1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tương đồng và khác biệt trong quan niệm 12 con giáp giữa việt nam và trung quốc

112 201 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy sự phục hồi và giải mã các yếu tố, các vấn đề của 12 con giáp là một vấn đề quan trọng trong việc tiếp cận và tìm tòi các giá trị truyền thống mà nhân dân Trung Quốc cũng như nhân

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

WANG YI QIAN (VƯƠNG DI XUYẾN)

TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG

QUAN NIỆM 12 CON GIÁP GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Việt Nam Học

Hà Nội – 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

WANG YI QIAN (VƯƠNG DI XUYẾN)

TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG

QUAN NIỆM 12 CON GIÁP GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Việt Nam học

Mã số: 60220113

Người hướng dẫn khoa học: TS Mai Minh Tân

Hà Nội – 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi xin cam đoan rằng các công trình nghiên cứu khác có liên quan, được trích dẫn trong công trình đều được chú thích rõ ràng ở phần tài liệu tham khảo Mọi kiến giải, kết luận đều là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi, không sao chép bất kỳ tài liệu nào Nếu có bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Người viết

WANG YIQIAN

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong hai năm học tập và thực hiện luận văn tại khoa Việt Nam học

của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô cũng như các bạn trong khoa Tại đây, tôi xin bày

tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô kính mến và các bạn thân mến trong khoa Việt Nam học Đồng thời, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn tới TS.Mai Minh Tân, thầy đã nhận giúp đỡ tôi một cách nhiệt tình Là một học viên nước ngoài, thực hiện một luận văn bằng tiếng Việt thực sự rất khó đối với tôi, thầy Tân đã hướng dẫn tôi và cho tôi rất nhiều ý kiến quý báu trong suốt quá trình làm luận văn Cuối cùng, tôi xin cảm ơn mọi thành viên gia đình của tôi đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong khi tôi sinh sống và học tập tại Việt Nam

Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người đã giúp đỡ tôi trong hai năm qua

Người viết

WANG YIQIAN

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của đề tài 3

2 Lịch sử nghiên cứu 6

3 Mục đích nghiên cứu và giới hạn đề tài nghiên cứu 8

4 Phương pháp luận nghiên cứu và cơ sở tư liệu 11

5 Những đóng góp cơ bản của luận văn 14

6 Cấu trúc luận văn 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ 12 CON GIÁP 16

1.1 Khái quát cơ tầng của 12 con giáp ở Trung Quốc và Việt Nam 16

1.1.1 Trung Quốc 16

1.1.2 Việt Nam 21

1.2 Nguồn gốc sự hình thành thiên can địa chi 23

1.2.1 Ngũ hành 23

1.2.2 Thiên can 25

1.2.3 Địa chi 25

1.2.4 Mười hai con giáp 27

1.3 Mười hai con giáp nhìn từ sinh thái học 31

1.4 Mười hai con giáp nhìn từ đời sống tâm linh cổ đại Đông Á 38

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 59

CHƯƠNG 2: TƯƠNG ĐỒNG TRONG QUAN NIỆM TRONG 12 CON GIÁP Ở VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC 60

2.1 Tín ngưỡng cộng đồng 60

2.1.1 Quan niệm về sự ra đời và nguồn gốc 12 con giáp 61

2.1.2 Khái niệm và quan hệ 12 con giáp 62

2.1.3 Sự ảnh hưởng và ứng dụng 12 con giáp 66

Trang 6

2.2 Lễ hội – văn hoá dân gian 71

2.2.1 Sùng bái linh vật 71

2.2.2 Lễ hội truyền thống 72

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 75

CHƯƠNG 3: KHÁC BIỆT TRONG QUAN NIỆM 12 CON GIÁP Ở VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC 76

3.1 Tín ngưỡng cộng đồng 76

3.1.1 Khác biệt về quan niệm 12 con giáp của Việt Nam và Trung Quốc 76 3.1.2 Dị biệt trong quan niệm về sự ảnh hưởng 12 con giáp đối với con người 82

3.1.3 Khác biệt trong quan niệm về sự ảnh hưởng 12 con giáp đối với đời sống văn hóa 89

3.2 Lễ hội – văn hoá dân gian 94

3.2.1 Lễ hội, phong tục trong văn hóa Việt Nam 94

3.2.2 Lễ hội – phong tục trong văn hóa Trung Quốc 97

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 102

KẾT LUẬN 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 7

Mỹ (1954 – 1975),…

Với một thời kỳ dài, hai dân tộc Trung Hoa và dân tộc Việt Nam đều dồn hết sức và hết tâm cho các cuộc chiến tranh Kết quả cuối cùng là đã mang lại sự độc lập, hoà bình cho đất nước mình, đó là bước đệm để cả hai quốc gia cùng bước vào thời kỳ phát triển mới

Lịch sử của chiến tranh đã khép lại, mở màn cho sự phát triển chung của thế giới chính là xu hướng đối thoại và hội nhập; Việt Nam và Trung Quốc cũng không phải là ngoại lệ Tiêu biểu như cả Trung Quốc và Việt Nam đều tham gia vào một số hiệp định lớn của châu lục cũng như thế giới như Hiệp định thương mại tự do FTA, hiệp định thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc, hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực PCEP, hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương CPTPP mà tiền thân của nó là hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TTP,…

Trang 8

Xu hướng đối thoại và hội nhập, hội nhập và phát triển giữa các quốc gia là những xu hướng không thể phủ nhận được trong sự tiến bộ của nhân loại Tuy

nhiên, đi cùng với các xu hướng đó chính là sự tồn tại và luôn song hành một số biểu thị của một số điều mang tính bảo hộ dân tộc, quay trở lại với những giá trị cổ xưa, mang tính truyền thống

Mặc dù hội nhập và phát triển là xu hướng chung của thế giới, nhưng mỗi một quốc gia muốn hội nhập đều phải có nền tảng, những cơ sở và những giá trị mang tính chất tiêu biểu của riêng quốc gia mình Cũng như việc các quốc gia muốn hội nhập đều cần phải có bản sắc, có những tính đặc thù riêng của quốc gia mình; mang cái riêng để đóng góp vào cái chung; hoà nhập mà không hoà tan Nhu cầu của mỗi đất nước trong thời kỳ phát triển là đều phải hội nhập

và phải hội nhập bằng cái bản sắc, cái nét riêng của chính quốc gia mình, điều

đó đã góp phần tạo nên tính cấp thiết cho đề tài

Sau một thời kỳ dài chạy đua cho sự phát triển của kinh tế, vật chất thì đến hiện tại, xu hướng chung của thế giới đều quay trở lại để tìm lại các giá trị tinh thần Trong các giá trị tinh thần, giá trị lớn nhất là các giá trị về chuẩn mực, về tâm linh; các tiêu chuẩn này đều đã và đang được quay lại, tìm lại Điều đó đồng nghĩa với việc xu hướng chung của nhân loại bên cạnh sự phát triển về kinh tế chính là quay trở lại những yếu tố mang tính truyền thống nhằm tìm lại bản sắc của mình, để mang cái bản sắc đó ra trường quốc tế mà hội nhập Vì thế, hầu hết các quốc gia đang phát triển, trong đó có cả Trung Quốc và Việt Nam đều có nhu cầu quay trở lại, tìm các giá trị và nội lực truyền thống đã bị đánh rơi và lãng quên

Trang 9

Việc quay trở lại và tìm lại các giá trị tinh thần đã bị đánh mất để cho giá trị tinh thần ít nhất bằng giá trị vật chất hoặc cao hơn giá trị vật chất Tinh thần luôn luôn là kim chỉ nam để dẫn dắt sự sáng tạo; khi tạo ra các ý tưởng trong giá trị tinh thần thì những giá trị thuộc về chuẩn mực và tâm linh sẽ được phục hồi và trỗi dậy

Khu vực Đông Á, đặc biệt là khu vực Đông Á, từ cổ xưa, con người sống tại khu vực này đã có niềm tin rất lớn vào các yếu tố tâm linh, trong

đó có giá trị của 12 con giáp Sự phát triển và ứng dụng các giá trị của 12 con giáp vào trong tư duy cũng như lối sống của cư dân khu vực Đông Bắc

Á, đặc biệt là cư dân Trung Quốc và Việt Nam là rất lớn, nó thâm nhập vào trong từng “ngõ ngách” của cuộc sống người dân hai quốc gia Vì vậy sự phục hồi và giải mã các yếu tố, các vấn đề của 12 con giáp là một vấn đề quan trọng trong việc tiếp cận và tìm tòi các giá trị truyền thống mà nhân dân Trung Quốc cũng như nhân dân Việt Nam ứng dụng từ ngàn đời nay,

để thấy rằng, các giá trị truyền thống sẽ không bị mất đi nếu biết cách tận dụng và ứng dụng nó vào trong đời sống

Trang 10

giáp thì việc đi sâu vào nghiên cứu vấn đề sẽ khẳng định ý nghĩa nội hàm cũng như các giá trị cốt lõi của văn hoá truyền thống Trung Hoa

