Để phân tích kiểm soát sức khỏe cộng đồng bệnh timmạch, chúng tôi đã trích xuất 20 chỉ số liên quan chặt chẽ trong số 25 chỉ sốkiểm soát BKLN và phân loại chúng thành 4 nhóm chính gồm: T
Trang 3- Ban Giám hiệu trường Đại học Y Hà Nội, Ban Lãnh đạo Viện Đào tạo
Y học dự phòng và Y tế công cộng, Phòng quản lý Đào tạo Sau đại học, Bộmôn Dịch tễ học - Trường Đại học Y Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
- PGS.TS Đào Thị Minh An – Trường Đại học Y Hà Nội đã tận tình
dạy dỗ, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm, hướng dẫn phương pháp nghiêncứu khoa học và tạo điều kiện về mọi mặt để tôi hoàn thành luận văn
- Các cán bộ của thư viện trường Đại học Y Hà Nội và các ban biên tập
tạp chí trong nước đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thu thập số liệu làmnghiên cứu
- Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Ban Giám Hiệu - Trường
Đại học Y Dược Thái Nguyên – nơi tôi công tác, xin cảm ơn cha mẹ, nhữngngười thân trong gia đình và những người bạn đã dành cho tôi mọi sự độngviên chia sẻ về tinh thần, thời gian và công sức giúp tôi vượt qua mọi khókhăn trong quá trình học tập và nghiên cứu
Lê Đức Tùng
Trang 4Nội, chuyên ngành Dịch tễ học, xin cam đoan:
1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướngdẫn của PGS.TS Đào Thị Minh An
2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đãđược công bố tại Việt Nam
3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là chính xác, trung thực
và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi nghiên cứu
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này
Hà Nội, ngày 6 tháng 6 năm 2019
Người viết cam đoan
Lê Đức Tùng
Trang 5BKLN Bệnh không lây nhiễm
BTM Bệnh tim mạch
COPD Chronic Obstructive Pulmonary Disease
(Bệnh đường hô hấp mạn tính) DALY Disability-Adjusted Life Year
(Năm sống tàn tật được hiệu chỉnh)ĐTĐ Đái tháo đường
GMF Global Monitoring Framework
(Khung giám sát toàn cầu)HCCH Hội chứng chuyển hóa
HMU Hanoi Medical University
(Đại học Y Hà Nội)ICD International Statistical Classification of Diseases and Related
Health Problems (Phân loại thống kê quốc tế về bệnh và các vấn đề sức khoẻ liên quan)
THA Tăng Huyết áp
WHO World Health Organization
(Tổ chức Y tế thế giới)
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Gánh nặng và xu hướng BKLN và bệnh tim mạch hiện nay 3
1.1.1 Trên Thế giới 4
1.1.2 Tại Việt Nam 4
1.2 Các nhóm bằng chứng kiểm soát bệnh không lây nhiễm 6
1.2.1 Giám sát tử vong 6
1.2.2 Giám sát bệnh và các yếu tố chuyển hoá 8
1.2.3 Yếu tố hành vi lối sống 12
1.2.4 Đáp ứng của hệ thống quốc gia 14
1.3 Khung giám sát bệnh tim mạch dựa trên 25 chỉ số toàn cầu và 9 mục tiêu tự nguyện về kiểm soát bệnh không lây nhiễm toàn cầu 15
1.3.1 20 chỉ số liên quan đến Bệnh tim mạch dựa trên Khung kiểm soát BKLN toàn cầu của WHO 16
1.3.2 9 Mục tiêu tự nguyện 18
1.3.3 Tiến độ triển khai giám sát BKLN của Việt Nam hiện nay 20
1.4 Phương pháp tổng quan hệ thống (Systematic review) 25
1.5 Nguồn cung cấp số liệu cho nghiên cứu 29
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Địa điểm nghiên cứu 30
2.2 Đối tượng nghiên cứu 30
2.3 Khung sơ đồ cho nghiên cứu: 32
2.4 Phương pháp nghiên cứu 34
2.5 Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu 36
2.6 Quản lý, xử lý và phân tích số liệu 40
Trang 7Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42
3.1 Thực trạng các nghiên cứu về kiểm soát bệnh tim mạch tại Việt Nam 42
3.1.1 Thực trạng về nghiên cứu kiểm soát bệnh tim mạch 42
3.1.2 Thực trạng về ấn phẩm nghiên cứu bệnh tim mạch 44
3.1.3 Thực trạng về thiết kế nghiên cứu 46
3.1.4 Thực trạng về cỡ mẫu nghiên cứu 48
3.1.4 Thực trạng về đối tượng nghiên cứu 50
3.1.5 Thực trạng về phân tích số liệu 52
3.2 Thực trạng và sự thiếu hụt bằng chứng của các nghiên cứu kiểm soát bệnh tim mạch tại Việt Nam theo 9 mục tiêu và 20 chỉ số 54
3.2.1 Thực trạng và sự thiếu hụt bằng chứng kiểm soát bệnh tim mạch trên các luận văn nghiên cứu tại trường Đại học Y Hà Nội 54
3.2.2 Thực trạng và sự thiếu hụt bằng chứng kiểm soát bệnh tim mạch tại Việt Nam trên những nghiên cứu đã được công bố trên các tạp chí trong và ngoài nước………57
Chương 4: BÀN LUẬN 63
KẾT LUẬN 69
KHUYẾN NGHỊ 70
HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU……… 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 8Bảng 1: 20 chỉ số liên quan đến Bệnh tim mạch dựa trên Khung kiểm soát
BKLN toàn cầu 16
Hình 1: 9 Mục tiêu tự nguyện về giám sát bệnh không lây nhiễm 19
Bảng 2: Danh mục PRISMA 26
Hình 2: Sơ đồ về nguồn cung cấp số liệu cho nghiên cứu 29
Hình 3: Khung sơ đồ nghiên cứu các luận văn Sau đại học – Đại học Y 32
Hình 4: Khung sơ đồ nghiên cứu các bài báo trên tạp chí tại Việt Nam 33
Biểu đồ 1: Tỷ lệ luận văn nghiên cứu về kiểm soát Bệnh tim mạch tại Trường Đại học Y Hà Nội trong giai đoạn từ 2013 – 2017 41
Biểu đồ 2: Tỷ lệ bài báo nghiên cứu về kiểm soát bệnh tim mạch trên Pubmed, Scopus và 5 tạp chí Y học tại Việt Nam trong giai đoạn từ 2013 -2017 42 Biều đồ 3: Tỷ lệ nghiên cứu theo loại luận văn tại Đại học Y Hà Nội 43
Biều đồ 4: Tỷ lệ nghiên cứu theo loại tạp chí 44
Biều đồ 5: Tỷ lệ các loại thiết kế nghiên cứu trên luận văn tại Đại học Y…….45
Biều đồ 6: Tỷ lệ các loại thiết kế nghiên cứu trên các bài báo 46
Bảng 3: Đặc điểm cỡ mẫu nghiên cứu trên luận văn 47
Bảng 4: Đặc điểm cỡ mẫu nghiên cứu trên bài báo 48
Bảng 5: Đặc điểm đối tượng nghiên cứu trên luận văn 49
Bảng 6: Đặc điểm đối tượng nghiên cứu trên bài báo 50
Biều đồ 7: Tỷ lệ ứng dụng kỹ thuật phân tích số liệu trên luận văn 51
Biều đồ 8: Tỷ lệ ứng dụng kỹ thuật phân tích số liệu trên bài báo 52
Bảng 7: Phân bố về bằng chứng kiểm soát bệnh tim mạch trên các luận văn nghiên cứu của Đại học Y Hà Nội 53
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hiện mỗi năm có hơn
41 triệu người tử vong do bệnh không lây nhiễm (BKLN), tương đương với71% tổng số ca tử vong toàn cầu, với hơn 85% các trường hợp tử vong sớmnày xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình Mặc dù Việt Nam làmột nền kinh tế mới nổi ở khu vực Tây – Thái Bình Dương, nhưng dân số vẫnphải đối mặt với gánh nặng gấp đôi về bệnh truyền nhiễm và bệnh không lâynhiễm [1].Một mối quan hệ nghịch đảo có thể được quan sát thấy tỷ lệ mắccác bệnh truyền nhiễm có xu hướng giảm trong khi tỷ lệ mắc các BKLN có
xu hướng tăng cao [2] Năm 2012, BKLN đóng góp tới 66,2% số năm sốngtàn tật được hiệu chỉnh (DALYs) tại Việt Nam và năm 2016, 31% số ca tửvong là do bệnh tim mạch (BTM) [3] Bệnh tim mạch hiện đang là nguyênnhân gây tử vong hàng đầu ở trên thế giới cũng như tại Việt Nam Theo thống
kê của WHO, trong 17 triệu ca tử vong sớm (< 70 tuổi) do các bệnh không lâynhiễm năm 2015 có 37% là tử vong do bệnh tim mạch [4] Tại Việt Nam, mỗinăm có hơn 70,000 ca tử vong do bệnh tim mạch, trong số những trường hợp
tử vong này, chủ yếu 85% là do đau tim và đột quỵ [5]
Tại Hội nghị Y tế Thế giới lần thứ 66 năm 2013, 25 chỉ số đã được thànhlập để giúp các quốc gia thành viên xây dựng kế hoạch hành động toàn cầu đểkiểm soát BKLN [4] Để phân tích kiểm soát sức khỏe cộng đồng bệnh timmạch, chúng tôi đã trích xuất 20 chỉ số liên quan chặt chẽ trong số 25 chỉ sốkiểm soát BKLN và phân loại chúng thành 4 nhóm chính gồm: Tỷ lệ tử vong,bệnh và các yếu tố chuyển hóa, hành vi nguy cơ và đáp ứng của hệ thống Tỷ
lệ tử vong liên quan đến tỷ lệ lưu hành hoặc xác suất tử vong liên quan đếnbệnh tim mạch Các yếu tố bệnh và chuyển hóa bao gồm các bệnh về timmạch, tăng huyết áp và bệnh đái tháo đường Hành vi nguy cơ bao gồm sửdụng thuốc lá, uống rượu, ít hoạt động thể chất và chế độ dinh dưỡng Đáp
Trang 11ứng của hệ thống liên quan đến năng lực của hệ thống y tế bao gồm quyềntiếp cận chăm sóc và hiệu quả của các can thiệp [2-6].
