• Ngoài ra, các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế cục thuế, các bộ chủ quản… không chỉ thực hiện việc giám sát, kiểm tra tình hình kinh doanh và tài chính của mỗi doanh nghiệp, mà còn
Trang 1TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ.
1 Tính tất yếu của hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp trong nền kinh tế.
1.1 khái niệm về doanh nghiệp và hoạt động tài chính tại doanh
Mỗi doanh nghiệp từ khi thành lập và đăng ký kinh doanh đã phải xác định cho mình những vấn đề sau:
• Xác định ngành nghề và mặt hàng kinh doanh.
• Xác định quy mô và phạm vi hoạt động.
• Xác định nguồn vốn cần thiết cho hoạt động kinh doanh
Lên các phương án, kế hoạch chiến lược và chiến thuật kinh doanh trong ngắn hạn và dài hạn.
Các vấn đề trên chỉ được thực hiện khi doanh nghiệp tiến hành các hoạt động tài chính Hoạt động tài chính là một trong những nội dung cơ bản của hoạt động kinh doanh tại doanh nghiệp Nó đề cập đến mọi hoạt động từ đầu
tư, sản xuất, kinh doanh, phân phối lợi nhuận đến tái sản xuất mở rộng được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ, nhằm thực hiện những mục tiêu đã đề ra của doanh nghiệp đó Hoạt động tài chính được thực hiện nhằm trả lời câu hỏi:
Trang 2• Đầu tư vào đâu và như thế nào cho phù hợp với hình thức kinh doanh đã lựa chọn và đạt tới mục tiêu của mình.
• Nguồn vốn doanh nghiệp cần có cho hoạt động kinh doanh huy động từ đâu? bằng cách nào? để có được cơ cấu vốn tối, với chi phí vốn thấp nhất.
• Hoạt động phân phối tại doanh nghiệp như thế nào để vừa đảm bảo doanh nghiệp đạt được trạng thái cân đối tài chính vừa đảm bảo sự phát triển và tăng trưởng của doanh nghiệp trong tương lai, không ngừng mở rộng thị trường, tăng cường đóng góp cho nền KTQD.
Hoạt động tài chính được biểu hiện qua các dòng tài chính và dự trữ tài chính Sự chuyển hoá giữa chúng được biểu hiện trong các báo cáo tài chính Quan hề giữa chúng là nền tảng của hoạt động tài chính doanh nghiệp.
Muốn sản xuất kinh doanh một mặt hàng nào đó, doanh nghiệp cần phải
có yếu tố đầu vào như máy móc, thiết bị, nhà xưởng, nhân lực… Điều này có nghĩa là doanh nghiệp phải đầu tư vào Tài sản Tại những thời điểm nhất định, Tài sản của doanh nghiệp được phản ánh bên trái của bảng cân đối kế toán với hai loại là tài sản lưu động và tài sản cố định.
Lật lại vấn đề, ta thấy, muốn đầu tư vào tài sản, đương nhiên doanh nghiệp phải tìm kiếm nguồn tài trợ Hay nói cách khác, doanh nghiệp phải tìm kiếm nguồn vốn đầu tư Doanh nghiệp có thể tự tài trợ bằng hình thức góp cổ phần, nhận vốn từ NSNN; hoặc có thể huy động vốn từ bên ngoài doanh nghiệp bằng hình thức đi vay Ngân hàng, đi vay khách hàng Khi đã
đủ vốn để tài trợ cho tài sản và tiến hành kinh doanh, doanh nghiệp phải xác định thu nhập, chi phí từ các hoạt động, xác định các luồng tiền thực nhập quỹ, thực xuất quỹ để xác định kết quả kinh doanh Như vậy, ta thấy dòng tài chính được thể hiện thông qua báo cáo kết quả kinh doanh và bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ Xét các dòng tài chính ở những thời điểm nhất định, ta xác định dược các dự trữ tài chính Chúng được thể hiện qua Bảng cân đối kế toán Nếu như các quan hệ tài chính được tiến hành qua các chu
kỳ kinh doanh tạo ra các dòng tài chính không ngừng vận động thì nhờ chúng, doanh nghiệp có nguồn tài chính để tổ chức kinh doanh Và ngược
Trang 3lại, dòng tài chính luân chuyển trôi chảy trong suốt chu kỳ sản xuất kinh doanh và trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp lại chứng tỏ rằng các quan hệ tài chính được thiết lập tại doanh nghiệp là sự lựa chọn đúng đắn và bền vững dựa trên cơ sở lợi ích của các bên.
• Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với bên ngoài (nhà đầu tư, chủ ngân hàng) Đây là mối quan hệ tiền đề tài ra nguồn vốn đủ về khối lượng và chất lượng Nếu khai thác tốt, doanh nghiệp sẽ có một cơ cấu vốn tối ưu.
• Quan hề tài chính trong nội bộ doanh nghiệp (với người lao động, với các cổ đông) Tận dụng tốt mối quan hệ này, doanh nghiệp sẽ tạo ra một khả năng độc lập về mặt tài chính và sự đoàn kết nội bộ
• Quan hề tài chính giữa doanh nghiệp với các cơ quan quản lý cấp trên Đây
là mối quan hệ kiểm soát và bị kiểm soát Tận dụng tốt mói quan hệ này, doanh nghiệp sẽ tạo được những ưu thế so với những đơn vị khác trong và ngoài ngành trong khi vẫn thực hiện tốt nghĩa vụ đối với NSNN.
Như vậy, hoạt động tài chính và các quan hệ tài chính là nội dung cơ bản trong quản trị tài chính doanh nghiệp Nó liên quan tới việc hình thành và sử dụng quỹ tài chính tập trung tại doanh nghiệp Và nhiệm vụ chủ yếu của các nhà phân tích tài chính doanh nghiệp là phải thường xuyên kiểm tra, giám sát các luồng tài chính và dự trữ tài chính và sự vận động của chúng một cách khoa học; trên cơ sở đó, đưa ra những quyết định có giá trị về các quan hề tài chính
và hướng tới mục đích hàng đầu mà doanh nghiệp theo đuổi.
1.2.Tính tất yếu của hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Như ta đã biết, hoạt động tài chính tại doanh nghiệp rất phong phú và
đa dạng với sự thể hiện ở trạng thái động của các dòng tài chính và ở trạng thái tĩnh của các dự trữ tài chính Các hoạt động này được hình thành từ các quan hề tài chính Trong đó, mỗi bên đều quan tâm tới lợi ích mà họ momg muốn đạt được từ quan hệ đó Có nghĩa là, mỗi bên quan tâm toí những thông tin từ những khía cạnh khác nhau:
Trang 4• Đối với chủ doanh nghiệp và nhà quản trị doanh nghiệp: cái họ quan tâm là tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính, khả năng sinh lời, khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường, mức độ rủi ro tài chính, …
• Đối với các chủ nợ của doanh nghiệp (chủ nhà băng và các chủ nợ khác): cái họ quan tâm hàng đầu là khả năng thanh toán các khoản nợ khi toí hạn bao gồm cả gốc và lãi mà không cần biết đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
• Đối với người lao động: Đây là nhóm đối tượng liên quan trực tiếp tới tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp Cái họ quan tâm là khả năng chi trả các khoản tiền lương đúng hạn và sự ổn định việc làm lâu dài.
• Đối với nhà đầu tư: Mối quan tâm hàng đầu của họ là giá trị doanh nghiệp
Họ kỳ vọng vào khả năng sinh lời, tối đa hoá giá trị của chủ sở hữu doanh nghiệp thông qua mức tăng trưởng đều của giá trị cổ phiếu trên thị trường
và cổ tức trả lãi cho các cổ đông trên cơ sở an toàn tài chính.
• Ngoài ra, các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế (cục thuế, các bộ chủ quản…) không chỉ thực hiện việc giám sát, kiểm tra tình hình kinh doanh và tài chính của mỗi doanh nghiệp, mà còn theo dõi khả năng hoàn thành nghĩa vụ đối với nhà nước, lợi ích kinh tế -xã hội mà hoạt động của doanh nghiệp đem lại cho nền kinh tế, để từ đó kịp thời điều chỉnh vào hoạt động sản xuất kinh doanh theo những chủ trương, định hướng của Đảng và Chính phủ.
Như vậy, mỗi đối tượng lại quan tâm tới mục tiêu khác nhau Tuy nhiên, nếu chỉ thông qua các báo cáo tài chính thì chưa đủ thoả mãn yêu cầu của người sử dụng thông tin Do đó, họ thường phải sử dụng các công cụ và kỹ thuật cơ bản để phân tích, thuyết minh các mối quan hệ chủ yếu trong các báo cáo tài chính nhằm đưa ra quyết định tài chính Đó chính là nhờ hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp.
Phân tích tài chính doanh nghiệp là tập hợp các khái niệm, phương pháp, công cụ cho phép thu thập và xử lý thông thi kế toán cũng như những nguông thông tin khvs trong quản lý doanh nghiệp nhằm đánh giá tình hình
Trang 5tài chính, khả năng và tiềm năng của doanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính và quản lý phù hợp.
Với khái niệm trên phân tích tài chính phải đạt được các mục tiêu sau đây:
• Cung cấp đầy đủ thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư, các tín chủ và những đối tượng có nhu cầu sử dụng khác giúp họ đưa ra các quyết định đúng đắn.
• Cung cấp thông tin cho chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư, người cho vay và các đối tượng khác trong việc đánh giá khả năng, tính chắc chắn của các dong tiền mặt và tình hình sử dụng có hiệu quả nguồn vốn, tình hình vầ khả năng thanh toán của doanh nghiệp
• Cung cấp những thông tin về nguồn vốn chủ sở hữu, các khoản nợ, kết quả của quá trình, sự kiện và các tình huống làm biến đổi cơ cấu nguồn vốn và các khoản nợ của doanh nghiệp
2 Nội dung của hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp trong nền
kinh tế.
2.1 Các bước tiến hành phân tích tài chính doanh nghiệp.
2.1.1 Thu thập thông tin.
Đây là bước đầu tiên và có ý nghĩa xuyên suốt quá trình phân tích tài chính doanh nghiệp trong nền kinh tế Cũng trong bước này, mục đích phân tích phải dược xác định rõ ràng; mà dựa vào đó, những nhà phân tích sẽ lựa chọn thông tin phù hợp.
Có rất nhiều nguồn khác nhau để thực hiện "thu thập thông tin" từ thông tin nội bộ đến thông tin bên ngoài doanh nghiệp, từ thôn tin kế toán đén các thông tin quản lý khác, những thông tin về số lượng và giá trị , trong đó, thông tin kế toán được coi là nguồn quan trọng nhất được phản ánh trong các báo cáo tài chính của doanh nghiệp Do vậy, có thể hiểu một cách đơn giản, thực chất của phân tích tài chính doanh nghiệp là phân tích các báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
2.1.2 Xử lý thông tin.
Trang 6Đây là bước thứ 2 tiếp sau quá trình thu thập thông tin Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin phải thực hiện công đoạn phân loại thông tin theo những tiêu thức nhất định phù hợp với mục tiêu phân tích đã xác định ở bước 1, tiến hành nghiên cứu và xử lý chúng bằng những công cụ và phương pháp nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định các nguyên nhân của các kết quả đạt được và xu hướng vận động của các đối tượng phục vụ cho quá trình tiếp theo.
Nhưng phân tích tài chính sẽ không có ý nghĩa khi chỉ đơn thuần là công việc tổng hợp và sắp xếp số liêu trong khi các đối tượng tài chính cần nghiên cứu lại luôn luôn biến động về số lượng và trạng thái tồn tại Cho nên ở giai đoạn này, các chuyên gia phân tích tài chính phải biết dặt một đối tượng tài chính này trong mối quan hệ biện chứng với các đối tượng khác trong các báo cáo tài chính và trong mối liên hệ với các tiêu chuẩn, các định mức tài chính và kinh tế được đặt ra bởi các đối tác tài chính của doanh nghiệp Ví dụ như để hợp đồng tín dụng của doanh nghiệp được chấp nhận thì một chủ nhà băng phải không thấy được những dấu hiệu bất ổn về khả năng thanh toán của doanh nghiệp trong quá khứ và hiện tại, cũng như về khả năg sinh lời cần thiết trong tương lai từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Do đó, các tiêu chuẩn mà doanh nghiệp cần phải đáp ứng chính là duy trì một lượng ngân sách bằng tiền mặt kết hợp với các loại chứng khoán thanh khoản; lên kế hoạch sử dụng nguồn vốn, quản lý tài sản, kế hoạch về thu nhập, chi phí
Mỗi đối tượng đều đưa ra cho doanh nghiệp những tiêu chuẩn khác nhau song nhìn chung, đều nhằm vào 4 mục tiêu: khả năng sinh lợi, khả năng thanh toán, khả năng cân đối tài chính và mức độ rủi ro.
2.1.3 Dự đoán và ra quyết định.
Đây là giai đoạn cuối cùng, là mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp Nếu 2 giai đoạn trên được thực hiện theo đúng thứ tự và đúng nguyên tắc thì kết quả của giai đoạn này chỉ còn phụ thuộc vào trình độ chuyên môn của những người sử dụng thông tin.
Dự đoán và ra quyết định được thực hiện sẽ xây dựng lên bức tranh toàn cảnh về hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động tài chính nói
Trang 7riêng của doanh nghiệp trong quá khứ Qua đó, mỗi đối tượng khác nhau khi
sử dụng các kết quả phân tích để đưa ra các quyết định riêng của mình trong tương lai đáp ứng mục tiêu đã lựa chọn ở giai đoạn 1.
• Đối với chủ doanh nghiệp, nhà quản lý doanh nghiệp: đó là quyết định có liên quan tới mục tiêu tổng thể của doanh nghiệp.
• Đối với các nhà đầu tư và chủ nợ của doanh nghiệp: đó là các quyết định tài trợ và đầu tư.
• Đối với các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế: đó là các quyết định quản
lý doanh nghiệp
2.2 Nguồn thông tin sử dụng.
Như đã đề cập ở trên, phân tích tài chính doanh nghiệp sử dụng chủ yếu các số liệu kế toán được phản ánh trong các báo cáo tài chính Vì vậy, chủ yếu nguồn thông tin được sử dụng là các báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính là những báo cáo được lập dựa vào phương pháp kế toán tổng hợp các số liệu từ các sổ kế toán, theo các chỉ tiêu tài chính phat sinh tại những thời điểm hoặc thời kỳ nhất định.
Thông thường, hệ thông các báo cáo tài chính doanh nghiệp gồm 4 loại sau:
- Bảng cân đối kế toán: là bảng tổng hợp- cân đối tổng thể phản ánh
tình hình vốn kinh doanh của đơn vị cả về tài sản và nguồn vốn ở một thời điểm nhất định thường là ngày cuối cùng của năm tài chính Đây là tài liệu quan trọng nghiên cứu, đánh giá một cách tổng quát tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, trình đọ sử dụng vốn ở một thời điểm xác định và triển vọng của doanh nghiệp Thực chất bảng cân đối kế toán là bảng cân đối giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp được thể hiện qua các chỉ tiêu nội bảng và ngoại bảng
- Báo cáo kết quả kinh doanh: nếu như bảng cân đối kế toán cho ta
biết toàn cảnh tình hình tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp tại một thời điểm thì báo cáo kết quả kinh doanh lại cho ta biết tình hình thu nhập, chi phí,
Trang 8kết quả kinh doanh từ các hoạt động trong cả một thời kỳ Tài liệu này được lập trên cơ sở các báo cáo kết quả kinh doanh trước đó và số dư cuối kỳ trên các sổ chi tiết theo dõi các tài khoản phản ánh thu nhập, phản ánh chi phí và tài khoản phản ánh kết quả Thông qua báo cáo này, các nhà phân tích tài chính có thể đánh giá hiệu quả trong các hoạt động của doanh nghiệp (hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính, hoạt động đầu tư) băng cách
sử dụng các chỉ tiêu có tính chất định lượng về tương đối và tuyệt đối Đây là phương pháp thường được sử dụng nhất trong phân tích tài chính doanh nghiệp có tác dụng nhận biết xu hướng vận động của các đối tượng tài chính
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: ta đã biết rằng hoạt động tài chính là sự
khái quát các dòng và các dự trữ tài chính Một nhiệm vụ quan trọng của nhà phân tích là phải kiểm soát được sự thường xuyên vận động của các luông tiền
tệ thực nhập quỹ và thực xuất quỹ, tình hình đầu tư, tài trợ bằng tiền của doanh nghiệp Báo cáo trên được sử dụng để cung cấp thông tin về các luồng tiền ra, vào, các khoản đầu tư ngắn hạn có tính lưu động cao, có thể nhanh chóng chuyển đổi thành một khoản tiền biết trước ít chịu rủi ro như lỗ về mặt giá trị do sự biến động của lãi suất hay tỷ giá Những luồng tiền này được tổng hợp và xếp thành 3 nhóm:luồng tiền có nguồn gốc từ hoạt động kinh doanh, từ hoạt động tài chính, từ hoạt động đầu tư.Như vậy ta thấy, báo cáo này không phản ánh về tài sản, nguồn vôn, kết quả kinh doanh hay tinh hình thực hiện nghĩa vụ đối với NSNN mà phản ánh về sự biến động quỹ tiền mặt của doanh nghiệp trong kỳ, tạo cơ sở để phân tích khả năng thanh toán, sự đảm bảo chắc chắn sẽ duy trì một mức độ rủi ro mất khả năng thanh toán thấp nhấtcó thê trong hiện tại trước những khoản nợ tới hạn, những khoản nợ mới
và mới được gia hạn trong tương lai.
- Bản thuyết minh các báo cáo tài chính: đây là một báo cáo quan
trọng của bất kỳ một doanh nghiệp nào trong nền kinh tế, có tính chất bổ sung, hoàn thiẹn thông tin cho ba báo cáo tài chính trên Đó là những thông tin về đặc điểm hoạt động kinh doanh (hình thức sở hữu vốn, hình thức hoạt động, lĩnh vực kinh doanh ), chế độ kế toán áp dụng tại doanh nghiệp, chi tiết một số chỉ tiêu trong các báo cáo tài chính (chi phí sản xuất kinh doanh, tình hình
Trang 9tăng giảm tài chính cố định, tình hình thu nhập của công nhân viên, tình hình tăng giảm nguồn vốn chủ sở hữu, các khoản phải thu và nợ phải trả )
Ngoài thông tin từ các báo cáo tài chính, phân tích tài chính còn có thể
sử dụng thông tin từ bên ngoài doanh nghiệp Đó là những chỉ tiêu tài chính của ngành hoặc ít nhất là nhóm những doanh nghiệp tương tự mà doanh nghiệp lấy đó làm tham chiếu đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của mình Thông tin này chỉ có ở các nước có nến kinh tế phát triển cao bởi một tổ chức có chức năng thu thập và xử lý thông tin theo ngành và toàn bộ nên kinh
tế khi đã tách rời khỏi chức năng quản lý nhà nước.
Có thể nói, các báo cáo tài chính tuy có nội dung khác nhau, song chúng
có một mối liên hệ mật thiết tác động qua lại lẫn nhau Một sự thay đổi của chỉ tiêu này sẽ dẫn tới sự thay đổi của một, thậm trí một nhóm chỉ tiêu khác một cách trực tiếp hay gián tiếp Khi nghiên cứu các báo cáo tài chính, nhất thiết phải tuân theo trình tự từ báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền
tệ, bảng cân đối kế toán kỳ trước cho đến bảng cân đối kế toán kỳ này; và phải đặt chúng trong sự tác động của tổng hợp các yếu tố tới kết quả của quả trình phân tích.
2.3 Những yếu tố ảnh hưởng tới Phân tích tài chính doanh nghiệp.
Mục đích cuối cùng của phân tích tài chính doanh nghiệp là cung cấp những thông tin chính xác, có giá trị về doanh nghiệp cho người sử dụng đưa ra các quyết định trong tương lai Tuy nhiên, để những kết quả có được từ phân tích tài chính doanh nghiệp mà thực chất là từ phân tích các báo cáo tài chính, được như mong muốn thì người sử dụng còn cần phải căn cứ vào một số nhân
tố ảnh hưởng tới việc đưa ra quyết định sau cùng.
2.3.1 Yếu tố bên trong:
* Đó là mục tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hiện tại và tương lai
mà một trong những căn cứ quan trọng là Chu kỳ sống của sản phẩm hay chu
kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Cùng với kết quả phân tích tài chính
từ các báo cáo tài chính, các đối tượng sử dụng phải biết lựa chọn những chỉ tiêu hàng đầu (khả năng sinh lợi, khả năng thanh khoản, khả năng cân đối vốn,
Trang 10khả năng tăng trưởng và phát triển.) khi doanh nghiệp lựa chọn mục tiêu tham gia thi trường, mở rộng thị trường hay giữ vững thị trường
2.3.2 Yếu tố bên ngoài:
Đó là thông tin về thị trường đầu vào (về người cung ứng sản phẩm dịch
vụ đối với doanh nghiệp), về thị trường đầu ra (về người tiêu dùng sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp) Bên cạnh đó, thông tin về dối thủ cạnh tranh có ý nghĩa quyết định tới cơ hội kinh doanh, cơ hội đầu tư, triển vọng phát triển của doanh nghiệp.
Đồng thời, doanh nghiệp còn chịu sự quản lý ở tầm vĩ mô từ phía nhà nước Nắm vững chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và nàh nước vừa
là nghĩa vụ lại vừa là quyền lợi của mối chủ thể kinh tế Đặc biệt hơn, các doanh nghiệp kinh doanh XNK còn phải nắm vững luật pháp của các nước bạn hàng và thông lệ quốc tế.
2.4 Các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp là hệ thống các công cụ và biện pháp nhằm tiếp cận nghiên cứu các sừ kiện, hiện tượng, các mối liên hệ bên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp Thông thường, người ta sử dụng hai phương pháp dể phân tích:
Trang 11• So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể
dể đánh giá bién động của từng cá thể trong tổng thể.
• So sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy sự biến đổi về số lượng tương đối, tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toán.
Phân tích tài chính doanh nghiệp sử dụng các nhóm chỉ tiêu tỷ lệ có lựa chọn sau:
• Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán: Đây là nhóm chỉ tiêu được sử dụng
để đánh giá khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn cuả doanh nghiệp
• Nhóm chỉ tiêu về năng lực hoạt động: Đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho việc sử dụng tài nguyên, nguồn lực của doanh nghiệp
• Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu vốn: Nhóm chỉ tiêu này phản ánh mức độ ổn định
và tự chủ tài chính cũng như khả năng sử dụng nợ vay của doanh nghiệp.
• Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lợi và phân phối lợi nhuận.: Phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp nhất cuả doanh nghiệp.
Tuỳ theo mục tiêu phân tích mà các nhà phân tích tài chính lựa chọn những chỉ tiêu và nhóm chỉ tiêu phù hợp.
Ngoài ra, người ta còn sử dụng phương pháp phân tích DUPONT đánh giá sự biến động của lợi tức cổ phần trong sự tác động đồng thời và riêng rẽ của các chỉ tiêu doanh thu thuần, tổng tài sản, nguồn vốn chủ sở hữu
2.5 Nội dung hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp :
Phân tích tài chính doanh nghiệp bao gồm các nội dung sau:
• Lựa chọn các nhóm chỉ tiêu tài chính.
Trang 12• Phân tích tình hình sử dụng nguồn vốn và diễn biến nguồn vốn.
• Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
2.5.1 Phân tích các chỉ tiêu tài chính :
2.5.1.1 Nhóm chỉ tiêu khả năng thanh toán.
Bao giờ cũng vậy, tiến hành hoạt động kinh doanh luôn phát sinh những khoản tín dụng, khoản công nợ giữa doanh nghiệp với khách hàng với người lao động (qua các khoản lương, thưởng ) và với ngân sách nhà nước (khoản phí, lệ phí, thuế ) xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như sự khác biệt
về điểm kinh doanh, tính thời vụ của nguồn hàng, những quy định pháp lý có tính chất bắt buộc Trong quan hệ tín dụng và thanh toán này, doanh nghiệp vừa đóng vai trò là con nợ vừa đóng vai trò là chủ nợ Vấn đề đặt ra là càng kéo dài thời hạn trả nợ khách hàng càng dài bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu (tức
là càng tăng cường đi chiếm dụng vốn) và ngược lại, càng giảm tối đa thời gian thu hồi các khoản nợ bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu (tức là giảm thiểu bị chiếm dụng vốn) Như vậy, khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng được đảm bảo, nhờ đó, tăng nhanh vòng quay vốn tiền tệ, tăng cường hiệu quả sản xuất kinh doanh và tận dụng tốt những cơ hội.
Mặt khác, khả năng thanh toán của doanh nghiệp cũng tác động lớn tới các đối tác kinh doanh của doanh nghiệp Bới những rủi ro về khả năng chi trả
dễ dàng dẫn tới những rủi ro trong đầu tư của các chủ đầu tư và khả năng không thể thu hồi vốn (và lãi) của chủ ngân hàng và của các chủ nợ khác.
Phân tích tài chính doanh nghiệp thường xem xét một số chỉ tiêu sau: