1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HIỆU QUẢ CỦA TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI GÓP PHẦN THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

15 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 33,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối Đổi mới do Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng khởi xướng, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên nhiều phương diện, trong đó sản xuất nông nghiệp và khu vực nông thôn đã có bước phát triển căn bản và đột phá. Nhận thức được tầm quan trọng của nông nghiệp, nông thôn, Nghị quyết Đại hội Đảng khóa X đã khẳng định “Công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo bước chuyển mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân”. Tại Hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hành Trung ương khóa X đã ban hành Nghị quyết số 26NQTW ngày 0582008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn khẳng định “nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế xã hội bền vững…”. Thực hiện Nghị quyết của Đảng, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800QĐTTg về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 20102020 với mục tiêu tổng quát là:“Xây dựng nông thôn mới để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân; có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội phù hợp; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị; xã hội nông thôn dân chủ, bình đẳng, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; quốc phòng và an ninh, trật tự được giữ vững”.

Trang 1

HIỆU QUẢ CỦA TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI GÓP PHẦN THỰC

HIỆN CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN

MỚI

Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối Đổi mới do Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng khởi xướng, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên nhiều phương diện, trong đó sản xuất nông nghiệp và khu vực nông thôn đã có bước phát triển căn bản và đột phá Nhận thức được tầm quan trọng của nông nghiệp, nông thôn, Nghị quyết Đại hội Đảng khóa X đã khẳng định

“Công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo bước chuyển mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân” Tại Hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hành Trung ương khóa X đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn khẳng định “nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở

và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế- xã hội bền vững…” Thực hiện

Nghị quyết của Đảng, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số

800/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 với mục tiêu tổng quát là:“Xây dựng nông thôn mới để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân; có kết cấu

hạ tầng kinh tế - xã hội phù hợp; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị; xã hội nông thôn dân chủ, bình đẳng, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; quốc phòng và an ninh, trật tự được giữ vững”.

Để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều chính sách quan trọng, trong đó có chính sách

Trang 2

tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác.

Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) được thành lập theo Quyết định

số 131/2002/QĐ-TTg ngày 04/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ để thực hiện nhiệm vụ chuyển tải các chính sách ưu đãi của Nhà nước thông qua tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác bằng việc cho vay ưu đãi phục vụ sản xuất kinh doanh (SXKD), tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống, ổn định xã hội

Trải qua 17 năm xây dựng và phát triển, đồng hành cùng với người nghèo

và các đối tượng chính sách xã hội khác, được sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, sự hỗ trợ của cấp ủy, chính quyền địa phương, NHCSXH đã tập trung các nguồn lực, đẩy mạnh thực hiện các chương trình tín dụng chính sách, gắn kết công tác tín dụng chính sách với phát triển kinh tế - xã hội Ngoài ra, NHCSXH

đã chủ động phối hợp với các Bộ, ngành Trung ương để hoàn thiện các cơ chế, chính sách liên quan tới tín dụng chính sách xã hội (CSXH), gắn kết với việc

thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới Kết quả

thực hiện các chương trình tín dụng CSXH giai đoạn 2010 - 2019 như sau:

Trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2019, NHCSXH đã cho vay trên 19 triệu lượt khách hàng với tổng doanh số cho vay đạt 415.440 tỷ đồng Đến 30/9/2019, tổng dư nợ các chương trình tín dụng CSXH đạt 200.813 tỷ đồng, tăng 111.352 tỷ đồng (+124,5%) so với 31/12/2010, tốc độ tăng trưởng dư

nợ bình quân hàng năm đạt xấp xỉ 10%, với gần 6,6 triệu khách hàng còn dư nợ Vốn tín dụng CSXH được đầu tư cho phát triển sản xuất, tạo sinh kế, tạo việc làm và đáp ứng nhu cầu thiết yếu trong đời sống của người nghèo và các đối tượng chính sách khác, tập trung chủ yếu vào 09 chương trình tín dụng lớn, chiếm 97,5% tổng dư nợ Cụ thể:

1 Chương trình cho vay hộ nghèo: Dư nợ đạt 35.547 tỷ đồng, chiếm

17,7% tổng dư nợ, với hơn 1,1 triệu hộ đang còn dư nợ; doanh số cho vay giai đoạn 2010-2019 đạt 98.580 tỷ đồng với gần 4,5 triệu lượt hộ nghèo được vay

Trang 3

sách Đây là chương trình tín dụng có dư nợ lớn nhất trong các chương trình tín dụng CSXH đang thực hiện; nguồn vốn cho vay đối với hộ nghèo đã đáp ứng nhu cầu vay vốn của hộ nghèo trong cả nước, trong đó tập trung cho các xã vùng sâu, vùng xa, miền núi, vùng khó khăn; đã giúp cho gần 3,3 triệu hộ vươn lên thoát khỏi ngưỡng nghèo

2 Chương trình cho vay hộ cận nghèo: Dư nợ đạt 31.652 tỷ đồng, chiếm

15,76% tổng dư nợ với trên 890 nghìn hộ còn dư nợ; doanh số cho vay đạt 70.290 tỷ đồng với gần 2,5 triệu lượt hộ cận nghèo được vay vốn; đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ SXKD của hộ cận nghèo, tăng thu nhập, cải thiện đời sống, giảm nguy cơ tái nghèo

3 Chương trình cho vay hộ mới thoát nghèo: Dư nợ đạt 33.583 tỷ đồng,

chiếm 16,72% tổng dư nợ với trên 1 triệu hộ còn dư nợ; doanh số cho vay đạt 45.728 tỷ đồng với gần 1,4 triệu lượt hộ mới thoát nghèo được vay vốn ; đã giúp cho hộ mới thoát nghèo có vốn để tiếp tục phát triển SXKD, nâng cao thu nhập, thoát nghèo bền vững Ngay sau khi ban hành, tín dụng đối với hộ mới thoát nghèo nhanh chóng đi vào cuộc sống, được cấp ủy, chính quyền các cấp và người dân đồng tình ủng hộ

4 Chương trình cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường (NS&VSMTNT): Dư nợ đạt 34.329 tỷ đồng, chiếm 17,1% tổng dư nợ với gần 2,8

triệu hộ còn dư nợ; doanh số cho vay đạt 58.845 tỷ đồng với trên 5,3 triệu lượt

hộ được vay vốn; giúp các hộ gia đình được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn

5 Chương trình cho vay giải quyết việc làm: Dư nợ đạt 17.560 tỷ đồng,

chiếm 8,74% tổng dư nợ với gần 534 nghìn hộ còn dư nợ; doanh số cho vay đạt 36.879 tỷ đồng với trên 1,4 triệu lượt khách hàng được vay vốn ; góp phần tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập, mở rộng sản xuất, phát triển các ngành nghề, thực hiện 02 Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững

và xây dựng nông thôn mới, thúc đẩy thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa ở nông thôn

Trang 4

6 Chương trình cho vay học sinh sinh viên (HSSV): Dư nợ đạt 10.884 tỷ

đồng, chiếm 5,42% tổng dư nợ với gần 404 nghìn khách hàng còn dư nợ; doanh

số cho vay đạt 35.774 tỷ đồng, với trên 1,4 triệu lượt HSSV được vay vốn đi học Đây là chương trình tín dụng có ý nghĩa nhân văn sâu sắc cả về kinh tế, chính trị và xã hội, tạo được sự đồng thuận cao của các ngành, các cấp, của cộng đồng xã hội, sự gắn kết giữa kinh tế với xã hội trong công tác giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, góp phần tạo nguồn nhân lực cho đất nước

7 Chương trình cho vay hộ gia đình SXKD vùng khó khăn: Dư nợ đạt

23.998 tỷ đồng, chiếm 12% tổng dư nợ với gần 700 nghìn hộ còn dư nợ; doanh

số cho vay đạt 53.039 tỷ đồng với gần 1,9 triệu lượt hộ được vay vốn; góp phần thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn, miền núi, tăng trưởng kinh tế đồng đều giữa các vùng trong cả nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các địa phương theo hướng sản xuất gắn với thị trường, làm thay đổi bộ mặt kinh tế, xã hội của các xã vùng khó khăn, tiến tới hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới

8 Chương trình cho vay hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở: Dư nợ đạt 5.924 tỷ

đồng, chiếm 3% tổng dư nợ với gần 500 nghìn hộ còn dư nợ; doanh số cho vay đạt trên 4.885 tỷ đồng với trên 350 nghìn lượt hộ được vay vốn Chương trình đã

hỗ trợ hộ nghèo có nhà ở ổn định, an toàn, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần thay đổi diện mạo khu vực nông thôn

9 Chương trình cho vay hộ đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS): Dư nợ đạt

2.331 tỷ đồng, chiếm 1,16% tổng dư nợ với trên 160 nghìn hộ còn dư nợ; doanh

số cho vay đạt gần 3.200 tỷ đồng với trên 256 nghìn lượt hộ được vay vốn; đã giúp hộ đồng bào DTTS nghèo có nguồn vốn tạo đất sản xuất, chuyển đổi nghề, xuất khẩu lao động, bảo vệ rừng và trồng rừng, từ đó tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống, vươn lên thoát nghèo

Ngoài ra, NHCSXH đang thực hiện một số chương trình, dự án cho vay

do các tổ chức trong và ngoài nước ủy thác với dư nợ 5.005 tỷ đồng, chiếm 2,5% tổng dư nợ

Trang 5

Từ kết quả nêu trên, có thể đánh giá: Các chương trình tín dụng CSXH đã góp phần tích cực vào việc thực hiện hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới NHCSXH đã triển khai thực hiện các chương trình tín dụng chính sách đến với người dân một cách nhanh chóng, thuận lợi và hiệu quả nhất Vốn tín dụng CSXH đã được đầu tư đến 100% xã, phường, thị trấn trên toàn quốc, trong đó tập trung ưu tiên cho vay khu vực DTTS và miền núi, vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới Đến 30/9/2019, dư nợ tại vùng DTTS và miền núi đạt 105.490 tỷ đồng, chiếm 52,53% tổng dư nợ với hơn 3,2 triệu khách hàng còn dư nợ; Dư nợ tại các huyện nghèo theo Quyết định số 275/QĐ-TTg ngày 07/3/2018 đạt 21.963 tỷ đồng, chiếm 10,9% tổng dư nợ với gần 600 ngàn khách hàng còn dư nợ

Đồng thời, NHCSXH đã chú trọng cho vay đối tượng hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ đồng bào DTTS Về cơ bản hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ đồng bào DTTS đã được thụ hưởng tín dụng CSXH Dư nợ cho vay đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo đạt 100.782 tỷ đồng, chiếm 50,2% tổng dư nợ, với hơn 3 triệu hộ còn dư nợ; dư nợ cho vay đối với đồng bào DTTS đạt 49.547

tỷ đồng chiếm 24,8% tổng dư nợ với trên 1,4 triệu hộ còn dư nợ Trong giai đoạn 2010 đến 30/9/2019 đã có trên 19 triệu lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác được vay vốn từ NHCSXH, với doanh số cho vay đạt 415.440

tỷ đồng; góp phần giúp gần 3,3 triệu hộ vượt qua ngưỡng nghèo; thu hút, tạo việc làm cho trên 1,6 triệu lao động (trong đó có trên 37 nghìn lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài); trên 1,4 triệu HSSV được vay vốn học tập; xây dựng trên 10 triệu công trình NSVSMT nông thôn; trên 356 nghìn căn nhà ở cho

hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác Vốn tín dụng CSXH đã trực tiếp góp phần thực hiện 7/11 nội dung thành phần của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và 8/19 tiêu chí trong Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới Cụ thể là:

Thứ nhất, thực hiện giảm nghèo và an sinh xã hội

Trang 6

Các đối tượng thụ hưởng chính sách được tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước để đầu tư phát triển SXKD, tạo sinh kế, tạo việc làm; làm quen với việc vay, trả nợ ngân hàng, từng bước nâng cao trình độ quản lý SXKD, trình độ quản lý vốn, mạnh dạn vay vốn và sử dụng vốn có hiệu quả; giúp nâng cao thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống, vươn lên thoát nghèo

Tỷ lệ hộ nghèo giảm dần qua các năm, giai đoạn 2011-2015 giảm từ 14,2% xuống 4,25% cuối năm 2015, giai đoạn 2016-2018 giảm từ 8,23% xuống 5,23% cuối năm 2018 (bình quân 1,55%/năm); góp phần hoàn thành tiêu chí số 11 về

hộ nghèo trong Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới

Thứ hai, phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội

Thông qua các chương trình tín dụng chính sách về nhà ở (nhà ở hộ nghèo, nhà ở xã hội, nhà phòng tránh bão, lụt khu vực miền Trung, nhà vượt lũ đồng bằng sông Cửu Long), vốn tín dụng chính sách đã hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ chính sách xây dựng hơn 356 nghìn căn nhà ở, giúp ổn định cuộc sống, giải quyết vấn đề an sinh xã hội, đặc biệt là khu vực nông thôn, vùng DTTS và miền núi, vùng khó khăn; góp phần thực hiện tiêu chí số 9 về nhà ở dân cư trong Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới

Thứ ba, phát triển sản xuất gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập cho người dân.

Vốn tín dụng CSXH tạo nguồn lực giúp các địa phương khai thác tiềm năng, thế mạnh của từng tỉnh và toàn vùng, đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái; tăng cường sự hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong khu vực gắn với yêu cầu phát huy tinh thần tự lực, tự cường của hộ nghèo,

hộ đồng bào DTTS trong phát triển sản xuất, nâng cao đời sống Nhiều tỉnh, thành phố đã tích cực phát huy vai trò của vốn tín dụng CSXH trong việc thực hiện các Đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương, tập trung dành nguồn lực từ ngân sách địa phương ủy thác qua NHCSXH cho vay để thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới

Trang 7

Nhóm các chương trình tín dụng phục vụ SXKD tạo sinh kế, tạo việc làm (cho vay hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, giải quyết việc làm, đối tượng chính sách đi làm việc ở nước ngoài, hộ SXKD vùng khó khăn, thương nhân vùng khó khăn, hộ đồng bào DTTS…), chiếm 72,7% tổng dư nợ với gần 4,5 triệu khách hàng còn dư nợ, đã hỗ trợ người vay có nguồn lực để đầu tư các

mô hình SXKD hiệu quả, mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, ứng dụng khoa học công nghệ, tham gia sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị gắn Trong giai đoạn 2010-2019 đã thu hút, tạo việc làm cho trên 1,6 triệu lao động, tăng thu nhập cho người vay vốn; góp phần thực hiện tiêu chí số 10 về thu nhập, tiêu chí số 12 về tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên trong Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới

Thứ tư, phát triển giáo dục ở nông thôn

Chương trình cho vay học sinh sinh viên đã hỗ trợ hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác có nguồn kinh phí trang trải chi phí về học tập cho con

em đang theo học ở các cấp học phổ thông, trung cấp, cao đẳng, đại học, học nghề, không để tình trạng học sinh, sinh viên phải bỏ học vì không có tiền Đây

là chính sách có ý nghĩa nhân văn sâu sắc cả về kinh tế, chính trị và xã hội, tạo được sự đồng thuận cao của các ngành, các cấp, của cộng đồng xã hội Giai đoạn 2010-2019 đã có hơn 1,4 triệu HSSV được vay vốn trang trải chi phí học tập, góp phần đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao cho đất nước, phát triển nền giáo dục ở địa bàn vùng khó khăn, vùng nông thôn Từ đó, góp phần thực hiện tiêu chí số 14.2 về tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở được tiếp tục học trung học, tiêu chí số 14.3 về tỷ lệ lao động có việc làm qua đào tạo trong

Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới

Thứ năm, vệ sinh môi trường nông thôn

Giai đoạn từ 2010 đến 30/9/2019, chương trình cho vay NS&VSMTNT

đã đầu tư xây dựng trên 10 triệu công trình NS&VSMT ở nông thôn Đây là chương trình không nhằm mục tiêu kinh doanh mà nhằm mục đích an sinh xã hội, giúp các hộ gia đình ở khu vực nông thôn có vốn để đầu tư xây dựng mới

Trang 8

hoặc cải tạo, nâng cấp công trình nước sạch và công trình vệ sinh, bảo đảm theo tiêu chuẩn quốc gia về NS&VSMTNT nhằm nâng cao sức khỏe, cải thiện điều kiện sinh hoạt, nâng cao chất lượng cuộc sống, hình thành nếp sống văn hóa, văn minh, nâng cao ý thức giữ gìn và bảo vệ môi trường của người dân nông thôn Chương trình tín dụng đã góp phần thực hiện tiêu chí số 17.1 về tỷ lệ hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh và nước sạch theo quy định, tiêu chí số 17.6 về

tỷ lệ hộ có nhà tiêu, nhà tắm, bể chứa nước sinh hoạt hợp vệ sinh và đảm bảo 3 sạch, tiêu chí số 17.7 về tỷ lệ hộ chăn nuôi có chuồng trại chăn nuôi đảm bảo vệ sinh môi trường trong Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới

Thứ sáu, nâng cao chất lượng hoạt động, phát huy vai trò của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị xã hội trong xây dựng nông thôn mới

Trong những năm qua, nhất là sau khi có Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban

Bí thư, cấp ủy đảng, chính quyền địa phương đã nhận thức sâu sắc hơn về vai trò, vị trí của tín dụng CSXH trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội hội trên địa bàn Thông qua triển khai hoạt động tín dụng chính sách, chính quyền có điều kiện tiếp xúc nhiều hơn với người dân, nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng, giải quyết kịp thời các vướng mắc phát sinh từ cơ sở, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, từ đó người dân hưởng ứng tích cực phong trào xây dựng nông thôn mới

Thông qua hoạt động nhận ủy thác từ NHCSXH, các tổ chức Chính trị xã hội có điều kiện tập hợp lực lượng, củng cố, nâng cao cả về số lượng, chất lượng phong trào hoạt động, tăng số lượng hội viên, giúp người nghèo có điều kiện được sinh hoạt tại các tổ chức chính trị xã hội, qua đó được tiếp cận với nhiểu hoạt động lồng ghép như hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, chuyển giao khoa học kỹ thuật, chăm sóc sức khỏe, nâng cao dân trí…, góp phần củng cố hệ thống chính trị cơ sở, tạo điều kiện để các tổ chức chính trị xã hội phát huy vai trò trong xây dựng nông thôn mới tại địa phương

Trang 9

Tín dụng CSXH đã góp phần thực hiện tiêu chí số 18.3 về Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh” và tiêu chí số 18.4 về tổ chức chính trị xã hội của xã đạt loại khá trở lên

Thứ bảy, giữ vững quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội nông thôn

Các chương trình tín dụng CSXH đã giúp người nghèo và các đối tượng chính sách có việc làm, có thu nhập, nâng cao dân trí, từ đó tránh xa các tệ nạn

xã hội, góp phần ngăn chặn và đẩy lùi tín dụng đen Việc cho vay thông qua Tổ TK&VV được thực hiện công khai, dân chủ, tăng cường sự đoàn kết, tình làng, nghĩa xóm Nhờ vốn tín dụng CSXH, hộ nghèo, hộ đồng bào DTTS và các đối tượng chính sách được tiếp cận nguồn vốn của Chính phủ để thực tập làm ăn, tạo việc làm, từng bước nâng cao trình độ quản lý SXKD, yên tâm làm giàu trên chính quê hương mình; không bị các thế lực thù địch lôi kéo, lợi dụng; khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố; góp phần thực hiện tiêu chí số 19.2 về xã đạt chuẩn an toàn về an ninh, trật tự xã hội và đảm bảo bình yên

Việc tổ chức thực hiện có hiệu quả các chương trình tín dụng CSXH đã góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội theo định hướng của Đảng và Nhà nước; ngăn chặn và đẩy lùi tín dụng đen; thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới; bảo đảm an sinh xã hội, ổn định chính trị, trật tự xã hội, an ninh quốc phòng; tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ tại khu vực nông thôn, vùng nghèo, vùng DTTS và miền núi Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đến 30/9/2019, toàn quốc có 4.665 xã đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm tỷ

lệ 52,4% tổng số xã; bình quân cả nước đạt 15,32 tiêu chí/xã; 93 đơn vị cấp huyện thuộc 37 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới

Tóm lại, Tín dụng CSXH đối với người nghèo và các đối tượng chính

sách khác là một chính sách trụ cột, có tính nhân văn sâu sắc, góp phần quan trọng thực hiện có hiệu quả các chủ trương chính sách, mục tiêu nhiệm vụ của

Trang 10

Đảng, Nhà nước đề ra về giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đảm bảo an sinh xã hội, ổn định chính trị và phát triển kinh tế xã hội theo định hướng XHCN; đã khai thác và phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của cả xã hội cùng vào cuộc Tín dụng CSXH thực sự đi vào cuộc sống, được nhân dân đồng tình ủng hộ; đã làm thay đổi căn bản nhận thức của đối tượng thụ hưởng, từ mặc cảm tự ti, sợ vay, không dám vay nay đã mạnh dạn vay vốn, tính toán làm ăn đạt hiệu quả thiết thực, tạo được lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước Trong đó, sự quan tâm của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương và cấp ủy, chính quyền địa phương là yếu tố quyết định trong thực hiện thành công tín dụng CSXH

Hiệu quả của tín dụng CSXH đã khẳng định phương thức quản lý và mô hình tổ chức quản trị, điều hành, tác nghiệp của NHCSXH là hoàn toàn phù hợp với điều kiện thực tiễn của nước ta Mạng lưới Chi nhánh, Phòng giao dịch rộng khắp toàn quốc, hệ thống Điểm giao dịch xuống tận các xã,phường,thị trấn,

mạng lưới Tổ TK&VV thành lập tại các thôn, ấp, bản, làng, với phương châm

phục vụ tại nhà, giải ngân tại xã là một bước tiến trong cải cách thủ tục hành chính, hỗ trợ tốt nhất cho người dân, đặc biệt là những người yếu thế Từ đó, đã giúp người nghèo và các đối tượng chính sách tiếp cận chính sách tín dụng ưu đãi của Nhà nước thuận lợi, tiết giảm chi phí, thực hiện quy chế dân chủ, công khai và tăng cường sự giám sát của chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị xã hội và của cả xã hội trong việc thực hiện chính sách tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác Theo đánh giá của Ủy ban Thường vụ

Quốc hội tại báo cáo số 660/BC-UBTVQH13 ngày 19/5/2014:“Thủ tục cho vay đối với hộ nghèo khá thuận lợi, đơn giản Việc tổ chức giao dịch tại xã của NHCSXH đã tạo được hệ thống dịch vụ gần dân, thân thiện và có trách nhiệm, tiết kiệm chi phí giao dịch, đi lại cho người dân, mô hình tổ chức và hoạt động của NHCSXH được tổ chức hợp lý, năng động, nâng cao khả năng quản lý…”.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả nêu trên, hoạt động tín dụng CSXH

Ngày đăng: 11/05/2020, 11:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w