Mặc dù từ Hiến pháp năm 1946 của nước ta đã có những quy định về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi nhưng phải đến năm 2013, sau 67 năm, Nghị định số 136/2013/NĐ-CP quy định chính sá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG MAI ANH
SO SÁNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG MAI ANH
SO SÁNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380101.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Thị Dung
Hà Nội – 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
NGƯỜI CAM ĐOAN
Hoàng Mai Anh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI VÀ PHÁP LUẬT TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI 11
1.1 Người cao tuổi và trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi 11
1.1.1 Người cao tuổi 11
1.1.2 Trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi 14
1.2 Pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi 20
1.2.1 Khái niệm pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi 20
1.2.2 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi 21 1.2.3 Nội dung pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi 25
1.3 Vai trò của pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi 30
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33
CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI CỦA VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN, TRUNG QUỐC DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH 34
2.1 Đối tượng người cao tuổi được trợ giúp xã hội 39
2.1.1 Việt Nam 39
2.1.2 Việt Nam và Nhật Bản dưới góc nhìn so sánh 42
2.1.3 Việt Nam và Trung Quốc dưới góc nhìn so sánh 43
2.2 Các chế độ trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi 44
2.2.1 Việt Nam 44
2.2.2 Việt Nam và Nhật Bản dưới góc nhìn so sánh 53
2.2.3 Việt Nam và Trung Quốc dưới góc nhìn so sánh 56
2.3 Nguồn tài chính thực hiện trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi 59
Trang 52.3.1 Việt Nam 59
2.3.2 Việt Nam và Nhật Bản dưới góc nhìn so sánh 61
2.3.3 Việt Nam và Trung Quốc dưới góc nhìn so sánh 62
2.4 Quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi 62
2.4.1 Việt Nam 62
2.4.2 Việt Nam và Nhật Bản dưới góc nhìn so sánh 64
2.4.3 Việt Nam và Trung Quốc dưới góc nhìn so sánh 65
2.5 Khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong lĩnh vực trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi 67
2.5.1 Việt Nam 67
2.5.2 Việt Nam và Nhật Bản dưới góc nhìn so sánh 68
2.5.3 Việt Nam và Trung Quốc dưới góc nhìn so sánh 69
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 72
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ RÚT RA TỪ VIỆC SO SÁNH VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM 74
3.1 Một số vấn đề rút ra từ việc so sánh pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi của Việt Nam và Nhật Bản, Trung Quốc 74
3.1.1 Những ưu điểm trong quy định của pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi của Nhật Bản, Trung Quốc 74
3.1.2 Những bất cập trong quy định của pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi của Việt Nam 75
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Nam 79
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 83
KẾT LUẬN 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề già hoá dân số đang tác động ngày càng mạnh mẽ tới nhiều mặt của sự phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia, đã và đang trở thành một vấn đề ngày càng thu hút sự quan tâm của Chính phủ các nước, các tổ chức trong khu vực, quốc tế cũng như các tổ chức Liên hợp quốc Liên hợp quốc đã ban hành nhiều điều ước quốc tế và khung hành động liên quan đến người cao tuổi cũng như thiết lập một số cơ chế quốc tế nhằm giám sát việc đảm bảo và thúc đẩy quyền của người cao tuổi cũng như trợ giúp người cao tuổi trên toàn thế giới Ở cấp khu vực, ASEAN cũng đã có các văn bản chung về vấn đề già
hoá và người cao tuổi
Theo quy luật tự nhiên, đến độ tuổi nhất định, do quá trình lão hóa nên con người sẽ già yếu, tâm sinh lý rối loạn, sức khỏe suy giảm, bệnh tật phát sinh dẫn đến mất dần khả năng lao động và thu nhập Trong khi đó, nhu cầu sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở,… không giảm, thậm chí còn tăng cao do phải chi trả chi phí khám chữa bệnh khi thường xuyên bị ốm đau, bệnh tật Nếu không có tiền bạc, của cải tích luỹ từ khi còn trẻ hoặc không được trợ giúp từ nhà nước và cộng đồng, con cái, thì họ khó bảo đảm và duy trì được đời sống hàng ngày Bởi thế, người cao tuổi được là một trong những nhóm người yếu thế trong xã hội
Trước tình hình đó, các nước trên thế giới nói chung đã đưa ra những chính sách pháp luật trợ giúp xã hội đối với nhóm người yếu thế trong xã hội nói chung, trong đó có người cao tuổi Ở Nhật Bản từ những năm 1960, Chính phủ đã ban hành các văn bản pháp luật về người cao tuổi nói chung và trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi nói riêng Hệ thống pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi ở Nhật Bản tương đối tiên tiến, hoàn chỉnh và là
Trang 7một trong những hệ thống pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi lớn trên thế giới Mặt khác, cùng trong khu vực Châu Á, Trung Quốc có thể chế chính trị tương đối giống với nước ta, cũng đã xây dựng hệ thống pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi từ những năm 1996 So hai nước trên,
hệ thống pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi của Việt Nam được xây dựng khá muộn Mặc dù từ Hiến pháp năm 1946 của nước ta đã có những quy định về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi nhưng phải đến năm 2013, sau 67 năm, Nghị định số 136/2013/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội, trong đó có người cao tuổi, được thông qua và chính thức có hiệu lực thi hành
Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực thi các biện pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người cao tuổi,
để họ có cuộc sống ngày càng đầy đủ về vật chất, phong phú về tinh thần, Đảng và Nhà nước Việt Nam không chỉ khẳng định sự tôn trọng và bảo vệ người cao tuổi mà còn làm hết sức mình để bảo đảm và thực hiện trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi trong thực tế Dưới góc nhìn so sánh với hai hệ thống pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi của Nhật Bản và Trung Quốc, chỉ ra điểm tương đồng, khác biệt để từ đó rút ra ưu điểm, điểm bất cập
và kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Nam
Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: "So sánh pháp luật Việt Nam
và pháp luật một số nước Châu Á về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi"
để làm đề tài luận văn Thạc sỹ Luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay có khá nhiều công trình khoa học nghiên cứu về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi nói chung dưới góc độ xã hội học, tâm lý học, y học, kinh tế học, luật học,
Trang 8Những năm gần đây, trước tình trạng già hoá dân số nhanh diễn ra ở mọi quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam, đã đặt ra nhiều thách thức về vấn đề trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi, thì từ đó các công trình nghiên cứu về vấn đề này mới bắt đầu được quan tâm Tuy nhiên, có thể thấy rằng, các công trình nghiên cứu chủ yếu về trợ giúp xã hội, pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi dưới góc nhìn các khác nhau dựa trên nền tảng pháp luật người cao tuổi hiện hành Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
- Báo cáo "Tổng quan về chính sách chăm sóc người già thích ứng với
thay đổi cơ cấu tuổi tại Việt Nam" của Bộ Y tế và Quỹ Dân số Liên hợp quốc,
năm 2009;
- Kỷ yếu Hội thảo khoa học "Cơ sở lý luận và thực tiễn chăm sóc người
cao tuổi ở Việt Nam", Nxb Lao Động, năm 2016;
- Tài liệu “Hội thảo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương về người cao
tuổi của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Quỹ Dân số Liên hợp quốc
(UNFPA) và Tổ chức Hỗ trợ Người cao tuổi quốc tế (HelpAge International)
tổ chức tại Hà Nội, ngày 6-8/9/2016;
- Hội thảo “Chính sách, pháp luật Asean về lao động và các vấn đề xã
hội - tính tương thích của pháp luật Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội
và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, năm 12/2016;
- Báo cáo nghiên cứu "Rà soát các quy định pháp luật và chính sách
liên quan đến người cao tuổi" của Nhóm chuyên gia bao gồm Ths Lê Minh
Giang, Ths Dương Việt Anh và Ths Uông Sỹ Tuyền, năm 2017;
- Báo cáo "Đánh giá việc thực hiện các chính sách hỗ trợ xã hội ở Việt
Nam" của Giang Thanh Long, Nguyễn Thị Nga và Lê Minh Giang; năm 2011;
- Báo cáo "Đánh giá triển khai thực hiện Luật Người cao tuổi ở Việt
Nam năm 2010 - 2012" của Nhóm chuyên gia, năm 2013;
- Bài viết “Chăm sóc người cao tuổi ở một số nước Châu Á” đăng trên
Trang 9Tạp chí Cộng sản số 56/2011 của tác giả Bùi Thị Hương Trầm, năm 2011;
- Tài liệu "Công tác xã hội trợ giúp người cao tuổi 2013" của tác giả
Nguyễn Thị Kim Hoa, NXB Lao động - Xã hội, năm 2013;
- Báo cáo "Già hoá dân số và người cao tuổi ở Việt Nam: Thực trạng,
dự báo và một sô khuyến nghị chính sách", Quỹ Dân số Liên hợp quốc
(UNFPA), Nghiên cứu Gia đình và Giới số 4, năm 2012;
- Bài viết "Chính sách người cao tuổi - tiếp cận từ quyền cơ bản của
công dân trong các Hiến pháp Việt Nam" của tác giả Bùi Nghĩa, Tạp chí
Khoa học Đại học mở Thành phố Hồi Chí Minh, năm 2017;
- Bài viết "Vấn đề về người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay" của tác giả
Lê Văn Khảm Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam số 7, năm 2014;
- Bài viết "Một số sơ sở thực tiễn cần quan tâm trong xây dựng, điều
chỉnh chính sách chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam" của tác giả Lê Ngọc
Lân Nghiên cứu Gia đình và Giới số 5, năm 2011;
- Báo cáo chuyên đề "Thực trạng trợ giúp xã hội và ưu đãi xã hội ở nước ta
năm 2007 và khuyến nghị tới năm 2015" của Nguyễn Hải Hữu, năm 2007;
- Bài viết "Tổng quan hoạt động xây dựng, thực thi chính sách và công
trình nghiên cứu khoa học về người cao tuổi Việt Nam" của các tác giả Lê Vũ
Anh, Đặng Huy Hoàng, Trần Vũ, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Tiến Thắng Tạp chí Y tế Công cộng số 33, tháng 9/2014;
- Luận văn Thạc sỹ "Trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi tại cộng đồng" của tác giả Đồng Thị Minh Phúc, năm 2014;
- Luận văn Thạc sỹ "Pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Bùi Thị Thanh Thuý, Học viện khoa học xã
hội năm 2017;
Bên cạnh những công trình nghiên cứu khoa học trong nước còn có một
số công trình nghiên cứu khoa học ở nước ngoài khác nhau, có đề cập đến trợ
Trang 10giúp xã hội nói chung và pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi nói riêng như:
- "Social Protection: Theories and evidences in Vietnam" (Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn bảo trợ xã hội ở Việt Nam) của Nguyễn Trọng Hà, Đại học quốc gia Australia, NXB Canberra, 2009
- "Social protection for older persons: Key policy trends and statistics"
(Bảo đảm xã hội cho người cao tuổi: Thống kê và xu hướng chính sách cơ bản) do Tổ chức lao động quốc tế ILO xuất bản năm 2014
Có thể thấy rằng, cho tới thời điểm này, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài chủ yếu đi sâu nghiên cứu về trợ giúp, bảo đảm xã hội cho người cao tuổi, trực tiếp đề cập và nghiên cứu vấn đề này dưới góc nhìn pháp luật rất ít Ở Việt Nam có một số công trình nghiên cứu về pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu dưới góc độ so sánh pháp luật để từ đó rút ra những ưu điểm, bất cập, nhằm đưa ra những giải pháp sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Nam cũng như những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật này trong bối cảnh già hoá dân số nhanh chóng ở Việt Nam hiện này Vì vậy, đây là công trình khoa học nghiên cứu đầu tiên có tính so sánh về pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 11điểm bất cập của pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Nam hiện hành so với một số nước Châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc), luận văn đề xuất phương hướng hoàn thiện bằng các kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi ở Việt nam hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về người cao
tuổi, trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi và pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi Cụ thể là vấn đề lý khái niệm, đặc điểm của người cao tuổi; khái niệm và sự cần thiết phải bảo đảm trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi; khái niệm, nguyên tắc điều chỉnh, nội dung điều chỉnh và vai trò của pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
Thứ hai, so sánh pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi ở Việt
Nam và một số nước Châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc)
Thứ ba, rút ra những nhận xét về ưu điểm của pháp luật trợ giúp xã hội
đối với người cao tuổi ở một số nước Châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc), và những vấn đề còn bất cập trong các quy định của pháp luật hiện hành về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi trên cơ sở so sánh với pháp luật của một số nước Châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc)
Thứ tư, từ những vấn đề nghiên cứu trên, luận văn đề xuất phương
hướng hoàn thiện pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay
4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Nam theo quy định tại Luật người cao tuổi năm 2009, Nghị định số 136/2013/NĐ-CP Pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi ở Nhật Bản theo quy định tại Luật phúc lợi dành cho người cao tuổi năm 1963 Pháp luật trợ giúp xã hội đối với
Trang 12người cao tuổi ở Trung Quốc theo quy định tại Luật đảm bảo quyền lợi người cao tuổi nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa
4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Phạm vi không gian: luận văn nghiên cứu chủ yếu trong phạm vi các
quy định của pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Nam, Nhật Bản và Trung Quốc
- Phạm vi thời gian: luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật
hiện hành, song tùy từng nội dung mà có thể so sánh với quy định trong các giai đoạn trước đây về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
Do vấn đề già hoá dân số và người cao tuổi Việt Nam hiện nay là vấn
đề "nóng" được nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều tổ chức quan tâm, nên nguồn
số liệu, thông tin được cung cấp trên các phương tiện thông tin rất đa dạng và
có thể khác nhau Vì vậy, luận văn cố gắng sử dụng số liệu có tính đại diện quốc gia, ví dụ số liệu từ Báo cáo điều tra, Báo cáo tổng quan,… của Quỹ Dân số Liên hiệp quốc, Uỷ ban các vấn đề xã hội của quốc hội, Ủy ban về người cao tuổi Việt Nam, Tổng cục thống kê, Bộ Lao động, Thương binh và
Xã hội,… Ngoài ra, luận văn cũng sử dụng một số thông tin từ các cuộc hội thảo chuyên ngành về người cao tuổi, về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi, thông tin từ các cuộc điều tra quy mô nhỏ để minh hoạ cho một số nội dung phân tích
- Phạm vi nội dung: Pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
bao gồm tổng hợp các quy định của nhà nước về đối tượng hưởng, các chế độ, nguồn tài chính thực hiện, quản lý nhà nước, khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi của Việt Nam, Nhật Bản và Trung Quốc
Luận văn không nghiên cứu các vấn đề về thủ tục thực hiện và giải quyết tranh chấp trong việc thực hiện pháp luật trợ giúp xã hội đối với người
Trang 13cao tuổi Bởi, thủ tục thực hiện, về cơ bản, mang tính hành chính và giải quyết tranh chấp liên quan đến nhiều ngành luật (luật hành chính, luật dân sự, luật hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính,…)
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của học thuyết Mác-Lenin, bao gồm phép biện chứng duy vật và phương pháp duy vật lịch
sử Theo đó, vấn đề pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi được nghiên cứu luôn ở trạng thái vận động và phát triển trong mối quan hệ không tách rời với các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội, truyền thống, đạo đức Trong quá trình nghiên cứu, đề tài còn luôn dựa trên cơ sở các quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước về chính sách trợ giúp xã hội nói chung, trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi nói riêng trong các giai đoạn phát triển,
