1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CẤU TRÚC CỦA HỆ THỐNG TÀI CHÍNH VÀ VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG TÀI CHÍNH CỦA MỘT NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN ( VIỆT NAM)

30 145 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 645,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CẤU TRÚC CỦA HỆ THỐNG TÀI CHÍNH VÀ VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG TÀI CHÍNH CỦA MỘT NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN ( VIỆT NAM). 1.1 Tổ chức tài chính Căn cứ vào thực tiễn ở Việt Nam, các tổ chức tài chính hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng, các tổ chức tài chính hoạt động trên thị trường chứng khoán, các công ty bảo hiểm hoạt động theo Luật bảo hiểm và một số loại hình tổ chức tài chính khác. a. Ngân hàng Trung ương và các tổ chức tín dụng • Ngân hàng trung ương Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Ngân hàng Nhà nước) là cơ quan của Chính phủ và là ngân hàng trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và ngân hàng làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ. Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, góp phần bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngân hàng Nhà nước là một pháp nhân, có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước; có trụ sở chính tại Thủ đô Hà Nội. • Các tổ chức tín dụng Các tổ chức tín dụng Việt Nam về các tổ chức tín dụng : Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt động ngân hàng. Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một số hoạt động ngân hàng như là nội dung kinh doanh thường xuyên, nhưng không được nhận tiền gửi không kỳ hạn, không làm dịch vụ thanh toán. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác. Tổ chức tín dụng nước ngoài là tổ chức tín dụng được thành lập theo pháp luật nước ngoài. Tổ chức tín dụng hợp tác là tổ chức kinh doanh tiền tệ và làm dịch vụ ngân hàng, do các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập để hoạt động ngân hàng nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống. Tổ chức tín dụng hợp tác gồm ngân hàng hợp tác, quỹ tín dụng nhân dân và các hình thức khác. Các loại hình tổ chức tín dụng (theo sở hữu): Tổ chức tín dụng được thành lập theo pháp luật Việt Nam bao gồm tổ chức tín dụng nhà nước, tổ chức tín dụng cổ phần, tổ chức tín dụng hợp tác, tổ chức tín dụng liên doanh, tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài. Ngoài ra còn có chi nhánh, văn phòng đại diện của ngân hàng nước ngoài tại Việt nam. Các ngân hàng thương mại: Hiện ở Việt Nam có 5 ngân hàng thương mại quốc doanh chiếm hơn 70% thị phần tín dụng và huy động vốn; 37 ngân hàng cổ phần đô thị và nông thôn, chiếm 11% thị phần tín dụng và huy động vốn; 27 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 4 ngân hàng liên doanh chiếm 12% thị phần huy động vốn và tín dụng. Ngân hàng chính sách xã hội: Hiện có một ngân hàng chính sách xã hội thực hiện việc cấp tín dụng cho các đối tượng chính sách. Tiền thân của ngân hàng này là Ngân hàng phục vụ người nghèo thành lập năm 1995. Các công ty tài chính: Hiện có 5 công ty tài chính trực thuộc các tổng công ty lớn. Các công ty tài chính này chủ yếu là dàn xếp tài chính cho tổng công ty mà nó trực thuộc. Ngoài ra trước năm 2003 còn có Công ty tài chính Sài gòn là một đơn vị độc lập không thuộc bất kỳ một tổng công ty nào. Nhưng do những hạn chế của mô hình này hiện đã chuyển thành Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Á. Các công ty cho thuê tài chính: Hiện có 9 công ty cho thuê tài chính, trong đó có 3 liên doanh. Sáu công ty còn lại trực thuộc 4 ngân hàng thương mại quốc doanh. Trong đó, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam có 2 công ty. Nhìn chung hoạt động thuê mua tài chính còn nhiều hạn chế. Tổng số cho thuê của các công ty này có một phần không nhỏ là tài sản của các ngân hàng mẹ thuê. Các quỹ tín dụng: có hai loại hình quỹ tín dụng là quỹ tín dụng trung ương và quỹ tín dụng khu vực. Tổng số các hợp tác xã tín dụng là 898 và chiếm 1,5% thị phần huy động vốn và cho vay. Ngoài ra còn một số loại hình tổ ch

