1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

KIẾN THỨC,THỰC HÀNH và MONG MUỐN điều TRỊ MA túy TỔNG hợp ở BỆNH NHÂN điều TRỊ METHADONE có sử DỤNG MA túy TỔNG hợp tại hà nội năm 2018

90 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thiếu các chiến lược đối phó hiệu quả với tình trạng này tại các cơ sở điều trịmethadone đã dẫn đến việc gia tăng số bệnh nhân điều trị methadone bị chấmdứt điều trị theo quy định của ph

Trang 1

TẠI HÀ NỘI NĂM 2018

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

Người hướng dẫn khoa học:

TS Hoàng Đình Cảnh PGS.TS Lê Minh Giang

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

AIDS : Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (Acquired Immune

Deficiency Syndrome)ATS : Là các chất thuộc nhóm ma túy tổng hợp gồm amphetamine và

MethyleneDioxyl-MethamphetAmine (thuốc lắc)CBYT :Cán bộ y tế

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BIỂU ĐỒ v

DANH MỤC BẢNG vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM 3

1.1.1 Chất gây nghiện 3

1.1.3 Ma túy tổng hợp dạng amphetamine (ATS) 3

1.1.4 Chất dạng thuốc phiện (CDTP) 3

1.1.5 Khái niệm về nghiện chất 3

1.1.5 Khái niệm về người nghiện CDTP 3

1.1.6 Khái niệm về điều trị thay thế 4

1.2 TÌNH HÌNH ĐIỀU TRỊ NGHIỆN CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG THUỐC METHADONE TẠI VIỆT NAM 4

1.3 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ATS VÀ CÁC NGUY CƠ VỀ SỨC KHỎE 7 1.4 CÁC NGUY CƠ SỨC KHỎE CỦA VIỆC SỬ DỤNG ATS 13

1.4.1 Nguy cơ khi dùng chung ATS với các loại ma túy khác 13

1.4.2 Nguy cơ lây nhiễm HIV và các tác hại liên quan tới tiêm chích methamphetamine 14

1.4.3 Sử dụng methamphetamine và hành vi tình dục nguy cơ 15

1.4.4 Sử dụng methamphetamine: tác dụng tiềm ẩn lên suy nghĩ, hành vi và điều trị HIV 16

1.4.5 Các vấn đề sức khỏe tâm thần liên quan tới sử dụng methamphetamine 16 1.4.5.1 Rối loạn tâm trạng do methamphetamine 16

1.4.5.2 Loạn thần và mê sảng 17

Trang 5

1.5 CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN MONG MUỐN CAN THIỆP LẠM

DỤNG ATS 17

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Đối tượng nghiên cứu 21

2.1.1 Đối tượng tham gia nghiên cứu 21

2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn 21

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ 21

2.2 Thiết kế nghiên cứu 21

2.3 Cỡ mẫu nghiên cứu 21

2.4 Quy trình chọn mẫu 22

2.5 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 23

2.5.1 Thời gian nghiên cứu 23

2.5.2 Địa điểm nghiên cứu 24

2.6 Nội dung và các chỉ số nghiên cứu 24

2.7 Các biến số nghiên cứu (Phụ lục I) 26

2.8 Phương pháp thu thập số liệu 26

2.8.1 Kỹ thuật và bộ công cụ thu thập số liệu 26

2.8.2 Nghiên cứu viên, giám sát viên 26

2.9 Quy trình thu thập số liệu 27

2.10 Xử lý và phân tích số liệu 27

2.10 Đạo đức nghiên cứu 27

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 29

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 29

3.1.1 Các thông tin chung 29

3.1.2 Tình trạng sử dụng chất gây nghiện 33

3.2 Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng sử dụng ATS và mong muốn điều trị lạm dụng ATS của các bệnh nhân điều trị methadone tại thành phố Hà Nội năm 2018 37

Trang 6

3.2.1 Thực hành sử dụng ATS 37

3.3 Mục tiêu 2: Mô tả các yếu tố liên quan đến mong muốn điều trị lạm dụng ATS của các bệnh nhân điều trị methadone tại thành phố Hà Nội năm 2018 49

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 56

4.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 56

4.1.1 Đặc điểm chung 56

4.1.2 Tình trạng sử dụng chất gây nghiện 59

4.2 Thực trạng sử dụng ATS và mong muốn điều trị lạm dụng ATS của các bệnh nhân điều trị methadone có sử dụng ATS tại thành phố Hà Nội năm 2018 61

4.3 Các yếu tố liên quan đến mong muốn điều trị lạm dụng ATS của các bệnh nhân điều trị methadone có sử dụng ATS tại thành phố Hà Nội năm 2018 68

KẾT LUẬN 73

1 Thực trạng sử dụng ATS và mong muốn điều trị lạm dụng ATS của các bệnh nhân điều trị methadone có sử dụng ATS tại thành phố Hà Nội năm 2018 73

1.1 Thực trạng sử dụng ATS của các bệnh nhân methadone có sử dụng ATS tại thành phố Hà Nội năm 2018 73

1.2 Mong muốn điều trị lạm dụng ATS của các bệnh nhân methadone có dử dụng ATS tại thành phố Hà Nội năm 2018 75

2 Các yếu tố liên quan đến mong muốn can thiệp lạm dụng ATS của các bệnh nhân methadone có sử dụng ATS tại thành phố Hà Nội năm 2018 75 KHUYẾN NGHỊ 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO .

PHỤ LỤC .

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1 1 Tỉ lệ sử dụng ATS trong nhóm phụ nữ bán dâm tại Hà Nội, 12

Biểu đồ 1 2 Tỉ lệ tỉ lệ sử dụng ma túy tổng hợp trong MSM tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh năm 2014 13

Biểu đồ 3 1 Mức độ mong muốn được hỗ trợ giảm mức độ sử dụng rượu 34

Biểu đồ 3 2 Mức độ mong muốn được hỗ trợ giảm mức độ sử heroin 36

Biểu đồ 3 3 Hiểu biết về các loại ma túy tổng hợp 38

Biểu đồ 3 4 Tình hình sử dụng ma túy tổng hợp 39

Biểu đồ 3 5 Tuổi lần đầu sử dụng các loại ma túy tổng hợp 40

Biểu đồ 3 6 Sử dụng ma túy tổng hợp trong 90 ngày qua 43

Biểu đồ 3 7 Mô tả mong muốn của bệnh nhân về phương thức sàng lọc để điều trị ATS 49

Biểu đồ 3 8 Mô tả mong muốn của bệnh nhân về cán bộ y tế (CBYT) sàng lọc để điều trị ATS (trong số bệnh nhân mong muốn sàng lọc trực tiếp) 50

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 29

Bảng 3.2 Những người số chung với đối tượng nghiên cứu 31

Bảng 3.3 Hỗ trợ từ vợ/chồng/bạn tình/bạn bè/người thân trong điều trị methadone 31

Bảng 3.4 Số năm tham gia điều trị methadone 32

Bảng 3 5 Kì thị liên quan đến điều trị Methadone 32

Bảng 3.6 Đặc điểm sử dụng rượu/bia 33

Bảng 3.7 Số năm sử dụng heroin 35

Bảng 3.8 Đặc điểm sử dụng heroin 35

Bảng 3 9 Tuổi lần đầu nghe nói đến ma túy tổng hợp 37

Bảng 3 10 Đặc điểm lần đầu tiên sử dụng ma túy tổng hợp 40

Bảng 3.11 Số năm sử dụng Crystal Meth – ma túy đá 42

Bảng 3 12 Đặc điểm sử dụng ma túy tổng hợp trong 90 ngày qua 44

Bảng 3 13 Trung bình số ngày sử dụng ma túy tổng hợp trong 90 ngày qua 46 Bảng 3 14 Các hành vi nguy cơ sau khi sử dụng ma túy tổng hợp trong 90 ngày qua 46