nhất là trong bối cảnh già hoá dân số ở Việt Nam đang tăng nhanh hiện nay
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong đề tài bao gồm phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh, so sánh luật học, chứng minh, tổng
hợp, dự báo khoa học Cụ thể:
- Phương pháp lịch sử được sử dụng ở hầu hết các chuyên đề nhằm khảo cứu các tài liệu trước đây đã đề cập đến trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi và pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi, cũng như các quy định của Tổ chức quốc tế (ILO, UN, Help Age international, ), của các quốc gia trên thế giới (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, )
- Phương pháp phân tích được sử dụng ở tất cả các chuyên đề nhằm phân tách và tìm hiểu các vấn đề nghiên cứu để thực hiện mục đích và nhiệm
vụ đã đặt ra của luận văn
- Phương pháp chứng minh được sử dụng ở tất cả các chương nhằm đưa ra các dẫn chứng (các quy định, số liệu, tài liệu, vụ việc thực tiễn,…) làm
rõ các luận điểm, luận cứ trong các nội dung lý luận, thực trạng quy định của
Trang 14pháp luật cũng như thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
- Phương pháp so sánh, phương pháp so sánh luật học được sử dụng ở hầu hết các chương, để đối chiếu, đánh giá các điểm giống và khác nhau của Việt Nam và một số nước Châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc) về pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
- Phương pháp tổng hợp được sử dụng ở tất cả các chương chủ yếu nhằm rút ra những nhận định, ý kiến đánh giá sau quá trình phân tích ở từng luận cứ, từng luận điểm, đặc biệt được sử dụng để đưa ra những kết luận của
từng chương và kết luận chung
- Phương pháp dự báo khoa học được sử dụng trong các chương, đặc biệt là Chương 3, rút ra một số vấn đề từ việc so sánh, nhằm đoán trước về những ý kiến, nhận định, đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật
trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Nam
Trong quá trình triển khai thực hiện luận văn, tuỳ từng yêu cầu nội dung vấn đề đặt ra mà có thể kết hợp đan xen các phương pháp nghiên cứu cụ thể
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm mới hơn một số khái niệm về người cao tuổi, trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi, pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi, chỉ rõ điểm tương đồng và khác biệt trong quan điểm của pháp luật Nhật Bản, Trung Quốc và rút ra kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Nam
Kết quả nghiên cứu của luận văn là nguồn tài liệu tham khảo tốt đối với
cơ quan có liên quan đến hoạch định chính sách, pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi; là nguồn tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy trong các trường đào tạo Luật học trên phạm vi cả nước
Trang 157 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về trợ giúp xã hội đối với người cao
tuổi và pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi;
Chương 2: Pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi của Việt
Nam và Nhật Bản, Trung Quốc dưới góc độ so sánh;
Chương 3: Một số vấn đề rút ra từ việc so sánh và giải pháp hoàn thiện
pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay
Trang 16CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI VÀ PHÁP LUẬT TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƯỜI CAO TUỔI
1.1 Người cao tuổi và trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
1.1.1 Người cao tuổi
1.1.1.1 Khái niệm người cao tuổi
Hiện nay, có rất nhiều thuật ngữ để chỉ người cao tuổi như: Người cao tuổi (older persons), người già (the aged), người cao niên (the ageing),… trong đó thuật ngữ người cao tuổi (older persons) chính thức được sử dụng trong các Nghị quyết 47/5 và 48/98 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc [26, Tr.172], và trở thành phổ biến trong các văn kiện của các tổ chức quốc tế cũng như các quốc gia Khái niệm người cao tuổi được nghiên cứu dưới những góc độ sau đây:
Dưới góc độ y học, người cao tuổi là người ở giai đoạn gắn liền với sự suy giảm các chức năng của cơ thể Khi đó, con người xuất hiện các biểu hiện suy giảm các chức năng tâm lý, sinh lý và các chức năng lao động Quá trình đồng hóa giảm đi, quá trình dị hóa tăng lên theo tuổi tác, quá trình trao đổi chất giảm Dựa vào những đặc điểm này, Tổ chức y tế thế giới (WHO) cho rằng người cao tuổi là người từ 65 tuổi trở lên [46]
Dưới góc độ kinh tế - xã hội, người cao tuổi là người về cơ bản đã hết khả năng lao động và cần được nghỉ ngơi Theo ILO, trong Công ước số 128
về chế độ mất sức lao động, tuổi già và tử tuất (năm 1967), tại Điều 15 quy
định độ tuổi được coi là tuổi già hưởng chế độ hưu trí là “độ tuổi không quá
65 tuổi hoặc cao hơn nhưng có thể được ấn định bởi cơ quan có thẩm quyền liên quan đến nhân khẩu học, các tiêu chuẩn về kinh tế và xã hội, sẽ được thể hiện qua thống kê của các quốc gia”
Trang 17Dưới góc độ pháp lý, người cao tuổi là người trong độ tuổi mà pháp luật về người cao tuổi xác định Quy định độ tuổi người cao tuổi phụ thuộc rất lớn vào điều kiện kinh tế - xã hội, tình trạng dân số và tuổi thọ trung bình của các quốc gia, vì thế khái niệm này có thể thay đổi tùy từng thời kỳ và khác nhau ở các quốc gia Ở các nước có hệ thống y tế chăm sóc sức khoẻ tốt, điều kiện kinh tế - xã hội phát triển thì sức khoẻ người dân tốt hơn, tuổi thọ cao hơn, biểu hiện của sự lão hoá đến muộn hơn nên xác định người cao tuổi ở độ tuổi cao hơn Ví dụ, các quốc gia như Bỉ, Na Uy, Ai Len,… quy định người cao tuổi là người trên 67 tuổi Các nước như Đức, Hà Lan, Hoa Kỳ,… quy định người cao tuổi là người từ đủ 65 tuổi trở lên Ở các nước đang phát triển như Việt Nam, Trung Quốc,… quy định người cao tuổi là người từ đủ
60 tuổi trở lên,
Ở phạm vi quốc tế, cho đến thời điểm này vẫn chưa có tiêu chuẩn thống nhất về xác định người cao tuổi cho các quốc gia Tuy nhiên Tổ chức Liên hợp quốc chấp nhận mốc để xác định dân số già là từ 60 tuổi trở lên, trong đó phân ra làm ba nhóm: Sơ lão (từ 60 đến 69 tuổi), trung lão (từ 70 đến 79 tuổi)
và đại lão (từ 80 tuổi trở lên) [39, Tr.1]
Ở Việt Nam, trong khoa học pháp lý, khái niệm người cao tuổi được sử dụng và hiểu khác nhau giữa các ngành Cụ thể, theo Điều 166 và Điều 187
Bộ luật lao động năm 2012 sử dụng thuật ngữ “người lao động cao tuổi”, theo
đó, người lao động cao tuổi là người tiếp tục lao động sau độ tuổi 60 đối với nam, sau 55 tuổi đối với nữ Bộ luật Hình sự năm 2015 theo Điều 124, 140, 157, thuật ngữ “người già yếu” được hiểu là người từ 70 tuổi trở lên [30], theo Điều 64
“người quá già yếu” là người từ 70 tuổi trở lên hoặc người 60 tuổi trở lên nhưng thường xuyên đau ốm Ở phạm vi luật chuyên ngành về người cao tuổi, khái niệm người cao tuổi được quy định trại Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009 Theo đó
“Người cao tuổi là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên”
Trang 18Như vậy, người cao tuổi Việt Nam là người có quốc tịch theo Luật quốc tịch Việt Nam, không phân biệt thành phần xã hội, dân tộc, giới tính, tôn giáo, nơi sinh sống,… từ đủ 60 tuổi trở lên Với việc sử dụng thuật ngữ và xác định mốc tuổi này, Luật Người cao tuổi năm 2009 về cơ bản phù hợp với quy định của Tổ chức Liên hợp quốc và đặc điểm sinh học, quá trình lão hoá, tuổi thọ và đời sống của người Việt Nam hiện nay, từ đó tạo cơ sở về mặt lý luận
để Đảng và Nhà nước hoạch định các chính sách pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
1.1.1.2 Đặc điểm của người cao tuổi
Người cao tuổi là người từ 60 tuổi trở lên có sức khoẻ về mặt thể chất
và tinh thần ngày càng suy giảm Sự lão hoá của các bộ phận, chức năng trong
cơ thể là điều kiện để bệnh tật dễ phát sinh và phát triển nên người cao tuổi có nguy cơ mắc bệnh cao hơn, đặc biệt là các bệnh mãn tính, như: bệnh về tim mạch và huyết áp; bệnh về xương khớp; các bệnh về hô hấp; các bệnh về răng miệng; các bệnh về dinh dưỡng và đường tiêu hóa [27] Ngoài ra, người cao tuổi có thể mắc nhiều bệnh trong cùng một thời điểm, và khi mắc bệnh, việc điều trị cũng lâu hơn các nhóm tuổi khác
Người cao tuổi là người có tâm lý luôn thay đổi Theo các nghiên cứu
về tâm lý học, người cao tuổi còn có đặc điểm về tâm lý thường thấy là họ có triệu chứng của bệnh trầm cảm, mất trí nhớ, trở thành người trái tính,… Tâm
