1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc điểm dịch tễ học của viêm não vi rút ở trẻ em tại tỉnh bắc giang giai đoạn 2008 2016

73 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Còn với nhóm tácnhân vi rút gây bệnh từ động vật và côn trùng như vi rút viêm não Nhật BảnVNNB chủ yếu gây bệnh cho trẻ em ở khu vực châu Á Thái Bình Dương,còn với tác nhân vi rút viêm n

Trang 2

ĐỖ THỊ THU HUYỀN

đặc điểm dịch tễ học của viêm não vi rút

ở trẻ em tại TỉNH bắc giang giai đoạn 2008 - 2016

Chuyờn ngành: Y tế cụng cộng

Mó số: 60720301

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CễNG CỘNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

Hướng dẫn 1: TS VŨ ĐèNH THIỂM Hướng dẫn 2:PGS.TS NGễ VĂN TOÀN

Chủ tịch hội đồng: GS.TS Nguyễn Trần Hiển

Hà Nội – Năm 2019LỜI CẢM ƠN

Trang 3

quản lý đào tạo Sau đại học Trường Đại học Y Hà nội đã tạo điều kiện thuậnlợi và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để tôi có thể hoànthành luận văn này.

Tôi xin bày tỏ sự kính trọng, lòng biết ơn tới PGS.TS Ngô Văn Toàn, TS

Vũ Đình Thiểm, những người thầy đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi rấtnhiều trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến:

- Tập thể ban lãnh đạo và các cán bộ của Khoa Kiểm soát bệnh truyền nhiễm,Trung tâm Thử nghiệm lâm sàng, Trung tâm đào tạo và quản lý khoa học,Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương,

- Tập thể lãnh đạo và cán bộ các đơn vị: Sở Y tế, Trung tâm Kiểm soát bệnh tậttỉnh Bắc Giang, Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang, Bệnh viện sản nhi tỉnhBắc Giang, Bệnh viện đa khoa huyện Lục Ngạn,

- Các thầy cô và cán bộ Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng vàKhoa Đào tạo sau đại học- Trường Đại học Y Hà Nội,

- Các anh/chị/em học viên Cao học khóa 26 chuyên ngành Y tế công cộng

Đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn sự chia sẻ và động viên của những người thântrong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học

Hà Nội, ngày 16 tháng 05 năm 2018

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Thu HuyềnLỜI CAM ĐOAN

Trang 4

1. Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn củathầy Ngô Văn Toàn và thầy Vũ Đình Thiểm.

2. Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công

bố tại Việt Nam

3. Các số liệu thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực và kháchquan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi nghiên cứu

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này

Hà Nội, ngày tháng 06 năm 2019

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Thu Huyền

Trang 5

Ký hiệu Viết đầy đủ tiếng Anh Viết giải nghĩa tiếng Việt

Kỹ thuật miễn dịch enzyme

MAC –

ELISA

IgM Antibody Capture Linked Immunosorbent Assay

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hội chứng viêm não (HCNV) có thể do tác nhân là vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng và cũng có thể là do hóa chất gây nên Viêm não vi rút (VNVR) là một quá trình bệnh lý viêm xảy ra ở tổ chức nhu mô não, do nhiều loại vi rút có ái lực với tế bào thần kinh gây ra [1] VNVR thường để lại những di chứng về thần kinh như rối loạn vận động, rối loạn ngôn ngữ, giảm trí tuệ…Chính vì thế, VNVR trở thành mối quan tâm của thế giới về sức khỏe cộng đồng đặc biệt là các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam Hàng năm ở châu Á có khoảng 133.000 trẻ nhập viện được ghi nhận là do VNVR với những triệu chứng lâm sàng chủ yếu là sốt, rối loạn thần kinh và rối loạn vận động với căn nguyên hàng đầu là do vi rút viêm não Nhật Bản (VNNB) [2].

Viêm não vi rút do vi rút VNNB được khống chế rất thành công bằng vắc xin ở một số nước Bắc Á, nhưng nó vẫn còn là một vấn đề y tế đáng quan tâm tại một số nước Nam Á như Ấn Độ, Bangladesh….Tại Việt Nam, viêm não vi rút được ghi nhận

ở hầu khắp các vùng nông thôn từ miền đồng bằng đến miền núi với căn nguyên chủ yếu là do vi rút VNNB Chính vì vậy, việc sử dụng vắc xin VNNB để dự phòng bệnh

đã được đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng từ năm 1997 cho trẻ em từ 1-5 tuổi với tỷ lệ bao phủ vắc xin ngày càng cao Do đó, số trường hợp mắc VNVR được giảm từ 2.000 đến 3.000 trường hợp hàng năm trước những năm 2000 xuống còn 1.200- 1.500 trường hợp mỗi năm [3], [4].

Ngược lại, trong giai đoạn 1999-2011, Bắc Giang là tỉnh có số mắc VNVR/100.000 dân cao nhất nước ta với những trường hợp bệnh viêm não tối cấp có

tỷ lệ tử vong được ghi nhận chủ yếu ở trẻ em; Nhưng đến giai đoạn 2012-2016 số mắc này giảm rõ rệt, số mắc VNVR ở Bắc Giang chỉ đứng thứ tư sau một số tỉnh miền núi như Điện Biên, Sơn La, Lào Cai Nhằm mô tả được các yếu tố dịch tễ học liên quan đến VNVR ở trẻ em tại Bắc Giang cũng như một số yếu tố liên quan đến VNVR và nhằm chia sẻ kinh nghiệm phòng chống VNVR cho trẻ em Đề tài nghiên

Trang 9

cứu: “Đặc điểm dịch tễ học của viêm não vi rút ở trẻ em tại tỉnh Bắc Giang

giai đoạn 2008-2016 ” được thực hiện với những mục tiêu cụ thể như sau:

- Mục tiêu 1: Mô tả một số đặc điểm dịch tễ học của viêm não vi rút tại tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2008-2016.

- Mục tiêu 2: Mô tả một số yếu tố liên quan đến viêm não vi rút tại tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2008-2016.

