1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về an sinh xã hội cho lao động nữ di cư phi chính thức tại việt nam

106 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu Pháp luật về an sinh xã hội cho lao động nữ di cư phi chính thức, về mặt khoa học pháp lý, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách tổng thể và trực tiếp

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ HOÀI THU

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Phạm Thị Đam

Trang 4

CHO LAO ĐỘNG NỮ DI CƯ PHI CHÍNH THỨC VÀ SỰ

ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT 7 1.1 Khái quát chung về an sinh xã hội cho lao động nữ di cư phi

chính thức 7

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của lao động nữ di cư phi chính thức 7 1.1.2 Khái niệm an sinh xã hội cho lao động nữ di cư phi chính thức 12 1.1.3 Sự cần thiết của an sinh xã hội đối với lao động nữ di cư phi

chính thức 25 1.2.3 Vai trò pháp luật về an sinh xã hội cho lao động nữ di cư phi

chính thức 34 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 37

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ AN SINH XÃ HỘI

CHO LAO ĐỘNG NỮ DI CƯ PHI CHÍNH THỨC VÀ THỰC

TIỄN ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM 38 2.1 Thực trạng pháp luật về bảo hiểm xã hội cho lao động nữ di

cư phi chính thức và thực tiễn thi hành 38

Trang 5

2.1.1 Thực trạng pháp luật về bảo hiểm xã hội cho lao động nữ di cư

phi chính thức ở Việt Nam 38 2.1.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về bảo hiểm xã hội cho lao động nữ

di cư phi chính thức ở Việt Nam 41

2.2 Thực trạng pháp luật về bảo hiểm y tế cho lao động nữ di cư

phi chính thức và thực tiễn thi hành 46

2.2.1 Thực trạng pháp luật về bảo hiểm y tế cho lao động nữ di cư phi

chính thức tại Việt nam 46 2.2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về bảo hiểm y tế cho lao động nữ di

cư phi chính thức 54

2.4 Thực trạng pháp luật về hỗ trợ tạo việc làm, thu nhập cho lao

động nữ di cư phi chính thức và thực tiễn thi hành 56

2.4.1 Thực trạng pháp luật về hỗ trợ tạo việc làm, thu nhập cho lao

động nữ di cư phi chính thức 56 2.4.2 Thực tiễn thi hành các quy định pháp luật về hỗ trợ việc làm, thu

nhập cho lao động nữ di cư phí chính thức 59

2.5 Thực trạng pháp luật về các dịch vụ xã hội cơ bản khác cho

lao động nữ di cư phi chính thức và thực tiễn thi hành 62

2.5.1 Thực trạng pháp luật về các dịch vụ xã hội cơ bản khác cho lao

động nữ di cư phi chính thức 62 2.5.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về các dịch vụ xã hội cơ bản khác 65 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 74

Trang 6

CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU

QUẢ PHÁP LUẬT VỀ AN SINH XÃ HỘI CHO LAO ĐỘNG

NỮ DI CƯ PHI CHÍNH THỨC TẠI VIỆT NAM 75

3.1 Những yêu cầu đặt ra cần phải hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả pháp luật về an sinh xã hội cho lao động nữ di cư phi chính thức tại Việt nam 75

3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về an sinh xã hội cho lao động nữ di cư phi chính thức ở Việt Nam hiện nay 77

3.3 Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả pháp luật về an sinh xã hội cho lao động nữ di cư phi chính thức tại Việt Nam 83

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 93

KẾT LUẬN 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ASXH An sinh xã hội BHXH Bảo hiểm xã hội BHXHTN Bảo hiểm xã hội tự nguyện BHYT Bảo hiểm y tế

BLLĐ Bộ luật lao động DVXH Dịch vụ xã hội ILO Tổ chức lao động quốc tế LĐDC Lao động di cư

LĐNDC Lao động nữ di cư NLĐ Người lao động NSDLĐ Người sử dụng lao động SXKD Sản xuất kinh doanh TGXH Trợ giúp xã hội TGXHTX Trợ giúp xã hội thường xuyên

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Di cư và dịch chuyển lao động là xu thế tất yếu trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Di cư góp phần phân bố lại dân cư, dịch chuyển

cơ cấu kinh tế, lao động, giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo Di cư đã

và đang trở thành sự lựa chọn của nhiều người dân nhằm cải thiện kế sinh nhai Người lao động thường di cư từ những vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa nơi có điều kiện kinh tế khó khăn đến nơi phát triển hơn, có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm, sinh kế hơn Đích đến của những người lao

động di cư là những nơi mà họ tin rằng họ có nhiều cơ hội việc làm và cải

thiện cuộc sống

Việt Nam đã chứng kiến sự gia tăng nhanh chóng của dòng người di cư trong nước Các nghiên cứu quốc tế và ở Việt Nam cũng cho thấy có mối quan hệ biện chứng giữa di cư và phát triển Di cư vừa là động lực thúc đẩy vừa là kết quả của sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia Đặc biệt, di

cư đã đóng góp vào việc giải quyết vấn đề thừa lao động ở nơi đi, đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực ở nơi đến Di cư cũng đem đến sự đa dạng văn hóa cho nơi đến Ở nhiều nơi trong cả nước, lao động di cư không chỉ làm những công việc người dân địa phương không muốn làm mà còn tham gia vào những công việc đòi hỏi những kỹ năng và tay nghề cao mà lao động địa phương không đáp ứng được Đặc biệt, với nhiều hộ dân cư ở khu vực nông thôn, di

cư được coi là một phần quan trọng trong chiến lược cải thiện điều kiện kinh

tế của gia đình Tuy nhiên, đối với lao động di cư phi chính thức - theo các tiêu chuẩn về thống kê lao động quốc tế, lao động phi chính thức là lao động không có hợp đồng lao động trong các doanh nghiệp thuộc khu vực chính thức, cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc khu vực phi chính thức hay hộ gia đình

Trang 9

Lao động phi chính thức thường có đặc điểm là việc làm bấp bênh và thiếu ổn định, thu nhập thấp và thời gian làm việc dài Lao động di cư phi chính thức

là những lao động tự do, không có quan hệ lao động về mặt pháp luật, đó có thể là lao động làm thuê, người giúp việc nhà, người làm việc tự do…Vì vậy,

họ có thể được xếp vào nhóm đối tượng yếu thế cần được sự hỗ trợ của nhà nước và cộng đồng Do không có quan hệ lao động về mặt pháp lý, cho nên những quyền lợi của họ trong lao động không hoặc ít được bảo vệ An sinh xã hội của lao động di cư phi chính thức cũng không được bảo đảm như lao động chính thức, đặc biệt là trong việc tham gia và hưởng lợi từ bảo hiểm xã hội Lao động nữ di cư phi chính thức là đối tượng của chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau mà việc tham gia bảo hiểm của lao động nữ di cư còn rất hạn chế

Tại hội thảo “Chính sách an sinh xã hội với lao động di cư phi chính thức” do Bộ LĐTB&XH phối hợp với các đơn vị tổ chức ngày 15/9/2017 cho biết cả nước chỉ có trên 190.000 người lao động ở khu vực phi chính thức tham gia BHXH tự nguyện, tương đương 0,5% tổng số lao động khu vực này Trong số hơn 190.000 người tham gia BHXH tự nguyện thì có đến 70% là nhóm đã tham gia BHXH bắt buộc, nay tham gia tiếp BHXH tự nguyện để đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí; số lao động phi chính thức tham gia mới BHXH tự nguyện rất ít Báo cáo cũng chỉ ra rằng 98% lao động phi chính thức hiện nay không được đóng bảo hiểm xã hội và mức lương trung bình của

họ chỉ bằng 2/3 mức lương của lao động trong khu vực chính thức

Để bảo đảm quyền lợi cho người lao động di cư nói chung, đặc biệt là lao động nữ di cư phi chính thức thì việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về an sinh xã hội cho nhóm lao động này rất quan trọng và cần thiết Vì vậy, tôi

chọn đề tài “Pháp luật về an sinh xã hội cho lao động nữ di cư phi chính thức

tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của mình Đề tài góp phần hệ thống hóa

Trang 10

các quy định pháp luật về an sinh xã hội, chỉ ra thực trạng, bất cập để đề xuất các giải pháp phù hợp hoàn thiện chính sách, pháp luật về an sinh xã hội cho lao động nữ di cư phi chính thức ở Việt Nam hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu

Pháp luật về an sinh xã hội cho lao động nữ di cư phi chính thức, về mặt khoa học pháp lý, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách tổng thể và trực tiếp đến vấn đề này, mà chủ yếu các công trình nghiên cứu phân tích về từng lĩnh vực cụ thể của an sinh xã hội, như: Lê Thị Hoài Thu,

Xây dựng Luật bảo hiểm y tế ở Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và pháp luật,

2008; Đào văn Dũng, Thực hiện chính sách bảo hiểm y tế ở nước ta: Thành

tựu, Thách thức và giải pháp, Tạp chí Tuyên giáo, 2009; Lê Thị Hoài Thu, Xây dựng Luật bảo hiểm y tế ở Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và pháp luật,