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

CẤU TRÚC CỦA HỆ THỐNG TÀI CHÍNH VÀ VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG TÀI CHÍNH CỦA MỘT NƯỚC ĐANG PHÁT

TRIỂN ( VIỆT NAM)

Hà Nội, 2020

Trang 2

MỤC LỤC

1 Cấu trúc hệ thống tài chính Việt Nam 1

1.1 Tổ chức tài chính 2

1.2 Thị trường tài chính 7

1.3 Các công cụ tài chính 11

1.4 Cơ sở hạ tầng tài chính 16

2 Chức năng 17

2.1 Huy động tiết kiệm, phân bổ vốn đầu tư: 17

2.2 Sàng lọc, chuyển giao và phân bổ rủi ro 19

2.3 Giám sát và quản trị: 20

2.4 Vận hành hệ thống thanh toán: 21

2.5 Mối quan hệ phát triển hệ thống tài chính và tăng trưởng kinh tế 21

3 Những định hướng giải pháp cơ bản để phát triển hệ thống tài chính Việt Nam 22

4 Vai trò của Nhà nước trên thị trường tài chính 24

5 Kết luận 27

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 4

1 Cấu trúc hệ thống tài chính Việt Nam

Hệ thống tài chính là tổng thể các hoạt động tài chính trong các lĩnh vực

khác nhau của nền kinh tế quốc dân, nhưng có quan hệ hữu cơ với nhau về việc

hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ ở các chủ thể kinh tế - xã hội hoạt động

trong lĩnh vực đó

Cấu trúc hệ thống tài chính Việt Nam

Dòng luân chuyển trong nền kinh tế

1.1 Tổ chức tài chính

HỆ THỐNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM

CÁC CÔNG CỤ TÀI

CHÍNH

CƠ SỞ HẠ TẦNG

TỔ CHỨC TÀI CHÍNH THỊ TRƯỜNG TÀI

CHÍNH

Trang 5

Căn cứ vào thực tiễn ở Việt Nam, các tổ chức tài chính hoạt động theo Luật các tổchức tín dụng, các tổ chức tài chính hoạt động trên thị trường chứng khoán, các công tybảo hiểm hoạt động theo Luật bảo hiểm và một số loại hình tổ chức tài chính khác

a Ngân hàng Trung ương và các tổ chức tín dụng

 Ngân hàng trung ươngNgân hàng Nhà nước Việt Nam (Ngân hàng Nhà nước) là cơ quan của Chính phủ

và là ngân hàng trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạtđộng ngân hàng; là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và ngânhàng làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ

Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, góp phần bảođảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng, thúc đẩy phát triểnkinh tế- xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Ngân hàng Nhà nước là một pháp nhân, có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước;

có trụ sở chính tại Thủ đô Hà Nội

 Các tổ chức tín dụng Các tổ chức tín dụng Việt Nam về các tổ chức tín dụng :

Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật các tổchức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt động ngân hàng

Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngânhàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Theo tính chất và mục tiêu hoạtđộng, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngânhàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác

Trang 6

Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một

số hoạt động ngân hàng như là nội dung kinh doanh thường xuyên, nhưng không đượcnhận tiền gửi không kỳ hạn, không làm dịch vụ thanh toán Tổ chức tín dụng phi ngânhàng gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngânhàng khác

Tổ chức tín dụng nước ngoài là tổ chức tín dụng được thành lập theo pháp luậtnước ngoài

Tổ chức tín dụng hợp tác là tổ chức kinh doanh tiền tệ và làm dịch vụ ngân hàng,

do các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập để hoạt động ngân hàng nhằmmục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống Tổ chứctín dụng hợp tác gồm ngân hàng hợp tác, quỹ tín dụng nhân dân và các hình thức khác

Các loại hình tổ chức tín dụng (theo sở hữu): Tổ chức tín dụng được thành lập

theo pháp luật Việt Nam bao gồm tổ chức tín dụng nhà nước, tổ chức tín dụng cổ phần, tổchức tín dụng hợp tác, tổ chức tín dụng liên doanh, tổ chức tín dụng 100% vốn nướcngoài Ngoài ra còn có chi nhánh, văn phòng đại diện của ngân hàng nước ngoài tại Việtnam

