CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PADLET ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG .... Một số biện pháp sử dụng Padlet để p
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành sâu sắc đến tập thể các thầy cô là giảng viên trường Đại Học Giáo Dục – Đại Học Quốc Gia Hà Nội, đã tạo điều kiện cho tác giả trong suốt thời gian học tập cũng như trong quá trình nghiên cứu
Đặc biệt cảm ơn TS Hoàng Thanh Tú - người đã luôn tận tình quan tâm,
động viên và sẵn sàng giúp đỡ, hướng dẫn để tác giả hoàn thành luận văn này
Cảm ơn tập thể giáo viên và học sinh trường trung học phổ thông Hoa Lư A tỉnh Ninh Bình, các giáo viên Lịch sử của các trường trung học phổ thông trong tỉnh Ninh Bình đã tạo điều kiện cho tác giả điều tra thực tế và nhiệt tình giúp đỡ trong việc thử nghiệm sư phạm
Cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân đã luôn bên cạnh, động viên và chia sẻ, giúp đỡ trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Trong quá trình thực hiện đề tài, không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2019
Học viên
Bùi Thị Quế
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Nguyên nghĩa
1 BGDĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Vai trò của các giác quan trong việc thu nhận và lưu trữ thông tin 25
Bảng 1.2 Khảo sát về sự cần thiết của CNTT trong dạy học LS 27
Bảng 1.3 Khảo sát về mức độ sử dụng các công cụ công nghệ thông tin của giáo viên trong dạy học lịch sử 30
Bảng 2.1 Mục tiêu các bài học trong phần lịch sử thế giới cận đại lớp11 42
Bảng 2.2 Bảng mô tả kiến thức cơ bản trong từng bài học phần lịch sử thế giới 49
cận đại 11 49
Bảng 2.3 Tư liệu tham khảo trong giảng dạy phần lịch sử cận đại lớp 11 55
Bảng 2.4 Biểu hiện các thành phần năng lực tự học Lịch sử (theo chương trình giáo dục phổ thông mới môn Lịch sử) 88
Bảng 2.5 Mô tả thang đo Năng lực tự học của học sinh 89
Bảng 2.6 Kết quả khảo sát mức độ biểu hiện năng lực tự học của học sinh 92
trước thử nghiệm 92
Trang 6DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH
Biểu đồ 1.1 Đánh giá của giáo viên về mức độ cần thiết phát triển năng lực tự học
cho học sinh 28
Biểu đồ 1.2 Đánh giá của học sinh về mức độ cần thiết phát triển năng lực tự học cho học sinh 29
Biểu đồ 1.3 Mục đích sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học của giáo viên 31
Biểu đồ 1.4 Đánh giá của giáo viên về những thuận lợi khi sử dụng công nghệ thông tin phát triển năng lực tự học cho học sinh 32
Biểu đồ 1.5 Đánh giá của giáo viên về những khó khăn khi sử dụng công nghệ thông tin phát triển năng lực tự học cho học sinh 32
Hình 2.1 Minh họa các khung định dạng trong Padlet 59
Hình 2.2 Minh họa định dạng thiết kế Padlet trong bài 1 “Nhật Bản” 60
Hình 2.3 Minh họa cách chỉnh sửa thông tin trang Padlet (bài 1 Nhật Bản) 60
Hình 2.4 Minh họa cách thiết kế trên Padlet 61
Hình 2.5 Minh họa cách thiết kế bài 1 – Nhật Bản trên Padlet 62
Hình 2.6 Minh họa trang Padlet sau giờ học trên lớp 63
Hình 2.7 Minh họa thảo luận trực tuyến trên Padlet trong bài 3 (Trung Quốc) 71
Hình 2.8 Phiếu học tập tìm hiểu về Trung Quốc của học sinh 94
Hình 2.9 Phiếu học tập tìm hiểu về Tôn Trung Sơn 97
Hình 2.10 Minh họa câu hỏi trắc nghiệm thiết kế trên Kahoot 98
Hình 2.11 Kết quả kiểm tra trên kahoot 101
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7
3.1 Đối tượng: Quá trình sử dụng Padlet trong DHLS thế giới cận đại để phát triển năng lực tự học cho học sinh 7
3.2 Phạm vi nghiên cứu 8
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 8
4.1 Mục đích nghiên cứu 8
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 9
5.1 Cơ sở phương pháp luận 9
5.2 Phương pháp nghiên cứu 9
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PADLET ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 11
1.1 Cơ sở lí luận 11
1.1.1 Các khái niệm cơ bản 11
1.1.2 Quan niệm về sử dụng Padlet nhằm phát triển năng lực tự học trong dạy học lịch sử 16
1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng Padlet nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh trong phần lịch sử thế giới cận đại lớp 11 ở trường phổ thông 23
1.1.4 Một số điểm hạn chế của Padlet 26
Trang 81.2.1 Nội dung, kết quả khảo sát thực tiễn việc sử dụng Padlet nhằm phát triển
năng lực tự học lịch sử ở trường THPT Hoa Lư A 27
1.2.2 Đánh giá thực trạng của việc sử dụng Padlet nhằm phát triển năng lực tự học lịch sử ở trường Trung học phổ thông Hoa Lư A 33
Tiểu kết chương 1 36
CHƯƠNG 2 BIỆN PHÁP SỬ DỤNG PADLET NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HOA LƯ A - NINH BÌNH THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM 37
2.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung cơ bản của phần lịch sử thế giới cận đại lớp 11 trong chương trình phổ thông hiện hành 37
2.1.1 Vị trí 37
2.1.2 Mục tiêu……… 37
2.1.3 Nội dung cơ bản 38
2.2 Quy trình thiết kế Padlet trong dạy học lịch sử thế giới cận đại lớp 11 để phát triển năng lực tự học cho học sinh trường trung học phổ thông Hoa Lư A – Ninh Bình 40
2.2.1 Xác định mục tiêu bài học 40
2.2.2 Xác định kiến thức cơ bản cho bài học 47
2.2.3 Xác định các tư liệu tham khảo sẽ sử dụng 52
2.2.4 Thiết kế kế hoạch dạy học trên Padlet 58
2.3 Một số biện pháp sử dụng Padlet để phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học lịch sử thế giới cận đại lớp 11 tại trường trung học phổ thông Hoa Lư A – Ninh Bình 63
2.3.1 Sử dụng Padlet trong giờ học lịch sử trên lớp để phát triển năng lực tự học cho học sinh 64
2.3.2 Sử dụng Padlet trong hướng dẫn học sinh tự học ở nhà 81
2.4 Thử nghiệm sư phạm 85
2.4.1 Mục đích thử nghiệm 85
2.4.2 Đối tượng và địa bàn thử nghiệm 85
Trang 92.4.3 Nội dung và phương pháp thử nghiệm 86
2.4.4 Tiến trình thử nghiệm sư phạm 90
2.4.5 Kết quả thử nghiệm 99
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 104
1 Kết luận 104
2 Khuyến nghị 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107 PHỤ LỤC
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thế kỉ XXI được coi là thế kỉ bùng nổ của công nghệ thông tin (CNTT) CNTT đã có mặt trong hầu khắp mọi lĩnh vực của đời sống và đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội loài người Đối với giáo dục, sự tác động của CNTT đã mang lại những điều kì diệu chưa từng có trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực CNTT trở thành một công cụ đắc lực và hiệu quả đối với việc dạy học nói chung và dạy học Lịch sử nói riêng
Theo UNESCO, khẩu hiệu đặt ra cho giáo dục và đào tạo của thế kỷ XXI là “Học ở
mọi nơi, học ở mọi lúc, học suốt đời, dạy cho mọi người với mọi trình độ tiếp thu khác nhau” Nhiệm vụ của giáo dục phải “giúp cho người học đạt được những kiến thức và kỹ năng, và giúp cho họ có thể tiếp tục việc học tập suốt cuộc đời” Để làm
được điều đó, việc học không chỉ còn giới hạn trong nhà trường mà đã được mở rộng hơn về không gian, thời gian và đa dạng hơn về hình thức tổ chức, hỗ trợ cho
nhu cầu “tự học” và “học suốt đời” của mỗi người CNTT được coi như một “chìa
khóa thần kì” trong việc đổi mới giáo dục nhằm thực hiện những nhiệm vụ nêu trên
Trên thế giới, việc sử dụng CNTT đã có từ nửa sau thế kỉ XX và đặc biệt phát triển ở những nước có nền kinh tế vượt trội CNTT có mặt trong mọi khâu của hoạt động giáo dục từ cách quản lí, tổ chức dạy học, kiểm tra đánh giá… Cho đến bây giờ ở các nước lớn, việc sử dụng CNTT được coi là không thể thiếu trong quá trình phát triển giáo dục và đào tạo
Ở Việt Nam, CNTT được đưa vào trong các nhà trường từ những năm đầu thế kỉ XXI Việc sử dụng CNTT trong DHLS (dạy học lịch sử) ở các trường phổ thông không còn là điều mới lạ tuy nhiên việc sử dụng CNTT mới dừng ở mức cơ bản, còn nhiều hạn chế Giáo viên chủ yếu mới chỉ biết đến soạn bài giảng trên Powerpoint, sử dụng các tư liệu, hình ảnh, video trên internet để phục vụ cho bài giảng của mình Chính vì vậy mặc dù đã sử dụng CNTT nhưng việc DHLS vẫn mang bóng dáng của sự truyền thụ một chiều, hiệu quả giáo dục chưa cao