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1.Đại cương về viêm não vi rút

1.1.1 Khái niệm:

VNVR là một quá trình bệnh lý nhiễm vi rút cấp tính xảy ra ở tổ chứcnhu mô não, do nhiều loại vi rút có ái lực với tế bào thần kinh gây ra Đặcđiểm lâm sàng đa dạng, nhưng biểu hiện chủ yếu là hội chứng não cấp(HCNC) gây rối loạn ý thức với nhiều mức độ khác nhau [5]

Thực tế cho thấy, HCNC có nhiều nguyên nhân bao gồm các tác nhân

vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng và có thể là hóa chất Trong đó tác nhân hàngđầu gây HCNC được ghi nhận là vi rút

1.1.2 Tác nhân viêm não vi rút

Bảng 1.1 Các tác nhân phổ biến gây viêm não do vi rút:

Nhóm 1: Vi rút

lây truyền qua

đường tiêu hóa,

hô hấp

Vi rút thường xâm nhập từ vùng mũihọng, sau đó vào máu và đến não gâytổn thương viêm não hoặc viêm não-màng não

Vi rút Nipah

Vi rút đường ruột

Nhóm 2: Vi rút

gây bệnh do động

vật và côn trùng

Vi rút VNNB xâm nhập qua vết đốtcủa côn trùng, đi trực tiếp vào máu vàđến não gây tổn thương đến hệ thầnkinh trung ương

Vi rút VNNB

Vi rút viêm nãongựa miền đông,miền tây

mẹ (thường gây viêm não sơ sinh)

Vi rút herpes

Vi rút CMV

Tùy phân vùng địa lý, điều kiện sinh thái và tác động can thiệp mà sự nổitrội của các tác nhân vi rút gây HCNC được ghi nhận cũng khác nhau theothời gian Đối với vi rút gây bệnh trực tiếp qua đường tiêu hóa như vi rútđường ruột, HCNC do tác nhân này có thể gặp ở hầu hết các nước phát triển

và chưa phát triển và gặp chủ yếu ở trẻ em; Với tác nhân lây truyền qua

Trang 11

đường hô hấp như vi rút Nipah chủ yếu xuất hiện ở Malaysia trong nhữngnăm 1998-1999 ghi nhận chủ yếu ở người lớn [2], [6], [7] Còn với nhóm tácnhân vi rút gây bệnh từ động vật và côn trùng như vi rút viêm não Nhật Bản(VNNB) chủ yếu gây bệnh cho trẻ em ở khu vực châu Á Thái Bình Dương,còn với tác nhân vi rút viêm não ngựa miền Đông, miền Tây chủ yếu gâybệnh ở châu Mỹ… Đối với HCNC do vi rút VNNB, do hiệu quả sử dụng vắcxin để can thiệp, những trường hợp HCNC do vi rút VNNB ở các nước Bắc

Á gần như không còn ghi nhận Hiện tại những trường hợp VNNB chủ yếuđược ghi nhận ở những nước Nam Á hoặc ở những khu vực tỷ lệ tiêm phòngvắc xin VNNB thấp [7], [8], [9] Với nhóm vi rút gây bệnh cơ hội như vi rútherpes simplex 1 (HSV1) là tác nhân gây HCNC được ghi nhận cao ở cácnước phát triển như một số nước châu Âu, châu Mỹ và ở mọi lứa tuổi đặc biệt

ở người lớn [10], [12], [14]

1.1.3 Cơ chế bệnh sinh:

Vi rút VNNB là nguyên nhân quan trọng nhất gây ra VNVR ở Châu Á.Đây là một loại vi rút do muỗi truyền, cùng họ và chi với các vi rút gây sốtxuất huyết, sốt vàng và vi rút West Nile Bệnh VNNB lây truyền qua muỗi(giống Culex) Lợn và chim là những vật chủ chính trong vòng đời của vi rútVNNB, trong khi đó người và ngựa là vật chủ đầu cuối Các điều kiện tạothuận lợi cho sự nhiễm vi rút VNNB ở người là các yếu tố khiến con ngườisống gần với các ổ chứa vi rút gần người (lợn), tiếp xúc với muỗi nhiễm virút Những điều kiện này thường thấy ở nông thôn đồng bằng hoặc miền núichâu Á, nơi có tập quán trồng lúa nước là nơi đẻ trứng lý tưởng của muỗi.Chăn nuôi lợn tạo điều kiện cho sự lưu hành của vi rút VNNB trong tự nhiên

và từ đó truyền cho người [8]

Trang 12

Vi rút VNNB có thể gây nhiễm và tạo ra một hội chứng lâm sàng ở cácmức độ khác nhau ở mọi độ tuổi từ thể ẩn đến thể điền hình Tất cả mọi ngườisau nhiễm vi rút nếu chưa có miễn dịch đều có thể mắc bệnh, trong đó trẻ em

là nhóm có tỷ lệ mắc bệnh VNNB cao nhất ở những vùng có vi rút lưu hành.Muỗi mang vi rút VNNB khi đốt người sẽ truyền vi rút qua da, vi rút nhânlên tại chỗ ở các tổ chức ngoài thần kinh như cơ vân, cơ trơn, cơ tròn và ở cáchạch lympho lân cận, đi vào tuyến ức kích thích cơ thể tạo kháng thể rồi vàomáu Hoạt động của hệ thống miễn dịch tạo kháng thể xảy ra trước khi có triệuchứng lâm sàng Sau thời gian ủ bệnh sẽ bộc lộ triệu chứng nhiễm vi rút ở thểđiển hình hoặc thể ẩn tùy thuộc số lượng vi rút được đưa vào cơ thể, đường lâynhiễm, độc lực và khả năng bảo vệ chéo của các vi rút cùng nhóm Flavivirus[9] Ở thể ẩn, cơ thể có đủ khả năng tự bảo vệ thông qua hệ thống miễn dịch,tiêu diệt hết vi rút VNNB, nên vi rút không đến được thần kinh trung ương và

cơ thể không có biểu hiện bệnh lý gì Sự nhiễm vi rút thể ẩn được ghi nhậnbằng sự có mặt của kháng thể đặc hiệu kháng vi rút VNNB trong huyết thanh.Thể điển hình, vi rút VNNB xâm nhập vào hệ thần kinh trung ương, làm thayđổi các tế bào nội mô, thoái hóa vách mao mạch gây phù não, tăng áp lực nội

sọ cũng như bạch cầu và lympho cũng có thay đổi và đặc biệt là có sự xuấthiện kháng thể đặc hiệu kháng vi rút trong dịch não tủy [6],[15], [16],[17]

1.1.4 Đặc điểm lâm sàng của bệnh:

Bệnh VNNB có biểu hiện sốt kết hợp với sự kích ứng hệ thần kinh trungương Thời gian ủ bệnh thay đổi từ 5-15 ngày Khi phát bệnh, giai đoạn biểuhiện rõ ràng nhất của bệnh rơi từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 6, bệnh nhân sốt rấtcao, có rối loạn thần kinh thực vật, vã mồ hôi, diễn biến của bệnh thay đổi từmức độ nhẹ đến nặng, tỷ lệ bệnh nhân co giật lên đến trên 80%, thường xảy ra

ở trẻ em nhiều hơn là ở người lớn Biểu hiện bệnh có thể thay đổi từ biểu hiệnlâm sàng thể ẩn đến thể điển hình với tỷ lệ 1:250 Khi mắc VNNB, liệt các

Trang 13

dây thần kinh sọ khá phổ biến dẫn đến bệnh nhân có biểu hiện liệt mềm hoặcliệt cứng Trong những trường hợp xấu nhất, bệnh nhân tiến triển đến hôn mêvới suy hô hấp cần thông khí hỗ trợ Ngay cả trong điều kiện y tế tiên tiếnnhất, tỷ lệ tử vong vẫn rất cao từ 5% đến 30% trong khi khoảng một nửa sốbệnh nhân sống sót có các di chứng thần kinh như vận động, liệt hoặc khiếmkhuyết tâm lý Ở trẻ em, có thể xảy ra suy giảm nhận thức và các rối loạn vềhành vi được ghi nhận ngay sau khi mắc bệnh hoặc sau thời gian một vài năm[6],[18],[19].