Các ngân hàng thương mại: Hiện ở Việt Nam có 5 ngân hàng thương mại quốc

doanh chiếm hơn 70% thị phần tín dụng và huy động vốn; 37 ngân hàng cổ phần đô thị

và nông thôn, chiếm 11% thị phần tín dụng và huy động vốn; 27 chi nhánh ngân hàngnước ngoài, 4 ngân hàng liên doanh chiếm 12% thị phần huy động vốn và tín dụng

Ngân hàng chính sách xã hội: Hiện có một ngân hàng chính sách xã hội thực hiện

việc cấp tín dụng cho các đối tượng chính sách Tiền thân của ngân hàng này là Ngânhàng phục vụ người nghèo thành lập năm 1995

Các công ty tài chính: Hiện có 5 công ty tài chính trực thuộc các tổng công ty lớn.

Các công ty tài chính này chủ yếu là dàn xếp tài chính cho tổng công ty mà nó trực thuộc.Ngoài ra trước năm 2003 còn có Công ty tài chính Sài gòn là một đơn vị độc lập không

Trang 7

thuộc bất kỳ một tổng công ty nào Nhưng do những hạn chế của mô hình này hiện đãchuyển thành Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Á

Các công ty cho thuê tài chính: Hiện có 9 công ty cho thuê tài chính, trong đó có 3

liên doanh Sáu công ty còn lại trực thuộc 4 ngân hàng thương mại quốc doanh Trong đó,Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn Việt Nam có 2 công ty Nhìn chung hoạt động thuê mua tài chính còn nhiều hạn chế.Tổng số cho thuê của các công ty này có một phần không nhỏ là tài sản của các ngânhàng mẹ thuê

Các quỹ tín dụng: có hai loại hình quỹ tín dụng là quỹ tín dụng trung ương và quỹ

tín dụng khu vực Tổng số các hợp tác xã tín dụng là 898 và chiếm 1,5% thị phần huyđộng vốn và cho vay

Ngoài ra còn một số loại hình tổ chức tài chính khác hoạt động theo Luật các tổchức tín dụng là các công ty quản lý tài sản, các tổ chức cầm đồ…

Tất cả các tổ chức tín dụng hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng và chịu sựquản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Tổng dư nợ cho vay của hệ thống các tổchức tín dụng Việt Nam đạt gần 380.000 tỷ, xấp xỉ 60% GDP Tổng vốn điều lệ của các tổchức tín dụng Việt Nam khoảng 33.500 tỷ đồng

Trang 8

b Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước và các tổ chức hoạt động trên TTCK

Uỷ ban chứng khoán nhà nước: Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước khi mới thành lập

là cơ quan trực thuộc Chính phủ, năm 2004 chuyển thành cơ quan trực thuộc Bộ tàichính Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước có nhiệm vụ chính trong việc tổ chức và giám sátcác hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam

Các công ty chứng khoán: Hiện có 13 công ty chứng khoán hoạt động với chức

năng là các tổ chức môi giới trên thị trường chứng khoán như lập các thủ tục phát hành,bảo lãnh phát hành chứng khoán …

Ngân hàng chỉ định thanh toán: Trên thị trường có 1 ngân hàng chỉ định thanh

toán là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

Ngân hàng lưu ký chứng khoán: Hiện có 5 ngân hàng lưu ký chứng khoán

Công ty quản lý quỹ đầu tư: Hiện tại có 1 công ty quản lý quỹ đầu tư đang quản lý

quỹ VF1

Trang 9

Các công ty niêm yết: Hiện có 26 công ty niêm yết trên thị trường Các công ty

này chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá

Tổng số vốn giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam gần 27.000 tỷ đồng,bằng 4% GDP Trong đó, giá trị cổ phiếu bằng 3.195 tỷ đồng, chiếm 12% tổng giá trị thịtrường, bằng 0,5% GDP

