1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình thành luận điểm về tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới của doanh nghiệp việt nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4 0 (nghiên cứu trường hợp công ty cổ phần nội dung số toàn cầu GDC) (luận văn thạc sĩ tâm lý học)

93 103 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng thời tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới tới đề tài ―Nghiên cứu thực trạng và đề xuất chính sách, giải pháp nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo innovation của doanh nghiệp Việt Na

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN TIẾN ANH

HÌNH THÀNH LUẬN ĐIỂM VỀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐỔI MỚI CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÔNG TY CỔ PHẦN

NỘI DUNG SỐ TOÀN CẦU - GDC)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hà Nội – 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN TIẾN ANH

HÌNH THÀNH LUẬN ĐIỂM VỀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐỔI MỚI CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0

(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÔNG TY CỔ PHẦN

NỘI DUNG SỐ TOÀN CẦU - GDC)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Mã số: 60 34 04 12 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đào Thanh Trường

Hà Nội – 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Luận văn Thạc sĩ này, với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Khoa Khoa học Quản lý - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tạo điều kiện cho tôi có môi trường học tập tốt trong suốt thời gian tôi học tập, nghiên cứu tại trường

Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới PGS.TS Đào Thanh Trường - giáo viên hướng dẫn đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành Luận văn Đồng thời tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới tới đề tài ―Nghiên cứu thực trạng và đề xuất chính sách, giải pháp nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo (innovation) của doanh nghiệp Việt Nam‖

- Mã số Kx01.25/16-20 thuộc Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp quốc gia giai đoạn 2016-2020: ―Nghiên cứu những vấn đề trọng yếu

về khoa học xã hội và nhân văn phục vụ phát triển kinh tế xã hội‖ - Mã số Kx.01/16-20 do TS Trịnh Ngọc Thạch làm chủ nhiệm đã cung cấp số liệu, tài liệu để tôi hoàn thành Luận văn

Sau cùng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình đã luôn động viên, nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình làm Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn

Học viên cao học

Trần Tiến Anh

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 7

1 Tên đề tài 7

2 Lý do nghiên cứu 7

3 Tóm tắt lịch sử nghiên cứu 8

4 Mục tiêu nghiên cứu 10

5 Phạm vi nghiên cứu 11

6 Mẫu khảo sát 11

7 Câu hỏi nghiên cứu 11

8 Giả thuyết nghiên cứu 11

9 Phương pháp chứng minh giả thuyết 11

10 Nội dung nghiên cứu 11

11 Kết cấu luận văn 12

PHẦN NỘI DUNG 13

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC ĐỔI MỚI CỦA DOANH NGHIỆP 13

1.1 Khái niệm doanh nghiệp 13

1.2 Khái niệm đổi mới 15

1.3 Khái niệm năng lực đổi mới 17

1.4 Khái niệm về năng lực đổi mới của doanh nghiệp 19

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC ĐỔI MỚI CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY 23

2.1 Bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư 23

2.2 Cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư 27

2.3 Thực trạng năng lực đổi mới của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay 31

2.3.1 Năng lực cải tiến – nâng cấp 31

2.3.2 Năng lực nghiên cứu – sáng tạo công nghệ mới 36

CHƯƠNG 3 LUẬN ĐIỂM VỀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐỔI MỚI CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ 39

Trang 5

3.1 Thách thức của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay trong việc nâng cao năng lực

đổi mới 39

3.1.1 Năng lực cạnh tranh 39

3.1.2 Thách thức về tài chính 43

3.1.3 Thách thức về nguồn nhân lực 47

3.1.4 Thách thức về chiến lược phát triển kinh tế 50

3.1.5 Thách thức về mô hình vận hành, quản trị 51

3.1.6 Thách thức về môi trường kinh doanh 52

3.1.7 Thất bại thị trường trong đổi mới 53

3.2 Một số nghiên cứu về đo lường năng lực đổi mới và các yếu tố tác động đến năng lực đổi mới của doanh nghiệp 54

3.2.1 Giới thiệu về Chỉ số Đổi mới toàn cầu 54

3.2.2 Giới thiệu về Hệ thống i2-Metrix 57

3.3 Hình thành luận điểm về xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới của doanh nghiệp phù hợp với tình hình thực tế tại Việt Nam 61

3.4 Lượng hoá các tiêu chí 79

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Trang 6

DANH MỤC HÌNH VÀ BẢNG BIỂU

1 Hình:

Hình 1: Các yếu tố liên quan tới năng lực đổi mới 19

Hình 2: Mô hình năng lực đổi mới của S.P.O 20

Hình 3: Các giai đoạn của cuộc cách mạng công nghiệp 24

Hình 4: Các lĩnh vực chính của các cuộc cách mạng công nghệ 25

Hình 5: Lý do thực hiện cải tiến, nâng cấp công nghệ của doanh nghiệp(%) 32

Hình 6: Nguồn vốn đƣợc huy động cho cải tiến, nâng cấp (đơn vị %) 33

Hình 7: Kết quả kỳ vọng khi thực hiện hoạt động NC-TK (% doanh nghiệp) 37

Hình 8: Nguồn vốn doanh nghiệp sử dụng cho nghiên cứu (% doanh nghiệp) Nguồn: Kết quả điều tra của CIEM 37

Hình 9: Năng lực ứng dụng công nghệ mới - các chỉ số thành phần 39

Hình 10: Cạnh tranh - các chỉ số thành phần 41

Hình 11: Đánh giá về những khó khăn trong quá trình hoạt động 42

Hình 12: Nhu cầu các nguồn tài chính khác nhau trong vòng đời phát triển của doanh nghiệp KH&CN 44

Hình 13: Nguồn vốn dành cho nghiên cứu (tỷ lệ %) 45

Hình 14: Tỷ lệ doanh nghiệp nhận vốn đầu tƣ mạo hiểm theo quy mô (tỷ lệ %) 46

Hình 15: Tỷ lệ phần trăm nhân sự theo nhiệm vụ trong hoạt động KH&CN của doanh nghiệp phân theo quy mô doanh nghiệp (tỷ lệ %) 49

Hình 16: Sơ đồ lƣợng hoá năng lực đổi mới dựa trên 10 tiêu chí của giáo sƣ Nancy K Napier (Boise University, Mỹ) 58

Hình 17: Yếu tố cản trở hoạt động đổi mới 79

Hình 18: Các hoạt động đổi mới của Dreamlab trong 5 năm trở lại đây 80

2 Bảng biểu: Bảng 1: Mức độ công nghệ đƣợc tiếp nhận trong các doanh nghiệp 34

Bảng 2: Nguồn gốc công nghệ đang sử dụng 35

Bảng 3: Tổng chi của doanh nghiệp công nghiệp cho hoạt động nghiên cứu 38

Bảng 4: Các yếu tố hình thành năng lực đổi mới của doanh nghiệp 64

Trang 7

Bảng 5: Tiêu chí và các tiêu chí thành phần cấu thành năng lực đổi mới của doanh nghiệp 81

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tên đề tài

Hình thành luận điểm về tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 (Nghiên cứu trường hợp Công ty cổ phần nội dung số toàn cầu - GDC)

2 Lý do nghiên cứu

1) Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, công nghệ, tri thức và sáng tạo đang trỏ thành yếu tố then chốt quyết định năng lực cạnh tranh và tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia Sự hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức toàn cầu đang làm thay đổi diện mạo nền kinh tế thế giới Trong đó, doanh nghiệp dựa trên tri thức hay doanh nghiệp đổi mới giữ vai trò trung tâm trong quá trình phát triển

Hội nhập quốc tế được hiểu là hội nhập vào nền kinh tế tri thức kết nối toàn cầu: sản xuất kinh doanh toàn cầu, chuỗi cung ứng toàn cầu, chuỗi giá trị toàn cầu… Do đó, sự cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt (siêu cạnh tranh) Mỗi nền kinh tế, mỗi doanh nghiệp cần biết mình đang đứng ở đâu trong nền kinh tế toàn cầu này Quốc gia nào biết nắm bắt cơ hội, quốc gia đó sẽ vượt lên Chính vì vậy, đã hội nhập mà vẫn giữ mô hình tăng trưởng dựa vào nhân công rẻ và bán tài nguyên, không lấy tri thức và đổi mới làm nguồn lực chính thì không thể tham gia vào các phân khúc có giá trị cao hơn mà chỉ làm gia công - khâu thấp nhất trong chuỗi giá trị và sẽ trở thành lệ thuộc

Sau hơn 30 năm đổi mới, nước ta đã đạt những thành tựu quan trọng, từ nước thu nhập kém trở thành nước thu nhập trung bình (thấp), đời sống nhân dân được cải thiện, Việt Nam có vai trò rõ nét hơn trên trường quốc tế Tuy nhiên so với các nước trong khu vực thì chúng ta vẫn đang tụt hậu GDP/đầu người của Việt Nam ngày càng tụt xa so với các nước ASEAN và Trung Quốc Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu vào toàn cầu hóa, thu hút FDI nhiều hơn, xuất nhập khẩu tăng, nhưng doanh nghiệp không nâng cao được trình độ công nghệ, và vẫn đứng ở đáy chuỗi giá trị toàn cầu, không cạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài Phần lớn các doanh nghiệp dựa chủ yếu vào vốn, đất đai, ưu đãi của chính phủ, các khe hở của pháp luật để có lợi nhuận Các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ rất khó tiếp cận nguồn vốn, nhân lực, công nghệ, thông tin về thị trường Khu vực

Trang 9

đầu tư nước ngoài đã phát triển mạnh, nhưng chỉ một số nhỏ các doanh nghiệp này tiến hành nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ Số doanh nghiệp sử dụng các phương pháp sản xuất mới nhất còn ít Đáng lưu ý là hiệu ứng lan tỏa từ các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài chưa thấy rõ Nhà nước chưa có những chính sách khuyến khích mạnh các doanh nghiệp Việt Nam hợp tác liên kết với các doanh nghiệp FDI có công nghệ tiên tiến để tiếp cận và đổi mới công nghệ

Có thể nói, doanh nghiệp đổi mới - nhân vật trung tâm đưa nền kinh tế nước

ta lên kinh tế tri thức, đang đứng trước những cơ hội và thách thức mới do nền kinh

tế tri thức toàn cầu tạo ra Doanh nghiệp nếu không đổi mới, nâng cao năng lực cạnh tranh thì sẽ bị chèn ép, khó vươn lên Nhà nước nếu không thay đổi chính sách, cơ chế tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hỗ trợ và thúc đẩy sự đổi mới trong nước thì rốt cuộc các doanh nghiệp nước ngoài, sản phẩm nước ngoài sẽ chiếm lĩnh thị trường trong nước Khi đó, Việt Nam vẫn chỉ là nền kinh tế gia công