2008; Đào văn Dũng, Thực hiện chính sách bảo hiểm y tế ở nước ta: Thành

tựu, Thách thức và giải pháp, Tạp chí Tuyên giáo, 2009; Phạm Thị Phương

Liên, Quyền tiếp cận thông tin và thực hiện quyền tiếp cận thông tin ở Việt

Nam, Cổng thông tin điện tử Đại học Văn hóa Hà Nội; Nguyễn Hiền Phương

(Chủ biên), Pháp luật bảo hiểm y tế một số quốc gia trên thế giới và kinh

nghiệm cho Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2013; Năm 2014, Chuyên khảo

“Quyền An sinh xã hội và đảm bảo thực hiện trong pháp luật Việt Nam”, do

PGS.TS Lê Thị Hoài Thu chủ biên, được xuất bản Đây công trình tiêu biểu nghiên cứu toàn diện, hệ thống vấn đề quyền An sinh xã hội và bảo đảm quyền an sinh xã hội Cuốn sách tuy không đề cập trực tiếp đến an sinh xã hội cho lao động nữ di cư phi chính thức, nhưng tác giả đã gợi mở nhiều vấn đề cho việc tìm hiểu, nghiên cứu về an sinh xã hội, đặc biệt là trên phương diện quyền con người ở nước ta hiện nay; Luận văn thạc sĩ Luật học năm 2016 của

Nguyễn Vân Trang, Đảm bảo quyền an sinh xã hội trong việc tiếp cận các

dịch vụ xã hội cơ bản ở Việt Nam, đề cập đến quyền được bảo đảm an sinh xã

Trang 11

hội về các dịch vụ xã hội cơ bản, tuy nhiên luận văn chỉ đề cập tới quyền này với các đối tượng hưởng lợi nói chung mà không đề cập trực tiếp vấn đề này tới lao động nữ di cư phi chính thức

Về nghiên cứu thực tiễn, hiện nay có một số báo cáo khảo sát, đánh giá của các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội liên quan trực tiếp đến vấn đề di

cư và lao động nữ di cư phi chính thức Có thể kể đến như: Tổng cục thống kê

- Quỹ dân số liên hợp quốc, Điều tra di cư nội địa quốc gia 2015: Các kết quả

chủ yếu; Viện khoa học lao động và tổ chức HSF, Đánh giá kết quả thực hiện

chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện của khu vực phi chính thức, 2013; Viện

khoa học lao động và xã hội, Khảo sát lao động phi chính thức, 2017; Oxfarm, Nghiên cứu của Rào cản pháp luật và thực tiễn đối với người lao

động di cư trong tiếp cận an sinh xã hội 2015 Những báo cáo này, giúp

chúng ta có cái nhìn tổng quan về thực trạng pháp luật cũng như thực tiễn thi hành pháp luật về an sinh xã hội cho lao động di cư nói chung và lao động nữ

di cư phi chính thức nói riêng

Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu của những công trình nghiên cứu trước về an sinh xã hội, chúng tôi thực hiện đề tài Pháp luật về an sinh xã hội cho lao động nữ di cư phi chính thức ở Việt Nam với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào quá trình nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật an sinh xã hội ở nước ta Dựa vào những tìm hiểu, nghiên cứu một những văn bản pháp luật hiện hành ở nước ta về an sinh xã hội, chúng tôi

sẽ đề cập đến một số vấn đề lý luận, thực tiễn về an sinh xã hội cho lao động

nữ di cư phi chính thức tại Việt Nam

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục tiêu tổng quát

Trên cơ sở phân tích một số vấn đề lý luận pháp luật về an sinh xã hội cho lao động nữ di cư phi chính thức và đánh giá thực trạng pháp luật và thực

Trang 12

tiễn thi hành pháp luật về an sinh xã hội cho lao động nữ di cư phi chính thức, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả pháp luật về an sinh xã hội cho lao động nữ di cư phi chính thức tại Việt Nam hiện nay

3.2 Mục tiêu cụ thể

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về an sinh xã hội dưới góc độ pháp luật

- Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật;

- Đề xuất một số giải pháp khuyến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về an sinh xã hội cho lao động di cư phi chính thức ở nước ta hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản

và thực tiễn thực hiện pháp luật về an sinh xã hội cho lao động nữ di cư phi chính thức theo pháp luật Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Dưới góc độ khoa học pháp lý và phù hợp với chuyên ngành nghiên cứu, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật Việt Nam nhưng xoay quanh trục chính là pháp luật lao động về an sinh xã hội cho lao động nữ di cư phi chính thức tại Việt Nam, không đề cập đến các chế độ an sinh xã hội đối với người lao động nói chung và lao động di cư ra nước ngoài Đề tài có nghiên cứu các chuẩn mực quốc tế như các Công ước, Khuyến nghị ILO tham khảo kinh nghiệm cho pháp luật an sinh xã hội Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và nhà nước ta về phát triển kinh tế - xã hội, về vấn bảo đảm an sinh

xã hội nói chung và an sinh xã hội cho lao động nữ phi chính thức nói riêng Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sẽ vận dụng các nguyên lý của

Trang 13

chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích làm sáng tỏ các nội dung nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp, hệ thống, tiếp cận lịch sử và phương pháp so sánh để làm sáng tỏ những vấn đề liên quan

6 Tính mới và những đóng góp của đề tài

Đây là luận văn làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận, thực tiễn pháp luật về an sinh xã hội cho lao động nữ di cư phi chính thức ở Việt Nam Đề tài

có ý nghĩa lý luận góp phần vào xây dựng hệ thống văn bản pháp luật thống nhất, toàn diện về an sinh xã hội, làm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các quy phạm pháp luật liên quan, nhằm đảm bảo chất lượng đời sống cho người dân,

ổn định xã hội, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam

Luận văn làm rõ một số cơ sở lý luận về an sinh xã hội nói chung và an sinh xã hội cho lao động nữ di cư phi chính thức ở Việt Nam nói riêng

Luận văn đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về an sinh xã hội cho lao động nữ di cư phi chính thức ở Việt Nam

Luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật

và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về an sinh xã hội cho lao động nữ di

cư phi chính thức ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

7 Bố cục của luận văn

Ngoài lời mở đầu, các kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận về an sinh xã hội cho lao động nữ di

cư phi chính thức và sự điều chỉnh của pháp luật

Chương 2 Thực trạng pháp luật về an sinh xã hội cho lao động nữ di

cư phi chính thức và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam

Chương 3 Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả pháp luật về an

sinh xã hội cho lao động nữ di cư phi chính thức tại Việt Nam

Trang 14

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ AN SINH XÃ HỘI CHO LAO ĐỘNG

NỮ DI CƯ PHI CHÍNH THỨC VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH

CỦA PHÁP LUẬT

1.1 Khái quát chung về an sinh xã hội cho lao động nữ di cư phi chính thức

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của lao động nữ di cư phi chính thức

Trong qúa trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, lao động di cư là một phần không thể tách rời của nền kinh tế ở Việt Nam Thực tế cho thấy, lao động di cư đã có những đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế Lao động di cư chủ yếu là lao động

từ nông thôn di cư ra thành thị và vào các khu công nghiệp, họ có vai trò rất quan trọng trong quá trình sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, đây cũng là lực lượng lao động dễ bị tổn thương nhất và khó tiếp cận với các chính sách về an sinh xã hội, trong đó có chính sách về việc làm, y tế, giáo dục…

Sau khi di cư, những người lao động tham gia vào nhiều việc làm thuộc lao động chính thức và cả phi chính thức Để phân biệt khu vực kinh tế chính thức và khu vực kinh tế phi chính thức là dựa trên sự khác nhau giữa lao động được trả lương, lao động tự làm, lao động có hợp đồng lao động hay không Năm 1993, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Cơ quan Thống kê Liên hợp quốc (UNSD) đã đi đến thống nhất khái niệm về khu vực kinh tế phi chính thức và lao động phi chính thức Theo đó, khu vực kinh tế phi chính thức được hiểu một cách chung nhất, là tập hợp các đơn vị sản xuất ra sản phẩm vật chất và dịch vụ với mục tiêu chủ yếu nhằm tạo ra công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động Các đơn vị này thường hoạt động với tổ chức quy

mô nhỏ, quan hệ lao động chủ yếu dựa trên lao động không thường xuyên,

Trang 15

quan hệ họ hàng hoặc quan hệ cá nhân hơn là những quan hệ qua hợp đồng với những đảm bảo chính thức Các đơn vị sản xuất của khu vực phi chính thức có những đặc điểm của cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể, doanh nghiệp

hộ gia đình Tài sản cố định và những tài sản khác không thuộc về đơn vị sản xuất mà thuộc về chủ sở hữu đầu tư Các đơn vị này không thể đứng ra ký kết hợp đồng với các doanh nghiệp khác theo đúng luật định và họ cũng không thể đứng ra tự trang trải nợ với tư cách của mình Người chủ sở hữu phải tự cân đối thu chi, tự chịu rủi ro Chi phí sản xuất không phân biệt với chi phí gia đình Tương tự, việc sử dụng hàng hoá có giá trị như nhà cửa hay xe cộ không phân biệt là dành cho kinh doanh hay mục đích tiêu dùng của gia đình