Ngoài ra còn có một số quỹ đầu tư đóng vài trò đáng kể trên thị trường chứngkhoán nói riêng, thị trường tài chính nói chung là Dragon Capital, Mekong Capital,Vinacapital, Indochina Capital, Quỹ đầu tư mạo hiểm của tập đoàn dữ liệu quốc tế (IDG)

và một số công ty quản lý quỹ như Công ty quản lý quỹ đầu tư Việt Nam, Công ty quản

lý quỹ Thành Việt, Công ty quản lý quỹ Manulife và Công ty quản lý quỹ Frudential,Finansa, FXF Vietnam Các quỹ đầu tư này vừa tham gia đầu tư trên thị trường chứngkhoán, vừa đầu tư trực tiếp vào các doanh nghiệp

c Các công ty bảo hiểm

Các công ty bảo hiểm: Hiện có khoảng 24 công ty bảo hiểm đang hoạt động tại

Việt Nam với tổng vốn điều lệ gần 5.000 tỷ đồng Trong đó có 4 doanh nghiệp nhà nước,

7 công ty bảo hiểm cổ phần, 7 công ty bảo hiểm liên doanh và 6 doanh nghiệp 100% vốnnước ngoài Trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam(Bảo Việt) chiếm thị phần chủ yếu Trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, ba doanhnghiệp có thị phần lớn nhất là Bảo Việt, Prudential và AIA Các công ty bảo hiểm hoạtđộng theo Luật bảo hiểm và chịu sự quản lý của Bộ Tài chính

Quy mô thị trường: Tổng số thu phí bảo hiểm năm 2004 gần 12.500 tỷ đồng, trong

đó doanh thu từ bảo hiểm nhân thọ chiếm khoảng 2/3 tổng số doanh thu của bảo hiểm.Doanh thu của các doanh nghiệp bảo hiểm chủ yếu tập trung đầu tư vào trái phiếu và gửitại các ngân hàng thương mại

d Một số loại hình tổ chức tài chính khác

Trang 10

Quỹ lương hưu: hiện Việt Nam chưa có quỹ lương hưu, nhưng có một quỹ rất lớn

đó là bảo hiểm xã hội Việt Nam Phần thặng dư của Bảo hiểm xã hội Việt Nam chủ yếuchuyển sang Quỹ Hỗ trợ phát triển

Tiết kiệm bưu điện: Đây là tổ chức thực hiện các loại hình huy động tiết kiệm nhỏ

lẻ dựa trên hệ thống bưu cục rộng khắp của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông ViệtNam Tổng số vốn Tiết kiệm bưu điện huy động được gần 30.000 tỷ đồng Phần huy độngnày chủ yếu chuyển giao sang cho Quỹ hỗ trợ Phát triển

Quỹ hỗ trợ phát triển và các quỹ đầu tư phát triển của các tỉnh, thành phố: Quỹ

hỗ trợ phát triển là tổ chức cấp tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước (tín dụng chỉ định)cho các dự án Quỹ này trực thuộc Bộ tài chính Các quỹ đầu tư phát triển địa phươngtrực thuộc các uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố Các quỹ này có nhiệm vụ cho vay các dự

án theo định hướng phát triển của từng địa phương Quỹ hỗ trợ phát triển và các quỹ đầu

tư phát triển của các địa phương hoạt động không chịu sự chi phối của Luật các tổ chứctín dụng và không chịu sự giám sát của Ngân hàng Nhà nước

1.2 Thị trường tài chính

Là một thị trường trong đó mọi người và các thể chế có thể trao đổi các chứngkhoán tài chính, các hàng hóa, và các món giá trị có thể thay thế khác với chi phí giaodịch thấp và tại các giá cả phản ánh cung và cầu

Trong tài chính, thị trường tài chính tạo điều kiện:

 Việc nâng vốn (trong các thị trường vốn)

 Việc chuyển giao rủi ro (trong các thị trường phái sinh)

 Phát hiện giá

 Các nghiệp vụ toàn cầu với hội nhập của các thị trường tài chính

Trang 11

 Việc chuyển giao tính thanh khoản (trong các thị trường tiền tệ)

 Thương mại quốc tế (trong các thị trường tiền tệ)

