BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI VŨ THỊ THU HƯƠNG NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI
VŨ THỊ THU HƯƠNG
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI
THƯƠNG VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN
HỘI NHẬP QUỐC TẾ VỀ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2Tôi cam đoan đây là công trình khoa học độc lập của tôi Số liệu và kếtluận trong luận án này, có nguồn gốc rõ ràng, đã được công bố công khai, tríchdẫn theo qui định
Những kết luận và giải pháp nêu ra tại Luận án này, phù hợp với thực tếđối tượng nghiên cứu Công trình - Luận án này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi NGHIÊN CỨU SINH
VŨ THỊ THU HƯƠNG
Trang 3BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
3. APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương
6. CPTPP Hiệp định đối tác toàn diện tiến bộ xuyên TBD
23. TGNH, TGDH Tiền gửi ngắn hạn, tiền gửi dài hạn
28. Agribank Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển NTVN
29. Vietinbank Ngân hàng TMCP công thương Việt Nam
32. VAMC Công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam
34. OECD Tổ chức hợp tác và phát triển k.tế, thành lập 1961
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ
3. Hình 2.2 Mô hình tổ chức bộ máy tại Hội sở và Chi nhánh 65
4. Bảng 2.3 Kinh doanh tín dụng của VCB 2014 – 2018 68
5. Bảng 2.4 Sử dụng vốn của VCB giai đoạn 2014 – 2018 71
7. Bảng 2.6 Tín dụng bán buôn và bán lẻ của VCB 2017 – 2018 74
8. Bảng 2.7 Doanh số thanh toán thẻ của VCB 2014 – 2018 77
9. Bảng 2.8 Vốn chủ sở hữu và nợ phải trả của VCB 2017 – 2018 83
10. Bảng 2.9 Năng lực tài chính của VCB 2014 – 2018 84
11. Bảng 2.10 Một số chỉ số tài chính của 4 NHTM hàng đầu VN 86
13. Bảng 2.12 Một số chỉ số tài chính của VCB 2018 94
14. Bảng 2.13 Thu nhập, chi phí và lợi nhuận của VCB 2014 – 2018 95-96
15. Bảng 2.14 Mạng lưới giao dịch của 4 NHTM hàng đầu VN 103
16. Biểu đồ 3.1 Nhà đầu tư và cơ cấu cổ đông của VCB 119
18. Bảng 3.2 Phân bố các NHTM lớn nhất Thế giới tại các Quốc gia 142
19. Bảng 3.3 Năng suất LĐ và thu nhập của LĐ Việt Nam 2011- 2017 145
Trang 5
MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 5
6 Tổng quan về một số công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến LA của tác giả 6
7 Những đóng góp mới của Luận án 7
8 Kết cấu Luận án : Nội dung Luận án được kết cấu thành ba chương 9
Chương 1 TỔNG QUAN V Ề NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ NĂNG LỰC C Ạ NH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ VỀ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG 10
1.1 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ VAI TRÒ CỦA NHTM TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 10
1.1.1 Khái quát về sự phát triển của NHTM trong nền kinh tế thị trường .10 1.1.2 Chức năng và nghiệp vụ của NHTM 11
1.1.2.1.Chức năng của NHTM 11
1.1.2.2.Nghiệp vụ của NHTM 14
1.2.NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ MỘT SỐ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 17
Trang 61.2.1 Khái quát về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 17
1.2.1.1 Một số quan điểm về cạnh tranh doanh nghiệp 17
1.2.1 2 Sự phát triển của cạnh tranh kinh tế 26
1.2.1.3.Phân loại cạnh tranh kinh tế 29
1.2.1.4.Năng lực cạnh tranh của DN trong nền kinh tế thị trường 33
1.2.2.Cạnh tranh Ngân Hàng và một số tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của Ngân Hàng Thương Mại 36
1.2.2.1.Nguồn gốc và hình thức cạnh tranh giữa các NHTM 36
1.2.2.2 Một số tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM [92] 41
1.2.2.3.Ý nghĩa nâng cao năng lực cạnh tranh và mặt trái của quá trình này 43
1.3 TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP QUỐC TẾ VỀ TC – NH ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM [92] 48
1.3.1.Nội dung cơ bản về Hội nhập Quốc tế về TC – NH 48
1.3.1.1 Khái quát về hội nhập kinh tế Quốc tế 48
1.3.1.2 Ý nghĩa của hội nhập quốc tế về Tài chính – Ngân hàng [92]. 49
1.3.1.3.Những rào cản trong hội nhập Quốc tế 50
1.3.2.Quan điểm của Việt Nam trong Hội nhập kinh tế Quốc tế [64] 51
1.3.3 Tác động của HNQT về TC – NH đối với hệ thống NHTM Việt Nam [92]. 53
1.3 3 1.Góp phần đổi mới tư duy kinh tế của Hệ thống NH Việt Nam 53
1.3 3 2.Định hướng đổi mới kinh doanh và phục vụ trong hệ thống NHTM 53
1.3 3 3.Nâng cao vị thế của NHTM Việt Nam trên trường quốc tế 54
1.4.KINH NGHIỆM VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NHTM TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA TRONG KHU VỰC 54
1.4.1 Mô hình quản trị kinh doanh của một số NHTM 54
1.4.1.1.The China Const r uction Bank ( C CB) - N gân hà ng K i ến thiết Trung Quốc 54
1.4.1.2 The Deve l o p m e n t B ank of S inga p ore L i m i t ed (D B S) .55
Trang 71.4.1.3.Kinh nghiệm của một số quốc gia châu Á về cải tổ các NHTM
trong điều kiện phát triển và cạnh tranh 55
1.4.2.Những kinh nghiệm cho VCB 58
Chương 2: THỰC TRẠNG KINH DOANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ VỀ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG 61
2.1.KHÁI QUÁT VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VCB 61
2.1.1.Quá trình xây dựng và phát triển [72] 61
2.1.2 Tổ chức bộ máy 62
2.1.3.Chức năng nhiệm vụ 63
2.2 THỰC TRẠNG KINH DOANH CỦA VCB GIAI ĐOẠN 2014 – 2018 66
2.2.1.Kinh doanh tín dụng 67
2.2.1.1.Nghiệp vụ huy động vốn 67
2.2.1.2.Nghiệp vụ cho vay 70
2.2.1.3.Nợ xấu 71
2.2.2.Dịch vụ ngân hàng 72
2.2.2.1 Dịch vụ tín dụng 73
2.2.2.2 Dịch vụ thẻ của VCB [92]. 75
2.2.2.3 Dịch vụ ngân hàng điện tử 78
2.2.2.4 Dịch vụ chuyển tiền quốc tế 80
2.3.NĂNG LỰC TÀI CHÍNH VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH CỦA VCB 81
2.3.1.Năng lực tài chính của VCB trong giai đoạn 2014 – 2018 81
2.3.1.1.Vốn chủ sở hữu 81
2.3.1.2.Phân bố vốn chủ sở hữu vào các NHTM và tổ chức tín dụng 83
2.3.1.3.Đánh giá năng lực tài chính của VCB 85
2.3.2.Năng lực quản trị của VCB 87
2.3.2.1 Quản trị nhân lực 87
2.3.2.2.Quản trị kinh doanh 89
2.3.3 Năng lực khoa học công nghệ 92
2.3.4.Thương hiệu VCB 94
Trang 82.4.ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH DOANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA VCB (2014 – 2018) 95
2.4.1.Hiệu quả kinh doanh 95
2.4.1.1.Những điểm mạnh trong kinh doanh của VCB 95
2.4.1.2.Khả năng sinh lời và thu nhập của VCB 97
2.4.1.3 Năng lực cạnh tranh của VCB 100
2.4.2 Một số tồn tại và hạn chế 105
2.4.3 Nguyên nhân của tình trạng trên 106
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ VỀ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG 108
3.1.HỘI NHẬP QUỐC TẾ VỀ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG LÀ ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM 108
3.1.1.Tiến trình hội nhập quốc tế về TC - NH của Việt Nam 109
3.1.1.1.Quá trình thực hiện 109
3.1.1.2.Những cam kết của VN trong tiến trình hội nhập TC – NH 111
3.1.1.3.Kết quả đạt được trong tiến trình hội nhập Quốc tế 112
3.1.2.Sự phát t riển c ủ a thị t rư ờ ng vốn 112
3.1.3 Hình thành khối ASEAN + 3 113
3.2.NHỮNG MỤC TIÊU CỦA VCB ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẠNH TRANH VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ VỀ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG 114
3.3.GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA VCB TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ VỀ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG 115
3.3.1.Nâng cao năng lực tài chính 115
3.3.1.1.Tăng vốn chủ sở hữu 116
3.3.1.2.Thực hiện chính sách huy động vốn cạnh tranh 123
3.3.1.3 Liên doanh, liên kết với các NHTM trong khu vực và Thế giới .126 3.3.2.Nâng cao hiệu quả cho vay và đầu tư 127
3.3.2.1.Đầu tư các dự án 127
3.3.2.2.Nâng cao hiệu quả và an toàn cho vay sản xuất – kinh doanh.129 3.3.2.3.Giải pháp mở rộng thị phần dịch vụ ngân hàng bán lẻ 131
Trang 93.3.3.Giải pháp nâng cao năng lực quản trị 133
3.3.3.1.Quản trị vốn kinh doanh 135
3.3.3.2.Quản trị các quan hệ kinh doanh 139
3.3.4.Tin học hóa công tác quản trị và các dịch vụ kinh doanh 150
3.3.4.1.Ý nghĩa của tin học hóa với quản trị NHTM 150
3.3.4.2.Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại VCB 150
3.3.4.3.Phương thức ứng dụng CNTT vào quản trị tại VCB 151
3.4.ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN GIẢI PHÁP 153
3.4.1.Kiến nghị với Quốc hội 153
3.4.1.1.Về Luật các tổ chức tín dụng 154
3.4.1.2.Số lượng NHTM và các tổ chức tín dụng 154
3.4.2.Kiến nghị với Chính Phủ 155
3.4.2.1.Xây dựng NHTM Quốc gia điển hình đủ sức cạnh tranh với các NHTM lớn trong khu vực và Quốc tế 155
3.4.2.2.Rút vốn nhà nước khỏi các NHTM 156
3.4.2.3.Hoạch định Chính sách tiền tệ Quốc gia 156
3.4.3.Kiến nghị với NHNN Việt Nam [92]. 157
3.4.4.Kiến nghị với Bộ Tài Chính [91]. 157
3.4.5.Kiến nghị với Hiệp hội ngân hàng Việt Nam 157
KẾT LUẬN CHUNG 159
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN 162
NHỮNG CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 167
Trang 10MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong các nền kinh tế phát triển, hệ thống Ngân hàng luôn luôn giữ vai tròquan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế Các NHTM không những đảmbảo nguồn vốn cho sản xuất – kinh doanh, mà còn là cầu nối giữa các doanhnghiệp, với thị trường, với Chính Phủ và với các nền kinh tế trong khu vực cũngnhư trên toàn cầu Vai trò của NHTM đã được khẳng định là không thể thiếuđược trong nền kinh tế hiện đại
Sự phát triển của Thế Giới ngày nay đã khác những Thế Kỷ trước Đó là
sự đổi mới trong quan hệ Kinh tế, Chính trị và Ngoại giao Sự khác biệt này thểhiện trong quan hệ liên minh và hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, Thế giớivẫn tồn tại các quốc gia, lãnh thổ độc lập Vì vậy sự khác biệt về kinh tế - chính
trị giữa các quốc gia – vùng lãnh thổ là trường tồn Đây là nguyên nhân cơ bản
dẫn đến sự tồn tại của “cạnh tranh trong hội nhập”.
