1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mười năm quan hệ đối tác chiến lược việt nam ấn độ (2007 2017)

103 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

* Ở trong nước, tài liệu liên quan đến quan hệ Việt Nam - Ấn Độ được đề cập trong các luận văn, bài viết, ấn phẩm chuyên ngành của Việt Nam, đáng chú ý là công trình nghiên cứu, bài viế

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ QUẾ

XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG

Chủ tịch hội đồng chấm luận văn

thạc sĩ khoa học

Giáo viên hướng dẫn

GS.TS Hoàng Khắc Nam PGS.TS Nguyễn Thị Quế

Hà Nội - 2019

Trang 3

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,

kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong

bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Tạ Trần Phương Nhung

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 5

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 7

4 Phạm vi nghiên cứu của luận văn 8

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài 8

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 9

7 Kết cấu của đề tài 9

Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC VIỆT NAM - ẤN ĐỘ TỪ 2007 ĐẾN 2017 10

1.1 QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC

VIỆT NAM - ẤN ĐỘ 10

1.2 NHÂN TỐ KHÁCH QUAN 13

1.2.1 Tình hình thế giới từ 2007 đến 2017 13

1.2.2 Tình hình khu vực Châu Á - Thái Bình Dương hiện nay 15

1.3 NHÂN TỐ CHỦ QUAN 17

1.3.1 Khái quát về quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trước năm 2007 17

1.3.2 Việt Nam - Ấn Độ trong chính sách đối ngoại của mỗi nước 22

1.3.3 Tình hình Việt Nam và Ấn Độ hiện nay 25

Tiểu kết chương 1 28

Chương 2 THỰC TRẠNG QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC 29

2.1 TRÊN LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ - ĐỐI NGOẠI 29

2.2 TRÊN LĨNH VỰC KINH TẾ 33

2.2.1 Về thương mại 34

2.2.2 Về đầu tư và tín dụng ưu đãi 35

2.3 TRÊN LĨNH VỰC VĂN HÓA, GIÁO DỤC 38

2.3.1 Trên lĩnh vực văn hóa 38

2.3.2 Trên lĩnh vực giáo dục, đào tạo 43

Trang 5

2.4 TRÊN LĨNH VỰC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ 45

2.5 TRÊN LĨNH VỰC QUỐC PHÒNG, AN NINH 48

2.5.1 Trên lĩnh vực quốc phòng 48

2.5.2 Trên lĩnh vực an ninh 54

Tiểu kết chương 2 55

Chương 3 TRIỂN VỌNG QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN VIỆT NAM - ẤN ĐỘ ĐẾN NĂM 2026 VÀ KHUYẾN NGHỊ 57

3.1 ĐÁNH GIÁ QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC VIỆT NAM - ẤN ĐỘ

TỪ 2007 ĐẾN 2017 57

3.2 TRIỂN VỌNG QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN

VIỆT NAM - ẤN ĐỘ ĐẾN NĂM 2026 64

3.3 MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM TĂNG CƯỜNG QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN VIỆT NAM - ẤN ĐỘ 70

Tiểu kết chương 3 74

KẾT LUẬN 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

PHỤ LỤC 85

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ADMM+ Hội Nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN

và Bộ trưởng Quốc phòng các nước đối tác (ASEAN Defence Ministers’ Meeting Plus) APEC Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương

(The Asia - Pacific Economic Cooperation) ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á

(The Association of South East Asian Nations) BRICS Nhóm 5 nước Brasil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, Nam Phi

(Brasil, Russia, India, China, South Africa) CA-TBD Châu Á - Thái Bình Dương

CHMNVN Cộng hòa Miền Nam Việt Nam

CNTT Công nghệ thông tin

CPI Đảng Cộng sản Ấn Độ (The Communist Party of India)

CPI-M Đảng Cộng sản Ấn Độ (Mác-xít)

(The Communist Party of India - Marxist)

EU Liên minh Châu Âu (The European Union)

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)

FTA Hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreement)

ITEC Chương trình Hợp tác Kinh tế & Kỹ thuật của Ấn Độ

(The Indian Technical and Economic Cooperation) KHCN Khoa học công nghệ

LHQ Liên Hiệp quốc (The United Nations)

XHCN Xã hội chủ nghĩa

UBHH Ủy ban Hỗn hợp về kinh tế, văn hóa và khoa học kỹ thuật

VNDCCH Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

WTO Tổ chức Thương mại thế giới (The World Trade Organization)

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ấn Độ nằm tại Nam Á, có diện tích gần 3,3 triệu km2, giàu tài nguyên thiên nhiên; tổng GDP đạt hơn hai nghìn tỷ USD; thu nhập bình quân đầu người đạt gần 1.620 USD Đây là quốc gia đông dân thứ hai thế giới, gồm 1.311 tỷ người, với sáu tôn giáo chính là Ấn Độ giáo (đạo Hin-đu, chiếm 80,5% dân số), Hồi giáo (chiếm 13,4% dân số); 15 ngôn ngữ chính và 844 thổ ngữ, tiếng Hin-đi là ngôn ngữ làm việc chính thức của Nhà nước liên bang Nhà nước Ấn Độ được tổ chức theo hình thức liên bang và theo chế độ dân chủ đại nghị.[50]

Việt Nam có vị trí địa lý gần gũi với Ấn Độ, nên ít nhiều cũng có mối liên hệ

và ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Độ Việt Nam và Ấn Độ có mối quan hệ từ lâu đời, khi đạo Phật và đạo Hin-đu du nhập vào Việt Nam Mối quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt giữa hai nước được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng G.Nê-ru đặt nền móng đã phát triển không ngừng Năm 1954, Ấn Độ mở Tổng lãnh sự quán tại Hà Nội Năm 1956, Việt Nam lập Tổng lãnh sự quán tại Niu Đê-li Ngày 7-1-1972, hai nước nâng quan hệ lên cấp Đại sứ Với tiềm lực dồi dào

và vị thế ngày càng lớn mạnh hiện nay, Ấn Độ có mong muốn muốn vươn lên thành cường quốc tầm cỡ toàn cầu Trong bối cảnh đó, Việt Nam luôn được Ấn Độ luôn coi là một trong những nhân tố quan trọng trong chính sách Hướng Đông sang hành

động Hướng đông của mình Việc Ấn Độ nổi lên đang có tác động nhất định đến

cục diện khu vực và thế giới, đến lợi ích của các nước, đặc biệt là các nước lớn và láng giềng của Ấn Độ Với phương châm đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, Việt Nam nhận thức được vị trí và vai trò quan trọng của Ấn Độ đối với sự phát triển của Việt Nam và luôn khẳng định tăng cường phát triển quan hệ với Ấn Độ là một trong những ưu tiên trong chính sách đối ngoại của mình Các quan hệ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, văn hóa, khoa học công nghệ, giáo dục cũng tiếp tục có nhiều bước khởi sắc Quan hệ hai nước chuyển dần sang quan hệ đối tác và hợp tác trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi, ngày càng đi vào chiều sâu và thực chất hơn Đặc biệt,

Trang 8

việc hai nước thiết lập quan hệ đối tác chiến lược vào tháng 7/2007 là dấu ấn quan

trọng để đưa quan hệ hai nước lên tầm cao mới và được nâng cấp thành Đối tác chiến lược toàn diện nhân chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng

N.Mô-đi vào tháng 9-2016, tạo khuôn khổ quan trọng đưa quan hệ hai nước

phát triển sâu sắc, ổn định hơn, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới

Từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Mười năm quan hệ đối tác chiến

lược Việt Nam - Ấn Độ (2007- 2017)” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên

ngành Qquan hệ quốc tế

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, khoa học công nghệ, văn hóa, giáo dục.v.v đang nhận được nhiều sự quan tâm

ở trong và ngoài nước

* Ở trong nước, tài liệu liên quan đến quan hệ Việt Nam - Ấn Độ được đề cập

trong các luận văn, bài viết, ấn phẩm chuyên ngành của Việt Nam, đáng chú ý là công trình nghiên cứu, bài viết sau:

Các bài tạp chí: Võ Xuân Vinh (2005), ASEAN trong chính sách hướng Đông của Ấn Độ; Tạp chí Cộng sản số 120; Các bài viết trong Kỷ yếu Hội thảo của Nguyễn Văn Lịch, (2006), Ấn Độ với mục tiêu trở thành một cường quốc kinh tế ở Châu Á, Kỷ yếu Hội thảo Học viện Ngoại giao; Vũ Thu Phương (2007), Ba mươi nhăm năm quan hệ Việt Nam - Ấn Độ, Kỷ yếu Hội thảo Học viện chính trị quốc gia

Hồ Chí Minh; Vũ Quang Diệm (2007), Đưa quan hệ Việt Nam - Ấn Độ lên tầm cao mới bản tiếng Anh; Nguyễn Văn Lịch (2008), Năng lượng nguyên tử của Ấn Độ và khả năng hợp tác với Việt Nam Kỷ yếu Hội thảo Học viện Ngoại giao; Nguyễn Cảnh Huệ (2009), Bước phát triển mới của mối quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trong những năm đầu thế kỷ XXI, tạp chí Đông Nam Á, số 1; Nguyễn Sơn Hà (2011), Ấn

Độ tăng cường sự hiện diện tại Đông Nam Á mạng Nghiên cứu biển Đông (2010),

Mở lối thị trường Ấn Độ, Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế, (9/2015), Hợp tác phát triển Việt Nam - Ấn Độ - ASEAN: Thực trạng và triển vọng, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội ; Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế, (8/2016), Việt Nam - Ấn Độ: Bối cảnh mới , tầm nhìn mới , Nxb Lý luận Chính trị,

Trang 9

Hà Nội; Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh , Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế, (3/2017), Hội thảo Việt Nam - Ấn Độ: 45 năm quan hệ ngoại giao và 10 năm đối tác chiến lược, Hà Nội v.v

* Về luận văn: Nguyễn Thị Thủy (1999), Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ từ năm

1945 đến nay (luận văn tốt nghiệp học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm); Học viện Quan hệ Quốc tế; Nguyễn Trường Sơn, (2005), Chính sách hướng Đông của Ấn Độ và tác động của nó đến quan hệ Ấn Độ - ASEAN; Nguyễn Thành Tâm, (2005), Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ sau chiến tranh lạnh; Lương Văn Thắng (2006), Vai trò của Ấn Độ trong việc tăng cường hòa bình và ổn định ở khu vực Nam Á thời kỳ sau chiến tranh lạnh” ; Viện Quan hệ quốc tế - Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh v.v…

Về đề tài: Bộ Ngoại giao (2011), Chính sách Hướng Đông của Ấn Độ và quan

hệ Việt Nam - Ấn Độ thập niên đầu thế kỷ XXI”

Về sách: Nguyễn Thị Quế và Đặng Đình Tiến, (2017), Ấn Độ và quan hệ Việt Nam - Ấn Độ, Nxb Chính trị Quốc gia, Chính sách đối ngoại của Ấn Độ những năm đầu thế kỷ XXI, Nxb Lý luận Chính trị v.v

* Ở nước ngoài, chủ yếu là Ấn Độ, đáng chú ý là các bài viết đăng trên

mạng nghiên cứu như Nhóm nghiên cứu Nam Á (www.southasiaanalysis.org), mạng quốc phòng Ấn Độ (www.india-defence.com), Viện Nghiên cứu Hòa bình và Xung đột (www.ipcs.org), Viện Nghiên cứu và Phân tích quốc phòng Ấn Độ (http://www.idsa.in).v.v

Có thể kể đến một số bài viết đáng chú ý như: Các bài của Subhash Kapila, (2001), Quan hệ đối tác chiến lược Ấn Độ - Việt Nam: Sự hội tụ các lợi ích, (India - Vietnam Strategic Partnership: The Convergence of Interests); Quan hệ đối tác chiến lược Ấn Độ - Việt Nam cần có động lực chính trị từ Ấn Độ (India - Vietnam strategic partnership needs political impetus from India - 2005), Việt Nam - Ấn Độ:

đã đến lúc thiết lập quan hệ đối tác chiến lược thực sự (Vietnam - India: Time to make partnership truly strategic - 2007); Pankaj K Jha, Quan hệ Ấn Độ - Việt Nam:

Sự cần thiết phải tăng cường hợp tác” (India - Vietnam relations: Need for enhanced cooperation - 2008); Yodendra Singh, Quan hệ Ấn Độ - Việt Nam: Chặng đường

Trang 10

phía trước, (India - Vietnam relations: The road ahead - 2007); Iskander Rehman, Đối tác Việt - Ấn: Tiềm năng chưa mở” (bản tiếng Việt - 2008); Carlyle A.Thayer, (2008) Chính sách quốc phòng của Việt Nam và tác động của nó đến quan hệ đối ngoại (Vietnam's Defence Policy and Its Impact on Foreign Relations; Pranav Kumar “Quan hệ kinh tế Ấn Độ - Việt Nam: Những Cơ hội và Thách thức” (India - Vietnam Economic Relations: Opportunities and Challenges - 2008), Bộ Ngoại giao

Ấn Độ, Báo cáo hàng năm (Annual Report).v.v

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu và bài viết trên phản ánh được vai trò ngày càng tăng của Ấn Độ tại khu vực châu Á và trên thế giới, tiềm năng to lớn của

Ấn Độ, triển vọng phát triển quan hệ của Ấn Độ với một số đối tác lớn Đồng thời, các tác giả cũng cho thấy bức tranh chung khá tích cực về lịch sử quan hệ Việt Nam