Bảng 3.15 Kết quả sàng lọc theo thang do ASSITS 47

Bảng 3 16 Tình trạng sức khỏe tâm thần liên quan đến 48

Bảng 3.17 Các yếu tố liên quan đến mong muốn điều trị ATS của các bệnh nhân methadone 51

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đại dịch ma túy đã và đang là vấn nạn của nhiều quốc gia trên thế giới

và là nguyên nhân chính gây ra đại dịch HIV/AIDS Đại dịch kép “ma túy vàHIV/AIDS” ở Việt Nam gây ảnh hưởng nặng nề đến từng cá nhân, gia đình,tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, văn hóa và trật tự, an toàn xã hộicủa đất nước [1-2]

Tại Việt Nam, điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốcMethadone bắt đầu được nghiên cứu tại Viện Sức khỏe Tâm thần - Bệnh việnBạch Mai từ năm 1996 đến năm 2002 Tính đến tháng12 năm 2017, đã có 294 cơ

sở điều trị hoạt động và gần 52.818 bệnh nhân tham gia vào chương trình này[3] Chương trình Methadone đã đem lại những kết quả đáng khích lệ trong việcgiảm số ca nhiễm HIV mới trong nhóm người sử dụng heroin, giảm tỷ lệ sử dụngchất gây nghiện bất hợp pháp và tác động tích cực sức khỏe của bệnh nhân cũngnhư an ninh xã hội [4] Mặc dù vậy, những thành công của chương trình đem lạiđang đứng trước nguy cơ do vấn nạn sử dụng chất kích thích dạng amphetamine(ATS), đặc biệt là chất kích thích methamphetamine dạng tinh thể (hàng đá) gây

ra Cùng với sự gia tăng nhanh chóng của hành vi dùng ATS trong nhóm người

sử dụng ma túy trong thập kỷ vừa qua [5] Thống kê mới đây nhất cho thấy có tớigần 40% số bệnh nhân đang điều trị methadone sử dụng đá [6] Việc sử dụnghàng đá trong nhóm người sử dụng ma túy có liên quan tới việc bệnh nhân khôngtham gia điều trị methadone mặc dù loại hình điều trị này đang được cải thiệntính sẵn có tại cộng đồng [6] Việc sử dụng ATS làm tăng lên các hành vi nguy

cơ lây nhiễm HIV: làm cho người sử dụng có tần suất hoạt động tình dục cao vàtăng nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục[7] Việc sử dụng chấtgây nghiện này đồng thời có liên quan tới việc tuân thủ điều trị thuốc khángvirus trong nhóm bệnh nhân dương tính với HIV đang được điều trị và góp phầngia tăng các vấn đề sức khỏe tâm thần Việc

Trang 10

thiếu các chiến lược đối phó hiệu quả với tình trạng này tại các cơ sở điều trịmethadone đã dẫn đến việc gia tăng số bệnh nhân điều trị methadone bị chấmdứt điều trị theo quy định của pháp luật khi có xét nghiện dương tính với matúy [8] và chính từ đây làm gián đoạn quá trình điều trị methadone của họ.

Liên quan đến các chiến lược hiệu quả trong việc giảm sử dụng hàng

đá, phần lớn các nghiên cứu ủng hộ việc sử dụng Liệu pháp Nhận thức Hành

vi (Cognitive Behavioral Therapy - CBT), Quản lý hành vi tích cực(Contingency management - CM), Sàng lọc, Can thiệp ngắn và Chuyển gửiđiều trị (Screening, Brief Intervention and Referral to Treatment - SBIRT) và

sử dụng tin nhắn điện thoại

Hiện nay, chưa có nhiều nghiên cứu trên Thế giới, đặc biệt tại Việt Namliên quan tới việc sử dụng ma túy tổng hợp trong các bệnh nhân đang tham giađiều trị Methadone và mong muốn của bệnh nhân về điều trị ma túy tổng hợp

và các yếu tố liên quan Một số nghiên cứu trên Thế giới chỉ ra rằng các yếu

tố liên quan đến hành vi tiêm chích ma túy, sử dụng các chất gây nghiện, hành

vi quan hệ tình dục, các đặc điểm cá nhân, xã hội, các yếu tố liên quan đếntâm lý của của người sử dụng ma túy… có liên quan tới mong muốn tham giađiều trị lạm dụng các chất gây nghiện của họ

Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Kiến thức, thực hành vàmong muốn điều trị ma túy tổng hợp ở bệnh nhân điều trị methadone có sửdụng ma túy tổng hợp tại Hà Nội năm 2018”, với các với mục tiêu sau:

1 Mô tả thực trạng sử dụng ATS và mong muốn điều trị lạm dụng ATScủa các bệnh nhân điều trị methadone tại thành phố Hà Nội năm 2018

2 Mô tả các yếu tố liên quan đến mong muốn điều trị lạm dụng ATS của các bệnh nhân điều trị methadone tại thành phố Hà Nội năm 2018

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM

1.1.1 Chất gây nghiện

Theo Tổ chức Y tế thế giới Chất gây nghiện hướng thần là “chất hóahọc sau khi được hấp thu sẽ làm thay đổi chức năng thực thể và tâm lý củangười sử dụng”[9]

1.1.3 Ma túy tổng hợp dạng amphetamine (ATS)

Là các chất thuộc nhóm ma túy tổng hợp gồm amphetamine và

dexamphetamine, methamphetamine và MDMA

(MethyleneDioxyl-MethamphetAmine)[10]

1.1.4 Chất dạng thuốc phiện (CDTP)

Chất dạng thuốc phiện (opiats, opioid) là tên gọi chung cho nhiều chấtnhư thuốc phiện, Morphine, Heroin, Methadone, Buprenorphine, LAAM… cóbiểu hiện lâm sàng tương tự và tác động vào cùng điểm tiếp nhận tương tự ởnão [11-12]

1.1.5 Khái niệm về nghiện chất

Nghiện chất là tình trạng bắt buộc phải sử dụng chất gây nghiện bấtchấp những tác hại của chúng [11]

1.1.5 Khái niệm về người nghiện CDTP

Người nghiện CDTP là người sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần CDTP vớiliều lượng ngày càng tăng, dẫn đến trạng thái nhiễm độc chu kỳ, mạn tính, bị

lệ thuộc về thể chất và tâm thần vào chất đó [11]

Trang 12

1.1.6 Khái niệm về điều trị thay thế

Điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế là việc sửdụng thuốc thay thế để điều trị người nghiện chất dạng thuốc phiện [8]

1.2 TÌNH HÌNH ĐIỀU TRỊ NGHIỆN CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG THUỐC METHADONE TẠI VIỆT NAM

Tại Việt Nam ddiều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốcMethadone được triển khai thí điểm vào năm 2008 tại Thành phố Hải phòng

và Thành phố Hồ Chí Minh Tính đến hết 20/9/2017, chương trình điều trịMethadone đã được triển khai tại 63 tỉnh, thành phố với 294 cơ sở và điều trịcho 52.818 bệnh nhân [3]

Tính từ thời điểm thí điểm năm 2008 cho đến nay, hệ thống pháp luật

về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone (điều trịMethadone) về cơ bản đã được hoàn thiện, với việc ban hành 02 Nghị địnhcủa Chính phủ, 01 Chỉ thị và 01 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 08Thông tư và Thông tư liên tịch và 07 hướng dẫn chuyên môn Hệ thống cácvăn bản và hướng dẫn chuyên môn này đã hướng dẫn toàn diện về điều kiệnhoạt động, tổ chức điều trị, phác đồ điều trị (tại cộng đồng, trong trại giam vàtrong các cơ sở cai nghiện bắt buộc), việc cung ứng và quản lý thuốc, cơ chếchính sách về ngân sách hỗ trợ cho các đối tượng chính sách tham gia điều trị,phí và lệ phí và khung giá dịch vụ điều trị Đặc biệt, đã hướng dẫn cụ thể việccấp phát thuốc Methadone tại xã, phường và tại gia đình, qua đó tạo điều kiệntiếp cận điều trị và duy trì tuân thủ điều trị cho người bệnh [13]

Nghiên cứu tại Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh năm 2009-2011cho thấy các hiệu quả sau [14]:

- Chương trình Methadone được triển khai đã làm giảm đáng kể hành vi

sử dụng ma túy trong nhóm bệnh nhân tham gia điều trị

Trang 13

- Bệnh nhân đã giảm đáng kể các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV gópphần trong việc giảm lây nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường máu trong nhóm bệnh nhân tham gia điều trị như Viêm gan B, C, giang mai.

