Nhà Lý Lý triều còn được gọi lànhà Hậu Lý để phân biệt nhà Tiền Lý của Lý Nam Đế là một triều đại phong kiến trong lịch sử Việt Nam , bắt đầu khi vua Thái Tổ lên ngôi tháng 10 âm lịch
Trang 1GIỚI THIỆU KIẾN THỨC MỸ THUẬT VIỆT NAM-
Mỹ thuật thời Lý
Tháng Tư 19, 2010 bởi khanhhoathuynga
PHẦN GIỚI THIỆU KIẾN THỨC MỸ THUẬT VIỆT NAM
KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM
Đón chào Thăng Long 1000 năm tuổi Blog Khanhhoathuynga và Diễn Đàn Sưu Tầm hân hạnh giới thiệu đến các bạn những tư liệu mỹ thuật qua các triều đại Lý , Trần , Lê , Tây Sơn , Nguyễn Để các bạn tham khảo và nghiên cứu , hỗ trợ kiến thức sưu tầm của các bạn
Các tư liệu trên đều do bạn Đức Chính sưu tập và cung cấp cho diễn đàn Thay mặt Diễn Đàn xin chân thành cảm ơn Bạn Đức Chính
Việc sử dụng lại các tư liệu trên , xin vui lòng liên hệ :
<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>
MỸ THUẬT THỜI LÝ
MỸ THUẬT THỜI LÝ
Cuối thế kỷ thứ 10 , nước ta thoát ách đô hộ phương Bắc trải qua hai triều Đinh ,
Lê thống nhất nước nhà và chống tái ngoại xâm , đến thời lý , nghệ thuật phát triển thăng hoa với bản sắc riêng nhằm hóa giải những ảnh hưởng cuả văn hóa Trung Hoa.
Hai triều Đinh , Lê đã tạo dựng một nhà nước có chủ quyền Triều Lý nắm quyền có
ý thức phục hưng văn hóa dân tộc trên tinh thầncó sự giao thoa với văn hóa
Chăm-Ấn đã tạo cơ sở cho nghệ thuật tạo hình phát triển.Thêm vào đó , việc Phật Giáo trở Quốc Giáo, tăng lữ có vị trí tinh thần trọng yếu đạo Phật được phổ cập đã là nhân
tố tác động vào hướng phát triển và phong cách nghệ thuật Việc nước Đại Việt độc lập , tự chủ, đủ sức mạnh chống ngoại xâm, trải qua nhiều năm thái bình thịnh vượng cũng có tác động không nhỏ
Nhà Lý ( Lý triều ) còn được gọi lànhà Hậu Lý( để phân biệt nhà Tiền Lý của Lý Nam Đế )là một triều đại phong kiến trong lịch sử Việt Nam , bắt đầu khi vua Thái
Tổ lên ngôi tháng 10 âm lịch năm 1009 sau khi giành quyền lực từ tay nhà Tiền Lê
và chấm dứt khi vua Lý Chiêu Hoàng ,khi đó mới 8 tuổi bị ép thoái vị để nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh vào năm 1225 – tổng cộng là 216 năm.Quốc hiệu Đại
Trang 2Việt của Việt nam có từ tháng 10 âm lịch năm 1054 khi vua Lý thánh Tông lên ngôi
Ở thời này có sự kiện đáng nhớ là việc dời đô Hoa Lư, một nơi xa đồng bằng Bắc
Bộ , thưa dân , hiểm trở ra Đại La , rồi đổi tên là Thăng Long theo hình tượng con rồng , một hình tượng đặc thù của thời này Quốc hiệu Đại Việt cũng được đặt ở thời kỳ này.