- Ấn Độ, thực trạng và một số triển vọng hợp tác trên một số lĩnh vực cụ thể giữa hai nước chủ yếu trong nửa đầu thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI, khẳng định quan

hệ hai nước còn rất nhiều tiềm năng phát triển Kế thừa chọn lọc những kết quả đạt được của các công trình nghiên cứu trên đây, để tác giả thực hiện đề tài “Mười năm quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Ấn Độ (2007- 2017) ”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn phân tích làm rõ thực trạng quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam -

Ấn Độ trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế, quốc phòng, an ninh, văn hóa, giáo dục và khoa học, công nghệ từ năm 2007 đến năm 2017, từ đó rút ra nhận xét,

dự báo triển vọng quan hệ hai nước đến năm 2026 và khuyến nghị

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích những nhân tố chủ yếu tác động đến quan hệ mười năm đối tác chiến lược Việt Nam - Ấn Độ (2007- 2017) gồm: Quan điểm tiếp cận quan hệ đối tác chiến lược, tình hình thế giới, khu vực, lịch sử quan hệ hai nước trước năm 2007, chính sách đối ngoại của hai nước đối với nhau và tình hình hai nước

- Phân tích thực trạng quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Ấn Độ từ năm

2007 đến năm 2017 trên các lĩnh vực chính trị - đối ngoại, kinh tế, quốc phòng - an ninh, văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ

Trang 11

- Nhận xét về quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Ấn Độ trên các lĩnh vực giai đoạn 2007- 2017 Đồng thời dự báo triển vọng quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Ấn Độ đến năm 2026, từ đó dự báo triển vọng và khuyến nghị

4 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Về Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Quan hệ mười năm đối tác chiến lược

Việt Nam - Ấn Độ

- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng quan hệ Việt Nam - Ấn

Độ trên một số lĩnh vực: Chính trị - đối ngoại, quốc phòng - an ninh, kinh tế, khoa học - công nghệ, văn hóa, giáo dục, dự báo triển vọng và khuyến nghị nhằm tăng cường quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Ấn Độ đến năm 2026

- Về không gian: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu quan hệ song phương Việt

Nam - Ấn Độ trên một số lĩnh vực : Chính trị - đối ngoại, quốc phòng - an ninh,

kinh tế, khoa học - công nghệ, văn hóa, giáo dục

Về thời gian: Nội dung nghiên cứu của đề tài từ năm 2007 đến năm 2017: Ngày 7-7-2007, trong chuyến thăm Ấn Độ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, hai bên ký Tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Ấn Độ và năm

2017 là năm kỷ niệm mười năm quan hệ đối tác chiến lược Năm 2017 cũng là một năm sau lãnh đạo hai nước đã nhất trí nâng tầm quan hệ hai nước thành Đối tác Chiến lược toàn diện (ngày 2-3/9/2016) Ngoài ra, đề tài còn dự báo triển vọng của mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Ấn Độ đến năm

2026 (năm 2026 là năm kỷ niệm 10 năm quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Ấn Độ)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

- Cơ sở lý luận chủ yếu của đề tài dựa trên những quan điểm về quan hệ quốc tế; các Văn kiện Đại hội toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam từ đại hội lần thứ

VI, đến đại hội lần thứ XII, và các văn kiện pháp lý ký kết giữa Việt Nam - Ấn Độ

và Ấn Độ - ASEAN.v.v làm cơ sở để nghiên cứu Đề tài

- Ngoài ra tác giả sử dụng các phương pháp lịch sử, lôgíc, phân tích, tổng hợp

và dự báo v.v để thực hiện nghiên cứu đề tài

Trang 12

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

- Về lý luận: Đề tài góp phần đưa ra những đánh giá, phân tích về quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Ấn Độ trên nhiều lĩnh vực và có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu liên quan tới vấn đề này

- Về thực tiễn: Đề tài này có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy về quan hệ quốc tế, đồng thời là tài liệu hữu ích trong công tác nghiên cứu, hoạch định chính sách về quan hệ Việt Nam - Ấn Độ và quan hệ giữa Việt Nam với các đối tác khác

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có 3 chương với 11 tiết

Trang 13

Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ ĐỐI TÁC

CHIẾN LƯỢC VIỆT NAM - ẤN ĐỘ TỪ 2007 ĐẾN 2017

1.1 QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC VIỆT NAM -

ẤN ĐỘ

Một số khái niệm: Quan hệ: Trong tiếng Việt, quan hệ là sự liên quan giữa

hai đối tượng hoặc hai nhóm đối tượng, sự gắn bó chặt chẽ, có tác động qua lại lẫn

nhau Trong quan hệ chính trị là quan hệ ngoại giao, quan hệ quốc tế…; Đối tác:

Thường để chỉ sự cộng tác giữa hai nước trong một lãnh vực nào đó; Chiến lược:

Nó không phải là một lãnh vực mà là một tầm vóc quan trọng cấp cao Nó thường đòi hỏi có thêm cơ chế và chính sách/kế hoạch để thực hiện Hai bên có thể hợp tác cấp thấp và không cần thiết lập cơ chế (institution) để hợp tác, mà chỉ cần qua các chính quyền địa phương hay sở, cục trung ương

Đối tác chiến lược là mối quan hệ mang tính chất toàn cục, then chốt và có giá

trị lâu dài với thời gian Mối quan hệ gắn liền với nhiều lĩnh vực phát triển cùng có lợi với nhau (quan hệ cùng thắng) có thể có cả lĩnh vực an ninh quân sự Số lượng đối tác chiến lược loại này đang gia tăng nhanh chóng Theo giáo sư Va-lê-ri Lót-xkin (Nga), "đối tác chiến lược" phải bao gồm những nội dung sau: Không tấn công lẫn nhau; không liên minh chống lại các nước khác; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; phải có lòng tin lẫn nhau Về hình thức, đối tác chiến lược có thể diễn ra linh hoạt (chính thức hoặc không chính thức, song phương hoặc đa phương, diện và mức độ tham gia rộng hoặc hẹp, nhiều hoặc ít…) và có tính mở vì không hướng tới một kết cục cụ thể Hiện nay, Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược với Nhật Bản, Hàn Quốc và Tây Ban Nha (2009), Anh (2010), Đức và Italy (2011), Thái Lan, Indonesia, Singapore và Pháp (2013), Malaysia và Philippines (2015)

Đối tác chiến lược toàn diện hay còn gọi là đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, tức

là hai hay nhiều bên xác định gắn bó lợi ích lâu dài, hỗ trợ lẫn nhau và thúc đẩy sự hợp tác sâu rộng và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực mà các bên cùng có lợi Đồng thời hai bên còn xây dựng sự tin cậy lẫn nhau ở cấp chiến lược.Tới nay, có 3 nước

có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam là: Nga (2012), Trung Quốc (2008) và Ấn Độ (2016);

Trang 14

* Quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Ấn Độ được hình thành và phát

triển dựa trên một số cơ sở về lịch sử, văn hóa và lợi ích sau đây:

Một là, Việt Nam và Ấn Độ có nhiều điểm tương đồng về văn hóa, lịch sử Cùng có lịch sử lâu đời, từ xa xưa đã có giao lưu về văn hóa, con người và thương mại Phật giáo bắt đầu vào Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ thứ II sau Công nguyên thông qua hai thiền sư Ấn Độ Hai nước đều giành được độc lập từ ách đô hộ của thực dân, là các nước đang phát triển, từng có quan hệ gần gũi với Liên Xô Nhân dân hai nước yêu hòa bình Tình cảm giúp đỡ của nhân dân Ấn Độ về cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam vẫn còn sâu đậm đến ngày nay

Hai nước, hai nước cùng quan tâm chung đến nhiều vấn đề chính trị - an ninh, chính sách đối ngoại (chống đế quốc và thực dân, không liên kết, trật tự thương mại thế giới, an ninh phi truyền thống.v.v) Hiện nay, hai nước cùng chủ trương đa đạng hóa và đa phương hóa quan hệ đối ngoại, tạo môi trường hòa bình để tập trung phát triển kinh tế, mong muốn khu vực nói riêng và thế giới nói chung hòa bình, phát triển; coi trọng thúc đẩy quan hệ với Hiệp Hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN); có quan tâm chung về Biển Đông Lãnh đạo và nhân dân hai nước tin cậy lẫn nhau, có quyết tâm thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Ấn

Độ lên một tầm cao mới

Ba là, hai nước có nhiều tiềm năng để phát triển quan hệ hợp tác về một số lĩnh vực Hiện nay, hai nước đều là thị trường thương mại và đầu tư nhiều tiềm năng, nguồn nhân lực dồi dào, tài nguyên phong phú, gần gũi về địa lý Nhiều ngành, lĩnh vực là thế mạnh của nước này là điểm hạn chế của nước kia, tạo ra nhu cầu hợp tác, liên kết với nhau

Bốn là, các văn kiện pháp lý là cơ sở rất quan trọng để thúc đẩy quan hệ hai nước.Về song phương, hai nước đã ký các Tuyên bố chung về khuôn khổ hợp tác toàn diện (2003), về quan hệ đối tác chiến lược (2007); quan hệ đối tác chiến lược toàn diện (2016), các điều ước song phương về thương mại, tránh đánh thuế hai lần, khuyến khích và bảo hộ đầu tư, văn hóa, tương trợ tư pháp, địa chất, môi trường, y học dân tộc, quốc phòng, công nghệ thông tin (CNTT), hàng không, du lịch v.v Về điều ước đa phương, Ấn Độ đã ký kết với ASEAN: Tuyên bố chung về Hợp tác

Trang 15

ASEAN - Ấn Độ trong thế kỷ XXI (2002), Tuyên bố về chống khủng bố (2003), Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác (2003)v.v Quan hệ kinh tế giữa hai nước được dựa trên các cơ sở pháp lý khá đầy đủ như: Hiệp định Thương mại 1978 (được sửa đổi năm 1997), Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (1994), Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư (1997), Hiệp định khung về Thương mại tự do (2003), Tầm nhìn ASEAN - Ấn Độ 2020, Chương trình hành động ASEAN - Ấn Độ (2004), Văn bản thiết lập quan hệ đối tác ASEAN-Ấn Độ vì hòa bình, tiến bộ và thịnh vượng chung (2004), Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN-Ấn Độ (2009) Bản ghi nhớ về việc Ấn Độ công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường đầy đủ (tháng 10/2009) Đặc biệt, đặc biệt là kể từ sau khi Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN - Ấn Độ (AITIG) được ký kết vào năm 2009 và có hiệu lực từ 1/6/2010 đối với Việt Nam việc Ấn Độ công nhận nền kinh tế thị trường của Việt Nam đang tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc để thúc đẩy quan hệ kinh tế giữa hai bên Thêm vào đó, Ấn Độ dành cho Việt Nam ưu đãi hưởng lộ trình giảm thuế sớm 3 năm so với các nước khác trong ASEAN Đối với Việt Nam, mức thuế áp dụng với hàng hóa có xuất xứ

từ ASEAN - Ấn Độ (sử dụng chứng nhận xuất sứ hàng hóa mẫu AI) cao nhất là 18% đến năm 2010 và giảm xuống còn 0-5% vào năm 2018 Ngoài ra, hợp tác giữa Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam ký kết và triển khai nhiều thỏa thuận hợp tác với một số phòng thương mại và công nghiệp của Ấn Độ (như FICCI, ASSOCHAM, INCHAM) Các diễn đàn doanh nghiệp hai nước được tổ chức nhân các chuyến thăm cấp cao đã thu hút hàng nghìn doanh nhân tham dự Một cơ chế quan trọng để thúc đẩy quan hệ kinh tế song phương là Ủy ban Hỗn hợp về kinh tế, văn hóa và khoa học kỹ thuật (UBHH) trong đó nêu ra các dự án, chương trình hợp tác cụ thể về kinh tế v.v Hơn mười năm qua, hàng chục đoàn với hàng nghìn doanh nghiệp từ nhiều hiệp hội ngành hàng của hai bên thường xuyên đến tìm hiểu thị trường của nhau, hàng năm đều tham dự nhiều hội chợ và hội thảo xúc tiến đầu tư, thương mại ở hai nước Từ năm 2007, hoạt động quảng bá của Việt Nam tại Ấn Độ

có tăng lên và quy mô lớn hơn Hàng năm, Ấn Độ luôn dành một số gian hàng miễn phí tại Hội chợ Thương mại quốc tế Ấn Độ (IITF) lớn nhất Nam Á và hàng chục doanh nghiệp Ấn Độ tham dự triển lãm Vietnam Expo Ngoài ra, quan hệ kinh tế

Trang 16

cũng được tăng cường thông qua hợp tác trong các diễn đàn doanh nghiệp hai nước như Trung tâm Phát triển Doanh nghiệp Việt Nam - Ấn Độ (thành lập năm 2006 trong khuôn khổ Sáng kiến Hội nhập ASEAN - IAI), Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam - Ấn Độ VIEDC (thành lập năm 2009), các cuộc họp của Hội đồng Kinh doanh chung Ấn Độ - Việt Nam.v.v Hiện nay, Ấn Độ có hơn 90 doanh nghiệp đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam (48 văn phòng tại thành phố Hồ Chí Minh) Các văn phòng này chủ yếu hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực: dược phẩm, máy móc, thiết

bị, phụ tùng, hóa chất, vật tư nông nghiệp Nhìn lại quá trình hợp tác kinh tế giữa hai nước thời gian qua, có thể thấy nội dung kinh tế chủ yếu tập trung vào thương mại, đầu tư và tín dụng ưu đãi