Còn lao động phi chính thức, theo khung khái niệm của ILO, lao động phi chính thức phi nông nghiệp bao gồm các nhóm sau đây: (1) Lao động tự làm trong các đơn vị sản xuất kinh doanh của chính họ thuộc khu vực kinh tế phi chính thức; (2) Người chủ làm việc trong các đơn vị sản xuất kinh doanh của chính họ thuộc khu vực kinh tế phi chính thức; (3) Lao động gia đình, không kể họ làm việc trong đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc khu vực kinh tế chính thức hay khu vực kinh tế phi chính thức; (4) Xã viên của hợp tác xã thuộc khu vực kinh tế phi chính thức; (5) Lao động làm công ăn lương với công việc phi chính thức trong các đơn vị sản xuất kinh doanh chính thức, lao động làm công ăn lương trong các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc khu vực kinh tế phi chính thức, hay lao động làm thuê công việc gia đình trong các hộ gia đình; và (6) Người tự làm tham gia vào quá trình sản xuất ra sản phẩm vật chất và dịch vụ dùng cho nhu cầu tự tiêu dùng của chính hộ gia đình họ

Như vậy, lao động phi chính thức và việc làm phi chính thức là hai khái niệm và phạm trù khác nhau Nói đến lao động phi chính thức là nói đến con người – người lao động, còn nói đến việc làm phi chính thức là nói đến công việc Lao động phi chính thức được xác định là lao động có việc làm phi

Trang 16

chính thức Mỗi lao động chỉ được xác định trên một công việc chính (hay gọi

là việc làm chính) Như vậy, lao động phi chính thức có thể được tìm thấy trong cả khu vực phi chính thức và ngoài khu vực phi chính thức Khu vực kinh tế phi chính thức được định nghĩa là khu vực hoạt động của tất cả các

cơ sở sản xuất kinh doanh (SXKD) không có tư cách pháp nhân, sản xuất ít nhất một hoặc một vài sản phẩm và dịch vụ để bán hoặc trao đổi, không đăng kí kinh doanh (không có giấy phép kinh doanh) Ở Việt Nam, các cơ sở SXKD hoạt động trong khu vực này chủ yếu là hộ sản xuất kinh doanh cá thể phi nông nghiệp và các tổ hợp tác Việc làm phi chính thức được định nghĩa là việc làm không có bảo hiểm xã hội (đặc biệt là bảo hiểm xã hội bắt buộc) và không có hợp đồng lao động từ đủ 01 tháng trở lên (theo pháp luật Việt Nam), hầu hết các việc làm thuộc khu vực kinh tế phi chính thức được coi là việc làm phi chính thức Lao động phi chính thức được định nghĩa là lao động có việc làm phi chính thức

Như vậy, Lao động phi di cư phi chính thức là những người lao động di

cư từ vùng này sang vùng khác hoặc từ quốc gia này đến quốc gia khác làm việc trong khu vực kinh tế chính thức và cả khu vực kinh tế phi chính thức Không có hợp đồng lao động Họ không được hưởng các quyền lợi trong lao động như lao động chính thức Trong đó có lao động nữ di cư phi chính thức Trong phạm vi đề tài này tác giả chỉ đề cập đến người lao động nữ di cư từ vùng này sang vùng khác trong phạm vi biên giới một quốc gia

Lao động nữ di cư phi chính thức là lao động nữ di cư từng vùng này sang vùng khác làm việc trong khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức,

họ không có hợp đồng lao động, cho nên những quyền lợi hợp pháp của họ không được bảo đảm, như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, hỗ trợ thất nghiệp

và các chính sách an sinh xã hội khác tại nơi họ đến làm việc Họ là nhóm lao động dễ bị tổn thương nhất, do họ làm trong những ngành nghề không có sự

Trang 17

quản lý chặt chẽ của cơ quan nhà nước và quy định của pháp luật lao động, dễ

bị lạm dụng tình dục, nơi họ đến lao động họ hầu như không được hưởng các chính sách an sinh xã hội

Lao động nữ di cư phi chính thức ở Việt Nam có một số đặc điểm cơ bản sau:

Một là, số lượng lao động nữ di cư ngày càng tăng, tập trung ở các thành phố lớn

Theo Báo cáo của Tổng cục Thống kê, năm 2012 số lao động di cư là 6,57 triệu người; năm 2015, số lao động di cư là 17,6 triệu người, năm 2016, tổng số lao động phi chính thức ở Việt Nam là hơn 18,01 triệu người, tăng 2,8% so với năm 2015; trong đó, nữ chiếm hơn 7,8 triệu người, tương đương 43,56% [32] Một dự báo cho thấy, người lao động di cư giữa các tỉnh sẽ tiếp tục gia tăng mạnh mẽ so với tỷ lệ gia tăng dân số, năm 2019, số người lao động di cư là 8 triệu người, chiếm 9,4% tổng dân số

Các tỉnh có tỷ lệ người lao động di cư cao là các tỉnh nghèo, có mật độ dân số cao, thu nhập bình quân đầu người thấp Xét về nơi đến, các địa phương cũng có sự thu hút lao động nhập cư khác nhau Khu vực Đông Nam

Bộ có sức hút lớn nhất, với tỷ suất người lao động nhập cư lên đến 127%, do nơi này là khu vực kinh tế năng động nhất, tập trung nhiều khu công nghiệp Con số này gấp 8 lần Đồng bằng sông Hồng và 32 lần đồng bằng sông Cửu Long Đông Nam Bộ có 16,3% dân số, nhưng chiếm tới 37% số doanh nghiệp của cả nước và thu hút tới 44% tổng vốn đăng ký đầu tư trực tiếp của nước ngoài trong 20 năm (1988-2008) Đặc biệt, có tới 99,7% người xuất cư lao động ở Đồng bằng sông Cửu Long chọn điểm đến là Đông Nam Bộ Tỷ lệ này

ở Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung là 74% Đồng bằng sông Hồng là vùng lao động nhập cư lớn thứ hai của cả nước

Trang 18

Hai là, lao động nữ di cư phi chính thức là đối tượng gặp nhiều khó khăn, dễ bị tổn thương Người lao động nữ di cư nói chung và lao động nữ di

cư phi chính thức nói riêng thường gặp những khó khăn trong cuộc sống, đặc biệt là trong thời gian đầu của di cư Khó khăn mà họ thường gặp là khó khăn

về nhà ở, phương tiện đi lại, nuôi dạy con cái, hưởng thụ sự trợ giúp từ phía Nhà nước, tiếp cận các dịch vụ an sinh xã hội cho người nghèo, hộ khẩu

Báo cáo nghiên cứu của Actionaid (2009) tại các khu công nghiệp nằm trên địa bàn của ba thành phố lớn (Hà Nội, Đà Nẵng, Tp Hồ Chí Minh) cho thấy, Lao động nữ di cư phi chính thức thường không có bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế hay các chính sách trợ cấp xã hội khác; không thể tự bảo vệ mình khỏi những rủi ro về sức khỏe và an toàn bản thân Người lao động nữ di cư phi chính thức do không có hợp đồng lao động hoặc có hợp đồng không rõ ràng và bất lợi cho họ, ít có cơ hội bảo vệ bản thân trước những tranh chấp kinh tế với chủ thuê lao động Nhiều doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp nhà nước, đã thuê lực lượng lao động không có nghề theo mùa vụ để làm việc mà không ký hợp đồng

Ba là, nhiều lao động nữ di cư ở độ tuổi thấp Một đặc điểm đáng lưu ý

là có sự khác biệt đáng kể giữa độ tuổi hiện nay của nữ lao động di cư với độ tuổi của nữ lao động di cư lần đầu tiên Gần 29% phụ nữ đã di cư lần đầu trong độ tuổi 15-19; nhiều người trong số họ đã di cư trong một khoảng thời gian dài Độ tuổi trung bình của nữ lao động di cư hiện nay cao hơn độ tuổi trung bình trong lần di cư đầu tiên là 6 tuổi Đây là một điều khá tích cực vì tính trung bình, phụ nữ lao động di cư có quãng thời gian khá dài để ổn định công việc trong môi trường làm việc mới

Bốn là, trình độ chuyên môn của lao động nữ di cư thấp Đa phần lao

động nữ di cư từ nông thôn ra thành thị và các khu công nghiệp, họ chưa được đào tạo, làm các công việc phổ thông, chủ yếu tham gia vào lao động chân tay

là chính, thời gian làm việc kéo dài, công việc và thu nhập bấp bênh

Trang 19

Năm là, lao động nữ di cư phi chính thức có hiểu biết hạn chế về các

quyền và thông tin an sinh xã hội về việc làm và thu nhập, bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội và dịch vụ xã hội cơ bản Môi trường làm việc và chế độ làm việc khác nhau, lao động nữ di cư khu vực chính thức vẫn có hiểu biết tốt hơn lao động nữ di cư khu vực phi chính thức về các chính sách liên quan đến bảo hiểm xã hội và tham gia tổ chức đại diện Do hiểu biết hạn chế về quyền an sinh xã hội của mình nên nhiều lao động nữ di cư phi chính thức cũng không biết cách làm thế nào để tiếp cận các quyền an sinh xã hội hay tìm kiếm sự hỗ trợ, giúp đỡ để tiếp cận các quyền đó tại nơi đến Khó khăn lớn nhất mà người

di cư gặp phải ở nơi đến là chỗ ở Họ cũng bất lợi hơn lao động địa phương khi chịu chi phí sinh hoạt (điện, nước) cao hơn do chủ nhà trọ áp dụng giá điện, nước kinh doanh đối với người thuê

