+ Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được xem như một gợi ý quan trọng trong việc đưa ra thực trạng về công tác quy hoạch xây dựng vùng hạ du Hồ chứa nước
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào.Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếu có) đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Tuyết Trinh
Trang 2
Tác giả xin chân thành cám ơn PGS.TS Lê Xuân Roanh, người trực tiếp hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn này
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và cán bộ Trường Đại học Thuỷ lợi đã giảng dạy và giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành khóa học và luận văn
Đồng thời, xin dành sự biết ơn tới gia đình, Bố, Mẹ và đồng nghiệp trong cơ quan vì những chia sẻ khó khăn và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Vì thời gian thực hiện Luận văn có hạn nên không thể tránh được những sai sót, Tôi xin trân trọng và mong được tiếp thu các ý kiến đóng góp của các Thầy, Cô, bạn bè và đồng nghiệp
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC HÌNH ẢNH v
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
6 Kết quả đạt được 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC THIẾT KẾ QUY HOẠCH XÂY DỰNG 5
1.1 Khái quát chung về quy hoạch xây dựng 5
1.2 Đánh giá chung về công tác thiết kế quy hoạch xây dựng ở Việt Nam 11
1.2.1 Công tác thiết kế quy hoạch hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật 11
1.2.2 Công tác thiết kế quy hoạch khu công nghiệp 18
1.2.3 Công tác thiết kế quy hoạch khu sản xuất Nông nghiệp và PTNT 22
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác thiết kế quy hoạch xây dựng ở Việt Nam 28
1.3.1 Điều kiện thời tiết, khí hậu 28
1.3.2 Điều kiện địa hình, địa chất 31
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THIẾT KẾ QUY HOẠCH XÂY DỰNG VÙNG HẠ DU HỒ CHỨA NƯỚC 37
2.1 Các yêu cầu và nguyên tắc đối với quy hoạch xây dựng 37
2.2.1 Yêu cầu đối với quy hoạch xây dựng 37
2.2.2 Nguyên tắc tuân thủ đối với quy hoạch xây dựng 37
2.2 Lý luận và thực tiễn về thiết kế quy hoạch xây dựng vùng 38
Trang 42.2.2 Tình hình phát triển quy hoạch vùng ở Việt Nam 40
2.2.3 Phương pháp luận quy hoạch xây dựng vùng 41
Một số vấn đề về đường lối quy hoạch vùng ở Việt Nam 42
2.3 Các quy định của pháp luật về thiết kế quy hoạch xây dựng vùng hạ du hồ chứa nước 45
2.4 Quy trình và phương pháp tiếp cận trong thiết kế quy hoạch vùng hạ du hồ chứa nước 48
2.4.1 Quy trình và trình tự thiết kế quy hoạch 48
2.4.2 Phương pháp tiếp cận quy hoạch vùng 52
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THIẾT KẾ QUY HOẠCH XÂY DỰNG VÙNG HẠ DU HỒ CHỨA NƯỚC ĐỒNG SƯƠNG, HÀ NỘI 59
3.1 Giới thiệu chung về công trình Hồ chứa nước Đồng Sương 59
3.1.1 Vị trí công trình 59
3.1.2 Lưu vực tuyến công trình 60
3.1.3 Quy mô, nhiệm vụ công trình 60
3.1.4 Điều kiện tự nhiên 62
3.2 Thực trạng về công tác quy hoạch xây dựng vùng hạ du Hồ chứa nước Đồng Sương 64
3.2.1 Công tác thiết kế quy hoạch hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật 64
3.2.2 Công tác thiết kế quy hoạch khu sản xuất Nông nghiệp và PTNT 70
3.2.3 Công tác thiết kế quy hoạch khu dân cư 79
3.3 Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng thiết kế quy hoạch xây dựng vùng hạ du Hồ chứa nước Đồng Sương 81
3.3.1 Nâng cao chất lượng thiết kế quy hoạch hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật 81
3.3.2 Nâng cao chất lượng thiết kế quy hoạch khu sản xuất Nông nghiệp và PTNT 85
3.3.3 Nâng cao chất lượng thiết kế quy hoạch khu dân cư 91
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 5DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Sơ đồ mô hình tuyến tính 49
Hình 2.2 Sơ đồ tổng quát quy trình quy hoạch 49
Hình 2.3 Trình tự công tác quy hoạch 50
Hình 3.1 Vị trí hồ Đồng Sương nhìn từ ảnh vệ tinh trên ảnh Google 59