1.2 NHÂN TỐ KHÁCH QUAN

1.2.1 Tình hình thế giới từ 2007 đến 2017

Thứ nhất, về kinh tế: Bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, mặc dù

có một số “điểm sáng” của sự hội nhập, hợp tác khu vực, liên khu vực và quốc tế diễn ra sôi động với nhiều hình thức, trên nhiều lĩnh vực và ở nhiều cấp độ khác nhau, được dư luận chú ý như hợp tác trong Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) gồm Nga, Trung Quốc,

Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan và Uzbekistan năm 2014; Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TTP) được ký kết vào ngày 4/2/2016 là một hiệp định mang tính lịch sử, bởi TPP là hiệp định thương mại quy mô lớn và được chính giới nhiều nước quan tâm trong vòng hai thập kỷ qua tuy vậy, nền kinh tế thế giới vẫn

là một bức tranh với màu sắc ảm đạm

Kinh tế thế giới vẫn đứng trước 3 mối đe dọa lớn là: khủng hoảng nợ công ở châu Âu, kinh tế Mỹ suy giảm và kinh tế các nước thuộc nhóm các nền kinh tế mới nổi (BRICS) - vốn là đầu tàu thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu, đều đã không giữ được “phong độ”, tăng trưởng chậm, thậm chí sụt giảm Bức tranh ảm đạm của nhóm BRICS là lý do chính dẫn tới việc nền kinh tế toàn cầu đánh dấu năm thứ 5 liên tiếp tăng trưởng ở mức thấp hơn 3% Liên hợp quốc nhận định: mỗi mối đe dọa này đều có thể khiến tổng sản phẩm toàn cầu mất đi khoảng 1%-3% và tình huống xấu nhất, nó chính là “ngòi nổ” dẫn đến suy thoái kinh tế toàn cầu

Trang 17

Thứ hai, về chính trị:

i) Có thể nói, bao trùm bầu không khí của tình hình thế giới từ năm 2012 đến năm 2017 là dấu ấn của những cuộc bầu cử và những cuộc chuyển giao quyền lực quan trọng ở nhiều nước Đáng chú ý sự chuyển giao quyền lực ở 3 nước lớn: Nga, Trung Quốc đều diễn ra trong năm 2012 và Mỹ năm 2012 và 2016; còn ở

Pháp và Hàn Quốc diễn ra vào năm 2012 và 2017; Tại Nga: kết quả cuộc bỏ phiếu

ngày 4/3/2012, ông V Putin được bầu làm tổng thống Nga với 64% số phiếu ủng

hộ, với nhiệm kỳ 6 năm để cải cách và duy trì ổn định tình hình đất nước Đây là

nhiệm kỳ tổng thống thứ ba của ông; Tại Mỹ: Tổng thống Mỹ B Obama đắc cử

nhiệm kỳ 2 Nhiệm kỳ mới của ông Obama hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế tạo thêm việc làm, chuyển trọng tâm chiến lược về khu vực châu Á - Thái Bình Dương Cuối năm 2016, nước Mỹ có sự thay đổi lớn, một sự chuyển giao quyền lực khá bất ngờ Ông Donald Trump đã đánh bại đối thủ Hillary Clinton để trở thành chủ nhân tiếp theo của Nhà Trắng trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ ngày 19/12/2016; Tại Trung Quốc: Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc (11/2012) được coi là cuộc chuyển giao thế hệ lãnh đạo lớn nhất trong 30 năm qua Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình giữ vai trò lãnh đạo Trung Quốc trong giai đoạn mới

ii) Khủng hoảng chính trị ở Ukraine, quan hệ Nga - phương Tây rạn nứt: Châu

Âu chứng kiến sự căng thẳng trong quan hệ Nga - phương Tây nghiêm trọng nhất kể

từ sau Chiến tranh Lạnh đến nay Đó là sự kiện khủng hoảng chính trị ở Ukraine, tạo

“cú sốc” trong cạnh tranh địa - chính trị giữa Nga với Mỹ và phương Tây Ngày 02-2014, Quốc hội Ukraine đã bỏ phiếu phế truất Tổng thống Viktor Yanukovych, lập chính phủ mới thân phương Tây, đẩy nước này rơi vào tình trạng bất ổn và chia

22-rẽ sâu sắc hơn bao giờ hết Đặc biệt, quyết định sáp nhập Crưm của Nga khiến quan

hệ Nga - Ukraine hết sức căng thẳng Mỹ và phương Tây coi việc Crưm sáp nhập vào Nga là “không thể chấp nhận được” cho nên đã liên tiếp tiến hành và không ngừng gia tăng các biện pháp trừng phạt kinh tế đối với Nga với những bước ngoặt mới, phức tạp và ngày càng căng thẳng hơn

Trang 18

1.2.2 Tình hình khu vực Châu Á - Thái Bình Dương hiện nay

Một là, bất chấp khủng hoảng tài chính - tiền tệ, CA-TBD tiếp tục phát triển nhanh và năng động nhất thế giới, hợp tác và liên kết kinh tế trong nội bộ khu vực

và với bên ngoài đạt nhiều kết quả ấn tượng So với toàn cầu, CA-TBD đứng đầu về tăng trưởng GDP, 30% xuất khẩu, 36% tỷ trọng kinh tế, 25% thương mại Nhiều nền kinh tế tiếp tục duy trì tốc độ phát triển cao, đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ ASEAN có vai trò quan trọng trong hợp tác, liên kết kinh tế tại khu vực ASEAN đã

ký kết FTA với một loạt đối tác trong khu vực như Australia - New Zealand, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và Ấn Độ Diễn đàn Hợp tác Kinh tế CA-TBD (APEC) vẫn là liên kết kinh tế tiêu biểu của khu vực (chiếm 50% thương mại, 60% GDP toàn cầu) [35, tr 74] Dù còn nhiều trở ngại, Cấp cao Đông Á góp phần thúc đẩy liên kết kinh tế trong khu vực Tuy nhiên, liên kết khu vực còn nhiều hạn chế do thiếu một tổ chức có đủ khả năng lãnh đạo, sự khác nhau trong toan tính của các nước lớn, “chồng chéo” các FTA dẫn đến hình thành nhiều sáng kiến liên kết kinh

tế mới

Hai là, xu thế hòa bình, hợp tác tiếp tục chiếm ưu thế tại khu vực CA-TBD,

dù còn tiềm ẩn nhiều phức tạp và nguy cơ mất ổn định Ba điểm nóng (bán đảo Triều Tiên, Biển Đông, hai bờ Đài Loan) có chiều hướng phức tạp lên, khiến các nước trong khu vực chạy đua vũ trang Các vấn đề an ninh phi truyền thống tác

động mạnh đến các nước, mà chưa có giải pháp hữu hiệu

Ba là, các nước lớn có xu hướng chuyển trọng tâm chiến lược sang khu vực

Ấn độ - Thái Bình Dương Mỹ coi trọng hơn Ấn độ - TBD, vừa hợp tác vừa kiềm

chế Trung Quốc, củng cố đồng minh với Nhật Bản, nâng cấp liên minh quân sự với Hàn Quốc, thiết lập cơ chế đồng minh giữa Mỹ - Nhật - Australia, đẩy mạnh quan

hệ với Ấn Độ, thúc đẩy quan hệ với các nước ASEAN Trung Quốc có ảnh hưởng lớn nhất tại CA-TBD, chủ động tham gia các vấn đề của khu vực, hạn chế ảnh hưởng của Mỹ, vừa kiềm chế và vừa thúc đẩy quan hệ với Ấn Độ, không để Ấn Độ ngả nhiều về phía Mỹ Nhật Bản tăng ảnh hưởng qua hợp tác kinh tế, nhưng bị hạn chế bởi liên minh Nhật - Mỹ Mục tiêu của Nga tại CA-TBD vẫn bó hẹp ở bảo đảm

an ninh biên giới, thúc đẩy kinh tế tại Viễn Đông

Trang 19

Bốn là, tại khu vực Đông Nam Á, liên kết nội khối ASEAN đạt nhiều kết quả tích cực như Sáng kiến liên kết ASEAN, Hiệp định khung về 11 lĩnh vực ưu tiên hội nhập ASEAN, Lộ trình liên kết ASEAN, Kế hoạch tổng thể về kết nối ASEAN Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) có thành công nhất định, song tiến triển khá chậm Với việc Hiến chương ASEAN ra đời (2007), ASEAN có thay đổi về chất, liên kết nội khối chặt chẽ và toàn diện hơn Hợp tác tiểu vùng được tăng cường thông qua Hợp tác Tiểu vùng sông Mê Kông Mở rộng (GMS), tam giác Cambodia - Lào - Việt Nam (CLV), tứ giác Cambodia - Lào - Mianmar - Việt Nam (CLMV) để thúc đẩy thương mại, đầu tư, du lịch, kết nối giao thông

Năm là, Các nước lớn ngày càng chuyển trọng tâm chiến lược đến Đông

Nam Á Giai đoạn 2000 - 2007, Mỹ quan tâm đến Đông Nam Á chủ yếu phục vụ

chiến lược chống khủng bố Từ năm 2008, Mỹ đã quay trở lại Đông Nam Á và tham gia mạnh vào ASEAN để kiềm chế Trung Quốc Trung Quốc rất tranh thủ các nước ASEAN qua hợp tác kinh tế, chính trị, an ninh, có ảnh hưởng lớn nhất tại khu vực,

là đối tác lớn nhất của ASEAN (kim ngạch thương mại năm 2010 đạt 200 tỉ USD) Tình hình trên cùng với tranh chấp trên Biển Đông ngày càng phức tạp đang tạo ra

xu thế chạy đua vũ trang mới ở khu vực

Sáu là, tình hình khu vực Nam Á, Ấn Độ vẫn giữ vai trò vượt trội về kinh tế, quân sự và ảnh hưởng tại khu vực Nam Á còn nhiều bất ổn do sự thù địch giữa Ấn

Độ và Pakistan, nội bộ hầu hết các nước Nam Á mất ổn định do khủng bố, khủng hoảng chính trị, chênh lệnh giàu nghèo Mặc dù vậy, xu thế hợp tác và đối thoại được thúc đẩy hơn Ấn Độ từng bước cải thiện quan hệ với Pakistan, thúc đẩy quan

hệ với các nước láng giềng khác và hợp tác trong Hiệp hội Hợp tác Khu vực các nước Nam Á

Các nước lớn tiếp tục tăng cường ảnh hưởng tại khu vực này Mỹ thúc đẩy quan hệ gần gũi hơn với Ấn Độ để kiềm chế Trung Quốc, hạn chế hợp tác Ấn - Nga

- Trung, giúp Mỹ chống khủng bố tại Nam Á Mỹ tăng cường quan hệ hợp tác chiến lược với Pakistan để chống khủng bố; duy trì lực lượng quân sự tại Afghanistan; tăng cường ảnh hưởng tại Sri Lanka, Bangladesh, Nepal Trung Quốc tiếp tục củng

cố quan hệ truyền thống với Pakistan; gần gũi hơn với Sri Lanka, Bhutan, Nepal;

Trang 20

tăng cường hiện diện tại Mandives, Mauritius; tham gia nhiều hơn vào Hiệp hội Hợp tác Khu vực các nước Nam Á; thực hiện chiến lược “chuỗi ngọc trai” tại Ấn

Độ Dương để bao vây Ấn Độ Nga chú trọng thúc đẩy quan hệ với Ấn Độ về chiến lược và quốc phòng, khiến Mỹ và Trung Quốc lo ngại Nhật Bản lặng lẽ gia tăng ảnh hưởng tại khu vực thông qua viện trợ và hợp tác kinh tế

Bẩy là, vấn đề biển Đông đã được quốc tế hóa: Trong những năm gần đây, vấn đề biển Đông tiếp tục là tâm điểm tập hợp lực lượng và đấu tranh giữa các nước lớn ở khu vực Đặc biệt, những diễn biến trong năm 2016 trên biển Đông cho thấy tình hình hết sức phức tạp, qua đó cũng cho thấy bản chất của vấn đề tranh chấp trên biển Đông đã thay đổi rất nhiều, đó không chỉ là tranh chấp chủ quyền lãnh thổ giữa một số nước trong khu vực với Trung Quốc, mà thực sự trở thành nơi cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước lớn Sau khi nhóm G7 ra tuyên bố về biển Đông, vấn đề biển Đông đã được quốc tế hóa ở mức rất cao, có bước ngoặt lớn về pháp lý

và chính trị Nhưng trên thực tế, tình hình vẫn không có nhiều thay đổi Trung Quốc vẫn có các hành động leo thang mới trong quá trình quân sự hóa và lấn chiếm trái

phép ở biển Đông

Như vậy, tình hình thế giới và khu vực hiện nay có tác động không nhỏ đến quan hệ giữa các nước, nhưng nhìn chung có ảnh hưởng tích cực đến quan hệ Việt Nam - Ấn Độ

1.3 NHÂN TỐ CHỦ QUAN

1.3.1 Khái quát về quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trước năm 2007

* Giai đoạn trước năm 1972

Năm 1927, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc gặp Pandit Motilal Nehru (cha của Jawaharlal Nehru) tại Bỉ Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng

Jawaharlal Nehru gửi điện chúc mừng nhau nhân dịp lễ lớn Thời kỳ 1947 - 1958, quan hệ chính trị và thương mại dần được thiết lập Năm 1947, Ấn Độ đưa ra “Đề

nghị hòa bình 6 điểm” cho Đông Dương (1953), tham gia ủy ban giám sát quốc tế thi hành Hiệp định Gieneve, lập trụ sở đại diện tại Việt Nam dân chủ cộng hòa (1954) Thời kỳ này, Ấn Độ thực hiện chính sách cân bằng giữa hai miền Việt Nam (VNDCCH) Năm 1956, Ấn Độ cùng thỏa thuận lập Tổng lãnh sự quán với Việt