Như vậy việc cung cấp bằng chứng cho 4 nhóm trên rất quan trọng choviệc đưa ra chính sách quản lý BKLN nói chung và bệnh tim mạch nói riêng.Hiện nay ở Việt nam chưa có nghiên cứu nào tổng quan được về các nghiêncứu triển khai trong lĩnh vực bệnh tim mạch cung cấp bằng chứng về 4 nhómnày dù là các bài báo nghiên cứu trong và ngoài nước hay các luận văn nghiêncứu từ các trường Đại học Y Dược lớn trong cả nước Đại học Y Hà Nội(HMU), là một trong những trường Đại học Y hàng đầu tại Việt Nam có tiếng
là đào tạo sinh viên y khoa tốt nghiệp và tạo điều kiện cho việc xuất bản nhiềunghiên cứu.[7] Trung bình mỗi năm, có gần một ngàn luận văn tốt nghiệpđược hoàn thành Vậy nên câu hỏi đặt ra rằng việc cung cấp bằng chứng vàthực trạng của các nghiên cứu bệnh tim mạch tại Đại học Y Hà Nội và cácnghiên cứu bệnh tim mạch khác tại Việt Nam hiện nay có đáp ứng được cácbằng chứng cho 4 nhóm kiểm soát bệnh tim mạch trên theo khung kiểm soáttoàn cầu?
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng về phương
pháp nghiên cứu và các thiếu hụt về bằng chứng của các nghiên cứu kiểm soát bệnh tim mạch tại Việt Nam từ 2013 – 2017.” với 2 mục tiêu như sau:
1 Mô tả các thiết kế nghiên cứu đã được áp dụng với các nghiên cứu kiểm soát bệnh tim mạch tại Việt Nam từ 2013 - 2017.
2 Mô tả thực trạng và sự thiếu hụt về bằng chứng của các nghiên cứu kiểm soát bệnh tim mạch tại Việt Nam từ 2013 – 2017
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Gánh nặng và xu hướng BKLN và bệnh tim mạch hiện nay
Hiện nay, hoạt động phòng chống bệnh không lây nhiễm (BKLN) củaViệt Nam và các nước trên thế giới đang tập trung vào các nhóm bệnh chínhgồm: bệnh tim mạch (đột quỵ, suy tim, bệnh mạch vành…), tăng huyết áp(THA), đái tháo đường, các bệnh ung thư và COPD Đây là những BKLN có tỷ
lệ mắc cao và là nguyên nhân chủ yếu gây tàn tật và tử vong ở người trưởngthành Bên cạnh đó, những bệnh này có chung một số yếu tố nguy cơ có thểphòng, tránh được, vì vậy kiểm soát những yếu tố nguy cơ chung có thể phòngngừa được đồng thời các bệnh Bệnh không lây còn được gọi là “bệnh mạntính” bởi vì quá trình hình thành bệnh diễn ra trong nhiều năm, thường là bắtđầu từ tuổi trẻ, bệnh tiến triển kéo dài, đòi hỏi việc điều trị có hệ thống và lâudài, thậm chí cả cuộc đời Đối với các BKLN thường không xác định đượcnguyên nhân cụ thể mà chỉ có một nhóm yếu tố nguy cơ góp phần làm bệnhphát triển gồm: Yếu tố về hành vi lối sống như hút thuốc lá, lạm dụng rượu, bia,dinh dưỡng không hợp lý và ít hoạt động thể lực
Tổ chức Y tế thế giới dự báo trên toàn cầu, tỷ lệ tử vong do BKLN sẽ tăng15% trong giai đoạn 2010-2020 (khoảng 44 triệu trường hợp tửC vong) Khuvực có số tử vong do BKLN cao nhất vào năm 2020 là Đông Nam Á (10,4 triệuca) [8] Tổn thất tích lũy về kinh tế toàn cầu do BKLN trong giai đoạn 2011-
2025 có thể lên tới 7 ngàn tỷ USD, trung bình mỗi năm là 500 tỷ USD tươngứng với 4% thu nhập quốc nội năm 2010 của các nước đang phát triển Tại ViệtNam, trong khoảng 10 năm trở lại đây, số người mắc mới bệnh tim mạch vàung thư được phát hiện tăng 50% Mỗi ngày có 350 trường hợp mắc mới ungthu được phát hiện và có 190 người tử vong do ung thư Sau 10 năm, từ 2002đến 2012, tỷ lệ bệnh ĐTĐ tăng trên 2 lần, từ 2,7% lên 5,4% Trong suốt 50 nămqua, tỷ lệ người bị THA ở người trưởng thành Việt Nam luôn tăng nhanh: tăng
từ 1% (năm 1960); 1,9% (năm1976), 11,7% (năm 1992), 16,3% (năm 2002)
Trang 13tăng lên 25,1% (năm 2008) Trong thời gian 5 năm, tỷ lệ thừa cân-béo phì vàbéo phì tăng gấp 2 lần tương ứng từ 3,5% và 0,2% (2000) lên 6,6% và 0,4%(2005) Với tốc độ già hóa dân số, tiến trình đô thị hóa ngày càng nhanh, môitrường sống bị ô nhiễm, các yếu tố nguy cơ gây BKLN vẫn chưa được kiểmsoát thì số người mắc và tử vong do BKLN được dự báo sẽ tiếp tục gia tăng,nhất là nhóm bệnh tim mạch với tốc độ gia tăng nhanh chóng về số lượng ngườimắc, nhiều biến chứng nặng nề, điều trị tốn kém và tiên lượng tử vong cao sẽvẫn là gánh nặng bệnh tật chủ yếu trong giai đoạn tới [9]
1.1.1 Trên Thế giới
Gần 80% số tử vong của các BKLN (29 triệu) xảy ra ở các nước thu nhậpthấp và trung bình thấp [10] Trong số tử vong do BKLN, tử vong chủ yếu là docác bệnh tim mạch (17 triệu người, tương ứng với 48% tử vong của cácBKLN); sau đó đến ung thư (7,6 triệu người, tương ứng với 21%); và bệnh phổimạn tính (4,2 triệu người), bao gồm hen phế quản và bệnh phổi tắc nghẽn mạntính (COPD) Đái tháo đường gây ra 1,3 triệu tử vong [10] Tử vong do cácBKLN đang ngày càng ở độ tuổi trẻ hơn Theo số liệu của WHO năm 2011, đa
số trường hợp tử vong sớm do BKLN trong độ tuổi từ 30 -70 xảy ra ở các nướcđang phát triển (chiếm 85%, tương đương khoảng 11,8 triệu người) Xác suất tửvong sớm từ 30 - 70 tuổi do các BKLN chính giao động từ 10% ở các nướcphát triển đến 60% ở các nước đang phát triển [11] Trước sự đe dọa sức khỏetrên toàn cầu, trong tháng 9 năm 2011 Hội nghị cấp cao Đại Hội đồng Liên hợpquốc đã ra Tuyên bố chính trị khẳng định các BKLN chủ yếu gồm bệnh timmạch, ung thư, đái tháo đường và COPD là một thách thức lớn của thế kỷ XXI,làm suy giảm sự phát triển kinh tế toàn cầu và đe dọa thành tựu thực hiện cácMục tiêu phát triển thiên niên kỷ [12]
1.1.2 Tại Việt Nam
Việt Nam cũng đang phải đối mặt với sự gia tăng ngày càng trầm trọngcủa các BKLN Cùng với sự thay đổi cấu trúc dân số, toàn cầu hóa, đô thị hóa
và di dân, thay đổi môi trường, biến đổi khí hậu và thói quen sống, mô hình
Trang 14bệnh tật cũng có nhiều sự thay đổi Trong khi tỷ lệ mắc các bệnh do nguyênnhân nhiễm trùng đang giảm thì tỷ lệ mắc BKLN lại gia tăng đến mức báođộng Theo thống kê tại bệnh viện, trong khi tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm giảm
từ 55,5% (năm 1976) xuống còn 19,8% (năm 2010) thì tỷ lệ mắc BKLN đangtăng nhanh từ 42,6% trong năm 1976 lên tới 71,6% trong năm 2010 [13]
WHO ước tính trong năm 2012 cả nước có 520.000 trường hợp tử vong
do tất cả các nguyên nhân, trong đó tử vong do các BKLN chiếm tới 73%(379,600 ca) Trong số này các bệnh tim mạch chiếm nhiều nhất là 33%, ungthư chiếm 18%, COPD chiếm 7% và ĐTĐ chiếm 3% [14] Ước tính năm 2012,gánh nặng (DALYs) của BKLN chiếm 66,2% tổng gánh nặng bệnh tật do tất cảcác nguyên nhân tại Việt Nam [15]
Trong năm 2012, gánh nặng bệnh tật (DALYs) do các bệnh tim mạch(BTM) chiếm tỷ lệ lớn nhất (13,4%) trong tổng gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam.Các bệnh tim mạch cũng chiếm tỷ lệ tử vong lớn nhất (33%) trong tổng số tửvong Đột quỵ, nhồi máu cơ tim và bệnh tim do tăng huyết áp là 3 trong số 20nguyên nhân gây tử vong hàng đầu [15] Theo kết quả nghiên cứu từ giám sát