Văn hoá Trung Hoa là một nền văn hoá lớn của nhân loại, có sức lan toả mạnh mẽ trong khu vực, đặc biệt là đất nước láng giềng Việt Nam Vì vậy sự ảnh hưởng cũng như sự tiếp biến các giá trị văn hoá, đặc biệt là các giá trị văn hoá truyền thống là một điều tất yếu diễn ra trong quá trình lịch

sử lâu dài

Với việc tìm hiểu những yếu tố truyền thống, tâm linh như là việc nghiên cứu về các vấn đề liên quan tới 12 con giáp, đặc biệt là những điểm tương đồng cũng như dị biệt của nó trong quá trình ứng dụng vào đời sống thường nhật của Trung Quốc và Việt Nam có thể thấy được con đường đi

và sự chuyển giao giá trị 12 con giáp từ Trung Quốc sang Việt Nam Khi

sự chuyển giao giá trị được tìm hiểu và bộc lộ thì các thành tố liên quan tới các giá trị truyền thống cũng sẽ được tiếp cận một cách cụ thể

Khi các giá trị trong các chuẩn mực của các yếu tố trong văn hoá tâm linh được so sánh thì những sự lệch pha giữa đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần của cư dân Trung Quốc và Việt Nam nói riêng và văn hoá Trung Hoa – Việt Nam nói chung cũng được làm rõ Qua đó có thể góp phần làm rõ thêm mối quan hệ sâu sắc về văn hoá giữa hai quốc gia trong lịch sử cũng như hiện tại

2 Lịch sử nghiên cứu

Nguồn gốc về sự ra đời của 12 con giáp vẫn chưa có cách nói thống nhất Tuy nhiên ngay từ buổi bình minh lịch sử Trung Hoa, dưới nhiều hình

Trang 11

thức và cách thức biểu hiện khác nhau, người Hoa Hạ đã có những mối quan tâm nhất định đến 12 con giáp

Giai đoạn Hạ Thương , tên của các loài động vật trong 12 con giáp đã được ghi chép tỉ mỉ trong văn giáp cốt và nhiều văn vật khác Đây cũng là giai đoạn hình thành hệ thống lịch can chi

Vào giai đoạn nhà Chu, Kinh Thi đã xuất hiện những ghi chép, nghiên cứu đến 12 con giáp qua các bài thơ

Tuy nhiên, đến giai đoạn nhà Tần - Hán, 12 con giáp và can chi đã được nghiên cứu và ghi chép một cách có hệ thống qua sách tre Đặc biệt, trong các bộ sách tre được tìm thấy có bộ “Nhật Thư” và “Luận Hoàng” là tài liệu nghiên cứu sớm nhất trong việc tổng hợp các mối quan hệ của 12 con giáp khi kết hợp với các yếu tố khác

Từ giai đoạn Nguỵ Tấn và Nam Bắc Triều đến thời dân quốc, các sách sử đã có những ghi chép và nghiên cứu về 12 con giáp

Năm 1998, Hoàng Kiến Vinh trong “Thử luận nền tảng triết học của văn hoá 12 con giáp” đã có những tìm luận cứ trong việc tìm hiểu cơ tầng của 12 con giáp dưới góc độ tư tưởng và triết học

Năm 2001, Thái Tiên Kim có nghiên cứu về ý nghĩa nhất định của địa chi trong “Bước đầu tìm hiểu Địa chi nguyên nghĩa”

Năm 2004, trong “Thuyết minh văn hoá của 12 địa chi”, học giả Thái Anh Kiệt đã nghiên cứu về 12 con giáp dưới góc độ mô tả địa chi trong văn hoá học

Ở Việt Nam, chưa có nhiều công trình nghiên cứu một cách hệ thống

về 12 con giáp Hệ thống 12 con giáp chỉ xuất hiện trong các khảo cứu

Trang 12

nhằm mục đích đối sánh văn hoá Trung Hoa và văn hoá Việt Nam hoặc trong các giáo trình cơ bản, nhập môn về văn hoá phương Đông như cuốn

“Cơ sở văn hoá Việt Nam” của Trần Ngọc Thêm, “Giáo trình văn hoá phương Đông” của Trần Lê Bảo

3 Mục đích nghiên cứu và giới hạn đề tài nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu về đề tài “Tương đồng và khác biệt trong quan niệm 12 con giáp giữa Việt Nam và Trung Quốc” nhằm quay trở lại và khẳng định những giá trị thực sự trong văn hoá truyền thống Trung Hoa, từ đó có thể thấy được con đường đi, sự chuyển giao giá trị cũng như cách tiếp cận và

sự tiếp biến khi hệ thống 12 con giáp “sống” ở Việt Nam

Theo dòng lịch sử, với hệ thống 12 con giáp, khi đi vào Việt Nam, thang giá trị của nó đã được cải biến để phù hợp với văn hoá Việt và lối sống cũng như con người Việt Với đề tài nghiên cứu về sự tương đồng cũng như di biệt giữa 12 con giáp ở Trung Quốc và ở Việt Nam có thể chỉ

ra được dưới thang văn hoá của người Việt, người Việt đã thay đổi đối tượng tiếp nhận là hệ thống 12 con giáp như thế nào, kết quả là còn bảo lưu được những yếu tố gì và những yếu tố gì được chuyển hoá,…

Với một yếu tố văn hoá ngoại lai nói chung và hệ thống 12 con giáp nói riêng, khi tiếp nhận và chuyển biến, người Việt đã có một quá trình chuyển hoá trong tư duy cũng như nhận thức nên việc tìm hiểu và nghiên cứu về vấn đề 12 con giáp có thể đi sâu hơn vào các yếu tố mang tính chất bản sắc của cả hai quốc gia là Trung Quốc và Việt Nam Từ một vấn đề của Trung Hoa, khi đưa sang Việt Nam có thể nhận thức được sự cải biên cũng

Trang 13

như quá trình thay đổi và tính ích dụng của nó trong đời sống người Việt nói chung và đời sống văn hoá tâm linh nói riêng; qua đó có thể so sánh được các giá trị, sự giống và khác nhau, cách tiếp cận và sự lệch pha trong

hệ thống 12 con giáp của hai quốc gia Trung Quốc và Việt Nam

Với đề tài “Tương đồng và khác biệt trong quan niệm 12 con giáp giữa Việt Nam và Trung Quốc” giúp thể hiện sức sống mãnh liệt của các giá trị văn hoá truyền thống Đông Á nói chung và truyền thống Trung Hoa – Việt Nam nói riêng, đặc biệt là những giá trị cố hữu, bất biến ở những vấn đề tồn tại xung quanh hệ thống 12 con giáp Khi nhận thức và tìm hiểu được các vấn đề cốt lõi và cơ bản xung quanh hệ thống này có thể đối sánh

và nhìn nhận tầm quan trọng của việc ứng dụng hệ thống 12 con giáp trong cuộc sống thường nhật của người dân hai nước Trung Quốc và Việt Nam từ ngàn đời nay

Hai quốc gia Trung Quốc và Việt Nam – hai truyền thống dân tộc trong quá khứ và hiện tại đã có những giao lưu văn hoá, quan hệ quốc tế rất sâu sắc Ngoài quan hệ chính trị thì không thể phủ định được quan hệ dân tộc của hai cộng đồng dân tộc giữa người Hoa và người Việt là vô cùng mật thiết Tuy có những sóng gió trong lịch sử nhưng đó là sóng gió chính trị, không phải là sóng gió do dân tộc Vì vậy với việc tìm hiểu đề tài về sự tương đồng cũng như dị biệt của hệ thống 12 con giáp ở Trung Quốc và Việt Nam góp phần làm tăng thêm mối quan hệ truyền thống giữa hai dân tộc, nhất là hiện nay khi Đảng Cộng Sản Trung Quốc và Đảng Cộng Sản Việt Nam đã có những tiếp cận rất tốt, ngoại trừ những mâu thuẫn mang tính thời cuộc

Trang 14

3.2 Giới hạn đề tài nghiên cứu

Mọi đối tượng văn hoá, yếu tố văn hoá nếu muốn tồn tại và phát triển đều cần phải có mối liên hệ, sự tương quan trong các yếu tố văn hoá khác,

có sự liên quan và tương tác lẫn nhau Vì vậy khi muốn đi sâu vào tìm hiểu

và nghiên cứu một đối tượng văn hoá cụ thể đều phải đặt nó trong một hệ thống các mối tương quan, sự liên hệ nhất định Nghiên cứu về vấn đề 12 con giáp ở Trung Quốc và Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ

Sự xuất hiện, tồn tại và phát huy các giá trị nền tảng cũng như những giá trị lan toả của 12 con giáp đều phải dựa vào một hệ thống tổng thể, các mối liên hệ mật thiết từ tự nhiên, địa lý, lịch sử khu vực đến tư duy, triết học, các học thuyết âm dương, phương vị, phong thuỷ, phong tục, tập quán,….của người Đông Á nói chung và cụ thể hơn là người Trung Quốc

và Việt Nam

Mọi vấn đề của văn hoá khi cần xuất hiện và tồn tại đều có nguồn gốc

về sự hình thành và phát triển của riêng nó Vấn đề về 12 con giáp cũng vậy Sự ra đời của 12 con giáp đều bắt nguồn từ địa lý, điều kiện tự nhiên của Trung Quốc và sự phát triển của nó song song với sự phát triển của nền văn minh Hoa Hạ và diễn trình lịch sử của cộng đồng người Hoa Vì vậy khi tìm hiểu về sự hình thành và phát triển của hệ thống 12 con giáp chính là tìm hiểu về địa lý, tự nhiên cũng như tiến trình lịch sử của dân tộc Trung Hoa