Trang 21

Nam dân chủ cộng hòa và Chính quyền Sài Gòn Hiệp định thương mại đầu tiên ký năm 1956 Hai bên bắt đầu trao đổi đoàn cấp cao: Thủ tướng Jawaharlal Nehru (1954), Phó Tổng thống (1957) và Tổng thống (1959) thăm Việt Nam dân chủ cộng hòa; Thủ tướng Phạm Văn Đồng (1955), Chủ tịch Hồ Chí Minh (1958) thăm Ấn Độ Thời kỳ này, Việt Nam ủng hộ hầu hết quan điểm, chính sách của Ấn Độ về các vấn

đề quốc tế (năm nguyên tắc chung sống hòa bình, đoàn kết Á - Phi.v.v.) [30, tr 157] Tuy nhiên, quan hệ hai nước thời kỳ 1959 - 1965 gặp khó khăn do Ấn Độ chủ trương trung lập, không liên kết, trong khi Việt Nam dân chủ cộng hòa theo con đường xã hội chủ nghĩa Những năm cuối thập niên 60 đầu thập niên 70 của thế kỷ

XX, trong bối cảnh quan hệ Ấn Độ - Liên Xô và Việt Nam - Liên Xô tốt đẹp, quan

hệ Ấn Độ - Trung Quốc xấu đi và quan hệ Ấn - Mỹ trục trặc, hai nước ngày càng xích lại gần nhau Ấn Độ thúc đẩy quan hệ với Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, phong trào chống Mỹ và ủng hộ Việt Nam của nhiều tầng lớp nhân dân và trí thức lên rất cao tại Ấn Độ

* Giai đoạn 1972 - 1990

Tháng 1/1972, Ấn Độ thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam dân chủ cộng hòa Năm 1977, Ấn Độ nâng quan hệ với Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam lên cấp đại sứ, ủng hộ Việt Nam gia nhập Liên Hợp quốc, thành lập Hội hữu nghị Ấn Độ - Việt Nam Ấn Độ ủng hộ Việt Nam đưa quân vào Caphuchia và phản đối Trung Quốc gây chiến tranh biên giới với Việt Nam (1979).v.v Hai bên trao đổi nhiều đoàn cấp cao: Thủ tướng R.Gandhi thăm Việt Nam (1985, 1988); Thủ tướng Phạm Văn Đồng (1978, 1980, 1983), Tổng Bí thư Lê Duẩn (1984), Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (1989) thăm Ấn Độ

Quan hệ chính trị Việt Nam - Ấn Độ rất tốt đẹp nhưng các quan hệ khác còn khiêm tốn: Về kinh tế, năm 1975, Ấn Độ áp dụng quy chế tối huệ quốc về thương mại đối với Việt Nam Ấn Độ cung cấp tín dụng 33 triệu USD từ 1978 để nhập khẩu

từ Ấn Độ các máy móc nông nghiệp, công nghiệp nhẹ; cho vay lương thực 534.337 tấn bột mỳ, 44.931 tấn gạo; Trong những năm 80 của thế kỷ XX, Ấn Độ viện trợ cho Việt Nam 8,75 triệu USD Đây là sự trợ giúp rất quan trọng do Việt Nam bị Phương Tây cấm vận và quan hệ căng thẳng với Trung Quốc; Một số doanh nghiệp

Trang 22

Ấn Độ bắt đầu mở văn phòng đại diện, xúc tiến kinh doanh, chủ yếu ở lĩnh vực năng lượng, khai khoáng, giống cây trồng, chế biến nông sản, chế tạo thiết bị tải điện, tân dược.v.v Về đào tạo Ấn Độ giúp đào tạo sinh viên và cán bộ Việt Nam ở một số ngành kỹ thuật, cử chuyên gia sang nước ta, hỗ trợ phát triển nông nghiệp (lúa, giống trâu sữa Mura.v.v.), hợp tác liên doanh về dầu khí và khai khoáng v.v Hai bên chủ yếu trao đổi một số mặt hàng nông sản, y tế Quan hệ quốc phòng hai nước

có bước phát triển mới khi hai bên lập Phòng Tuỳ viên quân sự thuộc Đại sứ quán mỗi nước (1980), Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam Đoàn Khuê thăm Ấn Độ (1990) Hai bên đã ký các hiệp định về hợp tác, trao đổi văn hóa (1976, 1978); Hiệp định hợp tác Khoa học công nghệ (1976), Hiệp định Thương mại (1978), thành lập Ủy ban hỗn hợp về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật

và Hội hữu nghị Việt Nam - Ấn Độ (1982) Ngay khi Việt Nam có Luật đầu tư nước ngoài 1987, Ấn Độ có dự án khai thác khí gas Nam Côn Sơn của tập đoàn ONGC trị giá 17 triệu USD năm 1988

* Giai đoạn 1991 - 2006

Trong khuôn khổ chính sách Hướng Đông, Ấn Độ thúc đẩy quan hệ mạnh mẽ hơn với Việt Nam trên các lĩnh vực,cụ thể là ;

Trên lĩnh vực chính trị, ngoại giao : Hai nước duy trì trao đổi các đoàn cấp

cao, cụ thế: Tổng thống R Venkatraman (1991), Phó Tổng thống K.R.Narayanan (1993),Thủ tướng Narasimha Rao (1994) thăm Việt Nam; Tổng Bí thư Đỗ Mười (1995), Thủ tướng Võ Văn Kiệt (1997), Chủ tịch Nước Trần Đức Lương (1999) thăm Ấn Độ Ấn Độ coi là quan hệ với Việt Nam là đặc biệt, còn Việt Nam thì coi đây là quan hệ “có tầm quan trọng chiến lược và lâu dài” Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh (2003), Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Phạm Thế Duyệt (2005), Bí thư Trung ương Đảng - Trưởng Ban Dân vận Trung ương Tòng Thị Phóng (2005), Bộ trưởng Ngoại giao (2001, 2003, 2005); Các đoàn của Ấn Độ thăm Việt Nam gồm: Thủ tướng A.B Vajpayee (2001), Ngoại trưởng Ấn Độ (2000, 2004)

Trong chuyến thăm Việt Nam tháng 1/2001, Thủ tướng Ấn Độ A.B Vajpayee mong muốn nâng quan hệ hai nước lên tầm cao mới khi tuyên bố: “Lịch sử cũng

Trang 23

như địa lý đã gắn chúng ta thành đối tác chiến lược trong thế kỷ mới” [22] là sự tiếp nối tuyên bố “Việt Nam luôn coi quan hệ với có tầm quan trọng chiến lược và lâu dài” của Chủ tịch Nước Trần Đức Lương khi thăm Ấn Độ năm 1999 và là lúc

Ấn Độ muốn đẩy mạnh chính sách Hướng Đông với ASEAN là một trọng tâm Ấn

Độ quan ngại Trung Quốc có vị thế ngày càng tăng tại Đông Nam Á (ĐNA) và mở rộng ảnh hưởng tới Nam Á, đồng thời Ấn Độ nhìn nhận ĐNA đang phát triển nhanh và vai trò của ASEAN ngày càng quan trọng với việc hình thành ARF và sự phát triển của APEC Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh thăm Ấn Độ của vào tháng 5/2003, hai bên đã ra “Tuyên bố chung về Khuôn khổ hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Ấn Độ bước vào thế kỷ XXI”, hai nước nhất trí phát triển khía cạnh chiến lược trong quan hệ đối tác vì lợi ích chung của hai nước, để phát huy hơn nữa mối quan hệ truyền thống và đối phó với khủng bố quốc tế, các thách thức của toàn cầu hóa và hệ thống quốc tế Trong Tuyên bố chung cũng nêu phương hướng cơ bản để thúc đẩy quan hệ hai nước trên các lĩnh vực : chính trị, thương mại - đầu tư, văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ , an ninh - quốc phòng.Qua đó thể hiện quyết tâm cao của hai nước trong việc đưa quan hệ song phương lên tầm cao mới

Việt Nam ủng hộ Ấn Độ là thành viên đầy đủ của ASEAN, Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) và ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (UN cải tổ); Việt Nam có quan điểm trung lập trong việc Ấn Độ thử vũ khí hạt nhân (1998), ủng hộ Kashmir thuộc lãnh thổ Ấn Độ Ấn Độ ủng hộ tích cực Việt Nam trong giải quyết về vấn đề Camphu chia, Việt Nam gia nhập WTO, phong trào Không Liên kết ĐCS Việt Nam duy trì và thúc đẩy quan hệ truyền thống với các chính đảng ở

Ấn Độ, đặc biệt là các ĐCS và Đảng Quốc Đại

Trên lĩnh vực kinh tế: Thương mại hai chiều còn khiêm tốn, từ 54 triệu USD

năm 1991 lên 225 triệu USD năm 2000 Mặc dù đạt nhiều kết quả đáng khích lệ, nhưng quan hệ thương mại song phương còn nhiều tồn tại như: Hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là nông sản (chất lượng không cao mà đây là thế mạnh của Ấn Độ), phần lớn thanh toán bằng khoản tín dụng hoặc hàng hóa của Ấn Độ; Thông tin

về thị trường Ấn Độ ít; Thủ tục hành chính rườm rà; Ấn Độ bảo hộ mạnh thị trường nội địa; Trong khi đó, đa số hàng hóa Ấn Độ xuất sang Việt Nam theo con đường

Trang 24

thương mại tự do, giá thành rẻ và chất lượng chấp nhận được Hai bên đã ký một số hiệp định tránh đánh thuế hai lần (1994), khuyến khích và bảo hộ đầu tư (1997), hợp tác kinh tế - thương mại (1997) Ấn Độ cung cấp cho Việt Nam theo hợp đồng trao đổi hàng hóa các thiết bị cho các ngành dệt, chè, đường sắt, sản xuất thép và đường

ăn, điện lực, in ấn, bao bì; nguyên liệu cho các ngành công nghiệp; một số máy móc

kỹ thuật cao (thiết bị y tế, xử lý dữ liệu vệ tinh.v.v.)

Trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh : Đầu những năm 90 mới các tàu hải

quân Ấn Độ sang thăm Việt Nam và hai nước có trao đổi một số đoàn quốc phòng với nhau Từ năm 1994, quan hệ quốc phòng có bước chuyển quan trọng khi hai nước ký Nghị định thư về hợp tác quốc phòng và tiến hành đối thoại quốc phòng lần thứ nhất Tháng 3/2000 Bộ trưởng Quốc phòng Fernandes thăm Việt Nam (Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ đầu tiên thăm Việt Nam) đánh dấu sự phát triển thực chất về quan hệ quốc phòng Hai bên đã ký Nghị định thư về hợp tác quốc phòng, với nội dung: Chống cướp biển tại Biển Đông , tập trận và tuần tra chung giữa các lực lượng tuần tra ven biển, thiết lập cơ chế Đối thoại An ninh cấp Thứ trưởng Quốc phòng, Ấn Độ giúp Việt Nam sửa chữa, đại tu 120 máy bay MIG 21, huấn luyện phi công chiến đấu và chuyên viên kỹ thuật, nâng cấp tàu tuần tiễu hải quân

và thiết lập các cơ sở sản xuất vũ khí loại nhỏ; Việt Nam giúp huấn luyện chiến tranh du kích cho quân đội Ấn Độ để chống lực lượng nổi dậy.v.v Quan hệ về an ninh mới là bước đầu với chuyến thăm Ấn Độ của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Minh Hương năm 2000 để thúc đẩy hợp tác chống tội phạm, buôn bán ma túy và rửa tiền Quan hệ quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ những năm đầu thế kỷ XXI được thiết lập dựa trên cơ sở các tuyên bố chung giữa lãnh đạo cấp cao hai nước, Nghị định thư về hợp tác quốc phòng (2000) Tháng 5/2003, nhân chuyến thăm Ấn Độ của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, hai bên thỏa thuận trong Tuyên bố chung về việc từng bước mở rộng hợp tác về quốc phòng, các biện pháp chống cướp biển, ngăn chặn các hành động khủng bố nhằm vào mỗi nước”, chia sẻ thông tin và kinh nghiệm chống khủng bố quốc tế” Tiếp theo hai nước đã duy trì đều đặn trao đổi nhiều đoàn quốc phòng, trong đó có một số đoàn đáng chú ý như: các chuyến thăm

Ấn Độ của Phó Tư lệnh hải quân Bế Quốc Hùng (năm 2003), chuyến thăm Việt

Trang 25

Nam của Chủ tịch Hội đồng tham mưu liên quân (2003), Tổng Tham mưu trưởng Phùng Quang Thanh (2004), và Giám đốc Học viện quân sự (2004), Bộ trưởng Quốc phòng Phạm Văn Trà tháng (3/2005), Tiếp theo là chuyến thăm của Phó Tổng Tham mưu trưởng Nguyễn Khắc Nghiên (2005), Chủ Nhiệm Tổng cục Chính trị Lê Văn Dũng (2006), Phó Đô đốc Hải quân (2006),các chuyến thăm của Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam (2007, 2009, 2010); Bộ trưởng Quốc phòng A.K.Antony (2007) trong các chuyến thăm đó đó Ấn Độ mong muốn hỗ trợ Việt Nam một cách thiết thực bằng việc tăng cường hợp tác quân sự nhiều mặt, kể cả giúp đào tạo tiếng Anh cho học viên quốc phòng Việt Nam