tử vong dựa trên chọn mẫu điểm toàn quốc năm 2009, tử vong do các bệnhmạch máu não chiếm hàng đầu (ở nam và nữ tương đương là 16,6% và 18%tổng số tử vong do mọi nguyên nhân); tử vong do thiếu máu cơ tim ở nam và
nữ tương ứng là 3,7% và 3,5% trong tổng số tử vong [16] Tăng huyết áp là mộtyếu tố nguy cơ chính dẫn đến các biến cố tim mạch nặng nề như đột quỵ, nhồimáu cơ tim, suy tim, suy thận và mù lòa…Trong một nghiên cứu của NguyễnVăn Đăng và cộng sự năm 1996 cho thấy THA là nguyên nhân chính (chiếm59,3% các nguyên nhân) gây ra tai biến mạch máu não [17] Ước tính cókhoảng 15,990 người bị liệt, tàn phế, mất sức lao động do tai biến mạch máunão hàng năm Điều tra dịch tễ học suy tim và một số nguyên nhân chính tại cáctỉnh phía bắc Việt Nam năm 2003 do Viện Tim mạch phối hợp với WHO thựchiện cho thấy nguyên nhân hàng đầu gây suy tim tại cộng đồng là do tăng huyết
áp (chiếm 10,2%), sau đó là do bệnh van tim do thấp (0,8%)
Trang 151.2 Các nhóm bằng chứng kiểm soát bệnh không lây nhiễm
Gánh nặng về bệnh không lây nhiễm đang là một trong những thách thứclớn với sức khỏe cộng đồng đối với tất cả các quốc gia, bất kể tình trạng kinh tếcủa họ BKLN đe dọa sự phát triển kinh tế và xã hội và, nếu không có nỗ lựcphối hợp ở cấp quốc gia, được dự đoán sẽ tăng mạnh trong thập kỷ tới Việctheo dõi và giám sát cung cấp thông tin về BKLN kịp thời rất quan trọng giúpcác quốc gia có thông tin cần thiết để chống lại BKLN ngay từ bây giờ hoặclập kế hoạch cho tương lai Chúng là những công cụ cơ bản cho sức khỏe cộngđồng Các hoạt động giám sát BKLN bao gồm việc thu thập thông tin y tếthường xuyên về các nhóm chỉ số tử vong, chỉ số về bệnh và các yếu tố chuyểnhoá, hành vi nguy cơ và các đáp ứng của hệ thống quốc gia Phân tích thườngxuyên các chỉ số theo thời gian, địa điểm và giữa các nhóm dân cư, chia sẻ kiếnthức khoa học có sẵn cũng như phổ biến kết quả thường xuyên nhằm cung cấpnhững bằng chứng quan trọng giúp nắm rõ tình hình và kiểm soát BKLN.[18]
Mặc dù dữ liệu đáng tin cậy cho tỷ lệ tử vong do nguyên nhân cụ thể rấthiếm, bệnh không lây nhiễm được ước tính có trách nhiệm cho 64% tổng số tử
Trang 16vong ở 23 quốc gia, với 47% xảy ra ở những người trẻ hơn 70 tuổi [19] Gánhnặng của bốn BKLN chính là bệnh tim mạch, ung thư, đái tháo đường và bệnhphổi mạn tính đang gia tăng không cân xứng ở các nước có thu nhập thấp vàdân số, trong đó bệnh tim mạch chiếm tỷ lệ tử vong cao nhất với 17 triệu ngườimỗi năm, tiếp theo là ung thư (7,6 triệu), bệnh hô hấp (4,2 triệu) và đái tháođường (1,3 triệu) Bốn nhóm bệnh này chiếm khoảng 80% số ca tử vong doBKLN và chia sẻ bốn yếu tố nguy cơ phổ biến [20] Khoảng 30% số người tửvong do BKLN ở các nước có thu nhập thấp và trung bình ở độ tuổi dưới 60 vàđang trong giai đoạn sinh sản hiệu quả nhất Những ca tử vong sớm này càng bithảm hơn vì chúng có thể phòng tránh được
Tỷ lệ tử vong chuẩn do bệnh không lây nhiễm theo tuổi cho mọi lứa tuổi
ở các nước thu nhập thấp và trung bình là 756 trên 100,000 cho nam và 565 trên100,000 đối với nữ - cao hơn 65% và 85% so với nam và nữ ở các nước có thunhập cao [21]
Tại Việt Nam hiện nay, các số liệu mắc và tử vong do các bệnh khônglây nhiễm hiện nay còn rất hạn chế, chủ yếu dựa vào báo cáo bệnh viện, ghinhận ung thư và qua một số điều tra quy mô nhỏ tại cộng đồng Vì vậy Việtnam còn thiếu các số liệu định kỳ về tình hình mắc và tử vong do các bệnhtim mạch đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Đối với hoạt động giám sát tại bệnh viện: Hệ thống báo cáo thống kêbệnh viện phân loại bệnh tật theo ICD 10 định kỳ cung cấp các thông tin vềtình hình mắc, tử vong của một số bệnh không lây nhiễm tại các bệnhviện trong toàn quốc Các trung tâm ghi nhận ung thư được thiết lập và triểnkhai tại 9 tỉnh/thành phố (Dự án phòng chống ung thư) cung cấp các số liệuước tính về mắc mới do một số loại ung thư, tuy nhiên quy mô bao phủ củaghi nhận còn nhỏ (khoảng 20%)
Hiện tại chưa giám sát tử vong tại cộng đồng do chưa triển khai thuthập thông qua thống kê tại trạm y tế xã và qua sổ chứng tử của xã Mớichỉ có một số nghiên cứu quy mô nhỏ để ước tính gánh nặng và tử vong do
Trang 17một số bệnh không lây nhiễm Chính vì vậy Việt Nam còn thiếu các số liệumột cách hệ thống về mô hình bệnh tật và tử vong do bệnh không lây nhiễm.[22]
1.2.2 Giám sát bệnh và các yếu tố chuyển hoá
Các bệnh không lây nhiễm đại diện cho một phần lớn gánh nặng sứckhỏe toàn cầu về bệnh tật và tỷ lệ tử vong, và tỷ lệ hiện mắc của nó đang giatăng trên toàn thế giới Khi ngày càng có nhiều người chung sống cùng vớibệnh không lây nhiễm, phòng ngừa cấp 1 và phòng ngừa cấp 2 trở thành mộtcông cụ quan trọng để ngăn chặn dịch bệnh sắp xảy ra này 4 Nhóm chính củaBKLN bao gồm bệnh tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
và ung thư, với bệnh tim mạch đóng góp vào phần lớn các ca tử vong do bệnhkhông lây nhiễm Kiểm soát tăng huyết áp là can thiệp quan trọng có thể làmgiảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh tim mạch, có thể đạt được bằng cách tiếp cận
ba hướng như bao gồm chế độ ăn uống, tập luyện thể chất và can thiệp dược lý.Giám sát là một phần không thể tách rời của phương pháp này, trong đó ghi lạihuyết áp và các điều tra khác nhau được yêu cầu phải được thực hiện trong cáckhoảng thời gian khác nhau Đái tháo đường là một bệnh không lây nhiễm quantrọng trong đó các phòng ngừa cấp 1 và cấp 2 có tầm quan trọng tối thượng.Tương tự như vậy, các BKLN khác như bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và ungthư cũng yêu cầu các giao thức giám sát khác nhau.[23]
Bệnh tim mạch, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não và bệnh độngmạch ngoại biên hiện đang chiếm 15% trong 92 triệu năm sống được điềuchỉnh do khuyết tật trên toàn thế giới, qua đó chứng minh tầm quan trọng của
nó trong gánh nặng bệnh tật toàn cầu [24] Tăng huyết áp là kẻ giết ngườithầm lặng, làm tăng gấp đôi nguy cơ mắc bệnh tim mạch bao gồm suy tim,bệnh động mạch vành và tai biến mạch máu não Các yếu tố môi trường và ditruyền góp phần vào sự biến đổi của khu vực và chủng tộc trong tỷ lệ nhiễmtăng huyết áp Căng thẳng tâm lý xã hội, lối sống ít vận động và tiêu thụ rượu
có thể góp phần vào sự phát triển của tăng huyết áp Bằng chứng cho thấy 15
Trang 18– 35% tăng huyết áp là có thể di truyền, thậm chí còn cao hơn ở cặp song sinhlên đến 60% Hơn nữa, tăng huyết áp xảy ra phổ biến gấp 3,8 lần ở nam giớitrên 55 tuổi có tiền sử gia đình liên quan đến bệnh [24] Vì vậy, cả hai biệnpháp dự phòng cấp 1 và cấp 2 đều đóng một vai trò then chốt trong phòngngừa và kiểm soát bệnh này [25] [26]
Việc kiểm soát hiệu quả tăng huyết áp liên quan đến một số thay đổi chế