Một yếu tố văn hoá khi nó phát triển một cách mạnh mẽ là khi nó được tồn tại trong các mối tương quan của một hệ thống nhất định, 12 con giáp cũng vậy Song hành với sự phát triển của nó chính là các yếu tố, các

Trang 15

học thuyết về ngũ hành, âm dương, phương vị,…giúp nó củng cố và thâm nhập một cách có hệ thống và ảnh hưởng sâu sắc vào tư duy cũng như tư tưởng của người dân Nói cách khác, khi tìm hiểu về vấn đề 12 con giáp cũng chính là tìm hiểu về hệ thống liên kết của nó là các học thuyết cổ đại cũng như tư duy của người phương Đông

Tất cả các nền văn hoá khi phát triển đủ rực rỡ sẽ có sức lan toả sang các nền văn hoá khác Với cư dân lúa nước người Việt, trong diễn trình lịch

sử, đã tiếp nhận và tiếp biến một cách chọn lọc các yếu tố văn hoá của người Hoa, trong đó có hệ thống 12 con giáp Trong quá trình đón nhận, người Việt đã dựa vào văn hoá truyền thống của mình là nền tảng để đón nhận những cái phù hợp và thay đổi những cái chưa phù hợp của hệ thống

12 con giáp đối với văn hoá Việt Vì vậy, khi nghiên cứu về sự giống và khác nhau của hệ thống 12 con giáp ở Trung Quốc và Việt Nam đều phải tìm hiểu về văn hoá người Việt nói chung, mà cụ thể hơn chính là phong tục, tập quán, lễ hội, tư duy của người Việt

Quá trình tìm hiểu và nghiên cứu về hệ thống 12 con giáp cũng chính

là nghiên cứu về cả một hệ thống những vấn đề tồn tại bao quanh nó trong suốt chiều dài lịch sử từ quá khứ đến hiện tại và tương lai của hai quốc gia Trung Quốc và Việt Nam

4 Phương pháp luận nghiên cứu và cơ sở tư liệu

4.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Nghiên cứu về vấn đề này, chúng tôi đã sử dụng phương pháp tổng hợp liên ngành để có thể dùng nhiều tiêu chuẩn của các ngành khoa học như khu vực học, địa lý, văn hóa, lịch sử, khảo cổ học, folklore, Đây là

Trang 16

phương pháp được sử dụng xuyên suốt trong luận văn Với phương pháp này, chúng tôi có thể tiếp cận các vấn đề ở nhiều phương diện khác nhau một cách chân thực và khoa học nhất Bởi vì đây là một vấn đề vừa mang tính thực tiễn, vừa mang tính lý thuyết, vừa mang tính lịch sử, vừa mang tính hiện đại và vừa mang tính tương lai Chính vì vậy nên một phương pháp nghiên cứu sẽ không đáp ứng được Đó là lí do khi nghiên cứu vấn đề này, chúng tôi đã sử dụng phương pháp tổng hợp liên ngành xuyên suốt luận văn

Ngoài phương pháp chính là tổng hợp liên nghành, chúng tôi còn sử dụng phương pháp như nghiên cứu khu vực học vì đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống 12 con giáp trong khu vực Trung Quốc và Việt Nam Phương pháp khảo cứu lịch sử và so sánh lịch đại cũng được sử dụng

để thấy được sự thay đổi, chuyển di của hệ thống 12 con giáp ở Trung Quốc sang Việt Nam Bởi vì đây là một vấn đề mang tính trừu tượng, nó chỉ có thể hiện diện và xuất hiện khi được đưa vào ứng dụng Qua đó có thể thấy được sự thay đổi trong quá trình chuyển di một yếu tố văn hoá giữa hai quốc gia

Ngoài các thao tác phục vụ nghiên cứu trên, chúng tôi còn sử dụng phương pháp thống kê, liệt kê làm cơ sở tư liệu để phân tích và so sánh, để

từ đó có cái nhìn tổng quan hơn về sự giống nhau và khác nhau về hệ thống

12 con giáp ở Trung Quốc và Việt Nam

4.2 Cơ sở tư liệu

Nguồn tài liệu mang tính lý thuyết được sử dụng xuyên suốt trong luận văn Trên cơ sở nghiên cứu đã có về tính lý thuyết văn hóa, văn học,

Trang 17

lịch sử, Có thể nói với đề tài hệ thống 12 con giáp hầu như không được

đề cập đến trong bất kỳ một cuốn sử chính thức của một triều đại nhất định nào ở cả Trung Quốc và Việt Nam Tuy nhiên, vào giai đoạn nhà Tần – Hán đã có một số ghi chép về vấn đề 12 con giáp và can chi qua sách tre, đặc biệt là trong bộ “Nhật Thư” và “ Luận Hoàng”

Bên cạnh một số ít bộ sách chính sử còn được lưu giữ lại còn có một nguồn tài liệu hiếm hoi và hết sức quý giá là các công trình khảo cứu hoặc các ghi chép của một số học giả Trung Quốc về đề tài và những vấn đề liên quan đến 12 con giáp như cuốn “Thử luận nền tảng triết học của văn hoá 12 con giáp” của Hoàng Kiến Vinh hay như vấn đề địa chi cũng được học giả Thái Tiên Kim đề cập đến trong cuốn “Bước đầu tìm hiểu Địa chi nguyên nghĩa”, hoặc Nam Hoài Cẩn cũng có đề cập đến một số vấn đề liên quan đến 12 con giáp trong “Kinh dịch tạp thuyết” Tuy mức độ thông tin xuất hiện chưa được trọn vẹn, song người nghiên cứu vẫn có thể tìm chọn và chắt lọc các tri thức để phục vụ cho đề tài

Nguồn hệ thống tư liệu mang tính thực tiễn như quan sát, phỏng vấn các cách ứng dụng và vận hành hệ thống 12 con giáp trong cuộc sống của người dân Việt Nam và Trung Hoa ở một số khu vực nhất định của hai quốc gia cũng được sử dụng trong luận văn

Ngoài ra còn có nguồn tư liệu dã sử bao gồm các câu thơ hay truyền thuyết dân gian, câu truyện cổ tích về sự ra đời của 12 con giáp Cũng có một số tài liệu truyền miệng phản ánh tương đối khách quan về ước vọng

và niềm tin của người dân về 12 con vật được hệ thống hoá thành 12 con giáp đưa vào ứng dụng trong cuộc sống Nhưng đặc điểm chung của những

Trang 18

nguồn tư liệu này đều mang tính ước lệ và giải thích theo cảm tính Tuy nhiên, nếu có sự so sánh, đối chiếu với các tư liệu loại khác thì nguồn tư liệu truyền miệng cũng có thể cung cấp một nguồn thông tin dồi dào, phong phú và sinh động để có thể hiểu hơn về đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần của người dân Trung Quốc và Việt Nam thông qua hình tượng 12 con giáp

5 Những đóng góp cơ bản của luận văn

Luận văn là một công trình nghiên cứu có hệ thống về đề tài 12 con giáp ở Trung Quốc và Việt Nam Qua đó, chúng tôi đã tổng hợp, hệ thống hoá được các kết quả của các học giả đi trước và đề ra được một số bổ khuyết, bởi những nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung tìm hiểu dưới một góc độ nhất định và chưa đưa các lý thuyết này ứng dụng vào thực tiễn

để nghiên cứu Với đề tài này, sẽ là một đề tài có hệ thống trong việc tìm hiểu và so sánh sự tương đồng và dị biệt trong hệ thống 12 con giáp ở Trung Quốc và Việt Nam

Với đề tài “Tương đồng và khác biệt trong quan niệm 12 con giáp giữa Việt Nam và Trung Quốc”, chúng tôi còn tổng hợp được các nguyên

lý trong quá trình vận hành hệ thống 12 con giáp ở Trung Quốc và Việt Nam Từ đó có thể tìm ra được những thiên di văn hoá trong lịch sử cũng như hiện tại để từ đó có thể đề xuất những ý kiến trong việc bảo tồn, bảo lưu và phát triển các giá trị văn hoá truyền thống cổ xưa trong khu vực

6 Cấu trúc luận văn

Luận văn gồm 4 phần lớn: Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận

và tài liệu tham khảo

Trang 19

Phần nội dung gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về 12 con giáp

Chương 2: Tương đồng trong quan niệm 12 con giáp của Việt Nam và Trung Quốc

Chương 3: Khác biệt trong quan niệm 12 con giáp của Việt Nam và Trung Quốc

Trang 20

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ 12 CON GIÁP 1.1 Khái quát cơ tầng của 12 con giáp ở Trung Quốc và Việt Nam

1.1.1 Trung Quốc

Trung Quốc là quốc gia có diện tích lớn thứ tư trên thế giới Lãnh thổ của Trung Quốc trải dài và giáp với 14 nước, trong đó có Việt Nam Biên giới với các nước chủ yếu là núi cao, phía đông giáp biển, mở rộng

ra Thái Bình Dương

Về cơ bản, lãnh thổ Trung Quốc được chia làm 2 miền là miền Đông và miền Tây Nếu như miền Đông là nơi có các đồng bằng châu thổ rộng lớn, đất phù sa màu mỡ thì miền Tây Trung Quốc lại có các dãy núi cao, các sơn nguyên đồ sộ xen lẫn các bồn địa, vì thế kiến tạo địa lý của Trung Quốc đều bắt nguồn trực tiếp bởi các đường nét sơn văn và thuỷ văn

Về đường nét sơn văn: Vị trí kiến tạo của Trung Quốc bắt nguồn trực tiếp từ dãy Thiên Sơn, Côn Luân và Himalaya Vành cung Thiên Sơn và Himalaya đi về Tứ Xuyên, Vân Nam, kéo dài và kết thúc ở đất nước Malaixia Hệ thống đứt gãy của hệ các vành cung này lại nằm ở hệ thống đảo Indonexia thuộc khu vực Đông Nam Á nên cả Trung Quốc và Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam đều nằm trong một mạch kiến tạo chung và nó sẽ có một số nét tương đồng giữa hai khu vực

Về đường nét thuỷ văn: Khu vực miền Tây Trung Quốc có rất nhiều các dãy núi cao, đồ sộ với rất nhiều rừng và đồng cỏ; đây cũng là nơi bắt nguồn của các con sông lớn chảy về phía đông như sông Hoàng Hà, Trường Giang

và sông Lan Thương (Mê Kông)

Trang 21

Sông Lan Thương là một trong những con sông lớn nhất thế giới, bắt nguồn từ cao nguyên Thanh Tạng thuộc tỉnh Thanh Hải, chảy qua khu vực Tứ Xuyên, Vân Nam của Trung Quốc, đi qua Lào, Myama, Thái Lan, Cam pu chia và đổ ra Thái Bình Dương Cũng như đường nét sơn văn, đường nét thuỷ văn cũng đều nằm chung trong một hệ thống dòng chảy của sông Mê Kông nên không chỉ vấn đề tự nhiên mà vấn đề xã hội, con người giữa hai khu vực

là Trung Quốc và Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam cũng có sự tương đồng nhất định Không những thế, hệ thống hai sông lớn ở miền Bắc Việt Nam là sông Hồng và sông Thái Bình đều bắt nguồn từ cao nguyên Vân Nam của Trung Quốc nên tự nhiên và văn hoá Việt Nam cũng sẽ có sự ảnh hưởng nhất định với văn hoá Trung Hoa

Không phải con sông lớn nào cũng mang lại văn minh cho nhân loại, nhưng những nền văn minh lớn, văn minh đầu tiên của nhân loại đều bắt nguồn từ các con sông Khu vực bắt đầu cho các nền văn minh đều phụ thuộc vào một dòng sông Ví dụ nền văn minh Ai Cập gắn với con sông Nin, nền văn minh Babilon là sự gắn kết của hai con sông Tigơrơvà Ơphơrat, nền văn minh Ấn Độ là sự kết tinh của sông Ấn và sông Hằng thì nền văn minh Trung Hoa cũng là sự thăng hoa của hai dòng sông Hoàng Hà và Trường Giang Sông Hoàng Hà và Trường Giang đều bắt nguồn từ sơn nguyên Tây Tạng, chảy về phía đông rồi đổ ra Hoàng hải và biển Đông Trung Hoa Ở hạ lưu các con sông bồi đắp thành những đồng bằng rộng lớn, màu mỡ

Nền văn minh Trung Hoa bắt nguồn từ khu vực trung lưu và hạ lưu sông Hoàng Hà (tỉnh Thiểm Tây – Trung Quốc) Tuy nhiên, sông Hoàng Hà có chế

độ nước thất thường vì chảy qua các vùng khí hậu khác nhau Mùa đông lưu

Trang 22

lượng nước rất nhỏ, nhưng mùa hạ lưu lượng nước cực kỳ lớn do lượng băng tuyết tan ở thượng nguồn và mưa nên thường xảy ra lũ lụt, không thuận lợi cho sản xuất và phát triển nông nghiệp ở khu vực này.Vì thế với người Trung Hoa cổ, sự ra đời và phát triển nền văn minh của mình không phải bắt đầu từ nguồn nước và phù sa màu mỡ của con sông Hoàng Hà mà nền văn minh Trung Hoa nhận sự “ban ơn” từ chi lưu của con sông này Vùng đất Thiểm Tây phía bắc có núi cao, hiểm trở, phía nam có sông lớn và đồng bằng màu

mỡ, phì nhiêu nên thuận lợi cho việc trồng lúa, vì vậy về cơ bản, cội nguồn của văn hoá Trung Hoa là nông nghiệp

Bên cạnh hệ thống sông lớn, Trung Quốc còn có một hệ thống hồ rất lớn đặc biệt là xuôi xuống khu vực miền trung và miền nam Với cội nguồn là văn hoá sản xuất nông nghiệp ở chi lưu sông Hoàng Hà và hệ thống hồ mang tính chất tĩnh thì đặc trưng của văn hoá Trung Hoa là nền văn hoá trọng văn, thích yên tĩnh và ưa sự hoà mục,…Vấn đề này được biểu hiện rất rõ trong các học thuyết cũng như tư duy học của người Trung Quốc; nói theo cách khác, sự ra đời của tư duy và các học thuyết cổ Trung Hoa đều bắt nguồn và ảnh hưởng bởi các nét thuỷ văn trong đó có sông và hồ của người Hoa Hạ

Văn hoá Trung Hoa phát nguyên ở khu vực trung và hạ du của sông Hoàng Hà cách ngày nay khoảng 5000 năm, đây là một trong những nền văn hoá cổ xưa nhất của nhân loại Khi hoàn cảnh sinh tồn và điều kiện sinh sống của cư dân gốc được xác lập thì đó chính là cột mốc cho sự hình thành của một nền văn hoá Đây cũng chính là mối quan hệ giữa tự nhiên và con người

mà người Trung Hoa đã nâng lên thành những hệ tư tưởng, những học thuyết của riêng mình

Trang 23

Điều kiện tự nhiên của khu vực sinh sôi ra các nền văn minh cổ đại trên thế giới đều có những sự thuận lợi và khó khăn nhất định, và đó là quy luật tất yếu, không thể tránh khỏi Tuy nhiên chính những thuận lợi và khó khăn riêng

đã xác lập nên những nét khác biệt văn hoá của các cộng đồng dân tộc; con người là yếu tố quyết định cho cái riêng của nền văn hoá ấy vì con người là chủ thể quan trọng nhất cho một nền văn hoá Nếu như sinh sống trong một điều kiện tự nhiên quá khắc nghiệt thì con người sẽ dành toàn bộ tâm trí của mình để tự vệ trước cái “hung dữ”và sức mạnh huỷ diệt của tự nhiên; nhưng nếu sinh sống trong một môi trường tự nhiên quá thuận lợi, quá ưu việt sẽ làm cho tư duy của con người bị bó hẹp và không thể phát triển được Hai miền tam giác châu thổ rộng lớn và phì nhiêu của sông Trường Giang và Chu Giang không trở thành cái nôi của nền văn minh Trung Hoa mà sự khó khăn của con sông Hoàng Hà ở phía bắc lại là nơi hình thành nên cái nôi cho sự văn minh của người Trung Quốc Cũng chính bởi xuất phát điểm từ con sông Hoàng Hà nên tại khu vực này đã nảy sinh rất nhiều học thuyết, hệ tư tưởng, các phát kiến lớn của dân tộc Trung Hoa

Văn hoá của dân tộc Trung Hoa là sản phẩm, là thành tựu của cả hai nền văn hoá Đó chính là văn hoá du mục ở phía bắc và văn hoá nông nghiệp ở phía nam Nếu như văn hoá du mục trọng về tính “động” và sức mạnh thì văn hoá nông nghiệp thiên về tính “tĩnh” và sự hài hoà Tuy có sự khác biệt nhưng vẫn có sự hỗn dung nhất định Điều này thể hiện rất rõ trong các học thuyết của người Trung Hoa như âm dương, ngũ hành,…

Nhìn từ mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong buổi bình minh của nhân loại, bởi từ buổi sơ khai, sự hiểu biết của con người về tự nhiên còn nhiều hạn chế nên đã nảy sinh tư tưởng sùng bái tự nhiên “kính thiên”, “tôn

Trang 24

thiên mệnh”,… Sau đó, ý thức về tự nhiên ngày một cao hơn trong quá trình phát triển của chính mình, con người đã chuyển dần sự sùng bái thành chinh phục tự nhiên Người Trung Hoa cũng không phải là ngoại lệ, cũng nằm trong chu trình phát triển của nhân loại Khi ý thức được hình thành và dần thoát khỏi sự kì bí của yếu tố tôn giáo thì nó sẽ trở thành một bộ phận quan trọng cấu thành văn hoá dân tộc Trung Hoa Những quan niệm, tư duy về can chi,