lý của người cao tuổi lúc này sẽ trở nên giống với tâm lý của một đứa trẻ, rất muốn được nhiều người quan tâm tới mình
Người cao tuổi có thu nhập ngày càng thấp do bị suy giảm dần khả năng lao động Thể lực và trí lực giảm sút khiến họ khó khăn trong thực hiện các công việc lao động sản xuất kinh doanh Theo đó, khi tuổi càng tăng, thì thu nhập của người cao tuổi càng thấp hoặc không có thu nhập Vì thế, người cao tuổi hiện nay thuộc nhóm cư dân nghèo nhất trong các nhóm nghèo và
Trang 19đây là vấn đề thách thức rất lớn đối với người cao tuổi [28, tr.6]
Người cao tuổi hạn chế tham gia các hoạt động xã hội do tuổi cao, sức yếu Các cơ quan vận động, cơ quan thị giác, thính giác bị lão hoá sâu nên người cao tuổi dần hạn chế khả năng đi lại, giao tiếp và thụ hưởng những thành quả của sự phát triển văn hoá xã hội Ngoài ra, việc tham gia hoạt động
xã hội của người cao tuổi còn tuỳ thuộc vào sự phát triển về đời sống văn hoá
xã hội, truyền thống của từng quốc gia và từng vùng/miền/địa phương
Như vậy, do quá trình lão hoá, tâm sinh lý thay đổi nên đa số người cao tuổi đều có sức khoẻ yếu, thường xuyên ốm đau, bệnh tật và không còn tham gia lao động sản xuất kinh doanh hoặc có tham gia nhưng thu nhập thấp Nếu không có nguồn tích luỹ, không có lương hưu, trợ cấp xã hội thì người cao tuổi sẽ vô cùng khó khăn trong bảo đảm đời sống hàng ngày và chăm sóc sức khoẻ khi bị ốm đau, bệnh tật
1.1.2 Trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
1.1.2.1 Khái niệm trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
Trợ giúp xã hội là một trong ba trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội, thực hiện chức năng trợ giúp bộ phận dân cư yếu thế tồn tại, vươn lên thoát khó khăn để có thể hòa nhập, tái hòa nhập đời sống xã hội Tùy từng quốc gia khác nhau và trình độ phát triển kinh tế xã hội khác nhau mà các quốc gia quy định nhóm các đối tượng yếu thế thuộc diện điều chỉnh của hệ thống chính sách trợ giúp xã hội, do vậy mà cũng đưa ra các khái niệm, thuật ngữ khác nhau về trợ giúp xã hội
Theo tổ chức lao động quốc tế (International labour Orgarnisation - ILO), trợ giúp xã hội là những chính sách, các chế độ trợ giúp của nhà nước
và do ngân sách nhà nước đảm bảo để duy trì thu nhập của những người không có nguồn thu nhập từ Quỹ bảo hiểm, cũng như nâng mức thu nhập của những người đã có thu nhập từ Quỹ bảo hiểm nhưng tổng thu nhập cá nhân vẫn chưa đạt mức sống tối thiểu đảm bảo nhu cầu cơ bản của con người [47]
Trang 20Khái niệm theo Tổ chức lao động quốc tế chỉ đề cập đến một chủ thể Nhà nước trong việc đảm bảo các chính sách trợ giúp xã hội, chưa đề cập đến trợ giúp xã hội phi chính thức hay trợ giúp xã hội truyền thống và sự tham gia của các đối tác xã hội (cộng đồng, cá nhân, các tổ chức chính trị xã hội khác, ) Đối tượng thuộc diện trợ giúp xã hội không chỉ là những cá nhân không có nguồn thu nhập ổn định, không thuộc diện điều chỉnh của các quỹ bảo hiểm mà còn đề cập đến các cá nhân có nguồn thu nhập ổn định thuộc diện điều chỉnh của các quỹ bảo hiểm nhưng chưa đạt được mức sống tối thiểu căn cứ cứ xác định mức trợ giúp Căn cứ xác định mức trợ giúp theo quan điểm của tổ chức lao động quốc tế là mức sống tối thiểu, theo đó, nhà nước sẽ thực hiện các biện pháp trợ giúp xã hội khác nhau căn cứ vào mức thiếu hụt thực tế so với mức sống tối thiểu của các nhóm đối tượng xã hội khác nhau
Theo Ngân hàng phát triển Châu Á (ASIAN Development bank - ADB),
trợ giúp xã hội là các chương trình được thiết kế để giúp cho các cá nhân gia đình cộng đồng dễ bị tổn thương có thể duy trì được mức sống tối thiểu và cải thiện đời sống [34]
Theo đó, quan điểm của Ngân hàng phát triển Châu Á cho rằng trợ giúp
xã hội là tập hợp các chương trình được thiết kế theo từng giai đoạn, phù hợp với từng nhóm đối tượng xã hội nhất định như cá nhân gia đình hoặc cộng đồng Đối tượng thuộc diện thụ hưởng các chương trình trợ giúp xã hội là những người dễ bị tổn thương trước các cú sốc của đời sống xã hội (ốm đau, bệnh tật, thu nhập bấp bênh) Căn cứ xác định mức trợ giúp xã hội cho các nhóm đối tượng xã hội là mức sống tối thiểu và hướng tới việc nâng cao chất lượng cuộc sống
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (Orgarnisation for Economic Co-operation and Development - OECD), trợ giúp xã hội là sự hỗ
Trang 21trợ nhằm vào các hộ gia đình trong nhóm dân cư có thu nhập thấp, được cung cấp để ngăn chặn tình trạng quá khốn khó đối với những người không có nguồn thu nhập nào khác, giảm rủi ro loại trừ xã hội, giảm thiểu tình trạng bất động cơ do làm việc trả lương và đề cao tinh thần độc lập [58]
Theo đó, quan điểm của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế cho thấy các hoạt động trợ giúp xã hội đều hướng tới các hộ gia đình có mức thu nhập thấp của xã hội nhằm giúp họ vượt qua tình trạng khó khăn đang gặp phải; các hoạt động trợ giúp xã hội nhằm giúp cho một bộ phận dân cư tránh được nguy
cơ bị gạt ra bên lề xã hội, tạo động lực hòa nhập, tái hòa nhập cộng đồng
Theo Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization - WHO), trợ
giúp xã hội là sự trợ giúp bằng tiền tệ hoặc phi tiền tệ của Chính phủ, không phụ thuộc vào quan hệ đóng - hưởng, nhằm đảm bảo mức sống tối thiểu theo luật định hoặc theo chuẩn mực tối thiểu của một xã hội nào đó cho người hưởng thụ người thụ hưởng thông qua hình thức đánh giá tài sản hoặc thu nhập Theo đó, trợ giúp xã hội bao gồm ba loại hình: hỗ trợ thu nhập, phúc lợi gia đình và dịch vụ xã hội
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, trợ giúp xã hội là sự giúp
đỡ bằng tiền mặt hoặc điều kiện sinh sống thích hợp để đối tượng được trợ giúp và có thể phát huy khả năng, tự lo liệu cuộc sống của mình hoặc gia đình, sớm hoà nhập với cộng đồng
Theo những quan điểm trên, có thể thấy, trợ giúp xã hội hướng đến những đối tượng lâm vào hoàn cảnh khó khăn, nghèo đói, ốm đau, bệnh tật, không thể tự lo liệu cuộc sống hàng ngày để họ có thể vượt qua hoàn cảnh khó khăn, tái hoà nhập cộng đồng Con người theo quy luật tự nhiên, đến một
độ tuổi nhất định sẽ càng ngày càng trở nên già yếu, mất dần khả năng lao động, tạo thu nhập để trang trải cuộc sống hàng ngày Nếu không có nguồn tích luỹ, không có lương hưu, trợ cấp xã hội thì người cao tuổi sẽ vô cùng khó
Trang 22khăn trong bảo đảm đời sống hàng ngày và chăm sóc sức khoẻ khi bị ốm đau, bệnh tật Bởi vậy, người cao tuổi thuộc nhóm đối tượng của trợ giúp xã hội
Từ những quan điểm trên, trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi có thể
được hiểu như sau: Trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi là các chính sách,
chương trình trợ giúp chính thức của Nhà nước; các chương trình trợ giúp phi chính thức của cộng đồng xã hội nhằm mục đích trợ người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn, có mức sống dưới mức tối thiểu có khả năng tồn tại, hoà nhập cộng đồng, góp phần đảm bảo ổn định và công bằng xã hội
1.1.2.2 Sự cần thiết phải trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
Theo báo cáo Triển vọng Dân số thế giới 2019 của Liên Hợp Quốc (UN), dân số thế giới hiện tại là khoảng 7,7 tỷ người và được dự báo sẽ tăng thêm 2 tỷ người vào năm 2050 Tuy nhiên, trong đó, tỷ lệ sinh giảm mạnh, các quốc gia trước đó đang ở giai đoạn dân số vàng trực tiếp bước chân vào hàng ngũ có tốc độ già hoá dân số cao nhất thế giới Năm 2018, lần đầu tiên trong lịch sử số lượng người từ 65 tuổi trở lên toàn cầu vượt quá số lượng trẻ
em dưới 5 tuổi Số lượng người từ 80 tuổi trở lên được dự báo sẽ tăng gấp 3 lần từ 143 triệu người vào năm 2019 lên 426 triệu người vào năm 2050
Tỷ lệ sinh giảm, tuổi thọ tăng, dân số thế giới ngày càng già hoá Thực trạng này đã đặt ra những yêu cầu lớn đối với cả cộng đồng quốc tế Đó là làm thế nào để bảo đảm đời sống và chăm sóc sức khoẻ cho bộ phận cư dân này? Đây là câu hỏi dành chung cho mọi quốc gia trên thế giới, không có ngoại lệ
- Xuất phát từ thực tế đời sống và nhu cầu của người cao tuổi
Theo số liệu thống kê, nhóm người cao tuổi tăng nhanh nhất là nhóm từ
80 tuổi trở lên Một phần lớn dân số già sống trong cảnh nghèo, đặc biệt người cao tuổi là nữ chiếm 60% số người cao tuổi trên 60 tuổi có tỷ lệ nghèo cao hơn Đây là nhóm đối tượng có sức lao động hạn chế, mất sức lao động,