Trên lĩnh vực văn hóa và giáo dục : Ngày càng được tăng cường, nhiều sự

kiện văn hóa nhân dịp các ngày kỷ niệm của hai nước được tổ chức (tuần văn hóa, trao đổi đoàn nghệ thuật, chiếu phim,triển lãm,.v.v.); đưa vào chương trình giảng dạy và xuất bản sách nội dung về hai nước Hàng năm Ấn độ dành cho Việt Nam

120 suất học bổng về công nghệ thông tin, nông nghiệp, khoa học xã hội.v.v

Trên lĩnh vực Khoa học - công nghệ: Hai nước đã thỏa thuận ký Biên bản ghi

nhớ về hợp tác nông nghiệp (1993), Nghị định thư về Công nghệ thông tin (1999);

tổ chức thường xuyên cuộc họp Tiểu ban về khoa học công nghệ Ấn Độ giúp Việt Nam xây dựng hai trung tâm đào tạo nhân lực phần mềm, tăng cường hợp tác năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình, lai giống một số gia súc và cây trồng

1.3.2 Việt Nam - Ấn Độ trong chính sách đối ngoại của mỗi nước

* Ấn Độ trong chính sách đối ngoại của Việt Nam

Chính sách đối ngoại của Việt Nam từ năm 1945 đến nay luôn coi trọng quan hệ với Ấn Độ Ngày 9/3/1987, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam có Chỉ thị số 04-CT/TW về tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác với Ấn Độ, trong đó

“quán triệt chủ trương của Đảng về tầm quan trọng chiến lược trong tăng cường hợp tác với Ấn Độ về mọi mặt” Hiện nay, đường lối đối ngoại nhất quán của Việt Nam là thúc đẩy quan hệ với các nước bạn bè truyền thống đi vào chiều sâu, ổn định và bền vững, trong đó có Ấn Độ Vị trí và vai trò của Ấn Độ thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất: Ấn Độ có vị trí địa chiến lược rất quan trọng, là nước lớn ở Châu Á

và, có vai trò lớn ở Nam Á và có ảnh hưởng lớn ở Đông Nam Á Thời kỳ chiến tranh

Trang 26

lạnh, Việt Nam luôn đặt quan hệ với Ấn Độ ở hàng thứ hai (chỉ sau Liên Xô và các nước XHCN), thậm chí giai đoạn 1975 - 1990 đặt cao hơn quan hệ với Trung Quốc Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI nêu rõ Ấn Độ là “nước có vị trí đặc biệt quan trọng ở Châu Á và trên thế giới” Trong chuyến thăm Ấn Độ của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng (2010), nhấn mạnh: Việt Nam luôn coi Ấn Độ là nhân tố không thể thiếu trong thế giới hiện nay Do đó, thúc đẩy quan hệ với Ấn Độ

sẽ giúp tăng cường vai trò và vị thế của Việt Nam ở khu vực Đông Nam Á

Hai là, Việt Nam nhận thức được tầm qua trọng của Ấn Độ đó là thực lực và tiềm năng lớn, đang nổi lên mạnh mẽ cả về vị thế ,kinh tế, quốc phòng - an ninh và đang trở thành cường quốc Châu Á, từng bước vươn ra toàn cầu Đặc biệt hiện nay với chiến lược của Mỹ : “Ấn Độ - Thái Bình Dương : tự do và rộng mở” Do đó, Ấn

Độ có vai trò quan trọng đối với Việt Nam để tạo cân bằng và đan xen về lợi ích giữa các nước lớn, góp phần làm tăng vị thế của Việt Nam tại các cơ chế đa phương

Ba là,với tiềm lực quốc phòng mạnh, Ấn Độ là nước được Việt Nam tính đến

để làm đối trọng trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, đặc biệt là Biển Đông Hai nước đều được sử dụng nhiều loại vũ khí của Liên Xô, nên Việt Nam có thể đề nghị Ấn

Độ trợ giúp về các vấn đề kỹ thuật liên quan, đào tạo sĩ quan quốc phòng và hợp tác hạt nhân dân sự

Bốn là, Việt Nam rất cần vốn, năng lực quản lý và đào tạo nguồn nhân lực, trình độ khoa học công nghệ (KHCN), đặc biệt là công nghệ thông tin (CNTT), các sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp.v.v là những lĩnh vực mà Ấn Độ rất có thế mạnh Việt Nam cũng sẽ có cơ hội để xuất khẩu các hàng hóa nông sản, tiểu thủ công nghiệp sang Ấn Độ, đặc biệt là thâm nhập vào thị trường các bang Đông Bắc chậm phát triển

* Việt Nam trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ

Sau khi chiến tranh lạnh, Ấn Độ thực hiện đổi mới tư duy về đối ngoại, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, từ bỏ tư duy giáo điều chống phương Tây Để sớm trở thành siêu cường Châu Á và có vai trò toàn cầu, chính sách đối ngoại của Ấn Độ luôn kết hợp các mục tiêu phát triển, an ninh và nâng cao vị thế, trong đó phát triển kinh tế là quan trọng nhất, với ba khu vực ảnh hưởng: (i) Toàn cầu: tìm vị trí lãnh đạo trong

Trang 27

phong trào Không Liên kết, thúc đẩy trật tự kinh tế thế giới công bằng và đa cực, trở thành Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an LHQ, can dự nhiều vào các vấn đề quốc tế [32, tr.5-28, tr 36] (ii) Nam Á: Xây dựng quan hệ hòa bình, tin cậy với các nước láng giềng; duy trì vai trò đầu tàu và tiếp tục mở rộng ảnh hưởng tại khu vực, đảm bảo vành đai an ninh cho Ấn Độ, hạn chế ảnh hưởng của các nước lớn; (iii) Ấn

Độ Dương và Châu Á - Thái Bình Dương thực hiện chính sách cân bằng nhưng xích gần Mỹ hơn, tham gia vào cuộc chơi các nước lớn, đẩy mạnh chính sách Hướng Đông, tăng cường hợp tác với các nước CA-TBD Trong đó, chính sách Hướng Đông được Thủ tướng Narasimha Rao đưa ra vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX khi Ấn Độ bắt đầu cải cách, đến nay được thực hiện khá thành công Ấn Độ coi ASEAN là trọng tâm chính của chính sách “Hướng Đông”, rồi " trong đó Việt Nam luôn có vai trò quan trọng, thể hiện ở những điểm sau:

Một là , Ấn Độ coi Việt Nam là yếu tố giúp cân bằng, ổn định tại Đông Nam Á

Với vị trí địa - chính trị quan trọng và tiềm năng phát triển, Việt Nam được nhiều học giả Ấn Độ nhận định là cường quốc tiềm năng tại Đông Nam Á [56, tr 3] Trong chuyến thăm Việt Nam năm 2010, Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ A.K Antony khẳng định Việt Nam chiếm vị trí chiến lược trong chính sách của Ấn Độ Ấn Độ coi Việt Nam là nhân tố quan trọng trong chiến lược kiềm chế Trung Quốc, không để Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng tại Đông Nam Á, Biển Đông và Nam Á [26]

Hai là, Ấn Độ coi Việt Nam đóng vai trò cầu nối quan trọng để tăng cường hợp tác với ASEAN và cơ chế khác ở CA-TBD Năm 1994, Thủ tướng Ấn Độ Narasimha Rao tuyên bố Ấn Độ coi Việt Nam là đối tác đặc biệt Trước chuyến thăm Ấn Độ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng năm 2007, Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh khẳng định: “Ấn Độ coi hợp tác với Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong quá trình Ấn Độ hội nhập toàn khu vực”

Ba là, Việt Nam có vai trò quan trọng trong chính sách quốc phòng của Ấn

Độ Ấn Độ đánh giá cao khả năng và ý chí chiến đấu của quân đội Việt Nam Ấn Độ muốn tăng cường sự hiện diện hải quân ở Biển Đông, thúc đẩy hợp tác quốc phòng với Việt Nam để kiềm chế và đối phó với chiến lược “chuỗi ngọc trai” của Trung Quốc tại Ấn Độ Dương

Trang 28

Bốn là, Việt Nam là đối tác tiềm năng, là thị trường xuất khẩu, đầu tư, thương mại.v.v triển vọng, hấp dẫn các doanh nghiệp Ấn Độ đến đầu tư, kinh doanh Ấn

Độ rất quan tâm đến tìm kiếm nguồn năng lượng tại Việt Nam, đặc biệt là dầu khí,

vì trữ lượng nhiều, vận chuyển rẻ (vị trí địa lý khá gần nhau) và giúp đa dạng hóa nguồn năng lượng của Ấn Độ

Như vậy, từ những nhận thức về lợi ích của hai bên nói trên, đặc biệt trong các lĩnh vực mà hai bên có nhiều lợi ích chung, là động lực để thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Ấn Độ đi vào chiều sâu, ổn định và bền vững

1.3.3 Tình hình Việt Nam và Ấn Độ hiện nay

* Tình hình Việt Nam

Từ năm 1986, Việt Nam thực hiện đổi mới toàn diện mọi mặt, trong đó xóa bỏ chế độ quan liêu bao cấp để chuyển sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), phát triển mọi thành phần kinh tế, đa dạng hóa và đa phương

hóa quan hệ đối ngoại, thu hút FDI, đẩy mạnh xuất khẩu.v.v Giai đoạn 1986 -

2000, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI đã nhận định Việt Nam đã ra

khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đời sống của nhân dân cải thiện rõ rệt, hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, xuất khẩu tăng mạnh, quốc phòng và an ninh được tăng cường, phá được thế bao vây cấm vận, mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, sức mạnh mọi mặt của Việt Nam lớn hơn nhiều so với trước đổi mới

Trong thập niên đầu thế kỷ XXI, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, rất quan trọng: Chính trị - xã hội tiếp tục ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững; GDP tăng trưởng giai-doan-2007-2016 trung bình của Việt Nam là 6.04% trở thành nước có thu nhập trung bình (GDP đầu người năm Thu nhập bình quân đầu người năm 2016 đạt hơn 2.200 USD) [48]; hầu hết các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế đều có bước phát triển khá; cơ cấu kinh tế đang được chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN tiếp tục được hoàn thiện Việc gia nhập WTO giúp Việt Nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới Tính đến hết năm 2017, Việt Nam xuất khẩu 213,77 tỷ USD và nhập khẩu 211,1 tỷ USD Như vậy cả năm, Việt Nam xuất siêu 2,67 tỷ USD.Kim

Trang 29

ngạch xuất - nhập khẩu của Việt Nam trong năm vừa qua cũng đạt mức kỷ lục trong vòng một thập kỷ [44].Đến nay, Việt Nam đã thu hút được gần 20 nghìn dự án FDI với tổng số vốn đăng ký vượt trên 240 tỷ USD Bên cạnh các thị trường chủ lực là Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Liên minh châu Âu (EU), Hoa Kỳ, ASEAN, Ôxtrâylia… hiện nay hàng hóa Việt Nam đã vươn ra củng cố thế đứng trên nhiều thị trường khác như Nga, Trung Đông, Mỹ Latinh và châu Phi Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 187 nước, trong đó bao gồm tất cả các nước lớn, quan

hệ kinh tế với hơn 224 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược với 15 nước và quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với 10 nước, là thành viên chính thức của tất cả các tổ chức quốc tế lớn, các tổ chức và định chế thương mại, tài chính chủ chốt ở khu vực cũng như trên thế giới với vị thế và vai trò ngày càng được nâng cao

Biên giới với các nước láng giềng từng bước được pháp lý hóa, ổn định Việt Nam cũng tham gia tích cực và có trách nhiệm vào LHQ, Hội nghị Cấp cao Á - Âu, APEC, Cộng đồng Pháp ngữ, vai trò ngày càng tăng trong ASEAN Đối ngoại đảng, đối ngoại nhân dân tiếp tục được mở rộng Công tác về người Việt Nam ở nước ngoài đạt kết quả tích cực Việt Nam thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế; đối thoại cởi mở, thẳng thắn về tự do, dân chủ, nhân quyền; ký kết hiệp định thương mại tự

do với một số đối tác quan trọng

* Tình hình Ấn Độ

Từ năm 2001 đến nay, Ấn Độ đã đạt nhiều thành tựu to lớn:

Về chính trị nội bộ được duy trì tương đối ổn định Mặc dù còn nhiều vụ khủng bố, mâu thuẫn tôn giáo và đấu tranh gay gắt giữa các đảng, nhưng Ấn Độ xử

lý khéo léo, đảm bảo an ninh quốc gia Từ năm 2004 đến nay, Đảng Quốc đại hai lần thắng cử, ngày càng củng cố quyền lực, giúp cho việc thực thi chính sách của Chính phủ được ổn định, liên tục

Về kinh tế: Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, quốc gia này có tỷ lệ tăng trưởng trung bình là 5,8% trong những năm 1990, 6,9% trong những năm 2000 và 7,3% trong giai đoạn 2010-2017 Quy mô của nền kinh tế Ấn Độ hiện đang ở mức 2 nghìn tỷ đô la Đây là nền kinh tế lớn thứ mười trên thế giới về tổng sản phẩm quốc