Di chứng do Viêm não vi rút:

Bệnh VNNB thường để lại những di chứng rất nặng nề không chỉ trẻ em

và còn cả ở người lớn, bệnh nhân có thể bị tử vong nếu không được điều trị kịpthời Những trường hợp bệnh nhân bị VNNB không tử vong, có thể hồi phụchoàn toàn hoặc để lại di chứng nặng nề, đặc biệt là di chứng về tâm thần kinh.Viêm não được chia làm hai thể là viêm não thể tiên phát và thể thứ phát.Trong đó, viêm não tiên phát xuất hiện khi vi rút tấn công trực tiếp vào não vàtủy sống Còn viêm não thứ phát là viêm não sau nhiễm trùng, viêm não nàyxuất hiện khi vi rút gây bệnh ở một số cơ quan/ tổ chức khác bên ngoài hệ thầnkinh trung ương và sau đó mới ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương [19].Trong số các tác nhân gây VNVR, vi rút viêm não ngựa miền đông gây ra

tỷ lệ di chứng nặng về thần kinh lên tới 80% Các loại VNVR ít gây di chứnghơn đó là: California, viêm não ngựa Venezuela, viêm não do vi rút Epstain-barr… Ngoài ra, mức độ di chứng của người bệnh còn phụ thuộc vào từng lứatuổi và tình trạng của bệnh nhân khi nhập viện, khoảng thời gian khởi phátbệnh cho đến lúc được điều trị cũng là những yếu tố liên quan, những di chứngnhẹ ở nhóm tuổi <30 tuổi thường có thể hồi phục; Còn những bệnh nhân hôn

mê sâu thường để lại di chứng thần kinh nặng hoặc gây tử vong

Trang 14

1.1.5 Căn nguyên vi rút gây hội chứng não cấp

a. Các tác nhân vi rút.

Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu tìm căn nguyên gây HCNC, Nhưng cácnhà khoa học mới tìm ra được khoảng 25% trường hợp xác định được cănnguyên gây bệnh, còn đến 68-75% trường hợp vẫn chưa xác định được cănnguyên [21]

Viêm não/ màng não đã được khẳng định do một số loại vi rút đườngruột Theo thống kê được của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) mỗi năm có hàngtriệu trẻ em bị nhiễm vi rút đường ruột Rất nhiều nghiên cứu trên thế giới đãtìm ra các căn nguyên vi rút đường ruột khác nhau gây HCNC

Năm 1989-1998 các nghiên cứu ở Anh đã xác định căn nguyên gâyHCNC do vi rút herpes simplex chiếm 50 % các ca bệnh HCNC [22]

Tại Thổ Nhĩ Kỳ, nghiên cứu lại xác định được căn nguyên do vi rútherpes simplex type 2 là 17% và 12% là do vi rút Varicella zoster (VaricellaZoster Virus), 9% là vi rút herpes simplex type 1 (HSV-1) trong số 26% cabệnh HCNC do vi rút đường ruột [11]

Cũng được chẩn đoán do vi rút herpes simplex type 1 nghiên cứu tạiThụy Điển là nghiên cứu hồi cứu trên toàn quốc về tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tửvong trong khoảng thời gian 12 năm từ 1990-2001 Số liệu cho thấy 638 bệnhnhân HCNC nhập viện ở Thụy Điển được chẩn đoán do vi rút herpes Hàngnăm trên thế giới ước tính khoảng 500 nghìn trường hợp, nhưng chủ yếu đượcghi nhận ở các nước châu Âu[11]

Tại Mỹ, giai đoạn 1950- 1981 tỷ lệ mắc HCNC hàng năm khoảng7/100.000 dân Căn nguyên chủ yếu gây VNVR tại Hoa Kỳ là vi rút Arbo (virút do côn trùng tiết túc truyền) Có bốn tác nhân vi rút chính gây VNVR đượcphát hiện tại Hoa Kỳ: viêm não ngựa miền đông (EEE), viêm não ngựa miềnTây (WEE), viêm não St Louis (SLE), viêm não La crosse (LAC) Viêm não

vi rút ngựa miền đông là một trong những bệnh do vi rút Arbo gây ra có tình

Trang 15

trạng bệnh nặng nề với triệu chứng bệnh tiến triển nhanh, rầm rộ, tỷ lệ tử vongcao, để lại nhiều di chứng, vi rút này thường gây bệnh cho ngựa Ngựa có thểlây bệnh cho người qua muỗi đốt, nhưng ngựa có vai trò quan trọng trong sựnhân lên của vi rút Còn viêm não vi rút ngựa miền tây trong những năm 1930-

1950 thường gặp ở miền Tây và miền Trung Hoa Kỳ Năm 1987, ở Hoa kỳ có

41 bệnh nhân Bệnh gây tổn thương lan tỏa điển hình đặc biệt trẻ dưới 2 tuổi

Tỷ lệ tử vong cao, đặc biệt 1/3 số trường hợp có co giật trong giai đoạn cấp vàthường có di chứng cơn động kinh về sau [23] Viêm não St Louis là một trongnhững bệnh lây truyền qua muỗi phổ biến nhất ở Hoa Kỳ Viêm não La crossephát hiện năm 1963 tại La Crosse, Wisconsin, Hoa Kỳ và hầu hết các trườnghợp mắc được ghi nhận ở những bang phía Tây [15]

Vi rút Banna được phát hiện tại Trung Quốc năm 1987, vật chủ của vi rútnày được phát hiện ở nhóm gia cầm và động vật nuôi trong nhà Vật chủ đượcxác định do động vật có vú như lợn [12],[13]