Xác định được tầm quan trọng về năng lực đổi mới đối với sự phát triển của doanh nghiệp nói riêng và cả nền kinh tế Việt Nam nói chung Với những kiến thức

đã trang bị được qua thời gian theo học chương trình thạc sĩ Quản lý khoa học và công nghệ tại khoa Khoa học Quản lý, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, cùng với sự định hướng của giáo viên hướng dẫn, tôi đã lựa chọn đề tài luận văn tốt nghiệp là: ―Hình thành luận điểm về tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 (Nghiên cứu trường hợp Công ty cổ phần nội dung số toàn cầu - GDC)‖

Đề tài mong rằng sẽ xây dựng được bộ tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, qua đó đề xuất được một số giải pháp cụ thể cho doanh nghiệp trước ngưỡng cửa cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

Trang 10

2012 nhằm làm sáng tỏ hiện trạng đổi mới tại các doanh nghiệp Việt Nam, thể hiện qua các nội dung: nhận thức và văn hóa về đổi mới, kết quả đổi mới, hình thức đổi mới, năng lực nguồn nhân lực phục vụ đổi mới Mẫu nghiên cứu gồm 583 doanh nghiệp Dữ liệu được thu thập theo phương pháp phỏng vấn có cấu trúc và bảng hỏi Kết quả nghiên cứu cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam nhận thức khá rõ vai trò

và lợi ích của hoạt động đổi mới, tuy nhiên chưa có nhiều doanh nghiệp ban hành chính sách thúc đẩy hoạt động này Hơn nữa, đổi mới hiện nay chủ yếu mang tính cải tiến, rất ít doanh nghiệp phát triển sản phẩm, dịch vụ hoàn toàn mới đối với thị trường Đa phần doanh nghiệp được khảo sát chưa có bộ phận nghiên cứu và phát triển (R&D) Thay vào đó, khi có ý tưởng mới về sản phẩm (chủ yếu đến từ nội bộ lãnh đạo doanh nghiệp), họ sẽ đặt hàng thiết kế, sản xuất với đối tác cung ứng (nhà sản xuất ở nước ngoài) Ít doanh nghiệp chú trọng đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Quan hệ hợp tác giữa doanh nghiệp và đơn vị sản xuất tri thức (viện nghiên cứu, trường đại học) chưa được định hình

Đề tài ―Năng lực đổi mới sáng tạo của chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Hà Nội‖ của tác giả Nguyễn Thanh Cường được thực hiện vào năm

2014 Nghiên cứu là luận văn được tác giả thực hiện trong quá trình bảo vệ Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh tại trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, qua đó, tác giả đã đánh giá thực trạng về năng lực đổi mới của chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hà Nội, tiếp đó, đề xuất một số giải pháp phù hợp nâng cao năng lực đổi mới trong kinh doanh của chủ doanh nhỏ và vừa

Đề tài ―Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực công nghệ trong doanh nghiệp sản xuất công nghiệp (Nghiên cứu trường hợp tỉnh Phú Thọ)‖ của tác giả Nguyễn Hoàng Anh đã đưa ra hệ thống tiêu chí (công cụ) để doanh nghiệp có thể xem xét, tham khảo vận dụng kết quả của đề tài này vào việc đánh giá năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp mình, để biết được thực trạng về năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp mạnh, yếu thế nào? cần phải ưu tiên mặt nào? có đảm bảo cho việc đổi mới công nghệ hay không? để điều chỉnh, bổ sung hoặc tìm ra giải pháp cho việc xây dựng kế hoạch và thực hiện việc đổi mới công nghệ đem lại hiệu quả Nghiên cứu cũng cung cấp một số luận cứ cho việc tham mưu, đề xuất việc ban hành các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong việc đổi mới và hiện đại hoá công nghệ; nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý công nghệ thông qua một số giải pháp

Trang 11

rút ra từ kết quả nghiên cứu của đề tài Bản thân tác giả có thêm kiến thức để vận dụng vào công tác quản lý KH&CN tại tỉnh Phú Thọ Tuy nhiên, do đề tài nghiên cứu tại thời điểm năm 2009 nên một số tiêu chí còn chưa phù hợp với sự phát triển của cuộc cách mạng lần thứ tư

Nguyễn Võ Hưng với đề tài ―Nghiên cứu cơ chế, chính sách khoa học và công nghệ khuyến kích đổi mới công nghệ đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam có vốn nhà nước‖ (2003), đề tài này cũng đi vào nghiên cứu chính sách khuyến kích đổi mới công nghệ đối với loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng

có sử dụng vốn của nhà nước, đề tài không đi vào nghiên cứu việc xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp

Nguyễn Thanh Duy với đề tài ― Giải pháp thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu và triển khai trong hoạt động đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp ở Bình Định‖ (2007), đề tài này đi vào nghiên cứu mối quan hệ giữa hoạt động nghiên cứu

và triển khai với hoạt động đổi mới công nghệ, nghiên cứu việc ứng dụng kết qủa hoạt động nghiên cứu và triển khai vào đổi mới công nghệ, chứ không đi vào xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp sản xuất công nghiệp

Bên cạnh đó, quốc tế cũng đã có một số nghiên cứu về năng lực công nghệ, như: Ngân hàng thế giới, M Fransman , các nghiên cứu này đi sâu vào nghiên cứu năng lực công nghệ ở tầm vĩ mô (ngành kinh tế, Quốc gia)

Ngoài ra, cũng đã có nhiều luận văn, đề tài nghiên cứu khoa học nghiên cứu

về đổi mới trong doanh nghiệp, mối liên hệ giữa đổi mới và khởi nghiệp bền vững của doanh nghiệp,… Tuy nhiên, đứng trước ngưỡng cửa của cuộc Cách mạng công nghệ 4.0, chúng ta cần thiết phải có những cái nhìn mới hơn, hợp thời điểm và thích ứng nhanh chóng với sự phát triển vượt bậc của cuộc cách mạng này, bởi vậy, tác giả cho rằng, đề tài: Hình thành luận điểm về tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 (Nghiên cứu trường hợp Công ty cổ phần nội dung số toàn cầu - GDC) có đầy đủ tính mới, tính khoa học và tính cấp thiết cần có

4 Mục tiêu nghiên cứu

Hình thành luận điểm về tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Trang 12

5 Phạm vi nghiên cứu

1) Giới hạn phạm vi về nội dung: Trong phạm vi giới hạn của đề tài, đề tài tập trung hình thành luận điểm về tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư

2) Giới hạn phạm vi quãng thời gian diễn biến của đối tượng nghiên cứu: thời gian nghiên cứu: 2017-2018

3) Giới hạn phạm vi không gian khảo sát: Thành phố Hà Nội

6 Mẫu khảo sát

Nghiên cứu trường hợp Công ty cổ phần nội dung số toàn cầu - GDC

7 Câu hỏi nghiên cứu

Tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư được xây dựng dựa trên các yếu tố nào?

8 Giả thuyết nghiên cứu

Tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới của doanh nghiệp Việt Nam được xây dựng dựa vào trên việc đánh giá các yếu tố bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp Trong đó, các yếu tố bên trong bao gồm các tiêu chí: nhân sự, nguồn lực của doanh nghiệp, năng lực làm chủ công nghệ, năng lực cải tiến – nâng cấp công nghệ, năng lực nghiên cứu – sáng tạo công nghệ mới, năng lực lựa chọn mục tiêu chiến lược, năng lực thích nghi với chuẩn và thông lệ quốc tế Các yếu tố bên ngoài bao gồm: Quan hệ liên kết, khung pháp lý

9 Phương pháp chứng minh giả thuyết

- Nghiên cứu tài liệu

- Khảo sát trực tiếp; Phỏng vấn

10 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu tổng hợp cơ sở lý thuyết, lý luận từ tài liệu, từ đó diễn giải,bố cục phù hợp với mục đích về nội dung của luận văn

- Từ việc nghiên cứu cơ sở lý thuyết và xác định cơ sở lý luận đánh giá để tiến hành xây dựng hệ thống câu hỏi, thiết lập phiếu khảo sát

- Tiến hành điều tra theo mẫu phiếu khảo sát để thu thập dữ liệu cần thiết, từ

đó phân tích và đánh giá một cách khách quan về thực trạng và đưa ra các biện pháp cải tiến phù hợp với mục tiêu của luận văn

Trang 13

11 Kết cấu luận văn

CHƯƠNG 3 LUẬN ĐIỂM VỀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐỔI MỚI

CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG

NGHIỆP LẦN THỨ TƯ

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC ĐỔI MỚI CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 Khái niệm doanh nghiệp

Doanh nghiệp là một bộ phận quan trọng cấu thành nền kinh tế, có mối quan

hệ chặt chẽ với các bộ phận khác Sự phát triển của doanh nghiệp gắn liền với sự phát triển của các phương thức sản xuất Doanh nghiệp Việt Nam là khu vực kinh tế đóng góp quan trọng nhất vào quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước

Do đó, hiểu về doanh nghiệp một cách sâu sắc là cơ sở để nghiên cứu cấu trúc vốn một cách toàn diện hơn Hiện nay trên phương diện lý thuyết có khá nhiều định nghĩa thế nào là một doanh nghiệp, các tác giả đứng trên nhiều quan điểm khác nhau khi tiếp cận doanh nghiệp để phát biểu Chẳng hạn:

Xét theo quan điểm luật pháp: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự hoạt động kinh tế theo chế độ hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế trong phạm vi vốn đầu tư do doanh nghiệp quản lý và chịu sự quản lý của nhà nước bằng các loại luật và chính sách thực thi

Xét theo quan điểm phát triển: Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra của cải Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được

Điều 4, Luật Doanh nghiệp năm 2014 định nghĩa: ―Doanh nghiệp là tổ chức

có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh‖ Kinh doanh là ―việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi‖

Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam 2019 định nghĩa: ―Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có trụ sở giao dịch, có tài sản, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh, bao gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân Các loại hình doanh nghiệp bao gồm: a) Doanh nghiệp khu vực nhà nước: Bao gồm Công ty