Các NHTM là những định chế tài chính trung gian, chúng thuộc sở hữucủa nhiều chủ thể Do đó chúng phải phục vụ các mục đích kinh tế - chính trịcủa người sở hữu đã tạo ra chúng Đó là cạnh tranh thắng lợi, mang lại lợi nhuận
tối đa cho chủ thể đã tạo ra chúng Do đó cạnh tranh thắng lợi là mục tiêu quan
trọng hàng đầu của các NHTM Cạnh tranh phải đạt kết quả cao và thắng lợi đó
là mục tiêu của các chủ sở hữu yêu cầu các định chế NHTM phải đạt được
Các NHTM tồn tại trong một môi trường cụ thể Để đứng vững và pháttriển, chúng phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức Đó là những khó
khăn về vốn kinh doanh, về trình độ của lao động, môi trường hoạt động, thể
chế cho phép…Đặc biệt là năng lực quản trị Đây là kiến thức “tự tạo” Không
có NHTM nào truyền đạt đầy đủ và “thực tâm” chỉ dẫn cho đối tác của mình vềcác kinh nghiệm trên thương trường Vì vậy các NHTM phải tìm mọi cách để
vượt lên trên các NHTM khác, cùng kinh doanh trên địa bàn Đây chính là quá
trình cạnh tranh trong nội bộ ngành của hệ thống NHTM
Hiện tại nền kinh tế Việt Nam chưa mở cửa hoàn toàn, vì vậy cạnh tranhgiữa các NHTM hiện nay chủ yếu là cạnh tranh trong nội bộ ngành Khi nền
Trang 11kinh tế mở cửa hoàn toàn, cạnh tranh trên thị trường Việt Nam sẽ mang tính khuvực và tiến đến cạnh tranh toàn cầu Lúc ấy cạnh tranh sẽ ở cấp độ cao hơn và
thực sự mang đầy đủ ý nghĩa của nó là cạnh tranh khốc liệt
Các NHTM Việt Nam đã tồn tại và phát triển trong điều kiện hành chính bao cấp quá dài Khái niệm kinh tế thị trường trong kinh doanh, mới được cácNHTM “làm quen” trong thời gian gần đây Trong nền kinh tế thị trường cạnhtranh và đặc biệt là cạnh tranh doanh nghiệp, trong đó có các NHTM, đã trởthành hiện tượng phổ biến Khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên củaWTO, với sân chơi rộng hơn và tính bình đẳng giữa các doanh nghiệp, trong đó
-có hệ thống NHTM cao hơn, thì điều kiện phát triển của các định chế kinh tếnày cũng tốt hơn Nhưng với sân chơi rộng cũng là một thách thức không nhỏđối với các NHTM Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Vì từ đâycác NHTM Việt Nam sẽ bước vào quá trình cạnh tranh khốc liệt
Về cạnh tranh giữa các NHTM đã có nhiều tác giả và công trình nghiên
cứu Tuy nhiên về năng lực cạnh tranh của NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam
– Vietcombank, trong điều kiện hội nhập quốc tế về tài chính – ngân hàng, thì
chưa được nhiều tác giả nghiên cứu sâu và toàn diện
Tác giả Luận án này thấy rằng, các nội dung nêu trên cần được nghiêncứu có hệ thống Mục đích làm rõ vị trí và vai trò của Vietcombank trong hệthống NHTM Việt Nam hiện nay Đồng thời làm rõ năng lực cạnh tranh củaVietcombank với các NHTM nội địa và khả năng của Ngân hàng này trên sânchơi Quốc tế
Về những nội dung trên, tác giả Luận án nhấn mạnh :
Trước hết, vai trò của Vietcombank trong nền kinh tế Việt Nam và với hệ
thống NHTM Việt Nam hiện nay
Thứ hai, Phân tích rõ những điểm mạnh và những hạn chế của
Vietcombank về khả năng tài chính, năng lực quản trị và năng lực cạnh tranhcủa Vietcombank trên thị trường
Thứ ba, Đánh giá xếp hạng Vietcombank theo các tiêu chí đã được công
bố của hệ thống NHTM trên thị trường
Trang 12Đây là những nội dung cơ bản đánh giá năng lực cạnh tranh củaVietcombank và các NHTM có uy tín hàng đầu của Việt Nam hiện nay.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh
của Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam – Vietcombank,
trong điều kiện hội nhập Quốc tế về tài chính – ngân hàng”, được Nghiên cứu
sinh chọn làm đề tài Luận án tiến sĩ, là có ý nghĩa khoa học và thực tiễn thiết thực.
2 Mục đích nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu của Luận án nhằm làm rõ những nội dung cơ bản sau:
2.1.Phân tích thực trạng Hệ thống NHTM Việt Nam, trọng tâm là
NHTMCP Ngoại thương Việt Nam trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập quốc tế:
- Vai trò của Vietcombank và Hệ thống NHTM Việt Nam trong điều kiệnhội nhập Quốc tế về Tài chính – Ngân hàng
- Số lượng, chủng loại các NHTM trong điều kiện cạnh tranh nội bộ ngành
- Thực trạng về vốn, tài sản, năng lực khoa học – công nghệ củaVietcombank và Hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay
- Năng lực quản trị của Vietcombank trong điều kiện cạnh tranh và hộinhập Quốc tế
2.2.Phân tích năng lực cạnh tranh của Vietcombank trong điều kiện hội nhập Quốc tế về Tài chính – Ngân hàng hiện nay.
2.3.Nghiên cứu thực trạng chính sách của Nhà Nước đối với Hệ thống NHTMVN Việt Nam và với Vietcombank trong tiến trình Việt Nam hội nhập Quốc tế về Tài chính – Ngân hàng.
2.4 Nghiên cứu chính sách của một số quốc gia trong khu vực và Thế giới về nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM, có thể tham khảo cho Vietcombank.
2.5.Đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Vietcombank trong điều kiện hội nhập Quốc tế về tài chính – ngân hàng.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: là Vietcombank Với các nội dung trọng yếu là:
- Làm rõ thực trạng kinh doanh của VCB trong thời gian 5 năm từ 2014-2018
- Đánh giá năng lực tài chính của VCB trong điều kiện cạnh tranh và hội
Trang 13Phạm vi nghiên cứu.
- Tổng quan về Vietcombank và sự phát triển của Vietcombank trong giaiđoạn 2014 – 2018
- Vị trí và vai trò của Vietcombank, trong nền kinh tế Việt Nam và quan
hệ đối ngoại của NHTM này
- Thời gian nghiên cứu: giai đoạn 5 năm liên tục : 2014 - 2018
4 Phương pháp nghiên cứu.
Với dữ liệu về phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam và Thế giới trongthời gian 2014 - 2018, Luận án phân tích và đánh giá khái quát về sự phát triểncủa Hệ thống NHTM Việt Nam, trong đó trọng tâm là Vietcombank – VCB
Trang 14Từ nghiên cứu trên, mục tiêu của Luận án là phân tích làm rõ năng lựckinh doanh và quản trị kinh doanh, đặc biệt là năng lực cạnh tranh của VCB trênthị trường Việt Nam trong giai đoạn hội nhập Quốc tế về Tài chính – Ngân hàng.
- Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu Luận án này NCS dựa trên phương pháp truyền thống, đó là :
Tập hợp tài liệu và số liệu liên quan đến chủ thể nghiên cứu – VCB, vớicác tài liệu đã được công bố chính thức trên các phương tiện thông tinchính thống
Tổng hợp, hệ thống hóa lý thuyết và số liệu thực tế theo Báo cáo thườngniên của VCB
Thống kê so sánh theo phương pháp chuyên gia
Nhận xét và kết luận
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu.
Thứ nhất, luận án góp phần làm rõ nội dung: thuật ngữ cạnh tranh,
nguồn gốc cạnh tranh, năng lực cạnh tranh nói chung và của hệ thống doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tếquốc tế
Thứ hai, luận án nêu và phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của
NHTM Việt Nam và chính sách của Nhà nước tác động đến NLCT của Hệthống NHTM Việt Nam trong bối cạnh hội nhập quốc tế về tài chính – ngânhàng
Thứ ba, nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh của Vietcombank
trong điều kiện hội nhập quốc tế về tài chính – ngân hàng
Thứ tư, Luận án góp phần hoàn thiện chính sách tài chính đối với sự phát
triển Hệ thống NHTM Việt Nam, trọng tâm là nâng cao năng lực cạnh tranh củaVietcombank, trong điều kiện hội nhập quốc tế về Tài chính – Ngân hàng
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, Luận án đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Vietcombank trong điều kiện hội nhập quốc tế về tài chính – ngân hàng của Việt Nam hiện nay
Trang 156 Tổng quan về một số công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến LA của tác giả.
Đã có không ít đề tài, luận văn thạc sĩ và LATS nghiên cứu vềVietcombank Trong đó có một số LATS kinh tế gần đây là:
6.1.LATS của NCS Đỗ Thị Tố Quyên.