- Bệnh nhân tham gia chương trình Methadone đã có sự cải thiện vềmặt sức khỏe (thể chất, tâm thần và chất lượng cuộc sống) Đa số bệnh nhân

có cải thiện về sức khỏe, chuyển biến tích cực về thái độ cũng như cuộc sốngsau một thời gian điều trị

- Chương trình cũng đem lại nhiều lợi ích về an ninh, xã hội Tỷ lệ bệnhnhân có hành vi vi phạm pháp luật đã giảm từ 39,1% % xuống chỉ còn 1,6%sau 24 tháng tham gia vào chương trình điều trị Mâu thuẫn trong gia đình, xãhội cũng giảm mạnh khi bệnh nhân tham gia điều trị Tỷ lệ bệnh nhân có cáchành vi bán và cầm cố đồ đạc, nói dối hoặc thậm chí cưỡng ép người thân để

có tiền sử dụng ma túy giảm nhanh chóng từ 86,8% trước điều trị xuống 2,3%sau 24 tháng điều trị

- Chương trình Methadone đã mang lại hiệu quả rõ rệt về kinh tế cho cánhân, gia đình người bệnh Tỷ lệ bệnh nhân có việc làm trước điều trị là55,7% đã tăng lên 75,9% sau 24 tháng điều trị

Một số thách thức đối với chương trình điều trị methadone

Mặc dù đạt được nhiều thành công nhất định nhưng chương trình điềutrị methadone đang đối mặt với nhiều thách thức

Điều trị thay thế bằng thuốc methadone chỉ điều trị cho những ngườinghiện các chất dạng thuốc phiện Tuy nhiên trong thời gian gần đây ngườinghiện không chỉ sử dụng heroin mà còn sử dụng đồng thời cả ma túy tổnghợp và các thuốc hướng thần Hình thức sử dụng ma tuý đa dạng hơn, khôngcòn là hút thuốc phiện, cần sa, hít Heroin mà mở rộng sang các hình thứctiêm, chích Heroin, uống ma tuý tổng hợp.v.v [15]

Trang 14

Theo báo cáo của Bộ Công an đến ngày 15/11/2017, cả nước có222.582 người nghiện có hồ sơ quản lý, tăng 11.831 người so với năm 2016(210.751 người), 58 địa phương có người nghiện tăng Trong đó số ngườinghiện ma túy tổng hợp tiếp tục gia tăng; theo số liệu báo cáo từ 21 địaphương có thống kê, phân loại, số người sử dụng ma túy tổng hợp là 15.447người (chiếm 46% số người sử dụng ma túy) Đặc biệt, có một số địa phương

có tỷ lệ trên 80% như Trà Vinh 90,7%; Đà Nẵng 86%; Quảng Trị 84% sốngười mới sử dụng ma túy bị phát hiện chủ yếu sử dụng ma túy tổng hợp vàcác chất hướng thần thay vì các loại ma túy truyền thống [16]

Nghiên cứu về việc sử dụng ATS trong nhóm MSM cho thấy gần mộtphần ba MSM tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh (30,4%) đã từng sử dụngATS[17] Theo một nghiên cứu khác có tới 40% bệnh nhân đang tham giađiều trị methadone có sử dụng ATS[6] Vấn đề này dẫn đến gia tăng số bệnhnhân điều trị methadone bị chấm dứt điều trị theo quy định của pháp luật khi

có xét nghiện dương tính với ma túy [8]

Bên cạnh đó việc tiếp cận và duy trì điều trị Methadone của bệnh nhâncũng gặp nhiều khó khăn Theo báo cáo của Bộ Y tế [18]:

- Methadone là biện pháp điều trị lâu dài nên xuất hiện hiện tượng bệnhnhân bỏ trị do thiếu kiên trì

-Tại nhiều tỉnh miền núi, người nghiện gặp khó khăn trong việc tiếp cận

và duy trì điều trị Methadone do giao thông đi lại khó khăn (khoảng cách xađến cơ sở điều trị là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến bệnh nhân

bỏ trị)

- Bắt đầu xuất hiện sự gia tăng hiện tượng bệnh nhân bị áp dụng biệnpháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do sử dụng thêm ma túy tổng hợp, sửdụng đa ma túy

Trang 15

1.3 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ATS VÀ CÁC NGUY CƠ VỀ SỨC KHỎE

Theo báo cáo tình hình ma túy toàn cầu năm 2016 của Cơ quan Phòngchống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC), số người sử dụng

ma túy trên toàn cầu là khoảng 247 triệu người (tương đương với 4% dân sốthế giới ở độ tuổi từ 15-64 đã từng sử dụng các chất ma túy trái phép trongnăm 2014) Trong đó, số người lệ thuộc ma túy chiếm khoảng 29 triệu người(chiếm xấp xỉ 0,4% dân số trưởng thành trên toàn cầu) Trong số 247 triệungười sử dụng ma túy có 183 triệu người sử dụng cần sa, 35,7 triệu người sửdụng Amphetamin, 33 triệu sử dụng chất dạng thuốc phiện và 19,4 triệu sửdụng ectasy Có 29 triệu người có rối loạn tâm thần nhưng chỉ 1/6 trong số đóđược điều trị Ước tính có 207.400 người chết liên quan đến ma túy (chiếm43,5 triệu dân số 15-64) trong năm 2014, có 12 triệu người tiêm chích ma túy,1,6 triệu người tiêm chích ma túy nhiễm HIV (chiếm tỷ lệ 14%) và 6 triệungười tiêm chích ma túy nhiễm vi rút viêm gan C [19]

Sử dụng ma túy bất hợp pháp gây ra 4 nhóm ảnh hưởng chính đối vớisức khỏe là: Các ảnh hưởng cấp tính, bao gồm cả sốc quá liều; Các hậu quảtức thì do sử dụng ma túy như là chấn thương do tai nạn, hành vi bạo lực;Tình trạng lệ thuộc ma túy hay còn gọi là nghiện ma túy; Các ảnh hưởng mãntính do sử dụng ma túy thường xuyên như là các bệnh mãn tính (bệnh mạchvành, xơ gan,…), các bệnh lây truyền qua đường máu do vi rút (HIV, viêmgan B, viêm gan C ) và các rối loạn tâm thần [20-21] Tệ nạn ma túy đã ảnhhưởng không nhỏ tới sức khỏe cộng đồng, sự phát triển của kinh tế, xã hội và

đe dọa an ninh quốc gia không chỉ ở những nước đang phát triển mà còn cảnhững nước đã phát triển [22]

ATS là chất ma túy bất hợp pháp được dùng phổ biến thứ hai trên thếgiới, chỉ đứng sau cần sa Vào năm 2015, toàn cầu, ước tính có 37 triệu người