Hình 3.2 Mặt cắt dọc sông chính của lưu vực hồ chứa nước Đồng Sương[14] 62
Hình 3.3 Quy trình thiết kế quy hoạch hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật vùng hạ du hồ chứa nước Đồng Sương 83
Hình 3.4 Sơ đồ Quy trình thiết kế quy hoạch khu sản xuất Nông nghiệp và PTNT 86
Hình 3.5 Sơ đồ Quy trình lập và phê duyệt dự án quy hoạch khu dân cư 92
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Đặc trưng lưu vực Hồ chứa Đồng Sương[14] 59
Bảng 3.2 Thông số kỹ thuật chính của hồ chứa Đồng Sương[15] 59
Bảng 3.3 Lưới trạm khí hậu và đo mưa trên khu vực [14] 62
Bảng 3.4 Thống kê các trạm thủy văn trong và lân cận vùng nghiên cứu [14] 63
Bảng 3.5 Bảng chỉ tiêu dân số huyện Chương Mỹ năm 2016 [17] 79
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Nghĩa đầy đủ
CNH-HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quy hoạch xây dựng có vai trò hết sức quan trọng trong đầu tư xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội Quy hoạch xây dựng là cơ sở khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên đất đai và các nguồn lực phù hợp với điều kiện tự nhiên, đặc điểm lịch sử, kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học và công nghệ của đất nước trong từng giai đoạn phát triển Những năm gần đây cùng với sự phát triển của nền kinh tế, số lượng các dự án, công trình xây dựng được đầu tư mạnh mẽ trong các ngành nói chung và thủy lợi nói riêng
Nước ta đang xây dựng và đi vào khai thác hàng ngàn hồ chứa nước thủy lợi, thủy điện Hồ chứa nước là cơ sở hạ tầng để sử dụng tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông, có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm an ninh về nước cho con người, phục
vụ phát triển bền vững kinh tế, xã hội và môi trường Hồ nước có nhiệm vụ điều tiết dòng sông đề phòng chống lũ cho hạ du và tạo nguồn nước để cung cấp cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất và bảo vệ môi trường Nước ta có nhu cầu và có điều kiện tự nhiên thuận lợi để khai thác, sử dụng tổng hợp tài nguyên nước bằng các hồ chứa Bên cạnh những lợi ích hiển nhiên ở nhiều lĩnh vực kinh tế và xã hội do khai thác, sử dụng tài nguyên nước các hồ chứa mang lại, thực tế cho thấy, do còn nhiều tồn tại, bất cập trong thiết kế quy hoạch xây dựng hồ chứa nên mang lại hậu quả không mong muốn thiệt hại lớn về người và tài sản, hủy hoại tài nguyên và làm suy thoái môi trường, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống nhân dân vùng hạ du nói riêng và nhân dân vùng
bị ảnh hưởng nói chung
Hồ Đồng Sương nằm trên địa bàn của xã Trần Phú, huyện Chương Mỹ, và xã Thành Lập huyện Lương Sơn, Hoà Bình Hồ được xây dựng năm 1969 đưa vào sử dụng năm
1972 Theo nhiệm vụ thiết kế, hồ chứa nước Đồng Sương được thiết kế tràn xả lũ với lưu lượng xả lũ thiết kế (tần suất 1,5%) là 949m3/s, lưu lượng xả lũ kiểm tra (tần suất 0,5%) là 1124m3/s với dung tích của hồ chứa là 13 triệu m3, khi đi vào vận hành, hồ
Trang 10Đồng Sương sẽ có hiệu quả tích cực trong việc điều tiết nước cho hạ du Tuy nhiên, việc tích nước cũng có thể gây ra những hiểm họa nhất định, nhất là trong thời kỳ mùa
lũ nếu gặp sự cố về công trình hoặc vỡ đập bởi vì đập của hồ Đồng Sương là một trong hai hồ có chiều dài lớn nhất (3150m) trong các Đập trên địa TP Hà Nội và chiều cao đập khá lớn (9,5m) Ngoài ra, diện tích lưu vực của hồ Đồng Sương rất lớn nên trong mùa lũ lưu lượng lũ đến hồ là rất lớn Khi xảy ra sự cố lượng nước lũ của hồ Đồng Sương sẽ gây ngập cho một vùng hạ du khá lớn với dân cư khá đông với số dân khoảng trên 20.000 người và nhiều công trình cộng công như trường học, trạm y tế Trong những năm gần đây, do diễn biến bất thường của thời tiết và khí hậu, trong một
số trận lũ lớn đã xảy ra những sự cố đáng tiếc đối với một số hồ chứa thủy lợi, thủy điện làm ngập lụt vùng hạ lưu và gây thiệt hại đáng kể về kinh tế của địa phương Vùng hạ du hồ chứa nước Đồng Sương trong nhiều năm đều chịu ảnh hưởng nặng nề