Trang 15

TNHH một thành viên 100% vốn Nhà nước; Công ty cổ phần, công ty TNHH có vốn Nhà nước lớn hơn 50% Doanh nghiệp khu vực nhà nước trong ấn phẩm này quy ước bao gồm toàn bộ các doanh nghiệp thuộc các tập đoàn, tổng công ty nhà nước thành viên cấp 1,2,3,4 b) Doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước: Các doanh nghiệp có vốn trong nước thuộc sở hữu tư nhân một người hoặc nhóm người hoặc thuộc sở hữu Nhà nước nhưng chiếm từ 50% vốn điều lệ trở xuống Khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước gồm: Doanh nghiệp tư nhân; Công ty hợp danh; Công ty TNHH tư nhân; Công ty TNHH có vốn Nhà nước từ 50% trở xuống; Công ty cổ phần không có vốn Nhà nước; Công ty cổ phần có vốn Nhà nước từ 50% trở xuống c) Doanh nghiệp khu vực có vốn đầu tư nước ngoài: Các doanh nghiệp có vốn đầu

tư của nước ngoài, không phân biệt tỷ lệ vốn góp Khu vực có vốn đầu tư của nước ngoài gồm: Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài; doanh nghiệp nhà nước liên doanh với nước ngoài; doanh nghiệp khác liên doanh với nước ngoài

Ngoài ra có thể liệt kê hàng loạt những định nghĩa khác nữa khi xem xét doanh nghiệp dưới những góc nhìn khác nhau Song giữa các định nghĩa về doanh nghiệp đều có những điểm chung nhất, nếu tổng hợp chúng lại với một tầm nhìn bao quát trên phương diện tổ chức quản lý là xuyên suốt từ khâu hình thành tổ chức, phát triển đến các mối quan hệ với môi trường, các chức năng và nội dung hoạt động của doanh nghiệp cho thấy doanh nghiệp về cơ bản có thể định nghĩa như sau: Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội

Về cơ bản, dựa trên các tiêu chí khác nhau, có nhiều cách để phân loại các loại hình doanh nghiệp, như: Phân loại theo ngành nghề kinh doanh, hình thức pháp lý… Tuy nhiên, một doanh nghiệp được cấu thành được đảm bảo bởi các yếu tố sau:

- Yếu tố tổ chức: một tập hợp các bộ phận chuyên môn hóa nhằm thực hiện các chức năng quản lý như các bộ phận sản xuất, bộ phận thương mại, bộ phận hành chính

- Yếu tố sản xuất: các nguồn lực lao động, vốn, vật tư, thông tin

Trang 16

- Yếu tố trao đổi: những dịch vụ thương mại - mua các yếu tố đầu vào, bán sản phẩm sao cho có lợi ở đầu ra

- Yếu tố phân phối: thanh toán cho các yếu tố sản xuất, làm nghĩa vụ nhà nước, trích lập quỹ và tính cho hoạt động tương lai của doanh nghiệp bằng khoản lợi nhuận thu được

1.2 Khái niệm đổi mới 1

Khái niệm đổi mới đến nay đã không còn là một vấn đề quá mới mẻ với các quốc gia trên thế giới, tuy nhiên đến với thời đại của xã hội thông tin, đổi mới lại trở thành tâm điểm của việc nghiên cứu, vì đổi mới có quan hệ mật thiết đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia Các nghiên cứu trên thế giới xoay quanh chủ

đề này khá nhiều, hầu hết đều tập trung vào làm rõ hệ khái niệm: đổi mới, năng lực đổi mới, doanh nghiệp, năng lực đổi mới của doanh nghiệp

Một trong những khái niệm đầu tiên về đổi mới được đưa ra vào năm 1934 bởi nhà kinh tế người Áo, Joseph Schumpeter, ông định nghĩa ―Đổi mới là quá trình thương mại hóa những yếu tố mới hoặc những yếu tố cũ trong các tổ chức công nghiệp, liên quan tới vật liệu mới, quy trình mới, thị trường mới, hoặc cơ cấu tổ chức mới, phần lớn được khởi xướng bởi người chủ doanh nghiệp‖ Trong định nghĩa mà Schumpeter đưa ra, đổi mới có một số đặc trưng là: (1) Thương mại hóa sản phẩm của sự sáng tạo của con người về vật liệu mới, quy trình mới, (2) Đề cao vai trò trung tâm của người chủ doanh nghiệp

Theo cuốn Những kiến thức cơ bản về đổi mới, đổi mới (innovation) là một

từ bắt nguồn từ gốc ―nova‖, gốc Latin có nghĩa là ―mới‖ Theo cách hiểu thông thường, đổi mới được hiểu là sự đổi mới cho một giải pháp nào đó, khác với giải pháp đã triển khai, hoặc đổi mới là việc áp dụng những ý tưởng mới vào tổ chức

Trong Đổi mới sáng tạo – Sáng tạo để khoa học công nghệ phục vụ hiệu quả cho phát triển và hội nhập quốc tế của tác giả Đặng Ngọc Dinh, đổi mới là làm mới lại,

thay đổi hoặc tạo ra một sản phẩm, một quá trình hoặc một cách làm hiệu quả hơn,

là đưa vào một ý tưởng, một phương pháp mới (introduce something new) Đối với doanh nghiệp, đổi mới có nghĩa là thực hiện những ý tưởng mới, tạo ra những sản phẩm năng động hoặc hoàn thiện những dịch vụ hiện có Đổi mới là chất xúc tác

1 Hiện nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng, một số văn bản quy phạm pháp luật đang sử dụng các khái niệm đổi mới sáng tạo, năng lực đổi mới sáng tạo Tuy nhiên, trong giới hạn của luận văn này, tác giả sử

Trang 17

cho tăng trưởng và thành công của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp thích ứng và thành công trong thị trường

Tại Điều 3.16 của Luật Khoa học và Công nghệ 2013 cũng đề cập đến khái

niệm ―đổi mới sáng tạo‖: “Đổi mới sáng tạo (innovation) là việc tạo ra, ứng dụng thành tựu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa”

Trong nghiên cứu Mô hình sáng tạo của tổ chức trong doanh nghiệp Việt Nam đăng trong Tạp chí Tâm lý học số 12 (2012) của tác giả Phạm Thành Nghị

cũng đã phân biệt sự khác nhau giữa đổi mới và sáng tạo Sáng tạo được coi là thành tố ý tưởng, là giai đoạn tạo ra ý tưởng mới, bước đầu tiên của quá trình đổi mới Trong khi đó, đổi mới bao gồm cả thành phần ý tưởng và thành phần hoạt động áp dụng ý tưởng mới vào thực tiễn

Đổi mới cũng khác với phát minh (invention) Đổi mới là quá trình doanh nghiệp phát triển các sản phẩm, dịch vụ, quy trình hay hệ thống quản lý mới để đáp ứng các yêu cầu do sự thay đổi của môi trường kinh doanh, công nghệ hay mô hình cạnh tranh Đổi mới gồm nhiều công đoạn, từ nghiên cứu, lập kế hoạch đến tìm kiếm các giải pháp kỹ thuật và thương mại hóa Nói cách khác, chỉ khi doanh nghiệp biến một phát minh thành sản phẩm, dịch vụ mới bán được ra thị trường (đáp ứng nhu cầu khách hàng) và mang lại lợi nhuận thì mới được coi là đổi mới Trong khi đó, không phải phát minh nào cũng dẫn tới thỏa mãn nhu cầu khách hàng Khả năng phát minh thường thể hiện qua số lượng sáng chế được đăng ký bản quyền

Nhìn chung, các nghiên cứu tại Việt Nam hiện nay đã đưa ra khá chính xác

về khái niệm đổi mới, và đều có kết luận thống nhất rằng đây là một yếu tố then chốt cho sự thành công của doanh nghiệp nói riêng và cả một quốc gia nói chung Tựu chung lại, định nghĩa của OECD (2005) có thể xem là đầy đủ nhất: Đổi mới sản phẩm và qui trình công nghệ bao gồm các sản phẩm và qui trình mới về công nghệ được thực hiện và cải tiến công nghệ đáng kể trong sản phẩm và qui trình Một đổi mới sản phẩm và qui trình công nghệ được thực hiện nếu nó đưa được ra thị trường (đổi mới sản phẩm) hoặc được sử dụng trong qui trình sản xuất (đổi mới qui

Trang 18

trình) Đổi mới sản phẩm và qui trình công nghệ bao gồm một loạt các hoạt động khoa học, công nghệ, tổ chức, tài chính và thương mại

Trong giới hạn của luận văn, tôi xin định nghĩa: Đổi mới là kết quả cuối cùng của hoạt động đổi mới dưới dạng sản phẩm mới, sản phẩm hoàn thiện, quá trình công nghệ mới hoặc được hoàn thiện dịch vụ mới Hoạt động đổi mới là hoạt động

sử dụng và thương mại hóa kết quả nghiên cứu nhằm tạo ra sản phẩm và dịch vụ mới có sức cạnh tranh trên thị trường

1.3 Khái niệm năng lực đổi mới

Trước khi có những định nghĩa hoàn chỉnh, nhiều người vẫn nghĩ năng lực đổi mới và đổi mới là một, có thể dùng thay thế cho nhau Tuy nhiên, đổi mới (innovation) lại rất khác so với năng lực đổi mới (innovative capacity)

Năm 1990, Giáo sư Suarez – Villa đã đưa ra quan niệm về năng lực đổi mới (innovate capacity) là thước đo mức độ sáng chế và tiềm năng công nghệ của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ hay hoạt động kinh tế Sáng chế ở đây được hiểu là những ý tưởng đã được cấp bằng độc quyền sáng chế Khi những ý tưởng được sử dụng cho mục đích kinh tế hay xã hội thì nó trở thành những sáng chế Sáng chế thường có nguồn gốc từ những ý tưởng mới, và những ý tưởng mới chính là nền tảng của những công nghệ mới Trình độ sáng chế càng tăng thì càng có khả năng xuất hiện nhiều những sáng chế, những công nghệ mới Chính vì vậy, việc đo lường trình độ sáng chế của một doanh nghiệp, quốc gia,… sẽ cung cấp những chỉ số quan trọng

và cần thiết để các nhà hoạch định chính sách, các nhà phân tích kinh tế có thể xác định được tiềm năng, năng lực đổi mới của một tổ chức, một quốc gia,… Có thể nhận thấy các cấp độ của đổi mới bao gồm: đổi mới quốc gia, đổi mới ngành, vùng

và đổi mới doanh nghiệp

Ở cấp độ quốc gia, năng lực đổi mới có thể cung cấp được một cái nhìn tổng

quan nhất về những hoạt động liên quan đến sáng chế đã thay đổi như thế nào qua thời gian Bên cạnh đó cũng xác định được mối quan hệ của những hoạt động này với những lĩnh vực khác trong xã hội như: giáo dục, sở hữu trí tuệ, luật,… Bằng việc xác định mối quan hệ này, các nhà hoạch định chính sách, có thể đưa ra những chính sách có lợi hơn cho hoạt động sáng chế