Trang 16

(tuổi từ 15-64) đã từng sử dụng amphetamine (bao gồm cả amphetamine vàmethamphetamine) và các chất kích thích được kê đơn, và 22 triệu người đã từng

sử dụng ecstasy (thuốc lắc) Từ năm 2010 các vụ bắt giữ ATS lớn và vừa chỉ ra

sự mở rộng nhanh chóng của thị trường toàn cầu, với tổng số ATS được thu giữtăng lên đáng kể Vào năm 2015, tổng lượng ATS thu giữ toàn cầu là 132 tấnmethamphetamine, 52 tấn amphetamine và 6 tấn “thuốc lắc” Tình trạng sử dụnghay phụ thuộc vào methamphetamine hay amphetamine đã được tìm thấy ở 181quốc gia trên thế giới, gồm rất nhiều nước tại Châu Á [10]

Vào năm 2014 sản xuất, vận chuyển và sử dụng methamphetamine tiếptục thống lĩnh thị trường ATS tại Đông và Đông Nam Á, Châu Đại Dương vàThái Bình Dương Vào năm 2012 UNODC ước tính Đông Á, Đông Nam Á vàChâu Đại Dương có số người sử dụng ATS lớn nhất toàn cầu vào khoảng gần9.5 triệu người, với số người sử dụng “thuốc lắc” lớn nhất là 3,9 triệu người.Nói chung, methamphetamine có thể được sản xuất tại hầu hết các vị trí địa

lý, tại các cơ sở bí mật và đôi khi di động, và với chi phí tương đối ít hơn sovới hoạt động đầu tư nông nghiệp liên quan tới trồng trọt cây thuốc phiện.Yếu tố này có thể đã đóng góp vào mức độ sẵn có và tiêu thụmethamphetamine tại Cam-pu-chia, Trung Quốc, Nhật Bản, Lào, Philippine,Myanmar, Hàn Quốc, Thái Lan và Việt Nam vào năm 2012/2013 [10]

Với sự gia tăng sử dụng ATS, chủ yếu là methamphetamine, số ngườitìm kiếm điều trị cho ATS, phần lớn là sử dụng methamphetamine, cũng tănglên trong những năm gần đây tại nhiều quốc gia tại Châu Á [10]

Sử dụng Methamphetamine rất phổ biến trong MSM Các mối liên quanchặt chẽ giữa việc sử dụng Methamphetamine và các hành vi lây truyền quađường tình dục liên quan đến HIV được ghi nhận trong các nghiên cứu về MSM

Trang 17

và tương ứng với tỷ lệ gia tăng nhiễm HIV và giang mai so với MSM không

sử dụng thuốc [23]

Theo kết quả nghiên cứu của Halkitis, Parsons, & Borkowski năm 1999tại thành phố Newyork - Mỹ, dữ liệu thu thập từ 208 người đàn ông thườngxuyên quán bar và nhà tắm cho thấy tỷ lệ sử dụng 12,7% trong ba tháng trướckhi đánh giá [24]

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng dường như có sự gia tăng cả nhậpkhẩu và sản xuất meth/Amphetamine tại Úc Dữ liệu dân số cho thấy sử dụngmeth/amphetamine vẫn còn thấp và không biến động Tuy nhiên, việc sử dụngMethamphetamine tinh thể tăng rõ rệt đã xảy ra giữa các nhóm người dùngthuốc thường xuyên Trong những năm gần đây, các chỉ số về tác hại liênquan đến Meth/ Amphetamine đã ổn định, sau sự gia tăng đều đặn trongnhững năm trước đó [25]

Theo một khảo sát về ma túy ở Thái Lan năm 2012 và 2013 do Cơ quanKiểm soát Ma túy của Bộ Tư Pháp thực hiên, ma túy sử dụng nhiều nhất làamphetamine (“yaba”) và methamphetamine (chiếm khoảng 88,7% và 89,7%trên tổng số), tiếp theo là cần sa (4,7%) Dữ liệu năm 2014 cho thấy 23,6%người sử dụng ở lứa tuổi 15-19 và 57,8% ở lứa tuổi 20-34 Con số ca nghiệnmới ngày càng tăng nhanh chóng khi so với dữ liệu của 5 năm vừa qua, vàcon số bệnh nhân mới tăng lên là 69% trong năm 2014 [26]

Người sử dụng ma túy tổng hợp không chỉ là các đối tượng ngoài cộngđồng mà còn chiếm một tỉ lệ nhất định những bệnh nhân đang tham gia điều trịnghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone có sử dụng ATS Theo mộtnghiên cứu tại Iran có bằng chứng cho thấy sự phụ thuộc methamphetamine tăng

từ 3,9% trong hai giới tính năm 2007 lên 60,3% ở nam giới trong năm 2014 và89,5% ở nữ giới trong giai đoạn 2015-2016 Tỷ lệ phụ thuộc

Trang 18

methamphetamine cao hơn ở những bệnh nhân nữ methadone so với namgiới Sự phụ thuộc Methamphetamine có liên quan đến nhiều vấn đề sức khỏetrong bối cảnh xã hội và sức khỏe của hai giới tính, đặc biệt là phụ nữ [27].Theo kết quả của một nghiên cứu khác đối với các bệnh nhân đang tham giađiều tri nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại Vân Nam -Trung Quốc, trong tổng số 2.121 người đủ điều kiện và tham gia vào nghiêncứu có 12,9% chỉ dương tính với Methamphetamine, và 196 (9,2%) dươngtính với cả morphine và Methamphetamine [28] Bệnh nhân đang điều trịMethadone cho rằng động lực dẫn đến việc sử dụng Methamphetamine trongkhi đang điều trị của họ bởi vì các tác dụng phụ của methadone và đượckhuyến khích bởi gia đình và bạn bè, những người đã sử dụngmethamphetamine để làm dịu tác dụng phụ của methadone trong giai đoạnđiều trị sớm trước khi đến giai đoạn điều trị methadone với liều duy trì [29].

Bên cạnh đó có nghiên cứu cho thấy việc sử dụng Methamphetaminedạng tinh thể thường xuyên trong số những người tiêm chích ma túy thườngxuyên có liên quan đến việc khởi đầu sớm hơn để tiêm chích, hành vi nguy cơtiêm cao hơn và hoạt động tội phạm rộng hơn [25]

Việt Nam nằm ở khu vực Đông Nam Á là khu vực có vị trí thuận lợi màtội phạm ma túy tận dụng để trung chuyển ma túy từ vùng Tam giác vàng rakhu vực và thế giới Phần lớn lượng ma tuý được mua bán và tiêu thụ ở nước

ta có nguồn gốc và được vận chuyển từ nước ngoài vào nước ta bằng nhiềuđường, trong đó chủ yếu bằng đường bộ thuộc các tuyến biên giới phía Bắc,Tây Bắc, Bắc Miền Trung và Tây Nam [9]

Độ tuổi của người nghiện có xu hướng ngày càng trẻ hoá (năm 1996, sốngười nghiện dưới 30 tuổi chiếm tỷ lệ 42%, năm 2001 là 57,7%, đến năm 2010

là 68,3%), tỷ lệ người nghiện là nữ đang gia tăng (từ 3,15%, năm 1996 lên

Trang 19

4,5%, năm 2006) [8] Theo báo cáo năm 2015 có tới 76% người NCMT có độtuổi dưới 35 [15].