Công cụ của thị trường tài chính

Để chuyển giao quyền sử dụng các nguồn tài chính, các công cụ chủ yếu được sửdụng trên thị trường tài chính là các loại chứng khoán Chứng khoán là chứng từ dướidạng giấy tờ hoặc ghi trên hệ thống thiết bị điện tử xác nhận các quyền hợp pháp củangười sở hữu chứng từ đó đối với người phát hành; hoặc chứng khoán là chứng chỉ hoặcbút toán ghi sổ, xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng từ đóđối với người phát hành

Cấu trúc của thị trường tài chính

Căn cứ vào thời gian sử dụng nguồn tài chính huy động được

Ở các nước phát triển nói chung, thị trường tiền tệ thường do các ngân hàng thựchiện Đối với nhu cầu vốn trung dài hạn chủ yếu thực hiện theo hình thức trực tiếp trênthị trường chứng khoán Ngược lại, ở Việt Nam có đặc thù riêng, hầu hết các nguồn vốnngắn hạn trung hạn dài hạn đều do các ngân hàng thương mại cung cấp, các loại thị

Trang 12

trường khác hiện đang có quy mô rất nhỏ Hay nói cách khác, ở Việt Nam, việc huy động

và phân bổ vốn chủ yếu thực hiện qua các trung gian tài chính, trong đó các ngân hàngthương mại đóng vai trò chính

Căn cứ theo phương thức huy động nguồn tài chính

- Thị trường nợ:

Phương pháp chung nhất mà các công ty sử dụng để vay vốn trên thị trường tàichính là đưa ra một công cụ vay nợ, ví dụ như trái khoán hay một món vay thế chấp.Công cụ vay nợ là sự thoả thuận có tính chất hợp đồng có lãi suất cố định và hoàn trả tiềnvốn vào cuối kì hạn Kì hạn dưới 1 năm là ngắn hạn, trên 1 năm là trung và dài hạn Thịtrường nợ là thị trường diễn ra việc mua bán các công cụ nợ kể trên;

Hiện Việt Nam cũng có đã có thị trường tín phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường

cổ phiếu; thị trường vay nợ ngân hàng Ở Việt Nam, thị trường vay nợ ngân hàng là chủyếu

Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn tài chính

- Thị trường sơ cấp:

Là thị trường tài chính trong đó diễn ra việc mua bán chứng khoán đang phát hànhhay chứng khoán mới Việc mua bán chứng khoán trên thị trường cấp một thường đượctiến hành thông qua trung gian là các ngân hàng

Trang 13

- Thị trường thứ cấp:

Là thị trường mua bán lại những chứng khoán đã phát hành Khi diễn ra hoạt độngmua bán chứng khoán trên thị trường này thì người vừa bán chứng khoán nhận được tiềnbán chứng khoán còn công ty phát hành không thu được tiền nữa, một công ty thu đượcvốn chỉ khi chứng khoán của nó được bán lần đầu tiên trên thị trường sơ cấp

Việt Nam cũng đã có thị trường sơ cấp là nơi phát hàbh chứng khoán lần đầu tiên.Trên thị trường thứ cấp, hiện có 26 loại cổ phiếu, một chứng chỉ của quỹ đầu tư VFI, cácloại trái phiếu chính phủ và trái phiếu của Ngân hàng Đầu tư và Phât triển Việt Nam đượcgiao dịch

Căn cứ vào tính chất pháp lý

- Thị trường tài chính chính thức:

Là bộ phận của thị trường tài chính, mà tại đó mọi hoạt động huy động, cungứng, giao dịch các nguồn tài chính được thực hiện theo những nguyên tắc, thể chế donhà nước quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật Các chủ thể tham gia đượcpháp luật thừa nhận và bảo vệ;

- Thị trường tài chính không chính thức:

Là thị trường tài chính, mà ở đó mọi hoạt động huy động, cung ứng, giao dịchcác nguồn tài chính và người cần nguồn tài chính không theo những nguyên tắc, thểchế do nhà nước quy định