Còn tại Ấn Độ, nghiên cứu cho thấy rằng vi rút Chandipura thuộc họ

Rhabdoviridae là một loại vi rút khác do muỗi cát truyền cũng được xác định

là tác nhân gây HCNC ở Ấn Độ trong những năm 1951 [24]

b. Các tác nhân vi rút phân bố theo địa dư

Bệnh VNNB do muỗi truyền được phân bố rộng rãi trên thế giới Cácnghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng sự biến đổi khí hậu đã làm gia tăng sự pháttriển của véc tơ truyền bệnh do muỗi truyền như sốt xuất huyết Dengue vàVNNB Ngoài ra, sự biến đổi khí hậu cũng có thể ảnh hưởng tới sự di trú củacác loài chim, do đó có thể mở rộng các vùng dịch VNNB

Có hai hình thái dịch tễ học của bệnh Ở vùng nhiệt đới (ví dụ: Indonesia,Malaysia và Philippines), bệnh lưu hành hầu hết các tháng trong năm với đỉnhmùa tương ứng với thời điểm dẫn nước vào ruộng Ở vùng cận nhiệt đới hoặc ôn

Trang 16

đới (ví dụ: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nepal, Miền Bắc Việt Nam, vàmiền năm Thái Lan), dịch thường xảy ra vào mùa hè [14], [25].

1.1.6 Tình hình viêm não vi rút tại Bắc Giang:

Tỉnh Bắc Giang có vị trí nằm ở phía đông bắc Việt Nam Khu vực nôngthôn đóng vai trò chủ yếu- có khoảng 1/3 diện tích đất của tỉnh là đất nôngnghiệp, phần còn lại là sản xuất lâm nghiệp và gỗ Khí hậu ở đây bao gồm 2mùa rõ rệt: Mùa lạnh và khô từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau vàmùa nóng và mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9

Riêng ở tỉnh Bắc Giang, những nghiên cứu liên quan đến việc phát hiệntác nhân vi rút mới gây HCNC ở Bắc Giang được đề cập sau vụ dịch viêmnão cấp năm 1999 với 203 trường hợp mắc và 66 tử vong với biểu hiện lâmsàng là khởi phát đột ngột diễn biến rất nhanh, tỷ lệ tử vong khoảng 30% Ðểkhống chế số mắc và số tử vong do HCNC ở Bắc Giang, vắc xin VNNB đãđược tăng cường sử dụng để phòng bệnh cho trẻ em từ 1-5 tuổi trong toàntỉnh, nhưng số các trường hợp HCNC nghi ngờ do vi rút không giảm, các

vụ dịch lớn vẫn xảy ra mang tính chất chu kỳ 2 - 3 năm (1999, 2001, 2004,2007, ) Ðặc biệt năm 2007 và 2008 là hai năm liên tiếp số trường hợpHCNC ở Bắc Giang được ghi nhận rất cao (khoảng 90 trường hợp/năm) vànăm 2011 là năm được xác định có số trường hợp HCNC cao Cho đến nay,hàng năm các trường hợp HCNC vẫn được ghi nhận ở Bắc Giang với cáctrường hợp bệnh ghi nhận chủ yếu ở nhóm tuổi đã được tiêm phòng vắc xinVNNB, nhưng những biểu hiện lâm sàng xuất hiện đột ngột và diễn biếnnhanh đã gần như không còn được ghi nhận từ 2012 Trong số các trườnghợp HCNC ở Bắc Giang, căn nguyên vi rút VNNB gây HCNC đã giảmxuống trung bình dưới 5%, nhưng sự giảm số trường hợp bệnh HCNC do vi

Trang 17

rút có tính không bền vững, nên cần xác định một số yếu tố liên quan đếnHCNC ở Bắc Giang [3], [25].

1.1.7 Tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài về viêm não vi rút

1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài:

Nhật Bản là nước đầu tiên phát hiện và nghiên cứu bệnh VNNB từ hơn

100 năm trước đây, bệnh VNNB lần đầu tiên được ghi nhận vào năm 1871 tạiNhật Bản, số trường hợp mắc HCNC do vi rút VNNB hàng năm rất cao, vớiđỉnh điểm có năm trên 60.000 trường hợp/ năm Năm 1873, bệnh xuất hiện rảirác ở nhiều vùng ở Nhật Bản với trên 6.000 người mắc, xảy ra ở các vùng núiNhật Bản và mùa hè với nhiều bệnh nhân nặng và có đến 60% trong số này tửvong [13],[26] Năm 1924, tại Nhật Bản ghi nhận vụ dịch viêm não với 6.125trường hợp mắc trong đó có 3.797 trường hợp tử vong; Vi rút VNNB đượcphân lập lần đầu tiên vào năm 1935 tại Nhật Bản từ não bệnh nhân tử vong.Tại đa số các quốc gia châu Á, các vụ dịch VNNB thường xảy ra vào mùa hètrong đó có nhiều vụ dịch lớn được ghi nhận trong giai đoạn này; Còn tại cácnước nhiệt đới và cận nhiệt đới, dịch xuất hiện quanh năm, nhưng gia tăngvào mùa mưa [27]

Tại Ấn Độ, dịch VNNB thường xuyên xảy ra tại nhiều vùng khác nhauvới các thể lâm sàng khác nhau Lần đầu phát hiện bệnh vào năm 1955 với 63trường hợp Năm 1973 tại bang Bengal ghi nhận 763 trường hợp, trong đó có

325 trường hợp tử vong Vắc xin phòng VNNB do Ấn Độ sản xuất được sửdụng để phòng bệnh VNNB Sau khi đưa vắc xin vào sử dụng, tỷ lệ mắc bệnh

có xu hướng giảm xuống, vi rút VNNB gây HCNC đã được khống chế một sốnước, nhưng số trường hợp bệnh HCNC không phải do căn nguyên vi rútVNNB lại có xu hướng tăng lên Ngoài ra, những vụ dịch viêm não cấp ở trẻ

em chưa thể giải thích được có liên quan đến mùa thu hoạch vải cũng được

Trang 18

ghi nhận ở Ấn Độ, Băngladesh với những diễn biến lâm sàng bất thường, tỷ lệ

tử vong cao được ghi nhận từ những năm 1995 cho đến nay Cụ thể trong vụdịch viêm não cấp ở Ấn Độ năm 2014 ghi nhận 390 trường hợp bệnh, tử vong

122 (31%) [28], [29] Năm 2014 có rất nhiều nghiên cứu dịch tễ học để phát hiệncăn nguyên gây bệnh Với nghiên cứu bước đầu đã tìm ra hợp chất HGA/MCPG

có trong vỏ quả vải, niềng trắng hạt vải và hạt vải Hợp chất này có khả năng làmgiảm đường huyết trên chuột thực nghiệm được cho là có thể là một hợp chấtlàm hạ đường huyết ở trẻ em khi ăn vải vào lúc đói là nguyên nhân gây raHCNC thể tối cấp ở trẻ nhỏ ở những vùng nông thôn miền núi trồng vải [4],[30]