Như vậy, có thể hiểu, lao động di cư phi chính thức là lao động di chuyển từ vùng này sang vùng khác hoặc từ quốc gia này đến quốc gia khác nhưng không có hợp đồng lao động và họ không được hưởng các quyền lợi như lao động chính thức

Lao động nữ di cư phi chính thức ở Việt Nam là lao động di cư từ vùng này sang vùng khác để tìm kiếm việc làm và làm việc không có hợp đồng lao động từ đủ 01 tháng trở lên Họ không được pháp luật lao động bảo vệ và không được hưởng các quyền an sinh xã hội như lao động chính thức

1.1.2 Khái niệm an sinh xã hội cho lao động nữ di cư phi chính thức

An sinh xã hội có nội dung rất rộng, hiểu như thế nào là an sinh xã hội cho đến hiện nay vẫn còn nhiều định nghĩa với mức độ rộng hẹp và đối tượng hướng tới có sự khác nhau nhất định cả trong nước và quốc tế

Theo Liên hiệp quốc, an sinh xã hội được tiếp cận dựa trên quyền con người:

…Mọi người dân và hộ gia đình đều có quyền có một mức tối thiểu về sức khỏe và các phúc lợi xã hội bao gồm ăn, mặc,

Trang 20

chăm sóc y tế (bao gồm cả chế độ thai sản), dịch vụ xã hội thiết yếu và có quyền được an sinh khi có các biến cố về việc làm, ốm đau, tàn tật, góa phụ, tuổi già… hoặc các trường hợp bất khả kháng khác… [8, Điều 25]

Ngân hàng thế giới (WB) định nghĩa: An sinh xã hội là những biện pháp của chính phủ nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính

dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập

Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): An sinh xã hội là một sự bảo vệ

mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh

tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật do lao động, mất sức lao động hoặc tử vong Cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình nạn nhân có trẻ em

Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) cũng cho rằng: “An sinh xã hội là các chính sách, chương trình giảm nghèo và giảm sự yếu thế bởi sự thúc đẩy

có hiệu quả thị trường lao động giảm thiểu rủi ro của người dân và nâng cao năng lực của họ để đối phó với rủi ro và suy giảm hoặc mất thu nhập” An sinh xã hội có 5 hợp phần: (i) các chính sách và chương trình thị trường lao động; (ii) bảo hiểm xã hội; (iii) trợ giúp xã hội; (iv) quỹ hỗ trợ phát triển cộng đồng và (v) bảo vệ trẻ em

Năm 2009, Liên hợp quốc phát triển sáng kiến “Sàn an sinh xã hội” với mục đích đảm bảo cho mọi người dân có mức thu nhập tối thiểu và tiếp cận được các dịch vụ xã hội thiết yếu, nhằm bảo đảm các quyền cơ bản của con người được quốc tế và quốc gia thừa nhận, vì mục tiêu giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội

Các cấu phần chính của “Sàn an sinh xã hội” bao gồm: (i) chăm sóc sức

Trang 21

khỏe cơ bản; (ii) thu nhập tối thiểu cho người trong tuổi lao động nhưng không có khả năng tạo thu nhập vĩnh viễn (người khuyết tật), hoặc mất việc làm tạm thời (người bị thất nghiệp), hoặc thu nhập thấp hơn mức đủ sống (người nghèo); (iii) thu nhập tối thiểu đối với người trên tuổi lao động (người cao tuổi) và dưới tuổi lao động (trẻ em) Bên cạnh đó, sàn an sinh xã hội cũng nhấn mạnh đến các dịch vụ xã hội thiết yếu cho con người, bao gồm: (i) Chăm sóc y tế cơ bản; (ii) nước sinh hoạt hợp vệ sinh; (iii) nhà ở; (iv) giáo dục; và (v) Các dịch vụ khác tùy theo ưu tiên của từng quốc gia

Mặc dù, các tổ chức nói trên đưa ra những khái niệm và cách thức diễn đạt khác nhau, nhưng quan niệm về an sinh xã hội đều có những điểm chung sau đây:

Một là, an sinh xã hôi là sự bảo đảm an toàn thu nhập ở mức tối thiểu

trên cơ sở hệ thống các chính sách can thiệp nhằm quản lý rủi ro tốt hơn, bao gồm các rủi ro liên quan đến nhu cầu cơ bản nhất của con người: Rủi

ro về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thiếu hoặc mất việc làm, tuổi già, trẻ em, tàn tật…dẫn đến không có thu nhập tạm thời hoặc vĩnh viễn so với mức sống tối thiểu

Hai là, an sinh xã hội là các chính sách do nhà nước ban hành và tổ

chức thực hiện là chính, ngoài ra còn có sự phối hợp, tham gia của các tổ chức

xã hội, cộng đồng trong việc tổ chức thực hiện và cung cấp dịch vụ an sinh xã hội Các chính sách an sinh xã hội hướng đến mọi thành viên trong xã hội, bảo đảm cho mọi thành viên được bình đẳng về tiếp cận và chất lượng dịch

vụ, đặc biệt là nhóm đối tượng yếu thế

Ba là, an sinh xã hội là lưới an toàn cho mọi thành viên trong xã hội

Tức là an sinh xã hội phải bao phủ hết các thành viên, kể cả những người yếu thế và đáp ứng nhu cầu về các hình thức an sinh xã hội của người dân Do đó, phạm vi của an sinh xã hội là bao phủ toàn dân và toàn diện

Trang 22

Ở Việt Nam, chính sách an sinh xã hội chủ yếu tiếp cận ở ba vấn đề cơ bản: (1) Bảo hiểm xã hội; (2) Cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người lao động và các thành viên trong gia đình họ (có thể hiểu là chính sách

về bảo hiểm y tế); (3) Bảo trợ xã hội/ Trợ giúp xã hội [23, tr.15] Trong đó chính sách bảo hiểm xã hội được xem là trụ cột của an sinh xã hội Việt nam

Theo cuốn Quyền an sinh xã hội và bảo đảm thực hiện trong pháp luật Việt Nam, thì:

An sinh xã hội là sự bảo vệ, trợ giúp của nhà nước và cộng đồng đối với những người “yếu thế” trong xã hội bằng các biện pháp khác nhau nhằm hỗ trợ cho các đối tượng khi họ bị suy giảm khả năng lao động, giảm sút thu nhập, hoặc là bị rủi ro, bất hạnh, hoặc là trong tình trạng nghèo đói, hoặc là ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, mất sức lao động, già yếu… động viên, khuyến khích tự lực vươn lên giải quyết các vấn

dễ bị tổn thương nhất trong xã hội nhưng mạng lưới an sinh xã hội từ trước đến nay chưa bao phủ nhiều đến họ

Trang 23

1.1.3 Sự cần thiết của an sinh xã hội đối với lao động nữ di cư phi chính thức

Xã hội ngày càng phát triển thì phụ nữ càng khẳng định được vai trò của mình, lao động nữ di cư nói chung và lao động nữ di cư phi chính thức nói riêng đã có những đóng góp quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội và luôn thể hiện vai trò không thể thiếu của mình trong các lĩnh vực đời sống xã hội, nhất là trong lĩnh vực hoạt động vật chất, lao động nữ là lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi sống con người, lao động nữ còn

“sản xuất” ra bản thân con người để duy trì và phát triển xã hội Ngoài ra, nền văn hóa dân gian của bất kì đất nước hay dân tộc nào cũng có sự tham gia của đông đảo phụ nữ bằng nhiều hình thức khác nhau Tuy nhiên, ngoài việc thực hiện nghĩa vụ lao động như nam giới thì lao động nữ còn phải đảm nhận chức năng làm mẹ nên có những đặc điểm riêng về sức khỏe, tâm sinh lý, do đó việc bảo vệ quyền của lao động nữ nói chung và lao động nữ di cư phi chính thức nói riêng là hết sức cần thiết, điều này xuất phát từ những lý do sau đây:

Xét về thể lực, do những đặc thù không thể thay đổi về cấu trúc cơ thể,

so với lao động nam thì lao động nữ thường gặp nhiều trở ngại về sức khoẻ, cũng như độ dẻo dai do những ảnh hưởng của giới tính, điều này vô hình chung đã hạn chế quyền được tham gia lao động bình đẳng với nam giới Bù lại so với lao động nam thì lao động nữ lại khéo léo, bền bỉ, kiên trì hơn trong công việc, do đó những công việc mang vác nặng nhọc thường do lao động nam đảm nhận còn những công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ, khéo léo do lao động nữ đảm nhận Mặc dù ngày nay, quyền bình đẳng giữa hai giới đã được quan tâm

và thúc đẩy mạnh mẽ nhưng trong suy nghĩ của người sử dụng lao động đều cho rằng nam giới nhanh nhạy hơn cũng như khả năng tiếp cận công việc nhanh hơn nữ giới