Với tên đề tài:“ Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng
Ngoại thương Việt Nam” Chuyên ngành : Kinh tế Phát triển LA được bảo vệ
ngày 17/6/2014 LA này chủ yếu đưa ra giải pháp tăng cường đầu tư tài chính,
để nâng cao năng lực cạnh tranh của VCB Nếu chỉ nhấn mạnh năng lực tàichính, thì LA này còn thiếu một số điều kiện khác, tạo thành tổ hợp năng lựccạnh tranh của VCB Cụ thể, LA của NCS Đỗ Thị Tố Quyên chưa nhấn mạnhđến năng lực quản trị và chưa phân tích sâu về hội nhập Quốc tế về TC – NH, cótác động thế nào đến cạnh tranh của VCB trên thị trường Việt Nam
6.2.LATS của NCS Hoàng Nguyên Khai.
Với tên đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTMCP ngoại
thương Việt Nam”, Chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng LA được bảo vệ năm
2014 Nội dung cốt lõi của LA này chưa đề cập sâu đến cạnh tranh của VCBtrong điều kiện nào Đặc biệt luận án này chưa phân tích sâu đến các yếu tốquyết định năng lực cạnh tranh của VCB trong điều kiện hội nhập quốc tế về tàichính – ngân hàng
6.3.LATS của NCS Nguyễn Thu Giang.
Với tên đề tài:“Phát triển dịch vụ Ngân hàng bán lẻ tại NHTMCP Ngoại
thương Việt Nam VCB, trong điều kiện cạnh tranh tự do giữa các NHTM ở Việt Nam hiện nay” LA này được bảo vệ năm 2017 LA của tác giả chỉ đề cập sâu
đến cạnh tranh Dịch vụ NHBL, phạm vi hẹp – phát triển dịch vụ ngân hàng bán
lẻ, trong điều kiện hội nhập Quốc tế về TC – NH, nên không trùng lắp với đề tàicủa NCS
6.4.LATS của NCS Lê Thị Hạnh.
Với tên đề tài “Quản trị RRTD tại NHTMCP Ngoại thương Việt Nam theo
tiêu chuẩn BASEL II” – Học Viện Tài chính, LA này được bảo vệ năm 2016.
Trang 16LA của Lê Thị Hạnh đề cập đến chuyên đề chuyên sâu “Quản trị RRTD tạiVCB” nên cũng không trùng với hướng nghiên cứu về “Năng lực cạnh tranhtrong điều kiện hội nhập Quốc tế về Tài chính – Ngân hàng”, của NCS.
Tóm lại hướng nghiên cứu của NCS là độc lập, thời sự và không bị trùng lắp với một số công trình nghiên cứu về VCB nêu trên.
7 Những đóng góp mới của Luận án
“Nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTMCP Ngoại thương Việt
Nam trong điều kiện hội nhập Quốc tế về tài chính – ngân hàng”, là đề tài
Luận án tiến sĩ được tác giả lựa chọn nghiên cứu và được Trường Đại học KinhDoanh và Công nghệ Hà Nội chấp nhận Luận án đã hoàn thành
Với nội dung trình bày trong Luận án này:
7.1 Luận án góp phần hệ thống hóa một số nội dung về cạnh tranh của NHTM.
Luận án đã tổng hợp những quan điểm, ý kiến về cạnh tranh doanhnghiệp, cạnh tranh của NHTM trong nền kinh tế thị trường Từ đó LA làm rõthêm khái niệm cạnh tranh Ngân hàng theo quan điểm của mình
Luận án góp phần hệ thống hóa những nội dung “hội nhập Quốc tế vềTài Chính – Ngân Hàng” trong điều kiện Việt Nam hiện nay Những nội dung
về cạnh tranh NHTM phát triển phù hợp với hội nhập kinh tế Quốc tế
7.2.Luận án góp phần làm rõ hơn nội dung cạnh tranh của NHTM trong nền kinh tế thị trường.
- Luận án làm rõ hơn khái niệm cạnh tranh doanh nghiệp nói chung vàcạnh trong hệ thống NHTM nói riêng
- Phân tích rõ các hình thức cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung vàNHTM nói riêng trong nền kinh tế thị trường
- Phân tích làm rõ điều kiện cạnh tranh của NHTM trong điều kiện hộinhập kinh tế quốc tế về Tài Chính – Ngân Hàng Đây là điều kiện đặc thù trong
sự phát triển kinh tế Thế Giới
Trang 17- Luận án phân tích rõ các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp nói chung và NHTM nói riêng trong điều kiện hội nhập kinh tế Quốc tế
và hội nhập toàn cầu
- Luận án cũng nhấn mạnh và kết luận : Hội nhập kinh tế quốc tế chỉ là xu
thế, trong từng giai đoạn, tạo điều kiện cho mọi sự phát trển Kinh tế quốc gia
mới là trụ cột bền vững, do vậy mọi Chính phủ đều đặt lợi ích quốc gia trên hết.
Do vậy cạnh tranh để phát triển và bảo vệ quyền lợi Quốc gia - Dân tộc, luôn
luôn song hành và đặt lên hàng đầu
7.3.Luận án đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của Vietcombank trong điều kiện hội nhập Quốc tế.
- Những điểm mạnh của Vietcombank.
Hiện tại VCB là một trong bốn NHTM trụ cột của Hệ thống NHTM ViệtNam So sánh sự tương quan về các điều kiện kinh doanh, VCB có những điểmvượt trội đó là :
Năng lực quản trị tốt
Năng lực khoa học – công nghệ mạnh
Chiếm thị phần lớn trong kinh doanh đối ngoại
Có nhiều đại lý ở các quốc gia, tạo điều kiện kinh doanh thuận lợi
- Những hạn chế của Vietcombank trong hội nhập Quốc tế.
Chưa cổ phần hóa toàn diện, vốn của nhà nước vẫn chiếm trên 70%
Năng lực tài chính bị hạn chế
Thị phần kinh doanh còn thấp so với một số NHTM nội địa
7.4 Luận án đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Vietcombank trong điều kiện hội nhập Quốc tế về Tài Chính - Ngân Hàng.
Những giải pháp đề xuất nâng cao năng lực cạnh tranh của VCB trongđiều kiện hội nhập Quốc tế về tài chính – ngân hàng, được đề cập và phân tíchchi tiết tại Chương 3 của Luận án này
Trang 188 Kết cấu Luận án : Nội dung Luận án được kết cấu thành ba chương
Chương 1.
TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ NĂNG LỰCCẠNH TRANH CỦA NHTM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ VỀTÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Chương 2
THỰC TRẠNG KINH DOANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦANHTMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬPQUỐC TẾ VỀ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Chương 3
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂNHÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM TRONGĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ VỀ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Trang 19
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI
NHẬP QUỐC TẾ VỀ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG.
1.1 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ VAI TRÒ CỦA NHTM TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
1.1.1 Khái quát về sự phát triển của NHTM trong nền kinh tế thị trường.
Quan hệ hàng hóa – tiền tệ là cơ sở hình thành và phát triển các tổ chứcNgân hàng [21] Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, từ trao đổi hàng hóa giản đơn,đến trao đổi hàng hóa với tiền đúc cổ đại, các ngân hàng cổ đại đã hình thành.Ngân hàng hiện đại thực sự xuất hiện ở một số quốc gia Âu châu từ thế kỷ XVII.Ngày nay Ngân hàng đã trở thành hệ thống liên kết toàn cầu, với đầy đủ cácchức năng và nghiệp vụ, đáp ứng mọi nhu cầu của cư dân, doanh nghiệp và các
tổ chức trong nền kinh tế thị trường[23]
Qui mô của NHTM ngày càng lớn, nghiệp vụ ngày càng đa dạng CácNHTM sở hữu một khối lượng của cải vật chất đáng kể của từng quốc gia vàtoàn cầu Bên cạnh đó các NHTM còn là một doanh nghiệp đáng tin cậy của xãhội Do vậy những định chế tài chính này không những là nơi lưu ký tài sản, màcòn là chỗ cất giữ các ấn chỉ và các tài liệu quan trọng đặc biệt của các thể nhân
và pháp nhân Vì vậy chức năng và vai trò của NHTM đã vượt ra ngoài các chứcnăng vốn có của chúng trong nền kinh tế thị trường
Tuy nhiên ở mọi quốc gia nói chung và tại Việt Nam, các văn bản Phápqui và trên thương trường, các NHTM được qui định và nhìn nhận như một địnhchế kinh doanh có tính đặc thù, đó là kinh doanh tiền tệ Ở Việt Nam khái niệmNHTM đã được nêu rõ trong Pháp lệnh ngân hàng năm 1990 và sau đó là Luật
“Các tổ chức tín dụng” năm 1997 Luật này được sửa đổi năm 2010 và năm
1917.[23]
Nội dung hoạt động của NHTM Việt Nam, đã được nêu rõ trong Luật :
Ngân hàng thương mại là một định chế tài chính hoạt động kinh doanh trên lĩnh
Trang 20vực tiền tệ và dịch vụ ngân hàng, mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là huy động vốn, cấp tín dụng, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu, cung ứng các dịch vụ thanh toán và nhiều dịch vụ tài chính đa dạng khác có liên quan
Tại thị trường Việt Nam, Các Ngân hàng thương mại đã phát triển vàđược xây dựng thành hệ thống với Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam – chịu tráchnhiệm quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, ngân hàng và cácNHTM cùng các tổ chức tín dụng phi ngân hàng Những định chế này đủ nănglực quản lý tiền tệ - tín dụng và các dịch vụ ngân hàng trong đời sống kinh tế -
Thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM là "cầu nối" giữa Chủ thể
có vốn nhàn rỗi và chủ thể có nhu cầu về vốn cho sản xuất – kinh doanh và đầu tư
Hình 1.1 Chức năng của Ngân hàng thương mại
(Nguồn: Giáo trình Thị trường tài chính, NXB Tài chính – 2012)
Thông qua nghiệp vụ trung gian tín dụng, NHTM, với vai trò đặc biệt
quan trọng, hình thành Quỹ tiền tệ tập trung, để cung ứng vốn kịp thời cho mọi
chủ thể cần vốn trong nền kinh tế Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò
là người đi vay và người cho vay Thực hiện chức năng trung gian tín dụng,ngân hàng thương mại đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia :người gửi tiền, ngân hàng và người đi vay Đồng thời với chức năng này NHTM
đã tạo nên lợi ích cho nhiều chủ thể trong nền kinh tế :
• Với người gửi tiền, họ thu được lợi nhuận từ khoản tiền tạm thời nhàn
rỗi dưới hình thức lãi tiền gửi Mặt khác, về an ninh tiền tệ NHTM đảm bảo cho
Trang 21• Đối với người đi vay – chủ thể thiếu vốn, họ thoả mãn được nhu cầu vốn
để kinh doanh và thực hiện các nhu cầu chi cần thiết
• Với NHTM, sẽ thu được lợi nhuận trong kinh doanh tiền tệ - với tư cách
là trung gian tín dụng Lợi nhuận này là cơ sở để tồn tại và phát triển của ngânhàng thương mại
• Đối với nền kinh tế, chức năng “trung gian tín dụng”có ý nghĩa lớn, đó là
tận dụng được nguồn vốn nhàn rỗi, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển Đồngthời góp phần đảm bảo an ninh tài chính – tiền tệ cho nền kinh tế
Trung gian tín dụng là chức năng quan trọng nhất của NHTM, nó phảnánh tổng hợp hầu hết các hoạt động của NHTM trong một thời kỳ, đồng thời từchức năng này không những tạo nên lợi nhuận nhiều nhất cho Ngân hàng, màcòn góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và góp phần đảm bảo anninh tài chính – tiền tệ ở tầm vĩ mô
ii.Trung gian thanh toán.
