dộng tức thời lên hành vi cho vay của các ngân hàng thương mại
2. Các biện pháp thực hiện dự trữ bắt buộc tại Việt Nam:
•Thông qua hoạt động tạo tiền, từ tiền cơ sở (gồm tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng cộng với tiền mặt dự trữ trong hệ thống ngân hàng), các cửa tiền mặt
so với tiền gửi (C/D) của các ngân hàng; r là tỷ lệ dự trữ bắt buộc
•Do đó khi r thay đổi thì số nhân tiền thay đổi theo tỷ lệ nghịch Chính vì thế bằng cách thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc, ngân hàng trung ương có thể thay đổi số nhân tiền để điều tiết cung tiền với một tiền cơ sở bất kỳ
Dự trữ bắt buộc được NHNN sử dụng rất linh hoạt trong khoảng thời gian
2007 – 2010 để ngăn ngừa sự tăng trưởng tín dụng quá nóng và kiềm chế lạm phát Trong đó, giai đoạn 2007 – 2008, tỷ lệ dự trữ bắt buộc điều chỉnh khá mạnh tay (từ 5% lên 10% và 11% đầu năm 2008), đồng thời các thời gian tiếp theo điều chỉnh giảm linh hoạt và thận trọng để phù hợp với các mục tiêu của chinh sách tiền tệ
Trang 7Tuy nhiên, sau 2011, dự trữ bắt buộc trở nên dần lãng quên trong các công cụ sách tiền tệ Nên chăng, NHNN cần xác định rõ hơn nữa vai trò quan trọng của công cụ dự trữ bắt buộc và khai thác một cách thận trọng để nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ
Năm 2012-2014, NHNN đã tiến hành giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc cho 7 tổ chức tín dụng (TCTD) và tái cấp vốn để khuyến khích các TCTD hỗ trợ vốn tín dụng cho lĩnh vực nông nghiệp nông thôn.Tại những năm này công cụ tỷ lệ DTBB không phát huy tác dụng điều chỉnh nguồn vốn thanh toán và cho vay của TCTD
=> Hạn chế vai trò, tác dụng của tỷ lệ DTBB trong việc điều chỉnh lãi suất cho vay, lượng tiền cung ứng và hệ số tạo tiền của TCTD
Năm 2015-2016, NHNN thay đổi 1 số diều khoản trong quy chế DTBB đối với các TCTD: Đối với tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xem xét quyết định giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc cho tổ chức tín dụng đến mức tối thiểu 0% Đối với tổ chức tín dụng đang thực hiện
Trang 8phương án cơ cấu lại đã được phê duyệt, tổ chức tín dụng tham gia cơ cấu lại tổ chức tín dụng yếu kém theo chỉ định, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xem xét quyết định giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc cụ thể cho từng tổ chức tín dụng”
Năm 2017-2018, ngân hàng Nhà nước điều chỉnh theo hướng: về đối tượng sẽ không áp dụng quy định về dự trữ bắt buộc cho một số đối tượng, gồm tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt; tổ chức tín dụng chưa khai trương hoạt động; tổ chức tín dụng có quyết định thanh lý tài sản, hoặc giải thể, hoặc chấm dứt hoạt động hoặc thu hồi giấy phép hoạt động của cấp có thẩm quyền
Nhóm đối tượng trên hiện có Ngân hàng Đông Á (sau khi đặt vào diện kiểm soát đặc biệt từ năm 2015 và tiến hành tái cơ cấu), ba ngân hàng thương mại mà Ngân hàng Nhà nước mua lại giá 0 đồng
Nhóm đối tượng này cũng được dẫn chiếu đến nhóm các ngân hàng thương mại khác được giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc trong chính sách dự kiến ban hành Đó là những trường hợp tham gia hỗ trợ tái cơ cấu hệ thống
Cụ thể, đối tượng được giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, trên cơ sở quy định tại Luật số 17/2017/QH14, tổ chức tín dụng hỗ trợ sẽ được giảm 50% tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tất cả các loại tiền gửi theo phương án phục hồi đã được phê duyệt
Ở quy định này, tổ chức tín dụng hỗ trợ là tổ chức tín dụng được chỉ định tham gia quản trị, kiểm soát, điều hành, hỗ trợ tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt
Chiếu theo quy định trên, trong những năm qua Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank), Ngân hàng Công thương (VietinBank), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV) đã lần lượt tham gia hỗ trợ tái cơ cấu tại DongA Bank, CB Bank, Ocean Bank và GP Bank, qua hỗ trợ thanh khoản, cử nhân sự quả trị