Trang 11Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII tiếp tục khẳng định “giáo dục
là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến
thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với
hành, lý luận gắn với thực tiễn Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội”[19; tr.52] Luật giáo dục Việt Nam thì viết “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại hứng thú học tập cho học sinh”[31;tr.7]
Vì vậy người giáo viên phải thật sự quan tâm đến đổi mới phương pháp và hình
thức dạy học theo định hướng phát triển năng lực đặc biệt là năng lực tự học cho
học sinh
Đối với việc DHLS hiện nay ở nước ta, việc phát triển năng lực tự học cho
học sinh còn rất nhiều khó khăn, xuất phát từ nhiều phía Để cải thiện tình trạng này, CNTT đã được đưa vào sử dụng như một biện pháp hữu hiệu nhằm chuyển đổi
việc dạy học từ định hướng nội dung sang định hướng phát triển năng lực Có rất
nhiều các sản phẩm công nghệ đã được dùng vào trong dạy học và mang lại hiệu quả nhất định như các phần mềm, các trang web điện tử… Các thuật ngữ như “lớp học ảo”, “lớp học trực tuyến”, “lớp học thực tế ảo”… được nhắc đến nhiều như một
xu hướng giáo dục trong thời gian gần đây Một trong những công cụ hỗ trợ hiệu quả cho xu hướng này là Padlet Padlet là trang mạng cho phép chúng ta cộng tác với những người dùng khác bằng văn bản, hình ảnh, liên kết và các nội dung khác Mỗi không gian cộng tác được gọi là một “bức tường” Nó cũng có thể được sử dụng như một bản tin riêng Với Padlet, các giáo viên có thể sử dụng trong quá trình dạy học để khuyến khích hội thoại đa phương tiện và phát minh mang tính sáng tạo của học sinh Cũng từ đây, giáo viên có thể hướng dẫn và giúp học sinh phát triển
năng lực tự học một cách hiệu quả hơn
Chính vì những lí do đó, tác giả chọn đề tài “Sử dụng Padlet nhằm phát triển năng lực tự học phần Lịch sử thế giới cận đại lớp 11 cho học sinh trường
Trang 12thành thạo Padlet như một công cụ hữu ích và mang đến sự đổi mới trong DHLS ở địa phương nơi tôi công tác
2 Lịch sử nghiên cứu
Thuật ngữ CNTT (Information Technology) được xuất hiện lần đầu tiên năm
1958 trong một bài viết của tạp chí Harvard Business Review Trong bài viết này, hai tác giả Leavitt và Whisler đã nhận định rằng “Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin” Kể từ khi xuất hiện lần đầu tiên
từ giữa thế kỉ XX, CNTT đã phát triển với tốc độ kì diệu cả về chiều rộng và chiều sâu Từ nửa sau thế kỉ XX, loài người thực sự bước vào nền văn minh mới “văn minh thông tin”
Tổ chức giáo dục thế giới UNESSCO đã chọn CNTT là chủ đề lớn để xây dựng thành chương trình hành động trước ngưỡng cửa thế kỉ XXI và dự đoán “sẽ có
sự thay đổi nền giáo dục một cách căn bản vào đầu thế kỉ XXI do ảnh hưởng của CNTT” Trên thế giới, CNTT được sử dụng như một công cụ hỗ trợ dạy học từ rất sớm, đặc biệt là ở các nước tư bản phát triển Từ thập niên 70, 80 của thế kỉ XIX, các nước Anh, Pháp, Newzealand … đã đưa máy tính vào sử dụng phổ biến trong trường học các cấp từ bậc mầm non đến đại học và phát huy được hiệu quả đáng kể trong giáo dục
Khi nhắc đến CNTT, có lẽ không ai có thể không nghĩ đến Bill Gates (chủ tập đoàn Microsoft) Bill Gates được coi là một trong những người tiên phong trên thế giới để mang đến sự bùng nổ mạnh mẽ của CNTT như ngày nay Trong một bài phát biểu của mình năm 1996, ông đã khẳng định: “Một trong những điều kỳ diệu nhất trong 20 năm trở lại đây là sự xuất hiện của Internet Chính Internet đã làm cho thế giới trở nên rất nhỏ, khoảng cách địa lý đã bị san phẳng… Một điều tuyệt vời khác là ngày càng có nhiều trường đại học trên thế giới đưa bài giảng lên Internet Bạn có thể ở bất kỳ nơi đâu trên thế giới để chọn bài giảng, chủ đề…, thậm chí là những giáo sư danh tiếng để học tập mà không phải trả tiền Đây sẽ là một sự thay đổi gốc rễ hệ thống giáo dục trong thời gian tới” Ở vào thời điểm năm 1996, theo thống kê mới chỉ có 1% dân số thế giới biết đến Internet và cũng chưa có nhiều trang web để người dùng truy cập, tốc độ mạng rất chậm CNTT đã thay đổi mạnh
Trang 13mẽ môi trường dạy học, nội dung và phương pháp dạy học buộc người dạy và người học cũng phải có những sự thay đổi cho phù hợp Việc ứng dụng CNTT vào dạy học đã thực sự tạo ra 1 “môi trường tương tác”, môi trường giáo dục thân thiện giữa thày và trò Chính điều đó đã góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo những người lao động có khả năng đáp ứng được nhu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Có rất nhiều tài liệu nói về việc ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung, điển hình phải kể đến là bộ giáo trình “Teach to the Future” (Dạy học cho tương lai) của Intel và bộ giáo trình “Partners in learning” (hợp tác trong học tập) của Microsoft Các bộ giáo trình này mới chỉ đề cập đến việc ứng dụng CNTT vào dạy học nói chung chứ chưa đề cập đến đặc thù từng bộ môn cũng như hướng dẫn sử dụng cho từng môn học
Ở Việt Nam, CNTT được nghiên cứu và từng bước ứng dụng trong nhiều ngành trong đó có giáo dục Các tác giả như Phạm Minh Hạc, Hoàng Tuỵ, Phạm Ngọc Ánh, Hoàng Mai Lê… có thể coi là những người tiên phong, mở đường cho việc đặt nền móng đưa CNTT vào giáo dục Một số công trình nghiên cứu mang
tính quốc gia về ứng dụng CNTT vào dạy học gồm: đề án “Giáo dục tin học” do tác giả Đinh Gia Phong chủ trì, đề tài cấp Bộ “Tin học và sử dụng máy tính điện tử
trong dạy học” do tác giả Lê Công Triêm chủ trì, đề tài “Giáo dục tin học” do tác
giả Hồ Ngọc Đại chủ trì Những nghiên cứu này đã tiếp cận và góp phần định hướng rõ hơn cho việc ứng dụng CNTT vào từng môn học cụ thể
Giáo trình “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học” của tác giả Đỗ Mạnh Cường do nhà xuất bản Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2007 đã bước đầu trang bị cho GV cách hiểu về việc sử dụng CNTT trong dạy học như thế nào Tác giả đã giới thiệu về các mô hình dạy học với máy tính, cách sử dụng máy tính để phục vụ cho bài giảng của GV và bước đầu hướng dẫn một số biện pháp thiết kế bài học theo mô hình mới, tiếp cận các kĩ thuật cao hơn trong việc sử dụng trình chiếu vào dạy học
Tác giả Ngô Anh Tuấn trong giáo trình “công nghệ dạy học” (2012) đã tóm tắt quá trình phát triển của công nghệ dạy học, trong đó nhấn mạnh “dạy học là một
Trang 14đưa ra các biện pháp để thiết kế bài giảng điện tử và phần mềm dạy học, trình bày cách thức ứng dụng công nghệ dạy học vào thiết kế bài giảng, bài giảng điện tử và phần mềm dạy học Trong đó nhấn mạnh đến qui trình thiết kế, biện pháp kỹ thuật
và các điểm cần lưu ý khi thiết kế một bài học có ứng dụng CNTT
Nguyễn Chí Thuận trong “Ứng dụng CNTT & TT kết hợp sách bài tập để đổi mới phương pháp DHLS ở trường THPT” thông qua khảo sát thực tế đã đưa ra những kết luận về thực trạng ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung, từ đó tác giả cũng đề xuất một số biện pháp để sử dụng CNTT một cách hiệu quả khi ứng dụng vào soạn giảng các bài giảng điện tử
Đối với việc giảng dạy môn Lịch sử trong các trường đại học cũng đã có nhiều bộ sách hướng dẫn cho sinh viên sư phạm những kĩ năng, kiến thức cần thiết nhất để có thể sẵn sàng ứng dụng những sự tiến bộ của khoa học công nghệ vào dạy học lịch sử
Bắt đầu từ những năm đầu thế kỉ 21, DHLS nói riêng đã bắt đầu nhắc đến Powerpoint, violet như một thuật ngữ quen thuộc trong quá trình dạy học Có thể kể đến là bộ giáo trình “Phương pháp DHLS” của Phan Ngọc Liên (chủ biên) và “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn Lịch sử” của Nguyễn Thị Côi (chủ biên) Các giáo trình này đã đưa ra những yêu cầu, quy trình thiết kế và tiêu chí đánh giá bài giảng điện tử