Làm trung gian thanh toán khi NHTM thực hiện thanh toán theo yêucầu của khách hàng Các nghiệp vụ thanh toán của khách hàng phát sinh đadạng, như thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, chuyển tiền…hoặc nhập vào tàikhoản tiền gửi của khách hàng các khoản thu – tiền bán hàng và các khoản thuhợp lệ, hợp pháp khác theo lệnh của chủ tài khoản Thực hiện chức năng nàyNHTM đóng vai trò là "thủ quỹ" cho các chủ tài khoản và thực hiện theo lệnhcủa họ
NHTM thực hiện chức năng trung gian thanh toán, cũng là thực hiệnchức năng trung gian tín dụng Vì khi “ghi CÓ” cho khách hàng, đó là nguồnvốn NHTM tạo lập được Còn “ghi NỢ” là khoản NHTM giảm bớt nguồn vốn…Thực hiện chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa lớn, không những đối vớinền kinh tế, mà còn đối với khách hàng và chính các NHTM Với chức năngnày, các NHTM đã cung cấp cho khách hàng phương tiện thanh toán kịp thời.Qua đó các chủ thể kinh tế tiết kiệm được chi phí, thời gian đồng thời đảm bảo
an toàn trong giao dịch
Trang 22Thông qua chức năng này, NHTM đã góp phần thúc đẩy lưu thông hànghoá – dịch vụ, đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh
tế Đồng thời, việc thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng đã giảm đượclượng tiền mặt trong lưu thông, dẫn đến tiết kiệm chi phí lưu thông tiền tệ, giảmchi phí lưu thông xã hội, mang lại lợi ích lớn cho nền kinh tế Hơn thế nữa,thanh toán không dùng tiền mặt còn góp phần quan trọng là cơ sở thực hiện
“chức năng tạo tiền” của Hệ Ngân hàng thương mại, đảm bảo nguồn vốn chonền kinh tế
iii Chức năng "tạo tiền".
Với chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán, các NHTM
có khả năng tạo ra tiền tín dụng, đó là loại tiền ghi sổ Loại tiền này thể hiện trêntài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng, tại ngân hàng thương mại Số tiềnnày là một bộ phận của lượng tiền được sử dụng trong các giao dịch của kháchhàng và NHTM
Từ những khoản tiền dự trữ tăng lên, các NHTM sử dụng để cho vaybằng chuyển khoản, sau đó những khoản tiền này sẽ quay lại NHTM, khi nhữngngười sử dụng tiền, gửi vào dưới dạng tiền gửi không kỳ hạn Quá trình này tiếpdiễn trong hệ thống ngân hàng (quay vòng) và tạo nên một lượng tiền gửi gấpnhiều lần số tiền gửi ban đầu Mức mở rộng tiền gửi phụ thuộc vào hệ số mởrộng tiền gửi Hệ số này, đến lượt nó chịu tác động bởi các yếu tố: tỷ lệ dự trữbắt buộc, tỷ lệ dự trữ vượt mức và tỷ lệ giữ tiền mặt so với tiền gửi thanh toáncủa khách hàng
Với chức năng "tạo tiền", hệ thống ngân hàng thương mại đã làm tăngphương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trảcủa nền kinh tế Đặc biệt NHTM đã tạo ra một nguồn vốn lớn, đáp ứng yêu cầucủa nền kinh tế
Thông qua chức năng tạo tiền của NHTM, khái niệm và thực tiễn về tiền
đã được mở rộng Tiền trong giao dịch không phải chỉ là tiền mặt – giấy bạc haytiền kim loại, mà còn bao gồm “tiền ghi sổ” do các NHTM tạo ra Tiền ghi sổ docác NHTM tạo ra, ngày nay là một bộ phận không thể thiếu được của mọi nền
Trang 23kinh tế phát triển Tuy nhiên đây cũng là thách thức đối với qui trình quản lýNHTM của các nhà quản lý ngân hàng và chính phủ các quốc gia[25].
Các chức năng của NHTM trong nền kinh tế thị trường, có mối quan hệchặt chẽ Chúng tạo tiền đề, bổ sung, hỗ trợ cho nhau, tạo điều kiện để NHTM
phát triển Trong các chức năng trên, trung gian tín dụng là chức năng cơ bản
nhất Chức năng này hỗ trợ và tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng sau.
Nếu NHTM thực hiện tốt chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền,đây sẽ là tiền đề tăng nguồn vốn, mở rộng hoạt động tín dụng của NHTM
1.1.2.2.Nghiệp vụ của NHTM
Ngân hàng thương mại là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa Sự pháttriển, hoàn thiện và đa dạng hóa các nghiệp vụ của định chế này, là do sự pháttriển và đòi hỏi của nền kinh tế thị trường Ngày nay nền kinh tế hàng hóa ởnhiều quốc gia phát triển đã ở mức hoàn thiện, vì vậy nghiệp vụ của các NHTMcũng đạt trình độ tương đương Những nghiệp vụ của NHTM về cơ bản đã đápứng nhu cầu của mọi pháp nhân và thể nhân trong nền kinh tế Mặc dù ở các thịtrường với các trình độ khác nhau, nhưng tên gọi và nội dung các nghiệp vụ củaNHTM vẫn chưa thay đổi nội dung và tên gọi truyền thống Vì vậy trong Luận
án này tác giả vẫn đề cập đến các nghiệp vụ vốn có của NHTM, đó là :
i Nghiệp vụ huy động vốn.
Huy động vốn là nghiệp vụ theo đó NHTM tập hợp các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, hình thành quĩ tiền tệ tập trung, để sử dụng theo mục đích được xác định
Huy động vốn là nghiệp vụ nhận tiền gửi Khoản tiền này đa dạng về sởhữu – pháp nhân, thể nhân Phong phú về phương tiện “mang giá trị” - tiền mặt,trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi, bút tệ…và rất đa dạng về thời gian gửi tiền củacác chủ thể - ngắn hạn, trung hạn, dài hạn
Huy động vốn là nghiệp vụ quan trọng của NHTM, vì từ nghiệp vụ nàytạo thành quĩ cho vay và đầu tư của NHTM Nếu không có quĩ đầu tư cho vay
đủ lớn, thì các nghiệp vụ khác của NHTM không thực hiện được và sự tồn tạicủa NHTM cũng khó đứng vững và phát triền trong nền kinh tế thị trường
Trang 24cả các hình thức sử dụng vốn, đều được NHTM kiểm tra giám sát… để vốnkhông bị thất thoát, đảm bảo vốn an toàn để hoàn trả người gửi tiền Đảm bảo antoàn trong kinh doanh, trong đó an toàn nghiệp vụ tín dụng được đặt lên hàngđầu Những nội dung trên được thực hiện hiệu quả phụ thuộc vào năng lực quảntrị, trong đó quản trị tín dụng, được coi trọng trên hết.
1.1.2.3 Trung gian thanh toán
Thanh toán vừa là chức năng vừa là nghiệp vụ của NHTM Thực hiệnchức năng này, NHTM là cơ quan tổ chức công tác thanh toán trong nền kinh tế.NHTM áp dụng các hình thức thanh toán có hiệu quả nhất đối với các pháp nhân
và thể nhân Trong việc tổ chức công tác thanh toán NHTM còn có nhiệm vụkiểm soát hoạt động kinh tế thông qua nghiệp vụ này Trong nghiệp vụ trunggian thanh toán NHTM thực hiện theo yêu cầu của khách hàng Tuy nhiên trongquá trình này NHTM vừa là cơ quan cung cấp phương tiện thanh toán (như séc,
ủy nhiệm chi, thẻ thanh toán, nhờ thu, thanh toán điện tử…) vừa là người tư vấn
để khách hàng sử dụng chọn lọc hình thức thanh toán phù hợp nhất với kháchhàng trong từng dịch vụ
Nghiệp vụ trung gian thanh toán NHTM tạo điều kiện để vốn của doanhnghiệp và nền kinh tế luân chuyển nhanh hơn Là yếu tố quan trọng cho kinhdoanh thuận lợi Bên cạnh đó “Trung gian thanh toán” còn góp phần tiết kiệmchi phí lưu thông xã hội và tăng thêm nguồn vốn cho NHTM và nền kinh tế, màkhông phải tăng thêm nguồn vốn đầu tư
Trang 251.1.3 Vai trò của NHTM trong nền kinh tế thị trường
Như đã phân tích ở trên, nền kinh tế thị trường không thể thiếu các
NHTM Các định chế này ngày càng hoàn thiện và vận hành theo cơ chế thịtrường Hoạt động của NHTM, đã đáp ứng hầu hết các yêu cầu của doanhnghiệp, các nhà đầu tư và nhu cầu của dân cư Vai trò của NHTM được thể hiện
rõ trong các lĩnh vực sau :
1.1.3.1 NHTM là nơi cung ứng vốn kịp thời cho nền kinh tế
Vốn được cung ứng kịp thời về thời gian và số lượng, là yếu tố quan trọnghàng đầu quyết định sự thành công trong sản xuất – kinh doanh của doanhnghiệp Đây cũng là cơ hội thuận lợi thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
Với chức năng trung gian tín dụng, NHTM góp phần quan trọng khắcphục những khiếm khuyết của thị trường tài chính [26] Từ chức năng vốn có này,NHTM đã góp phần biến nguồn vốn nhàn rỗi của mọi tổ chức, cá nhân và doanhnghiệp, thành quỹ tiền tệ tập trung Nguồn vốn này được sử dụng, đáp ứng mọinhu cầu của nền kinh tế Với vai trò này NHTM tạo điều kiện cho doanh nghiệp
và nền kinh tế nói chung mở rộng đầu tư, cải thiện năng lực sản xuất – kinhdoanh, đổi mới khoa học - công nghệ quản lý Đây là những yếu tố và điều kiện
để nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
1.1.3.2.Ngân hàng thương mại là trung gian năng động giữa doanh nghiệp với thị trường.