Trang 9điều hành, hợp tác kinh doanh… ngay khi các tổ chức này thực hiện tái cơ cấu bắt buộc
Tuy nhiên, việc xác định cụ thể sẽ chờ chính sách từ Ngân hàng Nhà nước
Bước đầu, với gợi mở từ định hướng trên, dù số lượng thành viên được miễn và giảm tỷ lệ dữ trữ bắt buộc không nhiều, nhưng phạm vi lượng tiền gửi
dự kiến sẽ là một bộ phận lớn, do những thành viên nói trên (nếu cả Vietcombank, VietinBank và BIDV cùng được giảm) đang chiếm thị phần huy động lớn trong hệ thống
Theo đó, hướng điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc lần này dự kiến sẽ có tác động lớn tới thị trường, nhất là sau khi lãi suất huy động VND có xu hướng lên cao trong năm 2018, cũng như có giá trị kích thích quá trình hồi phục tại những trường hợp đang kiểm soát đặc biệt
IV. Kiểm soát dòng vốn:
•Kiểm soát vốn là hình thức chính phủ can thiệp vào dòng vốn nước ngoài chảy vào quốc gia đó dưới nhiều góc độ và biện pháp khác nhau để nhằm đạt được chỉ tiêu
và mong muốn nhất định của chính phủ
•Kiểm soát vốn có 2 hình thức là kiểm soát vốn trực tiếp và kiểm soát vốn gián tiếp:
• Kiểm soát vốn trực tiếp không chỉ hạn chế giao dịch vốn mà còn tác động đến số lượng những giao dịch tài chính từ nước này qua nước khác Kiểm soát vốn trực tiếp có thể kiểm tra dòng vốn thông qua các hệ thống ngân hàng Từ đó giúp chính phủ dễ dàng hơn trong việc quản kí dòng vốn từ nước ngoài vào quốc gia được nhận dòng vốn
• Kiểm soát vốn gián tiếp: chỉ hạn chế những biến động của dòng vốn và những giao dịch khác thông qua các biện pháp thị trường, mục đích của việc này làm cho tốn kém nhiều chi phí hơn trong quá trình giao dịch
Trang 10diễn ra Nó có thể xảy ra dưới nhiều hình thức như hệ thống đa tỷ giá, đánh thuế ngầm, nhưng chủ yếu là đánh thuế vào các dòng vốn ngắn hạn
và khuyến khích các dòng vốn dài hạn
Mục đích:
• Những mục tiêu kiểm soát dòng vốn ở Việt Nam bao gồm
• Thu hút vốn
• Kiềm chế tài trợ
• Phân phối tín dụng
• Điều chỉnh thâm hụt cán cân thanh toán
• Ngăn ngừa những bất ổn tiềm tàng của dòng vốn vào
• Hạn chế sử dụng nước ngoài đối với các sản phẩm trong nước
• Bảo vệ các định chế tài chính trong nước
• Giảm thiểu rủi ro về tiền tệ, rủi ro về sự tháo chạy của đầu tư, rủi ro lây lan…
2. Các biện pháp kiểm soát dòng vốn:
Đổi mới luật lệ và các chính sách: Ngày 29/2/2005, bằng quyết định 238/2005/QG-TTg Thủ tướng chính phủ cho phép nâng tỷ lệ sở hữu cho người nước ngoài nắm giữ từ 30% lến đến 49%
Ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, thực thi chính sách mở cửa thu hút nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài
Khuyến khích dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam bằng cách phát hành trái phiếu
- Chính phủ chính thức phát hành trái phiếu vào tháng 10 năm 2005 và kéo theo đó là hàng loạt các phương án phát hành trái phiếu của các tổng công
ty lớn lúc bây giờ như: Vinashin, EVN và…
Thực hiện chính tiền tệ chặt chẽ thận trọng nhằm ổn định tỷ giá
- Thực hiện nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2011 Ngân Hàng Nhà Nước đã điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng lên mức 20.690VNĐ (tăng 9,3% so với mức 18.932VNĐ trước đó) Điều này sẽ giúp NHNN tránh được lạm phát khi phải bơm tiền nội tệ để đổi ngoại tệ quá nhiều
Trang 11Thực hiện các chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi ngân sách Một số biện pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội bao gồm:
+Thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng
+Thúc đẩy sản xuất kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu, sử dụng tiết kiệm năng lượng
+Điều chỉnh giá điện, xăng, dầu đối với hộ nghèo
+Tăng cường bảo đảm an sinh xã hội Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền
3. Tác động của kiểm soát dòng vốn
Tổng vốn FDI vào Việt Nam năm 2017 đạt 35,88 tỷ USD, tăng 44,4% so với năm 2016 Bộ Kế hoạch và Đầu tư ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 17,5 tỷ USD trong 12 tháng qua, cao nhất từ trước đến nay
Biểu đồ thể hiện vốn FDI đăng kí vào Việt Nam từ 2009-2017
Nhà đầu tư nước ngoài đã rót vốn vào 19 ngành, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài với 15,87 tỷ USD, chiếm 44,2% tổng vốn đăng ký Lĩnh vực sản xuất, phân phối điện đứng thứ hai với 8,37 tỷ USD, chiếm 23,3% tổng vốn đầu
Trang 12tư đăng ký Đứng thứ ba là lĩnh vực kinh doanh bất động sản với 3,05 tỷ USD, chiếm 8,5% tổng vốn đăng ký
- Biểu đồ thể hiện mức độ đầu tư của các nước vào Việt Nam:
Biểu đồ thể hiện sự gia tăng nhanh chóng của FII vào Việt Nam trong năm 2016 - 2018:
Trang 13V. Áp trần lãi suất:
Áp trần lãi suất được coi là một trong những công cụ áp chế tài chính được sử dụng phổ biến nhất, đặc biệt là ở các nước đang phát triển
•Mức lãi suất trần là mức lãi suất cao nhất một tổ chức tài chính áp dụng để thu hút tiền gửi vào tổ chức của mình
•Mục đích:
Áp đặt trần lãi suất đối với nguồn vốn huy động đảm bảo cho sự tăng trưởng ổn định của hệ thống ngân hàng thông qua việc giảm bớt sự cạnh tranh Hơn nữa, khi các ngân hàng không chịu áp lực từ chi phí phải trả trên nguồn vốn huy động thì cũng sẽ giảm những khoản cho vay
có rủi ro cao, từ đó giảm rủi ro cho ngân hàng
Việc đặt ra trần lãi suất huy động cũng giống như một sự kiểm soát về giá
và nó đem lại cho ngân hàng một mức “tô kinh tế” nhất định do sự không hoàn hảo của thị trường Khoản tô này không chỉ làm giảm tỷ suất sinh lợi thực tế của những người tiết kiệm nhận được mà còn làm giảm các khoản cho vay hiện tại, vì vậy có thể làm tăng lãi suất cho vay đối với cá nhân vay nợ
Hơn nữa, một khi lạm phát cao sẽ dẫn đến lãi suất thực tế nhận được thấp
và có thể âm làm giảm mong muốn tiết kiệm trong công chúng Lãi suất cho vay và mức độ đầu tư của khu vực tư nhân có mối quan hệ nghịch chiều việc
áp đặt trần lãi suất làm hạn chế tín dụng và có tác động tiêu cực lên đầu tư Như vậy, phương pháp này đã góp phần kìm hãm sự phát triển tài chính ở quốc gia này
2. Các biện pháp áp trần lãi suất ở Việt Nam:
•Chính sách lãi suất được NHNN điều hành tăng giảm theo những biến động của thị trường Cụ thể:
•Vào nửa đầu năm 2008, NHNN đã áp dụng mức trần lãi suất cho vay tối
đa là 150% lãi suất cơ bản của NHNN
Trang 14LSCB được điều chỉnh giảm về mức 7%/năm từ ngày 1/2/2009 đưa lãi suất cho vay tối đa về mức 10,5%/năm nhằm tạo điều kiện cho các NHTM mở rộng tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp kinh doanh trong nền kinh tế
- Tiến hành kiểm tra nghiêm ngặt, ngăn chặn tình trạng vượt trần lãi suất của các NHTM (Văn bản số 9484/2009/VB-NHNN ban hành ngày 21/2/2009) Nguyên nhân là do những khó khăn trong thanh khoản của các NHTM dẫn đến công tác huy động vốn trở nên ngày càng căng thẳng Với mức LSCB duy trì ở 7%/năm, các NHTM đã nâng lãi suất huy động lên đỉnh điểm ở mức 10,5%/năm Ngoài ra, nhiều NHTM đã áp lãi suất tiền gửi ở mức cao nhất có thể là 10,49% hay 10,50%/năm cho hầu hết các kỳ hạn
Thúc đẩy các NHTM kiểm soát rủi ro tín dụng một cách chặt chẽ và khắt khe trong việc cấp tín dụng cho khách hàng, hạn chế và tập trung xử lý nợ xấu thông qua việc thực hiện CSTT thắt chặt bằng cách điều chỉnh tăng LSCB Việc điều chỉnh tăng LSCB đã kéo theo sự gia tăng lãi suất huy động và lãi suất cho vay Chính điều này làm cho các NHTM khắt khe trong việc lựa chọn đối tượng cho vay hay nói một cách khác là tập trung vào những đối tượng khách hàng có uy tín, hoạt động kinh doanh hiệu quả, tỷ suất sinh lời cao và có khả năng trang trải chi phí sử dụng vốn cao
Giai đoạn 2016-2018, tăng trưởng GDP liên tục gia tăng, và lần lượt đạt các mốc cao nhất trong 10 năm qua (với GDP năm 2017 tăng 6,81% - mức cao