Trang 30

nội danh nghĩa và nền kinh tế lớn thứ ba trên thế giới về sức mua tương đương Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Ấn Độ bao gồm chủ yếu là nông nghiệp, công nghiệp và các ngành công nghiệp cấp ba (ngành dịch vụ) Theo số liệu năm 2014 của Ngân hàng Thế giới, nông nghiệp chiếm 17% GDP của Ấn Độ, trong khi ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm lần lượt là 30% và 53% [60] Ấn Độ thu nhập bình quân đầu người ước đạt 1.500 USD trong tài khóa 2016/2017 [52]; Năm 2017 dự trữ ngoại hối của quốc gia này đã đạt mức 400,7 tỷ [53] Đặc biệt dịch vụ phần mềm

và tài chính rất phát triển Do đó, có nhận định cho rằng: nếu như Trung Quốc trong thời gian qua được mệnh danh là “Công xưởng của thế giới” thì Ấn Độ được mệnh danh là “Văn phòng của thế giới” vì sản xuất ra hơn 30% phần mềm quản lý điều hành cho thế giới, hay nói một cách khác, Ấn Độ đã bước được một chân sang nền kinh tế tri thức Mặc dù còn nhiều khó khăn thách thức, nhưng hiện nay Ấn Độ cũng là đối thủ cạnh tranh đáng gờm của Mỹ và các cường quốc

Về quốc phòng, Ấn Độ có tiềm lực mạnh thứ tư thế giới (sau Mỹ, Trung Quốc, Nga): Chi tiêu quốc phòng của Ấn Độ đã tăng 5,5%, đạt mức 63,9 tỷ USD vào năm 2017 Ấn Độ đã vượt qua Pháp để trở thành quốc gia có chi tiêu quốc phòng lớn thứ năm trên thế giới [49] Quân chính quy và dự bị đông thứ hai thế giới (3,46 triệu); có vũ khí hiện đại như máy bay chiến đấu đa năng, tên lửa mang đầu đạn hạt nhân tầm bắn 3500 km, tên lửa siêu âm, 5000 xe tăng, 3200 pháo cao xạ, một tàu sân bay, lực lượng hải quân hùng mạnh Việc sở hữu vũ khí hạt nhân giúp

Ấn Độ có vai trò răn đe chiến lược ở Nam Á và toàn cầu Năm 2015, Ấn Độ đã thông qua các dự án quân sự trị giá hơn 40 tỉ USD [40]

Một số ngành hoa học - công nghệ của Ấn Độ (hạt nhân, nghiên cứu vũ trụ, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, hóa chất, dược phẩm, hải dương học, thủy tinh lỏng, siêu dẫn, công nghệ nano, năng lượng mới ) ở trình độ ngang với các nước phát triển Tháng 10/2008, Ấn Độ là nước thứ ba ở Châu Á (sau Nhật, Trung Quốc) phóng tàu vũ trụ không người lái lên mặt trăng “Cách mạng xám” trong gần

20 năm qua đưa Ấn Độ là một trong mười siêu cường thế giới về công nghệ thông tin, với tốc độ tăng 30-50%/năm, doanh thu năm 2010 đạt khoảng 100 tỉ USD, xuất khẩu phần mềm đi 75 nước, với Bangalore là “Thung lũng Silicon” thứ hai của thế

Trang 31

giới Lĩnh vực thương mại điện tử ở Ấn Độ đã có những bước phát triển nhảy vọt

Trong năm 2014, Ấn Độ đã đầu tư 3 tỷ USD vào lĩnh vực này

Như vậy đổi mới của Việt Nam và cải cách của Ấn Độ đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, vị thế hai nước ngày càng nâng cao Việc nhận thức tiềm năng và thế mạnh của mỗi nước là rất cần thiết để đề ra các biện pháp hiệu quả để làm sâu

sắc thêm quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước

Tiểu kết chương 1

Quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Ấn độ (2007-2016) và Quan hệ đối tác chiến lược toàn diện (2016-2009) bắt nguồn từ các mối liên hệ văn hóa và lịch sử lâu đời Hai nước từng giúp đỡ nhau trong đấu tranh chống thực dân, giành độc lập Quan hệ hai nước được dựa trên những nền tảng vững chắc với nhiều điểm tương đồng về văn hóa, tiến trình lịch sử, các lợi ích về an ninh, phát triển và tăng cường ảnh hưởng của mình trong khu vực và quốc tế Với chính sách cải cách, mở cửa đạt nhiều thành tựu to lớn, vị thế quốc tế của hai nước ngày càng tăng Việt Nam nhận thức được tầm quan trọng, vai trò và ảnh hưởng của Ấn Độ ở khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương , Ấn Độ coi trọng vai trò của Việt Nam trong “chính sách Hướng Đông

và “ hành động Hướng Đông” Mặt khác tình hình thế giới, khu vực CA-TBD và Nam Á thập niên đầu của thế kỷ XXI ngày càng biến chuyển sâu sắc và phức tạp hơn, nhưng nhìn chung đều tạo nhiều thuận lợi cho việc thúc đẩy quan hệ hai nước Những kết quả đạt được của quan hệ hai nước trước năm 2007 là những nhân tố quan trọng để đưa quan hệđối tác chiến lược (2007-2016) và đối tác chiến lược toàn diện (2016-2019) lên một tầm cao mới: Thực chất , đi vào chiều sâu

Trang 32

Chương 2 THỰC TRẠNG QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC

VIỆT NAM - ẤN ĐỘ TỪ 2007 ĐẾN 2017

2.1 TRÊN LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ - ĐỐI NGOẠI

Thứ nhất: Ngoại giao nhà nước

Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trên lĩnh vực đối ngoại có truyền thống tốt đẹp từ trước tiếp tục được củng cố và phát triển, thể hiện qua các chuyến thăm cấp cao và nhiều chuyến thăm khác Năm 2007 đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quan hệ hai nước Tháng 3/2007, Chủ tịch Hạ viện Ấn Độ Somnath Chaterjee thăm Việt Nam; Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm thăm Ấn Độ, dự kỳ họp UBHH lần thứ 13 và ký kết Chương trình Hành động 2007 - 2009, dự kỷ niệm

35 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và trao đổi với Ấn Độ khả năng nâng cấp quan

hệ lên đối tác chiến lược Tháng 7/2007, trong chuyến thăm Ấn Độ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, hai bên ký “Tuyên bố chung về thiết lập quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Ấn Độ”, đánh dấu bước đột phá mới cho quan hệ song phương nói chung và trên các lĩnh vực về chính trị - đối ngoại, kinh tế, an ninh, quốc phòng, văn hoá, khoa học công nghệ, giáo dục

Quan hệ hai nước tiếp tục được duy trì và tăng cường thông qua các chuyến thăm và tiếp xúc của lãnh đạo hai nước Thủ tướng hai bên thường xuyên tiếp xúc song phương tại các hội nghị cấp cao ASEAN, EAS, ASEM Chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Ấn Độ Pratibha Patil (tháng 11/2008) và Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh (nhân dịp dự EAS và Hội nghị cấp cao ASEAN- Ấn Độ tại Hà Nội) tháng 10/2010 và chuyến thăm Ấn Độ của Phó Chủ tịch Nước Nguyễn Thị Doan (tháng 9/2009) và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng (tháng 2/2010) khẳng định quyết tâm của hai nước trong việc thúc đẩy hơn nữa quan hệ đối tác chiến lược theo chiều rộng và chiều sâu Thủ tướng Ấn Độ khẳng định Ấn Độ rất coi trọng và mong muốn thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ chiến lược với Việt Nam, nhấn mạnh Việt Nam cần lĩnh vực gì, Ấn Độ sẵn sàng hợp tác lĩnh vực đó

Các chuyến thăm cấp Nhà nước tới Cộng hòa Ấn Độ một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của Ấn Độ trong chính sách đối ngoại của Việt Nam cũng như thể

Trang 33

hiện tiềm năng của quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước qua các chuyến thăm của hai nhà lãnh đạo cao nhất của Việt Nam sang thăm Ấn Độ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (năm 2011), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (năm 2013) Việt Nam là nhân tố quan trọng trong chính sách “Hành động phía Đông” của Ấn Độ, điều đó đã thể hiện qua thực tế trong ba tháng đầu kể từ khi Chính phủ mới lên cầm quyền (26/5/2014), Ngoại trưởng trong (8/2014), và Tổng thống Ấn Độ (9/ 2014) đã tới thăm Việt Nam Tiếp theo Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tới thăm và hội đàm với Thủ tướng Ấn Độ (10/ 2014) Trong chính sách “Hành động phía Đông”, Ấn Độ tập trung thúc đẩy hợp tác trong ngành nông nghiệp, chế biến nông sản, chế tạo hàng hóa, dược phẩm, dệt may, …

Thủ tướng Cộng hòa Ấn Độ Narendra Modi đã thăm chính thức Việt Nam từ ngày 2-3/9/2016 Trong chuyến thăm này lãnh đạo hai nước đã nhất trí nâng tầm quan hệ hai nước thành Đối tác Chiến lược toàn diện Việt Nam luôn khẳng định Việt Nam ủng hộ Ấn Độ triển khai chính sách “Hành động hướng Đông” và đóng vai trò lớn hơn ở khu vực và trên thế giới Năm 2017 đánh dấu nhiều cột mốc quan trọng trong quan hệ hai nước: Ấn Độ kỷ niệm 70 năm ngày Độc lập (15/8/1947-15/8/2017), Việt Nam và Ấn Độ kỷ niệm 45 năm quan hệ ngoại giao (7/1/1972-7/1/2017) và 10 năm quan hệ Đối tác chiến lược (2007-2017) Có thể nói việc thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Ấn Độ đang góp phần nâng cao

sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, là động lực quan trọng để thúc đẩy đối thoại và hợp tác chính trị song phương, tăng cường hơn nữa quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước Đây cũng chính là cơ sở quan trọng để tăng cường đối thoại và hợp tác chính trị đa phương[ 35,159] Từ ngày 02-đến 04/3/3018 Chủ tịch nước Trần Đại Quang thăm Ấn Độ, thông qua các cuộc tiếp xúc, trao đổi, lãnh đạo hai nước đã đạt được nhiều thỏa thuận quan trọng mang tính chiến lược, vừa định hướng tổng thể cho quan hệ hai nước trong thời gian dài, củng cố vững chắc sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau giữa lãnh đạo và nhân dân hai nước

Thứ hai: Quan hệ Quốc hội Việt Nam với hai viện Quốc hội của Ấn Độ

cũng được thúc đẩy song phương và diễn đàn liên nghị viện khu vực và thế giới: Chủ tịch Hạ viện Ấn Độ Somnath Chatterjee (tháng 3/2007) và Chủ tịch Viện lập

Trang 34

pháp West Bengal (tháng 12/2009) thăm Việt Nam, Sau đó là chuyến thăm Ấn Độ của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng (tháng 2/2010), hai bên tiếp tục tăng cường hợp tác, trao đổi thông tin và kinh nghiệm về quy trình lập pháp, giám sát, hoạt động của các cơ quan chức năng của quốc hội.v.v Năm 2010, Ấn Độ có được

“Quy chế quan sát viên” tại AIPA nhân dịp AIPA được tổ chức tại VN Năm 2010 Quốc hội Việt Nam giữ chức Chủ tịch Tổ chức liên nghị viện ASEAN (AIPA-31), hai bên thường xuyên trao đổi các đoàn sang thăm, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau Ngày 16/5/2011, đoàn đại biểu Hạ nghị viện Cộng hòa Ấn Độ do bà Meira Kumar, Chủ tịch Hạ viện dẫn đầu sang thăm chính thức Việt Nam, hai bên tích cực triển khai những thỏa thuận hợp tác đã đạt được, tăng cường trao đổi đoàn, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm hoạt động góp phần vào sự phát triển chung của quan hệ hai

nước Đặc biệt ngày 28/ 3/ 2015, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng tiếp Chủ

tịch Hạ viện Ấn Độ Sumitra Mahajan, sang Việt Nam dự Đại hội đồng Liên minh Nghị viện thế giới lần thứ 132 (IPU-132) tại Hà Nội, hai bên khẳng định tiếp tục góp phần củng cố quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước lên một tầm cao mới Trên diễn đàn quốc tế và khu vực, Quốc hội hai nước ủng hộ và hỗ trợ lẫn nhau, tiếp tục kế thừa những quan hệ, tình cảm tốt đẹp, truyền thống mà lãnh đạo hai nước dày công vun đắp

Quan hệ song phương tiếp tục được củng cố và sâu sắc thêm qua chuyến thăm hữu nghị chính thức Ấn Độ của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân (tháng 12-2016) Chuyến thăm có ý nghĩa quan trọng nhằm cụ thể hóa quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam - Ấn Độ, trong bối cảnh hai nước hướng tới kỷ niệm 45 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao (7-1-1972 - 7-1-2017) và kỷ niệm

10 năm quan hệ Đối tác chiến lược (2007 - 2017); đồng thời nhằm thúc đẩy quan hệ sâu rộng hơn giữa Quốc hội Việt Nam với cơ quan lập pháp Ấn Độ, đặt cơ sở vững chắc cho quan hệ ổn định lâu dài với Ấn Độ