âm dương, ngũ hành, bát quái,… chính là kết quả của sự phát triển trong ý thức của người Trung Quốc Từ chỗ lo lắng, sợ hãi trước tự nhiên nên sùng bái tự nhiên, người Trung Hoa đã chinh phục tự nhiên bằng cách quan sát để tìm ra hệ thống các quy luật vận động của tự nhiên để sinh tồn và phát triển Dân cư cổ Trung Hoa phân bố chủ yếu nằm ở vùng ôn đới Bắc bán cầu với hình thái kinh tế lấy nông nghiệp làm chủ thể Thời thượng cổ, khi môi trường canh tác tương đối ổn định, Trung Quốc đã bước qua ngưỡng cửa văn minh, thủ lĩnh thị tộc chuyển hoá thành giai cấp thống trị mới nổi nắm trong tay mọi quyền lực Cầu nối huyết thống và hệ thống hành chính quốc gia thống nhất làm một, kết tụ thành kết cấu tầng sâu của xã hội, hình thành xu hướng hướng nội, luân thường đạo lý, quần thể và tập quyền

Tại lưu vực sông Hoàng Hà và Trường Giang, thời cổ đại Trung Quốc

đã phát triển mô hình sản xuất cày sâu cuốc bẫm, dùng đồ sắt và trâu cày Từ đây đã hình thành nên một nền kinh tế nông nghiệp mang tính cá chất cá thể,

có mối quan hệ phụ thuộc nhân thân tương đối lỏng lẻo, và chế độ tư hữu ruộng đất cùng quan hệ giao kèo thuê ruộng

Đại lục Trung Hoa cách văn minh phương Tây khá xa, qua núi cao, sa mạc, đại dương, hình thành nên một đơn vị địa lý tương đối độc lập Trong không gian rộng rãi, được các vùng miền vây quanh, lại có các môi trường

Trang 25

như đất đai màu mỡ, rộng lớn thích hợp cho việc canh tác, có thảo nguyên, duyên hải thích hợp với chăn thả, buôn bán, đánh cá, làm muối Những môi trường sinh tồn phong phú đa dạng này có lợi cho việc giao lưu xã hội và các yếu tố bổ sung lẫn nhau

Thời cổ Trung Quốc dựa vào sức sản xuất tiên tiến và ưu thế chỉnh thể thống nhất, đã sáng tạo nên bốn phát minh lớn đánh dấu văn minh cổ đại huy hoàng chói lọi, giữ vị trí hàng đầu trên thế giới trong một thời gian dài

1.1.2 Việt Nam

Nước Việt Nam nằm ở đông nam lục địa châu Á, bắc giáp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, tây giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và vương quốc Campuchia, đông và nam giáp Thái Bình Dương Từ thời cổ sinh của trái đất (cách ngày nay từ 185 - 520 triệu năm) đây đã là một nền đá hoa cương, vân mẫu và phiến ma nham vững chắc, tương đối ổn định Vào kỷ thứ

ba của thời tân sinh (cách ngày nay khoảng 50 triệu năm) toàn lục địa châu Á được nâng lên và sau nhiều biến động lớn của quả đất, dần dần hình thành các vùng đất của Đông Nam Á

Sự hình thành lâu đời và bền vững của lục địa châu Á đã ảnh hưởng rất lớn đến sự ra đời của con người và xã hội trong khu vực Năm 1892, nhà bác học Hà Lan Ơgien Duy boa (Engène Dubois) đã tìm thấy hài cốt của người vượn Java, sống cách đây khoảng 180 vạn năm Việc phát hiện hài cốt người nguyên thủy trong các thập niên qua đã chứng tỏ rằng Đông Nam Á là một trong những quê hương của loài người

Địa hình vùng đất liền của Việt Nam khá đặc biệt với hai đầu phình ra (Bắc bộ và Nam bộ) ở giữa thu hẹp và kéo dài (Trung bộ) Địa hình miền Bắc

Trang 26

tương đối phức tạp Rừng núi trải dài từ biên giới Việt Trung cho đến tây Thanh Hóa với nhiều núi cao như Phanxipăng (3.142m), nhiều khu rừng nhiệt đới, và nhiều dãy núi đá vôi như Cao Bằng, Bắc Sơn, Hòa Bình, Ninh Bình, Phong Nha - Kẻ Bàng với hàng loạt hang động, mái đá Cùng với nhiều loại thực vật khác nhau, rừng Việt Nam còn có hàng trăm giống thú vật quý hiếm; nhiều loại đá, quặng, tạo điều kiện đặc biệt thuận lợi cho sự sinh sống

và phát triển của con người

Địa hình Trung bộ với dải Trường Sơn trải dọc phía tây về giải đồng bằng hẹp ven biển Vùng đất đỏ Tây Nguyên ,vùng ven biển Trung bộ và cực nam Trung bộ, nơi cư trú của đồng bào nhiều dân tộc trong đại gia đình dân tộc Việt Nam

Địa hình Nam Bộ bằng phẳng, thoải dần từ đông sang tây là vựa lúa của

cả Việt Nam, hàng năm vẫn tiếp tục lấn ra biển

Nằm trong khoảng 8"30' - 23"22' độ vĩ bắc với một chiều dài khoảng

1650 km, Việt Nam thuộc khu vực nhiệt đởi gần xích đạo Nhờ gió mùa hàng năm, khí hậu điều hòa, ẩm, thuận lợi cho sự phát triển của sinh vật

Việt Nam có nhiều sông ngòi Hai con sông lớn Hồng Hà và Cửu Long bắt nguồn từ cao nguyên Vân Nam (Trung Quốc) bồi đắp lên hai châu thổ lớn là đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam còn có hệ thống sông ngòi phân bổ đều khắp từ bắc tới nam với lưu vực lớn, nguồn thuỷ sản phong phú, tiềm năng thuỷ điện dồi dào thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và tụ cư của con người, hình thành nền văn minh lúa nước lâu đời của người Việt bản địa

Xét về mặt vị trí địa lý, phía bắc Việt Nam tiếp giáp với Trung Quốc; hệ thống hai con sông lớn ở Việt Nam là sông Hồng và sông Cửu Long đều bắt

Trang 27

nguồn từ Trung Quốc Hơn nữa, về mặt khí hậu, khí hậu Việt Nam, đặc biệt

là miền bắc Việt Nam có nhiều nét tương đồng với hình thái khí hậu của khu vực miền nam Trung Quốc Về vấn đề con người, người Việt vốn là dân tộc

có nguồn gốc từ cộng đồng Lạc Việt, một số khu vực của Trung Quốc, đặc biệt là các khu vực xuôi về phía Nam, nguồn gốc và chủ thể của cộng đồng người trong lịch sử là Âu Việt Hay nói cách khác, người Lạc Việt và người

Âu Việt đều nằm trong một cộng đồng Bách Việt nên sẽ có rất nhiều nét tương đồng về con người, lối sống, hình thái văn hoá,…Quan trọng nhất, trong quá trình lịch sử lâu dài, người Việt đã có sự ảnh hưởng rất lớn của văn hoá Trung Hoa Với căn bản là các điều kiện tự nhiên, lịch sử có nét tương đồng, cộng thêm một quá trình giao lưu, tiếp biến lâu dài thông qua nhiều hình thức nên qúa trình tiếp nhận văn hoá Trung Hoa nói chung và các học thuyết của cộng đồng người Hoa Hạ nói riêng của người Việt là một vấn đề rất cơ bản và tự nhiên

1.2 Nguồn gốc sự hình thành thiên can địa chi

1.2.1 Ngũ hành

Người cổ đại xưa kia sống trong một điều kiện cực kỳ lạc hậu, phải trải qua một quá trình đấu tranh gian khổ với thiên nhiên Vì sự sinh tồn, con người bắt buộc phải vận động bằng cách quan sát, tìm tòi, nghiên cứu, đúc kết các kinh nghiệm về quy luật vận động của tự nhiên, của vũ trụ để có thể chung sống một cách hoà bình với thiên nhiên

Căn cứ nhận xét lâu đời về thế giới tự nhiên, người xưa đã thấy được sự biến hoá không ngừng của sự vật: Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh

tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái[1, tr25]; bát quái tương tác lẫn nhau, biến hoá

Trang 28

vô cùng để tạo ra vạn vật, thế giới Ngoài ra, người xưa còn thấy được cơ cấu của sự biến hoá không ngừng là sự ức chế lẫn nhau, giúp đỡ ảnh hưởng lẫn nhau, nương tựa lẫn nhau và thúc đẩy lẫn nhau

Để biểu thị sự biến không ngừng và quy luật của sự biến hoá đó, người xưa

đã đặt ra học thuyết âm dương Âm dương không phải là thứ vật chất cụ thể nào

mà là thuộc tính mâu thuẫn nằm trong tất cả mọi sự vật, sự việc Trong quá trình đối lập và chuyển hoá của hai cặp âm cực và dương cực, cùng nhau dung nạp và tương khắc mà sinh ra 5 loại vật chất cơ bản gọi là Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ Tinh thần cơ bản của thuyết ngũ hành bao gồm hai phương diện giúp đỡ nhau gọi là tương sinh và chống lại nhau gọi là tương khắc