Từ đời Lý,nho giáo bắt đầu có địa vị trong xã hội.Tuy thế ,chế độ giáo dục và thi cử theo tinh thần nho giáo cũng chỉ mới bắt đầu Số nho sĩ được tạo ra hãy còn quá ít , Phật giáo vẫn chiếm ưu thế và các nhà sư vẫn giữ vai trò quan trọng trong xã hội Phật Giáo : Phật Giáo được truyền bá rộng rãi trong quần chúng và có dấu ấn lên mọi sinh hoạt văn hóa Nhà vua và tầng lớp quý tộc rất tôn sùng đạo Phật Tất cả tám đời vua nhà Lý, vua nào cũng sùng tín đạo Phật
Người khởi đầu nhà Lý là Lý Công Uẩn Trong thời đại của vương triều này,lần đầu tiên nhà Lý đã giữ vững được chính quyền một cách lâu dài đến hơn hai trăm năm , khác với các vương triều cũ trước đó chỉ tồn tại hơn vài chục năm, ngoài ra nhà Lý còn bảo toàn và mở rộng lãnh thổ của mình Trong nước , mặc dù các vua đều sung đạo Phật , nhưng ảnh hưởng của Nho Giáo đã bắt đầu lớn dần ,với việc mở trường đại học đầu tiên là Văn Miếu (1070) và Quốc Tử Giám (1076) và các khoa thi để chọn người hiền tài không có nguồn gốc xuất thân là quý tộc ra giúp nước Khoa thi đầu tiên được mở vào năm 1075 Về thể chế chính trị , đã có sự phân cấp quản lý
rõ ràng hơn và sự cai trị đã dựa nhiều vào pháp luật hơn là sự chuyên quyền độc đoán của cá nhân Sự kiện nhà Lý chọn thành Đại La làm thủ đô ( sau là Thăng Long tức là Hà Nội ngày nay )đánh dấu sự cai trị dựa vào sức mạnh kinh tế và lòng dân hơn là sức mạnh quân sự để phòng thủ như các triều đại trước.
NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC THỜI LÝ
Tháng Tư 21, 2010 bởi khanhhoathuynga
NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC
Kiến trúc phát triển mạnh dưới thời nhà Lý và chịu ảnh hưởng của Phật Giáo rất sâu đậm cung điện , lâu đài ,thành quách và chùa tháp được xây dựng với quy mô lớn Thành Thăng Long là một công trình xây dựng lớn trong các triều đại phong kiến Thành gồm hai vòng dài khoảng 25km Trong hoàng thành có những cung điện cao đến bốn tầng
Trang 3Lý Công Uẩn lên ngôi vua , sáng lập vương triều Lý(1009-1225) tại kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) ngày 2-11 Kỷ Dậu(21-11-1009) Tháng 7 mùa thu năm 1010, nhà vua dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La đổi tên là Thăng Long Ngay trong mùa thu năm
đó , nhà Lý đã khẩn trương xây dựng một số cung điện làm nơi ở và làm việc của vua , triều đình và hoàng gia Trung tâm là điện Càn nguyên , nơi thiết triều của nhà vua, hai bên là điện Tập Hiền và Giảng Võ , phía sau là điện Long An , long Thụy làm nơi vua nghỉ Đến cuối năm 1010 , 8 điện 3 cung đã hoàn thành Những năm sau , một số cung điện và chùa tháp được xây dựng thêm Một vòng thành được bao quanh các cung điện cũng xây đắp trong năm đầu , gọi là Long Thành hay Phượng Thành Đó chính là Hoàng Thành theo cách gọi phổ biến về sau này Thành đắp bằng đất , phía ngoài có hào , mở 4 cửa : Tường Phù ở phía đông , Quảng Phúc ở phía tây , Đại hưng ở phía nam , Diệu Đức ở phía bắc Trong Long Thành có một khu vực được đặc biệt bảo vệ gọi là Cấm Thành là nơi ở và nghỉ ngơi của vua và hoàng gia Trong đời Lý , các kiến trúc trong Hoàng Thành còn qua nhiều lần tu sửa và xây dựng thêm Long Thành và Cấm Thành là trung tâm chính trị của kinh thành Phía ngoài cùng với một số cung điện và chùa tháp là khu vực cư trú , buôn bán , làm ăn của dân chúng gốm các bến chợ , phố phường và thôn trại nông nghiệp Một vòng thành bao bọc toàn bộ khu vực này bắt đầu được xây đắp