do xả lũ và lũ rừng ngang từ Hòa Bình đổ về gây ra Xuất phát từ những thiệt hại do thiên tai gây ra cho vùng hạ du hồ chứa nước Đồng Sương thì việc đánh giá công tác quy hoạch xây dựng và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng thiết kế quy hoạch xây dựng cho khu vực hạ lưu hồ chứa nước Đồng Sương, huyện Chương Mỹ là thực
sự cần thiết Với những kiến thức đã tích lũy được trong quá trình tham gia học tập và nghiên cứu tại Trường, được sự đồng ý của khoa Công trình- Trường Đại học Thủy Lợi cũng như sự giúp đỡ, chỉ bảo nhiệt tình của PGS.TS Lê Xuân Roanh, tôi lựa chọn
đề tài nghiên cứu “Nâng cao chất lượng thiết kế quy hoạch xây dựng vùng hạ du Hồ
chứa nước Đồng Sương, Hà Nội” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình với mong
muốn góp phần đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng quy hoạch xây dựng vùng hạ
du Hồ chứa nước Đồng Sương
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng về công tác quy hoạch vùng hạ du các Hồ chứa nước ở Việt Nam
để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thiết kế quy hoạch xây dựng vùng
hạ du Hồ chứa nước Đồng Sương, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu:
Trang 11Chất lượng thiết kế quy hoạch xây dựng vùng hạ du Hồ chứa nước Đồng Sương, Hà Nội
+ Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là vùng hạ du Hồ chứa nước Đồng Sương, Hà Nội
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Cách tiếp cận:
- Tiếp cận các nghiên cứu về công tác thiết kế quy hoạch xây dựng và thực trạng về công tác thiết kế quy hoạch xây dựng vùng hạ du Hồ chứa nước Đồng Sương;
- Các văn bản luật liên quan đến thiết kế quy hoạch xây dựng
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích số liệu;
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế;
- Phương pháp thống kê;
- Phương pháp chuyên gia: Trao đổi với thầy hướng dẫn và các chuyên gia có kinh nghiệm nhằm đánh giá và đưa ra giải pháp phù hợp nhất
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
+ Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài đã Tổng quan về công tác thiết kế quy hoạch xây dựng và cơ sở khoa học về thiết kế quy hoạch xây dựng vùng hạ du hồ chứa nước
+ Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được xem như một gợi ý quan trọng trong việc đưa ra thực trạng về công tác quy hoạch xây dựng vùng hạ du Hồ chứa nước Đồng Sương và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng thiết kế quy hoạch xây dựng vùng
hạ du Hồ chứa nước Đồng Sương
Trang 126 Kết quả đạt được
- Đánh giá hiện trạng về công tác quy hoạch xây dựng vùng hạ du Hồ chứa nước Đồng Sương, huyện Chương Mỹ, Hà Nội
- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng quy hoạch xây dựng vùng hạ
du Hồ chứa nước Đồng Sương
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC THIẾT KẾ QUY HOẠCH XÂY DỰNG
1.1 Khái quát chung về quy hoạch xây dựng
Quy hoạch là một phạm vi rộng của sự hoạch định, quy hoạch xây dựng chú trọng vào việc hoạch định để xây dựng, vậy nên thay vì chúng ta cứ hỏi về các khái niệm quy hoạch xây dựng là gì, và cố gắng tìm cách định nghĩa chúng, thì hãy đặt câu hỏi về việc quy hoạch / hoạch định để làm gì Quy hoạch là một công cụ để làm một việc có chủ đích, có thể dùng làm công cụ quản lý, có thể dùng làm đòn bẩy kích thích đầu tư,
có thể dùng làm kế hoạch thực thi một ý định, hoặc cũng có thể là một công cụ giáo dục, tăng cường nhận thức của cộng đồng, hoặc thậm chí là một công cụ để phá hủy, đàn áp và hủy hoại môi trường Hãy chú trọng vào mục đích, chứ không phải hình thức ngữ nghĩa [1]