Cuốn “Ứng dụng CNTT trong đổi mới PPDH và kiểm tra đánh giá môn Sử”
do nhóm tác giả Trịnh Đình Tùng và Nguyễn Mạnh Hưởng biên soạn (2009) đề cập tới các vấn đề: tổng quan về đổi mới phương pháp DHLS ở trường THPT với sự hỗ trợ của CNTT, hướng dẫn GV các thao tác sử dụng một số công cụ, phần mềm trong DHLS và chia sẻ một số kinh nghiệm ứng dụng CNTT vào dạy học, kiểm tra đánh giá bộ môn
Trong giáo trình “phương pháp dạy học lịch sử ở trường trung hoc phổ thông” (2014) của Vũ Quang Hiển và Hoàng Thanh Tú, các tác giả đã đề cập đến nhiều phương pháp khác nhau nhằm nâng cao hiệu quả trong DHLS ở trường THPT Một trong những phương pháp đó là hướng dẫn học sinh tự học, tự nghiên cứu để hiểu và khắc sâu được kiến thức lịch sử của mình Các tác giả cũng giới
Trang 15thiệu, hướng dẫn một số phương pháp sử dụng CNTT trong phát triển năng lực tự học cho HS
Tác giả Nguyễn Mạnh Hưởng trong nhiều bài viết và công trình nghiên cứu của mình đã đi sâu vào hướng nghiên cứu ứng dụng CNTT vào DHLS Ví dụ như:
“Thiết kế và trình diễn trực quan bài giảng bằng Microsoft Power Point trong DHLS ở trường phổ thông”; “Đặc trưng của việc DHLS và con đường hình thành kiến thức cho HS với sự hỗ trợ của CNTT” đặc biệt là luận án Tiến sĩ: “Nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử ở trường THPT với sự hỗ trợ của CNTT” đã đi sâu nghiên cứu về vai trò, ý nghĩa của việc ứng dụng CNTT trong dạy học, đề xuất nhiều biện pháp ứng dụng CNTT trong các giờ học nội khóa, ngoại khóa để góp phần nâng cao hiệu quả bộ môn
Cho đến hiện nay, việc dạy học ứng dụng CNTT luôn được đề cập song song với việc nhằm định hướng phát triển năng lực cho người học Một trong những năng lực cốt lõi được đề cập đến là năng lực tự học (NLTH) Bàn về vấn đề này, có khá nhiều tài liệu (chủ yếu là các giáo trình, luận văn, đề tài nghiên cứu…) viết về
vấn đề “tự học” nói chung và “phát triển năng lực tự học” thông qua sử dụng CNTT
trong DHLS nói riêng CNTT được coi như một phương tiện, thiết bị trực quan trong DHLS, có vai trò quan trọng để đạt được mục tiêu giáo dục lịch sử
Trong cuốn “Phát triển kĩ năng tự học Lịch sử cho HS” của tác giả Nguyễn Thị Thế Bình đã đề cập đến một trong tám năng lực của HS cấp THPT Nội dung của cuốn sách đề cập một cách có hệ thống, toàn diện, nhiều vấn đề có liên quan đến DHLS nói chung, tự học Lịch sử của HS ở trường THPT nói riêng; lí giải một loạt vấn đề mà nhiều GV lịch sử quan tâm như những kĩ năng tự học lịch sử nào cần hình thành và phát triển cho HS? Làm thế nào để phát triển kĩ năng tự học cho HS trong DHLS?
Trong bài viết “Vận dụng công nghệ dạy học (TAM) trong dạy học môn lịch
sử ở trường THPT” của Hoàng Thanh Tú, tác giả đã khẳng định vai trò của công nghệ trong DHLS hiện nay Bài viết đã đề xuất 5 định hướng cơ bản trong việc sử dụng phương tiện công nghệ hỗ trợ hoạt động dạy và học môn Lịch sử ở trường
Trang 16kế nguồn tài liệu hỗ trợ, thiết kế câu hỏi, bài tập tương tác vào bài giảng (trình chiếu) để tổ chức dạy học trên lớp; đồng thời hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ, thiết kế thẻ nhớ nhân vật, sự kiện, khái niệm lịch sử và tạo ra các sản phẩm học tập với sự
hỗ trợ của các phần mềm thông dụng
Trong luận văn của Nguyễn Thị Yến với đề tài “Phát triển năng lực sử dụng
CNTT cho học sinh trong DHLS lớp 10 ở trường THPT”, tác giả đã đề xuất một số biện pháp sử dụng CNTT trong quá trình giảng dạy lịch sử nhằm phát huy tính tích cực, chủ động cho HS
Trong các tài liệu trên, các tác giả đã đề cập đến nhiều công cụ công nghệ được sử dụng trong DHLS và bước đầu có những chỉ dẫn cho GV và HS trong cách thức sử dụng các công cụ đó để nhằm thay đổi hình thức, phương pháp DHLS Tuy nhiên các nghiên cứu này chủ yếu mới dừng lại ở việc khai thác và sử dụng các công cụ đơn lẻ, độc lập hỗ trợ và phục vụ một mục tiêu nào đó trong quá trình dạy học, ít có sự liên kết với nhau Mặt khác, thực tế cho thấy rằng không thể chỉ sử dụng 1 công cụ nào đó mà đạt được mọi mục tiêu dạy học đề ra, do đó luôn cần kết hợp nhiều phương pháp khác nhau, nhiều công cụ khác nhau trong DHLS
Những tài liệu kể trên là cơ sở lí luận để tôi tiếp thu và thực hiện nghiên cứu này Tuy nhiên, những năm gần đây đã xuất hiện một số công cụ là các trang Web, phần mềm cho phép cả GV và HS cùng sử dụng, cùng phối hợp hoạt động để nâng
cao hiệu quả bài học đặc biệt là phát triển các năng lực cho học sinh Một trong
những công cụ như vậy là Padlet, tuy nhiên chưa chưa có tài liệu nào phân tích, hướng dẫn kĩ về việc sử dụng Padlet trong DHLS với tư cách là một công cụ dạy học Padlet vẫn còn xa lạ với nhiều giáo viên và học sinh vì thế những ưu điểm của Padlet chưa được phát huy trong quá trình DHLS ở trường THPT, đặc biệt là trong phát triển năng lực tự học cho học sinh Đây chính là vấn đề mà luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu, giải quyết và ứng dụng cho đối tượng HS ở trường THPT Hoa Lư A tỉnh Ninh Bình trong phần LSTG cận đại lớp 11
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng: Quá trình sử dụng Padlet trong DHLS thế giới cận đại để phát triển
năng lực tự học cho học sinh
Trang 173.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: luận văn tập trung vào nghiên cứu việc sử dụng Padlet nhằm
phát triển năng lực tự học lịch sử cho học sinh
- Về hình thức tổ chức dạy học: luận văn tập trung vào bài học nội khóa
- Về địa bàn khảo sát và thử nghiệm: tiến hành khảo sát các giáo viên lịch sử tại một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, khảo sát và thử nghiệm đối với học sinh khối 11 trường THPT Hoa Lư A tỉnh Ninh Bình
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn về vấn đề sử dụng Padlet trong
DHLS để phát triển năng lực tự học cho học sinh, luận văn nhằm khảo sát được
thực trạng, từ đó tìm ra biện pháp hướng tới việc nâng cao chất lượng DHLS tại trường THPT Hoa Lư A – Ninh Bình thông qua công cụ dạy học Padlet
Từ việc nghiên cứu và thiết kế nội dung bài học trên Padlet, tôi hi vọng có thể tạo ra một môi trường học tập mới với học sinh, đồng thời là cơ hội để tôi được chia sẻ với đồng nghiệp của mình một công cụ dạy học mới, từ đó thôi thúc cả giáo viên và học sinh dùng các công nghệ dạy học để nâng cao hiệu quả dạy học trong môn Lịch sử
Mặt khác bản thân tôi còn có mong muốn góp một phần nhỏ làm thay đổi tư duy nhận thức người học và đồng nghiệp môn học khác cho rằng môn Lịch sử là môn học “phụ”, với nội dung kiến thức hết sức khô khan, khó nhớ đưa lịch sử đến gần với học sinh hơn, kích thích các em chủ động, sáng tạo hơn trong học tập
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu
+ Tìm hiểu các vấn đề cơ bản liên quan đến Padlet: Padlet là gì, ưu điểm và hạn chế của Padlet, khả năng ứng dụng Padlet trong dạy học nói chung và DHLS nói riêng, những thuận lợi và khó khăn, những lưu ý khi sử dụng công cụ Padlet trong quá trình dạy học
+ Tìm hiểu các vấn đề cơ bản liên quan đến dạy học phát triển tự học cho
Trang 18- Tìm hiểu thực tiễn việc sử dụng CNTT (trong đó có Padlet) tại trường phổ
thông nói chung và trường THPT Hoa Lư A nói riêng nhằm phát triển năng lực tự
học cho học sinh
- Tìm hiểu nội dung chương trình sách giáo khoa lịch lịch sử lớp 11 phần lịch
sử thế giới hiện đại
- Đề xuất quy trình thiết kế và một số biện pháp sử dụng Padlet trong DHLS nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
- Thử nghiệm sư phạm tại trường THPT Hoa Lư A
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở phương pháp luận
Dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam về lịch sử, giáo dục lịch sử trong trường THPT
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Nghiên cứu lý thuyết