Trang 24

Về mặt tâm lý, nhất là các nước Châu á, nếu những phụ nữ sống ở thành

phố, đã tiếp thu những luồng tư tưởng mới, phù hợp với sự phát triển hiện đại của kinh tế - xã hội thì lao động nữ di cư phi chính thức chủ yếu xuất than từ nông thôn, vẫn chịu ảnh hưởng của quan niệm truyền thống, mang nặng tâm

lý trọng nam kinh nữ, do đó người phụ nữ ít được tham gia vào các quan hệ

xã hội, ít được học hành Trong thực tế đời sống hiện nay thì tư tưởng đó gần như đã được xóa bỏ, vị thế của người lao động nữ được nâng cao và vai trò của họ đã được xã hội thừa nhận Tuy nhiên đối với lao động nữ di cư phi chính thức, đa số họ là lao động phổ thông, không có trình độ chuyên môn, xuất thân từ các vùng nông thôn hay các tỉnh miền núi khi di cư, đa phần lao động nữ tham gia vào công việc nặng nhọc, quá sức

Một số doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước không muốn tiếp nhận lao động nữ vào làm việc; trên các thông tin đăng tuyển việc làm trên mạng

xã hội, nhiều doanh nghiệp còn chú thích rõ: Chỉ tuyển lao động nam Giải thích về vấn đề này các doanh nghiệp thường ngụy biện rằng do yêu cầu công việc nên không tuyển lao động nữ, hoặc số lượng nhân viên đã đủ lao động nữ nên không tuyển Mặc dù thực tế cho thấy lao động nữ hoàn toàn có thể làm các công việc này, có khi còn làm tốt hơn nam giới Chính vì những đặc điểm trên dẫn tới vị thế của lao động nữ khá thấp trong quan hệ lao động, và làm tăng số lượng lao động nữ di cư phi chính thức

So với nam giới, sự khác biệt khá lớn về thể lực cũng như tâm sinh

lý gây khó khăn cho lao động nữ nói chung và lao động nữ di cư phi chính thức nói riêng, hơn nữa do sức khỏe yếu hơn lao động nam nên trong quá trình tham gia lao động, lao động nữ dễ có khả năng bị ốm, mắc các bệnh nghề nghiệp cao hơn, nhất là đối với môi trường lao động độc hại, nguy hiểm Chính yếu tố này cũng hạn chế sự lựa chọn việc làm trong những ngành độc hại - những ngành có thu nhập cao, hạn chế cơ hội tuyển dụng của đối tượng này

Trang 25

Bên cạnh đó, sự bất ổn định về công việc của lao động nữ di cư phi chính thức cũng cao hơn lao động nữ di cư chính thức và cũng cao hơn lao động nam bởi do thiên chức làm mẹ, người lao động nữ phải nghỉ sinh, hoặc chăm sóc con cái khi đau ốm, bệnh tật… điều này làm gián đoạn quá trình sản xuất của các doanh nghiệp nên người sử dụng lao động thường mang tâm lý ngại sử dụng lao động nữ kể cả khu vực kinh tế chính thức hay phi chính thức Trong khi đó, vì nhiều lý do khác nhau mà an sinh xã hội dành cho đối tượng này còn hạn chế, kể cả khi họ thực hiện thiên chức làm mẹ họ cũng chưa được hưởng các quyền lợi như lao động nữ chính thức Vì vậy, để an sinh xã hội bao phủ một cách toàn diện các nhóm đối tượng yếu thế, thì việc bảo đảm an sinh xã hội cơ bản cho lao động nữ di cư phi chính thức là cần thiết và cấp bách hơn

1.2 Sự điều chỉnh của pháp luật về an sinh xã hội cho lao động nữ

cơ sở đối tượng điều chỉnh, luật an sinh xã hội chủ yếu sử dụng hai phương pháp điều chỉnh cơ bản là phương pháp mệnh lệnh và phương pháp tùy nghi Trên cơ sở đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh Gi áo trình trường Đại học Luật Hà nồi đưa ra khái niệm: Luật an sinh xã hội là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong tổ chức và thực hiện việc trợ giúp đối với các thành viên

Trang 26

trong xã hội khi họ gặp rủi ro trong cuộc sống nhằm giảm bớt những khó khăn, bất hạnh mà bản thân họ không thể tự mình khắc phục được, góp phần đảm bảo cho xã hội tồn tại và phát triển an toàn, bền vững và tiến bộ

Từ khí niệm về luật an sinh xã hội, có thể hiểu nói đến luật an sinh xã hội là nói đến một ngành luật, còn nói đến pháp luật về an sinh xã hội là tổng hợp nhiều ngành luật điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến an sinh xã hội trong đó có ngành Luật an sinh xã hội

Trên cơ sở đó, chúng ta có thể đưa ra khái niệm: pháp luật về an sinh xã hội cho lao động nữ di cư phi chính thức là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành quá trình tổ chức

và thực hiện việc trợ giúp lao động nữ di cư phi chính thức khi họ gặp rủi ro trong cuộc sống giảm bớt những khó khăn mà họ gặp phải khi họ không thể

và phải đóng bảo hiểm xã hội theo quy định Đối tượng được hưởng trợ cấp

xã hội phải là người đang gặp hoàn cảnh rủi ro, bất hạnh mà bản thân không thể tự khắc phục được Tương tự như vậy, được hưởng trợ cấp ưu đãi xã hội phải là những người đã có cống hiến, hy sinh cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc

Nhưng giữa nguyên lí và thực tiễn luôn luôn có một khoảng cách rất

Trang 27

xa Mặc dù việc được hưởng an sinh xã hội là quyền của mọi thành viên trong xã hội nếu họ thỏa mãn các điều kiện về đối tượng được hưởng, tuy nhiên có nhiều trường hợp dù đủ điều kiện, nhưng một số đối tượng vẫn không được hưởng những chế độ an sinh xã hội này Bởi vậy, cần căn cứ vào các điều kiện kinh tế- xã hội cụ thể của đất nước trong từng giai đoạn phát triển về tổ chức và hoàn thiện dần việc đảm bảo nguyên tắc trên được thực hiện đầy đủ và đúng đắn

Thứ hai, là nhà nước thống nhất quản lí vấn đề an sinh xã hội: Cơ sở

của nguyên tắc này nằm ngay chính ở chức năng xã hội của nhà nước Nhà nước, người chủ sở hữu cao nhất đồng thời là người chủ sử dụng lao động lớn nhất, người đại diện cho toàn xã hội phải là người thống nhất quản lý toàn bộ lĩnh vực an sinh xã hội Sự thống nhất quản lí an sinh xã hội thể hiện ở chỗ, trước hết, Nhà nước định ra các “chính sách xã hội”, cùng với các chính sách kinh tế, chính sách văn hóa, an ninh quốc phòng Đồng thời, Nhà nước ban hành hệ thống pháp luật an sinh xã hội nhằm thể chế hóa các chính sách xã hội ấy Để thực thi có hiệu quả các văn bản pháp luật, Nhà nước thành lập hệ thống các cơ quan chức năng về an sinh xã hội cũng như kiểm tra việc tổ chức, thực hiện các chính sách, chế độ an sinh xã hội của các cơ quan này Là người chủ sở hữu lớn nhất, Nhà nước còn trực tiếp đóng góp hoặc hỗ trợ vào nguồn thực hiện các chế độ an sinh xã hội Ví dụ, Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm quỹ bảo hiểm xã hội để thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội, bên cạnh

sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động Phần lớn quỹ dùng để ưu đãi cho người có công với cách mạng và quỹ cứu trợ xã hội cũng chủ yếu do ngân sách Nhà nước cấp Tuy nhiên, nguyên tắc Nhà nước thống nhất quản lý an sinh xã hội không có nghĩa là hoàn toàn loại trừ sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức, đoàn thể xã hội Tùy theo vị trí, chức năng của từng tổ chức, như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Công

Trang 28

đoàn, Hội nông dân Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Hội chữ thập đỏ… mà pháp luật trao cho họ một số quyền và cả trách nhiệm tương ứng trong việc tham gia tổ chức quản lí một số mặt hoạt động thuộc an sinh xã hội

Thứ ba, là kết hợp hài hòa chính sách kinh tế và chính sách xã hội:

Nguyên tắc kết hợp hài hòa chính sách kinh tế và chính sách xã hội xuất phát từ quan niệm “con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của chính sách xã hội” của nhà nước Mục tiêu của chính sách xã hội là nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người và vì con người Trong khi đó, nguồn lực của con người lại được xác định là “yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh

và bền vững” Đến lượt nó, phát triển kinh tế lại đóng vai trò là cơ sở, là tiền đề

để thực hiện chính sách xã hội Do vậy, kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế

và phát triển văn hóa - xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội là chủ trương có tính chiến lược của Nhà nước ta Chúng ta không chờ cho nền kinh tế phát triển cao rồi mới tiến hành giải quyết các vấn đề xã hội mà chú trọng đến các vấn đề xã hội trong từng bước cũng như suốt quá trình phát triển kinh tế “ Kết hợp hài hòa”, cũng không đồng nghĩa với ảo tưởng là có thể giải quyết tất

cả các vấn đề xã hội ngay trong cùng một lúc, nhất là đối với một quốc gia đang ở giai đoạn thấp của sự phát triển như nước ta hiện nay Có thể nói, không ngành luật nào trong hệ thống pháp luật Việt Nam mà nguyên tắc kết hợp hài hòa giữa chính sách kinh tế và xã hội lại thể hiện một cách rõ ràng và xuyên suốt như trong luật an sinh xã hội