Thứ ba, quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐC VN) với các đảng chính trị lớn của Ấn Độ giữa hai nước phát triển tốt đẹp, góp phần quan trọng vào

việc tăng cường quan hệ song phương Quan hệ giữa ĐCSVN với các đảng lớn của

Ấn Độ vẫn được duy trì và tăng cường ĐCSVN có quan hệ chính thức với ĐCS

Trang 35

Cộng sản Ấn Độ (CPI) và ĐCS Ấn Độ Mác-xít (CPI-M) từ năm 1978 Các đảng thường xuyên cử đoàn đại biểu tham dự các Đại hội Đảng toàn quốc của nhau Với CPI: ĐCSVN cử Đoàn đại biểu tham dự Đại hội 19 (tháng 4/2008) của đảng bạn; Tổng bí thư CPI thăm chính thức Việt Nam (tháng 10/2007) Với CPI-M: Uỷ viên Trung ương Đảng - Phó Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Nguyễn Bắc Son dự Đại hội XX (tháng 3/2008), Ủy viên Bộ Chính trị - Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng thăm Ấn Độ (tháng 12/2009); Tổng bí thư CPI-M Prakash Karat thăm chính thức Việt Nam (tháng 4/2008) và Ủy viên Bộ Chính trị CPI-M Yachury thăm Việt Nam tháng 5/2010 v.v Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Ấn Độ ngày 27/10/2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đã có các cuộc tiếp riêng lãnh đạo của các Đảng chính trị của Ấn Độ như Đảng Quốc đại (INC), ĐCS Ấn Độ (CPI), ĐCS Ấn Độ-Mác-xít (CPI-M) Tại các buổi tiếp, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đánh giá cao sự nhất trí quốc gia trong chính sách của Ấn Độ đối với Việt Nam và

sự đóng góp tích cực của các đảng chính trị Ấn Độ vào việc thúc đẩy và phát triển mối quan hệ hữu nghị truyền thống và Đối tác chiến lược giữa Việt Nam và Ấn Độ ngày càng sâu rộng, thực chất và hiệu quả, ĐCSVN luôn coi trọng quan hệ với tất

cả các đảng chính trị Ấn Độ, trong đó có đảng Nhân dân Ấn Độ (BJP), đảng Quốc đại, CPI và CPI-M; mong muốn tất cả các chính trị Ấn Độ tiếp tục có nhiều đóng góp hơn nữa vào việc phát triển quan hệ tốt đẹp và hiệu quả giữa hai nước Ngày 21/3/ 2015 Lãnh đạo CPI và CPI-M đã tiếp Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân và Đoàn đại biểu Việt Nam trong chuyến thăm hữu nghị chính thức Ấn Độ, hai bên bàn về tiến trình phát triển của mỗi đảng, tình hình tại Ấn Độ, cũng như những diễn biến đáng quan tâm trong khu vực và trên thế giới

Quan hệ giữa ĐCSVN với Đảng Quốc Đại (đảng cầm quyền trong chính phủ liên minh UPA từ năm 2004 đến nay) là mối quan hệ truyền thống tốt đẹp từ năm

1989 Hai đảng vẫn duy trì quan hệ gắn bó và chú trọng đến giáo dục truyền thống cho các thế hệ trẻ thông qua các cuộc kỷ niệm 50 năm (1954 - 2004) và 55 năm (1954

- 2009) cuộc gặp giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Jawaharlal Nehru ĐCSVN cũng cử đoàn tham dự Hội nghị quốc tế Tư tưởng Gan-đi trong thế kỷ XXI

Trang 36

do Quốc đại tổ chức (tháng 2/2007) Việc thúc đẩy quan hệ với Đảng Quốc đại đã góp phần tăng cường quan hệ hai nước, nhất là khi Đảng Quốc đại nắm quyền Quan

hệ giữa ĐCSVN và Đảng BJP bắt đầu từ năm 2001 và hiện nay vẫn tiếp tục được duy trì ở mức độ nhất định Một điểm đáng chú ý là các đảng nói trên của Ấn Độ tuy còn nhiều khác biệt, thậm chí có nhiều bất đồng sâu sắc về lý tưởng, quan điểm lãnh đạo, phát triển Ấn Độ, nhưng đều mong muốn tăng cường quan hệ với ĐCSVN và thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Ấn Độ Do đó, dù đảng nào ở Ấn Độ nắm chính quyền, chính sách đối với Việt Nam luôn là nhất quán, ổn định và có kế thừa Đây là yếu tố tích cực để làm sâu sắc thêm quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước [30, tr 162]

Thứ tư, Đối ngoại nhân dân: Quan hệ giữa các tổ chức hữu nghị nhân dân và

thanh niên được tăng cường, thông qua các hoạt động của Hội hữu nghị Việt Nam -

Ấn Độ, Liên hiệp các Tổ chức Hòa bình và Hữu nghị Việt Nam, Hội hữu nghị Ấn

Độ - Việt Nam, Ủy ban Hòa bình và Đoàn kết toàn Ấn Độ.v.v Liên hoan Hữu nghị nhân dân Việt Nam - Ấn Độ là hình thức giao lưu mới, từ năm 2007 đến nay đã tổ chức 11 lần (2007-2017) Đây là hoạt động giao lưu hữu nghị nhân dân với quy mô lớn đầu tiên giữa Việt Nam và Ấn Độ với sự có mặt của Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, Liên hiệp các Tổ chức hòa bình và hữu nghị của Việt Nam và Ủy ban Hòa bình và Đoàn kết toàn Ấn Độ, cùng thanh niên hai nước, nhằm ôn lại truyền thống hữu nghị và đoàn kết giữa nhân dân hai nước, trao đổi về việc thúc đẩy quan hệ song phương và quốc tế khi hai nước xây dựng quan hệ đối tác chiến lược Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cũng có nhiều hoạt động giao lưu các tổ chức thanh niên của CPI, CPI (M) và Đảng Quốc đại, trao đổi đoàn hàng năm với Tổng đội Thiếu sinh quân thuộc Bộ Quốc phòng Ấn Độ.v.v

2.2 TRÊN LĨNH VỰC KINH TẾ

Mối quan hệ chính trị tốt đẹp đang giúp tăng cường các mối quan hệ kinh tế gắn với hợp tác trong lĩnh vực năng lượng, trong đầu tư nhà nước và tư nhân cũng như phát triển thương mại Quan hệ Việt Nam và Ấn Độ đều đặt ưu tiên cao nhất cho phát triển kinh tế Do đó, quan hệ kinh tế giữa hai nước từ năm 2007 đến năm

20017 luôn được hai nước coi là động lực chính để thúc đẩy các quan hệ song

phương khác

Trang 37

2.2.1 Về thương mại

Kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam - Ấn Độ giai đoạn 2001 - 2010 tăng khá nhanh, trung bình trên 10 %/năm, nhất là từ 2006 -2010 Năm 2006, thương mại hai chiều vượt mức 1 tỉ USD mà hai bên đã thỏa thuận trong Chương trình hành động 2004- 2006 Giai đoạn 2007- 2009 do khủng hoảng kinh tế thế giới, mức tăng kim ngạch thương mại có chững lại Tuy nhiên, khi nền kinh tế thế giới bắt đầu phục hồi thì thương mại song phương lại tăng lên, kim ngạch song phương năm 2010 tăng 33,3% so với năm 2009 và vượt khá xa so với mức 2 tỷ USD do Thủ tướng hai nước đề ra từ năm 2007 So với năm 2009, xuất khẩu của Việt Nam tăng rất mạnh (239%), trong khi nhập khẩu từ Ấn Độ chỉ tăng ít (6,8%) Nhập siêu giảm

từ 1,125 tỉ USD năm 2009 xuống còn 753 triệu USD năm 2010 Ấn Độ nằm trong

số 11 nước xuất khẩu nhiều nhất vào Việt Nam

Kể từ 2010, năm Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN - Ấn Độ bắt đầu có hiệu lực, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này đã có sự biến chuyển đáng kể Năm 2010 cũng là năm trị giá xuất khẩu tăng mạnh, đạt 993 triệu USD, tăng trên 136% so với năm 2009 Tiếp đà tăng trưởng này, năm 2011 đánh dấu năm đầu tiên kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ vượt mốc 1 tỷ USD (1,523 tỷ USD), tăng hơn 53% và chênh lệch kim ngạch so với năm 2010 là hơn 531 triệu USD Kể từ năm 2013, kim ngạch xuất khẩu đã vượt mốc 2 tỷ USD, (2,355 tỷ) tăng 32,2% so với năm trước đó Năm 2014, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ tăng trưởng chậm hơn hai năm 2012 và 2013, đạt trên 2,460

tỷ USD, tăng 4,4% Một nguyên nhân khách quan dẫn tới việc kim ngạch xuất khẩu tăng chậm là do năm 2014 là tình hình chính trị, tài chính - kinh tế toàn cầu trải qua thời kỳ biến động, khó khăn với hàng loạt thách thức như: các cuộc xung đột giữa Nga và Mỹ về vấn đề Ucraina, xung đột về chính trị, sắc tộc, chống khủng bố như chống IS, Bokoharam…tại các nước Trung Đông - Châu Phi; khủng hoảng nợ công Châu Âu; nhu cầu nhập khẩu từ các thị trường lớn như Mỹ, EU, sụt giảm… Điều này đã có những tác động tới tình hình kinh tế nói chung, tình hình xuất khẩu của Việt Nam cũng như nhu cầu nhập khẩu của Ấn Độ nói riêng

Trang 38

Ấn Độ là quốc gia xếp thứ 12 trong hơn 200 đối tác thương mại của Việt Nam trên thế giới Xét riêng trong châu Á, Ấn Độ là đối tác thương mại lớn thứ

9 của Việt Nam Về thương mại, kim ngạch song phương đã tăng gấp 10 lần, từ 1,15 tỷ USD trong năm tài khóa 2006 - 2007, lên 10,1 tỷ USD vào năm tài khóa

2016 - 2017 (theo số liệu của Ấn Độ) [46].Tổng trị giá xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Ấn Độ năm 2017 đạt khoảng 7,63 tỷ USD, tăng mạnh 40,5% so với kết quả thực hiện trong năm 2016 Trong đó, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Ấn Độ đạt gần 3,76 tỷ USD, tăng 39,7% so với năm 2016, chiếm 1,7

% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang tất cả các đối tác thương mại trong năm 2017 Nhập khẩu các hàng hóa có xuất xứ Ấn Độ vào Việt Nam đạt 3,87 tỷ USD, tăng 41,2% so với năm 2016, chiếm 1,8% tổng trị giá nhập khẩu của cả nước trong năm 2017

Từ ngày 2-4/3/2018, Chủ tịch Trần Đại Quang thăm Ấn Độ , trong Tuyên bố chung Việt Nam - Ấn Độ đã nhấn mạnh mục tiêu đưa kim ngạch thương mại giữa hai nước đạt 15 tỷ USD vào năm 2020 Các doanh nghiệp hai bên tìm kiếm những cơ hội đầu tư kinh doanh mới trong những lĩnh vực hợp tác ưu tiên như: Khí, điện, năng lượng, năng lượng tái tạo và tiết kiệm năng lượng, kết cấu hạ tầng, dệt may, da giày, dược phẩm, máy móc, nông nghiệp và các sản phẩm nông nghiệp, du lịch, hóa chất, công nghệ thông tin và các ngành công nghiệp dịch vụ khác; Tăng cường hợp tác và trao đổi kiến thức về tăng năng suất nông nghiệp, ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao và trao đổi thực tiễn về canh tác và kỹ thuật nông nghiệp [51]

2.2.2 Về đầu tư và tín dụng ưu đãi

2.2.2.1 Về đầu tư

Một là, Đầu tư từ Việt Nam vào Ấn Độ: thông qua đại diện ngoại giao tại

Ấn Độ bằng hình thức hội thảo, trao đổi thông tin của Doanh nghiệp 2 nước hoặc

tổ chức các đoàn Doanh nghiệp 2 nước đi khảo sát thị trường lẫn nhau.Tổ chức các Diễn đàn trao đổi kinh nghiệm quản lý, xúc tiến và kêu gọi đầu tư để Việt Nam có thể trao đổi kinh nghiệm của Ấn Độ trong việc xây dựng và thực hiện chính sách định hướng phát triển xuất khẩu phần mềm Tính đến hết năm 2010,

Trang 39

Việt Nam đầu tư sang Ấn Độ còn rất khiêm tốn, với dự án 150.000 USD thành lập Công ty Phát triển Đầu tư Công nghệ India của Công ty phát triển đầu tư công nghệ (FPT) để sản xuất phần mềm, thực hiện dịch vụ tin học và dự án 650.000 USD của công ty Uni President tại Chennai (bang Tamil Nadu) sản xuất thức ăn chăn nuôi Đến năm 2013 đầu tư của Việt Nam sang Ấn Độ cũng tăng dần, đạt 24 triệu USD và hiện nay đầu tư của Việt Nam vào Ấn Độ là khoảng 26 triệu USD với các lĩnh vực mà các nhà đầu tư Việt Nam quan tâm gồm phân phối các sản phẩm thức ăn gia súc, phân phối, buôn bán vật liệu xây dựng, buôn bán xuất nhập khẩu mỹ phẩm, các sản phẩm tin học

Hai là, Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của ẤnĐộ vào Việt Nam đã tăng khá mạnh: Đáng chú ý, từ năm 2007, nhiều tập đoàn lớn của Ấn Độ như Essar, Tata

đã quan tâm xúc tiến đầu tư vào Việt Nam Năm 2009, Ấn Độ có tổng cộng 35 dự

án đầu tư còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký là 201,1 triệu USD, đứng thứ 32 trong tổng số 88 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam; nhưng đến tháng 1/2011, Ấn Độ có 50 dự án đầu tư còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký đạt 212,8 triệu USD đứng thứ 28/92 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam [5]; đến năm 2013, Ấn Độ đã có 77 dự án đầu tư vào Việt Nam trị giá 254 triệu USD; đến năm 2014, Ấn Độ có 84 dự án đầu tư tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký là 260 triệu USD] [37] Về đầu tư, Việt Nam hiện có 136 dự án của Ấn Độ, với tổng vốn đăng ký khoảng 1,28 tỷ USD, bao gồm cả vốn đến từ Ấn Độ thông qua nước thứ ba, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực dầu khí, năng lượng tái tạo, khoáng sản, chế biến nông sản, công nghệ thông tin và linh kiện ô tô Dự án mới nhất của Ấn Độ là dự án chế biến cà phê hòa tan của Công ty Cà phê Tata Coffee tại tỉnh Bình Dương, với tổng vốn đăng ký là 63 triệu USD [46]