Là định chế cung ứng vốn quan trọng nhất cho nền kinh tế, là cầu nối giữachủ thể có tiền và người cần tiền, giữa doanh nghiệp với thị trường, NHTM thực
sự được coi như “bà đỡ” cho sự phát triển, không những của doanh nghiệp màcòn của cả nền kinh tế
Để tạo ra sản phẩm hàng hóa – dịch vụ và tiếp cận với thị trường đầu ra,các doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn đáp ứng yêu cầu Vốn tự có củahầu hết các doanh nghiệp trong nền kinh tế, không thể đáp ứng được nhu cầunày NHTM sẽ đáp ứng nhu cầu trên của doanh nghiệp bằng nguồn vốn tíndụng Như vậy, NHTM đã là cầu nối đưa doanh nghiệp đến với thị trường, giúpdoanh nghiệp giải quyết được những khó khăn về vốn trong mọi điều kiện
Trang 261.1.3.3.Ngân hàng thương mại là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô của nền kinh tế
Trong một nền kinh tế thống nhất quản lý từ Chính Phủ, NHTM đều phảichấp hành các chính sách tiền tệ, tín dụng và ngân hàng của Nhà Nước Do đóvới chính sách phát triển ngành kinh tế, bên cạnh vốn từ NSNN, Chính Phủ phải
sử dụng một lượng vốn không nhỏ từ các NHTM Đầu tư phát triển kinh tế bằngvốn tín dụng là một giải pháp chiến lược Do đó NHTM phải chấp hành chủtrương của Nhà nước Từ thực tiễn của mọi nền kinh tế cho thấy NHTM là mộtcông cụ quan trọng của Nhà Nước để thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Bên cạnh việc đầu tư vốn tín dụng để phát triển kinh tế, NHTM còn giúpChính Phủ quản lý các đối tác sử dụng vốn, hướng đến sự phát triển bền vữngnền kinh tế, khắc phục những khiếm khuyết trong đầu tư phát triển Với vai trònày các NHTM là công cụ kiểm soát nền kinh tế của Chính Phủ
Kinh nghiệm cho thấy tất cả các quốc gia, ở mọi trình độ phát triển đềucoi trọng các NHTM, sử dụng các định chế này như một cứu cánh cho nền kinh
tế quốc dân Mọi quốc gia đều coi NHTM là một công cụ rất quan trọng để phục
vụ và điều tiết sự phát triển nền kinh tế
1.2.NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ MỘT SỐ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.2.1.Khái quát về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.2.1.1 Một số quan điểm về cạnh tranh doanh nghiệp.
i.Khái niệm về cạnh tranh doanh nghiệp
Trong sự phát triển của xã hội loài người, cạnh tranh đã có lịch sử lâu đời
Từ khi sống theo các bộ lạc du mục Các bộ lạc đã có sự tranh giành điều kiệnsống Các cuộc chiến giữa các bộ lạc đã thường xuyên diễn ra, như các cuộcchiến tranh để tranh giành đất đai, nguồn nước, khai thác tài nguyên tự nhiên…Khi đã hình thành các quốc gia, có biên giới rõ ràng, những cuộc chiến tương tựvẫn thường xuyên tiếp diễn Bản chất của những cuộc chiến trên là những cuộccạnh tranh để giành dật môi trường giữa các quốc gia láng giềng
Trang 27Để tồn tại và phát triển, các quốc gia đều xây dựng một nền kinh tế phục
vụ cho sự phát triển của mình Trong đó có nhiều doanh nghiệp và các chủ thểkinh tế cùng tồn tại, dưới sự quản lý của nhà nước Mỗi doanh nghiệp là một chủthể kinh tế độc lập Mục tiêu sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp là chiếmlĩnh thị trường, thu lợi nhuận tối đa Chính vì vậy mà các doanh nghiệp cùng sảnxuất – kinh doanh một loại sản phẩm, luôn luôn xảy ra cạnh tranh, nhằm độcchiếm thị trường Cạnh tranh đã trở thành hiện tượng tất yếu trong nền kinh tế
Vậy cạnh tranh doanh nghiệp là gì?
Nguồn gốc dẫn đến cạnh tranh theo C.Mác : “ Sự phân công lao động
trong xã hội đặt những người sản xuất hàng hóa độc lập đối diện với nhau, những người này không thừa nhận một uy lực nào khác, ngoài uy lực cạnh tranh” [27] Vậy cạnh tranh là gì?
Có nhiều định nghĩa về cạnh tranh
- Theo Từ điển kinh tế [28] “ Cạnh tranh là cuộc đấu tranh giữa những
người sản xuất hàng hóa tư nhân nhằm giành điều kiện sản xuất và tiêu thụ (hàng hóa) có lợi hơn”.
- Theo Từ điển rút gọn về kinh doanh [29] “ Cạnh tranh là sự ganh đua kình
địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường, nhằm dành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”
- Theo P.Samuel Son, nhà kinh tế học Hoa kỳ : “ Cạnh tranh là sự kình địch
Như vậy quan điểm và nội dung cạnh tranh giữa các chủ thể trong nềnkinh tế thị trường của các nhà kinh tế, là tương đồng Đó là sự đấu tranh đểgiành dật thị trường, người tiêu thụ sản phẩm, các điều kiện sản xuất – kinhdoanh Theo quan điểm của tác giả Luận án này, những khái niệm trên, mặc dùđược đưa ra trong các thời điểm khác nhau, nhưng nội dung, nhìn chung là nhấtquán Những khái niệm này vẫn được sử dụng để nghiên cứu về cạnh tranhtrong điều kiện nền kinh tế thị trường hội nhập quốc tế hiện nay
Tuy nhiên để làm rõ hơn nội dung và sự phát triển của cạnh tranh trong xuthế hội nhập kinh tế quốc tế, Luận án này phân tích một số nội dung về sự phát
Trang 28triển của cạnh tranh trong điều kiện mở rộng và phát triển thị trường của doanhnghiệp nói chung và NHTM nói riêng.
Cạnh tranh nói chung và cạnh tranh doanh nghiệp nói riêng đã có lịch sửlâu dài Cho đến nay các quan điểm về sự hình thành và phát triển của cạnhtranh, nguồn gốc và cấp độ cạnh tranh, nhìn chung cơ bản đã có sự thống nhấttrên lý thuyết cũng như thực tiễn Các nghiên cứu cơ bản đã nhất quán cho rằngcạnh tranh phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Tuy nhiên một
số ý kiến cũng chỉ ra rằng cạnh tranh cũng thay đổi theo chiều hướng phát triểnkinh tế tại từng quốc gia và hội nhập quốc tế Sự thay đổi này thể hiện ở chỗ từcạnh tranh đối kháng sang cạnh tranh hợp tác.[31]
Lịch sử hình thành và phát triển của cạnh tranh cho thấy trong thời kỳ Chủnghĩa tư bản tự do cạnh tranh, cạnh tranh mang tính đối kháng là phổ biến Mụctiêu của cạnh tranh đối kháng là nhằm thôn tính đối phương, hoặc buộc đốiphương phải phụ thuộc vào mình về SX - KD Trong phương thức cạnh tranh
này, các chủ thể tham gia cạnh tranh đã dùng mọi “thủ đoạn” để chiến thắng đối
phương Cạnh tranh này mang tính “hủy diệt” Trong lịch sử, loại hình cạnh tranhnày tuy có thúc đẩy SX - KD phát triển lên một mức cao hơn, nhưng đã gây nên
sự lãng phí tài nguyên, nhân lực…của xã hội một cách quá mức Cho đến nay vẫn
chưa có sự phân tích, so sánh đầy đủ tương quan giữa“được và mất” trong cạnh
tranh đối kháng, một cách tin cậy.[32]
Trong điều kiện tài nguyên thiên nhiên dần dần bị cạn kiệt và với xu thếhội nhập là một quá trình tất yếu, các quốc gia, đặc biệt là các đối tác kinh tế, đã
thấy rằng cạnh tranh đối kháng là không có lợi cho bất kỳ bên nào và cũng
không còn phù hợp với thực tiễn Vì vậy mà gần như các chủ thể kinh tế (gồm
cả Nhà nước và doanh nghiệp) đã chuyển từ cạnh tranh đối kháng, sang cạnh
tranh hợp tác Thể hiện quan điểm này, trong thực tiễn nhiều tổ chức hợp tác
kinh tế thương mại khu vực và toàn cầu, đã được hình thành như: EU, OECD,
NAFTA, AFTA, ASEAN, APEC… và lớn nhất là WTO Các liên minh này tính
chất “chặt, lỏng” tuy có khác nhau, nhưng đều thể hiện được ý chí hợp tác giữacác bên trong liên minh, trong quá trình phát triển sản xuất – kinh doanh
Trang 29Hợp tác để phát triển là một xu thế, nhưng cạnh tranh vẫn tồn tại và sẽ ởmức độ cao hơn Đồng thời các đối tác trong liên minh vẫn phải giải quyết mâuthuẫn giữa “tự do thương mại và bảo hộ mậu dịch”.
ii.Năng lực cạnh tranh.