Thứ tư, là kết hợp hài hòa giữa nguyên tắc “hưởng thụ theo đóng góp”

và nguyên tắc “lấy đông bù số ít” Nguyên tắc có “tính chất kép” này rất đặc trưng cho pháp luật an sinh xã hội Nếu nhìn riêng từng nguyên tắc nhỏ thì thấy chúng chứa đựng những nội dung khác nhau, tuy nhiên chúng không loại trừ nhau mà bổ sung cho nhau Nguyên tắc “hưởng thụ theo đóng góp” trong

Trang 29

luật an sinh xã hội chính là sự cụ thể hóa nguyên tắc “công bằng xã hội” – nguyên tắc bao trùm lên nhiều lĩnh vực của đời sống Điều này là cần thiết, bởi vì đối với một nước đang phát triển như Việt Nam thì hưởng thụ tương ứng với đóng góp, vẫn là một điều không thể tránh khỏi Tuy nhiên, nguyên tắc “hưởng thụ theo đóng góp” trong an sinh xã hội không hoàn toàn giống nhau như áp dụng nguyên tắc “phân phối theo lao động” trong luật lao động Nguyên tắc này thường được áp dụng trong việc thực hiện trợ cấp bảo hiểm

xã hội đối với người lao động, cũng như ưu đãi người có công Ở đây, mức trợ cấp cho các đối tượng căn cứ vào mức độ, thời gian đóng góp của họ vào quỹ trợ cấp (đối với bảo hiểm xã hội) hoặc mức độ, thời gian cống hiến, hy sinh của họ (đối với ưu đãi xã hội) Nguyên tắc “lấy số đông bù số ít” thể hiện tính nhân đạo xã hội Nguyên tắc này thường chủ yếu áp dụng trong các chế

độ bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội Tinh thần cơ bản của nguyên tắc “lấy số đông bù số ít” là ở chỗ, bằng sự đóng góp, trợ giúp của nhiều người sẽ hạn chế, giảm thiểu khó khăn, bất hạnh cho một thiểu số người Ở đây, thể hiện rất rõ tính tương trợ, tương thân, tương ái Những đối tượng gặp rủi ro không phải đóng góp gì và được giúp đỡ căn cứ chủ yếu vào hoàn cảnh, mức độ khó khăn, hiểm nghèo của từng trường hợp Tuy nhiên, cũng không nên hiểu “sự kết hợp hài hòa” trong nguyên tắc này một cách máy móc như nhau ở mọi lúc, mọi nơi Tùy thuộc vào từng mối quan hệ, hoặc từng khâu của mỗi chế

độ, từng loại đối tượng của an sinh xã hội mà có sự áp dụng linh hoạt và phù hợp Có như vậy mới phát huy đúng tinh thần của nguyên tắc có “tính chất kép” này Các trợ cấp an sinh xã hội có nhiều mức khác nhau Tuy nhiên, về nguyên tắc, mức trợ cấp không cao hơn mức thu nhập khi làm việc, nhưng mức thấp nhất cũng phải đảm bảo những nhu cầu tối thiểu, thiết yếu cho những người được thụ hưởng

Trang 30

Thứ năm, là đa dạng hóa, xã hội hóa các hoạt động an sinh xã hội: Các

nguyên nhân gây ra rủi ro rất nhiều nên nhu cầu an sinh của các thành viên trong xã hội cũng rất đa dạng Vì vậy, để đáp ứng được các nhu cầu ấy, các hoạt động an sinh xã hội cũng phải được đa dạng hóa Nghĩa là cần đảm bảo sao cho các chế độ an sinh xã hội phải thực sự là “tấm lá chắn”, là “lưới an toàn” của xã hội Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng dù sao các chế độ trợ giúp, các mức trợ cấp cũng phải trên cơ sở nhu cầu thực tế và không thể thoát ly được khả năng và điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn Việc tổ chức, thực hiện an sinh xã hội, như đã nói, trước hết thuộc chức năng, trách nhiệm xã hội của Nhà nước, đặc biệt đối với một quốc gia chủ trương thực hiện “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” như Việt Nam Tuy nhiên, điều này không hoàn toàn loại trừ việc thực hiện xã hội hóa các hoạt động an sinh xã hội Bởi vì, suy cho cùng, các công việc xã hội, các vấn đề xã hội phải do toàn xã hội đảm nhiệm, gánh vác, trong đó Nhà nước giữ vai trò ví như người “nhạc trưởng” Điều này cũng phải phù hợp với định nghĩa của ILO về an toàn xã hội: An toàn xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng…

An sinh xã hội cho lao động nữ di cư phi chính thức ngoài các nguyên tắc chung trên, là đối tượng thụ hưởng đặc thù có một số nguyên tắc riêng sau:

Nguyên tắc cộng đồng: Việc xây dựng và vận hành hệ thống chính sách

xã hội phải trên tinh thần đề cao tính cộng đồng về trách nhiệm Tính cộng đồng này biểu hiện cả ở sự đóng góp và hưởng thụ Một chính sách xã hội tốt khi nó huy động được sức mạnh cộng đồng trong việc tham gia tạo lập các điều kiện vật chất căn bản để thực hiện Mặt khác, nó cũng đảm bảo có sự

“chia ngọt, sẻ bùi” giữa các tầng lớp dân cư, giữa cá nhân và tập thể, giữa Nhà nước và toàn xã hội, giữa lao động chính thức và lao động phi chính thức Chính sách xã hội sẽ không chỉ được đặt trên đôi vai Nhà nước mà nó

Trang 31

còn có sự hỗ trợ của mọi người, mọi tổ chức, mọi cá nhân, thậm chí cần có sự

cố gắng vươn lên của chính những người được hưởng sự chăm sóc đó Tinh thần chung là cần xã hội hoá công tác xã hội, cả trong quá trình xây dựng, tạo lập các quỹ đảm bảo xã hội và trong quá trình thực hiện các chế độ đảm bảo

xã hội đó Trong đó, cần kết hợp ba nguồn lực: Nhà nước, cộng đồng và các đối tượng chính sách tự vươn lên

Nguyên tắc công bằng: Thể hiện mối quan hệ giữa đóng góp với hưởng

lợi, giữa mức hưởng lợi hay đóng góp của các nhóm đối tượng có cùng hoàn cảnh và điều kiện Việc thực hiện nguyên tắc này nhằm khuyến khích người lao động tích cực tham gia vào hệ thống thông qua tính công khai, minh bạch

Nguyên tắc đối xử công bằng hoạt động đảm bảo các chế độ phải dựa trên hệ thống các quy tắc, tiêu chuẩn, được định tính, định lượng rõ ràng, minh bạch Về mặt nguyên tắc, các đối tượng thuộc cùng hệ phải được đối xử ngang nhau Trong một số trường hợp, tính công bằng biểu hiện ở việc tính toán mức độ đóng góp, cống hiến cho xã hội mà giải quyết các chế độ đảm bảo vật chất hoặc tinh thần cụ thể nhằm tránh gây nên sự thiệt thòi, thiếu cân đối giữa các đối tượng chính sách Tuy nhiên, cũng cần phải hiểu rằng trong

hệ thống các chế độ an sinh xã hội không phải chế độ nào cũng máy móc áp dụng nguyên tắc phân phối theo lao động, theo sự cống hiến Có những đối tượng vừa sinh ra đã chịu sự thiệt thòi do tâm sinh lí bẩm sinh có vấn đề không bình thường, đặc biệt là các nạn nhân chất độc màu da cam Hoặc có những người vừa mới tham gia quá trình lao động, chiến đấu, học tập, nghiên cứu thì đã phải chịu những rủi ro làm mất khả năng tiếp tục lao động, cống hiến Do đó, nếu chỉ áp dụng nguyên tắc phân phối theo lao động sẽ không nhận được sự đồng tình của xã hội Đối với các đối tượng đó, nguyên tắc công bằng có biểu hiện đặc biệt, rộng hơn, là một trong những khía cạnh quan trọng của vấn đề nhân đạo và quyền con người chứ không chỉ trong phạm vi

Trang 32

của phạm trù cống hiến và hưởng thụ Nguyên tắc này cần thiết với đối tượng đặc thù là người lao động di cư phi chính thức Họ tham gia vào quá trình lao động nhưng “không có quan hệ lao động” vì họ không được thiết lập hợp đồng lao động, cho nên trong quá trình lao động họ đã chịu nhiều thiệt thòi vì không được pháp luật lao động bảo vệ, vì thế pháp luật an sinh cần phải đảm bảo sự công bằng cho họ trong các quyền về an sinh xã hội, vì việc đóng góp

và hưởng thụ chính sách an sinh giữa lao động chính thức và phi chính thức đang có sự khác nhau rất rõ rệt, đặc biệt trong các quy định về chế độ thai sản cho nữ lao động di cư phi chính thức

Nguyên tắc tập trung hỗ trợ: bảo đảm mức sống tối thiểu cho người

dân khi bị rủi ro làm suy giảm hoặc mất thu nhập tạm thời hay vĩnh viễn, đặc biệt là người nghèo, đối tượng dễ bị tổn thương, nữ lao động di cư Sự hỗ trợ cần phải đến được với tất cả những người dân khi họ không may gặp rủi ro, trong đó có lao động nữ di cư phi chính thức là đối tượng dễ gặp rủi ro nhất trong cuộc sống vì đặc thù công việc của họ