Theo báo cáo đến năm 2015, toàn quốc thống kê được 201.180 ngườiNCMT có hồ sơ quản lý Trong số này có 72,4% người NCMT đang sốngngoài xã hội, 9,2% người NCMT trong các cơ sở cai nghiện, 18,4% trong cáctrại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng Một số địaphương có tỷ lệ người sử dụng ma túy tổng hợp cao, bao gồm: Đà Nẵng 85%,Tây Ninh 61%, Trà Vinh 49%, TP Hồ Chí Minh 48% [15]

Trước đây, người nghiện ma tuý chủ yếu sử dụng thuốc phiện, sái thuốcphiện và chỉ có một tỉ lệ rất nhỏ sử dụng Heroin Đến nay, người nghiện sửdụng Heroin là chủ yếu (chiếm khoảng 70%), đồng thời sử dụng cả ma tuýtổng hợp, thuốc hướng thần Hình thức sử dụng ma tuý đa dạng hơn, khôngcòn là hút thuốc phiện, cần sa, hít Heroin mà mở rộng sang các hình thứctiêm, chích Heroin, uống ma tuý tổng hợp.v.v Tỷ lệ người nghiện sử dụng matuý bằng đường tiêm chích đã tăng mạnh, từ 7,6 % năm 1996 lên 46,4% năm

2001, 66,3% năm 2006 và lên trên 71% năm 2010 [15] Theo giám sát trọngđiểm lồng ghép hành vi trong các nhóm nguy cơ cao tại Việt Nam năm 2014,13,1% trong số họ cho biết có sử dụng chung bơm kim tiêm trong vòng 1tháng qua (giảm 12% khi so sánh với kết quả điều tra năm 2013) [30], đây lànguyên nhân trực tiếp làm lây lan nhanh HIV trong nhóm tiêm chích ma tuý

Gần một phần ba MSM tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh (30,4%) đãtừng sử dụng ATS, bao gồm 23,6% người đã sử dụng methamphetamine,4,3% người đã sử dụng amphetamine ('Speed') và 20,9% người đã sử dụngthuốc lắc 20,1% và 11,9% đã từng sử dụng methamphetamine và thuốc lắc,tương ứng, trong khi quan hệ tình dục 18 % người sử dụng methamphetamineđược phân loại là tham gia vào việc sử dụng có nguy cơ cao Việc sử dụng

Trang 20

methamphetamine gần đây (trong 3 tháng gần đây) là sử dụng trong mạng lướiMSM, công việc tình dục gần đây và tìm kiếm cảm giác tình dục cao hơn [17].

Nghiên cứu cắt ngang trên 5 nhóm nguy cơ cao lây nhiễm HIV baogồm nhóm nam sử dụng heroin, MSM, phụ nữ bán dâm, thanh niên hay điquán bar và nhóm công nhân xây dựng/lái taxi tại 3 thành phố Hà Nội, ĐàNẵng và thành phố Hồ Chí Minh năm 2010 cho thấy thuốc lắc vàmethamphetamine là 2 loại ATS được sử dụng phổ biến (73% và 63%) cả ở 3thành phố Hai loại ATS này được phổ biến ở tất cả các nhóm đối tượng, namnhiều hơn nữ và sử dụng phổ biến ở thanh niên dưới 40 tuổi [31]

Amphetamine Ecstasy Methamphetamine (Ice)

Biểu đồ 1 1 Tỉ lệ sử dụng ATS trong nhóm phụ nữ bán dâm tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh năm 2010

Theo một nghiện cứu của Vũ Thị Thu Nga và cộng sự năm 2014 chothấy một tỉ lệ khá cao MSM tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh có sử dụng matúy tổng hợp (cụ thể theo Biểu đồ 1.2) [17]

Trang 21

ATS Methamphetamine Amphetamine Ecstacy

Biểu đồ 1 2 Tỉ lệ tỉ lệ sử dụng ma túy tổng hợp trong MSM tại

Hà Nội và TP Hồ Chí Minh năm 2014

Thống kê mới đây nhất cho thấy có tới gần 40% số bệnh nhân đang điềutrị methadone sử dụng đá Việc sử dụng hàng đá trong nhóm người sử dụng matúy có liên quan tới việc bệnh nhân không tham gia điều trị methadone mặc dùloại hình điều trị này đang được cải thiện tính sẵn có tại cộng đồng [6]

Sử dụng ma túy tổng hợp ở giới trẻ và phụ nữ bán dâm, dẫn đến tăngnguy cơ quan hệ tình dục tập thể không được bảo vệ và mại dâm nam, gồmnam bán dâm cho nam đồng tính, người chuyển giới nữ [32]

1.4 CÁC NGUY CƠ SỨC KHỎE CỦA VIỆC SỬ DỤNG ATS

1.4.1 Nguy cơ khi dùng chung ATS với các loại ma túy khác

Theo Hướng dẫn Quản lý các Rối loạn Sử dụng Methamphetamine tạiMyanmar tác dụng của methamphetamine có thể thay đổi khi dùng chung vớirượu, cocaine hoặc các chất dạng thuốc phiện khác, cụ thể như sau [10]:

Trang 22

- Sử dụng rượu và methamphetamine làm tăng huyết áp, tạo ra áp lực lớn

lên tim Methamphetamine cũng có thể ngụy trang các tác động của rượu, cóthể làm tăng nguy cơ ngộ độc rượu và tai nạn do cảm giác sai lầm rằng mìnhđang tỉnh táo và có kiểm soát trong khi thực chất là đang say rượu

- Sử dụng cần sa và methamphetamine có thể làm tăng nguy cơ có cácvấn đề sức khỏe tâm thần, bao gồm triệu chứng loạn thần ở một số người, đặcbiệt là những người bị tâm thần phân liệt Điều này có thể biểu hiện nhiều hơn

ở những người trước đây có các vấn đề sức khỏe tâm thần

- Sử dụng heroin và methamphetamine có thể làm xấu hơn tình trạng hôhấp, trầm cảm và gây suy tim Methamphetamine cũng có thể làm tăng nguy

cơ quá liều heroin

- Cocaine cũng là một chất kích thích thần kinh, sử dụng đồng thời haichất kích thích làm tăng tác dụng kích thích, nguy cơ quá liều, và làm tăng hành

Kết quả xung quanh mối liên hệ giữa tiêm chích và lây nhiễm HIV vẫncòn mâu thuẫn, do các nguy cơ tình dục đồng diễn Nghiên cứu cho thấy mối liên

hệ giữa tiêm chích M/A và HIV: một nghiên cứu ở những người tiêm chích M/A

ở Nga cho thấy mối tương quan độc lập với tình trạng HIV Các nghiên cứu kháccho thấy so với những người tiêm chích heroin, những người tiêm

Trang 23

chích ATS thường dễ cho mượn và mượn kim tiêm đã qua sử dụng hơn, vàthường tiêm chích nhiều lần một ngày hơn so với người tiêm chích chất dạngthuốc phiện Các can thiệp cần thiết để khuyến khích hành vi sử dụng an toànmethamphetamine cần giải quyết các quan niệm sai lầm rằng tiêm chích sẽtiết kiệm và lành mạnh hơn và nhấn mạnh các vấn đề về mạch máu và các yếu

tố nguy cơ lây nhiễm HIV liên quan tới hành vi tiêm chích [10]

1.4.3 Sử dụng methamphetamine và hành vi tình dục nguy cơ

Sử dụng methamphetamine có liên quan tới hành vi tình dục nguy cơ,giữa cả nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới và nhóm có quan hệ dị giới Tỷ

lệ lây nhiễm các nhiễm trùng qua đường tình dục tăng cao như chlamydia, lậu

và giang mai có mối quan hệ với tình trạng sử dụng methamphetamine, đâycũng là yếu tố nguy cơ gây đồng nhiễm HIV Mối liên hệ này có thể do thực tếrằng methamphetamine làm tăng ham muốn tình dục Nhiều nghiên cứu chỉ rarằng sử dụng methamphetamine có mối liên hệ độc lập với những điều sauđây [10]:

- Có nhiều bạn tình;

- Quan hệ tình dục hậu môn không an toàn;

- Giảm sử dụng bao cao su;

- Sử dụng ma túy khi quan hệ tình dục;

- Tiền sử mắc các nhiễm trùng qua đường tình dục;

- Xét nghiệm dương tính với HIV

Kết quả nghiên cứu của Vũ Thị Thu Nga và cộng sự (2016) tiến hành tại

Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cho thấy trong số 622 MSM tham gia có75,7% có báo cáo có quan hệ tình dục qua đường hậu môn không sử dụng BCStrong 3 tháng qua, 23,2% cho biết có quan hệ tình dục trong 3 tháng qua, 21,1%

Trang 24

cho biết tình dục nhóm trong 12 tháng qua (21,1%) và 14,3% sử dụngmethamphetamine vì mục đích quan hệ tình dục trong ba tháng qua [33].