Cạnh tranh trong kinh tế bao hàm những nội dung rộng và phong phú, từcạnh tranh giữa các cá thể, giữa các doanh nghiệp, giữa các tập đoàn… đến cạnhtrạnh giữa các liên minh và giữa các quốc gia Trong khuôn khổ của Luận ánnày, chỉ giới hạn nghiên cứu cạnh tranh kinh tế của doanh nghiệp và nghiên cứusâu về cạnh tranh giữa các Ngân hàng thương mại, lấy tâm điểm là Ngân hàngthương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam
Để làm rõ nội dung về năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, luận án nêu kháiquát về năng lực cạnh tranh thuộc các khu vực kinh tế, đó là :
- Năng lực cạnh tranh Quốc gia.
Trước khi đi đến nội dung cạnh tranh quốc gia, luận án làm rõ hơn nguồn
gốc của loại hình cạnh tranh này Đó là cạnh tranh doanh nghiệp Thực tế cạnh tranh doanh nghiệp, lại có nguồn gốc từ cạnh tranh cá thể Nhưng trong khuôn
khổ luận án này, tác giả đề cập từ nội dung cạnh tranh doanh nghiệp Đây là loạihình cạnh tranh phổ biến, có tác động mạnh và ảnh hưởng trong mỗi quốc gia và
có thể tới khu vực và toàn cầu Mặt khác cạnh tranh doanh nghiệp còn bao hàmnhiều chủng loại Do đó nghiên cứu cạnh tranh doanh nghiệp, sẽ thấy được tínhtổng thể về nguồn gốc cạnh tranh, trong đó bao hàm cả cạnh tranh quốc gia
Trước hết làm rõ nội dung thế nào là “năng lực cạnh tranh” doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, được thể hiện ở thị phần hàng hóa – dịch vụ của doanh nghiệp ấy, chiếm lĩnh thị trường, trong một thời kỳ nhất định
Về vấn đề này cũng có nhiều quan điểm không giống nhau
Quan điểm chung nhất của các nhà kinh tế, là gắn năng lực cạnh tranh NLCT doanh nghiệp với ưu thế của sản phẩm hàng hoá – dịch vụ, mà doanhnghiệp đưa ra thị trường Nghĩa là xem xét đến thị phần hàng hoá – dịch vụ của
-nó trên một thị trường nhất định Để có được kết quả này, rõ ràng là phải gắnnăng lực cạnh tranh với năng lực tổ chức quản trị sản xuất – kinh doanh (SX –
Trang 30KD), đổi mới khoa học – công nghệ (KH – CN), giảm chi phí sản xuất SX KD… đảm bảo sự phát triển bền vững của doanh nghiệp Từ quan điểm chungnêu trên, một số nhà kinh tế đã đưa ra những định nghĩa về NLCT doanh nghiệptheo quan điểm của mình:
-+ Theo Fafchamps [33]thì NLCT doanh nghiệp là khả năng của doanh nghiệp đó có thể sản xuất sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá
cả của nó trên thị trường, doanh nghiệp nào có chi phí sản xuất sản phẩm thấp nhất thì khả năng cạnh tranh là cao nhất
Theo quan điểm này, tác giả nghiêng về chi phí sản xuất Nếu chi phí sản
xuất thấp hơn giá bán thì doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh được xếp hạng,đồng thời doanh nghiệp nào có chí phí thấp nhất thì doanh nghiệp đó có khảnăng cạnh tranh cao nhất
Theo tác giả Luận án này, nếu hiểu khả năng cạnh tranh theo định nghĩa
cuả Fafchamps là chưa toàn diện Bởi lẽ khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp,
nói chính xác là sản phẩm của doanh nghiệp, không phải chỉ ở giá bán, mà c ̣òn ởmẫu mã (hợp thời trang) hợp thị hiếu tiêu dùng, khả năng thay thế và công năngcủa hàng hoá…Nhiều khi một hàng hoá có giá đắt, nhưng hội đủ nhiều tiêu chíphù hợp với số đông người tiêu dùng, thì chúng vẫn có thể tiêu thụ nhanh hơnnhững hàng hoá rẻ nhưng đã lạc “mốt” Cho nên khả năng cạnh tranh cần đượcxem xét một cách toàn diện, theo nhiều tiêu chí hơn Tiêu chí quan trọng nhấtphải xem xét, chưa phải là giá rẻ, hay đắt, mà là số lượng hàng hóa được tiêu thụchiếm thị phần bao nhiêu
+ Theo Randall [34] : NLCT doanh nghiệp là khả năng giành được thị
phần và duy trì thị phần sản phẩm của mình trên thị trường với mức lợi nhuận nhất định (cao hơn các doanh nghiệp cùng loại) Định nghĩa này tuy không diễn
giải cụ thể, nhưng đã bao quát được nội dung về khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp trong nền kinh tế thị trường Có thể coi đây là định nghĩa tổng hợp vềNLCT doanh nghiệp hiện nay
+ Theo Trung Tâm Thông Tin và Dự Báo KT - XH Quốc Gia [36]- Bộ Kế
hoạch và Đầu tư (Việt Nam) thì: “Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là
Trang 31khả năng bù đắp chi phí, duy trì lợi nhuận và được đo bằng thị phần của sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp trên thị trường” Theo tác giả của Luận án
này, thì định nghĩa này là tổng hợp nội dung của hai định nghĩa đã nêu ở phần trên
Những định nghĩa nêu trên tuy cách diễn đạt khác nhau, song đều thể hiệnthống nhất ở những nội dung đó là :
Thứ nhất, sản phẩm của doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu khách hàng, là
chuẩn mực đánh giá NLCT của doanh nghiệp Bởi vì phục vụ khách hàng vừa làmục tiêu của sản xuất kinh doanh, vừa là động lực của doanh nghiệp Vì vậyđược nhiều khách hàng ưa chuộng sản phẩm của mình, với thị phần lớn đó làthắng lợi của doanh nghiệp
Thứ hai, thực lực của doanh nghiệp về quản trị và khoa học – công nghệ,
tạo nên sức mạnh của doanh nghiệp Nó không những tạo nên những sản phẩm
có đầy đủ các yếu tố để lôi kéo khách hàng, mà còn xây dựng được một thương
hiệu có uy tín trên thị trường.
Thứ ba, để giữ vững và phát triển năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp phải
luôn luôn tìm cách tạo lợi thế cho mình trước các đối thủ cạnh tranh bằng các
“bí quyết” Sản xuất – Kinh doanh và Khoa học – Công nghệ…”để chiếm lĩnh
thị phần cao nhất trên cùng một thị trường
Thứ tư, Năng lực cạnh tranh – NLCT của doanh nghiệp là tổng hợp của
nhiều yếu tố Tuy nhiên trong thực tiễn hầu như không có doanh nghiệp nào cóđầy đủ các yếu tố vượt trội các doanh nghiệp khác Để tạo NLCT, yếu tố quan
trọng lại là năng lực quản trị của doanh nghiệp Từ năng lực quản trị, doanh
nghiệp sẽ biết khắc phục điểm yếu, phát huy thế mạnh để tạo lập NLCT hoàn hảo cho mình trong hiện tại, cũng như trong tương lai
Từ những quan điểm nêu trên, theo tác giả Luận án này cạnh tranh doanh
nghiệp trong điều kiện phát triển và hội nhập Quốc tế, có thể được hiểu như sau
Cạnh tranh doanh nghiệp là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất: một loại hàng hoá, hoặc cùng cung ứng một loại dịch vụ trên một thị trường, bằng những bí quyết sản xuất – kinh doanh đặc thù, năng lực quản trị vượt trội
và khả năng vận dụng Khoa học – Công nghệ hiệu quả… nhằm chiếm lĩnh thị
Trang 32phần cao hơn, với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận.
- Năng lực cạnh tranh Quốc tế.
Quan hệ mậu dịch đối ngoại mở rộng và phát triển đã phát sinh quan hệcạnh tranh giữa các quốc gia Cạnh tranh giữa các quốc gia chưa có điển hình chomọi lĩnh vực, mà chỉ là cạnh tranh cụ thể của một loại hàng hoá hoặc dịch vụ nhấtđịnh Tuy nhiên những hàng hoá – dịch vụ của một nước thường do một số doanhnghiệp, công ty, hoặc tập đoàn sản xuất hoặc cung ứng Vì vậy tổng hợp các hànghoá – dịch vụ của quốc gia này cạnh tranh với hàng hoá – dịch vụ của các quốcgia khác trong quan hệ xuất – nhập khẩu, đã hình thành khái niệm cạnh tranh giữacác quốc gia Sự phát triển của loại hình cạnh tranh này, đã tiến đến cạnh tranhQuốc tế, và cạnh tranh khu vực
Khác với cạnh tranh quốc gia, cạnh tranh quốc tế là thể hiện năng lực củaquốc gia trên trường quốc tế Có nhiều quan điểm về năng lực cạnh tranh Quốc tế
năng đạt và duy trì mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối, với các đặc trưng kinh tế cụ thể: mức độ mở cửa nền kinh tế,
vai trò của Chính phủ (mức độ can thiệp của Nhà nước, năng lực của Chính phủ,chính sách tài khoá, hệ thống thuế, tình trạng lạm phát…), tình trạng tài chính(NSNN, tín dụng, rủi ro tài chính – tín dụng, đầu tư và tiết kiệm…) năng lựckhoa học công nghệ (năng lực công nghệ nội sinh, công nghệ chuyển giao, mức
độ đầu tư cho nghiên cứu và triển khai…), cơ sở hạ tầng (chất lượng giao thôngvận tải, viễn thông, điện nước, kho tàng, khách sạn…) quản lý kinh doanh, quản
lý nhân lực, lao động (số lượng, chất lượng lao động…) thể chế…
Định nghĩa này là tổng quát và toàn diện, nhưng dài dòng Xét nội dung
cụ thể thì định nghĩa này chỉ nghiêng về đánh giá trình độ phát triển của một
nước, mà chưa thể hiện rõ NLCT quốc gia Bởi vì NLCT quốc gia, được hiểu cụthể từ NLCT của hàng hoá – dịch vụ (HH - DV) của quốc gia ấy trên trườngquốc tế Thực tế cho thấy có một số quốc gia rất phát triển, nhưng khả năng cạnhtranh quốc tế của nhiều loại hàng hóa dịch vụ của những quốc gia này lại yếuthế hơn một số quốc gia đang phát triển hiện nay
Trang 33+Theo Asian Development Outlook [38] NLCT quốc gia là “khả năng của
một nước có thể sản xuất các hàng hoá và cung ứng dịch vụ đáp ứng nhu cầu của thị trường quốc tế và của công dân nước ấy trong một thời kỳ nhất định”.