Kim: những gì cứng rắn, kiên cố đều là Kim, thời thượng cổ không phân loại vật chất như bây giờ, khi ấy những thứ có tính năng cứng rắn, kiên cố trong thế giới vật chất đều được đại diện bằng chữ Kim

Mộc: đại diện cho cây cỏ, cho công năng sinh và căn nguyên của sự sống Cây cỏ bị chặt, chỉ cần còn rễ là có thể mọc trở lại Nhà thơ Bạch Cư Dị

có câu thơ “ly ly nguyên thượng thảo, nhất tuế nhất khô vinh, dã hoả thiêu bất tận, xuân phong khảm hựu sinh” có nghĩa là cỏ trên cánh đồng bời bời, mỗi năm một lần úa và một lần tươi, lửa đồng đốt không bao giờ cháy hết, khi gió xuân thổi lại sinh sôi nảy nở Đây là công năng của Mộc, nó có sức sống rất mạnh, Mộc đại diện cho sự sống

Thuỷ đại diện cho tính lưu động, tác dụng tuôn chảy, không ngừng nghỉ Hoả đại diện cho nhiệt năng.Thổ đại diện cho trái đất.Vì thế chúng được gọi

là ngũ hành bởi năm thứ này biến hoá lẫn nhau, tương tác với nhau, sự biến hoá, tương tác gọi là sinh và khắc

Trang 29

Văn hoá thiên can cũng đã rất cổ xưa Thiên can địa chi có thể tìm được

từ giáp cốt văn Thứ khoa học mà người Trung Quốc phát triển sớm nhất là thiên văn, khi phát triển đến mức độ cao thì quy nạp lại, dùng 10 ký hiệu để đại diện 10 ký hiệu này được gọi là thiên can Thiên can chính là quy tắc của ngũ hành, có nghĩa là trong hệ mặt trời, trái đất và các tinh tú bên ngoài tác động lẫn nhau Nói theo vật lý thiên văn ngày nay thì là công năng bức xạ của trái đất và các tinh tú, thu hút lẫn hau và tác động lẫn nhau Người Trung Quốc từ xưa đã hiểu, đối với sự vận động của các thiên thể, sự vận động của thế giới vật lý, họ dùng Mộc, Hoả, Thổ, Kim, Thuỷ để đại diện, thể hiện nguyên lý tương sinh tương khắc Nhưng khi văn hoá đã phát triển, nguyên tắc sinh khắc của ngũ hành không đủ dùng, nên người xưa đã phát hiện ra tác dụng song trùng của ngũ hành, đối với các thực thể trong thế giới vật lý, họ lại dùng mười chữ làm ký hiện, đó là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý và sắp xếp theo phương Phương đông là Giáp Ất Mộc, phương nam là Bính Đinh Hoả, phương Tây là Canh Tân Kim, phương Bắc là Nhâm Quý Thuỷ, trung ương là Mậu Kỷ Thổ

1.2.3 Địa chi

Hệ chi có 12 yếu tố: Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi Chúng gồm 6 cặp âm dương do Ngũ hành biến hoá mà ra, cho nên

Trang 30

được gọi là thập nhị chi hay địa chi Tên mỗi chi ứng với một con vật sống trên mặt đất, gần gũi với cuộc sống của người nông dân, hoặc theo trí tưởng tượng

Hệ can và hệ chi có thể được dùng độc lập như những hệ đếm 10 và 12

Hệ chi phổ biến hơn, dùng để chỉ 12 giờ trong một ngày Ngày khởi đầu bằng giờ Tí vào lúc nửa đêm, từ 23 giờ đến 1 giờ khi dương khí bắt đầu sinh ra, 12 tháng trong một năm: năm khởi đầu với tháng Tí, lúc giữa đông, khi dương khí bắt đầu sinh ra

Ngũ hành can chi có mỗi liên hệ mật thiết với thiên văn, vật lý địa cầu Theo quan niệm hiện đại, trái đất vận hành trong hệ mặt trời, tương tác với các tinh tú khác, có một sức mạnh hỗ trợ, đó chính là địa chi

Có 10 thiên can, ngũ hành của từng can phân thành hai cực, tức là sự biến đổi âm dương của ngũ hành Chi là sáu số, đạo âm dương sản sinh, biến hoá mà thành 12 số Có 12 địa chi, đại diện cho 12 tháng Trên thực tế địa chi

là ký hiệu chỉ 12 cung hoàng đạo trong thiên văn Cung ở đây là bộ vị, hoàng đạo là đường biểu kiến của mặt trời mọc ở phía đông, lặn ở phía tây, một vòng như vậy được gọi là mặt hoàng đạo

Phối hợp các can chi với nhau được hệ đếm gồm 60 đơn vị với các tên gọi như Giáp Tí, Ất Sửu,…Quý Hợi,… gọi là hệ can chi hay lục giáp

Lục thập hoa giáp bắt nguồn từ can chi, thiên can phối với địa chi đại diện cho sự biến đổi của vạn vật; trong đó sự biến đổi của khí tượng là lớn nhất, cũng là

rõ ràng nhất Sự biến đổi của vạn vật mỗi thứ một khác nên dùng sự phối hợp với can chi để biểu thị, hơn nữa là can dương phối với chi dương, can âm phối với chi

âm, dương phối với dương, âm phối với âm, luân lưu kết hợp theo thứ tự sẽ được

60 tổ hợp, thành một chu kỳ, rồi lại bắt đầu từ Giáp Tý, gọi là lục thập hoa giáp

Trang 31

Sự kết hợp của lục thập hoa giáp ghi lại sự vận hành của thiên thể, 60 năm là một vòng quay lớn Trong thiên văn học, mặt trời và trái đất một ngày

đi một độ, đi hết 365 độ và ¼ độ là một năm; lấy 365 ngày làm một năm, nếu

có số dư lại thành tháng nhuận, đây là cách tính âm lịch, còn dương lịch thì mỗi năm có 7 tháng là 31 ngày, vì phương pháp khác nhau nên con số cũng khác nhau, nhưng tính theo lục thập hoa giáp thì con số vũ trụ trong hàng vạn năm cũng không thể sai được

1.2.4 Mười hai con giáp

Con giáp của 12 địa chi, Tý là chuột, Sửu là trâu, Dần hổ, Mão thỏ, Thìn rồng, Tỵ rắn, Ngọ ngựa, Mùi dê, Thân khỉ, Dậu gà, Tuất chó, Hợi lợn Những con giáp này có thể được du nhập từ Ấn Độ vào thời kỳ nhà Hán 12 địa chi của người Ấn khi ấy không hoàn toàn giống của người Trung Quốc, mà dùng các ký hiệu trừu tượng để đại diện, dùng động vật để đại diện, sau đó trở thành cách giải thích theo văn hoá Trung Quốc Trong sách “Cổ kim đồ thư tập thành – can chi bộ” viết “lấy thiên cầm, địa diệu của nhị thập bát tú phân trực trên trời, để ghi lại 12 canh giờ, đó là khởi nguồn của 12 con giáp”

Theo sách cổ Trung Quốc, nguồn gốc ra đời của 12 con giáp gắn liền với Con đường tơ lụa Người xưa tin rằng, những con vật này đều được Đức Phật gửi tới, tuy nhiên không phải ai cũng đồng ý quan điểm này

Theo một số nhà chiêm tinh của Trung Quốc, sự xuất hiện của 12 con giáp gắn liền với các bộ lạc du mục cổ đại và họ thường săn bắt được những con thú này trong những khoảng thời gian nhất định của năm

Tại Trung Quốc, có rất nhiều câu chuyện dân gian về 12 con giáp như Ngọc Hoàng mời các loài động vật lên để làm biểu tượng cho lịch thì đây là

Trang 32

12 con vật nhanh nhất Còn trong 1 câu chuyện khác Ngọc Hoàng lại cần đến

12 vệ sĩ của cung điện nên ông tổ chức 1 cuộc thi đối với các loài động vật

Dù sao, ở bất kỳ phiên bản nào, đây đều là những loài động vật rất thân thiện với con người Điều nhiều người thắc mắc là vì sao con chuột lại đứng đầu tiên trong cuộc thi này không phải vì nó nhanh nhất mà là vì nó thông minh nhất Cũng nhờ bản tính vốn có của mỗi con vật nên mỗi người sinh ra tương ứng với con vật nào sẽ có những đặc trưng của con vật ấy Tuy nhiên, nhiều người có thể sinh cùng ngày cùng năm, nhưng mỗi người đều có số phận khác nhau Điều này là bởi họ sinh khác nhau về giờ

Việc tính giờ theo can chi cũng phần nào liên quan đến tập tính của các con vật Từ đây cũng có thể biết được khái quát tính cách của một người thông qua tuổi của họ

Người mang tuổi Tý rất duyên dáng và hấp dẫn người khác phái Tuy nhiên, họ rất sợ ánh sáng và tiếng động Người mang tuổi này rất tích cực và năng động nhưng họ cũng thường gặp lắm chuyện vặt vãnh Người mang tuổi