Đọc và phân tích các tài liệu lịch sử, các tài liệu về lý luận và PPDH, các tài liệu về tâm lý học, tài liệu về lý luận dạy học bộ môn Lịch sử; các bài báo, bài viết, các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
5.2.2 Nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: quan sát thái độ của học sinh trong giờ học qua Padlet, đánh giá năng lực tự học của học sinh 11 ở trường THPT Hoa Lư A
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn: sử dụng phiếu khảo sát, phiếu phỏng vấn tìm hiểu thực trạng sử dụng CNTT để phát triển năng lực tự học lịch sử cho học sinh
- Phương pháp thử nghiệm: thử nghiệm các biện pháp sử dụng Padlet trong DHLS thế giới cận đại lớp 11 tại trường THPT Hoa Lư A tỉnh Ninh Bình
- Phương pháp thống kê toán học: xử lý, thống kê, phân tích số liệu thống kê được trong quá trình thử nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi và tính hiệu quả của các biện pháp đã đề ra
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Đóng góp lí luận về việc sử dụng Padlet trong dạy học nói chung và DHLS nói riêng ở trường THPT nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
Trang 19- Ý nghĩa thực tiễn: đề tài là nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên, GV môn Lịch sử và bản thân tác giả trong quá trình DHLS ở trường THPT
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng Padlet nhằm phát triển
năng lực tự học phần lịch sử thế giới cận đại lớp 11 ở trường phổ thông
Chương 2: Một số biện pháp sử dụng Padlet nhằm phát triển năng lực tự học
phần lịch sử thế giới cận đại lớp 11 tại trường THPT Hoa Lư A – Ninh Bình Thử nghiệm sư phạm
Trang 20CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PADLET ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm về Padlet
Padlet là một ứng dụng internet miễn phí, được cấu trúc thành 1 trang như
một “bức tường ảo”, cho phép người dùng trình bày bất cứ một chủ đề nào đó một
cách dễ dàng Người dùng có thể trình bày nội dung (hình ảnh, video…) theo ý tưởng của mình ở bất cứ vị trí nào trên trang Padlet
Padlet được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau đặc biệt là trong giáo dục Giáo viên có thể sử dụng Padlet như một công cụ dạy học trực tuyến trong đó
có khả năng tích hợp nhiều ứng dụng khác, công cụ khác nhằm đạt được mục tiêu giáo dục cả về kiến thức, kĩ năng, thái độ và dần phát triển năng lực cho học sinh, đặc biệt là năng lực tự học
Padlet được coi là một trong những ứng dụng được sử dụng phổ biến trong các trường học trên thế giới, nhất là ở các nước tiên tiến Với ưu thế của mình, Padlet tạo sự tương tác giữa người dạy và người học, tương tác giữa người học với người học, cùng nhau chia sẻ kiến thức kinh nghiệm trong quá trình nghiên cứu hoặc học tập…
1.1.1.2 Khái niệm về “năng lực ”
Khái niệm năng lực có nguồn gốc Latinh “competentia” có nghĩa là “gặp gỡ” Trong tiếng Anh, khái niệm năng lực hay khả năng tương ứng với các thuật ngữ “competence”, “ability” hay “capability”
Có rất nhiều định nghĩa về “năng lực ” và khái niệm này thu hút sự quan tâm
của rất nhiều nhà nghiên cứu Trong phạm vi nghiên cứu này, xin được nêu ra một
số khái niệm như sau
Trang 21Theo quan điểm của những nhà tâm lý học, “năng lực” là tổng hợp các đặc
điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt
động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao Các năng lực
hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân mới đóng vai trò quan
trọng, năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, phần lớn do
công tác, do tập luyện mà có
Theo từ điển của Đại học Harvard thì “năng lực”, theo thuật ngữ chung nhất,
là “những thứ” mà một người phải chứng minh có hiệu quả trong việc làm, vai trò,
chức năng, công việc, hoặc nhiệm vụ Theo cách hiểu này, “năng lực” không thể
đánh giá bằng những gì ở bên trong con người như kiến thức, kĩ năng, thái độ mà
chỉ có thể đánh giá được thông qua hành động Năng lực được xác định thông qua
các nghiên cứu về việc làm và vai trò công việc
Trong nhiều nghiên cứu gần đây về đào tạo theo năng lực (Competency
Based Training - BT) Nguyễn Đức Trí và một số tác giả dịch 2 thuật ngữ competence và competency đều là NLTH theo nghĩa lắp ghép với từ performance -
sự thực hiện trong cụm từ “perform a task” để nhấn mạnh đến ý nghĩa “thực hiện/thực hành” Từ đó, định nghĩa NLTH đều gắn với “khả năng” như NLTH
là khả năng thực hiện được các nhiệm vụ, công việc trong nghề theo các tiêu chuẩn đặt ra đối với từng nhiệm vụ, công việc đó [20; tr.151]
Theo tác giả Weinert (2001), “Năng lực được thể hiện như một hệ thống khả
năng, sự thành thạo hoặc những kĩ năng thiết yếu, có thể giúp con người đủ điều kiện vươn tới một mục đích cụ thể”
Tác giả người Mĩ McLagan hiểu năng lực “là một tập hợp những kiến thức,
thái độ, kĩ năng hoặc cách chiến lược tư duy mà tập hợp này là cốt lõi và quan trọng cho việc tạo ra những sản phẩm đầu ra quan trọng”
Tác giả Meier và Nguyễn Văn Cường thì cho rằng “năng lực là khả năng
thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong các tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động”[24; tr.39]
Trang 22Theo từ điển tiếng Việt “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó Năng lực là phẩm chất tâm lý và
sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”
Tuy các tác giả đưa ra những nhận định khác nhau về năng lực nhưng có một điểm chung đó là: nói đến năng lực là nói đến khả năng thực hiện, khả năng hành
động, biết làm chứ không chỉ là biết và hiểu
Từ nhiều khái niệm trên, có thể hiểu “Năng lực là khả năng làm chủ những
hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ và vận hành chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống” 1.1.1.3 Khái niệm về “năng lực tự học”
Cũng giống như năng lực, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm
năng lực tự học (NLTH) của nhiều tác giả, ở nhiều khía cạnh nghiên cứu và trong
từng thời kì khác nhau
Trong lịch sử giáo dục, tự học là một khái niệm được đề cập rất sớm thường được sử dụng với ý nghĩa là người học tự giác, chủ động thực hiện các hoạt động học tập của mình Khái niệm NLTH là khả năng người học thực hiện các hoạt động
tự học Do vậy khi nói đến tự học và năng lực tự học một số tác giả coi đó là hai khái niệm có chứa cùng một nội dung Trong nghiên cứu của mình khi xác định tổng quan vấn đề NLTH chúng tôi cũng xuất phát từ khái niệm tự học và đôi lúc cũng được hiểu như là NLTH
Ở Việt Nam hoạt động tự học được chú ý từ thời phong kiến khi mà giáo dục chưa phát triển NLTH được ghi nhận ở từng cá nhân kiệt xuất, tự học thành tài Đến thời kì thực dân Pháp đô hộ giáo dục nước ta vẫn còn rất hạn chế, phương pháp dạy học vẫn chỉ là truyền thụ kiến thức một chiều, người học chỉ cần học thuộc lòng, cần ghi nhớ chính xác nội dung mà không cần quan tâm đến việc vận dụng kiến thức đó trong cuộc sống như thế nào Vấn đề tự học, NLTH vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu Khi nền giáo dục cách mạng ra đời (1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên phát động nghiên cứu và nêu cao tấm gương về tinh thần tự học cũng như phương pháp dạy học Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Bác viết
Trang 23“… phải lấy tự học làm cốt” Thời kì ấy tự học không phải chỉ là định hướng cho con người vượt qua khó khăn của đời sống hiện tại mà còn là chú trọng nâng cao trình độ của bản thân để đáp ứng với thế giới ngày càng đổi mới và nhân dân Việt Nam ngày càng tiến bộ Tự học được xác định là một nhiệm vụ chính trị
Từ những năm 90 của thế kỉ XX những nghiên cứu về tự học đã được nhiều tác giả trình bày trực tiếp hoặc gián tiếp trong các công trình tâm lí học, giáo dục học, phương pháp dạy học bộ môn Một số tác giả có công trình tiêu biểu là tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, Trịnh Quốc Lập, Thái Duy Tuyên, Trần Bá Hoành…
Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Năng lực tự học được hiểu là một
thuộc tính kỹ năng rất phức hợp Nó bao gồm kỹ năng và kĩ xảo cần gắn bó với động cơ và thói quen tương ứng, làm cho người học có thể đáp ứng được những yêu cầu mà công việc đặt ra” [Nguyễn Cảnh Toàn (2002), Học và dạy cách học; Nguyễn Cảnh Toàn (2009), Tự học như thế nào cho tốt) Năng lực tự học là sự bao
hàm cả cách học, kỹ năng học và nội dung học: “Năng lực tự học là sự tích hợp
tổng thể cách học và kỹ năng tác động đến nội dung trong hàng loạt tình huống – vấn đề khác nhau” [Nguyễn Cảnh Toàn (2009), Tự học như thế nào cho tốt]
Như vậy, các tác giả tuy trình bày quan điểm theo cách khác nhau nhưng nhìn chung đều cho rằng NLTH không đơn thuần là việc người học thu nhận được
gì từ kiến thứ, kĩ năng, thái độ mà nười học còn có khả năng vận dụng những điều
đã được học đó vào trong thực tế, có khả năng xử lý các tình huống phát sinh trong cuộc sống NLTH là những khả năng và kĩ xảo của người học được vận dụng từ bài học sang thực tế Vì vậy NLTH không phải chỉ hình thành từ những bài vở, chương trình môn học hay những lí thuyết đơn thuần mà nó là sự tổng hợp của nhiều yếu tố
từ gia đình, trong nhà trường và ngoài xã hội Để đánh giá NLTH của người học thì người dạy phải tạo ra cơ hội, trao cơ hội cho người học để người học được trải nghiệm, được thử thách Khi đó, người học sẽ vận dụn những gì đã có của mình để giải quyết các vấn đề phát sinh đó Người nghiên cứu sẽ đánh giá được khả năng nhận thức, kĩ năng thực hiện và những giá trị tình cảm của người học Định nghĩa về tự học cũng được thay đổi theo thời gian tùy thuộc vào bối cảnh nghiên cứu và trọng tâm
Trang 24Như vậy, tự học không có nghĩa chỉ là việc học ngoài giờ lên lớp, mà tự học
ở đây còn là hoạt động học diễn ra trên lớp dưới sự hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo của người thầy, người học phải động não, tìm tòi, phát hiện, phân tích, khái quát để chiếm lĩnh tri thức khoa học bằng chính tư duy của mình Có thể nói, khả năng tự học luôn tiềm ẩn trong mỗi con người và điều quan trọng trong dạy học là giáo viên phải biết khơi dậy khả năng này của học sinh Như vậy để hoạt động học có hiệu quả, quá trình tổ chức dạy học phải làm cho hoạt động của học sinh chuyển sang tự học
1.1.1.4 Khái niệm về “phát triển năng lực tự học ” trong dạy học lịch sử
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “phát triển” là phạm trù triết học chỉ
ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới Phát triển là một thuộc
tính của vật chất Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong trạng
thái khác nhau từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong, nguồn gốc của phát triển là sự
thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập”
Như vậy, khái niệm phát triển là chỉ sự thay đổi từ cái cũ sang cái mới theo chiều hướng tích cực của sự vật, hiện tượng, trên mọi phương diện, lĩnh vực khác nhau Ở trong đề tài này, chỉ đề cập đến phát triển trong giáo dục mà cụ thể là phát triển NLTH cho học sinh trong giảng dạy Lịch sử
NL là sự tổng hợp các yếu tố như kiến thức, kĩ năng, thái độ để giải quyết một tình huống trong thực tế cuộc sống NLTH là khả năng người học tự chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, thái độ bằng những biện pháp, hình thức do mình tự khám phá
ra Do đó, phát triển NLTHLS là là trên cơ sở hình thành NLTH cho HS, GV phát triển NLTH cho HS bằng cách thường xuyên tiến hành luyện tập giúp HS nhận thức sâu sắc kiến thức về PP TH, vận dụng thành thục các KN và có sự say mê tích cực trong học tập Sự tác động sư phạm này sẽ làm NL của HS thay đổi theo chiều hướng tích cực
Năng lực tự học của mỗi người được biểu hiện thông qua tính cách và phương pháp học tập của mỗi người Trong học tập lịch sử, NLTH được biểu hiện đầu tiên ở việc đam mê, thích tìm tòi những kiến thức về lịch sử Người có NLTH môn lịch sử thường chủ động hoàn thành các kế hoạch của mình theo dự định Thêm vào đó là có khả năng thu thập tư liệu lịch sử, tổng hợp, phân tích, so sánh, đánh giá và vận dụng những bài học đó trong thực tiễn
Trang 25Trong chương trình giáo dục phổ thông mới môn lịch sử do BGD&ĐT ban hành ngày 25/12/2018 có xác định rõ các năng lực cần hình thành trong môn lịch sử
là tìm hiểu lịch sử, nhận thức và tư duy lịch sử, vận dụng kiến thức kĩ năng đã học
[14;tr.7] Mỗi năng lực lịch sử này lại có những biểu hiện riêng
Năng lực tìm hiểu lịch sử được biểu hiện bằng khả năng nhận diện được các
loại hình tư liệu lịch sử; hiểu được nội dung, khai thác và sử dụng được tư liệu lịch
sử trong quá trình học tập; Tái hiện và trình bày được dưới hình thức nói hoặc viết diễn trình của các sự kiện, nhân vật, quá trình lịch sử từ đơn giản đến phức tạp; xác định được các sự kiện lịch sử trong không gian và thời gian cụ thể
Năng lực nhận thức và tư duy lịch sử được biểu hiện bằng khả năng giải
thích được nguồn gốc, sự vận động của các sự kiện lịch sử từ đơn giản đến phức tạp; chỉ ra được quá trình phát triển của lịch sử theo lịch đại và đồng đại; so sánh sự tương đồng và khác biệt giữa các sự kiện lịch sử, lí giải được mối quan hệ nhân quả trong tiến trình lịch sử; Đưa ra được những ý kiến nhận xét, đánh giá của cá nhân
về các sự kiện, nhân vật, quá trình lịch sử trên cơ sở nhận thức và tư duy lịch sử; hiểu được sự tiếp nối và thay đổi của lịch sử; biết suy nghĩ theo những chiều hướng khác nhau khi xem xét, đánh giá, hay đi tìm câu trả lời về một sự kiện, nhân vật, quá trình lịch sử
Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học biểu hiện ở khả năng rút ra
được bài học lịch sử và vận dụng được kiến thức lịch sử để lí giải những vấn đề của thực tiễn cuộc sống; trên nền tảng đó, có khả năng tự tìm hiểu những vấn đề lịch sử, phát triển năng lực sáng tạo, có khả năng tiếp cận và xử lí thông tin từ những nguồn khác nhau, có ý thức và năng lực tự học lịch sử suốt đời
Như vậy, dù là phát triển thành phần nào của năng lực lịch sử thì cũng không thể bỏ qua năng lực tự học lịch sử Do đó việc phát triển năng lực tự học lịch sử cho
học sinh là một điều tối cần thiết, nhất là trong bối cảnh thế giới mở như ngày nay
1.1.2 Quan niệm về sử dụng Padlet nhằm phát triển năng lực tự học trong dạy học lịch sử
1.1.2.1 Sử dụng Padlet là làm gì ?
Trang 26Với vai trò là “bức tường ảo”, các bảng thông báo trực tuyến, Padlet là nơi
có thể đăng nhiều thông tin khác nhau để chia sẻ với người khác Người dùng có thể thêm các mục như hình ảnh, liên kết tới trang web, tệp, video, bản vẽ và tệp thoại cũng như người đóng góp của bạn cũng có thể thêm chúng Hoặc hiểu theo cách khác, sử dụng Padlet để tạo ra một môi trường giao tiếp trực tuyến mà trong đó mọi thành viên tham gia có thể trình bày ý kiến, quan điểm, chia sẻ thông tin của mình bằng nhiều kênh tư liệu khác nhau Trong quá trình ấy, người dùng có thể cùng hợp tác, trao đổi và hoàn thiện nhiệm vụ theo yêu cầu một cách hiệu quả nhất Mặt khác người dùng có thể đóng góp ý kiến, nhận xét, đánh giá, bày tỏ cảm xúc đối với những thông tin mà người khác cung cấp trên Padlet Điều đặc biệt là tất cả những ý tưởng
ấy đều có thể trình bày một cách sáng tạo nhất và chia sẻ công khai với mọi người
Padlet có thể dùng trong nhiều lĩnh vực khác nhau từ kinh tế, chính trị, văn hóa đặc biệt là trong giáo dục Trong xu thế giáo dục mở hiện nay, với phương châm “học mọi lúc, học mọi nơi” và “trong việc học, lấy tự học làm cốt” theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì Padlet có thể coi là một lớp học ý tưởng để tạo
Sử dụng Padlet chính là sử dụng một công cụ công nghệ để phục vụ cho mục đích trao đổi, học tập hay làm việc của người dùng Với khả năng tích hợp cao, Padlet cho người dùng được tự do trải nghiệm bằng các trí tưởng tượng và thao tác