Trong số các tác nhân gây bệnh do côn trùng truyền, vi rút VNNB là tácnhân gây HCNC cho trẻ em ở khu vực châu Á, Thái Bình Dương Đến nayNhật Bản đã áp dụng các phương pháp sử dụng vắc xin dự phòng cho người vàthay đổi cách thức canh tác, chăn nuôi cùng các biện pháp tăng cường môitrường chăn nuôi sạch với tỷ lệ dùng hóa chất diệt côn trùng đã làm giảm tỷ lệmắc VNNB rất ngoạn mục, mỗi năm chỉ còn khoảng 10 trường hợp/năm [31]

Vi rút Banna cũng góp phần gây ra HCNC tại Trung Quốc Đây là loại

vi rút mới được phân lập được từ huyết thanh bệnh nhân có HCNC và sốtkhông rõ nguyên nhân ở Trung Quốc, đây là loại vi rút được truyền bởi hai

loài muỗi là Anopheles và Culex.

1.1.1.2 Nghiên cứu hội chứng viêm não vi rút ở trong nước

Ở Việt Nam, bệnh VNVR xuất hiện hàng năm và có tính mùa Bệnhthường xảy ra vào tháng 3 đến tháng 8, đỉnh cao của mùa dịch vào tháng 6hàng năm [25],[32] Năm 1985, dịch VNVR được ghi nhận lớn nhất khu vựcmiền Bắc và được xác định do VNNB Đây là dịch viêm não về mùa hènghiêm trọng ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, châu thổ sông Hồng và trung duBắc bộ với số mắc mới chỉ trung bình 5-7 trường hợp/100.000 dân Vắc xinVNNB do Việt Nam sản xuất đã được đưa vào chương trình mở rộng từ năm

Trang 19

1997 Những năm đầu, vắc xin được triển khai ở các huyện trọng điểm dịch ,với số trường hợp mắc VNNB được ghi nhận rất cao và tiêm cho trẻ từ 1 đến

5 tuổi

Trước những năm 1995, hàng năm có khoảng 2.000 – 3.000 trường hợpHCNC nghi ngờ do vi rút Với chiến lược tăng cường sử dụng vắc xin VNNBphòng bệnh triển khai từ 1997, đến 2007 có trên 60% số huyện/ thị trên cảnước đã được sử dụng vắc xin dự phòng Do vậy, trong những năm gần đâychỉ còn khoảng 1.200–1.500 trường hợp HCNC [25] Các số liệu báo cáo vềviêm não do HSV chưa nhiều, chỉ có số ít các công bố về phát hiện các trườnghợp bệnh ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu phát hiện cănnguyên vi rút khác gây HCNC cũng đã được thực hiện, kết quả phát hiệnngoài tác nhân vi rút mới (chưa định loại được) còn có vai trò của vi rútđường ruột Có một mối liên quan rất rõ ràng là những năm có HCNC vớibiểu hiện lâm sàng xuất hiện đột ngột tiến triển nhanh, thì tỷ lệ HCNC do cănnguyên vi rút đường ruột rất thấp

Trong nghiên cứu xác định tác nhân gây dịch trong các năm 2008-2013với sự hợp tác của Viện Pasteur Paris cho thấy: (1) Về tác nhân vi sinh đã xácđịnh ngoài vi rút VNNB, bằng phương pháp Metagenomic NGS để phát hiệnvật liệu di truyền của tác nhân gây bệnh từ dịch não tủy (2008) đã xác định có vaitrò của vi rút đường ruột ; (2) Về nguyên nhân khác, tại phòng thí nghiệmHannover của Đức, đã xác định sự có mặt của hợp chất Hypoglycin A metabolites(HGA) và Metabolic of methylene Cyclopropyl Glycine (MCPG) từ huyếtthanh của 9 bệnh nhân (2009-2011) được xác định tại phòng thí nghiệmHannover của Đức Đây là những hợp chất có nguồn gốc từ vỏ, niềng trắngtrên hạt vải và hạt vải, được xác định có vai trò làm giảm đường huyết nhanhtrong máu trên mô hình động vật thực nghiệm [20] Do vậy, ngoài các tácnhân vi rút đã biết, tác nhân vi rút mới chưa xác định được gây HCNC, có giả

Trang 20

thuyết cho rằng hợp chất HGA/MCPG cũng là một nguyên nhân gây raHCNC thể tối cấp ở trẻ em thiếu dinh dưỡng tại những vùng nông thôn miềnnúi trồng vải ở Bắc Giang Giả thuyết này là một vấn đề rất cần được làmsáng tỏ.

1.2.Đặc điểm dịch tễ học bệnh viêm não vi rút:

Mối quan tâm hàng đầu trên thế giới hiện nay đặc biệt là châu Á đó là sựghi nhận có đến 133.000 trẻ nhập viện hàng năm với những biểu hiện như sốt,tình trạng thần kinh và rối loạn vận động [2] Ghi nhận tại Ấn Độ năm 2014lên tới 390 trường hợp bệnh trong đó có 122 bệnh nhân tử vong (tỷ lệ 31%)[24] Đặc biệt một số nước Bắc Á đã tăng cường các biện pháp tiêm phòngvắc xin để khống chế vi rút viêm não Các bệnh VNVR hiện nay do muỗitruyền đã phân bố diện rộng trên nhiều quốc gia trên thế giới Mỗi tác nhângây bệnh được biểu hiện theo vùng địa lý đặc trưng, liên quan chặt chẽ đếnsinh lý và sinh thái họ của muỗi véc tơ truyền bệnh

Ở miền Bắc nước ta, bệnh VNVR xuất hiện rải rác theo từng năm;VNVR xuất hiện ở hầu khắp các tỉnh, thành phố, các vùng nông thôn, miềnnúi, đồng bằng Do điều kiện về khí hậu và địa hình, phân bố số trường hợpmắc VNVR của miền Nam và miền Bắc nước ta cho thấy sự chênh lệch rõ rệt

là 70% và 30% Năm 1993, VNNB đã được đưa vào chương trình TCMR gópphần làm giảm thiểu đáng kể ca mắc VNNB hàng năm ở nước ta, nhưng ởmột số khu vực miền núi phía Bắc bệnh vẫn được ghi nhận là nơi có tỷ lệ mắcVNNB khá cao, một phần có thể do chương trình tiêm chủng chưa bao phủ,tiếp xúc được đối tượng này vì lý do địa hình, lối sống