Tý cũng có mặt mạnh vì nếu Chuột xuất hiện có nghĩa là phải có lúa trong bồ Trâu tượng trưng cho sự siêng năng và lòng kiên nhẫn, có tiến triển vững vàng nhưng chậm và một sức mạnh bền bỉ; người mang tuổi Sửu thường có tính cách thích hợp để trở thành một nhà khoa học Trâu biểu tượng cho mùa Xuân

và nông nghiệp vì gắn liền với cái cày và thích đầm mình trong bùn Người mang tuổi này thường điềm tĩnh và rất kiên định nhưng rất bướng bỉnh

Khi cọp trở về hang sau khi đi rình mò trong đêm nên một số người mang tuổi hổ thường rất dễ nổi giận, thiếu lập trường nhưng họ có thể rất mềm mỏng và xoay chuyển cá tính cho thích nghi với hoàn cảnh Hổ là chúa

Trang 33

tể rừng xanh, thường sống về đêm và gợi lên những hình ảnh về bóng đen và giông tố

Mèo tượng trưng cho những người ăn nói nhẹ nhàng, nhiều tài năng, nhiều tham vọng và sẽ thành công trên con đường học vấn Họ rất xung khắc với người tuổi Tý Người tuổi Mão có tinh thần mềm dẻo, tính kiên nhẫn và biết chờ thời cơ trước khi hành động

Rồng chỉ là con vật do con người tưởng tượng ra, chứ không có thực Con rồng trong huyền thoại của người phương Đông là tính Dương của vũ trụ, biểu tượng uy quyền hoàng gia Theo đó, rồng hiện diện ở khắp mọi nơi, dưới nước, trên mặt đất và không trung Rồng là biểu tượng của nước và là dấu hiệu thuận lợi cho nông nghiệp Người tuổi Rồng rất trung thực, năng nổ nhưng rất nóng tính và bướng bỉnh Họ là biểu tượng của quyền lực, sự giàu

có, thịnh vượng và của hoàng tộc

Người tuổi rắn nói ít nhưng rất thông thái, họ thích hợp với vùng đất ẩm ướt Rắn tượng trưng cho sự tiến hóa vĩnh cửu của tuổi tác và sự kế vị, sự phân hủy và sự nối tiếp các thế hệ của nhân loại Người tuổi rắn rất điềm tĩnh, hiền lành, sâu sắc và cảm thông nhưng thỉnh thoảng cũng hay nổi giận, họ rất kiên quyết và cố chấp

Ngựa có dương tính cao Người tuổi Ngọ thường ăn nói dịu dàng, thoải mái và rộng lượng Do đó, họ dễ được nhiều người mến chuộng nhưng họ ít khi nghe lời khuyên can Người tuổi này thường có tính khí rất nóng nảy Tốc

độ chạy của ngựa làm người ta liên tưởng đến mặt trời rọi đến trái đất hàng ngày Trong thần thoại, mặt trời được cho là liên quan đến những con ngựa đang nổi cơn cuồng nộ Tuổi này thường được cho là có tính thanh sạch, cao

Trang 34

quý và thông thái Người tuổi này thường được quý trọng do thông minh, mạnh mẽ và đầy thân ái tình người

Người mang tuổi Mùi thường rất điềm tĩnh nhưng nhút nhát, rất khiêm tốn nhưng không có lập trường Họ ăn nói rất vụng về, vì thế họ không thể là người bán hàng giỏi nhưng họ rất cảm thương người hoạn nạn và thường hay giúp đỡ mọi người Họ thường có lợi thế vì tính tốt bụng và nhút nhát tự nhiên của họ

Người tuổi Thân thường là một nhân tài có tính cách thất thường Họ rất tài ba và khéo léo trong các vụ giao dịch tiền bạc Người tuổi này thường rất vui vẻ, khéo tay, tò mò và nhiều sáng kiến, nhưng họ lại nói quá nhiều nên dễ

bị người khác xem thường và khinh ghét Khuyết điểm của họ nằm trong tính khí thất thường và không nhất quán

Năm Dậu tượng trưng cho một giai đoạn hoạt động lao động cần cù siêng năng vì gà phải bận rộn từ sáng đến tối Cái mào của nó là một dấu hiệu của sự cực kỳ thông minh và một trí tuệ bác học Người sinh vào năm Dậu được xem là người có tư duy sâu sắc Đồng thời, gà được coi là sự bảo vệ chống lại lửa Người sinh vào năm Dậu thường kiếm sống nhờ kinh doanh nhỏ, làm ăn cần cù như "một chú gà bới đất tìm sâu."

Năm Tuất cho biết một tương lai thịnh vượng Trên khắp thế giới, chó được dùng để giữ nhà chống lại những kẻ xâm nhập Những cặp chó đá thường được đặt hai bên cổng làng để bảo vệ Năm Tuất được tin là năm rất an toàn

Lợn tượng trưng cho sự giàu có vì loài lợn rừng thường làm hang trong những khu rừng Người tuổi Hợi rất hào hiệp, ga lăng, tốt bụng và dũng cảm nhưng thường rất bướng bỉnh, nóng tính nhưng siêng năng và chịu lắng nghe

Trang 35

1.3 Mười hai con giáp nhìn từ sinh thái học

Nền văn minh của dân tộc Trung Hoa bắt nguồn từ hệ thống sông Hoàng

Hà Bên cạnh nền văn minh sông Hoàng Hà, xuôi xuống vùng phía nam, cộng đồng người Hoa còn có một nền văn minh rực rỡ không kém với nền văn minh Hoàng Hà là văn minh từ dòng sông Trường Giang Đã có nhiều ý kiến khác nhau về những nền văn minh này, nhưng tất cả đều nhận định, nền văn minh Trung Hoa cũng giống như bao nền văn minh của các nước phương phương Đông khác, đều mang trong mình xuất phát điểm từ nông nghiệp

Từ xa xưa và cho đến tận bây giờ, công việc sản xuất nông nghiệp luôn gắn liền và phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên Vào thời cổ xưa, khi mà khoa học kĩ thuật chưa phát triển, con người đều dựa vào tự nhiên để sinh tồn và phát triển, chính vì thế quá trình lâu dài đó còn được hiểu là một quá trình vừa chinh phục, vừa sợ hãi, vừa sùng bái tự nhiên

Sản xuất nông nghiệp không chỉ đơn thuần là trồng các cây lương thực, các cây nông nghiệp như lúa, ngô, khoai, sắn, các cây thuộc dòng đậu, đỗ mà bên cạnh đó, sản xuất nông nghiệp còn gắn liền với việc chăn nuôi của con người

Đã có một số con vật, qua một quá trình thời gian lâu dài, người cổ xưa

đã thuần hoá nó, để nó trở thành người bạn với con người và thân thuộc với cuộc sống của con người như con chó, con mèo, … Cũng có một số con vật, người xưa đã tận dụng sức kéo của nó để phục vụ cho công cuộc sản xuất nông nghiệp như con trâu, con ngựa,… Cũng có một số con vật đã được con người nuôi để tăng gia sản xuất hoặc để cung cấp chất dinh dưỡng trong bữa

ăn hàng ngày như con lợn, con gà Cũng có một số con vật sống trong tự

Trang 36

nhiên nhưng ảnh hưởng không tốt đến việc sản xuất nông nghiệp của người dân như con chuột, con rắn,… Ngoài ra, còn có con vật không có thật, nhưng với ước mong mưa thuận gió hoà, phát triển, sinh sôi nảy nở mà người xưa đã liên tưởng đến nó và hoá thân nó thành một hình tượng kì vĩ là hình tượng con rồng

Trong văn hóa phương Đông, chuột tồn tại sóng đôi với nghề nông nghiệp, đặc biệt là cây lúa Trên những cánh đồng lúa bạt ngàn, loài chuột cùng kiếm ăn, sinh sôi nảy nở Mặc dù có những biểu tượng tiêu cực nhưng trong 12 con giáp, chuột chiếm vị trí đầu tiên Đó là vì theo văn hoá cổ Trung Hoa về nguồn gốc vạn vật thì: Trời mở hội ở Tí, Đất mở hội ở Sửu, Người mở hội ở Dần,… tạo thành Tam Tài ( Thiên, Địa, Nhân) Vì vậy, tính Năm phải lấy Trời làm Khởi (Tí); tính Mùa phải lấy Đất làm Nền (Sửu); tính Tháng phải lấy Sửu làm Phát Các nhà bốc phệ thường bấm ngón tay; vì Tí thuộc Trời nên đứng đầu, số 1 khởi Thuỷ, số dương Sửu thuộc Đất - thứ 2 thuộc

âm Dần đứng đầu các vật, thuộc người, cách Tiên Thiên nên cũng thuôc dương, tháng Giêng bao giờ cũng là tháng Dần Mang cốc theo cung Tí (năm); cung Dần (tháng),…

Điều này cho thấy người dân phương Đông vẫn dành cho sự hiện diện của linh vật này một chỗ đứng trang trọng, trước cả hổ, rồng

Trong văn hoá đại chúng, hình tượng con trâu phổ biến trong văn hoá phương Đông và gắn bó với cuộc sống người dân ở vùng Đông Nam Á và Nam Á, đặc biệt là trong văn hóa Việt Nam Trong văn hóa phương Đông, trâu là một trong 12 con giáp còn được gọi là Sửu, đứng ở vị trí thứ 2, đồng thời là gia súc đứng đầu lục súc gồm trâu, chó, ngựa, dê, gà, lợn Trâu có vai