kĩ thuật của riêng mình
1.1.2.2 Sử dụng Padlet trong dạy học lịch sử là làm gì ?
Trang 27Với tác động của xu thế toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ như vũ bão của cách mạng khoa học công nghệ đang đặt ra cho ngành giáo dục nói chung và bộ môn lịch sử nói riêng nhưng bài toán mang tính chất thời đại Lịch sử thường bị coi
là đơn điệu, khô khan, mang đặc thù là những gì đã diễn ra trong quá khứ không thể khôi phục lại được, người học chỉ có thể tưởng tượng, hình dung qua ngôn ngữ và các công cụ dạy học của giáo viên Trong nhiều năm qua, Lịch sử luôn đối mặt với những đánh giá trái chiều, thiếu thiện chí từ phía dư luận xã hội và ngay chính từ học sinh Vì vậy việc đổi mới DHLS là điều tất yếu để có thể nâng cao hiệu quả giảng dạy
Padlet trong DHLS được coi là một công cụ hữu hiệu nhưng chưa thực sự phổ biến Với Padlet, giáo viên có thể giúp học sinh tổ chức một giờ học trực tuyến trong
đó hoàn toàn sử dụng thế mạnh của công nghệ hiện đại Bằng cách tạo ra trang Padlet theo ý riêng của mình với những màu sắc, khung thiết kế, hình ảnh, video bản thân giờ học lịch sử đã không còn nhàm chán như lớp học truyền thống nữa
Giáo viên hoàn toàn có thể tổ chức mọi hoạt động cho học sinh như trên lớp học thông thường từ hoạt động khởi động, hình thành kiến thức, củng cố, luyện tập ,
mở rộng và vận dụng Trong quá trình thiết kế và tổ chức các hoạt động cho học sinh trên trang Padlet, GV đã đảm nhiệm vai trò là người dẫn dắt, hướng dẫn HS tự học, tránh được tình trạng truyền thụ 1 chiều, nặng về cung cấp kiến thức
Từ Padlet, GV giúp HS tiếp cận với các nguồn tư liệu khác nhau và đảm bảo
sự công bằng đối với học sinh HS sau khi tham khảo, tiếp cận tư liệu sẽ có đánh giá, nhận xét riêng của mình cho từng vấn đề lịch sử Các em không chỉ tự trình bày quan điểm của mình mà còn chia sẻ với các bạn khác và biết được quan điểm của các bạn về vấn đề đó Như vậy HS vừa tự học thông qua sự hướng dẫn của GV lại vừa tự học thông qua chính các HS
Với Padlet, HS có thể hợp tác với nhau để cùng hoàn thành nhiệm vụ nhóm trong bài học lịch sử Ở đó, các em có thể tự tìm tư liệu, tự thiết kế nội dung hoặc hoàn thành theo mẫu GV đã cung cấp để có được kết quả trong bài học lịch sử Đây
là quá trình HS thể hiện rõ nhất sự sáng tạo, tư duy độc lập của mình Khi các nhóm
Trang 28sản phẩm là 1 ý tưởng riêng, màu sắc riêng, cá tính riêng Như vậy, không chỉ phát
huy được năng lực tự học cho HS mà Padlet còn tạo điều kiện cho HS phát triển nhiều năng lực chung và năng lực chuyên biệt khác
Một nội dung đáng chú ý trong Lịch sử là quan điểm của các cá nhân khi đánh giá về các sự kiện, hiện tượng hay nhân vật lịch sử Bằng cách học tập trên Padlet, HS có điều kiện trình bày quan điểm của mình mà ít bị tác động của các yếu
tố khách quan bên ngoài Từ đó, GV có thể đánh giá, học sinh một cách tương đối toàn diện hơn
Mặt khác, việc sử dụng thành thạo và tối ưu hóa tác dụng của Padlet cũng
góp phần hình thành năng lực sử dụng CNTT cho học sinh Đây là một trong những
năng lực chung cần thiết trong thế kỉ XXI
1.1.2.3 Yêu cầu khi sử dụng Padlet
Padlet là một công cụ dạy học trực tuyến nên khi GV sử dụng Padlet cũng chính là sử dụng CNTT trong dạy học Chính vì vậy việc sử dụng Padlet trước hết cần tuân thủ các yêu cầu giống như khi sử dụng CNTT vào dạy học nói chung và DHLS nói riêng Dựa vào một số nghiên cứu khác nhau, có thể kể ra một số yêu cầu
cơ bản như sau:
Thứ nhất là yêu cầu về mặt nội dung kiến thức
Người GV khi sử dụng và hướng dẫn học sinh sử dụng Padlet trong dạy và học môn Lịch sử cần đảm bảo những yêu cầu về nội dung kiến thức sau:
- Nội dung kiến thức phải đảm bảo tính chính xác, khoa học và hệ thống Đặc thù của môn Lịch sử là tìm hiểu về những sự kiện, hiện tượng đã diễn ra trong quá khứ Chính vì vậy, nhiệm vụ của môn Lịch sử là phải khôi phục được bức tranh trong quá khứ đó một cách chân thực, chính xác nhất Lịch sử thì chỉ có một nhưng cách nhìn nhận lịch sử thì có rất nhiều Do đó, GV phải cung cấp cho HS các nội dung và tư liệu chính xác, khoa học, đảm bảo về quan điểm và phương pháp luận
Khi thiết kế các hoạt động học tập trên Padlet, GV phải căn cứ vào mục tiêu, cấu trúc, nội dung từng bài học và bám sát sách giáo khoa để lựa chọn tư liệu, hình ảnh, thông tin cho phù hợp Với sự bùng nổ của Internet trong những năm gần đây,
có thể thấy rằng các tư liệu lịch sử trên mạng vô cùng phong phú và sống động
Trang 29Điều này một mặt tạo ra thuận lợi cho HS trong việc nghiên cứu, tìm hiểu lịch sử vì được tiếp cận với nhiều nguồn tư liệu khác nhau Nhưng mặt khác, việc có quá nhiều tài liệu tham khảo mà không chính thống, không được xác minh lại dễ gây cho học sinh có những cái nhìn sai lệch về lịch sử, nhất là trong bối cảnh các thế lực thù địch đang thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình như hiện nay
Để khắc phục tình trạng trên, GV phải biết lựa chọn và hướng dẫn HS tiếp cận các thông tin chính thống, nắm vững được quan điểm chính trị và tư tưởng trong nhìn nhận, đánh giá Khi giao nhiệm vụ học tập cho HS hoạt động, GV luôn
có hướng dẫn cụ thể, chi tiết giúp HS xác định được kiến thức cơ bản một cách ngắn gọn, xúc tích, cô đọng nhưng vẫn không làm mất đi giá trị lịch sử trong đó Gv cũng phải hướng dẫn HS để tránh việc HS chỉ sao chép lại những gì có trong SGK một cách dàn trải, lan man, thiếu trọng tâm
Tóm lại, việc đảm bảo tính chính xác, khoa học và hệ thống trong kiến thức lịch sử không chỉ là nguyên tắc giáo dục mà còn là biện pháp quan trọng hàng đầu
để thực hiện một bài học lịch sử hiệu quả, đảm bảo cả về kiến thức, kĩ năng, thái độ
và qua đó phát triển năng lực cho HS
- Sử dụng Padlet phải đảm bảo tính cụ thể, sinh động và giàu hình ảnh
Theo Lê nin, con đường của nhận thức là “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng trở về thực tiễn” Tuy nhiên với môn lịch sử, HS không thể trực tiếp được chứng kiến các sự kiện, hiện tượng lịch sử đã xảy ra mà chỉ có thể tái hiện lại thông qua các tư liệu Việc sử dụng Padlet trong DHLS sẽ góp phần tái hiện một cách sinh động và chân thực những gì đã diễn ra Để làm được điều đó, đòi hỏi GV phải có sự chọn lọc, định hướng đối với HS khi sử dụng các tư liệu, hình ảnh, âm thanh, video liên quan đến bài học Cần đặc biệt chú ý việc lạm dụng CNTT có thể dẫn đến việc hiện đại hóa lịch sử, làm mất đi hiệu quả của bài học Do đó, khi GV hướng dẫn HS thiết kế các sản phẩm học tập cần đảm bảo hình ảnh phong phú, sinh động nhằm kích thích tư duy tưởng tượng của HS, đưa HS về gần với lịch sử hơn
- Sử dụng Padlet phải đảm bảo tính tư tưởng, thẩm mĩ
Trang 30Trong dạy học nói chung và DHLS nói riêng, người GV cần hướng đến mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, thái độ, để từ đó hình thành năng lực cho học sinh Thông qua nhận thức lịch sử, người học hình thành tình cảm, thái độ đối với các vấn đề trong cuộc sống, từ đó giúp người học hướng đến cái “Chân, Thiện, Mĩ”, sống nhân văn, trách nhiệm hơn Việc sử dụng các công cụ, phần mềm để dạy học như Padlet cần đảm bảo lập trường quan điểm chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Do đó, trong quá trình dạy học, GV phải chú ý đảm bảo tính tư tưởng, thẩm mĩ cho nhận thức của HS
Thứ hai, yêu cầu về phương pháp dạy học
Trong quá trình dạy học, người GV sử dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau nhưng dù phương pháp nào đi nữa thì cũng đều nhằm mục đích phát huy tính sáng tạo, độc lập, tự chủ của học sinh Nhất là trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, việc sử dụng CNTT (trong đó có Padlet) vào DHLS là một điều hợp với