Trang 23khả năng tự lo đời sống cá nhân thấp Nhóm đối tượng này có nhu cầu phần lớn
về chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng và trợ giúp đời sống sinh hoạt [48]
Bên cạnh đó, nhiều người cao tuổi vẫn làm việc để có thể chăm sóc bản thân họ: khoảng 70% người cao tuổi trong dộ tuổi từ 60 đến 64 vẫn tham gia lao động, tỷ lệ này ở nhóm từ 70 đến 74 tuổi giảm xuống còn khoảng 40% và
ở nhóm từ 80 đến 84 tuổi là khoảng 20% [48] Tuy nhiên, trên thực tế, thị trường việc làm hiện nay rất ít cơ hội cho nhóm đối tượng này Người sử dụng lao động hầu như rất hiếm khi lựa chọn sử dụng người lao động cao tuổi
vì vấn đề sức khoẻ cũng như năng suất công việc Chính vì vậy, những công việc mà người cao tuổi tham gia thường là những công việc nhỏ lẻ, thủ công, mức thu nhập thấp, không đảm bảo trang trải cho cuộc sống của họ
Trên thế giới hiện nay, trong số khoảng 809 triệu người cao tuổi (năm 2012), thì có 2/3 người cao tuổi sống ở các nước nghèo, có 3/4 số người cao tuổi sống trong các khu vực bị ảnh hưởng do thiên tai và biến đổi khí hậu, 2/3
số người cao tuổi bị bệnh kinh niên sống ở các nước trung bình và kém phát triển và có khoảng 180 triệu người cao tuổi sống trong cảnh nghèo khó [32] Với mức thu nhập không đáp ứng đủ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày như vậy thì đương nhiên người cao tuổi không có tích luỹ, dẫn đến khi không còn làm việc được nữa họ sẽ không có của cải, tiền bạc để chi dùng Trong khi đó, tỷ
lệ người cao tuổi tham gia bảo hiểm hưu trí ở các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam, chiếm tỷ lệ rất thấp
Theo Báo cáo An sinh xã hội thế giới 2017-2019 của ILO, ở Việt Nam hiện nay, trong số hơn 11 triệu người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên), có 2,3 triệu người đang hưởng chế độ hưu trí, 1,3 triệu người hưởng trợ cấp xã hội, còn khoảng 6 đến 7 triệu người cao tuổi không có thu nhập Trong đó phần lớn người cao tuổi ở Việt Nam sống ở nông thôn Ngoài ra, còn nhiều người cao tuổi từ 70 - 80 tuổi từng tham gia kháng chiến, phục vụ cách mạng nên không
Trang 24có thời gian tích lũy tiền bạc, chuẩn bị cuộc sống về già Thực tế rất nhiều người trong số họ khá khó khăn về kinh tế, trong khi đó lại thường xuyên bị
ốm đau, bệnh tật Bởi vậy, thách thức trong giải quyết đời sống của người cao tuổi sẽ rất lớn khi Việt Nam rơi vào tình trạng “già trước khi giàu” như hiện nay
- Xuất phát từ quyền con người
Ngày 10/12/1948, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người được Đại
hội đồng Liên hợp quốc thông qua Tuyên ngôn này đã đặt cơ sở cho việc đảm bảo, thúc đẩy quyền con người toàn trên thế giới trong hơn 70 năm qua Cho đến nay, Việt Nam đã gia nhập và ký kết 7/9 công ước cơ bản và hàng chục điều ước quốc tế khác liên quan đến quyền con người
Người cao tuổi thuộc nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội, họ bị suy giảm sức khoẻ, không có sức lao động, lâm vào hoàn cảnh bệnh tật, nghèo đói Thực trạng trên sẽ kéo theo việc quyền lợi của người cao tuổi bị xâm phạm Vì vậy, trợ giúp xã hội sẽ phần nào giúp người cao tuổi được chăm sóc tốt về sức khoẻ, tinh thần, được hưởng quyền lợi và thực hiện nghĩa vụ của mình
Trong xã hội hiện đại, số lượng tài sản, mức thu nhập của mỗi người khác nhau, khả năng lao động và cơ hội việc làm của họ cũng khác nhau, một
số thành viên trong xã hội sẽ không thể có được thu nhập cần thiết để tồn tại
vì nhiều lý do khác nhau và quyền sống sẽ không được đảm bảo Thông quan trợ giúp xã hội, nhà nước và xã hội bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho những thành viên có thu nhập thấp, giảm thiểu khó khăn trong cuộc sống, đảm bảo quyền con người của họ
- Xuất phát từ mục đích an sinh xã hội của mỗi quốc gia
Hiện nay, nội hàm của khái niệm an sinh xã hội được hiểu rộng hơn, đó
là sự bảo vệ mà nhà nước và xã hội cung cấp cho các thành viên của mình không may lâm vào hoàn cảnh khó khăn trong xã hội thông qua biện pháp cân
Trang 25đối lại tiền bạc và của cải xã hội Bản chất của an sinh xã hội là tạo ra mạng lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp cho tất cả các thành viên trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc khi gặp rủi ro xã hội khác Chính sách an sinh xã hội là chính sách cơ bản của các quốc gia nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, bảo đảm an toàn thu nhập và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội
An sinh xã hội được thực hiện với mọi thành viên trong xã hội, đặc biệt những người yếu thế trong xã hội như trẻ em, người cao tuổi, người nghèo, người khuyết tật,… Trong đó, người cao tuổi là một bộ phận dân cư có những đặc điểm riêng về suy giảm sức khoẻ, suy giảm khả năng thu nhập, thường xuyên bị ốm đau, bệnh tật,… Bởi vậy, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có chính sách chăm sóc, bảo vệ, trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi, nhất là trong bối cảnh số lượng người cao tuổi đang gia tăng nhanh chóng như hiện nay
1.2 Pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
1.2.1 Khái niệm pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của trợ giúp xã hội, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tổ chức thực hiện trợ giúp xã hội bằng cách xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện phù hợp với các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, phong tục, tập quán,… của đất nước mình mình Theo thống kê của ILO trong các tài liệu về an sinh xã hội, trong số 172 nước thiết lập hệ thống an sinh xã hội thì chế độ trợ giúp xã hội đều được quan tâm thực hiện ngay từ đầu Ở Việt Nam, mặc dù trợ giúp xã hội đã được thực hiện từ rất lâu với vai trò quan trọng của Nhà nước nhưng cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa chính thức về trợ giúp xã hội trong các văn bản pháp luật Theo cách hiểu thông thường thì đó là “sự giúp đỡ cho qua khỏi cơn nguy khốn” hay
“giúp cho qua khỏi cơn nghèo ngặt” Về ngữ nghĩa, đa số các nhà khoa học cho rằng cụm từ này gồm hai nhóm từ ghép là “cứu trợ xã hội” và “trợ giúp
xã hội”
Trang 26Từ khái niệm về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi, có thể hiểu, pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi là hệ thống quy phạm pháp luật bảo đảm thực hiện các quyền của người cao tuổi được hưởng những chế
độ bảo vệ nhất định nhằm đáp ứng những nhu cầu sống thiết yếu do tuổi già
mà họ không thể tự lo liệu được cuộc sống của bản thân, để từ đó giúp người cao tuổi duy trì được đời sống hàng ngày, vượt qua khó khăn của tuổi già, nghèo đói, bệnh tật để hòa nhập cộng đồng
1.2.2 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
- Nguyên tắc mọi người cao tuổi đều có quyền hưởng trợ giúp xã hội:
Là một thành phần trong nhóm yếu thế trong xã hội nên người cao tuổi, không phân biệt bởi bất kỳ tiêu chí gì, đều có quyền hưởng trợ giúp xã hội Theo đó cứ khi người cao tuổi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật thì được hưởng các chế độ, quyền lợi trợ giúp xã hội
Quyền lợi hưởng trợ cấp xã hội của người cao tuổi cũng không có sự phân biệt và luôn bảo đảm công bằng giữa những người cao tuổi Trường hợp
vì lý do nào đó mà người cao tuổi không được bảo đảm các quyền lợi của mình thì họ có quyền khiếu nại hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật hiện hành
Đây là nguyên tắc quan trọng của pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi Bởi ngay cả khi không còn khả năng làm việc để mang lại thu nhập thì người cao tuổi vẫn phải chi dùng cho các nhu cầu ăn, mặc, ở và sinh hoạt hàng ngày Khi bệnh tật, ốm đau, họ vẫn phải chi phí cho thuốc men, khám chữa bệnh Nếu không có nguồn tích luỹ từ trước thì họ sẽ gặp vô vàn khó khăn Vì vậy, nhu cầu được đảm bảo đời sống và được chăm sóc sức khoẻ của người cao tuổi là nhu cầu tất yếu mang tính khách quan Theo đó, việc trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi để họ có thể cải thiện chất lượng
Trang 27cuộc sống, tiếp tục sống và cống hiến cho xã hội rất quan trọng
- Nguyên tắc bảo đảm công bằng, công khai, kịp thời:
Do những thay đổi về tâm lý, sinh lý, nên so với các đối tượng trẻ tuổi khác, người cao tuổi có những hạn chế nhất định trong quá trình lao động hoặc tham gia các hoạt động xã hội khác như giao thông, vui chơi, giải trí Bởi vậy, họ cần được tạo điều kiện cho họ được hưởng những ưu đãi, trợ giúp khi tham gia các hoạt động xã hội Theo đó, khi người cao tuổi tham gia giao thông trên các phương tiện công cộng hoặc tham gia các hoạt động vui chơi,
du lịch, giải trí thì được giảm hoặc miễn giá vé Người cao tuổi còn được ưu tiên khi khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế Ngoài ra, đối với người cao tuổi có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, không thể tự lo được đời sống cho bản thân mình thì được nhà nước bảo trợ thông qua các chế độ trợ cấp hàng tháng hoặc trợ cấp một lần
Nguyên tắc công bằng xuất phát từ cơ sở là luôn phải bảo đảm sự công bằng giữa các thành viên trong xã hội Sự công bằng ở đây được hiểu là sự phù hợp với đặc điểm riêng của người cao tuổi và phù hợp với thực tế cuộc sống của người cao tuổi Vì thế, nhiều trường hợp người cao tuổi không phải thực hiện bất kỳ nghĩa vụ đóng góp nào vẫn được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng Bên cạnh đó, nguyên tắc công bằng về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi còn là cụ thể hoá mục đích của chính sách trợ giúp xã hội Đó là nhằm chia sẻ những khó khăn về kinh tế khi người cao tuổi không có bất kỳ khoản thu nhập nào để bảo đảm đời sống hàng ngày Đó là sự chia sẻ khi họ luôn phải đối mặt với nhiều bệnh tật và ốm đau thường xuyên, khi không còn khả năng vận động, giao tiếp, tham gia các hoạt động xã hội chung
Nguyên tắc công khai xuất phát từ việc đảm bảo minh bạch hoá những khoản thu, khoản chi trong quá trình thực hiện chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi Trong hoạt động trợ giúp xã hội, công khai nghĩa là mọi
Trang 28hoạt động trợ giúp xã hội, các chính sách trợ giúp xã hội đều phải được công
bố hoặc phổ biến, truyền tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, làm cho mọi người dân đều có thể tiếp cận được Các chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi được xây dựng trên nền tảng nhu cầu của người cao tuổi, hiệu quả của các chính sách này xét dưới góc độ cung cấp dịch vụ được đánh giá bằng mức độ hài lòng của người cao tuổi và chất lượng, hiệu quả cung cấp dịch vụ Nói cách khác, khi chất lượng và hiệu quả của trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi được nâng cao thì mức độ hài lòng của người cao tuổi nói riêng và toàn thể nhân dân nói chung cũng tăng lên, điều đó phụ thuộc vào mức độ công khai, minh bạch trong hoạt động thực hiện trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
Nguyên tắc kịp thời xuất phát từ việc giải quyết đúng việc, đúng người, đúng thời điểm Chẳng hạn như khi người cao tuổi sức khoẻ suy giảm thì điều
họ cần là được trợ giúp giải quyết các thủ tục về bảo hiểm y tế để khám chữa bệnh kịp thời Điều này đòi hỏi hoạt động phối hợp thống nhất, hệ thống, xuyên suốt và hiệu quả giữa các cơ quan ban ngành, tổ chức chính trị xã hội
có liên quan trong việc thực thi trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
- Nguyên tắc trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi được thực hiện trên
cơ sở cân đối giữa nhu cầu thực tế của người cao tuổi với khả năng đáp ứng
về điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước:
Thực tế cho thấy rằng nhu cầu trợ giúp xã hội của người cao tuổi là rất lớn, trong khi đó khả năng đáp ứng các nhu cầu này, kể cả ở các quốc gia phát triển, là có hạn Vì thế đây là bài toán mà hầu hết các quốc gia phải tìm mọi cách để có lời giải phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của mình xây dựng các chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi, đảm bảo các chính sách này phát triển ổn định và lâu dài
Nội dung của nguyên tắc này được thể hiện ở hai khía cạnh: Đó là
Trang 29người cao tuổi phải có trách nhiệm với chính mình từ khi còn trẻ khoẻ Theo
đó khi đi làm phải tham gia đóng bảo hiểm xã hội hoặc tích luỹ của cải, tiền bạc để khi hết khả năng lao động, không thể đi làm được nữa vẫn có lương hưu hoặc khoản tích luỹ đảm bảo đời sống của mình, không tạo gánh nặng cho con cái và xã hội Ngoài ra, nhà nước và đơn vị sử dụng lao động, tuỳ vào điều kiện cụ thể, hỗ trợ phí đóng bảo hiểm xã hội, hỗ trợ hoặc đài thọ phí bảo hiểm y tế hoặc trợ cấp cho người cao tuổi trong trường hợp họ không có lương hưu hoặc trợ cấp xã hội nào khác Mức hưởng trợ cấp xã hội hiện nay,
dù chưa đáp ứng được yêu cầu của người cao tuổi nhưng đã phần nào giúp họ duy trì được đời sống hàng ngày Mỗi khi kinh tế xã hội phát triển, nhà nước luôn điều chỉnh mức lương hưu hàng tháng, đồng thời điều chỉnh tăng các mức trợ cấp xã hội nhằm ngày càng bảo đảm nhu cầu của người cao tuổi
- Nguyên tắc đa dạng hóa, xã hội hóa hoạt động trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi:
Bảo đảm nguyên tắc đa dạng hoá các hoạt động trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi nghĩa là nhà nước quy định nhiều chế độ, nhiều loại hình trợ giúp xã hội khác nhau tương ứng với các nhu cầu trợ giúp khác nhau của
người cao tuổi để họ tham gia
Cùng với trách nhiệm chính của nhà nước trong thực hiện trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi, cộng đồng xã hội, bao gồm các tổ chức, cá nhân, cùng tham gia Bởi, tuy nhà nước có nguồn lực dồi dào từ ngân sách nhà nước song nhà nước cũng không thể đủ sức gánh vác được tất cả các chí phí nhằm đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người cao tuổi trong xã hội Hơn nữa, sự tham gia của các tổ chức, cá nhân vào công tác trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi ở một phương diện nào đó cũng chính là thực hiện trách nhiệm đối với chính bản thân mình và đối với môi trường sống chung của xã hội Vì vậy, nhà nước quy định trách nhiệm của con cái, gia đình người cao tuổi nuôi
Trang 30dưỡng, chăm sóc người cao tuổi; khuyến khích cá nhân, hộ gia đình nhận nuôi dưỡng người cao tuổi có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; hỗ trợ các điều kiện vật chất cho các cơ sở chăm sóc người cao tuổi; nghiên cứu khoa học, đầu tư cơ
sở vật chất để thành lập các cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng người cao tuổi,…
1.2.3 Nội dung pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
1.2.3.1 Đối tượng người cao tuổi được trợ giúp xã hội
Trước tiên, một đối tượng được xác định là được hưởng trợ giúp xã hội phải thuộc nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội Theo đó, đối tượng người cao tuổi được trợ giúp xã hội theo pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi phải là người cao tuổi theo quy định của pháp luật về người cao tuổi Độ tuổi được pháp luật công nhận là người cao tuổi ở mỗi quốc gia trên thế giới
là khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, tình trạng dân số và tuổi thọ trung bình của mỗi quốc gia
Tuy nhiên, cũng như đối với các đối tượng bảo trợ xã hội nói chung, không phải đối tượng người cao tuổi nào nào cũng được trợ giúp xã hội Họ phải thuộc đối tượng pháp luật quy định và có đủ các điều kiện nhất định
Dưới góc độ kinh tế, đối tượng người cao tuổi được trợ giúp xã hội là những người cao tuổi có mức sống thấp hơn mức sống tối thiểu của xã hội hoặc gặp khó khăn, rủi ro cần có sự trợ giúp về mặt vật chất
Dưới góc độ xã hội, người cao tuổi thuộc nhóm đối tượng yếu thế trong
xã hội vì tuổi cao sức yếu nên không còn sức lao động, lâm vào hoàn cảnh khó khăn, không có đủ khả năng tự lo liệu, đảm bảo cho cuộc sống của bản thân
Dưới góc độ pháp lý, xuất phát từ khái niệm trợ pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi, có thể hiểu, đối tượng người cao tuổi được trợ giúp xã hội là những người cao tuổi có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, gặp rủi
ro, biến cố, bất hạnh trong cuộc sống vì nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến không đủ khả năng tự lo liệu được cuộc sống tối thiểu của bản thân Theo
Trang 31đó, trên thế giới, một số quốc gia xác định đối tượng người cao tuổi được trợ giúp xã hội dựa vào độ tuổi của họ, một số quốc gia thì lại xác định dựa vào tình trạng sức khoẻ, đời sống và thu nhập của người cao tuổi, Việc đưa quy định đối tượng người cao tuổi được trợ giúp xã hội trong pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc xác định trợ giúp đúng đối tượng, đúng hoàn cảnh, giúp người cao tuổi vượt qua hoàn cảnh khó khăn để tái hoà nhập cộng đồng