Sử dụng ATS làm tăng nguy cơ nhiễm HIV, đặc biệt là quan hệ tình dục(QHTD) không an toàn Nghiên cứu tại Thái Lan, Lào, Cam-pu-chia cho kếtquả rằng những người sử dụng ATS có tần suất hoạt động tình dục cao và tăngnguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục [7]

1.4.4 Sử dụng methamphetamine: tác dụng tiềm ẩn lên suy nghĩ, hành vi

Sử dụng Methamphetamine không những đem đến những tác động tiêucực tới các hành vi nguy cơ trong dự phòng lây nhiễm HIV mà còn có tác độngtiếu cực đến quá trình điều trị HIV Sử dụng methamphetamine có thể làm giảmkhả năng uống thuốc điều trị HIV hoặc các chứng bệnh khác Những người sửdụng methamphetamine tuân thủ điều trị HIV kém hơn so với những ngườikhông dùng methamphetamine Tuy nhiên cũng chưa có nghiên cứu nào chỉ rarằng tỷ lệ kháng thuốc điều trị HIV ở người sử dụng methamphetamine [10]

1.4.5 Các vấn đề sức khỏe tâm thần liên quan tới sử dụng

methamphetamine

1.4.5.1 Rối loạn tâm trạng do methamphetamine

Rối loạn tâm trạng do methamphetamine có thể được xác định bởi tìnhtrạng rối loạn tâm trạng triền miên, thường diễn ra trong khi sử dụng hoặc trongvòng một tháng có sử dụng methamphetamine hoặc khi ngưng sử dụng Các

Trang 25

đặc điểm rối loạn tâm trạng có thể là trầm cảm, khó chịu, hoặc giảm rõ rệthứng thú hoặc niềm vui trong phần lớn các hoạt động Các nghiên cứu chỉ rarằng trong số những người sử dụng methamphetamine tỷ lệ trầm cảm suốt đờiđược báo cáo là cao, và tỷ lệ được chẩn đoán trầm cảm ở một giai đoạn nào

đó trong đời là phổ biến Hiệu lực của methamphetamine càng cao càng làmtăng các nguy cơ tiềm ẩn liên quan tới hành vi sử dụng [10]

1.4.5.2 Loạn thần và mê sảng

Mê sảng sau khi nhiễm độc methamphetamine là rất phổ biến Loạn thầnthường hay diễn ra ở những người sử dụng methamphetamine thường xuyên.Theo báo cáo tỷ lệ loạn thần được ước tính cao hơn gấp 11 lần ở những ngườidùng ATS so với trong nhóm dân cư chung, và 23% những người sử dụng ATSthường xuyên có các triệu chứng loạn thần trong vòng một năm

Mê sảng và loạn thần do methamphetamine thường biến mất sau khicác tác dụng cấp tính của loại ma túy này lắng xuống, sau khi ngừng sử dụngmethamphetamine, và sau khi ngủ Thời gian để hồi phục thường kéo dài từmột vài giờ hoặc đôi khi là một vài ngày

Đặc điểm của tình trạng loạn thần do methamphetamine có thể bao gồm

ảo giác hoặc ảo tưởng nghiêm trọng Ảo tưởng về sự vĩ đại hoặc hoang tưởng

có thể xảy ra và ảo giác thính giác, thị giác hay xúc giác cũng có mối liên hệvới loạn thần do methamphetamine [10]

1.5 CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN MONG MUỐN CAN THIỆP LẠM DỤNG ATS

Hiện tại, chưa có thuốc nào được chứng minh có hiệu quả điều trị hoặcđược phê chuẩn để điều trị giúp từ bỏ methamphetamine Một nghiên cứu vềhiệu quả của can thiệp tư vấn xã hội trong vấn đề nghiện chất cho thấy phươngpháp này có hiệu quả trung bình và 1/3 bệnh nhân từ bỏ được ma túy Các thống

Trang 26

kê này cũng tương tự như hiệu quả điều trị chung bệnh lý tâm thần Vì vậy,can thiệp tâm lý xã hội là phương pháp chính trong điều trịmethamphetamine, động viên người bệnh tự thay đổi chính mình, đạt được kỹnăng cơ bản, và tham gia cuộc sống bình thường không ma túy [26].

Trên Thế giới đã có một số nghiên cứu triển khai để tìm hiểu mức độsẵn sàng tham gia vào các chương trình điều trị nghiện chất và các yếu tố liênquan Theo kết quả của một nghiên cứu được tiến hành tại Vancouver -Canada năm 2013, trong số 1.020 sử dụng ma túy được hỏi liệu họ có sẵnsàng tham gia vào một thử nghiệm điều trị nghiện hay không Kết quả chothấy có khoảng 58,3% cho thấy sự sẵn sàng tham gia Kết quả phân tích hồiquy logistic cho thấy hoạt động tình dục và sử dụng ma túy có nguy cơ cao cóliên quan tích cực với sự sẵn sàng tham gia điều trị Ngoài ra còn một số cácyếu tố khác liên quan đến việc sẵn sàng tham gia thử nghiệm điều trị baogồm: hút thuốc lá hàng ngày (AOR = 1,81; KTC 95%: 1,23 - 2,66); HIVdương tính (AOR = 1,49; 95% CI: 1,15 - 1,94); và tham gia điều trị duy trìbằng methadone (AOR = 1,77; KTC 95%: 1,37-2,30) [34]

Theo một điều tra cắt ngang trên những người tiêm chích ma túy đượctiến hành tại Pháp năm 2017 về sự sẵn sàng tham gia điều trị thay thế nghiệncác chất dạng thuốc phiện bằng việc tiêm Buprenorphine Kết quả cho thấy83% đối tượng sẵn sàng nhận được điều trị buprenorphine và các yếu tố liênquan đến sự sẵn sàng là: hơn 5 biến chứng liên quan đến tiêm, tiêmbuprenorphine thường xuyên, không dùng quá liều và hoàn thành bản câu hỏikhảo sát trực tuyến [35]

Theo kết quả của một nghiên cứu khác tìm hiểu sự sẵn sàng tham gia thửnghiệm heroin trong một nhóm thuần chủng người Mỹ gốc Bắc Mỹ thực hiệnnăm 2005, cho thấy tần suất tiêm heroin cường độ cao, các hành vi nguy cơ cao

Trang 27

khác và đặc biệt phổ biến ở những người không thể giảm đáng kể việc tiêmchích trong khi điều trị methadone của họ có liên quan đến sẵn sàng tham giathử nghiệm heroin [36].

Các yếu tố cá nhân và xã hội cũng có mối liên quan mật thiết tới việctham gia điều trị nghiện chất Trong một nghiên cứu tiến hành trên nhữngngười tiêm chích ma túy và không tiêm chích ma túy (2002-2004) tạiBaltimore Các phân tích cho thấy so với những người không có kế hoạchdừng sử dụng ma túy và không có bạn bè khuyến khích họ tham gia điều trịthì những người có dự định ngừng sử dụng ma túy hoặc bạn bè khuyến khíchđiều trị có nhiều khả năng tham điều trị hơn Hơn nữa, so với những ngườikhông có vấn đề với việc sử dụng ma túy và không có bạn bè nào khuyếnkhích họ tham gia điều trị, những người có mức độ nghiêm trọng với ma túyhoặc bạn bè khuyến khích điều trị có nhiều khả năng duy trì điều trịmethadone Ảnh hưởng của bạn bè có thể có tác dụng tạo lên cơ hội hồi phụcthành công cao hơn cho người tham gia điều trị [37]

Các rào cản tâm lý xã hội/nội tại trong việc tiếp cận điều trịmethamphetamine được phát hiện phổ biến nhất trong các nghiên cứu Kếtquả của một nghiên cứu phân tích gộp khẳng định bốn rào cản thường đượcxác nhận nhất để tiếp cận điều trị: Cảm thấy xấu hổ hoặc bị kỳ thị (60%, 95%CI: 54-67%); có niềm tin rằng điều trị là không cần thiết (59%, 95% CI: 54-65%); muốn tự điều trị một mình mà không cần hỗ trợ (55%, CI 95%: 45-65);

và các mối quan tâm về quyền riêng tư (51%, CI 95%: 44-59%) [38]

Đối với những người lạm dụng chất tuổi vị thành niên việc nhận thứcnhững yếu tố liên quan đến các hậu quả tiêu cực khác nhau của việc sử dụngchất có khả năng liên quan đến động lực tham gia điều trị, trong khi mức độnghiêm trọng của việc sử dụng chất này thì không liên quan [39]

Trang 28

Yếu tố giới tính đối với động lực tham gia vào điều trị nghiện chất cũngđược đề cập đến trong nghiên cứu của Taylor (2017) nhưng kết quả cho thấyyếu tố giới tính không liên quan tới động lực tham gia điều tri nghiện chất củabệnh nhân [40].

Khung lý thuyết nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến mong muốn can thiệp lạm dụng ATS

rượu/bia trong 30 ngày qua

Trang 29

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng tham gia nghiên cứu

Bệnh nhân đang điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone (Điều trị Methadone) tại cơ sở điều trị tại Hà Nội được chọn

2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn

- Từ 18 tuổi trở lên

- Có kết quả dương tính với xét nghiệm nước tiểu dương tính vớimethamphetamine, và/hoặc thuốc lắc (MDMA) hoặc có mức độ sử dụngamphetamine và/hoặc thuốc lắc (MDMA) từ nguy cơ trung bình trở lên theothang sàng lọc ASSIST (trong 30 ngày qua)

- Đồng ý, tự nguyện tham gia nghiên cứu

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ

- Những đối tượng không đủ sức khỏe để tham gia nghiên cứu

- Những đối tượng không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang

2.3 Cỡ mẫu nghiên cứu

Cỡ mẫu nghiên cứu được tính theo công thức:

Trang 30

- p = 58% ( Lấy theo tỉ lệ sẵn sàng tham gia và các chương trình điều trịnghiện chất theo kết quả của một nghiên cứu được tiến hành tại Vancouver -Canada năm 2013 tìm hiểu mức độ sẵn sàng và các yếu tố liên quan)[34].

- d = 0,05

- Hằng số của phân bố chuẩn Z = 1,96 ở mức xác suất α =0,05

Cỡ mẫu nghiên cứu tính được sẽ khoảng: n = 400 Với ước tính tỷ lệ sửdụng ATS = 30-35% và có khoảng 5-10% từ chối tham gia nghiên cứu nêncần phải tiến hành sàng lọc ASSIST và xét nghiệm nước tiểu ít nhất 1.600bệnh nhân đang tham gia điều trị Methadone tại Hà Nội

Các bệnh nhân được lựa chọn tham gia nghiên cứu khi có kết quả xétnghiệm dương tính với xét nghiệm nước tiểu tình trạng sử dụng chất (bao gồm:morphine, methamphetamine, cần sa, và thuốc lắc) hoặc có mức độ sử dụng từnguy cơ trung bình trở lên theo thang sàng lọc ASSIST và đồng ý tham gianghiên cứu Tuy nhiên theo quy định tại Nghị định số 90/2016/NĐ-CP ngày01/7/2016 [8] khi các bệnh nhân đang tham gia điều trị Methadone mà có kết quảxét nghiện dương tình với ma túy thì sẽ bị buộc dừng điều trị, chính vì vậy đểgiúp các cở sở điều trị có thể ứng phó với trường hợp bệnh nhân sử dụng ma túytổng hợp như vậy nghiên cứu sẽ ưu tiên lựa chọn các bệnh nhân có xét nghiệmnước tiểu dương tính với ma túy tổng hợp vào nghiên cứu

Trang 31

- Bước 1: Tiếp đón, vận động bệnh nhân tham gia nghiên cứu:

Khoảng 2.341 bệnh nhân tham gia nghiên cứu được thực hiện bởi cácnhân viên thuộc bộ phận tiếp đón tại các cở sở điều trị tiến hành tiếp đón, vậnđộng bệnh nhân tham gia nghiên cứu khi họ đến uống thuốc Methadone hàngngày

- Bước 2: Thỏa thuận tham gia nghiên cứu và tiến hành xét nghiệm nước tiểu và sàng lọc ASSIST:

Các bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu từ Bước 1 sẽ được gặp cácnhân viên thuộc một số Tổ chức dân sự - Xã hội tại Hà Nội và được thỏathuận đồng ý tham gia nghiên cứu Khi họ đồng ý và ký thỏa thuận tham gianghiên cứu sẽ được tiến hành sàng lọc bằng thang ASSIST và thực hiện xétnghiện nước tiểu bằng test 4 chân với 4 chất: cần sa, thuốc lắc,methamphetamine và chất dạng thuốc phiện

- Bước 3: Sử dụng bộ câu hỏi tiến hành phỏng vấn các bệnh nhân đồng

ý tham gia nghiên cứu từ Bước 2 đến khi nào đủ 428 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn lựa chọn

2.5 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.5.1 Thời gian nghiên cứu

- Thu thập số liệu sẽ được tiến hành từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2018tại 04 cơ sở điều trị methadone tại Hà Nội, bao gồm: Tây Hồ, Nam Từ Liêm,Đống Đa, Hai Bà Trưng, Hoàng Mai

- Nhập và phân tích số liệu sẽ được tiến hành từ tháng 12/2018 đến tháng

2/2019

- Báo cáo nghiên cứu sẽ được viết từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2019

Trang 32

2.5.2 Địa điểm nghiên cứu

Thành phố Hà Nội là một trong những thành phố lớn nhất nhất nước,tình hình ma túy và dịch HIV/AIDS luôn là vấn đề y tế xã hội được quan tâm.Cũng như tình hình dịch HIV trên toàn quốc, đa số người nhiễm HIV/AIDS ởlứa tuổi trẻ, số nhiễm HIV/AIDS trong nhóm tuổi từ 25-49 là 76,3% [41]

Đối phó với tình hình nghiện chích ma túy và lây nhiễm HIV/AIDS trênđịa bàn, một trong những biện pháp quan trọng đã được Hà Nội triển khai làchương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone.Theo báo cáo gần đây Tính đến 31/12/2017, toàn Thành phố hiện có 18 cơ sởđiều trị Methadone (16 cơ sở thuộc ngành y tế quản lý, 02 cơ sở thuộc ngành Laođộng Thương binh và Xã hội quản lý) đang điều trị cho 4.871 bệnh nhân [41]

Nghiên cứu được tiến hành tại 05 cơ sở điều trị Methadone được chủđích lựa chọn tại Hà Nội bao gồm: Tây Hồ (đang điều trị 360 bệnh nhân),Nam Từ Liêm (đang điều trị 420 bệnh nhân), Đống Đa (đang điều trị 531bệnh nhân), Hai Bà Trưng (đang điều trị 608 bệnh nhân), Hoàng Mai (đangđiều trị 442 bệnh nhân) Các cơ sở được lựa chọn là các cơ sở đã triển khaiđiều trị trong nhiều năm và có nhiều bệnh nhân nhất trên địa bàn Hà Nội, tổng

số có khoảng 2.341 bênh nhân

2.6 Nội dung và các chỉ số nghiên cứu

2.6.1 Thông tin nhân khẩu - xã hội và việc sử dụng chất gây nghiện

- Đặc điểm nhân khẩu - xã hội: Giới tính, tuổi, dân tộc, tôn giáo, tình

trạng hôn nhân, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng việc làm, thu nhập, mối quan hệ với gia đình, số năm điều trị methadone