Bản chất của công việc quy hoạch là dự đoán, mà đã là dự đoán thì không thể lúc nào cũng đúng và cũng rất khó phát hiện sai, vì toàn bộ lập luận đều dựa trên những kinh nghiệm trong quá khứ, và những mong muốn khắc phục nó để không lặp lại sai lầm nữa Điều này đòi hỏi phải sử dụng một loại tư duy khoa học về sự bất định và kiểm soát rủi ro, hơn và việc hoạch định các điều tốt và theo đuổi chúng, vì chúng có thể không thành hoặc chuyển biến thành các điều xấu, tùy theo cách định nghĩa của chúng
ta
Sự tiếp tục thực hiện hoạch định kế hoạch dựa trên thống kê, chỉ tiêu và các đánh giá
số liệu theo tư duy của phương Tây đã thống trị cái cách mà chúng ta thực hiện các đồ
án quy hoạch xây dựng , thực tế, chúng ta đã thấy rằng, chưa bao giờ nó đúng đắn cả Trong khi cơ chế của chúng ta lại không cho phép chúng ta sửa sai, mà thật ra, sửa sai phải nhanh hơn việc phạm sai lầm thì mới tiến bộ được
Ở bất kỳ quy mô, phạm vi nào, công tác quy hoạch xây dựng là những thí điểm về ý tưởng phát triển, tập trung, phân tán và sử dụng các nguồn lực, trong bối cảnh cạnh
Trang 14vấn đề hiện hữu của đô thị, kể cả những khu vực đã ổn định và nhạy cảm, như các khu trung tâm tài chính, khu công viên, khu bảo tồn hay vùng sinh thái ẩm ướt
Quy hoạch xây dựng
Quy hoạch xây dựng là việc tổ chức không gian đô thị và điểm dân cư nông thôn, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội; tạo lập môi trường sống thích hợp cho nguời dân sống tại các vùng lãnh thổ, bảo đảm kết hợp hài hoà giữa lợi ích quốc gia với lợi ích cộng đồng, đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng,
an ninh, bảo vệ môi truờng Quy hoạch xây dựng được thể hiện thông qua đồ án quy hoạch xây dựng bao gồm sơ đồ, bản vẽ, mô hình và thuyết minh [2]
- Quy hoạch xây dựng phải được lập, phê duyệt làm cơ sở cho các hoạt động xây dựng tiếp theo
- Quy hoạch xây dựng được lập cho năm năm, mười năm và định hướng phát triển lâu dài
- Quy hoạch xây dựng phải được định kỳ xem xét điều chỉnh để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn
- Việc điều chỉnh quy hoạch xây dựng phải bảo đảm tính kế thừa của các quy hoạch xây dựng trước đã lập và phê duyệt
Hệ thống quy hoạch ở nước ta hiện nay có thể phân thành 4 loại chủ yếu: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội; Quy hoạch phát triển ngành, sản phẩm; Quy hoạch xây dựng (trong đó có Quy hoạch đô thị); Quy hoạch sử dụng đất và 4 cấp: cấp quốc gia (cả nước), cấp vùng, cấp tỉnh và cấp huyện
Trong gần 30 năm qua, Việt Nam về KTXH đã thu được nhiều thành tựu to lớn và có
ý nghĩa lịch sử Chúng ta đã thực hiện thành công chặng đường đầu của công cuộc đổi mới, đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, đời sống nhân dân có nhiều thay đổi tích cực, sức mạnh quốc gia về mọi mặt được tăng cường, độc lập, tự chủ và chế
độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao, tạo tiền đề để nước ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn
Trang 15trong giai đoạn mới Đạt được thành tựu trên phải kể tới sự đóng góp của hệ thống quy hoạch Việt Nam trong đó có Quy hoạch xây dựng
Quy hoạch xây dựng đã thực sự góp phần tạo ra nguồn lực trong phát triển KT-XH của đất nước Trong đó, kinh tế đô thị góp khoảng 70% GDP cả nước, các chỉ số thu ngân sách của các vùng tỉnh và các đô thị lớn cho thấy nhìn chung tăng trưởng kinh tế ở khu vực đô thị đạt trung bình từ 12 đến 15%, cao gấp 1,2 đến 1,5 lần so với mặt bằng chung trong cả nước Hệ thống hạ tầng xã hội, hạ tầng kĩ thuật đô thị, kể cả khu vực nông thôn được quan tâm đầu tư xây dựng từng bước theo hướng đồng bộ, hiện đại Nhìn chung, diện mạo kiến trúc, đô thị, nông thôn Việt Nam đã có nhiều thay đổi theo hướng hiện đại, có bản sắc
Hiện nay là thời điểm tốt nhất để đánh giá một cách tổng quan về vai trò của ngành quy hoạch xây dựng trong hệ thống quy hoạch Việt Nam để chuẩn bị cho giai đoạn phát triển mới tiếp tục được thành công tốt hơn
Lược sử và những thành tựu nổi bật của ngành quy hoạch xây dựng [3]