Định nghĩa trên đã thể hiện rõ hơn về NLCT quốc gia, đó là khả năngcạnh tranh của HH - DV không những trên thị trường nội địa, mà còn ở thịtrường quốc tế Tuy nhiên định nghĩa này chưa thể hiện mức độ “đáp ứng”:
chiếm lĩnh thị phần bao nhiêu trên thị trường so với HH - DV của quốc gia khác? Bởi vì cạnh tranh là sự so sánh năng lực một cách cụ thể, ở từng loại HH -
DV trên tất cả các thị trường và cuối cùng tổng hợp thành NLCT quốc gia
+Một số nhà kinh tế lại có quan niệm cạnh tranh quốc gia được thể hiện
theo từng khía cạnh riêng biệt:
M Porter,[39] cho rằng “khái niệm có ý nghĩa nhất về NLCT ở cấp
quốc gia là năng suất lao động… NLCT quốc gia là một hệ thống gồm nhiều yếu tố có liên quan với nhau, tác động qua lại bổ sung cho nhau Các yếu tố này
là nền móng, chỗ dựa cho các công ty, giữ vai trò quyết định, cho phép các công ty sáng tạo và duy trì lợi thế cạnh tranh trên một lĩnh vực cụ thể”.
Một số nhà kinh tế khác lại cho rằng: “NLCT quốc gia là khả năng
của một nước trong việc nhận thức rõ mục đích của chính sách kinh tế tập trung, tăng trưởng thu nhập và việc làm, không có khó khăn trong cán cân thanh toán”.
Trung tâm Thông tin và Dự báo (Bộ KH & ĐT Việt Nam) thì cho
rằng: “NLCT quốc gia là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng
bền vững, thu hút được đầu tư, bảo đảm được ổn định KT - XH, nâng cao đời sống của người dân”.
Một ý kiến mới - Nhà báo Trần Sỹ Chương, lại cho rằng: “ Tính cạnh
tranh của một đất nước là tổng giá trị cạnh tranh của từng doanh nghiệp biết tận dụng lợi thế riêng của họ”.
Theo quan điểm này thì NLCT quốc gia không đơn thuần là số cộngNLCT của các doanh nghiệp, mà NLCT doanh nghiệp là cơ sở tạo nên sức mạnh
kinh tế và là “gốc” sức mạnh của cạnh tranh quốc gia.
Trang 34Từ những ý kiến và quan điểm nêu trên, theo Luận án này thì có thể hiểu:
NLCT quốc gia là tổng hợp NLCT của các doanh nghiệp tạo nên sự phát triển bền vững của nền kinh tế trước sự biến động của kinh tế và thị trường thế giới.
iii.Các yếu tố xác định năng lực cạnh tranh.
Để đánh giá NLCT, cần phải phân tích cụ thể các yếu tố cấu thành củamột nền kinh tế, tạo nên NLCT của từng loại hàng hoá, của từng doanh nghiệp,từng ngành và sau đó tổng hợp lại để đánh giá và xác định NLCT quốc gia
- Đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia
Cho đến nay vẫn còn nhiều quan điểm về các yếu tố xác định NLCT quốc gia Nhưng đã có một số ý kiến tương đối thống nhất ở 8 yếu tố đóng vai trò quyết định đối với NLCT quốc gia, đó là:
(1).Mức độ mở cửa của nền kinh tế: tiêu chí này được xem xét ở mức độ hội
nhập, mức độ tự do hoá về đầu tư của quốc gia ấy với khu vực và thế giới
(2).Vai trò của Chính phủ: được xem xét trên các mặt như sự can thiệp của
Nhà nước vào các doanh nghiệp, thị trường, các dịch vụ công của Chính phủ đốivới xã hội, đặc biệt là các chính sách với doanh nghiệp, chính sách tài khoá,thuế, phí…
(3).Tài chính: là yếu tố tổng hợp và khá nhạy cảm, được xem xét trên các
mặt: Hệ thống tài chính - ngân hàng, tỷ lệ tiết kiệm - đầu tư, công nợ, khả năngtiếp cận với các nguồn tài chính quốc tế
(4).Khoa học – Công nghệ (KH – CN): yếu tố này được xem xét ở các nội
dung: tỷ lệ đầu tư cho KH - CN / GDP, trình độ tiếp cận và năng lực sử dụng
KH - CN, thị trường KH - CN, khả năng quản trị KH - CN…
(5).Cơ sở hạ tầng: Về hệ thống giao thông - vận tải, Bưu chính viễn thông,
điện nước, kho tàng, khách sạn…
(6).Năng lực quản trị: bao gồm năng lực quản trị xã hội và quản trị doanh
nghiệp (Xây dựng chiến lược cạnh tranh, quản trị chất lượng sản phẩm, quản trị
hệ thống tài chính - ngân hàng…)
(7).Lao động: gồm số lượng và chất lượng lao động, chính sách quản lý,
đào tạo, thị trường lao động…
Trang 35(8).Thể chế: gồm hệ thống luật pháp, tính khả thi của luật trong đời sống
kinh tế - xã hội, sự đồng bộ hoá của hệ thống luật pháp, sự tương đồng của phápluật với khu vực và quốc tế…
Các yếu tố trên được xem xét trong trạng thái về mức độ phù hợp giữa sựphát triển kinh tế xã hội hiện tại và tiến trình hội nhập của nền kinh tế với khu vực
và thế giới Tuy nhiên các yếu tố này cũng mới chỉ là điều kiện, cơ sở… nói đúnghơn chúng mới ở dạng tiềm năng Còn về sự vận dụng các yếu tố trên như thế nào
để tạo thành sức mạnh cạnh tranh của từng doanh nghiệp và của nền kinh tế, thì lại
tuỳ thuộc vào năng lực của Chính phủ và của bộ máy các doanh nghiệp tham mưu
và giúp việc cho Chính Phủ
- Đánh giá năng lực cạnh tranh doanh nghiệp.
Để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần xem xét và phântích các yếu tố cơ bản của đối tượng, sau đó xếp hạng năng lực cạnh tranh củađối tượng này Những yếu tố của đối tượng cần quan tâm, đó là :
+ Lĩnh vực SX – KD và qui mô của doanh nghiệp
+ Năng lực tài chính, trong đó vốn chủ sở hữu đóng vai trò quyết định.
+ Năng lực quản trị
+ Năng lực khoa học – công nghệ
+ Chất lượng nhân lực…
Những yếu tố trên được phân tích, đánh giá và so sánh với các “đối thủ”
Từ đó có nhận xét kết luận Tuy nhiên đây chỉ là những “yếu tố nổi”, được côngkhai phân tích, đánh giá Sự đánh giá này chưa phản ánh đầy đủ năng lực sảnxuất – kinh doanh, thực sự của doanh nghiệp Vì trong kinh doanh của cácdoanh nghiệp, còn nhiều “yếu tố chìm”, đó là bí quyết sản xuất – kinh doanh,
“nghệ thuật” tiếp cận khách hàng, chính sách khuyến mãi của chủ thể….Đây cóthể coi là những “bí quyết” các doanh nghiệp không bao giờ tiết lộ, công khaitrên thị trường
1.2.1.2.Sự phát triển của cạnh tranh kinh tế
i Nguồn gốc phát sinh cạnh tranh
Đấu tranh sinh tồn trong tự nhiên là nguồn gốc của cạnh tranh Đây là
Trang 36phương thức phổ biến để tồn tại và phát triển của các cá thể và quần thể độngthực vật Để tìm được môi trường phát triển tốt hơn, mọi cơ thể sống đều phảitìm cách dành cho mình những điều kiện sống tốt nhất Trong tự nhiên, lịch sửphát triển của sự sống trên Trái Đất cho thấy ở cùng một môi trường, trong cùngmột không gian, nếu quần thể này, hoặc cá thể này, chiếm được vị trí tốt hơn, thìcác quần thể khác sẽ ở vị trí kém hơn hoặc bất lợi Tình trạng này sẽ ảnh hưởng,thậm chí quyết định đến sự tồn tại và phát triển của các quần thể, hoặc các cá thểkhác, trong hiện tại và tương lai.
Trong tự nhiên đấu tranh sinh tồn diễn ra thường xuyên, liên tục với xuthế ngày càng quyết liệt ở cấp độ cao hơn Hiện tượng này đã dẫn đến một sốloại động thực vật biến mất, đồng thời một số loại động thực vật khác xuất hiệnvới khả năng chịu đựng và thích nghi tốt hơn với môi trường mới này Hiệntượng trên diễn ra thường xuyên, liên tục, đã dẫn đến đấu tranh sinh tồn ở mộtcấp độ mới, quyết liệt hơn về qui mô cũng như phương thức cạnh tranh
Xã hội loài người, trong kinh tế, giữa các doanh nghiệp cũng diễn ranhững quá trình “đấu tranh” tương tự Nhưng không phải là đấu tranh sinh tồn
như trong tự nhiên Mà là cạnh tranh để tồn tại và phát triển.
ii Định nghĩa cạnh tranh.
Cạnh tranh diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực: tự nhiên, kinh tế, xã hội… vìvậy nội dung thuật ngữ này là rộng và phức tạp Do đó trong khuôn khổ luận ánnày không thể đề cập được tất cả các lĩnh vực, mà chỉ giới hạn một số nội dung
cơ bản về cạnh tranh kinh tế Chủ yếu là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp,
trong đó có các ngân hàng thương mại Cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng là
chủ đề của Luận án này
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, về bản chất cạnh tranh chỉ làphương pháp, cách thức (thủ thuật) dành lợi thế về phía mình Nhưng để có mộtđịnh nghĩa hoàn chỉnh về cạnh tranh, đến nay vẫn chưa nhất quán về thuật ngữ.Tuy nhiên thực tế một số định nghĩa về cạnh tranh của nhiều nhà kinh tế, đãđược thừa nhận, điển hình như :
Theo Các Mác [19] thì: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt
Trang 37giữa các nhà tư bản để giành dật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”.