Về ngành đầu tư: các dự án của Ấn Độ tập trung nhiều nhất vào lĩnh vực

công nghiệp chế biến, chế tạo có 41 dự án, tổng vốn đầu tư 211,62 triệu USD, chiếm 55,8% về vốn đầu tư, lĩnh vực khai khoáng có 3 dự án, tổng vốn đầu tư 86 triệu USD, chiếm 22,67% tổng vốn đầu tư và lĩnh vực bán buôn bán lẻ có 19 dự án, tổng vốn đầu tư 51,08 triệu USD, chiếm 13.73% về vốn đầu tư Còn lại là các lĩnh vực khác

Trang 40

Về hình thức đầu tư: đa số vốn đầu tư của Ấn Độ theo hình thức 100% vốn

nước ngoài có 77 dự án, tổng vốn đầu tư đạt 269.264 triệu USD, chiếm 71% về tổng vốn đầu tư Hình thức liên doanh và hợp đồng hợp tác kinh doanh có 18 dự án với tổng vốn đầu tư đạt 23,67 triệu USD, chiếm 6,3% tổng vốn đầu tư và hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh với 4 dự án, tổng vốn đầu tư đạt 86,28 triệu USD chiếm 22,7% về tống vốn đầu tư

Về địa bàn đầu tư hiện nay: không tính 3 dự án thăm dò, khai thác dầu khí,

Ấn Độ đầu tư tại 22 địa phương trên 63 tỉnh thành của Việt Nam, trong đó Thành phố Hồ Chí Minh với 36 dự án, tổng vốn đầu tư đạt 54,9 triệu USD, tiếp đến tỉnh Tuyên Quang với 03 dự án, tổng vốn đầu tư 45 triệu USD và tỉnh Bắc ninh với 02

dự án, tổng vốn đầu tư đạt 40,5 triệu USD

Về hiệu quả đầu tư: Ấn Độ có tiềm lực mạnh trong lĩnh vực công nghệ thông tin như chính phủ điện tử, phát triển phần mềm,… Nhiều công ty của Ấn Độ đã bắt đầu kinh doanh tại Việt Nam trong lĩnh vực phát triển phần mềm và đào tạo công nghệ thông tin, dệt may, ngân hàng tài chính, phầm mềm, thức ăn gia súc,…Thời gian gần đây, có nhiều tập đoàn tiêu biểu Ấn Độ như : Inforsys, NIIT, Wipro, Ranbasy, Satyam, Gail, Aditya Birla Tata, Relience, Essar, ONGC, hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất thép, khai thác dầu khí, hoá dầu, công nghệ thông tin, viễn thông, các ngành công nghệ cao và dược phẩm, sang thăm và làm việc với Việt Nam bày tỏ ý định đầu tư mở rộng hoạt động tại Việt Nam

Năm 2009, Ấn Độ tiếp tục công bố một khoản tín dụng mới cho Việt Nam trị giá 19,5 triệu USD và được Chính phủ Việt Nam đã đồng ý sử dụng cho ba nhà máy thủy điện Nậm Trai 4 (Sơn La), Yan Tann Sien (Lâm Đồng) và Nậm He (Điện

Ngày đăng: 11/05/2020, 19:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Trần Văn Đào, Phan Doãn Nam (2001), Giáo trình lịch sử quan hệ quốc tế 1945 - 1990, Học viện Quan hệ quốc tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử quan hệ quốc tế 1945 - 1990
Tác giả: Trần Văn Đào, Phan Doãn Nam
Năm: 2001
16. Trí Dũng (2015), “Quan hệ cường quốc kiểu mới - sứ mệnh ông Tập đi Mỹ”, BáoVNExpress, http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/phan-tich/quan-he-cuong-quoc-kieu-moi-su-menh-cua-ong-tap-o-my-3281457.html, truy cập ngày 20/08/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ cường quốc kiểu mới - sứ mệnh ông Tập đi Mỹ”, "BáoVNExpress
Tác giả: Trí Dũng
Năm: 2015
18. Phạm Thanh Hà (2009), “Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu châu Phi và Trung Đông, số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay”
Tác giả: Phạm Thanh Hà
Năm: 2009
21. Nguyễn Cảnh Huệ (2004), “Vài nét về quan hệ Việt Nam - Ấn Độ”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số tháng 3/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về quan hệ Việt Nam - Ấn Độ”, "Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử
Tác giả: Nguyễn Cảnh Huệ
Năm: 2004
22. Nguyễn Cảnh Huệ (2009), “Bước phát triển mới của mối quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trong những năm đầu thế kỷ XXI”, Viện Nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh,http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/c/document_library/get_file?uuid=f62ef980-9df0-45c0-91a1-e645017d55b2&groupId=13025, truy cập ngày 20/08/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước phát triển mới của mối quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trong những năm đầu thế kỷ XXI”, "Viện Nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Cảnh Huệ
Năm: 2009
24. Chu Khang (2012), “Sức mạnh của BRICS”, Báo Quốc tế, http://baoquocte.vn/suc-manh-cua-brics-11090.html, truy cập ngày 04/08/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức mạnh của BRICS”, "Báo Quốc tế
Tác giả: Chu Khang
Năm: 2012
25. Nguyễn Văn Lịch (2008), “Năng lượng nguyên tử của Ấn Độ và khả năng hợp tác với Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng lượng nguyên tử của Ấn Độ và khả năng hợp tác với Việt Nam”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Văn Lịch
Năm: 2008
26. Khánh Linh (2007), “Việt Nam - Ấn Độ chương mới trong hợp tác quốc phòng”, Trung tâm nghiên cứu Ấn Độ - Học viên quốc gia Hồ Chí Minh, http://cis.org.vn/article/1730/quan-he-viet-nam-an-do-tren-linh-vuc-quoc-phong-an-ninh-nhung-nam-dau-the-ky-xxi-phan-1.html,truycậpngày20/08/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam - Ấn Độ chương mới trong hợp tác quốc phòng”, "Trung tâm nghiên cứu Ấn Độ - Học viên quốc gia Hồ Chí Minh
Tác giả: Khánh Linh
Năm: 2007
27. Hoàng Xuân Long (2017), “Đặc điểm nổi bật về khoa học, công nghệ và đổi mới của thế giới từ sau khủng hoảng kinh tế (2009) đến nay và những năm tiếp theo”, Báo cáo tham luận tại Hội thảo “Biến động kinh tế, chính trị thế giới khu vực: giai đoạn 2009 - nay và dự báo đến năm 2030” của Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới, Hà Nội, ngày 19/6/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm nổi bật về khoa học, công nghệ và đổi mới của thế giới từ sau khủng hoảng kinh tế (2009) đến nay và những năm tiếp theo”, "Báo cáo tham luận tại Hội thảo “Biến động kinh tế, chính trị thế giới khu vực: giai đoạn 2009 - nay và dự báo đến năm 2030” của Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới, Hà Nội
Tác giả: Hoàng Xuân Long
Năm: 2017
28. Nguyễn Thu Phương (2007), “Ba mươi nhăm năm quan hệ Việt Nam - Ấn Độ”, Tạp chí Cộng sản, số 1/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba mươi nhăm năm quan hệ Việt Nam - Ấn Độ”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Thu Phương
Năm: 2007
30. Nguyễn Thị Quế (2016), “Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ: Quá khứ, hiện tại, tương lai”, Kỷ yếu hội thảo khoa Quốc tế Việt Nam - Ấn Độ: 45 năm quan hệ ngoại giao và 10 năm đối tác chiến lược, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội 31. Nguyễn Thị Quế (2016), “Việt Nam - Ấn Độ: 45 năm quan hệ ngoại giao và10 năm đối tác chiến lược”, Kỷ yếu hội thảo khoa Quốc tế, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ: Quá khứ, hiện tại, tương lai”, "Kỷ yếu hội thảo khoa Quốc tế Việt Nam - Ấn Độ: 45 năm quan hệ ngoại giao và 10 năm đối tác chiến lược", Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội 31. Nguyễn Thị Quế (2016), “Việt Nam - Ấn Độ: 45 năm quan hệ ngoại giao và 10 năm đối tác chiến lược”, "Kỷ yếu hội thảo khoa Quốc tế
Tác giả: Nguyễn Thị Quế (2016), “Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ: Quá khứ, hiện tại, tương lai”, Kỷ yếu hội thảo khoa Quốc tế Việt Nam - Ấn Độ: 45 năm quan hệ ngoại giao và 10 năm đối tác chiến lược, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội 31. Nguyễn Thị Quế
Nhà XB: Nxb Lý luận Chính trị
Năm: 2016
32. Đặng Đình Quý, Nguyễn Vũ Tùng (2011), “Tiếp cận vấn đề đưa các mối quan hệ đối ngoại của Việt Nam đi vào chiều sâu”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 1 (84), tháng 3/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận vấn đề đưa các mối quan hệ đối ngoại của Việt Nam đi vào chiều sâu”, "Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 1 (84)
Tác giả: Đặng Đình Quý, Nguyễn Vũ Tùng
Năm: 2011
34. Nguyễn Quang Thắng (2015), Kinh tế thế giới và Việt Nam 2014 - 2015; Nỗ lực phục hồi để chuyển sang quỹ đạo tăng trưởng mới, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế thế giới và Việt Nam 2014 - 2015; Nỗ lực phục hồi để chuyển sang quỹ đạo tăng trưởng mới
Tác giả: Nguyễn Quang Thắng
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2015
35. Nguyễn Xuân Thắng (2015), Kinh tế thế giới và việt nam 2014-2015: nỗ lực phục hồi để chuyển sang quỹ đạo tăng trưởng mới, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế thế giới và việt nam 2014-2015: nỗ lực phục hồi để chuyển sang quỹ đạo tăng trưởng mới
Tác giả: Nguyễn Xuân Thắng
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2015
36. Phạm Minh Thu (2018), ““Ấn Độ - Thái Bình Dương”: Cách tiếp cận mới cho chiến lược cũ”, Báo Quốc tế, http://baoquocte.vn/an-do-thai-binh-duong-cach-tiep-can-moi-cho-chien-luoc-cu-65468.html, truy cập ngày 20/08/2019 37. Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ Tôn Sinh Thành và Đại sứ Ấn Độ tại Việt NamPreeti Saran trả lời phỏng vấn phóng viên TTXVN tại New Delhi về quan hệ Việt - Ấn ngày 10/8/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ấn Độ - Thái Bình Dương”: Cách tiếp cận mới cho chiến lược cũ”, "Báo Quốc tế
Tác giả: Phạm Minh Thu
Năm: 2018
38. Lê Nguyễn Hương Trinh (2005), Chính sách ngoại thương Ấn Độ thời kỳ cải cách, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách ngoại thương Ấn Độ thời kỳ cải cách
Tác giả: Lê Nguyễn Hương Trinh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
39. Vũ Tiến Trọng (2017), “Quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Ấn Độ, dưới góc nhìn quốc phòng - an ninh”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân,http://tapchiqptd.vn/vi/quoc-phong-quan-su-nuoc-ngoai/quan-he-doi-tac-chien-luoc-viet-nam-an-do-duoi-goc-nhin-quoc-phong-an-ninh/10496.html,truy cập ngày 20/08/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Ấn Độ, dưới góc nhìn quốc phòng - an ninh”, "Tạp chí Quốc phòng toàn dân
Tác giả: Vũ Tiến Trọng
Năm: 2017
40. Bảo Vinh (2015), TTXVN, “Ấn Độ đặt mua 56 máy bay vận tải quân sự của hãng Airbus”, Báo Thanh niên, https://thanhnien.vn/the-gioi/an-do-mua-56-may-bay-van-tai-quan-su-cua-airbus-562479.html, truy cập ngày 20/08/2019 41. Võ Xuân Vinh (2005), “ASEAN trong chính sách hướng Đông của Ấn Độ”,Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 3/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấn Độ đặt mua 56 máy bay vận tải quân sự của hãng Airbus”, "Báo Thanh niên, "https://thanhnien.vn/the-gioi/an-do-mua-56-may-bay-van-tai-quan-su-cua-airbus-562479.html, truy cập ngày 20/08/2019 41. Võ Xuân Vinh (2005), “ASEAN trong chính sách hướng Đông của Ấn Độ”, "Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 3
Tác giả: Bảo Vinh (2015), TTXVN, “Ấn Độ đặt mua 56 máy bay vận tải quân sự của hãng Airbus”, Báo Thanh niên, https://thanhnien.vn/the-gioi/an-do-mua-56-may-bay-van-tai-quan-su-cua-airbus-562479.html, truy cập ngày 20/08/2019 41. Võ Xuân Vinh
Năm: 2005
42. Minh Lý (2013), “Việt Nam - Ấn Độ: Tăng cường hợp tác về công nghệ thông tin”, Vietnamnet, http://vietnamnet.vn/vn/cong-nghe-thong-tin-vien-thong/130090/viet-nam-an-do-tang-cuong-hop-tac-ve-cntt.html,truycậpngày 5/07/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam - Ấn Độ: Tăng cường hợp tác về công nghệ thông tin”, "Vietnamnet
Tác giả: Minh Lý
Năm: 2013
57. Iskander Rehman (2009), Đối tác Việt - Ấn: Tiềm năng chưa mở, Bản tin đài BBC ngày 17/9/2009, http://www.bbc.co.uk/vietnamese, truy cập ngày 5/07/2018 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w