Trang 37

trò cực kỳ quan trọng trong nông nghiệp lúa nước Trâu là con vật dùng vào việc lễ tế thần thánh Từ khi được thuần hóa, trâu là một trong những con vật rất gần gũi với con người

Hình tượng con hổ hay chúa sơn lâm đã xuất hiện từ lâu đời và gắn bó với lịch sử của loài người Trong nhiều nền văn hoá khác nhau trên thế giới, hình ảnh con hổ gợi lên những liên tưởng về sức mạnh, sự thanh thế, oai linh,

vẻ đẹp rực rỡ nhưng đầy bí hiểm, sự uyển chuyển với cơ thể vằn vện thấp thoáng lượn sóng cũng như tính hung hãn, thú tính của một dã thú là động vật săn mồi hàng đầu và là một biểu tượng của đẳng cấp chiến binh đồng thời toát lên vẻ đẹp khôi vĩ và sức mạnh

Về bản chất tự nhiên, hổ là dã thú có sức mạnh, to khỏe, nhanh nhẹn, thuần thục về kỹ thuật chiến đấu, thành thạo về kỹ năng săn mồi, loài vật này còn đặc trưng bởi tính hung dữ, táo bạo, liều lĩnh, dám tấn công hay đối địch nhiều thú to khỏe khác cùng với tiếng gầm rống rung chuyển núi rừng, gây khiếp đảm cho muôn loài và còn là động vật tinh khôn từ đó hổ được người ta tôn lên vị trí Chúa tể của rừng núi và coi hổ là con vật linh thiêng

Loài thỏ được con người biết đến đầu tiên đó là những con thỏ châu

Âu vào khoảng 1000 năm trước công nguyên bởi những người xứ Phoenician Thỏ rừng châu Âu là loài thỏ duy nhất được thuần hóa Thỏ vừa được xem là thú nuôi, làm thực phẩm (thịt thỏ) và cũng là những kẻ phá hoại ruộng vườn Mèo đã sống gần gũi với loài người ít nhất 9.500 năm, cho đến gần đây, mèo được cho rằng đã bị thuần hóa trong thời kỳ Ai Cập cổ đại, nơi chúng được thờ cúngvà hiện nay chúng là con vật phổ biến nhất trên thế giới với hơn 600 triệu con và mèo đã trở thành con vật quen thuộc của nhiều gia đình,

là người bạn thân thiết của con người

Trang 38

Mèo có nhiều loại và có nhiều bộ lông khác nhau Tuỳ theo bộ lông mà người ta gọi mèo trắng (lông màu trắng), mèo mướp (lông màu xám có vằn đen nhạt), mèo nhị thể (lông hai màu thường là đen trắng hoặc vàng xám hay vàng trắng), mèo tam thể (lông ba màu thường là vàng, trắng, xám…), mèo đen (lông đen tuyền) Mèo đen có nơi gọi là linh miêu Trong các nền văn hóa khác nhau trên thế giới, ý nghĩa biểu tượng của mèo rất không thuần nhất, vừa xấu vừa tốt Điểu này có thể giải thích bằng thái độ vừa dịu dàng, vừa vờ vĩnh của con vật này

Rồng là một biểu tượng văn hoá, ra đời từ sự nỗ lực của con người trong việc tìm hiểu và nhận thức thế giới tự nhiên Ở phương Đông, rồng là biểu tượng của bản nguyên tích cực và sáng tạo, là sức mạnh của sự sống Nguồn gốc sâu xa của biểu tượng này là do điều kiện tự nhiên như địa lý, khí hậu và

xã hội như lịch sử, kinh tế quy định Ở Trung Hoa xưa, con người xem rồng là tinh linh núi, là thần linh bảo hộ năm vùng, nghĩa là bốn phương và vùng trung tâm; là kẻ bảo hộ năm hồ, bốn biển Trong quá trình hình thành và phát triển các dân tộc phương Đông, rồng dần được gán thêm các ý nghĩa mới, phù hợp với tính chất của thời đại như biểu tượng nguồn gốc dân tộc, vương quyền, cao sang, may mắn, thịnh vượng,…

Rắn là loài sinh vật có mặt nhiều nơi trên trái đất Trong một số nền văn hoá, rắn là một siêu biểu tượng, biểu trưng cho sự sống (tính đa giá trị và mâu thuẫn tự thân): cho vật tổ (totem) của tộc người, cho nước và lửa, cho linh hồn

và nhục dục, huỷ diệt và tái sinh, sự linh hoạt và thụ động, quyết đoán và đa nghi… Chính nét đặc trưng sinh học của loài rắn đã góp phần quyết định ý nghĩa biểu tượng của nó: cách di chuyển uyển chuyển và sự siết chặt trong

Trang 39

động tác bắt mồi khiến nó biểu trưng cho sức mạnh; sự lột da biểu trưng cho

sự tái sinh; nọc độc của rắn có liên hệ đến đặc tính xấu; tính lưỡng giới tượng trưng cho khởi nguồn của vũ trụ; thân hình rắn là một đường ngoằn ngoèo không đầu không đuôi kéo dài vô tận hoặc là một đường tròn thể hiện tính luân hồi của sống và chết

Ngựa vốn là loài vật gắn bó với con người Nó nằm trong “lục súc” - 6 loại gia súc nuôi trong nhà như ngựa, trâu/bò, cừu/dê, chó và lợn Trước khi kết thúc thời đại đồ đá mới, các cư dân Á Đông đã thuần hóa thành công 6 loại gia súc này trước tiên

Ngựa là con vật thông minh, khôn ngoan, sống gần người và được con người yêu quý Trong đời sống vất vả, ngựa không chê chủ nghèo mà luôn trung thành, cần mẫn lao động với chủ Khi xông pha trận mạc, ngựa lại kề vai sát cánh, cùng chung sinh tử với chiến binh Xuất phát từ đặc điểm tự nhiên của loài ngựa mà hình tượng con ngựa luôn đại diện cho những gì đẹp

đẽ Ngựa vừa có dáng vẻ đẹp đẽ, tính cách mạnh mẽ, sức lực sung mãn, vừa

có đức tính trung thành, tình nghĩa thủy chung

Từ thời tiền sử hình tượng con dê đã xuất hiện trong đời sống văn hóa, nghệ thuật, vật chất và tâm linh của nhân loại từ Đông sang Tây Dê là động vật được con người thuần dưỡng rất sớm Trên đầu dê với bộ sừng uốn cong, hình tượng ấy đã được khắc vẽ trên các vách đá, hang động cách đây khoảng 10- 20 nghìn năm

Bản tính của dê là một động vật hiền lành, dễ thuần dưỡng và rất thân thiện với con người Do vậy, sự ảnh hưởng của nó lại rất mạnh mẽ, phong phú, đa dạng và tích cực tới đời sống văn hóa, nghệ thuật của nhiều dân tộc và

Trang 40

quốc gia trên thế giới Đặc biệt là ý nghĩa tinh thần, văn hóa tâm linh và mang tính biểu tượng nghệ thuật cao Ở Trung Quốc, dê sống rất gần gũi với con người, nên có nhiều điển tích rất lý thú và hấp dẫn về dê trong đời sống, văn hóa xã hội Một trong những điển tích nổi tiếng là điển tích Dương xa (tức xe dê kéo)

Trong các nền văn hóa, hình ảnh con khỉ thường là biểu tượng cho sự nghịch ngợm, tinh ranh, láu lỉnh, nhanh nhẹn Cũng có khi, khỉ trở thành biểu tượng thần thánh như Tôn Ngộ Không trong văn hóa Trung Hoa, hay Hanuman trong văn hóa Ấn Độ

Trong văn hóa Trung Quốc, văn chương thời xưa cho khỉ là loài cao quý, ví như người quân tử chốn rừng xanh Có những câu chuyện dân gian còn thêu dệt nên sự huyền bí cho loài khỉ, khi cho rằng chúng có thể sống tới nghìn năm, rồi thành tinh, hóa thành người Hình tượng khỉ nổi tiếng nhất trong văn hóa Trung Hoa phải kể tới nhân vật Tôn Ngộ Không - nhân vật chính trong bộ tiểu thuyết “Tây Du Ký”

Con gà, đặc biệt là gà trống, hiện diện trong nhiều nền văn hóa phương Đông và phương Tây Là vật nuôi được con người thuần hóa từ lâu trong lịch

sử, gà gắn bó với cuộc sống con người, nhất là trong tôn giáo và thần thoại

Từ thời cổ đại, gà đã là loài vật linh thiêng trong nhiều nền văn hóa, gắn chặt với nhiều hệ thống tín ngưỡng, hoạt động thờ cúng tôn giáo, với tư cách của một lễ vật Gà có vai trò quan trọng trong đời sống xa xưa, đặc biệt ở vùng nông thôn, tiếng gà trống gáy là tiếng đồng hồ báo thức cho con người,

là vẻ đẹp về thanh âm của những vùng quê yên ả

Ngày đăng: 11/05/2020, 19:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w