- Tiền sử sử dụng chất gây nghiện: mong muốn giảm sử dụng rượu/bia,

triệu chứng liên quan đến rượu/bia, mức độ sử dụng rượu/bia ; mong muốngiảm sử dụng heroin, triệu chứng liên quan đến heroin, mức độ sử dụng heroin;

Trang 33

2.6.2 Mục tiêu 1: Mô tả thực hành sử dụng ATS và mong muốn can thiệp lạm dụng ATS của các bệnh nhân methadone tại thành phố Hà Nội năm 2018

- Thực trạng sử dụng ATS: tuổi bắt đầu biết đến, tác dụng của ma túy

tổng hợp khi sử dụng, tuổi bắt sử dụng, lý do sử dụng, hình thức sử dụng, sửdụng chung với chất khác, tần suất sử dụng, hành vi nguy cơ sau khi sử dụng

-Mong muốn can thiệp lạm dụng ATS: Mong muốn tham gia các hình

thực sang lọc để can thiệp lạm dụng ATS

2.6.3 Mục tiêu 2: Mô tả các yếu tố liên quan đến mong muốn can thiệp lạm dụng ATS của các bệnh nhân methadone tại thành phố Hà Nội năm 2018

- Có thẻ bảo hiểm y tế hay không;

- Sử dụng rượu/bia trong 30 ngày qua;

- Sử dụng heroin trong 30 ngày qua;

- Số năm sử dụng heroin;

- Số năm sử dụng methamphetamine;

- Tình trạng nhiễm HIV;

- Sức khỏe tâm thần;

- Kì thị liên quan đến điều trị methadone;

- Số năm tham gia điều trị methadone;

- Mức độ nguy cơ sử dụng ATS theo thang ASSIST;

- Tần suất sử dụng rượu/bia trong 30 ngày qua;

Trang 34

- Sử dụng heroin trong tháng qua;

- Kì thị liên quan đến điều trị Methadone

2.7 Các biến số nghiên cứu (Phụ lục I)

2.8 Phương pháp thu thập số liệu

2.8.1 Kỹ thuật và bộ công cụ thu thập số liệu

Số liệu được thu thập thông phỏng vấn qua bộ câu hỏi được thiết kế sẵndựa vào câu hỏi của một số nghiên cứu liên quan đến chương trình điều trịnghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone và được chỉnh sửacho phù hợp với nghiên cứu

Nghiên cứu đã sử dụng bộ câu hỏi sàng lọc sử dụng ma túy (ASSISTPhiên bản 2.0) được Viện nghiên cứu về sử dụng nghiện chất, Hoa Kỳ (NIDA)thiết kế gồm 10 câu hỏi, chỉ quan tâm tới việc sử dụng ma túy từ trước đến nay

và trong 3 tháng qua Các loại ma túy được sàng lọc bao gồm amphetamine và

ma túy gây ảo giác Mỗi câu đều bao gồm 5 mức độ sử dụng từ không lần nàođến hầu như hàng ngày Khoảng điểm đánh giá nguy cơ từ 0 đến 27+ Nguy cơthấp 0-3 điểm, nguy cơ trung bình 4-26 điểm và nguy cơ cao: trên 27 điểm

2.8.2 Nghiên cứu viên, giám sát viên

Nghiên cứu viên được tập huấn kỹ về nội dung và yêu cầu của nghiêncứu, các kỹ năng tiếp cận, tư vấn, kỹ năng phỏng vấn để đảm bảo độ chínhxác cao

Giám sát viên là nghiên cứu viên Nghiên cứu viên cũng tham gia vàoquá trình nghiên cứu, hỗ trợ giải quyết các khó khăn trong quá trình thu thập

số liệu

Trang 35

2.9 Quy trình thu thập số liệu

Phỏng vấn trực tiếp người bệnh đang điều trị nghiện các chất dạng thuốcphiện bằng thuốc methadone đến uống thuốc hàng ngày tại các cơ sở điều trịmethadone được lựa chọn cho đến khi đủ cỡ mẫu ước tính là 428 người.Trước khi phỏng vấn nghiên cứu viên giới thiệu mục đích của nghiên cứu,đảm bảo thông tin bảo mật cho người bệnh Cuộc phỏng vấn kéo dài khoảng

30 - 45 phút, người được phỏng vấn có thể có thế từ chối trả lời bất kỳ câu hỏinào mà không muốn trong suốt quá trình phỏng vấn

2.10 Đạo đức nghiên cứu

Thoả thuận tham gia

Thoả thuận đồng ý tham gia nghiên cứu bằng văn bản sẽ được thu thập

từ mỗi người tham gia nghiên cứu trước khi họ được sàng lọc và lựa chọntham gia Các đối tượng sẽ được cấp một bản sao thoả thuận đồng ý tham gianghiên cứu của họ

Lợi ích

Sau khi thu thập số liệu nghiên cứu viên có thể trả lời một số câu hỏi củađối tượng nghiên cứu, tư vấn cho họ một số vấn đề liên quan đến chương trình

Trang 36

điều trị Methadone và chương trình phòng, chống HIV/AIDS, về các chất gâynghiện, ma túy tổng hợp …

Đối tượng có quyền từ chối không tham gia nghiên cứu, chỉ phỏng vấnkhi đối tượng đồng ý tham gia vào nghiên cứu

Không có những lợi ích trực tiếp dành cho nhóm cán bộ, nhân viênCSĐT hoặc cán bộ lãnh đạo

Nguy cơ

Thông tin của người được phỏng vấn chỉ ghi khi được sự cho phép củađối tượng nghiên cứu, mọi thông tin liên quan đến danh tính cá nhân sẽ đượcnghiên cứu viên giữ bí mật tuyệt đối Các nghiên cứu viên và cán bộ tham gianghiên cứu sẽ ký cam kết không tiết lộ thông tin thu thập trong quá trìnhnghiên cứu nếu không có sự đồng ý của người tham gia Các thông tin thuthập chỉ sử dụng với mục đích nghiên cứu

Cán bộ phòng khám không có nguy cơ khi tham gia nghiên cứu này

Trang 37

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.1.1 Các thông tin chung

Bảng 3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

Thu nhập trung bình/06 tháng qua

Trang 38

Có khoảng 59,6% số các đối tượng phỏng vấn có trình độ học vấn trênphổ thông trung học và 40,4% có trình độ dưới phổ thông trung học Chỉ có45,7% đối tượng tham gia nghiên cứu có công việc ổn định được trả lươngcòn 54,3 % các đối tượng còn lại không có việc làm có thu nhập ổn định Có64,32% các đối tượng có thu nhập bình quân trong 06 tháng qua từ 5 triệuđồng trở lên và 35,68% có thu nhập dưới 5 triệu đồng trong 06 tháng qua.

Có trên 60% đối tượng có gia đình, 14 % ly dị/ly thân/góa và có trên 25

% các đối tượng đang độc thân

Có 54,33% các đối tượng có thẻ bảo hiểm y tế và 14,02 % các đốitượng đang nhiễm HIV

Trang 39

Bảng 3.2 Những người sống chung với đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.3 Hỗ trợ từ vợ/chồng/bạn tình/bạn bè/người thân trong điều trị

Trang 40

Bảng 3.4 Số năm tham gia điều trị methadone

Số năm điều trị methadone Tần số (n) Tỉ lệ (%)

Bảng 3 5 Kì thị liên quan đến điều trị Methadone

Điểm kì thị liên quan đến điều trị Methadone (khoảng điểm 9-45 điểm)

số điểm liên quan đến kì thị liên quan đến điều trị Methadone là 25 điểm,

Ngày đăng: 11/05/2020, 20:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w