độ ăn uống và lối sống, đã có hiệu quả ở cấp độ cá nhân và xã hội [27] [28].Những nghiên cứu trước đây có liên quan đến các chất dinh dưỡng và vi chấtdinh dưỡng riêng lẻ hiện đã mở đường cho toàn bộ mô hình ăn kiêng, thay vìtập trung vào các thành phần riêng lẻ Dự phòng cấp 1 và cấp 2 của tăng huyết
áp cũng dựa trên những thay đổi lối sống nhất định, bao gồm hạn chế lượngnatri và kali, ngừng hút thuốc và tập thể dục aerobic [27] [28] [29] [30]
Đái tháo đường là một bệnh không lây ảnh hưởng đến hàng triệu ngườitrên toàn thế giới với chi phí y tế hàng năm gần 763 tỷ đô, phản ánh 12% chiphí y tế toàn cầu (15%) Nên tiến hành giám sát sàng lọc đái tháo đường type
2 ở người trưởng thành thừa cân hoặc béo phì, và có một hoặc nhiều yếu tốnguy cơ đái tháo đường sử dụng A1C, glucose huyết tương lúc đói hoặc 2 giờsau khi uống 75g tiêu chuẩn xét nghiệm dung nạp glucose Nếu xét nghiệmban đầu là bình thường, nó nên được lặp lại mỗi 3 năm Mặt khác, sàng lọcđái tháo đường loại 1 thường được thực hiện trong bối cảnh nghiên cứu lâmsàng và glucose máu được ưu tiên hơn A1C để chẩn đoán sự khởi phát cấptính của đái tháo đường type 1 với các triệu chứng tăng đường huyết [31]
Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế đã ban hành các hướng dẫn gồmkiểm soát tăng đường huyết và phòng ngừa biến chứng vi mạch và mạch máu
vĩ mô, do đó tạo điều kiện cho cuộc sống bình thường cho bệnh nhân [32].Nền tảng của quản lý đái tháo đường là sửa đổi lối sống cùng với các liệupháp dược lý Tuy nhiên, chăm sóc bệnh đái tháo đường toàn diện bao gồmmột nhóm đa ngành bao gồm một nhà nghiên cứu bệnh đái tháo đường,chuyên gia dinh dưỡng, bác sĩ chuyên điều trị về chân, và nhà tâm lý học Các
Trang 19thành viên khác bao gồm các chuyên gia khác như các nhà thần kinh học, bác
sĩ chuyên khoa, bác sĩ phẫu thuật mạch máu, bác sĩ chuyên khoa tim mạch,bác sĩ nhãn khoa, chuyên gia tiêu hóa và chuyên gia phẫu thuật [23] Mộtphần lớn của tử vong và tỷ lệ biến chứng do bệnh đái tháo đường có thể đượcngăn chặn bằng cách sử dụng một số biện pháp giám sát nghiêm ngặt Tựgiám sát đường huyết là phương pháp được ưu tiên cho các cá nhân nhậnnhiều liều insulin hoặc liệu pháp bơm insulin Nó thường được thực hiệntrước bữa ăn, trước khi đi ngủ, trước khi tập thể dục, khi bị hạ đường huyếtnghi ngờ, và trước các hoạt động nguy cơ cao như lái xe Giám sát đườnghuyết liên tục là một biện pháp hữu ích cho những bệnh nhân có liệu phápinsulin chuyên sâu hoặc không nhận thức được hạ đường huyết [31]
Quản lý đái tháo đường liên quan đến sàng lọc các bệnh kèm theo và biếnchứng liên quan trong khoảng thời gian đều đặn Xét nghiệm tăng huyết áp yêucầu đo huyết áp ở mỗi lần khám Chỉ số mỡ máu cần phải được kiểm tra banđầu tại thời điểm chẩn đoán và cứ 5 năm một lần sau đó Cân nhắc điều tra chobệnh động mạch vành trong sự hiện diện của các tính năng lâm sàng gợi ý củabệnh mạch máu, bao gồm cả động mạch cảnh và bất thường về điện tim Ngoàiviệc kiểm tra chân hàng năm ở trên để xác định các yếu tố nguy cơ, nên dựđoán các vết loét và cắt cụt Sàng lọc các bệnh tự miễn ở trẻ em và thanh thiếuniên mắc bệnh đái tháo đường loại 1 cũng đã được khuyến cáo Sàng lọc bệnhceliac ngay sau khi chẩn đoán bệnh đái tháo đường loại 1 bằng cách đo môtransglutaminase hoặc kháng thể gliadin deamidated, với tài liệu tổng mức IgAhuyết thanh bình thường được thực hiện Tất cả bệnh nhân đái tháo đường type
1 nên được sàng lọc viêm tuyến giáp tự miễn bằng cách đo kháng thểperoxidase tuyến giáp [33]
Các yếu tố sinh chuyển hóa là 1 nhóm yếu tố nguy cơ gồm:
- Tình trạng béo bụng.
Trang 20- Rối loạn lipid máu (là tình trạng rối loạn các chất béo trong máu như
triglycerid máu cao, HDL-C máu thấp, LDL-C cao, tạo nên mảng xơ vữa ởthành động mạch)
- Tăng huyết áp
- Tình trạng kháng insulin hoặc không dung nạp đường (là tình trạng cơ thể
không thể sử dụng insulin và đường một cách hiệu quả)
- Tình trạng tiền đông máu (tăng fibrinogen và chất ức chế plasminogen
hoạt hóa PAI-1 cao trong máu)
- Tình trạng tiền viêm (CRP tăng cao trong máu).
Các yếu tố nguy cơ này khi tập hợp lại trên một người bệnh thì gọi là hộichứng chuyển hóa (HCCH), có liên quan đến tình trạng đề kháng insulin Khinồng độ insulin máu tăng lên sẽ làm tăng triglycerrid máu và các chất béokhác Tất cả các tác hại do hiện tượng kháng insulin đều gây ra nguy cơ mắcbệnh tim mạch, đột quỵ, đái tháo đường và các bệnh khác Hiện có khá nhiềunghiên cứu được tiến hành để đi tìm nguyên nhân gây ra tình trạng khánginsulin Có thể do gen và do một số yếu tố từ môi trường gây ra, đặc biệt làtình trạng thừa cân và lối sống tĩnh tại thiếu vận động [34]
Hiện nay trong nhiều nghiên cứu thì hội chứng chuyển hóa được xác định
là yếu tố nguy cơ độc lập của 2 đại dịch lớn là bệnh tim mạch và bệnh đáitháo đường typ 2 Ở Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu được tiến hành đểđánh giá về tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa như điều tra của Lê Thị Hợp vàcộng sự trên 8 vùng sinh thái trong toàn quốc cho thấy tỉ lệ mắc HCCH là13,1% và tỉ lệ này tăng dần theo độ tuổi [35], theo nghiên cứu của Viện dinhdưỡng Việt Nam ở 620 đối tượng tuổi từ 25 – 64 cho thấy tỷ lệ mắc HCCH là13,1%, riêng tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là 18% Nghiên cứu của
Lê Nguyễn Trung Đức Sơn và cộng sự đã cho thấy tỷ lệ HCCH ở nội thànhthành phố Hồ Chí Minh là 12% và có liên quan đến tuổi, phần trăm mỡ vànghề nghiệp [36] Kết quả nghiên cứu của Trần Văn Huy cho biết tỷ lệ mắchội chứng này ở người trưởng thành ở Khánh Hòa là 15,7% theo tiêu chuẩn
Trang 21NCEP ATPIII, trong đó độ tuổi trên 54 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 21,5%[37] Ngoài ra còn nhiều nghiên cứu khác cũng đã được tiến hành nhằm xácđịnh tỷ lệ mắc HCCH ở các bệnh nhân tăng huyết áp điều trị tại bệnh viện.Tuy nhiên hiện nay, cơ chế của HCCH vẫn là một thách thức đối với các nhànghiên cứu nhưng cả tình trạng kháng insulin và béo phì trung tâm vẫn đượcxem là những yếu tố đáng kể Mặt khác, còn chưa có nhiều nghiên cứu vềHCCH ở đối tượng tiền đái tháo đường và bệnh tim mạch, đặc biệt là nghiêncứu trên cộng đồng dân cư