Định nghĩa này là phù hợp với cạnh tranh doanh nghiệp trong nền kinh tếthị trường, trong điều kiện phát triển ổn định, chưa xuất hiện độc quyền Nóicách khác là thị trường còn bó hẹp trong phạm vi quốc gia, chưa xuất hiện tràolưu hội nhập sâu rộng như trong điều kiện hiện nay Tuy nhiên định nghĩa này,trên giác độ lợi nhuận thì vẫn phù hợp trong điều kiện toàn cầu hoá về kinh tế
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng[40]thì: “Cạnh tranh là đua tranh để
dành ưu thế về mình” Định nghĩa này mang tính tổng quát, không những đúng
trong lĩnh vực kinh tế mà còn cho cả lĩnh vực xã hội nói chung Tuy nhiên nếuxem xét trong lĩnh vực kinh tế, thì khái niệm này là quá rộng, nội dung của nóchưa thể hiện mục tiêu cụ thể của cạnh tranh Đặc biệt là chưa nêu rõ thủ pháp đểđạt tới mục tiêu đã định Cho nên khái niệm này chưa thể gắn cụ thể vào cạnhtranh kinh tế trong điều kiện phát triển và hội nhập hiện nay Đặc biệt là tronglĩnh vực ngân hàng
Riêng trong lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là với các doanh nghiệp, trong đó cócác NHTM, thì có khá nhiều định nghĩa về cạnh tranh với những nội dung tương
tự, như:
đua, kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường, nhằm giành cùng một loại tài nguyên, sản xuất cùng một loại sản phẩm, hoặc khách hàng về phía mình”.
và phát triển kinh tế (OECD) thì: “Cạnh tranh là khái niệm của doanh nghiệp,
quốc gia và vùng trong việc tạo việc làm, tạo thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”.
kình địch giữa các doanh nghiệp để dành khách hàng và thị trường”.
Nhóm định nghĩa cạnh tranh mang nội dung kinh tế nêu trên, mặc dù cókhác nhau trong diễn đạt, nhưng nội dung tương đối thống nhất, đó là :
Trang 38 Mục đích của cạnh tranh là giành phần thắng trên thương trường.
Công cụ cạnh tranh (phương tiện, biện pháp) sử dụng mang tính đặc thù
Môi trường diễn ra cạnh tranh là cụ thể và đồng nhất
Từ cách trình bày như trên, theo quan điểm của Luận án này, thì cạnh
tranh kinh tế có thể được hiểu như sau:
Cạnh tranh trong kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thể, bằng các công
cụ (thủ pháp) đặc thù để giành các điều kiện SX - KD có lợi nhất, nhằm chiếm lĩnh thị phần tuyệt đối, với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận
Cạnh tranh kinh tế có nội dung rộng hơn cạnh tranh doanh nghiệp Cùngvới sự phát triển kinh tế và mở rộng thị trường, cạnh tranh kinh tế đồng thờicũng được mở rộng, phát triển và gia tăng theo mức độ cao hơn
1.2.1.3.Phân loại cạnh tranh kinh tế
Phân loại cạnh tranh là tổng hợp một số tiêu chí làm rõ phạm vi, mức độ
và bản chất của cạnh tranh doanh nghiệp
Về lý thuyết cạnh tranh doanh nghiệp chỉ là một thuật ngữ phản ảnhnhững tiêu chí của doanh nghiệp thực hiện, nhằm đạt mục tiêu trong kinh doanh.Những tiêu chí này được xã hội thừa nhận Nhưng cũng có nhiều tiêu chí chỉ cólợi cho doanh nghiệp, mà xã hội không thừa nhận Với nội dung nêu trên, trongLuận án này chỉ đề cập những nội dung tổng hợp nhất, mà không phân tích sâukhía cạnh đạo đức kinh doanh trong cạnh tranh Vì lí do nêu trên, nên cạnh tranhdoanh nghiệp được phân loại theo tiêu chí sau :
i.Cạnh tranh theo ngành kinh tế.
Loại cạnh tranh này được chia làm hai loại, là cạnh tranh trong nội bộ
ngành và cạnh tranh giữa các ngành.
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành.
Trong nền kinh tế, mỗi loại hình doanh nghiệp cung ứng cho thị trườngmột loại sản phẩm hàng hóa – dịch vụ đặc thù Những doanh nghiệp này tập hợplại thành một ngành sản xuất – kinh doanh Do sở hữu khác nhau, nên mỗidoanh nghiệp có một phương thức quản trị riêng Doanh nghiệp có chất lượngquản trị hoàn hảo, bao giờ cũng thu được lợi nhuận vượt trội Chính vì lẽ đó mà
Trang 39các doanh nghiệp trong cùng ngành cũng tìm mọi biện pháp để phân chia thị trường
có lợi cho mình Đấy là nguyên nhân dẫn đến cạnh tranh trong nội bộ ngành
Cạnh tranh trong nội bộ ngành, là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất, hoặc tiêu thụ một loại hàng hoá, hoặc dịch vụ nhất định Mục tiêu của loại cạnh tranh này là bình quân hóa suất lợi nhuận.
Trong quá trình cạnh tranh trong nội bộ ngành, nếu hàng hoá – dịch vụ củanhững doanh nghiệp phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng, thì loại hàng hóa– dịch vụ ấy, sẽ mở rộng được thị phần và như vậy chúng sẽ phát triển và tăngđược lợi nhuận Còn các doanh nghiệp khác sẽ bị thu hẹp sản xuất và bị giảm lợinhuận Kết quả của quá trình cạnh tranh này làm cho sản xuất tập trung và tích
tụ cao hơn Mặt khác, quá trình cạnh tranh này sẽ làm cho chất lượng sản phẩm
hàng hoá – dich vụ tốt hơn, đẹp hơn và giá thành, sau đó là giá bán sẽ hạ hơn.
Cuối cùng người tiêu dùng sẽ được hưởng lợi nhiều hơn Kết quả quá trình cạnhtranh nội bộ ngành sẽ dẫn đến bình quân hóa suất lợi nhuận trong ngành
- Cạnh tranh giữa các ngành.
Cạnh tranh giữa các ngành,với mục tiêu tìm nơi đầu tư có lợi, cuối cùngcũng dẫn đến kết quả bình quân hoá suất lợi nhuận trong nền kinh tế Trên thịtrường, mỗi ngành sản xuất một loại hàng hoá đặc thù, khó thay thế Thực tếmỗi ngành có suất lợi nhuận riêng Do đó các ngành có suất lợi nhuận thấp, sẽ
tìm cách chuyển vốn sang ngành có suất lợi nhuận cao hơn Đây là hình thức
cạnh tranh giữa các ngành Cạnh tranh giữa các ngành có ý nghĩa tích cực, góp
phần hạn chế tính độc quyền, tạo thế phát triển cân bằng tương đối trong nềnkinh tế Tuy nhiên trong điều kiện trình độ kinh tế phát triển cao như hiện nay,
đặc biệt là toàn cầu hoá, thì vấn đề thị trường đã trở thành sự quan tâm lớn của
mọi Tập đoàn và doanh nghiệp lớn Đến thời điểm này, khái niệm cạnh tranhgiữa các ngành không còn có ý nghĩa tuyệt đối như trước đây nữa Bởi lẽ giữacác ngành, các lĩnh vực gần nhau, thậm chí rất xa nhau vẫn có thể xâm nhập vào
nhau, tạo nên một hình thái kinh tế mới: sản xuất – kinh doanh đa lĩnh vực Đây
là một dạng mới của độc quyền Tuy nhiên dù dưới hình thái độc quyền nào, thìtrong một không gian kinh tế đầy biến động, các tổ chức độc quyền vẫn chưa thể
Trang 40bỏ được tính tư hữu, bản chất dân tộc, vị trí độc tôn quốc gia… Do đó cạnh
tranh vẫn luôn luôn song hành với những hình thái kinh tế này
ii.Mức độ cạnh tranh
Theo mức độ, hay cấp độ cạnh tranh, thì cạnh tranh được chia làm hai loại
là cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo.
- Cạnh tranh hoàn hảo
Cạnh tranh hoàn hảo, là một mô hình mà mọi chủ thể đều bình đẳng,không có độc quyền Trong cạnh tranh các chủ thể đều được tiếp nhận thông tin
và thụ hưởng những quyền lợi từ Chính phủ như nhau Vì vậy việc mở rộngkinh doanh, tăng lợi nhuận của một doanh nghiệp nào đó là do hàng hoá – dịch
vụ của doanh nghiệp này thoả mãn được nhu cầu của người tiêu dùng, nhiều hơn
những chủ thể khác Nói cách khác, trong loại hình cạnh tranh này năng lực của
doanh nghiệp quyết định sự thành công của chính mình trong điều kiện bình
đẳng Cụ thể hơn là kết quả kinh doanh của doanh nghiệp hoàn toàn phụ thuộcvào việc sử dụng một cách có hiệu quả tài nguyên, lao động và thông tin kinh tế
mà doanh nghiệp tiếp cận được Nói khác đi, sự thành công của doanh nghiệpđược quyết định bởi năng lực quản trị của chính doanh nghiệp ấy
Đối chiếu với thực tiễn thì cạnh tranh hoàn hảo chỉ là một mô hình giả
định Vì không thể có một mô hình bình đẳng như đã nêu Giả định nếu có “sự
bình đẳng” bước đầu, thì sau đó do trình độ tiếp nhận và xử lý thông tin, sử dụnglao động, tài nguyên… của các doanh nghiệp lại rất khác nhau, nên hiệu quả SX
- KD cũng sẽ rất khác nhau, vì vậy giữa các doanh nghiệp đã hình thành mộtkhoảng cách tự nhiên: bất bình đẳng Sự bất bình đẳng này sẽ thường xuyên xuấthiện Nguyên nhân của tình trạng trên bắt nguồn từ sự cạnh tranh trí tuệ giữa các
doanh nghiệp Mà cạnh tranh trí tuệ thì không có sự bình đẳng trong xã hội.
- Cạnh tranh không hoàn hảo[43]
Cạnh tranh không hoàn hảo, là hình thức phổ biến hiện nay Theo hìnhthức này một số chủ thể sản xuất – kinh doanh, với các lợi thế của mình vềnguồn nguyên nhiên liệu, nhân công, địa bàn thuận lợi, có bí quyết SX - KD…
có thể chi phối được thị trường về giá cả và số lượng hàng hoá Tuy nhiên sự