Ngoài thị trường tài chính chính thức, nơi mà các công ty chính, các công ty chứngkhoán, các ngân hàng hoạt động ở Việt Nam còn có loại hình phi chính thức là các hợptác xã tín dụng, các tổ chức tín dụng vi mô ở nông thôn, hụi hoạt động Các loại hìnhtín dụng phi chính thức này đóng một vai trò đáng kể trong phát triển kinh tế xã hội ViệtNam

Trang 14

Chức năng và vai trò của thị trường tài chính

Chức năng:

 Chức năng dẫn nguồn tài chính từ những chủ thể có khả năng cung ứng nguồn tàichính đến những chủ thể cần nguồn tài chính

 Chức năng cung cấp khả năng thanh khoản cho các chứng khoán;

 Chức năng cung cấp thông tin kinh tế và đánh giá giá trị của doanh nghiệp

Vai trò:

 Thị trường tài chính thu hút, huy động các nguồn tài chính trong và ngoài nước,khuyến khích tiết kiệm và đầu tư;

 Thị trường tài chính góp phần thúc đẩy, nâng cao hiệu quả sử dụng tài chính;

 Thị trường tài chính thực hiện chính sách tài chính, chính sách tiền tệ của nhànước

1.3 Các công cụ tài chính

Trong hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp luôn gặp phải các rủi ro bao gồm: Rủi

ro lãi suất, rủi ro tỷ giá, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro biến động giá cả hàng

hóa…Công cụ tài chính ra đời với nhiệm vụ hạn chế các rủi ro và tạo điều kiện cho các

doanh nghiệp và các nhà đầu tư có cơ hội kết hợp giữa phòng ngừa, đầu cơ và tạo lợinhuận

Hiện tại trên thị trường tài chính Việt Nam có các loại công cụ tài chính sau:

 Các khoản cho vay của các ngân hàng và các tổ chức tài chính khác: Phầnnày chiếm tỷ trọng chủ yếu trong việc phân phối vốn cho nền kinh tế

Trang 15

 Trái phiếu chính phủ: Tổng giá trị trái phiếu chính phủ giao dịch trên thịtrường chứng khoán là 24.000 tỷ đồng Ngoài ra trái phiếu chính phủ còn được phát hànhthông qua hệ thống các kho bạc nhà nước địa phương

 Tín phiếu kho bạc: Loại này do Kho bạc nhà nước phát hành và được đấugiá chủ yếu thông qua thị trường mở của Ngân hàng nhà nước Đây là một công cụ huyđộng nguồn vốn cho chi tiêu ngân sách rất quan trọng của chính phủ

 Trái phiếu đô thị: Do các chính quyền địa phương (tỉnh, thành phố) pháthành Hiện tại mới có thành phố Hồ Chí Minh phát hành loại trái phiếu này Các địaphương khác thích dùng tín dụng qua ngân hàng hơn

 Trái phiếu công ty: Loại này tương đối ít, chủ yếu do các ngân hàng thươngmại và các tổ chức tài chính phát hành Hiện nay có hai loại trái phiếu đang được giaodịch tương đối phổ biến trên thị trường là trái phiếu của Ngân hàng Đầu tư và Phát triểnViệt Nam và Trái phiếu của Tổng công ty dầu khí Việt Nam

 Chứng chỉ tiền gửi: Theo phân loại trong các giáo trình thì chứng chỉ tiềngửi là công cụ tài chính của thị trường tiền tệ, nhưng đặc trưng của Việt Nam, chứng chỉtiền gửi là một loại giấy tờ có giá do các ngân hàng phát hành có thời hạn trên 1 năm vớinhững đặc điểm tương tự như trái phiếu Loại hình giấy tờ có giá do các ngân hàngthương mại phát hành có thời hạn dưới một năm được gọi là kỳ phiếu

 Cổ phiếu: Hiện ở Việt Nam đã có rất nhiều công ty cổ phần nên loại hìnhnày tương đối phổ biến Tuy nhiên mới chỉ có 26 công ty niêm yết trên thị trường chứngkhoán, với tổng giá trị cổ phiếu chiếm khoảng 0,5% GDP Đây là một con số rất khiêmtốn

 Hợp đồng mua lại chứng khoán: Hiện nay chưa có giao dịch chính thức

Ngày đăng: 11/05/2020, 22:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w