1.2.2 Nội dung pháp luật về an sinh xã hội cho lao động nữ di cư phi chính thức

ASXH được manh nha từ nửa đầu thế kỷ XIX, với sự kiện Chính phủ Anh công bố “Luật cứu tế mới” vào năm 1834 Luật này công nhận cứu trợ

xã hội là một lưới đỡ thấp nhất trong hệ thống ASXH và lần đầu tiên trên thế giới hệ thống ASXH đã được thực hiện dựa trên luật pháp, được điều tiết bởi luật pháp Đến năm 1850, nhiều Bang ở Đức đã thành lập quỹ ốm đau và yêu cầu công nhân phải đóng để dự phòng khi bị giảm thu nhập vì bệnh tật,

từ đó xuất hiện hình thức bắt buộc đóng góp mới Đến cuối những năm

1880, ASXH (lúc này là BHXH) đã mở ra hướng mới Sự tham gia là bắt buộc và không chỉ người lao động đóng góp mà giới chủ và Nhà nước cũng phải thực hiện nghĩa vụ của mình (cơ chế ba bên) Tính chất đoàn kết và san

Trang 33

sẻ lúc này được thể hiện rõ nét: mọi người, không phân biệt già – trẻ, nam –

nữ, người khoẻ – người yếu mà tất cả đều phải tham gia đóng góp Mô hình này của Đức đã lan dần ra châu Âu, sau đó sang các nước Mỹ Latin, rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX Sau chiến tranh thế giới thứ hai, ASXH đã lan rộng sang các nước giành được độc lập ở châu á, châu Phi và vùng Caribê

Năm 1935, Mỹ đã đưa ra đạo luật về ASXH, đạo luật này quy định thực hiện chế độ bảo vệ tuổi già, chế độ tử tuất, tàn tật và trợ cấp thất nghiệp Thuật ngữ ASXH được chính thức sử dụng Đến năm 1941, trong Hiến chương Đại Tây Dương và sau đó Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) chính thức dùng thuật ngữ này trong các công ước quốc tế An sinh xã hội đã được tất cả các nước thừa nhận là một trong những quyền con người Nội dung của ASXH đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948 Trong bản Tuyên ngôn có viết:

“Với tư cách là một thành viên của xã hội, ai cũng có quyền được hưởng an sinh xã hội, cũng như có quyền đòi được hưởng những quyền kinh tế, xã hội

và văn hoá cần thiết cho nhân phẩm và sự tự do phát huy cá tính của mình, nhờ những nỗ lực quốc gia, sự hợp tác quốc tế, và theo cách tổ chức cùng tài nguyên của quốc gia” và điều 25 khẳng định lại: “…Ai cũng có quyền được hưởng an sinh xã hội trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tật nguyền, góa bụa, già yếu, hay thiếu phương kế sinh nhai do những hoàn cảnh ngoài ý muốn” [8, Điều 22, 25] Ngày 25/6/1952, Hội nghị toàn thể của ILO đã thông qua Công ước số 102, được gọi là Công ước về ASXH (tiêu chuẩn tối thiểu) trên cơ sở tập hợp các chế độ về ASXH đã có trên toàn thế giới thành

09 bộ phận [25] Đó là:

Chăm sóc về y tế: là việc phải cung cấp những trợ giúp cho người được bảo vệ khi tình trạng của họ cần đến sự chăm sóc y tế có tính chất phòng bệnh

Trang 34

hoặc chữa bệnh Các trường hợp bảo vệ phải bao gồm mọi tình trạng đau ốm

vì bất kỳ nguyên nhân nào và cả trong các trường hợp thai nghén, sinh đẻ và các hậu quả tiếp theo

Trợ cấp ốm đau: là việc bảo đảm tự cung cấp cho những người được bảo vệ khoản trợ cấp do mất khả năng lao động do ốm đau gây ra và dẫn đến gián đoạn thu nhập

Trợ cấp thất nghiệp: dành cho những người bảo vệ được nhận một khoản trợ cấp khi mất việc làm không “tự nguyện” Trường hợp bảo vệ phải bao gồm tình trạng gián đoạn thu nhập và xảy ra do không thể có được một công việc phù hợp trong khi người được bảo vệ có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc

Trợ cấp tuổi già (hưu bổng) để đảm bảo cho những người được bảo vệ trong tình trạng họ có thời gian sống lâu hơn một độ tuổi quy định

Trợ cấp trong trường hợp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp Theo ILO, trường hợp được bảo vệ trong chế độ này phải bao gồm những trường hợp nếu do các tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp gây ra: đau

ốm, mất khả năng lao động dẫn đến gián đoạn thu nhập, mất hoàn toàn khả năng thu nhập hoặc một phần khả năng thu nhập, mất nguồn thu nhập do người trụ cột trong gia đình chết…

Trợ cấp gia đình (phụ cấp gia đình) theo đó các trường hợp được bảo

vệ là những người làm công ăn lương hay những loại được quy định trong dân

số hoạt động được bảo vệ về những gánh nặng về con cái

Trợ cấp thai sản áp dụng trong các trường hợp bảo vệ gồm thai nghén, sinh đẻ và những hậu quả kéo theo đó dẫn đến sự gián đoạn về thu nhập gây khó khăn cho đối tượng…

Trợ cấp tàn tật: được thực hiện trong những trường hợp bản thân đối tượng cần được bảo vệ không có khả năng tiến hành một hoạt động có thu nhập

Trang 35

ở một mức độ nhất định khi mà tình trạng đó có nguy cơ trở thành thường xuyên hoặc kéo dài sau khi đã ngừng thực hiện các khoản trợ cấp về ốm đau

Trợ cấp tiền tuất được thực hiện trong khi những người thân thích (vợ, con cái) mất phương tiện sinh sống do người trụ cột trong gia đình chết

Với các chế độ an sinh xã hội như đã nêu ở trên, tổ chức lao động quốc

tế cũng khuyến nghị rằng tại một thời điểm chỉ nên được hưởng không quá một trong số ba chế độ: mất sức, tuổi già, thất nghiệp

Theo Công ước 102, Nhà nước chịu trách nhiệm chính về bộ máy quản

lý, sự bảo đảm an toàn và kiểm soát hoạt động của quỹ an sinh xã hội, tạo điều kiện cho đại diện của những người được bảo vệ, người sử dụng lao động

và Chính phủ cùng tham gia Công ước 102 duy trì những tiêu chuẩn quan trọng cơ bản về an sinh xã hội mặc dù đã có hàng loạt các Công ước cụ thể, chi tiết về các nhánh (chế độ) đặc biệt này Có thể kể đến các Công ước và khuyến nghị về an sinh xã hội sau:

Công ước Số 102 An sinh xã hội (Các tiêu chuẩn tối thiểu), 1952; công ước Số 103 Bảo vệ thai sản (Sửa đổi), 1952; Công ước Số 118 Bình đẳng trong đối xử,1962; Công ước Số 121 Chế độ về tai nạn lao động, 1964; Công ước Số 157 Duy trì quyền lợi BHXH, 1982… và các Khuyến nghị: Số 95 Bảo

vệ thai sản (Sửa đổi), 1952; Số 121 Chế độ tai nạn lao động, 1964; Số 131 Chế độ mất sức lao động, tuổi già và tuất, 1967; Số 134 Chế độ ốm đau và chăm sóc y tế, 1969; Số 162 Người lao động cao tuổi, 1980; Số 167 Duy trì quyền lợi BHXH, 1983; Số 176 Xúc tiến việc làm và chống thất nghiệp, 1988; Khuyến nghị R.202 - Sàn An sinh Xã hội, 2012 (Số 202)

Ngoài ra, còn có một số các Công ước về an sinh xã hội với những tiêu chuẩn cao hơn, chẳng hạn về đối tượng hoặc mức hưởng các chế độ Tuy nhiên, Công ước 102 vẫn còn có hiệu lực bao phủ hơn cả, bao gồm mục tiêu tối thiểu, cơ bản đối với từng nhánh (chế độ) và thiết lập được một phạm vi

Trang 36

rộng lớn với những quy định có tính nguyên tắc chung nhằm khuyến khích phát triển mạnh mẽ các chương trình (hệ thống) an sinh xã hội ở khắp các quốc gia Như vậy, an sinh xã hội sẽ làm chức năng phòng ngừa, khắc phục rủi ro thông qua chính sách BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp và chính sách trợ giúp xã hội liên quan đến giáo dục, dạy nghề tạo việc làm, chính sách trợ giúp xã hội

Nhìn về tổng thể trong hệ thống an sinh xã hội của các nước thường có nhiều thành phần khác nhau, gồm: Bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội, trợ cấp gia đình, các loại quỹ tiết kiệm và các khoản trợ cấp được tài trợ bởi ngân sách nhà nước

Xét về bản chất, ASXH là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội với phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng, nhằm tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội và

vì vậy mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc Có thể thấy rõ bản chất của ASXH từ những khía cạnh sau:

Mục tiêu của ASXH là tạo ra một lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp bảo vệ cho tất cả mọi thành viên của cộng đồng trong những trường hợp bị giảm hoặc bị mất thu nhập hoặc phải tăng chi phí đột xuất trong chi tiêu của gia đình do nhiều nguyên nhân khác nhau, như ốm đau, thương tật, già cả, tai nạn… gọi chung là những biến cố và những “rủi ro xã hội” có thể xẩy ra Để tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp, ASXH dựa trên nguyên tắc san

sẻ trách nhiệm và thực hiện công bằng xã hội, được thực hiện bằng nhiều hình thức, phương thức và các biện pháp khác nhau Với mục tiêu này, an sinh xã hội là sự biểu hiện rõ nét nhất quyền con người đã được Liên hợp quốc thừa nhận Theo đó, an sinh xã hội có nội dung rất rộng, nhưng tập trung vào ba vấn

đề chủ yếu: Bảo hiểm xã hội; cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người lao động và các thành viên gia đình họ (BHYT); các loại trợ giúp xã hội

Trang 37

ASXH tạo cho những người bất hạnh, những người kém may mắn hơn những người bình thường khác có thêm những điều kiện, những lực đẩy cần thiết để khắc phục những “biến cố”, những “rủi ro xã hội”, có cơ hội để phát triển, hoà nhập vào cộng đồng với ý nghĩa này ASXH mang tính nhân đạo cao đẹp

ASXH thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, tương thân tương ái của cộng đồng Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là một trong những nhân tố để ổn định và phát triển xã hội Sự san sẻ trong cộng đồng, giúp đỡ những người bất hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người, bảo đảm cho một xã hội phát triển lành mạnh

Xét về mặt cấu trúc, nhìn ở góc độ khái quát nhất, ASXH gồm những

Về Bảo hiểm xã hội: Đây được xem là bộ phận lớn nhất và quan tọng

nhất trong hệ thống ASXH Có thể nói, không có BHXH thì không thể có một nền ASXH vững mạnh BHXH ra đời và phát triển từ khi cuộc cách mạng công nghiệp xuất hiện ở châu Âu BHXH nhằm bảo đảm cuộc sống cho những người công nhân công nghiệp và gia đình họ trước những rủi ro xã hội như ốm đau, tai nạn, mất việc làm…, làm giảm hoặc mất thu nhập Tuy nhiên, cũng do tính lịch sử và phức tạp của vấn đề, khái niệm BHXH đến nay cũng chưa được hiểu hoàn toàn thống nhất và gần đây có xu hướng hòa nhập giữa BHXH với ASXH Khi đề cập đến vấn đề chung nhất, người ta dùng khái niệm SOCIAL SECURITY và vẫn dịch là BHXH, nhưng khi đi vào cụ thể từng chế độ thì BHXH được hiểu theo nghĩa của từ SOCIAL INSURANCE

Trang 38

Tuy nhiên, sự hòa nhập này không có nghĩa là hai thuật ngữ này là một Theo

nghĩa hẹp, có thể hiểu BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần

thu nhập cho người lao động khi họ mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm, thông qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội, nhằm góp phần bảo đảm an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ; đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội

BHXH có những điểm cơ bản là: BHXH dựa trên nguyên tắc cùng chia

sẻ rủi ro giữa những người tham gia; đòi hỏi tất cả mọi người tham gia phải đóng góp tạo nên một quỹ chung; các thành viên được hưởng chế độ khi họ gặp các “sự cố” và đủ điều kiện để hưởng; chi phí cho các chế độ được chi trả bởi quỹ BHXH; nguồn quỹ được hình thành từ sự đóng góp của những người tham gia, thường là sự chia sẻ giữa chủ sử dụng lao động và người lao động, với một phần tham gia của Nhà nước; đòi hỏi tham gia bắt buộc, trừ những trường hợp ngoại lệ; phần tạm thời chưa sử dụng của Quỹ được đầu tư tăng trưởng, nâng cao mức hưởng cho người thụ hưởng chế độ BHXH; các chế độ được bảo đảm trên cơ sở các đóng góp BHXH, không liên quan đến tài sản của người hưởng BHXH; các mức đóng góp và mức hưởng tỷ lệ với thu nhập trước khi hưởng BHXH Ở nước ta bảo hiểm xã hội được chia là hai loại là bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện Đối với lao động nữ

di cư phi chính thức chỉ thuộc đối tượng của bảo hiểm xã hội tự nguyện

Về bảo hiểm y tế: Trong quá trình sinh sống và lao động, con người

khó tránh khỏi những lúc ốm đau, tai nạn, bệnh tật, rủi ro về sức khỏe… lúc này, nhu cầu được chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh trở nên cấp thiết và không có sự lựa chọn với họ Vấn đề đặt ra là, khi ốm đau, tai nạn rủi ro người lao động sẽ không tham gia vào quá trình lao động được, tức thu nhập của họ sẽ bị giảm sút Đồng thời, họ còn phải chi trả các chi phí liên quan đến

Trang 39

điều trị, chăm sóc sức khỏe Chính vì vậy, gây rất nhiều khó khăn về tài chính cho những người lao động không may bị ốm đau, bệnh tật, tai nạn, họ rất cần đến sự hỗ trợ của nhà nước, xã hội và cộng đồng để giúp họ vượt qua khó khăn Để khắc phục những tình trạng đó, các hoạt động bảo hiểm liên quan đến chăm sóc sức khỏe đã bắt đầu xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX và theo ILO chăm sóc y tế là một chế độ chính trong cấu trúc an toàn xã hội Chính sách này được quy định tại Công ước 102 – Quy phạm tối thiểu về an sinh xã hội ngày 28/6/1952 của ILO từ điều 7 đến điều 12 phần II Theo đó, các quốc gia phải đảm bảo việc cung cấp sự trợ giúp cho những người được bảo vệ khi tình trạng của họ cần đến sự chăm sóc ý tế có tính chất phòng bệnh hoặc chữa bệnh Các trường hợp phải bảo vệ bao gồm ốm đau vì bất kể lý do gì và tình trạng mang thai, sinh đẻ và các hậu quả tiếp theo

Bảo hiểm y tế có đối tượng tham gia rộng rãi, bao gồm tất cả các thành viên trong xã hội không phân biệt lứa tuổi, giới tính, khu vực làm việc hay hình thức phát sinh quan hệ lao động Bảo hiểm y tế không nhằm bù đắp cho người thụ hưởng về thu nhập của họ mà nhằm chăm sóc sức khỏe cho họ khi

họ bị ốm đau, bệnh tật, tai nạn, sinh đẻ… trên cơ sở hình thức bảo hiểm y tế

mà họ tham gia BHYT là chi phí ngắn hạn, không được định trước và không phụ thuộc vào thời gian đóng và mức đóng mà phụ thuộc vào mức độ bệnh tật

và khả năng cung ứng dịch vụ y tế là chủ yếu Như vậy, đối với lao động nữ

di cư phi chính thức cũng trong diện được thụ hưởng chính sách này

Về Trợ giúp xã hội: là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội về thu nhập

và các điều kiện sinh sống thiết yếu khác đối với mọi thành viên của xã hội trong những trường hợp bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ khả năng để tự

lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình

Trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ thêm của cộng đồng và xã hội bằng tiền hoặc bằng các điều kiện và phương tiện thích hợp để đối tượng được giúp đỡ

Trang 40

có thể phát huy khả năng tự lo liệu cuộc sống cho mình và gia đình, sớm hòa nhập trở lại với cuộc sống của cộng đồng

Trợ giúp xã hội có đặc điểm:

- Thuế được dùng để tài trợ cho các chương trình xã hội đa dạng để chi trả trợ cấp

- Trợ cấp được chi trả khi các điều kiện theo quy định được đáp ứng

- Thẩm tra tài sản (thu nhập, tài sản và vốn) thường dùng được xác định mức hưởng trợ cấp

Các dịch vụ xã hội cơ bản khác như: việc làm, thu nhập và giảm

nghèo, nhà ở, giáo dục, về nước sạch…những dịch vụ này hướng tới người

nghèo, người già, người tàn tật, trẻ em không nơi nương tựa, những đối tượng yếu thế trong xã hội Những dịch vụ này rất cần thiết cho lao động nữ di cư và gia đình họ Đặc biệt là các quy định về nhà ở và giáo dục

Hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam ngày càng được hoàn thiện và đã

có bốn trụ cột hết sức quan trọng Đó là: Phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu rủi ro, khắc phục rủi ro và các dịch vụ an sinh xã hội cơ bản

Về trụ cột phòng ngừa rủi ro để đảm bảo cuộc sống cho người dân bao gồm ba yếu tố cơ bản nhất, đó là: Một là giải quyết việc làm; hai là đào tạo nâng cao tay nghề để người lao động bước vào thị trường lao động; ba là giảm nghèo bền vững Giảm nghèo bền vững là chính sách xã hội nhưng lại tác động đến an sinh xã hội của người dân; Trụ cột thứ hai là giảm thiểu rủi ro bao gồm 2 yếu tố cơ bản BHYT và BHXH; Trụ cột thứ ba là khắc phục rủi ro

để giải quyết vấn đề này cần phải có một sàn an sinh xã hội, tức là phải đảm bảo lương cho người cao tuổi không có thu nhập; Trụ cột thứ tư là 5 dịch vụ

xã hội cơ bản, nhà ở tối thiểu, y tế, giáo dục, nước sinh hoạt và thông tin truyền thông Trong đó, nhà ở là vấn đề quyết định, phải trở thành một trụ cột quan trọng của an sinh xã hội

Ngày đăng: 11/05/2020, 20:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w