Theo số liệu của niêm giám thống kê bệnh truyền nhiễm 2004 -2014

về bệnh viêm não vi rút do Bộ Y Tế ban hành, cho ta thấy bức tranh toàncảnh về tình hình mắc VNVR tại Việt Nam và khu vực miền Bắc giai đoạn2004-2014 [33] Màu xanh trên đồ thị là số trường hợp mắc trên cả nước,màu da cam số trường hợp mắc ghi nhận ở miền Bắc

Trang 21

Hình 1.1 Tình hình mắc VNVR tại các tỉnh miền Bắc Việt Nam, 2004- 2014

Số liệu trên đây thể hiện cho ta thấy số trường hợp mắc viêm não vi rútcủa các tỉnh phía Bắc hàng năm chiếm từ 58% trở lên trên tổng số số trườnghợp mắc của VNVR trên cả nước

1.3.Yếu tố liên quan đến viêm não vi rút

1.3.1 Yếu tố liên quan đến không gian, mùa vải

Hội chứng não cấp (HCNC) được xác định có nhiều căn nguyên gâybệnh như tác nhân vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng và có thể do hóa chất…Nhóm tác nhân hàng đầu đã được ghi nhận là vi rút Đến nay các nhà khoahọc tìm ra trên 50 loại tác nhân khác nhau gây HCNC [27] Các nghiên cứu

đã cho thấy, vi rút VNNB là căn nguyên hàng đầu gây ra VNVR tại Châu Á,đây là một loại vi rút do muỗi truyền Đã có biện pháp phòng tránh VNNBnày bằng cách tiêm vắc xin và VNNB đã được khống chế ở một số nước Bắc

Á, nhưng số trường hợp VNVR do các nguyên nhân khác lại có xu hướngtăng lên [32] Chính vì vậy, nhiều nhà khoa học đã và đang nghiên cứu tìmnguyên nhân gây bệnh VNVR ngoài những căn nguyên VNNB Tại Ấn Độ,Băngladesh năm 1995 đã xảy ra những vụ dịch viêm não cấp ở trẻ em khôngthể giải thích được có liên quan gì đến mùa thu hoạch vải tại các nước này –trẻ khi mắc bệnh có diễn biến lâm sàng bất thường, tỷ lệ tử vong cao lên tới31% trên tổng số 390 trường hợp mắc bệnh ghi nhận được vào năm 2014[24],[34]

Ở Ấn độ, các trường hợp bệnh được xác định chủ yếu xảy ra tại vùngtrồng vải ở Muzzaffarpur, Bihar và các trường hợp bệnh xuất hiện nhiều nhấtvào mùa thu hoạch vải Độ tuổi các trường hợp nhập viện dao động từ 6 tháng

Trang 22

đến dưới 16 tuổi và 92% số trường hợp dưới 10 tuổi Biểu hiện lâm sàng cáccác trường hợp bệnh này đều khởi phát đột ngột các cơn co giật với nghiếnrăng và mất ý thức, chủ yếu là vào sáng sớm không để lại di chứng Nhiềungười trong số bệnh nhân không có biểu hiện sốt Hạ đường huyết (<70mg/dl) khi nhập viện là một đặc điểm phổ biến (50% các trường hợp nghiêncứu xuất hiện biểu hiện này) Các nhà dịch tễ học đã thực hiện cuộc điều tradịch tễ học và không tìm thấy bất kỳ căn nguyên truyền nhiễm nào Do đó cácnhà dịch tễ đã đưa ra nguyên nhân gây ra tình trạng này là do bệnh nhân tiếpxúc với chất độc [35].

Trong nghiên cứu của Viện Pasteur Paris đã nghiên cứu tác nhân gâydịch trong năm 2008-2013 đã tìm ra nguyên nhân và xác định hợp chấtHGA/MCPG có nguồn gốc từ vỏ, niềng trắng trên hạt vải và hạt vải, được xácđịnh có vai trò làm giảm đường huyết nhanh trong máu trên mô hình động vậtthực nghiệm [20]

Hợp chất HGA/MCPG được phát hiện và chiết xuất từ hạt vải tươi chưachín, có công thức phân tử C6H2NO2 Một nghiên cứu chiết xuất hợp chất này

từ 24kg hạt vải tươi đã thu được khoảng 1,5g hợp chất thô Hoạt chất tinhkhiết được chế tạo từ hợp chất thô để tiêm cho một số loại động vật thựcnghiệm Kết quả thử nghiệm cho thấy chuột đã chết do tiêm hoạt chất này;Theo dõi trong 72 giờ nghiên cứu đã xác định liều gây chết LD50 là 90mg/kgtrọng lượng Nhưng cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào để đánh giá về ảnhhưởng trực tiếp hoặc gián tiếp của hợp chất HGA/MCPG đối với sức khỏecủa con người

Trong dự phòng bệnh, thói quen và ý thức của mỗi một thành viên tronggia đình/cộng đồng góp phần không nhỏ trong việc phòng tránh bệnh có hiệu

Trang 23

quả, ví dụ như rửa tay trước khi ăn, sử dụng thực phẩm sạch góp phần dựphòng viêm não do vi rút đường ruột.

Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em, tình hình phát triển kinh tế của địaphương, đặc biệt liên quan đến sản lượng thu hoạch vải hàng năm Mặt kháctìm hiểu về kiến thức, thực hành của người dân liên quan đến dự phòng bệnhviêm não tại địa phương là những vấn đề cần được làm sáng tỏ Do vậy, cần

có nghiên cứu để xác định các yếu tố liên quan làm giảm các trường hợpHCNC tại tỉnh Bắc Giang để có thể đưa ra các bài học kinh nghiệm, góp phầnphòng bệnh cũng như định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo

Trang 24

1.3.2 Yếu tố liên quan đến tiêm phòng vắc xin Viêm não Nhật Bản:

Hiện nay, VNVR do vi rút VNNB gây ra chưa có thuốc điều trị đặchiệu Chính vì vậy, dự phòng là cách tốt nhất để kiểm soát bệnh VNNB Dựphòng đầu tiên đó là kiểm soát được các ổ chứa vi rút Các động vật đượcnuôi tại gia đình cần có quy hoạch chăn nuôi tập trung để phòng tránh sự lâynhiễm bệnh từ động vật sang người qua muỗi đốt Trong đó muỗi vừa là véc

tơ truyền bệnh, vừa là ổ chứa vi rút Phòng chống muỗi có thể dùng biện phápthông dụng như dùng hương muỗi, dùng màn tránh muỗi, mành che được tẩmhóa chất cũng có tác dụng diệt trừ muỗi Nhưng kiểm soát muỗi là rất khókhăn vì số lượng của chúng rất nhiều, sinh sản rất nhanh Ngăn ngừa muỗi đốt

sẽ hiệu quả hơn việc kiểm soát muỗi, nhưng điều này rất khó khăn đặc biệt làvùng nông thôn Để phòng tránh bệnh VNNB, tiêm phòng vắc xin được coi làbiện pháp dự phòng hiệu quả nhất [17], [36] Thực tế đã cho thấy tất cả cácnước trên thế giới sau khi triển khai tiêm vắc xin VNNB số trường hợp mắcVNNB đã giảm hẳn Ở nước ta có kết quả tương tự