từ năm 1014, gọi là thành Đại la hay La Thành Trong những biến loan cuối thời Lý , Hoàng Thành bị tàn phá nặng nề sau khi thành lập , nhà Trần phải đắp lại
thành , xây lại các cung điện , nhưng vị trí qui mô của Hoàng Thành , thường gọi là Long Phượng Thành không thay đổi
Thời Lê sơ,Hoàng Thành nhiều lần được tu bổ và mở rộng thêm mà trung tâm điểm
là điện Kính Thiên dựng năm 1428 xây dựng lại năm 1465 với lan can bằng đá chạm rồng năm 1467 nay vẫn còn trong thành Hà Nội Năm Hồng Đức thứ 21 (1490) , vua
Lê Thánh Tông định bản đồ cả nước gồm 13 thừa tuyên Và phủ Trung Đô tức thành Đông Kinh thời Lê sơ Tập bản đồ thời Hồng Đức thứ 21 (1490), vua Lê Thánh Tông định bản đồ Hống Đức còn lại đến nay đã qua nhiều lấn sao chép lại về sau ,nhưng vẫn là tập bản đồ xưa nhất của nước Đại Việt sang thời Nguyễn , thành
Hà Nội do vua Gia Long xây năm 1805 theo kiểu Vauban không những hạ thấp độ cao mà còn thu nhỏ qui mô so với Hoàng Thành của Thăng Long xưa Tuy nhiên trục trung tâm Đoan Môn Kính Thiên của Hoàng Thành Thăng Long thời Lê vẫn không thay đổi và trên trục này thêm cột cờ, Cửa bắc thời Nguyễn
Trang 5Kiến trúc thời Lý phục vụ Phật Giáo , rất nhiều Quốc Tự được xây dựng Phong cách thống soái là hoành tráng , đồ sộ.Chùa một cột ( Chùa Diên Hựu)được xây dựng ở Thăng Long với quy mô lớn hơn ngôi chùa đã có trước đó ở Hoa Lư và với
sự cách điệu tuyệt diệu Việc xây dựng các chùa tháp rất được coi trọng Năm 1031
Lý Thái Tông cho xây dựng 950 ngôi chùa Năm 1056 Lý Thánh Tông lập chùa Sùng Khánh ở phường Báo Thiên, phải dùng 11 ngàn cân đồng để đúc chuông chùa , năm sau lại dựng Tư Thiên Bảo Tháp trước chùa Báo Thiên ,cao vài chục trượng (khoảng 50-60 m)và có 30 tầng Ngoài ra còn có nhiều chùa tháp khác cũng
đồ sộ và huy hoàng không kém
Trang 6Chùa Báo Ân và tháp Báo Thiên cao khoảng 70m Chùa Phật Tích- Bắc Ninh , chùa Long Đọi –Hà nam , Chùa Bà Tấm – hà Nội ,chùa Quảng Giáo –Quảng Ninh đều là những chùa lớn
Kiến trúc chùa tháp thời Lý đều to lớn , cao Các chùa thường nằm trên đỉnh núi cao cấu trúc và bố cục chùa tháp đơn giản , chỉ gồm một ngôi chùa chính và một ngọn tháp lớn có đáy vuông Điều này phản ánh tư tưởng giản dị , phóng khoáng của người thời Lý Trang trí tháp chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Chăm , với các hình chim thần ( Garuda ), nữ thần đầu người mình chim , có lẽ do việc bắt những
tù binh Chăm sau cuộc nam chinh của Lý Thánh Tông Vì thế ấn tượng của ngọi chùa Lý rất độc đáo : Vùa tôn nghiêm , hùng vĩ , đường bệ bởi không gian và đường sống kiến trúc , vùa phóng khoáng lãng mạn bởi gần thiên nhiên, vừa sinh động , lý thú với các trng trí mang hơi hướng Chăm
Chùa Một Cột hay chùa Mật ( gọi theo Hán Việt là Nhất Trụ Tháp ) còn có tên khác
là Diên Hựu hoặc Liên Hoa Đài ( Đài hoa sen ) , là môt ngôi chùa nằm giữa lòng thủ
đô Hà Nội Đây là ngôi chùa có kiến trúc độc đáo nhất Việt Nam
Chùa được khởi công xây dựng vào mùa đông tháng mười âm lịch năm 1049 Chùa chỉ có một gian nằm trên một cột đá ở giữa Hồ Linh Chiểu nhỏ có trồng hoa sen Truyền thuyết kể lại rằng, chùa được xây dựng theo giấc mơ của vua Lý thái Tông (1028-1054)và theo gợi ý của nhà sư Thiền Tuệ vào năm 1049 vua đã mơ thấy được Phật Bà Quan Âm ngồi trên tòa sen dắt vua lên tòa Khi tỉnh dậy,nhà vua kể
chuyện đó lại cho bày tôi và được nhà sư Thiền Tuệ khuyên dựng chùa , dựng cột đá như trong chiêm bao , làm tòa sen của Phật Bà Quan Âm đặt trên cột như đã thấy trong mộng và cho các nhà sư đi vòng xung quanh tụng kinh cầu kéo dài sự phù hộ ,
vì thế chùa mang tên Diên Hựu
Đến năm 1105 , vua Lý Nhân Tông cho sửa ngôi chùa và cho dựng trước sân hai tháp lợp sứ trắng Năm 1108 Nguyên Phi Ỷ lan sai bày tôi đúc một cái chuông rát to ,nặng đến môt vạn hai nghìn cân , đặt tên là Giác Thế Chung ( quả chuông thức tỉnh người đời ).Đây được xem là một trong tứ đại khí- bốn công trình lớn của Việt nam thời đól là : Tháp Báo Thiên ,chuông Qui Điền , vạc Phổ Minh và tượng Quỳnh Lâm Giác Thế Chung đúc xong nặng quá không treo lên được , để dưới mặt đất thì đánh không kêu Người ta đành bỏ chuông xuống một thửa ruộng sâu bên chùa Nhất Trụ , ruộng này có nhiều rùa , do đó có tên là La Quy Điền chuông (chuông ruộng rùa ).
Đến thế kỷ 15 , giặc Minh xâm lược , chiếm thành Đông Quan ( Hà Nội ).Năm 1426
Lê Lợi đem nghĩa quân lam Sơn ra đánh ,vây thành rất gấp quân Minh thiếu thốn
vũ khí đạn dược, tướng Minh là Vương Thông bèn sai người đem phá chuông Quy Điền lấy đồng Quân Minh thua trận , nhưng chuông Quy Điền thì không còn nữa
Đến thời nhà Trần , chùa đã không phải là ngôi chùa nhà Lý nữa vì sách cũ đã ghi : Năm 1249 :”…mùa xuân , tháng giêng , sửa lại chùa Diên Hưu ,xuống chiếu vẫn làm
ở nền cũ…” chùa đã qua nhiều đợt tu sửa Đợt tu sửa chữa lớn vào năm Thiên Ứng
Trang 7Chính Bình 18 ( 1249 ) gần như phải làm lại toàn bộ Thời Lê ,triều đình nhiều lần cho tu sửa , thu nhỏ kích thước đài sen và cột đá Năm 1838, tổng đốc Hà Ninh Đặng Văn Hòa tổ chức quyên góp thập phương sửa chữa điện đường , hành lang tả hữu ,gác chuông và cửa tam quan Năm 1852, bố chính Tôn Thất Giáo xin đúc chuông mới Năm 1864 , tổng đốc Tôn Thất Hàm hưng công trùng tu , làm sàn gỗ hình bát giác để đỡ tòa sen , chạm trổ thêm công phu tráng lệ năm 1954 ,trước khi rút khỏi Hà Nội , quân Pháp đã đặt mìn phá đổ chùa Sau ngày tiếp quản thủ đô ,
Bộ văn hóa đã cho tu sửa chùa một cột theo đúng kiểu mẫu cũ để lại từ thời
Nguyễn
Cạnh chùa Một Cột ngày nay còn có một ngôi chùa có cổng tam quan , với ba chữ
“:Diên Hựu Tự “ , là một ngôi chùa mới được xây dựng phụ vào với chùa Một Cột , xây khoảng đầu thế kỷ 18
Trang 8Chùa Phật Tích ( Phật Tích Tự ) còn gọi là chùa Vạn Phúc ( Vạn Phúc Tự ) là một ngôi chùa nằm ở sườn phía nam núi Phật Tích ( còn gọi núi Lạn Kha , non tiên ), xã Phật Tích , huyện Tiên Du , tỉnh Bắc Ninh Trong chùa có tượng Đức Phật bằng đá thời nhà Lý lớn nhất Việt Nam Chùa Phật Tích được công nhận là di tích Lịch sử văn hóa đặc biệt quan trọng của quốc gia
Theo tài liệu cổ thì chùa Phật Tích được khởi dựng vào năm Thái Bình thứ tư ( 1057 ) với nhiều tòa ngang dãy dọc Chùa được xây dựng vào thời nhà Lý Ngôi chùa vào thời nhà Lý hiện nay không còn nữa
Năm 1066 , vua Lý Thánh Tông lại cho xây dựng một ngôi tháo cao sau khi tháp
đổ mới lộ ra ở trong đó có bức tượng Phật A Di Đà bằng đá xanh nguyên khối được dát ngoài bằng vàng để ghi nhận sự xuát hiện kỳ diệu của bức tượng này , xóm Hỏa Kê ( cạnh chùa ) đổi tên thành thôn Phật Tích
Văn bia Vạn Phúc Đại Thiền Tự Bi năm Chính Hòa thứ bảy ( 1686 )ca ngợi vẻ đẹp của cạnh chùa :” Đoái trông danh thắng đất Tiên Du , danh sơn Phật Tích , ứng thế
ở Càn Phương( hướng Nam ) có núi Phượng Lĩnh bao bọc , phía tả Thanh Long nước chảy vòng quanh Phía Hữu Bạch Hổ núi ôm , trên đỉnh nhà khai bàn đá …”
Năm 1071 , vua Lý Thánh Tông đi du ngoạn khắp vùng Phật Tích và viết chữ
“Phật” dài tới 5m , sai khắc vào đá đặt trên sườn núi Bà Nguyên Phi Ỷ lan có đóng góp quan trọng trong bưởi đầu xây dựng chùa Phật Tích
Trang 9Vào thời nhà Lê , năm Chính Hòa thứ bảy đời vua Lê Hy Tông , năm 1686 , chùa được xây dựng lại với quy mô rất lớn , có giá trị nghệ thuật cao và đổi tên là Vạn Phúc Tự
Nhưng rồi vẻ huy hoàng và sự thịnh vượng của chùa Phật Tích cũng chỉ tồn tại su
đó được gần 300 năm kháng chiến thực dân Pháp bùng nổ và Chùa bị tàn phá nhiều Chùa đã bị quân đội Pháp đốt cháy hoàn toàn vào năm 1947
Khi hòa bình lập lại (1954)đến nay , Chùa Phật Tích được khôi phục dần năm 1959 , bộ văn hóa cho tái tạo lại 3 gian chùa nhỏ làm nơi đặt pho tượng A Di Đà bằng đá quý giá Tháng 4 năm 1962 , nhà nước công nhận chùa Phật tích là Di tích Lịch Sủ văn hóa
Chùa được kiến trúc theo kiểu “nội công ngoại quốc“ , sân chùa là cả một vườn hoa mẫu Đơn rực rỡ Bên phải Chùa là miếu thờ Đức Chúa tức bà Trần Thị Ngọc Am
là đệ nhất cung tần của chúa Trịnh Tráng tu ở chùa này
Cho tới nay , Chùa Phật Tích có 7 gian tiền đường để dùng vào việc đón tiếp khách ,
5 gian bảo thờ Phật , Đức A Di Đà cùng các vị Tam Thế Phật , 8 gian nhà tổ , và 7 gian nhà thồ Thánh Mẫu
Ngôi Chùa có kiến trúc của thời Lý , thể hiện qua ba bậc nền bạt vào sườn núi các nền hình chữ nhật dài khoảng 60m rộng khoảng 33m , mặt ngoài bố trí các tảng đá hình khối hộp chữ nhật
Trang 10Chùa Dạm căn cứ vào các thư tịch cổ , Chùa Dạm được Vua Lý Nhân Tông
(1072-1127 ) cho xây dựng vào năm Quang Hựu thứ hai ( 1086 ).Để tiện vận chuyển nguyên vật liệu phục vụ công trình , vua cho đào ngòi Con Tên từ chân núi Lãm Sơn chạy thẳng ra sôngĐuống Năm 1087 , “Vua ngự đến chùa Lãm Sơn , đến đêm ban yến cho các quan Vua làm 2 bài Lãm Sơn dạ yến” công trình làm trong 9 năm mới xong Vua ban tên Chùa là Cảnh Long Đồng Khánh, lại thân đề biển bằng chữ triện
Năm long phù nguyên hóa thứ 5 (1105) , Vua Lý Nhân Tông cho xây thêm ba tháp
đá nữa Chùa làm xong(1094), vua ban 300mẫu ruộng tự điền để nhà chùa có hoa lợi hương khói và 7 gia đình ở mé dưới núi được giao việc chuyên đóng mở cửa chùa.
Chùa đặt ở sườn núi phía nam của dãy Lãm Sơn , chính giữa ngọn cao nhất Núi Rùa làm tiền án , ngòi Con Tên làm Minh Đường bên tả có thanh Long ,bên hữu có Bạch Hổ chầu về Chùa Dạm hội tụ đủ huyết mạch linh thông theo thuyết phong thủy Chùa dựa hẳn vào sườn núi và 4 lớp nền đá trườn theo sườn núi vừa tôn tầm cao công trình vừa tạo dáng vẻ uy nghi êm hài hòa với cảnh quan thiên nhiên chung quanh hơn nữa tránh được nạn lụt lội ở vùng “rốn nước “ Quế Võ lắm đồng sâu ruộng trũng chiều dài của lớp nền 120m , chiều rộng 70m ( Chùa Phật Tích là 100m và 60m ).Tổng cộng diện tích gần 8000m vuông ,Bốn lớp nền được bó ghép bằng đá tảng (mỗi viên có kích thước 50×60 cm) các lớp đá được cấu tạo choãi chân
đế ,chếch khoảng 70 độ ,và có độ cao 5-6m
Trang 12Chùa Long Đọi Sơn còn có tên chữ là Diên Linh Tự do Vua lý Thánh Tông và Vương Phi Ỷ Lan chủ trì xây dựng từ năm 1054 Đến đời Lý Nhân Tông nhà vua này tiếp tục xây dựng phát triển và xây tháp Sùng Thiện Diên Linh từ năm 1118 đến năm 1121.
Sau ba trăm đứng vững thì đến đầu thế kỷ XV , khi giặc Minh xâm lược nước ta , chùa và tháp bị phá hủy hoàn toàn Riên bia thì không phá nổi , chúng đả lật đổ xuống bên cạnh núi , ngôi chùa đã trở nên hoang phế hoàn toàn Mãi đến năm Tự Đức thứ 13 ( 1860 ) nghĩa là 170 năm sau khi giặc Minh tàn phá nhân dân trong vùng mới cho sửa sang lại Thượng Điện , Tiền Điện , gác chuông , nhà tổ …đến năm
1864 , chùa lại tiếp tục sửa hành lang , đúc tượng Di Lặc , đúc khánh đồng và đúc khánh đá do sư tổ đời thứ 5 là Thích Chiếu Trường chủ trì xây dựng hoàn chỉnh
125 gian , từ đó trở thành trường Bắc Kỳ Phật Giáo Ngôi chùa này được xây dựng theo kiểu nội công ngoại quốc Tại tiền đường, thượng điện tượng Phật rất
nhiều hai bên Chùa là 18 gian hành lang thờ Thập bát La Hán
Trang 13Chùa Bà Tấm ( Dương Xá – Gia Lâm –Hà Nội )
Cụm di tích đền – Chùa Bà Tấm thuộc địa phận xã Dương Xá huyện Gia Lâm , ngoại thành Hà Nội Di tích nằm ở phía đông và cách khu vực nội thành Hà Nội gần 20km Từ trung tâm thành phố , qua cầu Chương Dương , theo quốc lộ 5 đi Hải Phòng khoảng 8km thì đến địa phận xã Dương Xá Di tích nằm bên trái , liền kề
Trang 14đường quốc lộ Theo sử sách và truyền thuyết dân gian , cụm di tích đền – chùa Bà tấm được xây dựng từ thời Lý , sự ra đời của di tích gắn liền với Nguyên Phi , Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan – một nhân vật kiệt xuất của vương triều nhà Lý Sử cũ cho biết Nguyên Phi Ỷ lan giỏi việc trị nước ( hai lần nhiếp chính ), khiến nhân tâm hòa hợp , đất nước thanh bình , dân gian sùng phật , tôn bà là Phật Bà Quan Âm
Cụm di tích chùa – đền Bà Tấm vốn được xây dựng trên một gò đất cao, rộng, nằm bên hữu ngạn dòng sông Thiên Đức nổi tiếng(phía bên tả ngạn là chùa Báo Ân thời Trần ,gắn liền với cuộc đời tu hành của vua Trần Nhân Tông ) Trải qua quá trình tồn tại , mặt bằng di tích có nhiều thay đổi , hiện nay còn có chùa , đền và nhà thờ Mẫu cùng một số đơn nguyên kiến trúc kề cận
Còn tiếp
NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC THỜI LÝ
Tháng Tư 23, 2010 bởi khanhhoathuynga
NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC
Điêu khắc thời Lý tinh vi và cân đối , mang cái trung dũng tĩnh tại và cái “hư không
“của Phật Giáo Vừa mới thoát khỏi nghìn năm nô lệ , được sống trong thái bình thịnh vượng các nghệ sĩ có thể đắm mình trong tôn giáo và triết học, tỉ mỉ tạc những pho tượng thể hiện cái nhìn thoát tục
Trang 15Bên cạnh đó , điêu khắc cũng chịu ảnh hưởng Chăm Những hình trang trí trên mặt đá của Chương Sơn( Hà Nam ) có bố cục , dáng điệu và hình thể gần với điêu khắc Chăm , nhưng cách biểu hiện khuôn mặt lại thuần Việt , những khuôn mặt vũ
nữ không tròn bầu , xa xăm và có phần vô cảm như những khuôn mặt Chăm ,mà linh động và tươi trẻ Pho tượng đời Lý nổi tiếng nhất là tượng A Di Đà của Chùa Phật Tích Tượng cao 2m77 cả bệ , riêng tượng cao 1m87( bằng cái linga của chị Toet ), thể hiện Đức Phật đang ngồi thuyết pháp trên tòa sen Tòa sen cao và bệ tượng tạo thành một hình tháp nhiều tầng gây cảm giác như đang nâng bổng Đức Phật lên Dáng ngồi của Phật thanh thoát ,thư giãn Đường cong chạy từ cổ dọc theo sống lưng cộng với khuôn mặt thoát tục gợi đến cái đẹp và sự dịu dàng phi giới tính Toàn bức tượng cho ấn tượng vè sự đốn ngộ cao siêu và tâm hồn tĩnh tại cũng rất thoát tục và lãng mạn ,con rồng uốn lượn mềm mại và có một cái đầu mơ màng, những khúc uốn nhỏ dần phía đuôi
Điêu khắc đời Lý độc đáo , chủ yếu trên gốm và trên đá Đề tài thường là thiên nhiên như mây , nước,hoa sen , hoa cúc và đặc biệt là hình tượng con rồng với nhiều nếp cong mềm mại tượng trưng cho nguồn nước , niềm mơ ước cho cư dân trồng lúa
Hình tượng con rồng của triều đại này không lẫn được với triều đại khác Những hình điêu khắc ở chùa Phật Tích cho ta thấy rằng nghệ thuật điêu khắc thời Lý không những tiếp thu nghệ thuật Trung Hoa mà còn của ChamPa nữa : nhạc công
và vũ nữ ,hình tượng thần điều Garuda.