Đối với ngành, vùng và khu vực địa lý như các tỉnh, đô thị, quận hay thành

phố,… những chỉ số đo năng lực đổi mới có thể cung cấp các chỉ báo quan trọng về

Trang 19

việc khu vực đó hiện tại những nguồn để tạo ra công nghệ mới, sáng chế mới đang như thế nào Những khu vực có năng lực đổi mới cao thường phát triển nhanh về kinh tế, thu hút nhân lực có tay nghề cao, có kinh nghiệm, điều này sẽ giúp chính khu vực đó tăng thu nhập và tăng khả năng thương mại của các sản phẩm và dịch vụ của khu vực đó

Còn đối với những doanh nghiệp, năng lực đổi mới có thể được đo ở bất cứ

thời điểm nào, hay giữa các địa điểm khác nhau Việc cung cấp những chỉ số đó sẽ giúp những nhà lãnh đạo có thể xác định được năng lực đổi mới khác nhau như thế nào giữa các ngành Vì vậy, những chỉ số này còn có thể cảnh báo sớm được mức

độ suy giảm khả năng đổi mới của bất cứ ngành công nghiệp nào, hoặc những khó khăn và khả năng suy giảm của ngành công nghiệp đó trong tương lai

Wang và Ahmed (2004) đưa ra khái niệm ―năng lực đổi mới‖ là tổng thể các khả năng đổi mới của tổ chức trong việc đưa ra các sản phẩm mới, thị trường mới thông qua chiến lược định hướng trong hành động và quy trình Năng lực đổi mới phản ánh định hướng của tổ chức trong việc tham gia cũng như hỗ trợ những ý tưởng mới lạ, sáng tạo vào đổi mới quy trình, để cho ra những sản phẩm mới, dịch

vụ mới hoặc công nghệ mới

Theo nghiên cứu ―Yếu tố quyết định năng lực đổi mới trong các doanh nghiệp nhỏ tại Anh‖ đăng trong dự án nghiên cứu ―Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Châu Âu và Đông Nam Á, cạnh tranh, hợp tác và bài học cho hỗ trợ chính sách‖

thực hiện phối hợp giữa đại học Edinburgh và tài trợ bởi chương trình TSER của Liên minh châu Âu bởi Henny Romijn và Manuel Albaladejo cho rằng đổi mới là yếu tố quan trọng nhất của doanh nghiệp Đó là khả năng để thực hiện những cải tiến lớn và sửa đổi các công nghệ hiện có, đồng thời tạo ra các công nghệ mới Các khái niệm về năng lực đổi mới được áp dụng vào quá trình công nghệ, sản phẩm cũng như cách thức quá trình sản xuất được tổ chức và quản lý Yếu tố này là vô cùng quan trọng trong môi trường kinh tế cạnh tranh, bởi sự các doanh nghiệp nhỏ

và vừa tại khu vực Đông Nam Á và Châu Âu đang thay đổi một cách rất nhanh chóng Nghiên cứu cũng chỉ ra những yếu tố tác động tới năng lực đổi mới của tổ chức, bao gồm những nguồn lực bên trong và bên ngoài:

Trang 20

Hình 1: Các yếu tố liên quan tới năng lực đổi mới

Nghiên cứu về ―Xây dựng năng lực đổi mới, vai trò của con người trong sự hình thành vốn doanh nghiệp – một nghiên cứu tài liệu‖ của Đại học Ballarat phối

hợp với Đại học quốc gia Úc có định nghĩa năng lực đổi mới là khả năng của doanh nghiệp đó trong việc xác định xu hướng và công nghệ mới, cũng như tiếp thu và khai thác những nguồn kiến thức và thông tin này Nghiên cứu cũng phân biệt sự khác nhau giữa ―năng lực đổi mới‖ và ―khả năng đổi mới‖[1]

Mỗi tác giả đều có những khái niệm được biểu hiện khác nhau, tuy nhiên, từ những khái niệm trên có thể khẳng định được, ―đổi mới‖ và ―năng lực đổi mới‖ là hai thuật ngữ khác nhau nhưng có liên quan mật thiết đến nhau Nếu ―đổi mới‖ là một quy trình hoặc sản phẩm mới thì ―năng lực đổi mới‖ chính là những khả năng

để tổ chức có thể thực hiện đổi mới thành công

1.4 Khái niệm về năng lực đổi mới của doanh nghiệp

Năng lực đổi mới của doanh nghiệp có thể hiểu như tiềm năng của doanh nghiệp trong việc tạo ra những sản phẩm mang tính sáng tạo đổi mới[2] Hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều tác giả định nghĩa ―năng lực đổi mới của doanh nghiệp‖, tuy nhiên có thể thấy tựu chung lại rằng, năng lực đổi mới thực chất là thước đo khả năng sáng chế và tiềm năng công nghệ của một tổ chức kinh doanh Vậy nghĩa là để biết được một doanh nghiệp có tiềm năng công nghệ hay không, các nhà phân tích, hoạch định sẽ phân tích và xác định dựa trên những chỉ số đo

Trang 21

năng lực đổi mới của doanh nghiệp đó, sau đó có những biện pháp phù hợp để khắc phục, duy trì hay nâng cao năng lực đổi mới của doanh nghiệp đó

Năng lực đổi mới của doanh nghiệp (The firm’s capacity to innovate) được

Andy Neely và Jasper Hii cho rằng, đó là tiềm năng của doanh nghiệp đó để tạo ra được những sản phẩm sáng tạo Chính vì vậy, năng lực đổi mới của doanh nghiệp phụ thuộc vào nguồn tài nguyên và khả năng mà doanh nghiệp đó sở hữu, cho phép

họ có cơ hội để khám phá và tìm ra những cái mới[3] Nghiên cứu cũng chỉ ra những yếu tố quyết định năng lực đổi mới của một doanh nghiệp bao gồm: văn hóa, nguồn lực, khả năng cạnh tranh và sự kết nối

Một nghiên cứu khác về xác định năng lực đổi mới của các tổ chức bằng phương pháp định tính Meta Tổng hợp và phương pháp Delphi, các tác giả Momeni, Mostafa; Nielsen, Susanne Balslev; Kafash, Mahdi Haghighi đã nhấn mạnh rằng năng lực đổi mới đóng một vai trò quan trọng và mạnh mẽ nhất trong sự thành công của doanh nghiệp, nó cũng được liên kết với những nguồn năng lực khác trong tổ chức Nghiên cứu cũng tập trung vào các khía cạnh của năng lực đổi mới và đề xuất một mô hình toàn diện mới về năng lực đổi mới, đó là mô hình S.P.O như dưới đây[4]

Hình 2: Mô hình năng lực đổi mới của S.P.O

Marotti de Mello, Adriana; Demonel de Lima, Wander; Vilas Boas, Eduardo; Sbragia, Roberto; Marx nhận định về những yếu tố cấu thành năng lực đổi mới của doanh nghiệp gồm[5]: Văn hóa (những hỗ trợ từ doanh nghiệp cho đổi

Trang 22

mới), các nguồn lực (tài chính, vật chất, con người, trí tuệ), năng lực (những khả năng phát triển cho đổi mới), và mạng lưới liên kết (bao gồm các khách hàng, nhà cung cấp,đối thủ cạnh tranh, và quan hệ đối tác với các viện nghiên cứu và các trường đại học)

- Về văn hóa: Theo nghiên cứu của CBI/DTI[6] đã đưa ra dẫn chứng các

doanh nghiệp có năng lực đổi mới là các doanh nghiệp có một nền văn hóa doanh nghiệp mạnh, có sứ mệnh và mục tiêu rõ ràng, tầm nhìn, chiến lược tốt và triết lý kinh doanh luôn được cải tiến Văn hóa doanh nghiệp có thể là hữu hình hoặc vô hình Hữu hình có thể kể đến như chiến lược đổi mới doanh nghiệp, các cơ sở hạ tầng, máy móc, trang thiết bị và công nghệ phục vụ cho đổi mới, Vô hình có thể

kể đến những nỗ lực của nhà quản lý trong thực hiện đổi mới thông qua ra quyết định, ban hành chính sách đẩy mạnh ý tưởng sáng tạo đổi mới,

- Về nguồn lực: Các nguồn lực là tài chính, vật chất, con người, trí tuệ

Nguồn lực về tài chính là những đầu tư trực tiếp cho các hoạt động đổi mới sản phẩm hoặc đẩy mạnh phát triển các hoạt động R&D Vốn là yếu tố không thể không

có khi đổi mới và trở thành yếu tố để cạnh tranh Các nghiên cứu cho thấy, các doanh nghiệp lớn thường có năng lực đổi mới cao hơn so với các doanh nghiệp nhỏ

và vừa vì họ có nguồn tài chính dồi dào, tuy nhiên lại có khó khăn trong thực hiện đổi mới vì quy mô doanh nghiệp quá lớn nên thực hiện đổi mới sẽ khó hơn so với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ Nguồn nhân lực đổi mới chính là số lượng các kỹ

sư, kỹ thuật, nhà quản lý và các chuyên gia, những người tham gia vào quá trình đổi mới Đây là những người có trình độ, kiến thức, sẽ sử dụng những kiến thức chuyên môn vào đổi mới, tùy vào từng vị trí chức năng cụ thể

- Về năng lực: Năng lực biểu hiện ở việc đưa ra những ý tưởng mới mẻ,

các sản phẩm mới lạ độc đáo cũng như quá trình đưa ra những sản phẩm đó phải được đổi mới Ngoài ra năng lực còn thể hiện ở cách thức quản lý, cải tiến, tìm hiểu những thông tin về thị trường và công nghệ Một sự thật hiển nhiên là các công ty

có năng lực đổi mới cao luôn tìm kiếm và tạo ra những ý tưởng mới mẻ Các kế hoạch nhân viên được đưa ra thảo luận rộng rãi, những ý tưởng thành công sẽ nhận được những phần thưởng xứng đáng, và những ý tưởng chưa thành công phải được xem như là một phần không thể thiếu trong quá trình nghiên cứu Đây vừa là thể

Trang 23

hiện kỹ năng quản lý, vừa là động lực để nhân viên tích cực đưa ra những ý tưởng sáng tạo

- Về mạng lưới liên kết: Đây chính là nguồn lực tiềm năng của các ý tưởng

đổi mới nằm bên ngoài tổ chức Đó là các khách hàng, nhà cung cấp,đối thủ cạnh tranh, hay quan hệ đối tác với các viện nghiên cứu và các trường đại học hoặc có thể là chính quyền Việc liên kết với các nguồn lực bên ngoài này giúp cho doanh nghiệp thu thập được các thông tin có giá trị rất lớn Ngoài ra, Nhà nước cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong đổi mới bằng việc đề ra các chính sách đổi mới

ở khu vực doanh nghiệp

Tiểu kết chương 1:

- Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có trụ sở giao dịch, có tài sản, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh, bao gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân

- Đổi mới là kết quả cuối cùng của hoạt động đổi mới dưới dạng sản phẩm mới, sản phẩm hoàn thiện, quá trình công nghệ mới hoặc được hoàn thiện dịch vụ mới Hoạt động đổi mới là hoạt động sử dụng và thương mại hóa kết quả nghiên cứu nhằm tạo ra sản phẩm và dịch vụ mới có sức cạnh tranh trên thị trường

- Năng lực đổi mới là tổng thể các khả năng đổi mới của tổ chức trong việc đưa ra các sản phẩm mới, thị trường mới thông qua chiến lược định hướng trong hành động và quy trình Năng lực đổi mới phản ánh định hướng của tổ chức trong việc tham gia cũng như hỗ trợ những ý tưởng mới lạ vào đổi mới quy trình, để cho

ra những sản phẩm mới, dịch vụ mới hoặc công nghệ mới

- Năng lực đổi mới của doanh nghiệp có thể hiểu như tiềm năng của doanh nghiệp trong việc tạo ra những sản phẩm mang tính mới, là khả năng của doanh nghiệp trong việc hiện thực hoá các yếu tố mang tính nguồn lực để thay thế công nghệ này bằng công nghệ khác, hoặc công đoạn này bằng công đoạn khác hoặc sử dụng nguyên liệu này thay cho nguyên liệu khác trong quy trình công nghệ

Trong phạm vi luận văn, tác giả đề xuất một số quan điểm cá nhân về các tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới cho các doanh nghiệp Việt Nam theo hướng tiếp cận năng lực đổi mới là năng lực của con người trong chuỗi hoạt động từ tiếp cận,

sử dụng và phát triển công nghệ phục vụ cho việc sản xuất trong doanh nghiệp

Trang 24

Trong đó, các yếu tố bên trong bao gồm các tiêu chí: nhân sự, nguồn lực của doanh nghiệp, năng lực làm chủ công nghệ, năng lực cải tiến – nâng cấp công nghệ, năng lực nghiên cứu – sáng tạo công nghệ mới, năng lực lựa chọn mục tiêu chiến lược, năng lực thích nghi với chuẩn và thông lệ quốc tế Các yếu tố bên ngoài bao gồm: Quan hệ liên kết, khung pháp lý

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC ĐỔI MỚI CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Khái niệm ―cách mạng‖ ám chỉ những thay đổi mang tính đột phá và cấp tiến Cách mạng đã xảy ra suốt chiều dài lịch sử, khi công nghệ và những cách nhìn nhận mới mẻ về thế giới châm ngòi cho các thay đổi sâu sắc trong hệ thống kinh tế

và cấu trúc xã hội Vì khuôn khổ tham chiếu là lịch sử, sự ―đột phá‖ của những thay đổi này có thể mất hàng năm mới diễn ra

Thay đổi lớn lao đầu tiên trong lối sống của chúng ta - sự chuyển đổi từ săn bắt và hái lượn sang trồng trọt và chăn nuôi - diễn ra khoảng 10.000 năm trước và xảy ra nhờ việc thuần hóa động vật Cách mạng nông nghiệp kết hợp sức lao động của động vật và con người nhằm mục đích sản xuất, vận tải và thông tin liên lạc Dần dà, sản xuất lương thực được cải thiện, thúc đẩy gia tăng dân số và cho phép các cộng đồng dân cư lớn hơn ra đời Điều này cuối cùng đã dẫn đến đô thị hóa và

Cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên kéo dài từ năm 1760 đến khoảng năm

1840 Với chất xúc tác là việc xây dựng đường sắt và phát minh ra máy hơi nước,

nó mở đường cho sản xuất cơ khí Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai, bắt đầu vào khoảng cuối thế kỉ XIX sang đầu thế kỉ XX, mở ra cơ hội cho sản xuất hàng loạt nhờ sự ra đời của điện và dây chuyền lắp ráp Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba bắt đầu vào những năm 1960 Nó thường được gọi là cách mạng máy tính

Trang 25

hoặc cách mạng số bởi chất xúc tác là sự phát triển của linh kiện bán dẫn, máy tính chủ (thập niên 1960), máy tính cá nhân (thập niên 1970 và 1980) và internet (thập niên 1990)[8] Hiện chúng ta đang trong giai đoạn khởi đầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cuộc cách mạng này bắt đầu vào đầu thế kỉ XXI trên nền tảng của cuộc cách mạng số Đặc trưng của nó là internet di động phổ biến ở khắp mọi nơi, là những thiết bị cảm ứng nhỏ hơn, mạnh hơn nhưng rẻ hơn, cùng với trí tuệ nhân tạo và máy tự học Công nghệ số với cốt lõi là phần cứng, phần mềm và mạng máy tính không phải là điều gì mới mẻ, nhưng điểm đột phá so với cuộc cách mạng công nghệ lần thứ ba nằm ở chỗ chúng có độ phức tạp và tích hợp ngày càng cao, và do đó, thay đổi các xã hội và nền kinh tế toàn cầu Đây là lý do khiến Erik Brynjolfsson và Andrew McAfee của Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) có một nhận định nổi tiếng đánh giá cuộc cách mạng lần thứ tư này là ―kỷ nguyên máy móc thứ hai‖ và lấy đây làm nhan đề cho cuốn sách xuất bản năm 2014 của họ, cho rằng thế giới đang ở một thời điểm bước ngoặt, khi hiệu ứng của các công nghệ số này sẽ được triển khai ―toàn lực‖ thông qua tự động hóa và việc chế tạo những sản phẩm

―chưa từng có‖[9]

Hình 3: Các giai đoạn của cuộc cách mạng công nghiệp

Thuật ngữ khoa học ―Industry 4.0 (Công nghiệp 4.0)‖ được giới thiệu lần đầu tiên ở Cộng hòa Liên bang Đức vào năm 2011 tại Hội chợ công nghiệp Hannover, nơi nó được sử dụng để biểu thị khả năng thông minh hóa quá trình sản xuất và quản lý trong ngành công nghiệp chế tạo Bằng việc biến ―nhà máy thông minh‖ thành hiện thực, cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã tạo ra một thế giới trong đó

Trang 26

các hệ thống ảo và thực của sản xuất toàn cầu có thể phối hợp với nhau một cách linh hoạt Điều này cho phép tùy biến sản phẩm đến mức tối đa và tạo ra những mô hình vận hành mới Tuy nhiên,cách mạng công nghiệp lần thứ tư không chỉ có các máy móc và hệ thống thông minh kết nối với nhau Phạm vi của nó rộng hơn nhiều Những làn sóng đột phá đang xuất hiện đồng thời ở nhiều lĩnh vực, từ giải mã trình

tự gen đến công nghệ nano, từ năng lượng tái tạo đến điện toán lượng tử Chính sự hòa trộn của các công nghệ này và sự tương tác của chúng trong tất cả lĩnh vực của thế giới thực, thế giới số và thế giới sinh học đã làm nên khác biệt căn bản của cách mạng công nghiệp lần thứ tư so với các cuộc cách mạng trước đó Bằng sự lan tỏa

và quy mô rộng khắp, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã lan rộng ra nhiều nước Bằng chứng là các quốc gia phát triển trong vài năm qua đều đã có các chương trình cho riêng mình về sản xuất dựa trên những tiến bộ của khoa học và công nghệ Nước Mỹ có ―Chiến lược quốc gia về sản xuất tiên tiến‖, Nước Pháp có

―Bộ mặt mới của công nghiệp nước Pháp‖, Hàn Quốc có ―Chương trình tăng trưởng của Hàn Quốc trong tương lai‖, Trung Quốc có ―Sản xuất tại Trung Quốc năm 2025‖ Nhật Bản có ―Xã hội thông minh 5.0″…

Hình 4: Các lĩnh vực chính của các cuộc cách mạng công nghệ

Về bản chất, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp các công nghệ thông minh để tối ưu hóa quy trình, phương thức sản xuất; những công nghệ đang và sẽ có tác động lớn tới quá trình phát triển là công nghệ in 3D, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa, người máy, internet vạn vật với xu hướng tự động hóa và trao đổi dữ liệu

Trang 27

trong công nghệ sản xuất Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất, tạo nên sự thay đổi lớn trong phương thức sản xuất, sự hội tụ giữa ứng dụng vật lý và ứng dụng kỹ thuật số tạo nên sự xuất hiện Internet vạn vật (Internet of Things - IoT) sẽ thay đổi nhanh chóng, sâu rộng toàn bộ chuỗi giá trị từ nghiên cứu phát triển đến sản xuất, logistics đến dịch vụ khách hàng, giảm đáng kể chi phí giao dịch, vận chuyển, dẫn đến những điều kỳ diệu trong sản xuất và năng suất Trong quá trình này, IoT sẽ tác động làm biến đổi tất cả các ngành công nghiệp, từ sản xuất đến cơ sở hạ tầng đến chăm sóc sức khỏe Với việc thay đổi phương thức sản xuất khi có những công nghệ hiện đại có thể kết nối thế giới thực

và ảo, con người có thể điều khiển quy trình ngay tại nhà mình mà vẫn bao quát tất

cả mọi hoạt động của nhà máy thông qua sự vượt trội về Internet

Đối với lĩnh vực thương mại, cách mạng công nghiệp lần thứ tư giúp giảm đáng kể chi phí giao dịch, vận chuyển Đối với lĩnh vực đầu tư, với bản chất của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công nghệ là mảng đầu tư trở nên hấp dẫn

và đầy tiềm năng nhất của các nhà đầu tư trong thời gian tới, đặc biệt là công nghệ

số và Internet Song cuộc cách mạng này cũng có thể tạo ra sự bất công lớn hơn, đặc biệt là gây ra nguy cơ phá vỡ thị trường lao động Khi tự động hóa thay thế con người trong toàn bộ nền kinh tế, người lao động sẽ bị dư thừa và điều đó làm trầm trọng hơn khoảng cách giữa lợi nhuận so với đồng vốn và lợi nhuận so với sức lao động Trong khi sự đổi mới công nghệ thường dẫn đến năng suất cao hơn thì tốc độ thay đổi cũng sẽ tạo ra một áp lực lớn tới doanh nghiệp do sự dịch chuyển của nguồn nhân lực Người lao động cần có sự thay đổi về nhận thức, nâng cao năng lực

cá nhân, sẵn sàng làm việc cùng với những máy móc ngày càng thông minh và được kết nối với những công nghệ mới, môi trường làm việc và phương cách tổ chức công việc hoàn toàn mới

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư được nhận định là sẽ ngày càng phát triển mạnh mẽ do nhu cầu tìm kiếm phương thức sản xuất mới hiệu quả, bền vững hơn Nhiều cơ hội phát triển và hội nhập đang tới gần, nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức với các nước đang phát triển như Việt Nam

Trang 28

2.2 Cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Trong khoảng 2 năm trở lại đây, tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ

tư đến nền kinh tế cũng như xã hội trở nên rõ rệt hơn ở Việt Nam Từ sự phổ biến ngày càng rộng rãi của phương thức kinh tế chia sẻ như: Uber, Grab trong lĩnh vực vận tải hay Airbnb trong lĩnh vực lưu trú, cho đến phương thức bán hàng trực tuyến thông qua các nền tảng của Facebook, Lazada… Cũng như sự phát triển nhanh chóng của điện mặt trời, điện gió… Hay cách thức người dân trao đổi, tương tác thông qua các mạng truyền thông xã hội đã minh chứng rõ nét về tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến những mặt khác nhau của kinh tế - xã hội ở Việt Nam

Bởi vậy, Chính phủ đã có Chỉ thị 16/Ct-TTg ngày 4/5/2017 về tăng cường năng lực tiếp cận cách mạng công nghiệp lần thứ tư của Việt Nam, trong đó có yêu cầu các cơ quan đánh giá những cơ hội và thách thức của đất nước nói chung và các ngành, lĩnh vực nói riêng trong bối cảnh mới của tiến bộ công nghệ

Báo cáo của Ngân hàng thế giới năm 2016 đã xếp hạng các quốc gia trên thế giới trong quá trình chuyển đổi số, các nước trên thế giới được chia làm 3 nhóm theo thứ tự tăng dần về mức độ chuyển đổi số: mới bắt đầu, quá độ, chuyển đổi Đồng thời các nước cũng được phân loại làm 4 nhóm theo mức thu nhập bình quân đầu người gồm thu nhập thấp, thu nhập trung bình thấp, thu nhập trung bình cao, thu nhập cao

Việt Nam hiện đang được xếp ở nhóm nước đang trong giai đoạn quá độ của quá trình chuyển đổi số và cũng có vị trí cao hơn so với nhóm các nước thu nhập trung bình thấp Như vậy, công nghệ và các yếu tố bổ trợ ở Việt Nam đi khá đều nhau, không có hiện tượng nhóm yếu tố này đi quá nhanh so với nhóm yếu tố kia

Vị trí vượt trội của Việt Nam trong quá trình chuyển đổi số trong tương quan

so sánh với các nước có trình độ phát triển tương đồng, tức là các nước có thu nhập trung bình thấp, cũng như năng lực của lớp trẻ Việt Nam về toán là minh chứng cho điều đó Thúc đẩy quá trình chuyển đổi cần phải là chiến lược xuyên suốt để thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững và mang tính bao trùm ở Việt Nam

Dù có vị trí khá tích cực trong tương quan với các nước có cùng trình độ phát triển, nhưng Việt Nam vẫn ở trong nhóm quá độ trong quá trình số hóa và cần phải

Trang 29

có nhiều nỗ lực để có thể nắm bắt cơ hội trong cuộc cách mạng số - nội dung cốt lõi của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư Nếu công nghệ đi quá nhanh so với các yếu tố bổ trợ, ví dụ như khi kỹ năng không theo kịp thì có thể gây xáo trộn trên thị trường lao động Hay trong trường hợp phương thức kinh tế chia sẻ, việc thiếu các qui định điều tiết phù hợp đối với Uber, Grab trong lĩnh vực vận tải khách đô thị hay Airbnb trong lĩnh vực lưu trú đã dẫn đến những xung đột lợi ích ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam

Liên quan đến năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp, nghiên cứu gần đây về mức độ sẵn sàng tiếp cận cách mạng công nghiệp lần thứ tư của các doanh nghiệp thuộc các ngành công nghiệp do Bộ Công Thương cho thấy, chỉ có một tỷ lệ nhỏ các doanh nghiệp công nghiệp của Việt Nam đã bắt đầu ứng dụng các công nghệ điển hình của cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Theo đó, chỉ có 1,3% doanh nghiệp công nghệ của Việt Nam đang áp dụng trí tuệ nhân tạo; 0,5% đang áp dụng phân tích và quản trị dữ liệu (Big Data); 0,9 %

áp dụng công nghệ in 3D… Chỉ có điện toán đám mây và kết nối thiết bị với thiết bị/sản phẩm được trên 10% tổng số các doanh nghiệp ứng dụng Với các công nghệ khác, tỷ lệ này ở dưới mức 10%

Đối với điện toán đám mây, công nghệ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư có tỷ lệ sử dụng cao nhất, có sự khác biệt giữa các nhóm doanh nghiệp về tỷ

lệ áp dụng, tỷ lệ sử dụng có xu hướng tăng lên khi qui mô tăng lên Đối với hình thức sở hữu, tỷ lệ này không khác biệt nhiều giữa nhóm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân trong nước

Đặc biệt, yếu tố trang bị vốn cho một lao động không có ảnh hưởng gì đến việc doanh nghiệp có sử dụng công nghệ điện toán đám mây hay không Trong khi

đó, các yếu tố như tỷ lệ người lao động có sử dụng máy vi tính và doanh nghiệp có

sử dụng internet để quản lý vận hành doanh nghiệp, là những yếu tố tác động đến việc doanh nghiệp có sử dụng điện toán đám mây

Trước tình hình thực tiễn, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ mang lại những cơ hội và thách thức tác động đến phát triển kinh tế Việt Nam thời gian tới Cụ thể:

Về cơ hội

Trang 30

Một là: Các doanh nghiệp có điều kiện tiếp thu và ứng dụng những tiến bộ,

thành tựu công nghệ của nhân loại, trước hết là công nghệ thông tin, công nghệ số, công nghệ điều khiển và tự động hóa để nâng cao năng suất, hiệu quả trong tất cả các khâu của nền sản xuất xã hội

Hai là: Doanh nghiệp có thêm nhiều cơ hội phát triển các ngành kinh tế mới

thông qua mở rộng ứng dụng những tiến bộ, thành tựu về công nghệ thông tin, công nghệ số, công nghệ điều khiển, công nghệ sinh học (thuộc các lĩnh vực như công nghiệp không gian, công nghiệp sáng tạo, công nghiệp giải trí, công nghiệp sinh học, công nghiệp quốc phòng, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, )

Ba là: Thông qua quá trình tiếp thu, làm chủ và ứng dụng nhanh vào sản xuất

kinh doanh, quản lý những tiến bộ, thành tựu công nghệ (kể cả phương thức sản xuất, quản lý) từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Việt Nam có cơ hội thu hẹp khoảng cách và đuổi kịp những nước đi trước trong khu vực và trên thế giới

Bốn là: Lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ mạng xã hội, di động, phân

tích và điện toán đám mây (SMAC) đang là xu hướng mới mẻ của cả thế giới và doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội phát triển lĩnh vực này Với các lợi thế hiện như

hạ tầng Internet tương đối tốt, giá rẻ trong khi thiết bị di động cấu hình cao, giá thấp đang trở nên phổ biến cũng như sự khuyến khích phát triển của chính phủ, doanh nghiệp Việt Nam có tiềm năng phát triển công nghệ SMAC rất lớn Một yếu tố thuận lợi nữa là Việt Nam có các đối tác quan trọng là các tập đoàn công nghệ lớn

và có nhiều kinh nghiệm như Microsoft trong quá trình tư vấn, xây dựng, và phát triển SMAC nói chung và điện toán đám mây tại Việt Nam Cách mạng công nghiệp lần thứ tư này là một cơ hội để Việt Nam đuổi kịp các nước phát triển trong

kỷ nguyên số Việc ứng dụng kỷ nguyên số còn cho phép chúng ta đẩy nhanh được việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong nhiều ngành nghề, góp phần khắc phục những khó khăn hiện có Những ngành cần ứng dụng này nhất hiện nay là thương mại điện

tử, giao thông vận tải, đo lường địa chất, hay đo lường chất lượng môi trường

Năm là: Công nghệ sinh học, cách mạng công nghiệp lần thứ tư có tác động

mạnh mẽ đến năng suất cũng như chất lượng cây trồng vật nuôi, từ đó, tăng giá trị gia tăng trong mỗi sản phẩm nông nghiệp Việt Nam vẫn luôn được đánh giá cao đối với ngành nông nghiệp Nếu doanh nghiệp có thể tận dụng thời cơ, có những sự

Trang 31

cải cách về giống cùng cách thức nuôi, trồng sẽ tạo ra một nền nông nghiệp sạch với các sản phẩm có chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới

Đối với lĩnh vực y tế, nhiều bệnh nan y, nhất là ung thư đang trở thành vấn

đề sức khỏe mang tính chất toàn cầu, gây ra những mất mát về người, sự tốn kém về kinh tế trong điều trị và ngăn chặn Những công trình nghiên cứu của công nghệ sinh học ứng dụng thành công trong y dược, đặc biệt là trong sản xuất thuốc và trong chuẩn đoán bệnh cũng là một trong những nội dung mà các doanh nghiệp y dược của Việt Nam có thể lưu ý và tận dụng để phát triển trong giai đoạn tới đây

Về thách thức

Một là: Thách thức trong lĩnh vực giải quyết việc làm: với sự mở rộng ứng

dụng các thành tựu của công nghệ thông tin, điều khiển, tự động hóa Các hệ thống robot có trí thông minh nhân tạo sẽ thay thế con người trong nhiều công đoạn hoặc trong toàn bộ dây chuyền sản xuất nhất là trong những ngành sử dụng nhiều lao động Đây là một trong những thách thức lớn nhất, bởi chuyển dịch cơ cấu lao động trong gần 20 năm qua của Việt Nam rất chậm và chậm hơn nhiều nếu so với chuyển dịch cơ cấu GDP Nền kinh tế Việt Nam hiện nay vẫn dựa nhiều vào các ngành thâm dụng lao động giá rẻ Tuy nhiên, trong xu thế phát triển của kinh tế tri thức, nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn giỏi, có năng lực sáng tạo mới là lợi thế Hơn thế, các công nghệ hiện đại châm ngòi cho cuộc cách mạng mới trong nhiều ngành trong nền kinh tế thế giới như công nghệ in 3D, robot và tự động hóa lại sử dụng rất ít nhân công Các loại hình công nghệ này sẽ thách thức mô hình ―sản xuất hàng loạt‖ bằng mô hình ―tùy chỉnh hàng loạt‖ và tự động hóa với chi phí thấp hơn Trong tương lai, nhiều lao động trong các ngành nghề của Việt Nam có thể thất nghiệp ví dụ như lao động dệt may, lắp ráp, số lao động này hiện đang chiếm một tỷ trọng không nhỏ trong lực lượng lao động của nước ta hiện nay Ngoài ra, chất lượng nguồn nhân lực thấp cũng làm cản trở về nâng cao năng lực tiếp thu, làm chủ

và ứng dụng hiệu quả các công nghệ mới ở các quy mô doanh nghiệp, ngành lĩnh vực và cả nền kinh tế trong điều kiện xuất phát điểm phát triển của Việt Nam còn thấp so với nhiều nước

Hai là: Thách thức về quản trị nhà nước cũng là một trong những thách thức

lớn nhất đối với nước ta Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước sẽ gặp nhiều khó khăn nếu công cuộc cải cách cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng

Trang 32

được Nhà nước đề ra trong thời gian qua thực hiện không thành công Bên cạnh đó, những thách thức về an ninh phi truyền thống sẽ tạo ra áp lực lớn nếu Nhà nước không đủ trình độ về công nghệ và kỹ năng quản lý để ứng phó

Ba là: Các nước công nghiệp mới nổi và nhiều nước đang phát triển đều cạnh

tranh quyết liệt, tìm cách thu hút, hợp tác để có đầu tư, chuyển giao công nghệ, nhanh chóng ứng dụng những thành tựu công nghệ từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại để giành lợi thế phát triển Áp lực lớn cho doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập, hợp tác quốc tế, phát triển nền kinh tế thị trường nhất

là thị trường khoa học công nghệ, cải thiện đổi mới môi trường đầu tư kinh doanh, tích lũy đầu tư để thu hút chuyển giao, ứng dụng nhanh những thành tựu khoa học công nghệ vào phát triển nền kinh tế

2.3 Thực trạng năng lực đổi mới của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay

Tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới của doanh nghiệp Việt Nam được xây dựng dựa vào trên việc đánh giá các yếu tố bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp Trong đó, các yếu tố bên trong bao gồm các tiêu chí: nhân sự, nguồn lực của doanh nghiệp, năng lực làm chủ công nghệ, năng lực cải tiến – nâng cấp công nghệ, năng lực nghiên cứu – sáng tạo công nghệ mới Các yếu tố bên ngoài bao gồm: Quan hệ liên kết, khung pháp lý Trong đó, các yếu tố năng lực cải tiến – nâng cấp công nghệ, năng lực nghiên cứu – sáng tạo công nghệ mới được tác giả tập trung nghiên cứu, đánh giá Bởi lẽ, hai yếu tố này mang vai trò quan trọng và chiếm

tỉ trọng cao trong việc đánh giá năng lực đổi mới của doanh nghiệp

2.3.1 Năng lực cải tiến – nâng cấp

- Lý do của cải tiến – nâng cấp:

Khảo sát về trải nghiệm và dự định tiếp tục cải tiến – nâng cấp công nghệ của các doanh nghiệp, CIEM[10] đã khu trú các lý do chính để các doanh nghiệp có

ý kiến là: công suất thấp, năng suất thấp, cải tiến chất lượng, đa dạng hóa sản xuất, công nghệ lạc hậu và yêu cầu pháp lý

Kết quả thu thập ý kiến phản hồi của doanh nghiệp (Hình 5) đã cho thấy, động cơ chính để các doanh nghiệp thực hiện cải tiến – nâng cấp công nghệ là để cải tiến chất lượng sản phẩm Dù nhiều doanh nghiệp đã có thành công hay thất bại trong quá khứ với các nỗ lực hiệu chỉnh công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm nhưng trong tương lai họ (40% doanh nghiệp) vẫn tiếp tục theo đuổi mục tiêu

Trang 33

này dựa trên các cải tiến về công nghệ hiện có Sự chú trọng vượt trội vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm, thay vì vào nâng cao công suất, năng suất hay đa dạng hóa sản phẩm và nâng cấp công nghệ lạc hậu cũng đồng thời cho thấy, có thể do nguồn lực tài chính còn hạn chế, chất lượng nguồn nhân lực còn chưa cao nên việc thúc đẩy cải tiến về năng suất hay công suất là công việc khó khăn và cần thời gian hơn là tập trung vào cải tiến chất lượng, đáp ứng ngay các nhu cầu thị trường để có nguồn thu cho quay vòng sản xuất Trên phương diện khác, sự kém quan tâm đến đa dạng hóa sản xuất phản ánh phần nào vị thế khiêm tốn của các doanh nghiệp trên thị trường trong nước hay nước ngoài nên việc tăng thêm các sản phẩm, hàng hóa mới

sẽ ít mang lại lợi ích, do khó cạnh tranh, cho doanh nghiệp trong thời gian trước mắt Ngoài ra, các nỗ lực để nâng cấp công nghệ lạc hậu đối với các doanh nghiệp

có thể là quá sức do khả năng khai thác tri thức công nghệ mới còn yếu, chất lượng, trình độ nhân lực còn thấp và đặc biệt, có thể do tầm nhìn của doanh nghiệp, phần nhiều là ở quy mô nhỏ và vừa còn chưa đủ rộng để kiến tạo được lộ trình phát triển

lâu dài cho doanh nghiệp dựa trên ưu thế về công nghệ

Hình 5: Lý do thực hiện cải tiến, nâng cấp công nghệ của doanh nghiệp(%)

Nguồn: Kết quả điều tra của CIEM

- Vốn cho cải tiến, nâng cấp:

Bên cạnh các hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực tham gia vào hoạt động khoa học và công nghệ để cải tiến, nâng cấp công nghệ trong doanh nghiệp, yếu tố

về nguồn vốn huy động cho các hoạt động này cũng thực sự rất quan trọng

Trang 34

Kết quả phản ánh của doanh nghiệp (Hình 2) về các nỗ lực huy động nguồn vốn để thực hiện cải tiến, nâng cấp công nghệ trong quá khứ (cả thành công và thất bại) cũng như kỳ vọng tìm kiếm nguồn vốn để thực hiện trong tương lai cho thấy tác động của các chính sách và nguồn lực đầu tư của nhà nước tới các nỗ lực của doanh nghiệp là rất thấp Với các nỗ lực thực hiện cải tiến công nghệ trong quá khứ, trên 77% các doanh nghiệp đã sử dụng vốn tự có của doanh nghiệp, một phần nhỏ là dựa vào vốn vay tín dụng (13%-21%) hoặc liên doanh

Ngay cả khi đề cập đến các dự định thực hiện cải tiến trong tương lai, các doanh nghiệp vẫn đặt nhiều kỳ vọng vào nguồn tự có của doanh nghiệp (55,4% ý kiến) và vốn tín dụng (40% ý kiến) hơn là khai thác các kênh hỗ trợ từ ngân sách nhà nước (0,9%)

Hình 6: Nguồn vốn được huy động cho cải tiến, nâng cấp (đơn vị %)

Nguồn: Kết quả điều tra CIEM

- Chuyển giao – tiếp nhận công nghệ:

+ Mức độ tiếp nhận công nghệ

Khả năng vận hành sản xuất của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng nhiều từ công nghệ - thiết bị được tiếp nhận sử dụng ở mức độ nào Phản ánh của doanh nghiệp trong ngành công nghiệp chế tạo, chế biến cho thấy đa phần các doanh nghiệp tiếp nhận các máy móc, thiết bị hoàn chỉnh, trung bình chiếm khoảng 50% tổng số doanh nghiệp được khảo sát (thông qua nhập khẩu hoặc chuyển giao trong nước)

Trang 35

Bảng 1: Mức độ công nghệ được tiếp nhận trong các doanh nghiệp

phòng thí nghiệm ngoài nước 4.5 11.6 16.7 27.5 44.1 2.2 17.8 Mua sáng chế trong nước 5.2 38.3 60.0 21.6 4.9 2.3 22.1 Mua sáng chế ngoài nước 6.7 1.6 23.3 9.8 19.6 1.8 10.5

Nguồn: Kết quả điều tra của VCCI 2016 Phạm Thị Thu Hằng Ghi chú: CBTP: Chế biến thực phẩm; HC-SPHC: Hóa chất và sản phẩm hóa chất; CS-PL: Sản phẩm từ cao su và Plastic; KLĐ: Kim loại đúc sẵn; ĐT-TBĐ: Sản phẩm điện tử, máy tính, thiết bị điện; TP-D: Sản phẩm trang phục – da

Số liệu trên cho thấy một thực tế là nhu cầu cấp bách của doanh nghiệp hiện nay là có ngay máy móc thiết bị để phục vụ sản xuất cấp thiết hơn là việc tiếp thu các tri thức công nghệ mang tính hệ thống, logic để tiến tới có thể phát triển, sáng tạo được các công nghệ hay sản phẩm mới Điều này được thể hiện ở mức độ quan tâm của doanh nghiệp chỉ chiếm 10-20% khi đề cập đến tiếp cận phần mềm của

Trang 36

công nghệ hay khai thác các kết quả nghiên cứu khoa học hoặc sáng chế ở trong nước và nước ngoài (Bảng 1)

+ Nguồn công nghệ đang sử dụng

Kết quả điều tra các doanh nghiệp công nghiệp dưới đây (Bảng 2) cho thấy

có tới 30% các doanh nghiệp hiện tại đang sử dụng công nghệ từ các nước đang phát triển Dù cho năm sản xuất thiết bị - công nghệ trong khoảng 10 năm trở lại đây nhưng do có xuất xứ từ các nước đang phát triển nên về cơ bản vẫn thuộc loại lạc hậu trung bình khoảng 1-2 thế hệ so với các nước phát triển Mặt khác, số liệu thống kê trung bình cũng cho thấy, nhiều doanh nghiệp vẫn sử dụng công nghệ có nguồn gốc từ Trung Quốc (chiếm 22,1% phản hồi từ doanh nghiệp) Điều này phản ánh ở mức độ nào đó về độ ổn định và bền vững của công nghệ cũng như sự phù hợp về công nghệ Trung Quốc đối với các doanh nghiệp Việt Nam nếu như so với công nghệ xuất xứ từ các nước công nghiệp phát triển, dù có thể lạc hậu nhưng có thể tối ưu hóa khả năng thương mại hóa của sản phẩm, sản phẩm có sự phù hợp với thị trường Việt Nam

Bảng 2: Nguồn gốc công nghệ đang sử dụng

(sau năm 2005) 42.0 38.5 18.6 28.4 25.0 25.1 29.6 Trung Quốc (trước năm

Trang 37

2.3.2 Năng lực nghiên cứu – sáng tạo công nghệ mới

- Mức độ thực hiện hoạt động NC-TK trong doanh nghiệp:

+ Động lực khi thực hiện nghiên cứu của doanh nghiệp

Có lẽ do còn nhiều khó khăn, cản trở trong hoạt động sản xuất, tích lũy nguồn lực Cũng như là khả năng cạnh tranh trên thị trường nên các doanh nghiệp công nghiệp chưa dành sự quan tâm đến hoạt động nghiên cứu – triển khai Trong điều tra của CIEM3, chỉ có gần 900 doanh nghiệp, trong tổng số hơn 8.000 doanh nghiệp được khảo sát, có phản hồi về hoạt động NC-TK trong hoạt động sản xuất, kinh doanh Trong số ý kiến trả lời, các doanh nghiệp cũng chỉ đặt kỳ vọng khiêm tốn đối với các kết quả mà hoạt động NC-TK đạt được là tạo ra sản phẩm, quy trình

có tính mới với doanh nghiệp (chiếm 43,7%) và mới với thị trường trong nước (54,4%) Chỉ có 1,8% doanh nghiệp là đặt mục tiêu đạt được kết quả có tính mới so với thế giới

2

Phạm Thị Thu Hằng (2016), Báo cáo về nhu cầu cập nhật thông tin công nghệ mới trong doanh nghiệp, VCCI

3 CIEM (2013), Năng lực cạnh tranh và công nghệ ở cấp độ doanh nghiệp tại Việt Nam: Kết quả điều tra năm

2012, NXB Lao động xã hội, Hà Nội

Trang 38

Hình 7: Kết quả kỳ vọng khi thực hiện hoạt động NC-TK (% doanh nghiệp)

Nguồn: Kết quả điều tra của CIEM 4

+ Nguồn vốn sử dụng cho hoạt động nghiên cứu

Đối với nguồn vốn sử dụng cho hoạt động NC-TK, cũng tương tự như việc thực hiện nghiên cứu – nâng cấp công nghệ hiện có, các doanh nghiệp thường phải

tự cân đối nguồn vốn tự có Kết quả điều tra cho thấy có tới 84,3% doanh nghiệp sử dụng vốn tự có, 12,3% sử dụng nguồn vay tín dụng Trong khi đó, nguồn vốn từ nguồn ngân sách chỉ có 1,9%

Hình 8: Nguồn vốn doanh nghiệp sử dụng cho nghiên cứu (% doanh

nghiệp)

N guồn: Kết quả điều tra của CIEM 5

+ Mức độ chi cho hoạt động nghiên cứu của doanh nghiệp

Thống kê năm 2013 của Cục Thông tin KH&CN6 quốc gia về mức độ chi tiêu cho hoạt động NC&TK đã phản ánh rằng doanh nghiệp đã dành khoảng 4.000

tỷ cho nghiên cứu, trong đó, nhóm dệt may và giấy có nhiều đầu tư nhất, trung bình khoảng 1.700 tỷ đồng Tốp doanh nghiệp thứ hai là thiết bị điện và máy móc đạt mức khoảng 600 tỷ

4 CIEM (2013), Năng lực cạnh tranh và công nghệ ở cấp độ doanh nghiệp tại Việt Nam: Kết quả điều tra năm

2012, NXB Lao động xã hội, Hà Nội

5

CIEM (2013), Năng lực cạnh tranh và công nghệ ở cấp độ doanh nghiệp tại Việt Nam: Kết quả điều tra năm

2012, NXB Lao động xã hội, Hà Nội

6 Cục Thông tin KH&CN Quốc gia (2013), Số liệu thống kê về hoạt động KH&CN trong doanh nghiệp Báo

Trang 39

Bảng 3: Tổng chi của doanh nghiệp công nghiệp cho hoạt động nghiên cứu

ngành

cấp 2 Phân ngành công nghiệp chế biến , chế tạo

Chi cho NC&TK

Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ

giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật

liệu tết bện

19 Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế 0.0

21 Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu

22 Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic 188.334,7

23 Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác 232.462,5

25 Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết

26 Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang

28 Sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu 288.500,1

Trang 40

CHƯƠNG 3 LUẬN ĐIỂM VỀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐỔI MỚI CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ

3.1 Thách thức của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay trong việc nâng cao năng lực đổi mới

3.1.1 Năng lực cạnh tranh

Năng lực ứng dụng công nghệ mới đo lường khả năng mà một nền kinh tế

có thể nhanh chóng áp dụng công nghệ tiên tiến trên thế giới nhằm nâng cao năng suất của các ngành công nghiệp, chủ yếu nhấn mạnh đặc biệt về khả năng thực hiện đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp trong nước, cho dù các công nghệ được sử dụng này có thể không phải được phát triển trong nước Nguyên nhân là do các doanh nghiệp trong nước tại Việt Nam có ít cơ hội tiếp cận với các công nghệ tiên tiến cũng như khả năng hấp thụ và sử dụng chúng kém nhất trong số các nước được

so sánh

Hình 9: Năng lực ứng dụng công nghệ mới - các chỉ số thành phần

Nguồn: Báo cáo Cạnh tranh Toàn cầu 2015-2016

Trong khi FDI thường coi là đóng một nhân tố quan trọng, đặc biệt là cho các nước đang ở giai đoạn ít tiên tiến trong việc phát triển công nghệ, thúc đẩy các

Ngày đăng: 11/05/2020, 19:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Võ Văn Quang, Đánh giá năng lực sáng tạo doanh nghiệp, cập nhật lần cuối 27/04/2014, http://www.brandsvietnam.com/4113-Danh-gia-Nang-luc-Sang-tao-Doanh-nghiep Link
20. Henny Romijn and Manuel Albaladejo, Yếu tố quyết định năng lực đổi mới trong các doanh nghiệp nhỏ tại Anh, trang 4.http://www3.qeh.ox.ac.uk/pdf/qehwp/qehwps40.pdf Link
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ, Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam, năm 2019 Khác
2. Bộ KH&CN, 2015, Nghiên cứu kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động chuyển giao công nghệ của Australia, đề xuất mô hình tổ chức và hoạt động CGCN phù hợp cho Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế Khác
3. Bộ KH&CN, Tầm nhìn Việt Nam 2020, Tài liệu chuẩn bị phục vụ Đại hội Đảng lần thứ IX, 2000 Khác
4. Bộ KH&CN, Viện chiến lƣợc và chính sách KH&CN, Cải cách chính sách nghiên cứu và phát triển trong bối cảnh chuyển sang nền kinh tế thị trường ở VN, Nxb Nông nghiệp, 2004 Khác
5. CIEM (2013), Năng lực cạnh tranh và công nghệ ở cấp độ doanh nghiệp tại Việt Nam: Kết quả điều tra năm 2012, NXB Lao động xã hội, Hà Nội Khác
6. Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, Chiến lƣợc phát triển KT-XH 2011- 2012 và nhiệm vụ trọng tâm của năm 2011, đăng ngày 17/12/2013 Khác
7. Cục Thông tin KH&CN Quốc gia (2013), Số liệu thống kê về hoạt động KH&CN trong doanh nghiệp. Báo cáo Bộ KH&CN Khác
8. Cục Thông tin KH&CN quốc gia, Xếp hạng Chỉ số đổi mới toàn cầu năm 2017: Việt Nam tăng 12 bậc, 2017 Khác
9. D.Larua.A Caillat, Kinh tế doanh nghiệp, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội 1992 10. Đảng Cộng sản VN, Nghị quyết của Bộ chính trị về Chính sách Khoa học và Kỹthuật,Nhà máy in Tiến bộ,1981 Khác
11. Đoàn chuyên gia quốc tế IDRC, Báo cáo đánh giá về chính sách KH&CN và đổi mới của VN, 1997 Khác
12. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Báo cáo của Thủ tướng về tình hình KT-XH tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII, ngày 20/10/2014 Khác
13. Vũ Cao Đàm, Tuyển tập các công trình đã công bố, tập I Lý luận và phương pháp luận khoa học, Nxb Thế giới, 2009 Khác
14. Vũ Cao Đàm, Tuyển tập các công trình đã công bố, tập III Nghiên cứu quản lý, Nxb Thế giới, 2009 Khác
15. Prof. Andy Neely & Dr. Jasper Hii, Năng lực đổi mới của doanh nghiệp,Tạp chí kinh doanh Nang Yan – 1.1 – 2012, p. 49 Khác
17. Phạm Thị Thu Hằng (2016), Báo cáo về nhu cầu cập nhật thông tin công nghệ mới trong doanh nghiệp, VCCI Khác
18. Phạm Thành Nghị (2012), Mô hình sáng tạo của tổ chức trong doanh nghiệp Việt Nam, Tạp chí Tâm lý học số 12 (2012) Khác
19. Phùng Xuân Nhạ, Lê Quân (2013), Đổi mới của doanh nghiệp Việt Nam, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh, Tập 29, Số 4, trang 3 Khác
21. Hoàng Văn Tuyên (2006). Nghiên cứu quá trình phát triển chính sách đổi mới (innovation policy) – kinh nghiệm quốc tế và gợi suy cho Việt Nam. Báo cáo tổng hợp đề tài (Viện CL&CS KH&CN) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w