Ở Việt Nam hiện nay đã sản xuất được vắc xin VNNB bất hoạt nuôi cấytrên não chuột Công nghệ sản xuất vắc xin này đang được sử dụng rộng rãi ởNhật Bản và nhiều nước trong khu vực châu Á Năm 1994, Viện VSDTTƯ đãsản xuất thành công vắc xin VNNB, vắc xin đã được thử nghiệm lâm sàngcho thấy hiệu lực bảo vệ cao và an toàn với tỷ lệ bảo vệ lên đến trên 90% vớiphác đồ sử dụng 03 liều cơ bản, liều 1 và liều 2 cách nhau 1-2 tuần và liều thứ

3 tiêm sau liều thứ nhất 12 tháng Nhà sản xuất khuyến cáo 3 năm nên tiêmnhắc lại một lần để duy trì khả năng miễn dịch [37], [38]

Trang 25

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu:

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu:

- Một số bệnh viện tại tỉnh Bắc Giang như Bệnh viện Đa khoa tỉnh, Bệnh việnSản Nhi, Bệnh viện Đa khoa huyện Lục Ngạn

2.1.2 Thời gian thực hiện nghiên cứu: Từ năm 2018 đến tháng 6 năm

2019

2.2 Thiết kế nghiên cứu:

- Nghiên cứu mô tả hồi cứu bệnh án để mô tả đặc điểm dịch tễ học của viêm não

vi rút qua số liệu giám sát trường hợp bệnh tại bệnh viện, và một số yếu tố liênquan đến viêm não vi rút ở trẻ em tại tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2008 - 2016

2.3 Đối tượng nghiên cứu:

- Bệnh nhân dưới 15 tuổi có chẩn đoán viêm não trong giai đoạn 2008-2016(bệnh nhân <15 tuổi, nhập viện từ tháng 01/2008 đến tháng 12/2016)

2.4 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu:

+ Tiêu chuẩn HCNC có thể do vi rút

1 Sốt (>37,5°C)

2 Có ít nhất một trong số các biểu hiện sau:

- Thay đổi tình trạng tinh thần (nhầm lẫn, mất phương hướng, hôn mê,rối loạn ngôn ngữ) hoặc

- Khởi phát mới có co giật (loại trừ co giật do sốt đơn thuần)

+ Tiêu chuẩn HCNC nghi ngờ do vi rút:

1 Sốt (> 37,5°C)

2 Có ít nhất một trong các biểu hiện sau:

Trang 26

- Thay đổi tình trạng tinh thần (nhầm lẫn, mất phương hướng, hôn mê,rối loạn ngôn ngữ) hoặc

- Khởi phát mới có co giật (loại trừ co giật do sốt đơn thuần)

3 Dịch não tủy trong, bạch cầu trong dịch não tủy >10/mm3

+ Tiêu chuẩn HCNC do vi rút xác định

1 Sốt (> 37,5°C)

2 Có ít nhất một trong số các biểu hiện sau:

- Thay đổi tình trạng tinh thần (nhầm lẫn, mất phương hướng, hôn mê,rối loạn ngôn ngữ)

- Khởi phát mới có co giật (loại trừ co giật do sốt đơn thuần)

3 Dịch não tủy trong, có bạch cầu trong dịch não tủy >10/mm3

4 RT-PCR hoặc ELISA xác định dương tính đối với tác nhân vi rút

+ Tiêu chuẩn HCNC có thể liên quan đến hợp chất HGA/MCPG:

1. Trẻ < 10 tuổi

2 Khởi phát cấp tính: <24 giờ với ít nhất một trong các biểu hiện sau:

- Đột ngột xuất hiện co giật (loại trừ co giật do sốt đơn thuần)

- Thay đổi tình trạng tinh thần (nhầm lẫn, mất phương hướng, hôn mê, rốiloạn ngôn ngữ)

3 Hàm lượng đường trong máu <3mmol/L khi nhập viện hoặc bạch cầutrong DNT <10/mm3

2.5 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu.

- Chọn mẫu toàn bộ: chọn mẫu có chủ đích, trên quần thể 194 bệnh nhân đãđược chẩn đoán xác định từ năm 2008 đến 2016

- Chọn toàn bộ các bệnh án có đủ tiêu chuẩn đưa vào nghiên cứu để xác định sựthay đổi về tỷ lệ căn nguyên vi rút VNNB gây HCNC ở trẻ em

Trang 27

- Thu thập toàn bộ bệnh án của bệnh nhân HCNC ở Bắc Giang, từ năm 2008đến năm 2016, tiếp đó tìm bệnh án HCNC trong nhóm <15 tuổi tại 2 huyệnLục Ngạn và Lục Nam.

- Sao lưu toàn bộ bệnh án của bệnh nhân HCNC từ năm 2008-2016

2.6 Phương pháp thu thập số liệu

- Điền phiếu điều tra về lâm sàng từ bệnh án sao lưu

Bảng 2.1: Các biến số nghiên cứu chính

Hành chính

tượng

Định lượng(rời rạc) Bộ câu hỏi

- Nữ

Định tính(nhị phân) Bộ câu hỏi

(danh mục) Bộ câu hỏi

quận/huyện)

Định tính(danh mục) Bộ câu hỏiSản lượng vải Sản lượng vải từng năm/

từng quận/ huyện

Định tính(danh mục) Bộ câu hỏiThông tin phơi nhiễm

Thông tin lâm sàng

Thời gian mắc

trong ngày

Thời điểm nhập viện của đối

Trang 28

Loại di chứng

- Di chứng thần kinh vậnđộng

- Suy giảm thần kinh

Yếu tố liên quan

Nơi trẻ đến điều trị Trong tỉnh Bắc Giang

Ngoài tỉnh Bắc Giang

Định tính (nhị phân) Bộ câu hỏiTỉnh trạng tiêm

chủng VNNB

- Có tiêm vắc xin

- Không tiêm vắc xin

- Không rõ tiền sử tiêm chủng

Định tính (nhị phân) Bộ câu hỏi

- Trong mùa vải

Định tính (nhị phân) Bộ câu hỏi

Trang 29

Quy trình thu thập số liệu:

Thiết lập các điểm điều tra hồi cứu bệnh án HCNC tại Bệnh viện đa khoatỉnh Bắc Giang, Bệnh viện Sản nhi, Bệnh viện Đa khoa khu vực Lục Ngạn

- Tìm các hồ sơ bệnh án gốc tại kho lưu trữ của bệnh viện

- Phương pháp tìm kiếm: tìm thủ công toàn bộ bệnh án bệnh nhân HCNC,2008-2016

- Lựa chọn bệnh án của bệnh nhân HCNC <15 tuổi trong khoảng thời gianmắc bệnh từ tháng 4 đến tháng 8 trong năm

- Sao chép bệnh án theo quy định hiện hành

- Điền phiếu trích xuất số liệu bệnh án của từng bệnh nhân theo mẫu phiếuđiều tra

- Thẩm định, đối chiếu giữa bệnh án và phiếu điều tra

- Các phiếu đạt tiêu chuẩn được chuyển cho cán bộ nhập liệu để tiến hànhnhập các thông tin vào phần mềm Kiểm tra lỗi nhập liệu sau mỗi buổi nhậpliệu Tìm kiếm phiếu điều tra để đối chứng và sửa lỗi nếu có

- Phân tích số liệu

2.7 Phương pháp xử lý số liệu:

- Số liệu của nghiên cứu được quản lý, xử lý và phân tích bằng phần mềmEpi Data 3.1 và STATA 9.1 Các thuật toán thống kê đơn biến sẽ được sửdụng để mô tả đặc tính của các đối tượng nghiên cứu

2.8 Kiểm soát sai số:

- Phiếu điều tra được kiểm soát 2 vòng, vòng 1 tại Trung tâm Kiểm soát bệnhtật tỉnh Bắc Giang, vòng 2 tại Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương để phát hiệncác thông tin còn thiếu, thông tin không logic

- Sau bước nhập liệu bằng Epi Data, số liệu được chuyển sang STATA để tìmcác lỗi sai do nhập liệu

Trang 30

2.9 Y đức:

- Đề cương nghiên cứu được thông qua bởi Hội đồng đạo đức trong nghiêncứu Y sinh học của Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, được chấp thuận củaHội đồng với mã số là IRB-VN01057- 18/2017, ngày 02/10/2017

- Toàn bộ thông tin của đối tượng nghiên cứu này sẽ được bảo mật, khôngcung cấp ra bên ngoài

- Để tránh việc tiết lộ thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu,tất cả số liệu của đối tượng tham gia nghiên cứu sẽ do cán bộ nghiêncứu được phân công kiểm tra và phân tích Tất cả các thông tin nhậndạng của đối tượng nghiên cứu trong số liệu sẽ được mã hóa, không sửdụng thông tin nhận dạng của đối tượng khi phân tích số liệu để bảo vệ

sự riêng tư của đối tượng nghiên cứu

Trang 31

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm dịch tễ học của các trường hợp Viêm não vi rút tại tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2008 đến 2016

Trong vòng 09 năm (2008 đến 2016), tỉnh Bắc Giang ghi nhận 194trường hợp trẻ em <15 tuổi mắc VNVR, trong đó ghi nhận 15 trường hợp tửvong, tỷ lệ chết/ mắc là 7,7% với sự phân bố trường hợp bệnh VNVR theotháng và năm khác nhau

Phân bố trường hợp bệnh VNVR theo tháng và năm:

Biểu đồ 3.1 Phân bố trường hợp mắc VNVR tại Bắc Giang theo tháng,

2008-2016 (n=194)

Các trường hợp mắc VNVR xuất hiện rải rác trong năm, số bệnh nhânbắt đầu có dấu hiệu tăng nhanh từ tháng 3-4 và đạt đỉnh vào tháng 7 hàngnăm với số trường hợp mắc chiếm đến 42% tổng số trường hợp mắc; Từtháng 8, số trường hợp bệnh giảm dần với tổng số 12 trường hợp trong 9 năm.Hơn nữa số trường hợp mắc VNVR tập trung nhiều nhất vào hai năm 2008 và

2011 Những trường hợp bệnh xuất hiện cao đột biến trong hai năm này ghinhận được lần lượt là 95 và 39 trường hợp, chiếm 49% và 20% số trường hợpmắc trên tổng số 194 trường hợp mắc

- Phân bố trường hợp bệnh VNNB theo tháng và năm:

Biểu đồ 3.2 Phân bố các trường hợp mắc VNNB theo tháng tại Bắc Giang,

2008-2016 (n=43)

Biểu đồ trên cho thấy sự phân bố theo tháng của các trường hợp bệnhVNNB mỗi tháng đã được điều trị tại các bệnh viện của tỉnh Bắc Giang trongvòng 9 năm (2008-2016) Kết quả cho thấy không phải tháng nào trong năm

Trang 32

cũng đều ghi nhận trường hợp bệnh mà chỉ tập trung vào tháng 5 (6 trườnghợp trong vòng 9 năm), đỉnh điểm lên tới 21 trường hợp trong tháng 6 vàgiảm xuống còn 11 trường hợp trong tháng 8 Có một sự giảm đáng kể cabệnh VNNB vào những tháng cuối năm, chỉ xuất hiện 1 đến 2 trường hợp và

có những tháng không hề có bệnh nhân

- Phân bố các trường hợp mắc VNVR theo địa dư, sản lượng vải:

Trang 34

Các trường hợp bệnh phân bố rải rác ở nhiều khu vực và số mắc tậptrung nhiều vào vùng có sản lượng vải cao, đặc biệt tại các huyện miền núicao như Lục Ngạn, Lục Nam và có sản lượng vải rất cao ở tất cả các năm(>50.000 kg/ năm).

Trang 35

Các trường hợp bệnh phân bố không đồng đều qua các năm, những cáctrường hợp bệnh phân bố tại toàn bộ 10/10 huyện/ thành phố của tỉnh BắcGiang, trong đó huyện Lục Ngạn ghi nhận số trường hợp mắc nhiều nhất với

74 trường hợp, chiếm 38% tổng số trường hợp mắc toàn tỉnh; tiếp theo làhuyện Yên Dũng (14%), Lạng Giang 10% các huyện/thành phố còn lại ghinhận số trường hợp mắc rải rác

- Phân bố các trường hợp mắc VNNB theo địa dư, sản lượng vải

Trang 36

Biểu đồ 3.4 Phân bố trường hợp mắc bệnh viêm não Nhật Bản tại Bắc Giang theo địa dư, thời gian, sản lượng vải, 2008-2016

Ngày đăng: 11/05/2020, 20:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w