Từ khi các đô thị Việt Nam hình thành, có lẽ từ mô hình Thành cổ Cổ Loa cho đến Hà Nội và các đô thị dọc theo Đất Nước chủ yếu hình thành theo mô hình Đô và Thị như một cấu trúc lưỡng tính gắn chặt với nhau thành một cấu trúc điển hình kéo dài suốt thời kỳ Phong kiến Cho đến thế kỉ 18-19, các kiến trúc sư người Pháp đã mang đến Việt Nam cách làm quy hoạch đô thị hiện đại theo kiểu phương Tây Vào đầu thập kỉ
60 của thế kỉ 20, KTS Hoàng Như Tiếp có viết cuốn sách về Quy hoạch xây dựng đô thị Việt Nam được xem như một tài liệu đầu tiên ở Việt Nam do người Việt viết phương pháp, quy trình lập Quy hoạch Kể từ đây ngành quy hoạch xây dựng đã trưởng thành và đóng góp nhiều thành tựu lớn lao trong công cuộc xây dựng đất nước qua các thời kỳ
Thời kỳ 1956 - 1964: Kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi,cách mạng Việt
Nam đã chuyển sang giai đoạn mới: miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Nhân dân miền Bắc bước vào xây dựng khôi phục và phát triển đất nước Từ 1960 đến 1964, đô thị
Trang 16thị trung bình và nhỏ đều khắp trên toàn lãnh thổ đất nước Ngành quy hoạch xây dựng (QHXD) lúc đó đi sâu vào các lĩnh vực:Thiết kế, cải tạo, phát triển xây dựng, phục hồi các đô thị và điểm dân cư nông thôn toàn miền Bắc.Công tác lập đồ án QHXD bước đầu được hình thành theo quy trình của Liên Xô Đồ án quy hoạch Thủ đô Hà Nội được thực hiện với sự trợ giúp của chuyên gia Liên Xô Chuyên gia Trung Quốc sang giúp quy hoạch 2 thành phố công nghiệp Thái Nguyên và Việt Trì Ba Lan giúp quy hoạch TP Hải Phòng… Với sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc…, những công việc QHXD thực hiện trong giai đoạn này đã đặt nền móng vững chắc và chắp cánh cho ngành quy hoạch xây dựng của nước ta sau này
Thời kỳ 1965-1975: Thời gian này, ngoài công việc nghiên cứu đồng bộ theo bài bản
của Liên Xô, ngành QHXD nghiên cứu thêm được 3 mô hình để phổ biến rộng rãi là: (1) Mô hình QHXD vùng tỉnh của đoàn Bungari, đặc biệt là cách phân tích thay đổi theo từng giai đoạn, tiến lên sản xuất lớn của mạng lưới các điểm dân cư nông thôn được hình thành với sự xuất hiện các đô thị nông nghiệp, trên địa bàn nông thôn (2)
Mô hình QHXD cụ thể của đoàn chuyên gia CHDC Đức, nhằm đáp ứng các yêu cầu bức bách trước mắt (đặc biệt là vấn đề nhà ở cho việc hồi cư) trên cơ sở xác định hợp
lý một khu dân cư của đô thị (3) Mô hình bảo vệ môi trường lâu bền trong quy hoạch phát triển khai thác du lịch, bảo tồn sinh thái, cảnh quan vùng Hạ Long, hài hòa với việc phát triển các ngành kinh tế (công nghiệp, nông, lâm nghiệp, phát triển cảng biển, khai thác vật liệu xây dựng…) của đoàn chuyên gia Hungari.Với sự giúp đỡ nhiệt tình của các đoàn chuyên gia nước ngoài, đội ngũ cán bộQHXD đã được mở rộng cả nhận thức thực tế cũng như lý thuyết và đã có một bước trưởng thành rõ rệt
Thời kỳ 1976-1985: Đất nước thống nhất, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội được
thực hiện trên phạm vi cả nước Chúng ta đứng trước hai hệ thống đô thị hoàn toàn khác nhau ở hai miền, lại bị chiến tranh tàn phá Lần đầu tiên, ngành QHXD đã nghiên cứu những định hướng đô thị hóa mang tính chiến lược cho cả nước trong tình hình hòa bình, với một nền kinh tế què quặt và những vết thương chiến tranh chồng chất nặng nề Trang lịch sử mới của đất nước, cũng là trang lịch sử mới của công tác QHXD, đòi hỏi những nhận thức quan điểm mới, những tầm nhìn mới Chuyển biến nhận thức đã khó, nhưng tìm ra được hướng đi mới lại còn khó khăn hơn gấp bội, vì
Trang 17nó gắn chặt với chính sách về chính trị - kinh tế - xã hội của Nhà nước trong bối cảnh lịch sử mới với một nền kinh tế kiệt quệ sau một thời gian chiến tranh kéo dài, các khoản viện trợ từ bên ngoài bị cắt đứt và bắt đầu gánh chịu sự bùng nổ dân số Với ngành QHXD đã có dịp so sánh 2 đường lối đô thị hóa, 2 hệ thống đô thị hình thành phát triển dưới 2 chế độ chính trị - kinh tế - xã hội khác nhau để rút ra những bài học cần thiết, hết sức thực tiễn để thực hiện theo những định hướng mới về chính sách kinh