rễ sự gia tăng các yếu tố nguy cơ trên liên quan đến các yếu tố môi trường,kinh tế, xã hội…Các yếu tố này được chú ý không chỉ vì sự liên quan tới bệnhtim mạch mà còn vì liên quan đến tỷ lệ mắc các bệnh khác như đái tháođường và chứng mất trí nhớ Các yếu tố nguy cơ hành vi này có xu hướngtương quan trong cá nhân, thay vì xảy ra độc lập [38] Sự xuất hiện đồng thờicủa các yếu tố hành vi nguy cơ này có thể gây khó khăn cho việc đánh giá cáchiệu ứng độc lập của chúng và ngày càng có sự nhấn mạnh trong các biệnpháp can thiệp sức khỏe cộng đồng về các yếu tố nguy cơ Một nghiên cứuđánh giá hệ thống gần đây cho thấy những người không hút thuốc, uống rượuvừa phải, vận động cơ thể và có chế độ ăn uống lành mạnh có tỷ lệ tử vong donguyên nhân thấp hơn 66% so với những người không có hoặc chỉ một trongnhững hành vi lành mạnh này [39] Trong nhóm thuần tập EPIC-Norfolk,những người hút thuốc lá hiện tại, không hoạt động thể chất, uống rượu dưthừa và tiêu thụ ít hơn năm phần ăn mỗi ngày trái cây và rau quả, tăng gấpbốn lần nguy cơ của tất cả các nguyên nhân và tỷ lệ tử vong tim mạch so với
Trang 22các cá nhân tham gia vào tất cả bốn hành vi nguy hiểm [40] Phân tích từ mộtnghiên cứu thuần tập ở Hoa Kỳ cho thấy những người không hút thuốc, ănuống lành mạnh và vận động cơ thể đều có nguy cơ tử vong do bệnh timmạch thấp hơn 65% so với những người không tham gia vào những hành vigiảm nguy cơ này [41]
Nghiên cứu bệnh chứng Inter Heart [42] về ảnh hưởng của các yếu tốhành vi nguy cơ liên quan đến nhồi máu cơ tim ở 52 quốc gia đã cho thấyrằng các yếu tố nguy cơ trên có thể thay đổi và chính các hành vi liên quanđến lối sống không lành mạnh là yếu tố quyêt định chính của bệnh suất và tửsuất bệnh tim mạch, và nếu các yếu tố hành vi nguy cơ đó được loại bỏ thìtuổi thọ sẽ tăng khoảng 7 năm [43]
Tại Việt Nam, các đề tài nghiên cứu về hành vi lối sống gây ảnh hưởngđến bệnh tim mạch hiện chưa nhiều, đa số đề tài nghiên cứu về tình trạng lạmdụng rượu, bia nhưng chủ yếu là đánh giá ảnh hưởng đến các vấn đề về sứckhỏe tâm thần và vấn đề về quan hệ tình dục là chính Các nghiên cứu về tìnhtrạng hút lá được tiến hành chủ yếu để nghiên cứu các vấn đề liên quan đếnbệnh lý phổi và bệnh lý răng miệng chứ chưa có nhiều nghiên cứu liên quanđến bệnh lý tim mạch Ngoài ra các nghiên cứu về vấn đề lười vận động thểlực gây ảnh hưởng đến tim mạch cũng ít được các nhà nghiên cứu đi sâu phântích
Tuy nhiên, cũng có rất nhiều cuộc điều tra quy mô lớn về các hành vi nguy
cơ của bệnh tim mạch được tiến hành tại Việt Nam Điển hình gần đây nhất làđiều tra STEPS năm 2015 do Cục Y tế dự phòng phối hợp với Tổ chức Y tếthế giới (WHO) [44] cùng các cơ quan khác đã sử dụng công cụ và phươngpháp chuẩn hóa của WHO cho đối tượng 18-69 tuổi với mục với mục đích thunhập thông tin và các hành vi nguy cơ gồm hút thuốc lá, sử dụng rượu bia,chế độ ăn không hợp lý, thiếu hoạt động thể lực và mô tả thực trạng thừa cânbéo phì, tăng huyết áp, tăng đường máu, rối loạn lipid máu và ước lượng mứctiêu thụ muối trung bình quần thể Điều tra áp dụng thiết kế nghiên cứu cắt
Trang 23ngang, sử dụng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn, phân tầng theo nhómtuổi và giới để chọn ra cỡ mẫu đại diện quốc gia cho quần thể 18-69 tuổi tạiViệt Nam Quá trình thu thập số liệu gồm 3 bước (STEP):
- Bước 1 thu nhập số liệu về nhân khẩu học và các yếu tố nguy cơ hành
vi
- Bước 2 tiến hành đo chiều cao, cân nặng và huyết áp.
- Bước 3 làm xét nghiệm đường máu, cholesterol máu, kèm theo lấy mẫu
nước tiểu để định lượng hàm lượng muối tiêu thụ
Tổng số người được chọn tham gia điều tra là 3.856 người, trong đó có3,758 người tham gia bước 1 (tỷ lệ tham gia là 97,4%), và có 3,080 ngườitham gia bước 2 và 3 (đạt tỷ lệ 79,8%) Qua điều tra STEPs 2015 cho thấy ởquần thể 18-69 tuổi, hầu hết các yếu tố nguy cơ đều có tỷ lệ cao Ngoại trừ tỷ
lệ ăn thiếu rau/trái cây ở cả hai giới và tỷ lệ thiếu hoạt động thể lực ở namgiới giảm, còn lại các yếu tố nguy cơ khác đều không giảm hoặc tăng cao hơnmột cách đáng kể so với kết quả điều tra năm 2010 Một số yếu tố nguy cơ có
tỷ lệ cao hơn ở nam giới so với nữ giới gồm: sử dụng rượu bia, ăn thiếurau/trái cây và tăng huyết áp Tỷ lệ người được phát hiện, quản lý điều trị tănghuyết áp, đái tháo đường và sàng lọc ung thư cổ tử cung còn rất thấp Đâycũng là một trong những nghiên cứu có ý nghĩa rất quan trọng để làm cơ sởcho triển khai thực hiện kế hoạch và mục tiêu chiến lược cấp quốc gia vềphòng chống bệnh tim mạch nói riêng và bệnh không lây nhiễm nói chunggiai đoạn 2015 – 2025
1.2.4 Đáp ứng của hệ thống quốc gia
Các bệnh không lây nhiễm như bệnh tim mạch, đái tháo đường, ungthư và bệnh đường hô hấp mạn tính, đang là những nguyên nhân gây tử vonghàng đầu ở nước ta hiện nay Tuy nhiên, các bệnh không lây nhiễm có thểđược giảm đáng kể, nếu chúng ta triển khai đồng bộ các giải pháp như tăngcường hệ thống y tế, đảm bảo cung cấp đầy đủ thuốc thiết yếu và các công
Trang 24nghệ cơ bản, đáp ứng điều trị bằng thuốc và tư vấn đầy đủ cho người bệnh.Nhất là tập trung vào chăm sóc sức khỏe ban đầu để quản lý, chăm sóc người
đã mắc và tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách liên quan đến vấn đềnày [22]
Mặc dù được đánh giá là một trong những quốc gia có những chínhsách y tế hỗ trợ dành cho người nghèo, người thu nhập thấp khá ưu việt; một
hệ thống y tế tương đối hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương, Việt Namvẫn còn thiếu một chiến lược trong công tác phòng, chống các bệnh không lâynhiễm Bên cạnh đó, công tác điều trị các bệnh không lây nhiễm còn yếu vềchuyên môn, thiếu trang thiết bị, nhất là nước ta chưa xây dựng được hệthống giám sát bệnh không lây nhiễm hoàn chỉnh Nguồn nhân lực, tài chínhcòn nhiều hạn chế, dẫn đến nhiều mô hình can thiệp dự phòng được triển khaitại cộng đồng thời gian qua, chỉ mới được thực hiện ở quy mô nhỏ, nhất làchưa có mô hình lồng ghép riêng cho từng nhóm bệnh Do vậy, hiện có gần70% số người bệnh khi được phát hiện cùng một lúc nhiều biến chứng nguyhiểm như tai biến mạch não, suy tim, suy thận, cao huyết áp, hoại tử chi, mùlòa, thậm chí nhiều người bệnh tử vong trước khi được điều trị (chiếm 61%)
do không được phát hiện sớm [45]
Hiện nay do thiếu các nguồn lực và các chính sách phù hợp, cho nênviệc quản lý bệnh không lây nhiễm chỉ mới chủ yếu triển khai ở các bệnhviện; các dịch vụ triển khai tại trạm y tế xã, phường còn ít và quy mô còn nhỏ,hiện tại mới chỉ thực hiện thống kê báo cáo kết quả thực hiện các hoạt độngphòng chống bệnh không lây nhiễm theo quy định của các dự án bệnh khônglây nhiễm chương trình mục tiêu quốc gia y tế Cho nên, thời gian tới,Chương trình này sẽ tập trung vào hướng dẫn việc quản lý, điều trị bệnhkhông lây nhiễm; nâng cao năng lực cho các cơ sở chăm sóc sức khỏe banđầu trong phát hiện sớm, quản lý điều trị kịp thời; cung cấp thuốc cho cáctrạm y tế và tăng kinh phí từ bảo hiểm y tế cho quản lý, điều trị bệnh khônglây nhiễm tại trạm y tế [45]
Trang 251.3 Khung giám sát bệnh tim mạch dựa trên 25 chỉ số toàn cầu và 9 mục tiêu tự nguyện về kiểm soát bệnh không lây nhiễm toàn cầu.
Để phân tích kiểm soát bệnh tim mạch trong cộng đồng, chúng tôi đã trích xuất 20 chỉ số liên quan chặt chẽ với bệnh tim mạch trong số 25 chỉ số toàn cầu thuộc 9 mục tiêu tự nguyện và phân loại chúng thành 4 chủ đề chính được trình bày trong bảng 1 gồm: Tỷ lệ tử vong, bệnh và các yếu tố chuyển hóa, yếu tố hành vi nguy cơ và tính đáp ứng của hệ thống
1.3.1 20 chỉ số liên quan đến Bệnh tim mạch dựa trên Khung kiểm soát
BKLN toàn cầu của WHO
Bảng 1: 20 chỉ số liên quan đến Bệnh tim mạch dựa trên Khung kiểm soát
BKLN toàn cầu
TỬ
VONG
1 Xác suất tử vong ở độ tuổi từ 30 và 70 từ các bệnh tim
mạch, ung thư, bệnh đái tháo đường hoặc bệnh đường hô hấpmạn tính
HÀNH
VI NGUY
CƠ
3 Lượng tiêu thụ rượu bình quân đầu người từ 15 tuổi trở lên
trong một năm dương
4 Độ tuổi tiêu thụ nhiều rượu nặng trong thanh thiếu niên và
người lớn
5 Bệnh tật và tử vong liên quan đến do rượu ở độ tuổi thành
niên và trưởng thành
6 Tỷ lệ thanh niên không có đủ hoạt động thể chất, nói cách
khác là dưới 60 phút hoạt động trung bình cho đến hoạt độngcường độ mạnh hàng ngày
7 Độ tuổi trung bình của người trên 18 tuổi không có đủ các
Trang 26hoạt động thể chất(dưới 150 phút hoạt động cường độ trungbình mỗi tuần, hoặc tương đương)
8 Tuổi trung bình tiêu thụ lượng muối (Sodium chloride) mỗi ngày tính theo grams đối với người trên 18 tuổi
9 Tỷ lệ sử dụng thuốc lá hiện nay trong trẻ vị thành niên.
10 Độ tuổi tuổi tiêu chuẩn sử dụng thuốc lá đối với người trên
11 Độ tuổi trung bình mắc tăng huyết áp đối với những người
trên 18 tuổi (Huyết áp tâm thu>= 140mmHg và hoặc Huyết áptâm trương >=90mmHg)
12 Độ tuổi trung bình mắc tăng đường huyết/ bệnh đái tháo
đường đối với người lớn hơn 18 tuổi (Nồng độ đường huyếtlúc đói >= 7.0 mmol/l (127 mg/dl) hoặc trong việc điều trị
nhằm tăng lượng đường huyết
13 Tỷ lệ thừa cân, béo phì ở độ tuổi vị thành niên (xác định
theo WHO về sự tăng trưởng của trẻ em trong độ tuổi đi học và
vị thành niên, thừa cân - chỉ số độ lệch chuẩn cơ thể theo tuổi
và giới tính, và béo phì- chỉ số thứ hai về độ lệch chuẩn cơ thểtheo tuổi và giới tính)
14 Độ tuổi trung bình mắc bệnh thừa cân và béo phì ở người
lớn hơn 18 tuổi (Chỉ số khối cơ thể >= 25 kg/m2 cho thừa cân
và chỉ số khối cơ thể >= 30kg/m2 cho béo phì)
15 Độ tuổi tiêu chuẩn có tỷ lệ năng lượng từ các axit béo bão
hòa ở người có độ tuổi lớn hơn 18
16 Độ tuổi tiêu chuẩn của người(lớn hơn 18 tuổi) tiêu thụ ít
hơn 400 grams trái cây và rau mỗi ngày
17 Tỷ lệ tuổi tiêu chuẩn có độ tăng cholesterol của người lớn
hơn 18 tuổi (Tổng lượng cholesterol >= 5.0 mmol/l hoặc 190
Trang 2718 Tỷ lệ người đủ điều kiện (tuổi lớn hơn 40 với nguy cơ tim
mạch >=30% trong 10 năm, bao gồm cả người đang mắc bệnhtim mạch) được điều trị bằng thuốc và tư vấn (bao gồm cảkiểm soát đường huyết) để ngăn chặn cơn đau tim và đột quỵ
19 Sự sẵn sàng và khả năng chi trả của chất lượng, sự an toàn
và hiệu quả cần thiết của thuốc BKLN bao gồm thuốc, nhữngcông nghệ cơ bản ở các cơ sở vật chất công cộng và tư nhân
21 Áp dụng các chính sách quốc gia làm giới hạn độ bão hòa
axit béo và loại bỏ một phần dầu thực vật trong quá trình cungcấp thực phẩm, khi thích hợp, trong bối cảnh quốc gia và cácchương trình quốc gia
23 Các chính sách nhằm giảm tác động của việc quảng cáo
thức ăn và đồ uống không cồn có nông độ chất béo bão hòacao, axit béo, đường, hoặc muối lên trẻ em
1.3.2 9 Mục tiêu tự nguyện
“Chương trình giám sát toàn cầu cho bệnh không lây nhiễm” theo dõitiến trình của “Kế hoạch hành động bệnh không lây nhiễm toàn cầu” thôngqua việc giám sát và báo cáo 9 mục tiêu cho bệnh không lây nhiễm vào năm
2015, so với cơ sở vào năm 2010
Theo đó, các chính phủ được khuyến khích để thiết lập các mục tiêuquốc gia về bệnh không lây nhiễm năm 2025 dựa trên hoàn cảnh quốc gia,phát triển kế hoạch quốc gia liên ngành bệnh không lây nhiễm nhằm giảm sựtiếp xúc với các yếu tố nguy cơ và cho phép hệ thống y tế phản hồi để đạtđược các mục tiêu quốc gia năm 2025; và đo lường kết quả, chú ý đến các kếhoạch hành động toàn cầu [6]
Trang 28Hình 1: 9 Mục tiêu tự nguyện về giám sát bệnh không lây nhiễm.
Mục tiêu 1: Giảm tương đối khoảng 25% nguy cơ tử vong sớm do Bệnh tim
mạch, ung thư, đái tháo đường, bệnh đường hô hấp mạn tính
Mục tiêu 2: Giảm ít nhất 10% độc hại trong việc sử dụng rượu, nếu thích hợp,
trong bối cảnh quốc gia
Mục tiêu 3: Giảm tương đối 10% trong tỷ lệ của hoạt động thể chất không đủ Mục tiêu 4: Giảm tương đối 30% trong hàm lượng tiêu thụ của muối / natri Mục tiêu 5: Giảm tương đối 30% trong tỷ lệ sử dụng thuốc lá hiện nay ở
người lớn hơn 15 tuổi
Mục tiêu 6: Giảm tương đối 25% trong tỷ lệ tăng huyết áp hoặc có tỷ lệ tăng
huyết áp, theo hoàn cảnh từng quốc gia
Mục tiêu 7: Ngăn chặn sự gia tăng bệnh đái tháo đường và béo phì.
Mục tiêu 8: Ít nhất 50% số người đủ điều kiện nhận được điều trị bằng thuốc
và tư vấn (bao gồm cả kiểm soát đường huyết) để ngăn chặn cơn đau tim vàđột quỵ
Trang 29Mục tiêu 9: Đảm bảo sự sẵn có khoảng 80% các công nghệ cơ bản và thuốc
cần thiết, bao gồm cả generics, để điều trị BKLN ở công cộng và tư nhân
1.3.3 Tiến độ triển khai giám sát BKLN của Việt Nam hiện nay
Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong giám sát phòng chống các bệnh dịchtruyền nhiễm, đồng thời quan tâm đầu tư cho lĩnh vực phòng chống bệnhkhông lây nhiễm Các dự án giám sát phòng chống BKLN đã được đưa vàoCTMTQG về y tế Một số văn bản luật, chính sách liên quan đã được banhành như Luật phòng chống tác hại thuốc lá, Chính sách quốc gia phòngchống tác hại do lạm dụng đồ uống có cồn đến năm 2020 Mặc dù vậy, ViệtNam vẫn đang phải đối mặt với gánh nặng bệnh tật kép, trong khi tỷ lệ mắc
và tử vong do các bệnh truyền nhiễm đã giảm, các BKLN chủ yếu gồm bệnhtim mạch, ung thư, ĐTĐ và COPD đang gia tăng nhanh, chiếm tới 73% tổng
số tử vong, 66% tổng gánh nặng bệnh tật Các BKLN nói trên như một bệnhdịch là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng quá tải tại các bệnh viện; gâythiệt hại, ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế, xã hội của đất nước do bệnhphải điều trị suốt đời làm tăng chi phí y tế, giảm năng xuất lao động và sảnphẩm xã hội, ảnh hưởng nặng nề tới sức khỏe cộng đồng [46]
1.3.3.1 Mạng lưới giám sát
Hiện tại Việt Nam chưa có mạng lưới giám sát để đảm bảo thu thập sốliệu một cách chuẩn hóa, thống nhất, toàn diện và mang tính hệ thống Chưathiết lập các điểm giám sát và đầu mối giám sát tại Trung ương, các khu vực
và tại các tỉnh Hiện tại các hoạt động thu thập thông tin chủ yếu dựa vào các
dự án BKLN cho từng bệnh riêng lẻ, chưa có sự kết nối với nhau
Trước đây, Chương trình phòng chống BKLN của Bộ Y tế đã bước đầutriển khai mạng lưới giám sát thông qua Dự án Thiết lập hệ thống giám sátquốc gia một số BKLN 2007-2010 (do Cục Quản lý khám chữa bệnh triểnkhai với sự tài trợ của Tổ chức Atlantic Philanthropy thông qua Viện Nghiêncứu Menzies, Úc) Trong phạm vi dự án này đã thành lập mạng lưới giám sáttại 8 tỉnh/thành phố: Hà Nội, Thái Nguyên, Hòa Bình, Thừa Thiên Huế, Bình
Trang 30Định, TP.Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Đăk Lăk Tại mỗi tỉnh/thành phố có mộtnhóm cán bộ (nòng cốt là Sở Y tế) chịu trách nhiệm làm đầu mối triển khaicác hoạt động liên quan đến dự án Khi dự án kết thúc thì mạng lưới giám sátnày cũng không còn tiếp tục được duy trì.
1.3.3.2 Giám sát yếu tố nguy cơ
Trong thời gian qua đã có một số điều tra, nghiên cứu cung cấp một sốthông tin cơ bản về thực trạng một số BKLN và các yếu tố nguy cơ Tuynhiên các điều tra này thường riêng lẻ, không lồng ghép, do các chương trình
dự án khác nhau thực hiện ở những thời điểm khác nhau Một số điều tranghiên cứu có phương pháp không thống nhất, chuẩn hóa theo phương phápSTEPwise của WHO Một số điều tra quan trọng gồm:
- Điều tra các yếu tố nguy cơ BKLN tại 8 tỉnh/thành phố năm 2009-2010 theophương pháp STEPwise (Dự án Thiết lập hệ thống giám sát quốc gia một sốBKLN)
- Điều tra Thuốc lá toàn cầu ở người trưởng thành năm 2010 (Chương trìnhphòng chống tác hại thuốc lá)
- Điều tra dịch tễ học THA và các yếu tố nguy cơ tại Việt Nam năm
2003-2008 (Viện Tim mạch)
- Điều tra quốc gia đái tháo đường và các yếu tố nguy cơ năm 2002 và năm
2012 (Bệnh viện Nội tiết Trung ương)
- Tổng điều tra về về thực trạng thừa cân béo phì ở người độ tuổi 25-64 tiếnhành năm 2005 (Viện Dinh dưỡng)
- Điều tra về thực trạng phòng chống ung thư năm 2008 (Bệnh viện K)
Trang 31Đối với hoạt động giám sát tại bệnh viện: Hệ thống báo cáo thống kêbệnh viện phân loại bệnh tật theo ICD 10 định kỳ cung cấp các thông tin vềtình hình mắc, tử vong của một số BKLN tại các bệnh viện trong toàn quốc.Trên cơ sở báo cáo, hằng năm Niên giám thống kê y tế đã công bố số liệu tìnhhình mắc và tử vong trong bệnh viện.
Các trung tâm ghi nhận ung thư được thiết lập và triển khai tại 9tỉnh/thành phố là Hà Nội, Thái Nguyên, Thừa Thiên Huế, Hải Phòng, TP.HồChí Minh, Cần Thơ, Thanh Hóa, Đà Nẵng, Kiên Giang (Dự án phòng chốngung thư) định kỳ cung cấp các số liệu ước tính về mắc mới do một số loại ungthư, tuy nhiên quy mô bao phủ của ghi nhận còn nhỏ (khoảng 20%)
Hiện tại chưa giám sát tử vong tại cộng đồng do chưa triển khai thuthập thông qua thống kê tại trạm y tế xã và qua sổ chứng tử của xã Mới chỉ
có một số nghiên cứu quy mô nhỏ để ước tính gánh nặng và tử vong do một
số BKLN Chính vì vậy Việt Nam cò thiếu các số liệu một cách hệ thống về
mô hình bệnh tật và tử vong do BKLN [46]
1.3.3.4 Giám sát năng lực và đáp ứng của hệ thống y tế
Hiện tại mới chỉ thực hiện thống kê báo cáo kết quả thực hiện các hoạtđộng phòng chống BKLN theo quy định của các dự án BKLN thuộcCTMTQG về y tế
Việt Nam chưa thiết lập hệ thống giám sát sát BKLN quốc gia, các hoạtđộng giám sát BKLN phần lớn là những hoạt động độc lập, được triển khai ởnhững quy mô khác nhau và chưa có sự điều phối chung
Chưa có hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý thông tin về BKLN và các yếu
tố nguy cơ, còn thiếu các số liệu chuẩn hóa mang tính hệ thống để theo dõiquy mô và xu hướng của yếu tố nguy cơ và BKLN, phục vụ cho xây dựngchính sách và đánh giá hiệu quả can thiệp
Hoạt động giám sát chủ yếu dựa vào hệ thống báo cáo bệnh viện vàmột số điều tra nghiên cứu ở các quy mô khác nhau Hoạt động ghi nhận ung
Trang 32thư có diện bao phủ chưa rộng Chưa triển khai giám sát tử vong tại cộngđồng Các điều tra nghiên cứu cộng đồng được tiến hành bởi các viện chuyênngành, chưa có sự điều phối chung, và chưa áp dụng phương pháp thống nhấttrong giám sát BKLN theo khuyến cáo của WHO.
Mạng lưới y tế dự phòng bao gồm Trung tâm y tế dự phòng tỉnh/thànhphố và các viện khu vực có nhiều kinh nghiệm, nhân lực và năng lực giám sátnhưng chưa tham gia vào hoạt động giám sát BKLN Giám sát BKLN chưađược tích hợp vào hệ thống giám sát sẵn có của hệ thống YTDP [46]
Theo báo cáo thống kê tổng hợp thực trạng và dự báo xu hướng củamột số bệnh không lây nhiễm và yếu tố nguy cơ áp theo 25 chỉ số toàn cầu và
9 mục tiêu tự nguyện đã triển khai tại Việt Nam:
Sử dụng rượu bia ở mức có hại
• Theo Điều tra STEPS năm 2010: 25,1% số nam giới trưởng thành có ít nhất
1 lần sử dụng rượu, bia ở mức có hại trong tuần qua (60g rượu nguyên chất)
• Mục tiêu toàn cầu của WHO đến 2025: giảm 10% tỷ lê sử dụng rượu, bia ởmức có hại so với hiện tại
Tiêu thụ muối trung bình /người/ngày
• VN không có số liệu đại diện Điều tra quy mô nhỏ của Viện Dinh dưỡngnăm 2013: trung bình 1 người tiêu thụ 15g muối/ngày, cao gấp 3 lần so vớikhuyến cáo của WHO
• Mục tiêu toàn cầu của WHO đến năm 2025: giảm 3/10 của mức hiện có
Người trưởng thành thiếu hoạt động thể lực
Trang 33• Theo Điều tra STEPS năm 2010, khoảng 30% người trưởng thành thiếu hoạtđộng thể lực kể cả ở nông thôn Trong xu thế đô thị hóa và tăng sử dụng cácphương tiện giao thông cơ giới hiện nay, nếu không can thiệp thì chắc chắn tỷ
lệ người thiếu hoạt động thể lực sẽ tăng cao
• Mục tiêu toàn cầu của WHO đến 2025: giảm 10% số người thiếu hoạt độngthể lực so với hiện tại
Thừa cân-béo phì (BMI≥25)
• Theo điều tra dinh dưỡng và điều tra STEPS: tỷ lệ thừa cân béo phì năm
2000 là 3,5%; năm 2005 là 6,6%; năm 2010 là 10,9% Trung bình giai đoạn2000-2010 tăng 0,7%/năm Ước tính nếu tăng tương tự như giai đoạn trước,đến năm 2025 tỷ lệ người trưởng thành bị thừa cân béo phì là 21%
• Mục tiêu toàn cầu của WHO: khống chế béo phì, không để gia tăng
Tiền đái tháo đường
• Theo Điều tra của Bệnh viện Nội tiết: tỷ lệ tiền đái tháo đường năm 2002 là7,7%; năm 2012 là 12,8% Trung bình giai đoạn 2002-2012: mỗi năm tăng0,5%, ước tính nếu tăng tương tự như giai đoạn trước, đến 2025 tỷ lệ tiền đáitháo đường là 19%
Đái tháo đường
• Theo Điều tra của Bệnh viện Nội tiết: tỷ lệ đái tháo đường năm 2002 là2,7%; năm 2012 là 5,4% Trung bình giai đoạn 2002-2012: mỗi năm tăng0,27%; ước tính nếu tăng tương tự như giai đoạn trước, đến năm 2025 là 9%
• Mục tiêu toàn cầu WHO đến năm 2025: khống chế sự gia tăng bệnh ĐTĐ
Tăng huyết áp
• Theo Điều tra của Viện Tim mạch: Tỷ lệ THA năm 2002 là 16,9%; năm
2008 là 25,1% Trung bình giai đoạn 2002-2008 mỗi năm tăng 1,3%; ước tínhnếu tăng tương tự như giai đoạn trước, đến năm 2025 tỷ lệ người THA sẽ trên35%
• Mục tiêu toàn cầu của WHO đến 2025: giảm 25% số người tăng huyết áp sovới hiện tại
Trang 34 Tử vong sớm (trước 70 tuổi) do các bệnh tim mạch, ung thư, ĐTĐ và COPD
• Theo báo cáo của WHO 2012: tỷ lệ tử vong trước 70 tuổi do các bệnh timmạch, ung thư, ĐTĐ và COPD ở Việt Nam chiếm 40,7% tổng số tử vong do
4 bệnh này ở mọi độ tuổi
• Mục tiêu toàn cầu của WHO đến 2025 giảm 25% số tử vong trước 70 tuổi
so với hiện tại.[46]
1.4 Phương pháp tổng quan hệ thống (Systematic review)
Tổng quan hệ thống là một phương pháp đánh giá tài liệu sử dụng cácphương pháp có hệ thống để thu thập dữ liệu thứ cấp, đánh giá phê bìnhnghiên cứu và tổng hợp các phát hiện định tính hoặc định lượng [47] Đánhgiá có hệ thống hình thành các câu hỏi nghiên cứu có phạm vi rộng hoặc hẹp,đồng thời xác định và tổng hợp các nghiên cứu liên quan trực tiếp đến câu hỏiđánh giá hệ thống [48] Chúng được thiết kế để cung cấp một bản tóm tắt đầy
đủ về các bằng chứng hiện tại có liên quan đến một câu hỏi nghiên cứu Đánhgiá có hệ thống các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng là chìa khóa để thựchành y học dựa trên bằng chứng , [49] và đánh giá các nghiên cứu hiện tạithường nhanh hơn và rẻ hơn so với bắt tay vào nghiên cứu mới
Bước đầu tiên trong việc thực hiện đánh giá có hệ thống là tạo ra mộtcâu hỏi có cấu trúc để hướng dẫn đánh giá [50] Bước thứ hai là thực hiện tìmkiếm kỹ lưỡng các tài liệu cho các giấy tờ liên quan Phần phương phápluận của tổng quan hệ thống sẽ liệt kê tất cả các cơ sở dữ liệu và chỉ mục tríchdẫn đã được tìm kiếm như Web of Science , Embase và PubMed và bất kỳ tạpchí cá nhân đã được tìm kiếm Việc tìm kiếm các cơ sở dữ liệu khác nhau làmột dấu hiệu của các thử nghiệm lâm sàng
Các tiêu đề và tóm tắt của các bài viết được đánh giá và kiểm tra theo các tiêuchí được xác định trước về tính đủ điều kiện và mức độ phù hợp để tạo thànhmột bộ dữ liệu hệ thống Bộ dữ liệu này có sự liên quan chặt chẽ với vấn đềnghiên cứu Mỗi nghiên cứu thuộc bộ dữ liệu hệ thống có thể được chỉ định
Trang 35để đánh giá khách quan về chất lượng phương pháp bằng cách sử dụng cácphương pháp phù hợp với Mục báo cáo ưu tiên cho Đánh giá hệ thống vàPhân tích tổng hợp (PRISMA) [51] hoặc các tiêu chuẩn chất lượng cao củaCochrane [52]
lý do
Nguồn thông tin 7 Mô tả tất cả các nguồn thông tin (ví dụ: cơ sở dữ
liệu có ngày công bố, liên hệ với các tác giả nghiên
Trang 36cứu để xác định các nghiên cứu bổ sung) trong tìm kiếm và ngày tìm kiếm cuối cùng.
Trình bày chiến lược tìm kiếm điện tử đầy đủ cho
ít nhất một cơ sở dữ liệu, bao gồm mọi giới hạn được sử dụng, có thể lặp lại
Lựa chọn
nghiên cứu 9
Nêu quy trình lựa chọn các nghiên cứu (nghĩa là sàng lọc, đủ điều kiện, được đưa vào tổng quan hệ thống và, nếu có thể, được bao gồm trong phân tích tổng hợp)
Quy trình thu
thập dữ liệu 10
Mô tả phương pháp trích xuất dữ liệu từ các báo cáo (ví dụ: các mẫu được thí điểm, độc lập, trùng lặp) và bất kỳ quy trình nào để lấy và xác nhận dữ liệu từ các nhà điều tra
Các mục dữ liệu 11
Liệt kê và xác định tất cả các biến mà dữ liệu đượctìm kiếm (ví dụ: PICOS, nguồn tài trợ) và mọi giả định và đơn giản hóa được thực hiện
Nguy cơ sai
và cách sử dụng thông tin này trong bất kỳ tổng hợp dữ liệu nào
Nguy cơ sai
Phân tích bổ
Mô tả các phương pháp phân tích bổ sung (ví dụ: phân tích độ nhạy hoặc phân nhóm, hồi quy meta), nếu được thực hiện, chỉ ra cái nào được chỉ định trước
Trang 37đồ quy trình.
Đặc điểm
nghiên cứu 18
Đối với mỗi nghiên cứu, các đặc điểm hiện tại mà
dữ liệu được trích xuất (ví dụ: kích thước nghiên cứu, PICOS, thời gian theo dõi) và cung cấp các trích dẫn
Nguy cơ sai lệch
Kết quả nghiên
cứu cá nhân 20
Đối với tất cả các kết quả được xem xét (lợi ích hoặc tác hại), hiện tại, cho mỗi nghiên cứu: (a) dữ liệu tóm tắt đơn giản cho từng nhóm can thiệp (b) ước tính hiệu quả và khoảng tin cậy, lý tưởng với
Nguy cơ sai lệch
giữa các nghiên
cứu
22
Trình bày kết quả của bất kỳ đánh giá nào về nguy
cơ sai lệch giữa các nghiên cứu (xem Mục 15)
Phân tích bổ
Đưa ra kết quả của các phân tích bổ sung, nếu được thực hiện (ví dụ: phân tích độ nhạy hoặc phân nhóm, hồi quy meta [xem Mục 16])
BÀN LUẬN
Tóm tắt bằng
Tóm tắt những phát hiện chính bao gồm sức mạnh của bằng chứng cho từng kết quả chính; xem xét mức độ phù hợp của họ với các nhóm chính (ví dụ:nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, người dùng và nhà hoạch định chính sách)
Thảo luận về các hạn chế ở cấp độ nghiên cứu và kết quả (ví dụ: nguy cơ sai lệch) và ở cấp độ đánh giá (ví dụ: truy xuất không đầy đủ các nghiên cứu
đã xác định, báo cáo sai lệch)
Kết luận 26
Cung cấp một giải thích chung về các kết quả trong bối cảnh của các bằng chứng khác, và ý nghĩa cho nghiên cứu trong tương lai
KINH PHÍ
Kinh phí 27
Mô tả các nguồn tài trợ cho đánh giá có hệ thống
và hỗ trợ khác (ví dụ: cung cấp dữ liệu); vai trò của các nhà tài trợ cho việc xem xét có hệ thống
Trang 38Tổng quan hệ thống sử dụng cách tiếp cận khách quan và minh bạch đểtổng hợp nghiên cứu, với mục đích giảm thiểu sai lệch Mặc dù nhiều đánhgiá có hệ thống dựa trên phân tích tổng hợp định lượng rõ ràng của dữ liệu cósẵn, nhưng cũng có những đánh giá định tính tuân thủ các tiêu chuẩn để thuthập, phân tích và báo cáo bằng chứng [53] Tuyên bố PRISMA [54] đề xuấtmột cách chuẩn hóa để đảm bảo báo cáo minh bạch và đầy đủ các đánh giá có
hệ thống, và hiện được yêu cầu cho loại nghiên cứu này của hơn 170 tạp chí y
tế trên toàn thế giới.[55]
Nghiên cứu tổng quan hệ thống không phải lúc nào cũng sử dụng các
kỹ thuật thống kê ( phân tích tổng hợp) để kết hợp các kết quả của các nghiêncứu đủ điều kiện hoặc ít nhất là sử dụng tính điểm của các mức độ bằngchứng tùy thuộc vào phương pháp được sử dụng Một người đánh giá bổ sung
có thể được tư vấn để giải quyết bất kỳ sự khác biệt về điểm giữa nhữngngười xếp loại.[56] Đánh giá hệ thống thường được áp dụng trong bối cảnhnghiên cứu y sinh hoặc chăm sóc sức khỏe, nhưng nó có thể được áp dụngtrong bất kỳ lĩnh vực nghiên cứu nào
1.5 Nguồn cung cấp số liệu cho nghiên cứu
Tạp chí Y học VN
Nghiên cứu Y học
Y học Dự phòng
Y học Việt Nam Tim mạch học
Y học Thực hành
Trang 39Hình 2: Sơ đồ về nguồn cung cấp số liệu cho nghiên cứu.
Trang 40Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm: Nghiên cứu được tiến hành lấy số liệu tại thư viện Trường ĐạiHọc Y Hà Nội và kết hợp tìm kiếm trực tuyến trên hệ thống Pubmed và Scopus
- Thời gian: Từ tháng 07/2018 đến tháng 05/2019, trong đó thời gian thuthập số liệu từ tháng 8/2018 đến 3/2019
2.2 Đối tượng nghiên cứu
- Các luận văn nghiên cứu về bệnh tim mạch của học viên sau đại họcTrường Đại học Y Hà Nội
- Các bài báo nghiên cứu về bệnh tim mạch tại Việt Nam được tổnghợp trên hệ thống tìm kiếm trực tuyến Pubmed, Scopus và 5 tạp chí Y học tạiViệt Nam (gồm: Tạp chí Nghiên cứu Y học, Y học Dự phòng, Y học ViệtNam, Tim mạch học, Y học Thực hành)
2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Các luận văn của học viên sau đại học Trường Đại học Y Hà Nộiđược viết bằng tiếng việt và đã được phê duyệt thành công bởi Hội đồng khoahọc của Đại học Y Hà Nội từ 2013 – 2017, bao gồm: