Song, số lượng các công trình này còn rất khiêm tốn, thậm chí khuyết hẳn những chuyên khảo mang tính hệ thống, chuyên biệt.Năm 1985, La Công Ý - tác giả bài viết yài nét về sự phát triể
Trang 1VIỆN KHOA HỌC XẢ HỘI ViỆT NAM
VIỆN DÂN TỘC HỌC• • •
NGUYỄN NGỌC THANH (Chủ biên)
a1*?ỉ
Trang 2Một sô' vấn đề vể chính sách giáo dục ở vùng cao mién núi phía bắc Việt Nam / Nguyễn Ngọc Thanh (ch.b.), Lê Thị Dương, Lê Hải Đăng - H : Khoa học xã hội, 2012 - 260tr.; 21cm
ĐTTS ghi: Viện Khoa học xã hội Việt Nam Viện Dân tộc học
Trang 3VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIÊT NAM
NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ N Ô I-2012
Trang 4TẬP THÊ TÁC GIẢ•
PGS.TS Nguyễn Ngọc Thanh (Chủ biên)
TS Lê Hải Đăng
TS Phạm Đăng Hiến
ThS Trần Thiện Khanh
Trang 5MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1: ĐẬC ĐIÊM VỪNG CAO MIỀN NÚI
1.1 Đặc điểm môi trường, dân tộc và địa bàn cư trú 231.2 Một số đặc điểm của vùng cao miền núi phía Bắc ảnh
2.1 Các chính sách liên quan đến xây dựng cơ sở vật
chất trường học ở vùng cao miền núi phía Bắc 652.2 Thực hiện chính sách xây dựng trường, lớp 672.3 Thực hiện chính sách xây dựng nhà ở cho học sinh
2.4 Những mặt tích cực và hạn chế của chính sách xây
Trang 6Một số vân để vể chính sách giáo dục
CHƯƠNG 3: CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC VỀ CHƯƠNG
3.1 Chính sách đổi mới chương trình giảng dạy và sách
3.2 Đổi mới chương trình và sách giáo khoa 1133.3 Những mặt tích cực và hạn chế của chương trình
giảng dạy và sách giáo khoa mới ờ ba tinh Hà
3.4 Chính sách giáo dục song ngữ và các môn chuyên
3.5 Các yếu tố tộc người ảnh hường đến chính sách đổi
mới chương trình giảng dạy và sách giáo khoa mới 164CHƯƠNG 4: CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC VỀ PHÁT
4.3 Những mặt tích cực và hạn chế của chính sách phát
4.4 Các yếu tố tộc người ảnh hường đến giáo dục ở
CHƯ Ơ NG 5: KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP 226
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIẺU
Trang
Bảng 1.1: Thống kê dân số các dân tộc ở ba tinh Cao
Bảng 3.1: xếp loại học sinh lớp 1 sau 5 năm học
Bảng 3.2: xếp loại học sinh Tiểu học năm học 2006
Bảng 3.3: xếp loại học sinh lớp 5 một số tỉnh, thành
Bảng 3.4: Chất lượng học sinh dân tộc lớp 5 ờ một số
Bảng 3.5: Học sinh Tiểu học có học lực yếu, kém ờ
Bảng 3.9: Tỷ lệ học lực yếu kém trong học sinh Phổ
Trang 8Bảng 3.10: xếp loại môn Toán và Tiếng Việt 128
Bảng 3.12: xếp loại học sinh Trung học cơ sờ vùng
Bảng 3.13: Phân loại chất lượng học tập Trường Phổ
thông dân tộc nội trú tinh Hà Giang 133Bảng 3.14: Học lực học sinh các Trường Dân tộc nội
trú tinh Hà Giang năm học 2007 - 2008 134Bảng 3.15: Đánh giá của học sinh dân tộc thiểu số về
Bảng 3.16: Kiến nghị của giáo viên về chương ùình sách
Bảng 3.17: Đánh giá của học sinh dân tộc thiểu số về
Bảng 3.18: Đánh giá của giáo viên về chưomg trình
sách giáo khoa mới đối với học sinh dân
Bảng 3.19: Đánh giá của phụ huynh học sừih dân tộc
ửiieu số về chương ừình sách giáo khoa mới 140Bảng 3.20: Đa dạng tộc người trong học sinh dân
tộc thiểu số Trường Dân tộc nội trú tinh
Bảng 4.1: Kết quả thực hiện chế độ cử tuyển học sinh
dân tộc thiểu số vào cao đẳng, đại học
Trang 9Bàng 4.2: Kếl quả thực hiện chế độ cử tuyển học sinh
dân tộc thiểu số vào cao đẳng, đại học
Bảng 4.3: Kết quả thực hiện chế độ cử tuyển học sinh
dân tộc thiểu số vào đại học, cao đẳng và
Bảng 4.4: số lượng đội ngũ giáo viên ở ba tinh năm
Bảng 4.5: Thực trạng học sinh bỏ học ở bốn huyện
vùng cao tinh Cao Bằng chia theo nhóm
Bảng 4.6: Thực trạng học sinh bỏ học ờ bốn huyện
vùng cao tinh Hà Giang chia theo nhóm
Bảng 4.7: Thực trạng học sinh bỏ học ở bốn huyện
vùng cao tinh Lai Châu chia theo nhóm
Trang 11=?-MỞ ĐẦU
Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, đặc biệt là từ khi Đổi mới (1986) đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ ừuơng, chính sách nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, xã hội ở vùng núi, \òmg dân tộc thiểu số Các chính sách được thực hiện rất đa dạng, gồm nhóm chính sách về phát triển kinh
te (chính sách đầu tư, tín dụng, đất đai, xóa đói giảm nghèo ), nhóm chính sách về xã hội (định canh định cư, di dân ), nhóm chính sách về văn hóa (ngôn ngữ dân tộc, giữ gìn và bảo vệ di sản văn hóa dân tộc), nhóm chính sách về y tế, giáo dục Các chính sách trên có mối liên hệ tác động lẫn nhau, đều cùng bảo đảm sự ưu tiên cho các dân tộc ứìiểu số (DTTS) trong quá trình phát ưiển, đặc biệt là người nghèo và đồng bào vùng khó khăn Trong hệ ứiống chính sách đối với vùng DTTS, vùng cao, miền núi thì chính sách giáo dục đóng một vai trò quan ữọng, là phương tiện phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sổng cho người dân
Cùng với sự phát triển của cả nước, trong những năm qua,
bộ mặt kinh tế - văn hóa vùng cao miền núi phía Bắc đã phần nào được cải thiện, đưa người dân từng bước thoát khỏi tình trạng đói nghèo Theo đó, giáo dục, cũng có một số chuyển biến tích cực Tuy nhiên, nhìn chung, tình hình giáo dục ờ các dân tộc vùng cao miền núi phía Bắc vẫn còn tồn tại nhiều vấn
đề nan giải đòi hỏi sự quan tâm, đầu tư thường xuyên của địa phương nói riêng và Nhà nước nói chung Việc clánh giá lại
Trang 12nhừng tác động của chính sách giáo dục cũng như các chính sách khác (kinh tế - văn hỏa - xã hội - y tế ) đối với vùng này cùng là việc làm cần thiết, nhằm lựa chọn những giải pháp hợp lý nhất, thúc đẩy sự phát triển của vùng trên mọi lĩnh vực.
Để biết được các chính sách đã được thực hiện như thế nào• • • •
và mang lại hiệu quả ra sao, có điểm nào cần sửa đổi, bổ sung, cần thực hiện những khảo sát, đánh giá đối với những đối tượng hường lợi từ chính sách đó Do vậy, việc triển khai nghiên cứu một số vấn đề của chính sách giáo dục ở vùng cao miền núi phía Bắc Việt Nam trong những năm qua là hết sức cần thiết Bởi đây là lĩnh vực chúng ta còn chưa có thông tin hoặc có thông tin nhưng chưa đầy đủ Mặt khác, giáo dục luôn
có mối quan hệ mật thiết với các phương diện kinh tế - xã hội
- văn hóa, do đó, thông qua tìm hiểu tình hình giáo dục ờ khu vực miền núi phía Bắc, chúng ta có thể phần nào đárih giá được hiệu quả thực hiện các chính sách cùa Đảng và Nhà nước về các phương diện nêu trên, đồng thời thấy được các lĩnh vực đó đã tác động như thế nào đến sự phát triển cùa giáo dục ở đây
Sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã đặc biệt nhấn mạnh đến việc phục hồi và phát triển nền giáo dục đất nước Thất học bị coi là một trong
ba thứ giặc nguy hiểm nhất (giặc đói - giặc dốt - giặc ngoại xâm) Do vậy, giáo dục luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta Sự quan tâm thể hiện trước hết qua các chính sách ưu tiên cho lĩnh vực này Đặc biệt, trong những năm gần đây, vấn đề giáo dục ở vùng núi, vùng các DTTS, vùng biên giới, hải đảo đã trờ thành nội dung
Trang 13quan trọng trong hệ thống chính sách giáo dục của Việt Nam
Từ đó, góp phần không nhỏ vào việc cải thiện giáo dục vùng núi nói riêng và thúc đẩy sự phát triển đồng bộ của nền giáo dục cả nước nói chung
về cơ bản, chính sách giáo dục vùng núi của nước ta tập trung vào các phương diện chủ yếu sau: cơ sờ vật chất cho ngành giáo dục; chất lượng giáo dục; đội ngũ giáo viên; đào tạo nguồn nhân lực; ngôn ngữ
Vùng cao miền núi phía Bắc nước ta là địa bàn cư trú của nhiều DTTS (Tày, Nùng, Thái, Mường, Dao, Hmông ) Khu vực này có địa hình hiểm trờ, điều kiện tự nhiên rất khó khăn, phức tạp; thiếu rừng, thiếu đất canh tác; bên cạnh đó, trình độ nhận thức của người dân còn thấp, chất lượng đội ngũ cán bộ chưa cao, dẫn tới hạn chế sự phát triển các mặt kinh tế - xã hội Bước vào thời kỳ Đổi mới, Đảng và Nhà nước luôn có các chính sách ưu tiên phát triển, song về cơ bản, đây vẫn là một trong những vùng chậm phát triển nhất cả nước Đó cũng
là những lý do để lý giải cho tình trạng giáo dục kém phát triển ờ khu vực này
Từ những năm cuối thế kỷ XX đến nay, việc tìm hiểu, khảo sát các tác động của chính sách giáo dục đối với dân cư các DTTS vùng núi cao đã được chú ý và đem lại hiệu quả khá tích cực Hoạt động này góp phần cung cấp những thông tin cơ bản và thiết thực về tình hình thực hiện chính sách giáo dục nơi đây, qua đó phần nào phản ánh được mức phát triển cùng chất lượng cuộc sống của người dân
Theo thống kê sơ bộ, thập niên 80 - 90 của thế kỷ XX đã
có một số công trình nghiên cứu về tác động của chính sách
Trang 14giáo dục đối với các DTTS tại vùng cao miền núi phía Bắc Việt Nam Song, số lượng các công trình này còn rất khiêm tốn, thậm chí khuyết hẳn những chuyên khảo mang tính hệ thống, chuyên biệt.
Năm 1985, La Công Ý - tác giả bài viết yài nét về sự phát
triển văn hóa giáo dục ở các tinh miền núi phía Bắc chi rõ
nền giáo dục ở vùng cao miền núi phía Bắc đã có khoảng cách chênh lệch giữa các đối tượng hường dụng chính sách của nhà nước: tộc người, các nhóm xã hội, giới, độ tuổi
Chất lượng giáo viên là một vấn đề đảng lo ngại, vì nhiều ngưòd được tityển ứiẳng hoặc chi được đào tạo cấp tốc trong một thời gian ngắn (đào tạo ứieo hệ 4+2,4+3)
Nghiên cứu của La Công Ý còn cho biết số lượng học sinh
ở các vùng xa xôi hẻo lánh và tỷ lệ học sinh ờ các lớp trên thấp hơn so với các DTTS có quy mô dân số lớn Giữa các em
nữ và các em nam có một sự khác biệt lớn trong việc tiếp cận
và hưởng dụng ưu đãi của chính sách giáo đục Tác giả đề xuất phương châm “thầy tìm trò, trường gần dân, quy mô nhỏ” song song với việc đào tạo cán bộ, cán bộ nguồn người DTTS để từng bước giải quyết các khó khăn về giáo dục ờ địa bàn miền núi phía BắcV
Công trình nghiên cứu Mộí số vấn đề lý luận và thực tiền
chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay của Bế Viết Đẳng và các
cộng sự năm 1989 có một nội dung phân tích về tình hình thực hiện chính sách giáo dục ở vùng DTTS Các tác giả chi rõ:
14 Một số vấn để vể chính sách gỉáo dục
1 Viện Dân tộc học, Một số vấn để kinh tế - xã hội các tinh miền núi phía Bắc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1987.
Trang 15Thực trạng giáo dục tại các vùng DTTS đã sa sút nghiêm trọng cả về số lượng và chất lượng Điều này biểu hiện ở sự gia tăng đột biến của tỷ lệ người mù chữ, bỏ học, các tnròmg không giảng dạy song ngữ tiếng dân tộc, xuất hiện nhiều
“điểm trắng” về giáo dục
Qua điều tra và thống kê, các tác giả đã cung cấp những số liệu về tỷ lệ mù chữ của một sổ tộc người ở miền núi phía Bắc thời điểm tháng 3 - 1980: Hmông: 87,7%, Dao: 64,40%, Nùng: 28,40%, Mường: 17,60%'
Trong báo cáo này, nhóm tác giả đã chi ra năm nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình ừ ^ g frên, bao gồm: khó khăn về kinh tế; khó khăn về địa hình, giao ứiông đi lại; khó khăn về khí hậu; khó khăn về tiếng nói (ngôn ngữ); khó khăn về nhận thức
Qua đó, các tác giả cho rằng cần quán triệt phương châm giáo dục “lấy chất lượng làm chính” cùng với gợi ý hoàn ứiiện
mô hình các trường - lớp nội trú Tuy nhiên, tác động của chính sách giáo dục đối với các DTTS có dân số ít ờ vùng cao miền núi phía Bắc chưa được các tác giả quan tâm đến
Công ưình Những biến đổi về kỉnh tế - văn hóa ở các tinh
miền núi phía Bắc, xuất bản năm 1993 của các tác giả Viện
Dân tộc học cũng đề cập đến thực trạng giáo dục ở miền núi phía Bắc Năm 1996, Viện Dân tộc học công bố cuốn sách
Những đặc điểm kinh tế xã hội các dân tộc miền núi phía Bắc
do Khổng Diễn chủ biên, Trong công trình này, các tác giả tập trung tổng kết, đánh giá tình hình giáo dục ở khu vực miền núi phía Bắc từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 Đồng thời
t Đế Viết Đẳng Mộtsổvổnđềlỷhtậnvàiỉụictíễnvềchbihsáchdâniộcở
mtớc ta hiện nay, Viện Dân tộc học, Hà Nội, 1990, TL 227.
Trang 16đưa ra nhận định: giáo dục ờ khu vực này đã có nhiều tiến bộ, nhưng vài chục năm trở lại đây, thực trạng giáo dục xuống cấp nghiêm trọng, số người bỏ học và số người mù chữ ngày càng nhiều, năm 1992 các vùng thấp như Mường So - Phong Thổ - Lai Châu không có một học sinh nào đi học Phổ thông trung học (PTTH) số lượng học sinh cuối cấp bỏ học ngày càng tăng (năm 1990 có 134/825 học sinh bỏ học), số học sinh trong độ tuổi đến trường nhưng không đi học chiếm tỷ lệ đáng kể Chẳng hạn, vẳng Pheo là bản gần trường học mà chỉ
có 7/13 em trong độ tuổi học lớp 1 đến trường Tình trạng trẻ
mù chữ, tái mù chữ, chậm tuổi đến trường thuộc các dân tộc thiểu số (DTTS) có dân số ít như Dao, Hmông, Mảng ờ vùng cao ngày càng có chiều hướng gia tăng Có những huyện như Sìn Hồ, Mường Tè hầu như vắng bóng học sinh người Hmông Yếu tố giới trong tiếp cận, hưởng dụng giáo dục cũng
đã được báo cáo đề cập đến Chẳng hạn, các em gái người Thái, theo điều tra, hầu hết chi học hết lớp 2 - 3 rồi bỏ học Những yếu kém về mặt tổ chức trường cấp I và II, chương
t r ì ^ học tập, ngôn ngữ cũng được các tác giả phân tích trong mối liên hệ với tình trạng xuống cấp chung của giáo dục vùng cao' Đối với vùng núi, mức sống gia đình có liên quan trực tiếp đến việc học tập của trẻ em Nhiều hộ thiếu ăn từ 4 - 5 tháng/năm, làm không đủ ăn nên nhiều bậc phụ huynh cho con nghi học, ở nhà làm ruộng phụ giúp gia đình^ Bản thân
Trang 17bổ mẹ các em cũng chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc học.
Công tác đào tạo giáo viên dân tộc ít người, vận dụng chương trình Tiểu học vào vùng dân tộc đã được đề cập đến
trong Hội thảo Chính sách phát triển giảo dục do Bộ Giáo dục
và Đào tạo tổ chức năm 1998 tại Hà Nội Trong quá trình diễn
ra Hội thảo, đã có nhiều ý kiến tranh luận, song vấn đề giáo dục ở các dân tộc có dân số dưới 5.000 người vẫn đang còn bỏ ngỏ, chưa có được quan điểm thống nhất À SCJ/i
Nghiên cứu của Vưong Xuân Tình và Bùi Thế Cường thực hiện năm 2000' đã đề cập đến các chính sách giáo dục và tình hình giáo dục ở vùng DTTS Những năm qua, giáo dục tại vùng dân tộc và miền núi của Việt Nam đã có nhiều chuyển biến, thể hiện ở các mặt: quy mô giáo dục được nâng lên, tất
cả các xã đều có trường Tiểu học, số “bản trắng” về giáo dục giảm đáng kể, tỷ lệ học siĩứrliọc hếriieulíộc và trung học cơ
sở tăng, đã có nhiều tỉỊih'jĩiiề|l rtủĩ^ậí tíềtichụẩn phổ cập giáo dục tiểu học Theo các tác< g ^ Ị r^ụTiậ cản trở về ngôn ngữ cũng như trình độ văn hóa hạn'chẹ cụa^hụ hiynh học sinh là nguyên nhân khiến cho chất lượng giáo dục thấp^ Nghiên cứu này đã có một số kiến nghị thiết thực đối với thực trạng giáo dục vùng dân tộc miền núi, đồng thời đánh giá: các giải pháp nhẳm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của DTTS sẽ có hiệu quả nếu
Trang 18được tập trung vào việc nâng cao chất lượng và giảm chi phí cho giáo dục của các dân tộc này.
Năm 2002, Nguyễn Ngọc Thanh và cộng sự đã tiến hành
nghiên cứu Việc thực hiện chính sách giáo dục, y tế đối với trẻ
em và phụ nữ dân tộc thiếu sổ ở các xã đặc biệt khó khăn
thuộc Chương trình 135 tại các tỉnh Lai Châu, Hà Giang, Kon
Tum, Nghệ An, Sóc Trăng; báo cáo phân tích hệ thống giáo dục vùng DTTS thuộc năm tỉnh trên, đồng thời nêu rỗ thực ữạng hệ thống giáo dục của các tỉnh này: các lớp Mầm non chưa được quan tâm đúng mức, nhiều lớp là nhà tạm, nhà mượn của dân, Từ bậc Tiểu học tới Phổ thông trung học vẫn tồn tại mô hình lớp ghép, lớp nhô, thiếu trường, ứiiếu lớp ở các vùng sâu, vùng xa Cơ sở vật chất phục vụ giáo dục chưa đồng bộ, có nơi tạm bợ, xuống cấp nghiêm trọng Phương tiện
và ữang ứiiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập còn tíìiếu thốn Đời sống và điều kiện sinh hoạt của íỊÌáo viên còn rất khó khăn Chất lượng giáo viên nhiều noà chưa đạt chuẩn Số lượng học sinh bỏ học, không tới trường chiếm tỷ lệ cao, tình trạng nghi học theo ngày, tuần là khá phổ biến' Đề cập đến kết quả thực hiện chính sách giáo dục đối với học
sinh miền núi, dân tộc thiểu số, trên Tạp chí Giáo dục số 68,
quý III/2003, tác giả Nguyễn Ngọc Thanh cho rằng, các chính
1 Nguyễn Ngọc Thanh và cộng sự, Khảo sát việc thực hiện chinh sách giáo dục, y tế đối với trẻ em và phụ nữ dán tộc thiểu số ở các xã đặc biệt khỏ khăn thuộc Chương trình 135 (Nghiên cứu mẫu tại 5 tinh:
Lai Châu, Hà Giang, Kon Tum, Nghệ An, Sóc Trăng), ƯNICEP -
ủ y Ban dân tộc, 2002.
Trang 19sách giáo dục đối với học sinh đã được các tinh triển khai kịp thời và có hiệu quả, dưới tác động của các chính sách này, nền giáo dục ở vùng DTTS hiện đang có những chuyển biến tích cực Tuy nhiên, quá trình triển khai các chính sách vẫn còn những vấn đề phải điều chinh để phù hợp với thực tế địa phương như: chính sách cử tuyển, chính sách cấp phát vở cho không, chính sách đối với trường Phổ thông dân tộc nội trú (PTDTNT), bán trú dân nuôi' Nghiên cứu của Lô Quốc Toàn
về Phát triển nguồn cản bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền
KÚi phía Bắc nước ta hiện nay xuất bản năm 2010 đã đề cập
đến cơ chế, chính sách đào tạo, bồi dưỡng phát tìiển nguồn nhân lực cán bộ dân tộc thiểu số Khẳng định công tác phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số có vị tìí rất lớn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nói chung, trong chiến lược cán bộ nói riêng, tác giả đã phân tích một cách thấu đáo những mặt tích cực và hạn chế của công tác đào tạo trong các trường PTDTNT ở các tinh miền núi phía Bắc, đồng ứiời đưa
ra một số giải pháp về công tác giáo dục và đào tạo có tính khả thi
Trong những năm qua, có một số công trình nghiên cứu và
đề tài cấp Bộ thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh đã đề cập đến các khía cạnh của giáo dục DTTS ở các vùng miền núi phía Bắc nước
ta, như: Nội dung phương pháp và hình thức tổ chức dạy học
1 Nguyễn Ngọc Thanh, Thực hiện chính sách giáo dục đối với học sinh miền núi dân tộc, Tạp chí Giáo dục, số 68, 2003.
Trang 20ở vùng dân tộc, Văn hóa các dân tộc Tây Bắc - thực trạng và những vấn đề đặt ra
Đặc biệt, Chưomg trình Những vấn đề cơ bản của các dân
tộc Việt Nam do Viện Dân tộc học thực hiện trong những năm
2009 - 2010 đã đi sâu nghiên cứu những vấn đề về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và giáo dục ở các vùng tộc người
“trọng điểm” như Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Thanh - Nghệ, Tây Nguyên, vùng người Chăm, vùng người Khơ - me
Tổng kết các công trình nghiên cứu kể trên, có thể thấy;
Kể từ sau thời kỳ Đổi mới, đặc biệt là những năm đầu thể
kỷ XXI, dưới tác động cùa các chính sách, chương trình, dự
án hỗ trợ phát triển giáo dục của Đảng và Chính phủ, tình hình giáo dục ờ vùng cao miền núi phía Bắc đã có một số chuyển biến đáng ghi nhận, góp phần từng bước rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa giáo dục vùng dân tộc và miền núi với vùng đồng bằng, thành thị, mang lại nhiều cơ hội giáo dục cho người dân
Tuy nhiên, giáo dục ờ khu vực này vẫn ở trong tình trạng lạc hậu, chậm phát triển, thể hiện ở các mặt:
- Ti lệ người mù chữ còn cao;
- Sổ lượng học sinh đến trưòmg không nhiều;
- Chưa có sự đồng bộ giữa các cấp học;
- Cơ sở hạ tầng dành cho giáo dục còn nghèo nàn, ửiiếu ửiốn;
- Đội ngũ giáo viên thiếu về số lượng, yếu về chất lượng;
Trang 21- Trình độ nhận thức và văn hóa của đồng bào dân tộc còn hạn chế;
- Chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ làm công tác giáo dục ở các tinh miền núi phía Bắc tuy đã được chú trọng nhưng trên thực tế vẫn còn tồn tại nhiều bất cập;
- Việc sử dụng ngôn ngữ phục vụ cho việc dạy và học còn gặp nhiều khó khăn;
- Chất lượng giáo dục còn có khoảng cách xa so với vùng đồng bằng, đô thị;
Bên cạnh mục tiêu xây dựng, đẩy mạnh phát triển kinh tế -
xã hội vùng núi phía Bắc, nhiệm vụ phát triển giáo dục ở khu vực này cũng đang được đặt ra hết sức cấp thiết Phát triển giáo dục đồng nghĩa với việc đào tạo nguồn lực con người - một trong những động lực hàng đầu quyết định sự đi lên của kinh tế - xã hội nói chung
Để phác họa bức tranh khái quát về tình hình giáo dục ở vùng cao miền núi phía Bắc những năm gần đây, chúng tôi đã chọn nghiên cứu một sổ điểm trường thuộc ba tỉnh Hà Giang, Lai Châu, Cao Bằng Tại mỗi tinh chọn hai huyện có điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khác nhau; và tại mồi huyện chọn một xã để nghiên cứu sâu; cụ thể như sau;
- Tinh Hà Giang: xã Sủng Máng huyện Mèo Vạc và xã Lùng Phin huyện Đồng Văn;
- Tinh Lai Châu: xã Can Hồ huyện Mường Tè và xã Bum Nưa huyện Sìn Hồ;
- Tinh Cao Bằng: xã Đàm Thủy huyện Trùng Khánh và xã Thái Học huyện Nguyên Bình
Trang 22Cuốn sách được hoàn thành có sự tham gia thu thập tư liệu của các nhà nghiên cứu Lê Minh Anh, Tạ Hữu Dực, ThS Trần Thu Hiếu, ThS Vũ Tuyết Lan, ThS Phạm Quang Linh, ThS Lê Trần Quyên, ThS Trần Hồng Thu, ThS Nguyễn Anh Tuấn; tham gia biên tập bản thảo có ThS Lê Thị Dương, ThS Đỗ Thị Hường Nhân dịp xuất bản cuốn sách, tập thể tác giả xin cảm ơn về sự hợp tác có hiệu quả này.
Trang 23ĐẶC ĐIÊM VÙNG CAO MIÈN NÚI
PHÍA BẮC VIÊT NAM
Chương 1
Miền núi phía Bắc Việt Nam rất đa dạng về địa hình, khí hậu, quần thể động - thực vật Đây là nơi tụ cư của nhiều tộc người, với những nét văn hóa đặc trưng riêng biệt
ỉ ỉ Đặc điểm về môi trường, dân tộc và địa bàn cư trú
1.1.1 Môi trường cư trú
Vùng cao miền núi phía Bắc Việt Nam có diện tích khoảng 102.900km^, chiếm một phần ba diện tích phần đất liền cả nước với trên 2.000 xã, trong đó có 707 xã (35,2%) ờ độ cao trên 600m, 783 xã (39%) ở độ cao 200 - 600m; địa hình cao, dốc và chia cắt phức tạp nhất của lãnh thổ nước ta, với những dãy núi cao hùng vĩ như Hoàng Liên Sơn có đỉnh Phansipăng (3.143m), Putalung (3.096m), Puluông (2.986m) Do địa hình chia cắt mạnh, nên khí hậu đa dạng, hình thành nên những tiểu vùng sinh thái khác nhau trên nền khí hậu nhiệt đới, á nhiệt đới, có mùa đông lạnh ờ vùng thấp và có khí hậu ôn đới
Trang 24nhất hom 3.000m, thoải dần theo hướng tây bắc - đông nam
Độ chia cắt của địa hình về chiều ngang phần lớn từ 0,65 - 0,7km, có nơi tới 45 - 60°
Điều kiện địa hình chi phối trực tiếp đến khí hậu Khí hậu
ở đây rất phức tạp, thời tiết mỗi nod mỗi khác Tuy vậy, về đại thể, có hai mùa rõ rệt:
- Mùa nóng - mùa mưa: bắt đầu từ tháng 5, 6 đến tháng 10 Đặc điểm nổi bật là thòd tiết oi bức, mưa to và kéo dài, độ ẩm• • 7 7 «
cao, nhiều vùng có mưa đá Đinh cao mùa mưa vào các tháng
6, 7, 8, chiếm 80% lượng mưa cả năm
- Mùa lạnh - hanh khô: bắt đầu từ tháng 10, 11 đến tháng
4, 5 năm sau; lượng mưa chỉ bằng 20 - 30% lượng nước bốc hơi Nhiều noi nhiệt độ ban đêm xuống dưới 0°c, nhưng vì độ
ẩm trong các thung lùng khá lớn, nước suối bốc hơi mạnh nên thường ít hình ứiành băng giá mà chủ yếu là sương mù Sau các đợt giá lạnh thường xuất hiện sương muối ờ nhiều nơi Bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 4, thời tiết chuyển dần sang nóng khô, nhiều nơi bị ảnh hưởng của gió mùa Táy Nam Thời kỳ nàỵ thời tiết hay thay đổi đột ngột, trong cùng một ngày có nhiều kiểu thời tiết khác nhau Đinh cao của mùa khô
là tháng 2 sang tháng 3
Nhiệt độ trung bình dao động từ 20 - 22®c (cực đại 42,5°c vào tháng 7, cực tiểu -4,5®c vào tháng Giêng); tổng nhiệt độ vào khoảng 7.500 - 8.300°c, điển hình của vùng nhiệt đới, nhưng biên độ nhiệt trong ngày lại vượt quá tiêu chuân của vùng nhiệt đới
Lượng mưa trung bình 1.900 - 2.000mm/năm, nhưng thay đổi rất nhiều giữa các khu vực, chủ yếu do hướng gió Lượng mưa cao nhất đạt tới trên 2.700mm ờ khu vực dãy núi Phu Đen Dinh và dãy Hoàng Liên Sơn; lượng mưa thấp nhất
Trang 251.200mm ở phía Nam tinh Som La, một trong những vùng khô nhất Việt Nam'.
Gió mùa ứiịnh hành từ ứiáng 11 đến tìiáng 3 là gió mùa Đông Bắc (tốc độ gió trung bình 0,9 - 0,2m/s); gió mùa ứiịnh hành từ tháng 4 đến ữỉáng 10 là gió mùa Đông Nam (2,1 - 3,0m/s), gây
ra nhũng trận mưa lớn Gió này thường thổi luân phiên với gió Tây Nam (nóng và khô) thịnh hành từ tháng 3 đến tháng
6, ảnh hưởng mạnh đến những vùng có độ cao dưới 700m Bên cạnh đó, còn có các loại gió địa phương như gió rất nóng
và khô ờ Than Uyên (tháng 7 - 8) và gió xoáy ở Lai Châu Một đặc trưng của vùng cao là sương muối, thường xuất hiện
từ tháng 11 năm trước đến tháng Giêng năm sau Mưa thường
có vào cuối mùa lạnh, đầu mùa nóng (tháng 4), đôi khi có từ tháng 10 đến tháng Giêng năm sau
1.1.2 Dân tộc và địa bàn cư trú
Vùng cao miền núi phía Bắc nước ta có nhiều dân tộc ửiuộc hai ngữ hệ Nam Á và Hán - Tạng sinh sống Cụ tìiể như sau^:
Các dãn tộc thuộc ngữ hệ Nam Ả
- Nhóm Việt - Mường có hai dân tộc là Việt (Kinh) và Mường Đây là những cư dân bản địa có mặt lâu đời trên đất nước ta và có quan hệ mật thiết với nhau về nguồn gốc, lịch
sử và văn hóa Dân tộc Mường cư trú chủ yếu ở Hòa Bình, Sơn La, Phú Thọ
- Nhóm Môn - Khơme có các dân tộc: Khơ - mú, Xinh - mun, Kháng, Mảng Đây cũng là nhỏm dân tộc bản địa cỏ mặt
1 Trần Đức y iê n - Phạm Chí Thành, Nông nghiệp trên đất dốc, thách thức và tiềm năng, sđd,1996.
2 Chúng tôi chi kể tên các dân tộc sinh sống ờ vùng cao phía Bắc Khu vực miền Trung, Tây Nguyên và Nam Bộ không trình bày trong cuốn sách này.
Trang 26lâu đời trên bán đảo Đông Dương; cư trú ờ Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Hà Giang.
- Nhóm Tày - Thái có các dân tộc: Tày, Thái, Nùng, Sán Chay, Giáy, Lào, Lự, Bố Y cư trú tại các tinh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lai Châu, Tuyên Quang, Lào Cai, Sơn La, Yên Bái, Bắc Cạn, Thái Nguyên Ngoài một bộ phận có nguồn gốc bản địa (Tày, Thái), số còn lại vốn từ Nam Trung Quốc và Lào di cư vào Việt Nam từ khoảng thiên niên
kỷ I cho đến cách ngày nay không lâu
Nhóm Hmông - Dao gồm ba dân tộc; Hmông, Dao, Pà Thèn; di cư đến Việt Nam khoảng thể kỷ XIII đến thế kỷ XVII; cư trú ờ Hà Giang, Lai Châu, Điện Biên, Tuyên Quang, Cao Bằng, Sơn La
- Nhóm ngôn ngữ Kađai có các dân tộc: La Ha, La Chí, Cơ Lao, Pu Péo; di cư từ Nam Trung Quốc cách đây vài ba thế
kỷ, phân bố chủ yếu ở tinh Hà Giang
Các dãn tộc thuộc ngữ hệ Hán - Tạng
- Nhóm Tạng - Miến có sáu dân tộc: Hà Nhì, Phù Lá, La
Hủ, Cống, Lô Lô và Si La; cư trú chù yếu ở Tây Bắc và Đông Bắc; các dân tộc này di cư từ Nam Trung Quốc sang Việt Nam cách đây khoảng 300 năm
- Nhóm Hán có ba dân tộc: Hoa, Sán Dìu và Ngái Dân tộc Hoa di cư vào Việt Nam từ ứiời Bắc tìiuộc nhưng chủ yếu từ thế
kỷ XVII - x v m Dân tộc Sán Dìu, Ngái di cư vào miền núi Đông Bắc cách đây khoảng hơn ba thế kỷ'
1 Bùi Văn Đạo (Chủ biên), Công tác giảm nghèo ở các dân tộc thiểu
sô Việt Nam, Báo cáo giảm nghèo các địa phương Việt Nam, Viện
Dân tộc học, Hà Nội, 2003.
Trang 27Chuơng 1: Đặc điểm vùng cao miền núi phía Bắc Việt Nam 27
Bảng L I: Thống kê dân sổ các dân tộc ở ba tỉnh
Cao Bằng, Hà Giang, Lai Châu
Trang 291.2 Một số đặc điểm của vùng cao miền núi phía Bắc ảnh hưởng đến giáo dục
Các tình vùng cao miền núi phía Bắc là nơi tập trung đông đảo nhất các DTTS nước ta, với hình thải cư trú phán tán - xen kẽ nhau và phát triển không đều, nhiều tỉnh có biên giới tiếp giáp với Lào và Trung Quổc
Cư trú phân tán là đặc điểm nổi bật nhất của các DTTS ở khu vực vùng cao miền núi phía Bắc Đặc trưng này biểu hiện
ờ tất cả các cấp độ: tinh, huyện, xã, thậm chí cấp làng, bản* Chẳng hạn, dân tộc Dao phân bố ờ các tinh Tuyên Quang, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái ; gần đây, ở Tây Nguyên cùng có người Dao Hiếm có một dân tộc nào đó cư trú và sinh sống trên một không gian lãnh thổ riêng Nhiều tinh, huyện, các DTTS chiếm tỷ lệ rất cao, người Kinh trở thành "thiểu số" trong kết cấu dân cư ở các địa phương này, thậm chí ở Hà Giang, Cao Bằng, người Kinh chiếm chưa đầy 10%; ờ Lạng Sơn, Tuyên Quang, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu gần 30%
Một khu vực xen cư nhiều dân tộc với nhiều trình độ và sắc thái văn hóa sẽ đặt ra những yêu cầu riêng Đó là phải giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu đảm bảo tính đa dạng của văn hóa từng dân tộc với yêu cầu xây dựng nội dung, chương trình giầo dục mang tính thống nhất; giữa yêu cầu của đối tượng tham gia học tập thuộc nhiều dân tộc với mặt bằng “đầu vào”
1 Phan Hữu Dật (Chủ biên), Mấy vẩn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến moi quan hệ dán tộc hiện nay, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, 2001, tr 158.
Trang 30“đầu vào” không đều, văn hóa nhiều sắc thái với yêu cầu đẩy nhanh tốc độ xây dựng đội ngũ cán bộ đòi hỏi phải tập trung đầu tư nguồn lực; giữa xuất phát điểm quá thấp với yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực ngày càng cao Bên cạnh đó, hiện tượng đa dân tộc sống đan xen đặt ra vấn đề phải xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc
có cơ cấu thích ứng Đây vừa là nguyện vọng của đồng bào các dân tộc, vừa thể hiện quan điểm bình đẳng dân tộc của Nhà nước và địa phương đồng thời cũng dẫn đến yêu cầu phải tạo ra sự kết hợp hài hòa giữa cán bộ người Kinh và người DTTS
Sự phát triển không đồng đều về kinh tế
Do những đặc thù về điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh xã hội, cũng như do tác động của cơ chế thị trưòng đã diễn ra tình trạng phát triển không đồng đều về kinh tế giữa các DTTS với nhau
Dân tộc Hoa cư trú chủ yếu ở thị trấn, thị xã, thành phố
Họ sống bằng nghề buôn bán, kinh tế hàng hóa phát triển Các dân tặc còn lại cư trú ở ba vùng cảnh quan: vùng thung lũng chân núi, vùng rẻo giữa và vùng cao Cách phân loại này chi tương đối, bởi ngay trong một tinh miền núi cũng hội đủ cả ba yếu tố trên, một dân tộc có thể cư trú ở cả ba vùng cảnh quan'.Các dân tộc Mường, Thái, Tày, Nùng, Lự, Sán Chay, Lào, Sán Dìu cư trú chủ yếu tại các thung lũng chân núi, từ lâu họ
1 Chẳng hạn, có một bộ phận người Thái, Tày còn cư trú ờ vùng rẻo giữa, vùng cao Ngược lại, cũng có một bộ phận người Hmông ờ vùng thấp.
Trang 31sổng định canh, định cư, trên cơ sở canh tác ruộng nước, kết hợp với canh tác nương rẫy.
Nhóm dân tộc còn lại, chiếm đa số, sống chủ yếu bàng nương rẫy du canh trên đất dốc, kết hợp với chăn nuôi, làm nghề thủ công và khai thác các nguồn lợi tự nhiên Đặc điểm của cơ cấu kinh tế đó cho thấy bản chất tự cung, tự cấp vẫn còn đậm nét.'
Trong vận hành kinh tế, phân công lao động vẫn tuân thủ theo các nguyên tắc truyền thống: phân công theo giới tính và theo lứa tuổi Trong canh tác nông nghiệp cũng như khai thác nguồn lợi tự nhiên, dấu ấn của sự phân công lao động theo giới tính vẫn còn rất rõ rệt
Sự phân công lao động theo giới và lứa tuổi gắn với thời gian trong ngày Trong mỗi gia đình, sáng sớm phụ nữ lo nấu cơm, cho lợn, gà ăn; nam giới tranh thủ làm các công việc khác như kiếm cá, chẻ củi Ban ngày, người lớn đi làm đồng, làm nưomg hoặc khai thác lâm, thủy sản; trẻ em đi chăn trâu hoặc theo bố mẹ đỡ đần những việc nhẹ Chiều về, phụ nữ nấu cơm, ăn xong nữ dệt vải; nam đi kiếm cá, đặt bẫy săn muông thú
Sự phân công ấy còn gắn liền với công việc Thông thường, nam giới đảm nhiệm việc nặng; nữ giới, người già, trẻ
em làm việc nhẹ hom
Hoạt động kinh tế truyền ứiống đòi hỏi phải có nguồn nhân lực, điều này đã phần nào hạn chế việc thu hút trẻ em đến trường, ở nhiều dân tộc, ưẻ em độ tuổi 15 - 16 đã trở
1 Khổng Diễn (Chủ biên), Những đặc điểm kinh tế xà hội các dân tộc miền núi phía Bắc, Nxb Khoa học xâ hội, Hà Nộij 1996.
Trang 32thành lao động chính của gia đình Do vậy, các em thường bỏ học từ rất sớm.
Vùng cao miền núi phía Bắc có những đặc điểm riêng về
xã hội
Có sự phân hóa về ừình độ phát triển xã hội giữa các DTTS:Các dân tộc Mường, Thái, Tày, Nùng, Lự, Lào từng trải qua giai đoạn nhà nước phong kiến sơ kỳ, trong đó, phân hóa giàu nghèo diễn ra sâu sắc, với một tầng lớp quý tộc, thổ ty, quan lang, phía tạo tương đối giàu có và quyền thế, xã hội đã tồn tại giai cấp'
Các dân tộc còn lại đang bảo lưu nhiều yếu tố của xã hội tiền giai cấp, chưa hình thành giai cấp, mới phân hóa giàu nghèo Tuy có sự chênh lệch về phát triển, song nhìn chung xã hội của các dân tộc vẫn mang những đặc điểm chung:
Bản làng được coi là đơn vị xã hội bao gồm các gia đình thuộc những dòng họ của một hay hai, ba dân tộc cùng cư trú Mỗi bản đều có ranh giới rõ rệt, được quy định cụ thể bằng văn bản hay truyền miệng Ngay cả ở những vùng thưa dân cư, rừng rậm, núi cao cũng không còn tình trạng đất vô chủ
Mỗi thành viên trong một bản, một làng đều có trách nhiệm gánh vác chung các việc công ích và có trách nhiệm đoàn kết tương trợ nhau Tất cả trách nhiệm*và quyền lợi được quy định bời quy ước Quy ước đó tùy từng địa phương, từng
1 Bùi Văn Đạo (Chủ biên), Công tác giám nghèo ở các dân tộc
thiểu so Việt Nam, Báo cáo giâm nghèo các địa phương Việt hlam, sđd, 2003.
Trang 33dân tộc có khác nhau, thể hiện ở cung cách sinh hoạt, những phong tục tập quán, những nghi thức của từng cư dân.
Mối quan hệ giữa các bản làng với nhau, tùy từng vùng, cũng khác nhau ít nhiều
Gia đình các DTTS ở miền núi phía Bắc đều là gia đình nhỏ phụ quyền Trong gia đình các mối quan hệ đã được dân chủ hóa Bình đẳng nam nữ được pháp luật bảo vệ và được thực hiện phần lớn trong cuộc sống, hạnh phúc con cái được chăm lo hơn trước
Trưởng họ ờ các DTTS vùng cao miền núi phía Bắc có vai trò rất quan trọng Chẳng hạn, ở người Hmông, trường họ
(hâux pãuz - cái gốc) thường là người am hiểu các quy định,
các bài cúng của dòng họ mình, hiểu biết phong tục tập quán dân tộc mình, ứng xử, lý lẽ giỏi, có tài tổ chức và có kinh nghiệm trong các hoạt động sản xuất, có phẩm chất trung thực, biết quan tâm chăm sóc đến đời sống và bảo vệ lợi ích của các thành viên trong dòng họ, đồng thời được người dòng họ khác kính trọng Nhờ có uy tín và sự hiểu biết, ý kiến cùa trưởng họ được mọi người trong dòng họ noi theo
và thực hiện
Trường họ có nhiệm vụ duy trì mọi sinh hoạt trong dòng
họ mình như thờ cúng tổ tiên; tổ chức các nghi lề chung để cầu yên, càu phúc; quyết định việc chuyển cư đứng ra giải quyết những bất hòa, mâu thuẫn về đất đai, tài sản giữa các gia đình trong dòng họ và giữa dòng họ với các dòng họ khác Ngày nay, trường họ còn là người đóng vai trò lích cực trong việc giúp đỡ các thành viên Irong dòng họ tìm hướng đi mới để phù hợp với điều kiện kinh tế thị
Trang 34trường, giúp nâng cao đời sống của cả dòng họ và bảo vệ nguồn tài nguyên cộng đồng một cách bền vững.
Căn cứ vào hoàn cảnh địa lý và đặc điểm kinh tế xã hội, nhằm phục vụ cho sự phát triển của miền núi và các DTTS,
ủ y ban Dân tộc đã chia miền núi thành ba vùng, có mức sống khác nhau, gọi là vùng I, vừig II, vùng III
Vùng I, hay vùng thấp: là vùng gần các trung tâm thành phổ, thị xã, ven đường quốc lộ hay trong các thung lũng chân núi; kết cấu hạ tầng tương đối đầy đủ; người dân cơ bản đã định canh, định cư trên cơ sở làm ruộng nước hay trồng cây dài ngày; phần lớn người dân có đời sống từ đủ ăn đến khá giả, hộ nghèo chiếm tỷ lệ ứiấp
Vùng II, hay vùng giữa: kết cấu hạ tàng bước đầu được xây dựng; người dân đã định canh một phần trên cơ sở làm ruộng nước hay trồng cây dài ngày, kết hợp với du canh đất dổc; đời sống người dân tạm ổn định, nhưng nguy cơ đói nghèo vẫn còn
Vùng III, hay vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn: kết cấu hạ tầng còn yếu kém; trình độ học vấn thấp, 60% người dân trờ lên mù chữ, người dân chủ yếu canh tác nương rẫy; thu nhập và mức sống ứiấp kém, hộ đói nghèo chiếm tỷ lệ cao'
Theo Quyết định 164/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, có 1.644 xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn
1 Bùi Văn Đạo (Chủ biên), Công tác giảm nghèo ở các dân 'tộc
thiểu sổ Việt Nam, Báo cáo giảm nghèo các địa phương Việt Nam, sđd, 2003.
Trang 35khu thuộc diện được đầu tư theo Chương trình Phát triển kinh
tế - xã hội cho các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006 - 2010
Vùng cao miên núi phía Băc là khu vực đa dạng văn hóa
Các DTTS ở vùng cao miẹn núi phía Bắc đều có chung một nền văn hóa, mà cơ tầng là văn hóa Nam Á, thể hiện trên các lĩnh vực văn hóa vật chất, văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần Đó là văn hóa của cư dân trồng trọt lúa nước và lúa cạn vùng nhiệt đới gió mùa Tính thống nhất trong văn hóa của các dân tộc thể hiện trên nhiều lĩnh vực, từ sản xuất, nhà cửa, trang phục, đồ ăn, ửiức uống, phương tiện vận chuyển và đi lại đến tổ chức xã hội, phong tục tập quán Bên cạnh tính thống nhất, vẫn tồn tại sự đa dạng của văn hóa tộc ngưòd' là nhùng yếu
tố cơ bản chi phối diện mạo văn hóa nói chung ờ vùng này
Nhìn toàn bộ không gian văn hóa, sẽ thấy bốn thành tố cơ bản sau đây:
- Văn hóa còn lun lại những tàn tích nguyên thủy của cư dân làm rẫy, trồng lúa trên đất dốc chờ mưa Đó là các dân tộc nói ngôn ngữ Môn - Khơ me, Kađai
- Văn hóa thung lũng của cư dân làm ruộng lúa nước với
kỹ thuật thủy lợi điển hình Văn minh thung lũng là cầu nối giữa đồng bằng châu thổ và miền núi, trong đó văn hóa Thái, Mường, Tày nổi trội trong vùng
- Văn hóa của cư dân Tạng - Miến, Hmông - Dao gắn với nông nghiệp vùng cao
1 Bùi Văn Đạo (Chủ biên), Công lác giám nghèo ở các dán tộc
thiểu số Việt Nam, Dáo cáo giảm nghèo các địa phương Việt Nam, sđd, 2003.
Trang 36Mỗi hiện tượng văn hóa đều có những điểm chung nhất, nhưng cách thể hiện ở từng dân tộc, từng nơi lại rất độc đáo, thích hợp với điều kiện sinh sống, trình độ văn hóa, tính cách tâm lý và cảnh quan địa lý từng địa phương Điều này được phản ánh trong kho tàng văn hóa dân gian, trong y phục, trang sức và hoa văn, trong luật tục, trong kiến trúc nhà ở, trong cách ứng xử giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng, giữa con người với môi trường thiên nhiên.
Vùng cao miền núi phía Bắc là địa bàn còn nhiều khó khăn so với các vùng miền khác trên cả nước cả về điều kiện
tự nhiên và trình độ kinh tế
Một trong những khó khăn điển hình của vùng cao miền núi phía Bắc là địa hình dốc và chia cắt mạnh, khí hậu lại khắc nghiệt, ảnh hường đến mọi mặt đời sống sản xuất của nhân dân
Cùng với những khó khăn về điều kiện tự nhiên, nền kinh
tế - xà hội khu vực này còn ở trình độ thấp Theo số liệu thống
kê, trong 5 năm (1995 - 1999), tốc độ phát triển kinh tế bìnli quân hằng năm của các tinh miền núi phía Bắc thấp nhất cả nước, chỉ đạt khoảng 8,6%'
Cho đến nay, tỳ lệ đói nghèo của vùng cao miền núi phía Bắc vẫn cao nhất cả nước, nhiều huyện có tới 2/3 số xã Ihuộc diện “đặc biệt khó khăn”: Phong Thổ (Lai Châu) có 21 xã; Sông Mã (Som La) có 14 xã
1 Hà Quế Lầm, xỏa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr 19.
Trang 37Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các tinh vùng cao miền núi phía Bắc còn chậm, do đó, về cơ bản tỳ trọng giá trị nông nghiệp còn cao, tỷ trọng giá trị công nghiệp thấp, thương mại dịch vụ yếu Bên cạnh đó, những tiềm năng về ngành nghề truyền thống cùng chưa được khơi dậy Trong những năm gần đây, một số địa phương đã khai thác, phát huy được lợi thế về đường giao thông, nhất là qua cửa khẩu biên giới,
để đẩy mạnh phát triển thương mại biên mậu tiểu ngạch và chính ngạch (Quảng Ninh, Lạng Som, Lào Cai )' Song nhìn chung, do địa hình chia cắt, giao thông khó khăn, trình độ tiếp cận thị trường yếu, nên hoạt động thương mại bị hạn chế, sản xuất tự cung, tự cấp vẫn còn nặng, công nghiệp và dịch vụ kém phát triển
Tình hình kinh tế trên liên quan trực tiếp đến sự phát triển giáo dục và đội ngũ cán bộ DTTS:
- Điều kiện tự nhiên và xã hội khó khăn nên các tinh vùng cao miền núi phía Bắc ít hoặc không có sức “giữ chân” và thu hút những cán bộ trình độ cao đến làm việc^, ngay cả con em người địa phương sau khi tốt nghiệp các trường đại học cũng không muốn trở về phục vụ quê hương Tình trạng này đặt ra yêu cầu cần có những chính sách đặc biệt, có sức hấp dẫn lớn,
1 TS Lê Phương Thảo, Đặc điểm các tinh miền núi phía Bắc tác động tới sự hình thành và phát triển của đội ngũ cán bộ dân tộc (hiếu số, in trong kỷ yếu Hội thảo khoa học Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực dân tộc thiểu số các tỉnh Đông Bắc đáp ứng yêu cầu đay mạnh CNH- HĐH đất nước, Hà NỘÌ.2004T
2 TS Lê Phương Thảo, Độc điểm các tinh miền núi phía Bắc tác động tới sự hình thành và phát triến của đội ngũ cản bộ dân tộc thiếu sổ, Tài liệu đã dẫn.
Trang 38bao gồm cả điều kiện vật chất đãi ngộ lẫn phương tiện, điều kiện làm việc, cống hiến, nghiên cứu khoa học để thu hút lực lượng cán bộ có trình độ cao đến công tác.
Trình độ kinh tế kém phát triển là trở lực đổi với các tinh miền núi phía Bắc trong việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực, gồm nhân lực phổ thông và nhân lực tinh hoa (trí thức)
Khó khăn này đòi hỏi các địa phương ở đây phải cân đổi ngân sách, có quan điểm đầu tư đúng đắn cho phát triển nguồn nhân lực nói chung và xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành, các lĩnh vực nói riêng' Đồng thời, cùng không thể thiếu sự hỗ trợ về mặt chính sách và nguồn vốn của Nhà nước Gắn với ưu tiên đầu tư cho miền núi, vùng đặc biệt khó khăn
là xây dựng cơ chế giám sát, bảo đảm thực hiện đúng mục đích, tránh làm sai lệch Đổi với miền núi phía Bắc, cần kết hợp song song hai nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện kết cấu hạ tầng và đào tạo, phát ừiển, sử dụng hợp lý nguồn nhân lực
Trình độ dân trí thấp, đời sống văn hóa - xã hội còn khó khăn
Một trong những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục hiện nay của các tỉnh miền núi phía Bắc chính
là dân cư người DTTS chiếm tỷ lệ lớn, mặt bằng dân trí trước đây thấp Mặc dù trong những năm Đổi mới, sự nghiệp phát triển giáo dục - đào tạo ở các tinh miền núi phía Bắc đã đạt những thành tựu quan trọng, hệ thống trưòmg phô thông dân tộc nội trú, bổ túc, xóa nạn mù chữ được hình thành khẳp các
1 TS Lê Phương Thảo, Đặc điểm các tinh miền núi phía Bấc tác động lới sự hình thành và phát triền cùa đội ngũ cán bộ dán tộc thiểu số, Tài liệu đã đẫn.
Trang 39vùng miền, song, nhìn chung vẫn có sự chênh lệch rất lớn về trình độ dân trí giữa khu vực miền núi phía Bắc với các vùng đồng bằng Theo thống kê, tỷ lệ trẻ em đến tuổi nhưng chưa đi học còn tới 16,8%, riêng Lai Châu là 29,9%, ti lệ mù chữ còn
ờ mức cao, thậm chí là 80 - 90% như ở một số xã vùng cao biên giới cùa Lai Châu, Hà Giang, Cao Bằng', số trẻ đi học không đều, học lên lớp trên càng ít, nhất là trong đồng bào dân tộc Hmông, Dao, Sán Chay, La Hủ Các tinh vùng cao miền núi có số sinh viên vào đại học thấp, số người có trình
độ đại học trở lên so với mười vạn dân ờ các tinh miền núi• • • •
cũng thấp Để nâng cao trình độ dân trí, Nhà nước đã có chính sách ưu tiên bằng hệ cử tuyển cho học sinh DTTS ờ vùng
“đặc biệt khó khăn”, nhưng số nơi thực hiện chưa đúng đối tượng còn chiếm 20 - 40%, cá biệt có nod sai đến 80%^
Hệ thống giáo dục phổ thông ờ miền núi thiếu về số lượng
và yếu về chất lượng Tỷ lệ xã có trường tiểu học khu vực Đông Bắc 97,8%, Tây Bắc 95,8%; trong khi Đông Nam Bộ là 100%, Bắc Trung Bộ và đồng bàng sông Cửu Long là 99,6%^.Một vấn đề nan giải và phổ biến nữa là các tỉnh miền núi đều thiếu giáo viên; số giáo viên được chuẩn hóa còn ít Dù được sự ưu tiên, hỗ trợ khá nhiều từ Nhà nước và địa
1 TS.Lê Phương Thảo, Đặc điểm các tỉnh miền núi phía Bắc tác động tới sự hình thành và phát triển cùa đội ngũ cản bộ dân tộc thiểu sổ,
Tài liệu đã dẫn.
2 Chính sách dân tộc và pháp luật cùa Đảng, Nhà nước về dân tộc,
Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2000, tr 1123.
3 Xem: Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu Nghị quyết Đại hội đại hiếu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 2001, tr 104.
Trang 40phương, song đời sống cùa đại bộ phận cán bộ giáo viên vùng cao còn hết sức khó khăn, khiến cho họ khó có thể chuyên tâm với nghề.
Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng ta có thể nhận thấy, khả năng tạo nguồn cán bộ tại chỗ của các tinh miền núi phía Bắc rất hạn chế, đòi hỏi sự nỗ lực và cả những bước đi mang tính đột phá ờ tất cả các cấp học Nhằm chuẩn bị cho việc hình thành một hệ thống đội ngũ cán bộ trình độ cao, có khả năng đảm đương các công việc kinh tế - xã hội tại địa phương, cần
có chiến lược đào tạo học sinh ngay từ bậc Tiểu học Lộ trình, bước đi và phương pháp xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS ở các tinh miền núi phía Bắc cũng cần phải chú ý tính đặc thù về tự nhiên - văn hóa, không thể áp dụng như đối với các khu vực dân trí cao và tránh cách làm nóng vội, không đem lại hiệu quả như mong muốn
1.3 Chính sách giáo dục của Đảng và Nhà nước Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám (1945) đến nay
Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời Chính cương
vắn tắt cùa Đảng nêu rõ, Cách mạng Việt Nam cần thực hiện
mục tiêu “phổ thông g iáo dục theo công nông hóa” ' Luận
cương chỉnh trị cùa Đảng cũng khẳng định; việc chống nạn
thất học có ý nghĩa quan trọng đổi với công tác tuyên truyền cách mạng và xây dimg krc lượng cách mạng Trong Chương trình của Mặt trận Việt Minh năm 1941, Đảng ta cũng nhấn
mạnh; cần phải hủy bỏ giáo dục nô lộ, lập nền quốc dân giáo dục, xây dựng các trường chuyên môn quân sự, chính trị, kỳ
1 Văn kiện Đảng íoàn tập/ Chính cương vấn tắt, http://123.30.49
74:8080/tiengvieưtulieuvankien /vankiendang/.