Rồng thời Lý có bốn chân ,loại lớn có vẩy Nó rất khác con rồng thô to và mạnh thời Trần , cũng rất khác con rồng đường bệ của Trung Hoa Thật thú vị khi con vật biểu tượng của Hoàng Đế mà lại tỏ ra mơ mộng và đáng yêu như thế Nó chứng
tỏ cái chất vị tha Phật Giáo và cái lãng mạn , cái triết lý đã thấm sâu vào thời đại ấy,
từ nhà vua đến thứ dân ,nhà sư và nghệ sỹ
Mô típ Rồng triều Lý đã xuất hiện trên nhiều loại trang trí bố cục hình tròn ,hình cánh sen , hình lá đề, hình chữ nhật Hầu như ở đâu , không gian nào ,những con rồng luôn có tư thế và cấu trúc giống nhau Nếu nhận xét một cách tương đối kĩ tính như PGS Nguyễn Du Chi , thì có thể chia rồng thời Lý làm hai loại , loại cổ ngẫng và cổ rụt Phong cách thời Lý , về đề tài liên quan đến rồng và bố cục hình trang trí rồng , được các đời sau học theo và giữ gìn
TƯỢNG PHẬT CHÙA PHẬT TÍCH
Trong khuôn viên chùa ngày nay còn có pho tượng A Di Đà ngự tại thượng điện Chùa ,chiếm vị thế vô cùng quan trọng đối với nền mỹ thuật dân gian ở nước ta Đây là pho tượng cổ nhất ở miền Bắc , đã được công nhận kỷ lục Phật Giáo , đồng thời tại Bảo TàngLịch Sử Quốc gia và Bảo Tàng Mỹ Thuật đều có phiên bản của pho tượng này Bức tượng ở Chùa Làm bằng đá năm 1057, tạc Phật A Di Đà ngồi thiền định trên tòa sen , cao 1m85 ( tính cả bệ đá là cao 3m ) Các miếng vá trên tượng này tuy khéo song không che hết dấu vết phá hủy của chiến tranh Tượng có
Trang 16đầu nở ,tóc xoắn ốc , tai to chảy ,khuôn mặt trái xoan đẹp , đôi mắt phượng hiền từ khép hờ nhìn xuống ,mũi dọc dừa cao đầy , môi mỉm cười độ lượng thân tượng dong dỏng,thanh thoát , hai cánh tay ẩn trong làn áo vẫn toát lên vẻ thon lẳn , các ngón tay búp măng dài quý phái tượng mặc áo cà sa có hai lớp : lớp trong để hở ngực tôn vẻ đẹp cổ kiêu ba ngấn ,giữa có thắt lưng bằng chiếc nơ xinh xắn Lớp áo ngoài ôm sát lấy thân mình thon thả của tượng mềm , mỏng , chảy mượt thành nhiều nếp xuống tận đài sen bởi nét chạm khắc tinh xảo , nghệ thuật bệ tượng thành hai phần :đế và đài sen Đế bát giác năm tầng : tầng sát đất để trơn , tầng hai
và ba chạm nổi các lớp sóng kép ,tầng bốn và năm mỗi mặt chạm nổi đôi “rồng giun” bờm tóc dài ( đặc trưng rồng thời Lý ) nới đuôi nhau , chạy quanh bệ tượng Đài sen có 15 cánh to nở rộ ,mỗi cánh sen chạm môt đôi rồng chầu vào hình Phật ngồi thiền trên đài sen hào quang tỏa sáng hình lá đề.
Ngoài tượng Phật A Di Đà quý hiếm , chùa Phật Tích còn bảo lưu được những di vật quý khác như : chân cột bằng đá chạm khắc hoa sen( mỗi hoa sen là một đôi rồng chầu ), hình dàn nhạc công “thiên thần “đang tấu nhạc dận tộc , nhằm tôn vinh Phật pháp Tượng đầu người mình chim( chim thần kinnaras) đánh trống cơm , với ý nghĩa tấu nhạc thiên thần để dẫn chúng sinh vào con đường của đạo pháp Đặc biệt là hang thú đá 10 con to lớn phủ quỳ gồm (ngựa , trâu ,tê giác , voi , sư tử ) đối xứng nhau trước cửa Chùa Những thú đá này được nằm trên bệ đá có những cánh hoa sen ( cao trung bình 1m2 , dài 1m5-1m8 ) trên thân mình sư tử có những lớp vân mây xoắn biểu tượng cho những tinh tú Nhựng linh vật này đều được tạo trong tư thế chầu phục và ẩn chứa một tinh thần sâu xa quy phục phật pháp