1.2.3.2 Các chế độ trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
Khác với chế độ hưu trí hằng tháng hay bảo hiểm y tế, khi hưởng các chế độ trợ giúp xã hội, người cao tuổi không phải đóng góp khoản tiền để đảm bảo điều kiện thụ hưởng Khi nào người cao tuổi có đủ điều kiện do pháp luật quy định thì được hưởng một số hoặc nhiều chế độ trợ giúp xã hội như: chế độ trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng, chế độ trợ giúp xã hội đột xuất, chế độ hỗ trợ nhận chăm sóc, nuôi dưỡng người cao tuổi tại cộng đồng
và chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở chăm sóc người cao tuổi,…
Về chế độ trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng là chế độ trợ cấp hàng tháng bằng tiền của nhà nước để nuôi dưỡng người cao tuổi Mức trợ cấp hàng tháng dựa vào mức chuẩn được nhà nước xây dựng, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế của đất nước và mức sống tối thiểu của xã hội theo từng thời
kỳ Ví dụ như Trung Quốc quy định mức trợ cấp xã hội phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của từng tỉnh, thành qua từng thời kỳ, Chính phủ Trung Quốc không quy định về mức trợ cấp tối thiểu vùng
Bên cạnh chế độ trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng, chế độ trợ giúp xã hội đột xuất là chế độ trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi được thực hiện một lần khi người cao tuổi sống tại cộng đồng cùng gia đình hoặc được hộ gia đình, cá nhân nhận chăm sóc, nuôi dưỡng mà gia đình người cao tuổi, hộ gia đình, cá nhân chăm sóc, nuôi dưỡng người cao tuổi gặp phải những khó khăn, rủi ro bất ngờ như thiên tai, bệnh tật,
Trang 32Người cao tuổi không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không đủ điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện được tiếp nhận vào cơ sở chăm sóc người cao tuổi nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng thì sẽ được hưởng chế độ hỗ trợ nhận chăm sóc, nuôi dưỡng người cao tuổi tại cộng đồng Nội dung này bao gồm quy định về chế độ đối với đối tượng người cao tuổi được nhận chăm sóc, nuôi dưỡng; chế độ đối với hộ gia đình, cá nhân nhận chăm sóc, nuôi dưỡng và điều kiện, trách nhiệm của hộ gia đình, cá nhân nhận chăm sóc, nuôi dưỡng người cao tuổi
Về chăm sóc, nuôi dưỡng người cao tuổi tại cơ sở chăm sóc người cao tuổi, có hai đối tượng trong chế độ này: người cao tuổi đủ có hoàn cảnh đặc biệt khó khắn, thuộc diện được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở chăm sóc người cao tuổi (cơ sở bảo trợ xã hội) theo quy định của pháp luật về người cao tuổi; người cao tuổi tự nguyện sống tại cơ sở chăm sóc người cao tuổi theo hợp đồng uỷ nhiệm chăm sóc giữa người cao tuổi hoặc người giám hộ của người cao tuổi với cơ sở chăm sóc người cao tuổi Theo đó, có thể hiểu, đối với đối tượng thứ hai, người cao tuổi hoặc người giám hộ của người cao tuổi bỏ ra một khoản chi phí nhất định để được hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng người cao tuổi tại cơ sở chăm sóc người cao tuổi Cơ sở chăm sóc người cao tuổi hiện nay rất phát triển, nó giúp người dân có thể tự chọn, tự chủ trong việc chọn cơ sở chăm sóc khi về già
1.2.2.3 Nguồn tài chính thực hiện trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
Nguồn tài chính thực hiện trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi sẽ do Nhà nước chi trả Tuy nhiên, do khả năng ngân sách có hạn, Nhà nước cũng
có chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia vào hoạt động trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
Đối với chế độ trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng và chế độ trợ giúp xã hội đột xuất, chế độ hỗ trợ nhận chăm sóc, nuôi dưỡng người cao
Trang 33tuổi tại cộng đồng, ngân sách nhà nước là nguồn tài chính thực hiện chính Tuỳ thuộc vào tình hình chính trị, xã hội, mức sống của từng vùng miền, các quốc gia có quy định về mức trợ cấp khác nhau nên nguồn tài chính thực hiện có thể là tài chính trung ương kết hợp với tài chính địa phương theo tỷ lệ nhất định
Đối với cơ sở chăm sóc người cao tuổi công lập, nguồn tài chính thực hiện bao gồm: nguồn từ ngân sách nhà nước; nguồn thu từ phí dịch vụ của các đối tượng tự nguyện; nguồn thu từ hoạt động lao động sản xuất, dịch vụ của
cơ sở; nguồn trợ giúp từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; và nguồn thu khác theo quy định của pháp luật Đối với cơ sở chăm sóc người cao tuổi ngoài công lập, nguồn tài chính thực hiện bao gồm: nguồn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước; nguồn tự có của chủ cơ sở; nguồn trợ giúp từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; nguồn thu từ phí dịch vụ của đối tượng tự nguyện và nguồn thu khác theo quy định của pháp luật Hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay đều cho phép tổ chức, cá nhân ngoài nhà nước đầu tư xây dựng
cơ sở chăm sóc người cao tuổi, một số quốc gia còn có chính sách ưu đãi riêng về kinh phí xây dựng, thuế, trợ cấp, cho các tổ chức, cá nhân này
1.2.2.4 Quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
Các cơ quan nhà nước thống nhất quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi Cơ quan trung ương cấp bộ, ngành đứng đầu phụ trách
về vấn đề quản lý nhà nước về người cao tuổi nói chung và trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi nói riêng Ví dụ: ở Việt Nam, Bộ Lao động, Thương binh
và Xã hội thống nhất quản lý nhà nước về người cao tuổi trong phạm vi cả nước; ở Nhật Bản, Bộ Y tế, Lao động và An sinh xã hội thống nhất quản lý các vấn đề về người cao tuổi trong phạm vi cả nước
Bên cạnh đó, các cơ quan trung ương cấp bộ, ngành liên quan phối hợp với cơ quan quản lý về người cao tuổi cấp trung ương thực hiện quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi Chẳng hạn như việc phối hợp
Trang 34thực hiện của Bộ Tài chính trong việc dự chi, chi ngân sách nhà nước cho vấn
đề thực hiện trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
Ngoài ra, chính quyền địa phương các cấp thành lập các phòng, ban chuyên trách quản lý về vấn đề người cao tuổi nói chung và trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi nói riêng Ví dụ: ở Trung Quốc, tổ chức tự trí quần chúng ở địa phương và tổ chức người cao tuổi được thành lập theo quy định pháp luật có trách nhiệm phản ánh yêu cầu của người cao tuổi, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của người cao tuổi
1.2.2.5 Khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong lĩnh vực trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
Quyền lợi hưởng trợ giúp xã hội của người cao tuổi cũng không có sự phân biệt và luôn bảo đảm công bằng giữa những người cao tuổi Trường hợp
vì lý do nào đó mà người cao tuổi không được bảo đảm các quyền lợi của mình thì họ có quyền khiếu nại, tố cáo hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật Theo đó:
Khiếu nại được hiểu là việc người cao tuổi, cơ quan, tổ chức hoặc cán
bộ, công chức theo thủ tục quy định của pháp luật, đề nghị cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình
Tố cáo được hiểu là việc người cao tuổi, theo thủ tục quy định của pháp luật, báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi của bất cứ cơ quan, tổ chức,
cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Trang 35Về xử lý vi phạm đối với hành vi vi phạm pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi một số quốc gia trên thế giới quy định tại luật chuyên ngành chung về người cao tuổi như Trung Quốc, Nhật Bản, một số quốc gia khác lại quy định tại bộ luật, luật xử lý vi phạm, tố tụng riêng như Việt Nam Nhìn chung, đối với các hành vi vi phạm pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi có những hình thức xử phạt hành chính, phạt tiền, phạt cảnh cáo, và nếu cấu thành tội phạm thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự
1.3 Vai trò của pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
Pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi có vai trò quan trọng không chỉ đối với người cao tuổi mà còn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Cụ thể được thể hiện trên các lĩnh vực như sau:
- Về mặt chính trị - xã hội:
Pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi là một công cụ quan trọng góp phần ổn định xã hội, tạo nên sự ổn định và hài hoà trong quan hệ xã hội, đảm bảo sự công bằng và quyền sống của người cao tuổi Bên cạnh đó, thể hiện rõ rệt thái độ tích cực của nhà nước đối với một bộ phận dân cư đặc biệt khi họ về già, không còn khả năng lao động, hạn chế về sức khỏe Sự tồn tại khoẻ mạnh, ổn định cuộc sống của người cao tuổi trong cộng đồng dân cư thể hiện sự tiến bộ trong chính sách, pháp luật của một quốc gia
Không chỉ dừng lại ở đó, vượt qua cả những rào cản về chính trị, địa lý, trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi còn là vấn đề mang tính toàn cầu vì những giá trị nhân văn của con người Khi những rủi ro về thu nhập, sức khoẻ phát sinh từ tuổi già được mọi tầng lớp trong xã hội chia sẻ không chỉ giúp người cao tuổi vượt qua khó khăn trước mắt, mà còn tạo sự gắn kết lâu bền giữa thế hệ sau đối với thế hệ đi trước, tạo thành nề nếp, văn hoá, truyền thống tốt đẹp “ăn quả nhớ người trồng cây”, “kính trên nhường dưới” Chính
sự chia sẻ của cả nhà nước và cộng đồng xã hội phần nào đó sẽ giúp người
Trang 36cao tuổi thấy mình có giá trị, chứ không phải vô dụng hay bị tách biệt khỏi cuộc sống cộng đồng
- Về mặt kinh tế:
Pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi là cơ sở pháp lý quan
trọng để bảo đảm đời sống, chăm sóc sức khoẻ của con người khi về già, không còn làm ra thu nhập Thông qua khoản hỗ trợ, trợ cấp bằng tiền và các điều kiện vật chất khác đã giúp người cao tuổi duy trì cuộc sống hàng ngày Sâu xa hơn nữa, những sự giúp đỡ này là nguồn động viên, khích lệ những người cao tuổi có thể hòa nhập cộng đồng, kiến tạo và phát huy những khả năng có thể để đảm bảo cuộc sống và nâng cao đời sống vật chất, đời sống tinh thần của bản thân và gia đình họ
Cũng từ góc độ kinh tế cho thấy, trợ giúp xã hội là một hệ thống phân phối, điều chỉnh thu nhập, nó ảnh hưởng đến tổng số lượng và cấu trúc nhu cầu của xã hội, trở thành một công cụ để nhà nước điều chỉnh các hoạt động kinh tế, các khoản lương hưu, trợ cấp đối với người cao tuổi còn
có ý nghĩa là công cụ phân phối lại tiền bạc, của cải và dịch vụ có lợi cho các thành viên yếu thế, thu hẹp dần sự chênh lệch mức sống trong xã hội Việc hỗ trợ bảo hiểm y tế và các dịch vụ cơ bản khác từ nguồn tài chính công không vì mục đích lợi nhuận còn nhằm bảo đảm công bằng, đảm bảo lợi ích xã hội đối với người cao tuổi
- Vai trò về mặt pháp lý:
Pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi là cơ sở pháp lý để người cao tuổi thực hiện quyền được bảo đảm đời sống, chăm sóc sức khoẻ, tránh được đói nghèo và tử vong do bệnh tật, chứ không phải sự
“ban ơn” hay thể hiện sự thương cảm của nhà nước đối với người cao tuổi trong xã hội Đồng thời, đây cũng là cơ sở pháp lý để các cơ quan, tổ chức
Trang 37có thẩm quyền thực hiện trách nhiệm trong việc đảm bảo các quyền lợi về các chế độ ưu tiên, ưu đãi, trợ cấp, lương hưu, bảo hiểm y tế, các chế độ bảo trợ xã hội, các chế độ khác đối với người cao tuổi theo đúng quy định khi họ đủ điều kiện
Trang 38KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Con người khi bước vào giai đoạn tuổi già có sức khoẻ thể chất và tinh thần của con người thay đổi rất lớn Sự thay đổi này làm suy giảm khả năng lao động, khiến người cao tuổi lâm vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, không đảm bảo được cuộc sống của mình Trợ giúp xã hội trở thành một trong những giải pháp giúp cải thiện tình trạng này Trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ bằng tiền mặt hoặc điều kiện sinh sống thích hợp để người cao tuổi được trợ giúp và có thể tự lo liệu cuộc sống của mình hoặc gia đình, tiếp tục sống và cống hiến cho xã hội
Trên cơ sở mục tiêu trên, nhà nước đã xây dựng hệ thống pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi Pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi là hệ thống quy phạm pháp luật bảo đảm thực hiện các quyền của người cao tuổi được hưởng những chế độ bảo vệ nhất định nhằm đáp ứng những nhu cầu sống thiết yếu do tuổi già mà họ không thể tự lo liệu được cuộc sống của bản thân, để từ đó giúp người cao tuổi duy trì được đời sống hàng ngày, vượt qua khó khăn của tuổi già, nghèo đói, bệnh tật để hòa nhập cộng đồng
Nội dung về pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi bao gồm quy định về đối tượng, các chế độ, nguồn tài chính, thủ tục, quản lý nhà nước, khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp trong vấn đề trợ giúp
xã hội đối với người cao tuổi
Trang 39CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI CỦA VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN, TRUNG QUỐC DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH
Hiện nay, ở Việt Nam tính đến tháng 7/2019, dân số đạt mức 97 triệu người, trong đó tỉ lệ người cao tuổi phụ thuộc là 11%, tuổi thọ trung bình của nam giới là 72 tuổi, nữ giới là 81 tuổi [59] Theo Báo cáo của Ngân hàng thế giới, tháng 7/2016, dân số cao tuổi ở Việt Nam đang tăng lên nhanh chóng về
cả số lượng và tỷ trọng và Việt Nam được xếp là quốc gia có tốc độ già hóa thuộc hàng cao nhất thế giới từ trước đến nay Nếu như năm 1990, tỷ lệ người cao tuổi chỉ chiếm 7,2% dân số thì đến năm 2011, tỷ lệ này là 10% chính thức bắt đầu giai đoạn già hóa dân số theo dự báo già hóa dân số sẽ tiếp tục tăng nhanh: đến năm 2038, Việt Nam sẽ bắt đầu bước vào giai đoạn "dân số già" khi người cao tuổi sẽ chiếm 20% tổng dân số - tăng gấp 3 lần trong vòng 24 năm [49]
Trước năm 1945, Nhà nước phong kiến đã quy định trong Luật Nước (Luật Hồng Đức) về chăm sóc người già, thưởng cho người già có công, người già sống thọ, đồng thời pháp luật cũng đưa ra những quy định nghiêm trị con, cháu mắc tội bất hiếu, không chăm sóc ông bà, bố mẹ Bên cạnh đó, ở
xã thôn có hương ước, lệ làng quy định về việc chăm sóc, phụng dưỡng ông
bà, cha mẹ, việc hiếu,
Sau năm 1945, trong bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, tại Điều 14 đã
khẳng định: "Những công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì
giúp đỡ" Tư tưởng này được kế thừa, tiếp nối xuyên suốt các bản Hiến pháp
năm 1959, năm 1980, năm 1992 và năm 2013 Cụ thể, theo Khoản 3 Điều 37
Hiến pháp 2013 quy định "Người cao tuổi được Nhà nước, gia đình và xã hội
tôn trọng, chăm sóc và phát huy vai trò" Và theo đó, Điều 59 Hiến pháp 2013
Trang 40quy định Nhà nước có trách nhiệm xây dựng những chính sách trợ giúp người cao tuổi
Hiện nay, pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Nam được quy định trong nhiều văn kiện pháp lý Bao gồm: Hiến pháp năm 2013; Luật Người cao tuổi năm 2009; Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014; Luật Bảo hiểm y tế năm 2008, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y
tế năm 2014 và hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành các luật này… Trong đó, cụ thể và trực tiếp là Luật Người cao tuổi năm 2009, Luật người cao tuổi do Quốc hội ban hành ngày 23/11/2009; Nghị định số 06/2011/NĐ-
CP do Chính phủ ban hành ngày 14/01/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người cao tuổi; Nghị định số 136/2013/NĐ-CP
do Chính phủ ban hành ngày 21/10/2013 quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội và được hướng dẫn cụ thể trong Thông tư liên tịch số 29/20114/TTLT-BLĐTBXH-BTC hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội; Thông tư liên tịch số 06/2016/TTLT- BLĐTBXH-BTC ngày 15/5/2016 sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 29/20114/TTLT-BLĐTBXH-BTC hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội; Nghị định số 764/VBHN-LĐTBXH do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành ngày 28/02/2019 quy định về thành lập, tổ chức, hoạt động, giải thể và quản lý các cơ sở trợ giúp xã hội
Trong khu vực Châu Á, hiện nay, ở Nhật Bản tổng số dân tính đến tháng 7/2019 là hơn 125 triệu người Trong đó, tuổi thọ trung bình ở Nhật Bản của nam giới là 80,9 tuổi, nữ giới là 87,3 tuổi Tỷ lệ người cao tuổi phụ thuộc ở Nhật Bản là 46,8%, gấp 4 lần so với Việt Nam [60] Theo thống kê