xu thế thời đại và sự phát triển của giáo dục Tuy nhiên trong quá trình sử dụng, GV phải biết kết hợp các PPDH khác nhau, dung lượng khác nhau sao cho phù hợp với nội dung và hình thức dạy học Sử dụng Padlet trong DHLS cần tuân thủ một số nguyên tắc sau đây:
- Phải giúp HS nắm vững kiến thức của bài học
- Phải thể hiện tính vừa sức với HS tùy thuộc vào điều kiện và trình độ của mỗi đối tượng HS mà GV sử dụng phương pháp khác nhau và đưa ra những yêu cầu phù hợp
- Phải góp phần phát triển tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS
Muốn làm được những điều đó GV cần biết tổ chức các hoạt động, kết hợp
sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để đạt hiệu quả trong giờ học, phát huy được tính chủ động, tích cực của HS
Thứ 3, yêu cầu về kiểm tra đánh giá
Kiểm tra, đánh giá (KTĐG) được coi là khâu cuối cùng trong quá trình dạy học KTĐG cho phép người học nhìn lại được quá trình học tập của mình để có định hướng cho thời gian sau đó, đồng thời cũng giúp người dạy thấy được những thành công, hạn chế của mình trong quá trình giảng dạy để điều chỉnh cho phù hợp
Trang 31và có hiệu quả hơn KTĐG không chỉ thể hiện ở những bài kiểm tra định kì mà nó còn là cả một quá trình, thể hiện ở thái độ học tập, sự tiến bộ của HS, những sản phẩm của HS… Do đó, GV phải thường xuyên KTĐG xem HS lĩnh hội được gì để
có định hướng cho phù hợp
Khi sử dụng Padlet để dạy học LS, để có kết quả KTĐG tốt nhất, GV cần cung cấp cho học sinh nhiều công cụ đánh giá khác nhau, phù hợp với yêu cầu như các tiêu chí, rubrich, bản hướng dẫn đánh giá và tự đánh giá…
Thứ 4, yêu cầu về cơ sở vật chất, đội ngũ
Padlet là một công cụ dạy học trực tuyến, vì vậy yêu cầu quan trọng trong quá trình sử dụng là phải đảm bảo có máy tính hoặc điện thoại thông minh được kết nối mạng internet Điều này đòi hỏi sự quan tâm và tạo điều kiện của lãnh đạo các nhà trường và cũng đặt ra một bài toán thiết thực về cơ sở hạ tầng để áp dụng Padlet một cách phổ biến
Đối với GV, để có thể sử dụng Padlet vào dạy học nói chung và DHLS nói riêng, đòi hỏi GV phải có những hiểu biết và trình độ nhất định về việc sử dụng máy tính, ứng dụng CNTT trong dạy học GV cũng phải có khả năng sử dụng thêm một số phần mềm khác hỗ trợ cho Padlet để tránh sự nhàm chán, rời rạc, lẻ tẻ trong quá trình thiết kế
Để có thể giải quyết điều này, trước tiên các cấp quản lí cần có một cái nhìn tổng thể, chiến lược để xây dựng cơ sở vật chất phù hợp và tạo điều kiện, khuyến khích đội ngũ GV học tập nâng cao trình độ về PPDH Bản thân GV cũng phải có một sự thay đổi về tư duy nhận thức thực sự thì mới có khả năng biến những ý tưởng thành hiện thực
Trong quá trình sử dụng Padlet để DHLS, GV cần lưu ý đến nguyên tắc 3D
đó là “đúng lúc, đúng chỗ, đúng độ” Việc sử dụng phương pháp nào, công cụ nào, với tần suất như thế nào hoàn toàn phải phụ thuộc vào từng bài học, từng đối tượng
HS GV không chỉ sử dụng Padlet như một công cụ hỗ trợ giáo dục của mình mà phải làm sao để HS cũng sử dụng Padlet để thiết kế ra các sản phẩm học tập, như vậy mới phát huy được tính sáng tạo, độc lập của HS và đặc biệt là tạo điều kiện để các em có thể phát triển NLTH
Trang 321.1.3 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng Padlet nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh trong phần lịch sử thế giới cận đại lớp 11 ở trường phổ thông
1.1.3.1 Vai trò của Padlet
Thời đại hiện nay là thời đại bùng nổ thông tin, thời đại của cuộc cách mạng
khoa học kỹ thuật, vì vậy việc phát triển năng lực tự học cho HS trong dạy học nói
chung, DHLS ở trường phổ thông nói riêng là một yêu cầu cấp thiết Nhận thức được tầm quan trọng đó, Nghị quyết Trung ương II, khoá VIII khẳng định, phải
“đổi mới phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS”
Trong DHLS, Padlet có vai trò như một công cụ công nghệ mới để dạy học ở trường phổ thông Padlet cho phép cả GV và HS có thể thay đổi các thao tác đối với các tập tin của mình theo mong muốn Với việc người dạy và người học đều được
tự do sáng tạo thể hiện ý tưởng của mình thì Padlet như một sân khấu nghệ thuật mà
ở đó người Gv đóng vai trò là đạo diễn để HS trở thành diễn viên trong thực hiện nhiệm vụ của mình
Không chỉ là một công cụ công nghệ mới, Padlet còn là một diễn đàn để tích hợp nhiều công cụ khác như Imindmap, canva, kahoot… Sự tích hợp tạo cho Padlet
có sức hấp dẫn riêng đối với người học Bằng cách tạo ra sự tò mò, đam mê cho học
sinh thông qua các hình ảnh, sơ đồ, video, hiệu ứng…năng lực tự học của học sinh
đã được phát triển dần lên
Padlet không chỉ là một công cụ để GV cung cấp kiến thức cho HS mà nó còn là một công cụ vô cùng hiệu quả trong KTĐG Thông qua việc HS thực hiện các nhiệm vụ học tập của mình trên Padlet, GV có thể nắm bắt được thái độ, khả năng, sở trường của HS, từ đó có tác dụng rất lớn đối với việc đánh giá quá trình Không chỉ vậy, từ những sản phẩm được thực hiện và trình bày công khai trên “bức tường Padlet”, HS cũng có khả năng tự đánh giá mình và đánh giá bạn của mình Nhờ thế việc đánh giá được toàn diện và nhân văn hơn
1.1.3.2 Ý nghĩa
Trang 33Việc ứng dụng CNTT nói chung và Padlet nói riêng trong DHLS có rất nhiều
ý nghĩa khác nhau nhưng tựu chung đều có ý nghĩa cung cấp kiến thức, phát triển kĩ năng, giáo dục thái độ để từ đó định hướng phát triển năng lực cho HS
Thứ nhất, về mặt cung cấp kiến thức Padlet hoàn toàn có thể sử dụng trong suốt tiến trình dạy học nhằm cung cấp kiến thức cho học sinh Thông qua trang Padlet, GV cung cấp các sự kiện lịch sử, hình ảnh, tư liệu, video… giúp học sinh có cái nhìn tổng quan sinh động về lịch sử Quá trình này tránh được những hạn chế vốn có của việc dạy học một chiều như trong truyền thống HS được tiếp cận với lịch sử bằng trực quan sinh động nên lịch sử rõ nét và chân thực hơn Hỗ trợ việc tìm kiếm, sắp xếp, xử lý thông tin trong quá trình học tập cũng như hoàn thành các nhiệm vụ học tập Ví dụ như khi dạy mục 3 bài 1 “Nhật Bản” (SGK lịch sử 11), để chứng minh cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX Nhật Bản đã chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, theo cách dạy học truyền thống, GV thường yêu cầu học sinh trình bày tình hình của Nhật Bản trong giai đoạn này rồi GV kết luận chốt ý Bằng cách
đó, HS mới chỉ khai thác được tư liệu trong SGK, những kiến thức có được mang tính thụ động, thừa nhận Khi sử dụng Padlet để dạy học phần này, GV có thể cung cấp cho HS những tư liệu về Nhật Bản cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX thông qua các đánh giá, hình ảnh, lược đồ, bảng số liệu… từ đó GV yêu cầu HS hoàn thành phiếu học tập đánh giá về kinh tế, chính trị, đối ngoại của Nhật so với thời gian giữa thế kỉ XIX GV cũng giúp HS nhớ lại đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa đế quốc mà HS được học từ lớp 10 Như vậy HS tự nhận thấy ngay, Nhật Bản có đầy đủ đặc điểm của chủ nghĩa đế quốc có nghĩa là Nhật Bản đã chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc Như vậy, bằng cách này, kiến thức HS có được là do sự chủ động nhận thức của HS trong quá trình tìm tòi, phân tích, đánh giá Kết luận là do HS tự rút ra chứ không phải thừa nhận kết luận của GV Quá trình đó cũng chính là quá trình HS tự học lịch sử dưới sự hướng dẫn của GV thông qua Padlet
Thứ hai, Padlet còn góp phần phát triển kĩ năng cho học sinh Trong quá trình học tập HS tìm hiểu, trình bày, báo cáo sản phẩm học tập một cách dễ hiểu, sống động và thuyết phục qua Padlet Quá trình này giúp học sinh hình thành nhiều
Trang 34Ví dụ khi dạy mục 3 bài 3 “Trung Quốc” (SGK lịch sử 11), để tìm hiểu về cuộc cách mạng Tân Hợi và tính chất của nó, GV cung cấp trên Padlet lược đồ cách mạng, cho các từ khóa và yêu cầu học sinh tường thuật lại diễn biến cách mạng mà trong đó chứa đựng các từ khóa và thông tin đã cho trên lược đồ Ở phần đánh giá tính chất cách mạng, GV cung cấp cho HS các bảng so sánh về đặc điểm tính chất các cuộc cách mạng đã học ở lớp 10 với đặc điểm của cách mạng Tân Hợi về mục tiêu, người lãnh đạo, động lực, kết quả, xu hướng phát triển… Sau khi hoàn thành xong bảng so sánh, rõ ràng HS có thể nhận thấy điểm giống nhau của cách mạng Tân Hợi so với các cuộc cách mạng tư sản đã học Trong quá trình học tập, khi những nhiệm vụ như vậy cứ được làm đi làm lại, HS sẽ dần hình thành các kĩ năng
cơ bản như kĩ năng sử dụng lược đồ, kĩ năng tái hiện lịch sử, kĩ năng phân tích, so sánh, nhận định…
Thứ ba, Padlet còn góp phần giáo dục thái độ cho học sinh trong học tập môn Lịch sử Vì HS được tự mình tìm tòi, nghiên cứu để hiểu lịch sử dưới sự hướng dẫn của GV nên trong các em dần dần hình thành cảm xúc yêu, ghét rõ ràng đối với các
sự kiện hiện tượng LS Điều này được thể hiện thông qua các sản phẩm của các em
từ hình ảnh đến ngôn ngữ, âm nhạc… Theo các nhà nghiên cứu, khi nói về tác dụng của các giác quan trong việc thu nhận và lưu trữ thông tin được thể hiện trong bảng
số liệu dưới đây
Bảng 1.1 Vai trò của các giác quan trong việc thu nhận và lưu trữ thông tin
Giác quan Tỉ lệ thu nhận tri
Tỉ lệ lưu giữ tri thức (%)
Trang 35nghe và nhìn Quá trình này cũng là quá trình HS được hình thành cảm xúc, thái độ đối với lịch sử một cách tự nhiên nhất và rõ nét nhất
Ví dụ khi học về chiến tranh thế giới thứ nhất, trên Padlet, GV cung cấp lược
đồ các chiến trường, các số liệu thiệt hại cả về người và của ở cả 2 phe liên minh và hiệp ước, các hình ảnh, video về các trận chiến chính Thông qua những tư liệu lịch
sử sống động như vậy, chắc chắn học sinh được hòa vào không khí lịch sử thật hơn, cảm xúc thật hơn vì được tác động bằng trực giác từ âm thanh, hình ảnh, các sơ đồ
HS hiểu được sự phi nghĩa của chiến tranh để từ đó có thái độ, ý thức đối với việc duy trì hòa bình, sự bình yên trong cuộc sống
Từ việc cung cấp kiến thức, phát triển kĩ năng, giáo dục thái độ, Padlet đã
góp phần hình thành các năng lực cho học sinh bao gồm năng lực chung và năng
lực chuyên biệt trong Lịch sử Những năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các hoạt động giáo dục: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Những năng lực chuyên biệt
mà học sinh phát triển khi học tập qua Padlet là tìm hiểu lịch sử; nhận thức và tư duy lịch sử; vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học, thu thập và xử lí thông tin Đặc biệt Padlet còn góp phần giúp HS phát triển năng lực sử dụng CNTT trong tập lịch sử ở nhiều mức độ khác nhau từ dễ đến khó
Tóm lại, việc sử dụng Padlet trong DHLS mang lại rất nhiều ý nghĩa Với Padlet, HS được chủ động trong mọi hoạt động học tập của mình từ đó mang lại hiệu quả giáo dục đích thực hơn
1.1.4 Một số điểm hạn chế của Padlet
Trong quá trình sử dụng, bên cạnh những ưu điểm nổi bật đã nêu ở trên, Padlet vẫn có những hạn chế nhất định mà người sử dụng cần biết để khắc phục được
- Padlet là công cụ học tập trực tuyến nên muốn áp dụng yêu cầu bắt buộc là phải có thiết bị kết nối internet
- Khó có thể kiểm soát được thông tin, HS này có thể làm bài tập thay cho
HS khác (GV có thể phân công nhóm trưởng quản lý từng thành viên trong nhóm của mình)
Trang 36- Đòi hỏi học sinh phải có một số kiến thức nhất định về tin học (nhập văn bản, upload các tập tin, hình ảnh, nhúng các địa chỉ url lên tường của mình, ….)
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Nội dung, kết quả khảo sát thực tiễn việc sử dụng Padlet nhằm phát triển năng lực tự học lịch sử ở trường THPT Hoa Lư A
Về nội dung, luận văn tập trung khảo sát tìm hiểu về quan niệm của giáo viên
về vấn đề sử dụng CNTT trong đó có Padlet để phát triển năng lực tự học cho học sinh; thực trạng, những thuận lợi và khó khăn của vấn đề; đề xuất của giáo viên trong việc sử dụng CNTT để phát triển năng lực tự học lịch sử cho học sinh THPT
Từ đó, đề xuất và đưa ra một số biện pháp sử dụng Padlet trong DHLS nhằm phát triển năng lực tự học cho HS, nhất là HS khối 11 trong phần lịch sử thế giới cận đại Khảo sát này được thực hiện với 19 GV dạy môn LS chủ yếu ở trường THPT Hoa
Lư A và một số trường lân cận như THPT Gia Viễn B, THPT Yên Mô A, THPT Ngô Thì Nhậm, THPT Nguyễn Huệ
Về phương pháp, luận văn tiến hành khảo sát trực tuyến thông qua Google form đối với 19 GV LS ở các trường nêu trên và với 127 HS khối 11 trường THPT Hoa Lư A, Ninh Bình
Về kết quả, sau khi tiến hành khảo sát trực tuyến đối với GV và HS, kết quả thu được như sau:
Bảng 1.2 Khảo sát về sự cần thiết của CNTT trong dạy học LS
Trang 37những nội dung trong bài học 78,9% số GV cho rằng việc sử dụng CNTT là rất cần thiết, chứng tỏ số GV này đã từng sử dụng, sử dụng thành thạo hoặc sẵn sàng đổi mới để tiếp cận với nền giáo dục hiện đại hơn Còn 21,1% số GV cho rằng việc sử dụng CNTT ở mức độ cần thiết chứng tỏ nhóm GV này có thể chưa sẵn sàng để đổi mới phương pháp dạy học, có thể do hạn chế về trình độ CNTT, có thể do nhận thức họ đề cao các phương pháp truyền thống hơn Tuy nhiên 100% Gv được hỏi đều thừa nhận sự cần thiết của CNTT trong DHLS, điều đó có nghĩa cơ hội và khả năng ứng dụng CNTT đối với mọi GV là khả thi
Đối với HS, có đến 94,3% HS được khảo sát đều cho rằng việc sử dụng CNTT trong dạy học là cần thiết và rất cần thiết Điều này cho thấy, HS rất mong đợi sự đổi mới trong học tập môn Lịch sử ở trường THPt đặc biệt là những giờ học
có ứng dụng CNTT.Thực tế là các giờ học có sử dụng CNTT luôn nhận được sự hào hứng, phấn khởi của các em bởi tính hấp dẫn, trực quan sinh động mà các công
cụ này mang lại
Biểu đồ 1.1 Đánh giá của giáo viên về mức độ cần thiết phát triển năng lực tự
học cho học sinh
73.7
16.3
0 0
Trang 38Biểu đồ 1.2 Đánh giá của học sinh về mức độ cần thiết phát triển năng lực tự học
cho học sinh
60 28,8
11,2
Rất cần thiết Cần thiết Không cần thiết
Như vậy, kết quả khảo sát trên cho thấy hầu hết GV đã quan tâm và thấy được sự cần thiết của việc phát triển năng lực tự học cho HS Điều này chứng tỏ Gv bước đầu đã tiếp cận đến việc dạy học nhằm phát triển năng lực cho HS Trong bối cảnh hiện nay, khi nguồn thông tin về tri thức vô cùng đa dạng, phong phú thì năng lực tự học là một năng lực mấu chốt, cần thiết đối với mỗi người Đặc biệt với môn
LS, tri thức rất nhiều cho nên nếu chỉ trông chờ vào giờ học trên lớp thì không thể
đủ để HS lĩnh hội kiến thức một cách tối đa được
Đối với HS, 60% số HS được khảo sát đều cho rằng việc phát triển năng lực
tự học là rất cần thiết, 28,8% cho là cần thiết Thực tế đối với HS, việc tự học vẫn được tiến hành trong mọi hoàn cảnh, với mọi môn học Chỉ có điều việc tự học chưa được hướng dẫn một cách bài bản, khoa học và chưa thường xuyên Kết quả khảo sát cũng cho thấy HS đã đánh giá cao vai trò của tự học trong học tập nên từ đó quan tâm đến việc phát triển NLTH nói chung và NLTH môn Lịch sử nói riêng
Trang 39Bảng 1.3 Khảo sát về mức độ sử dụng các công cụ công nghệ thông tin của giáo
viên trong dạy học lịch sử
Tên công cụ
Mức độ sử dụng Thường xuyên Thỉnh thoảng Hiếm khi Chưa bao giờ
Số lượng Tỉ lệ%
Số lượng Tỉ lệ %
Số lượng
Tỉ lệ
%
Số lượng
Tỉ lệ
% Word (soạn
LS nói riêng và GV nói chung tại Ninh Binh Đây cũng là tình trạng chung của các
GV THPT đặc biệt là ở vùng nông thôn như trường THPT Hoa Lư A
Trang 40Biểu đồ 1.3 Mục đích sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học của giáo viên
Hình thức khác
3-D Column 1
Kết quả khảo sát trên cho thấy, GV đã sử dụng CNTT trong dạy học LS với nhiều mục tiêu khác nhau nhưng 100% là nhằm hướng dẫn HS học bài mới Như vậy rõ ràng có thể thấy rằng CNTT đã được các thầy cô chú ý đến trong quá trình giảng dạy và được thừa nhận những ưu thế của nó