tế xã hội nhằm vượt qua những khó khăn chồng chất
Thời kỳ đổi mới 1986-1995: Bước vào thời kỳ đổi mới, với sự tác động lớn từ những
đường lối chính sách mới của Đảng và Nhà nước, đòi hỏi công tác QHXD phải được nghiên cứu đổi mới, để có giải pháp thỏa đáng, thiết thực và khả thi Tình trạng bùng
nổ dân số, thiếu nhà ở, “phố hóa” các tiểu khu nhà ở, sửa mặt tiền, mở cửa hàng khắp nơi, ách tắc giao thông, phát triển thị trường buôn bán bất động sản… cùng việc hình thành các khu công nghiệp tập trung, các dự án đầu tư của nước ngoài, đã dồn dập đòi hỏi ngành QHXD phải tìm giải pháp giải quyết Vì vậy, nội dung và phương pháp QHXD có nhiều đổi mới để đáp ứng với cơ chế thị trường theo định hướng XHCN: khai thác và quản lý có hiệu quả nhất quỹ đất, không gian cảnh quan kiến trúc, kết cấu
hạ tầng và môi trường Nhiều chương trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp ngành như chương trình về đô thị hóa, chiến lược phát triển đô thị, phát triển kết cấu
hạ tầng nông thôn, động thái dân số đô thị, xã hội học đô thị, giao thông đô thị… đã được thực hiện để đổi mới công tác QHXD
Thời kỳ 1996-2007: Giai đoạn bùng nổ xây dựng theo định hướng hiện đại hóa, công
nghiệp hóa Ngành QHXD liên tiếp giúp địa phương nghiên cứu điều chỉnh các quy hoạch đô thị, trong đó phải kể đến Hà Nội, TP HCM, Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế, Cần Thơ, Hạ Long, Nha Trang, Vũng Tàu… Đồng thời tiếp tục nghiên cứu quy hoạch các
đô thị mới và các đô thị tỉnh lỵ mới được tách tỉnh, như Vạn Tường - Dung Quất, Chu Lai - Kỳ Hà, Bắc Ninh, Hưng Yên, Gia Nghĩa.Bước đầu tiến hành nghiên cứu sâu rộng các quy hoạch vùng lãnh thổ quan trọng như: vùng thủ đô Hà Nội, vùng Tây Nguyên, vùng duyên hải Trung vùng TP HCM, Trung Bộ, vùng biên giới phía Bắc, vùng đồng bằng sông Cửu Long…Tiến hành nghiên cứu thí điểm một số thiết kế đô thị ở Hạ Long - Quảng Ninh, Đà Lạt - Lâm Đồng và ở một số đô thị khác Quy hoạch các vùng
Trang 18sinh thái và các vùng đặc thù khác như: Vườn quốc gia Ba Vì, khu nghỉ mát Tam Đảo, khu du lịch sinh thái bán đảo Cà Mau, khu du lịch sinh thái Hạ Long, khu du lịch sinh thái vịnh Văn Phong Các quy hoạch bảo tồn như quy hoạch bảo tồn và khai thác cố đô Huế, QH bảo tồn khai thác di sản thiên nhiên vịnh Hạ Long, QH bảo tồn khai thác cố
đô Hoa Lư, QH làng văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam, QH các khu kinh tế cửa khẩu và ven biển và nhiều quy hoạch xây dựng khác đã được thực hiện trong thời kỳ đổi mới đất nước
Thời gian này, nhiều văn bản pháp quy quan trọng như Luật Xây dựng, Nghị định về quy hoạch xây dựng, đánh giá tác động môi trường trong quy hoạch xây dựng đã được ban hành Đáng lưu ý là trong Luật Xây dựng có chương II về Quy hoạch xây dựng lần đầu tiên được ban hành và bắt đầu có hiệu lực thi hành từ 7-2004
Thời kỳ 2008-đến nay: Giai đoạn này hệ thống văn bản pháp lý về ngành QHXD cơ
bản đã được kiện toàn như Luật Quy hoạch đô thị 2009, Luật Xây dựng 2014, Nghị định 44/2015/NĐ-CP, Quy định chi tiết một số nội dung về quy hoạch xây dựng để hướng dẫn thi hành Luật Xây dựng và Thông tư 12/2016/TT-BXD, Quy định về hồ sơ của nhiệm vụ và đồ án quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch đô thị và quy hoạch xây dựng khu chức năng đặc thù đã nâng tầm ngành QHXD trong công cuộc xây dựng đất nước Nhiều đồ án quy hoạch quan trọng đã được triển khai thực hiện như Quy hoạch chung thủ đô Hà Nội đến năm 2035; điều chỉnh QHXD vùng thủ đô Hà Nội, Quy hoạch chi tiết trung tâm chính trị Ba Đình, QHCT nhà tang lễ Quốc gia; QHXD hệ thống trụ sở làm việc của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan TW tại Hà Nội và TP HCM đến năm 2030, QH quản lý chất thải rắn vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, QH quản lý chất thải rắn lưu vực sông Đồng Nai, QH thoát nước lưu vực sông Cầu, QH quản lý chất thải rắn vùng Đồng Bằng Bắc Bộ… Nhiều đồ án QHXD đã được thực hiện với sự phối hợp của tư vấn nước ngoài Hình thức hợp tác này tận dụng được mặt mạnh của tư vấn nước ngoài, tiết kiệm chi phí cho chủ đầu tư
và quan trọng hơn là khẳng định được vị trí, uy tín và xu hướng hội nhập của ngànhQHXD
Những thành tựu trong QHXD nêu trên là kết quả của một quá trình đổi mới công tác QHXD, linh hoạt trong việc xác định mục tiêu, định hướng, chú ý nhiều hơn đến yếu
Trang 19tố thị trường để cập nhật phục vụ việc lập quy hoạch, bổ sung và điều chỉnh quy hoạch kịp thời Vì vậy, nhiều QHXD đã bám sát với tình hình thực tế, đáp ứng được yêu cầu phát triển trong tình hình mới; đồng thời cũng là căn cứ để xây dựng các kế hoạch dài hạn, năm năm, hàng năm
1.2 Đánh giá chung về công tác thiết kế quy hoạch xây dựng ở Việt Nam
1.2.1 Công tác thiết kế quy hoạch hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật
Một trong các yếu tố quan trọng nhất để thúc đẩy sự phát triển và thành công của nhiều lĩnh vực kinh tế đó chính là cơ sở hạ tầng kỹ thuật Sự phát triển và hiện đại hoá các lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật có ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển của đô thị, điểm dân cư nông thôn Quy hoạch phát triển không gian chỉ được thực hiện hiệu quả khi hạ tầng kỹ thuật đựơc xây dựng đồng bộ và đi trứơc một bước Do đó việc đầu tư xây dựng, nâng cấp, cải tạo cùng nhưng xây dựng và quản lý hạ tầng kỹ thuật sẽ góp phần nâng cao chất lượng đô thị, điểm dân cư nông thôn tạo lập được các không gian đáp ứng hài hoà các nhu cầu sử dụng cho con người cả về vật chất và tinh thần Chính vì thế chúng ta cần quan tâm tới việc xây dựng, quản lý hệ thống hạ tầng kỹ thuật
Điểm dân cư nông thôn: là nơi cư trú tập trung của nhiều hộ gia đình gắn kết với nhau trong sản xuất, sinh hoạt và các hoạt động xã hội khác trong phạm vi một khu vực nhất định bao gồm trung tâm xã, thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc (sau đây gọi chung là thôn) được hình thành do điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, văn hoá, phong tục, tập quán và các yếu tố khác
Kết cấu hạ tầng: là tài sản vật chất và các hoạt động hạ tầng có liên quan dùng để phục
vụ các nhu cầu kinh tế xã hội của cộng đồng dân cư Kết cấu hạ tầng bao gồm: hạ tầng
xã hội và hạ tầng kỹ thuật (HTKT )
Hệ thống các công trình hạ tầng xã hội mang tính xã hội nặng hơn tính kinh tế, được xây dựng nhằm phục vụ cộng đồng Hệ thống này bao gồm các công trình y tế, văn hoá, giáo dục, thể thao, thương mại, dịch vụ công cộng và các công trình khác
Hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị bao gồm: hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp thoát nước, xử lý các chất
Trang 20thải, nghĩa địa, nghĩa trang; cây xanh công viên và các công trình khác Đây là những
cơ sở vật chất, những công trình phục vụ cho cuộc sống hàng ngày của người dân trong đô thị nó là những công trình mang tính dịch vụ công cộng
Hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật nông thôn bao gồm: Hệ thống giao thông,
Hệ thống thông tin liên lạc, Hệ thống cung cấp năng lượng, Hệ thống chiếu sáng công cộng, Hệ thống cấp nước, thoát nước, Hệ thống xử lý các chất thải, Hệ thống nghĩa trang và các công trình khác
Hành lang kỹ thuật: Là phần đất và không gian để xây dựng các tuyến kỹ thuật (điện, cấp, thoát nước, thông tin liên lạc ) và phần đất dành cho giải cách ly an toàn các tuyến kỹ thuật
Hạ tầng kỹ thuật khung: là hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật chớnh cấp đô thị bao gồm các trục giao thông, các tuyến truyền tải năng lượng, các tuyến truyền dẫn cấp nước, tuyến cống thoát nước, các tuyến thông tin viễn thông và các công trình đầu mối kỹ thuật
Chỉ giới đường đỏ trong quy hoạch xây dựng: Là đường ranh giới phân định giữa phần đất được xây dựng công trình và phần đất được dành cho đường giao thông Phần đất dành cho đường giao thông bao gồm: phần đường xe chạy, dải phân cách, dải cây xanh
và hè đường Quy định chỉ giới đường đỏ nhằm xác định giới hạn phần đất cho phép xây dựng nhà ở và công trình với phần đất chỉ để dành cho xây dựng đường giao thông Chỉ giới đường đỏ là cơ sở để quản lý xây dựng theo quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt
Chỉ giới xây dựng: Là đường giới hạn cho phép xây dựng công trình trên lô đất dọc theo đường Quy định chỉ giới xây dựng để làm cơ sở cấp phép xây dựng công trình và quản lý xây dựng dọc theo các tuyến đường phố quy hoạch
Cao độ nền xây dựng (cốt nền) do người thiết kế chuyên ngành chuẩn bị kỹ thuật tính toán và xác định Cao độ này được xác định cho từng khu vực, trục đường phố chính hoặc cho toàn đô thị trong các đồ án quy hoạch chung xây dựng
Trang 21Hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật bao gồm hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp thoát nước, xử lý các chất thải, nghĩa địa, nghĩa trang; cây xanh công viên và các công trình khác Đây là những cơ sở vật chất, những công trình phục vụ cho cuộc sống hàng ngày của người dân, nó là những công trình mang tính dịch vụ công cộng
1.2.1.1 Hệ thống công trình giao thông
Các công trình giao thông chủ yếu gồm:
- Mạng lưới đường: đường bộ, đường thuỷ, đường sắt, đường hàng không
- Các công trình đầu mối kỹ thuật giao thông: cầu, hầm, quảng trường, bến bãi, cảng hàng không, nhà ga, bến xe, cảng thuỷ
1.2.1.2 Hệ thống thông tin liên lạc
Hệ thống thông tin liên lạc bao gồm: công trình đầu mối và mạng lưới phục vụ nhằm đáp ứng các yêu cầu giao tiếp qua nhiều phương tiện giữa các cá thể trong cộng đồng
Hệ thống thông tin liên lạc nhằm phục vụ các loại dịch vụ: Dịch vụ thư tín, bưu kiện, bưu điện chuyển phát; liên quan nhiều đến sự quản lý đó là: Điện thoại, điện tín hữu tuyến; điện thoại không dây; các dịch vụ internet…
Các công trình trong hệ thống thông tin liên lạc: Công trình đầu mối; cột và tháp truyền thu và phát sóng; thiết bị thu phát sóng, mạng lưới đường dây…
1.2.1.3 Hệ thống công trình cấp điện và chiếu sáng
Công trình cấp điện và chiếu sáng chủ yếu gồm:
Nhà máy phát điện: thuỷ điện, nhiệt điện, máy phát điện chạy dầu;
Trạm biến áp, tủ phân phối, tủ điều khiển;
Hệ thống đường dây, cáp dẫn điện;
Cột và đèn chiếu sáng
1.2.1.4 Hệ thống cấp nước
Trang 22Các công trình cung cấp nước mặt hoặc nước ngầm
Các công trình đầu mối: Trạm xử lý cấp nước, trạm bơm; công trình giếng khoa, đài nước
Hệ thống truyền tải và phân phối nước
1.2.1.5 Hệ thống thoát nước
Công trình thoát nước chủ yếu gồm:
Sông, ao, hồ điều hoà, đê đập;
Cống, rãnh, kênh, mương, máng thoát nước;
Trạm bơm cố định hoặc lưu động:
Công trình xử lý nước thải
1.2.1.6 Hệ thống thu gom và xử lý chất thải
Chất thải gồm: Chất thải rắn, chất thải lỏng, chất thải khí
Yêu cầu thu gom, vận chuyển, xử lý và quản lý:
Đối với chất thải lỏng được xem xét trong hệ thống thoát nước
Đối với chất thải khí được xem xét trong việc xử lý các nguồn làm gây ô nhiễm môi trường không khí
Đối với chất thải rắn được thu gom từ các ngôi nhà, các công trình, vận chuyển đến nơi tập kết và xử lý Mục đích của xử lý là nhằm không làm ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước và môi trường không khí
Công trình thu gom và xử lý chất thải rắn bao gồm: Nhà vệ sinh, trạm trung chuyển chất thải rắn
Các cơ sở xử lý chất thải rắn và công trình phụ trợ: Khu liên hợp xử lý chất thải rắn (CTR), bãi chôn lấp chất thải rắn; lò hoặc nhà máy thiêu đốt chất thải rắn; nhà máy xử
lý và chế biến phân vi sinh; bãi ủ rác các công trình tái sinh, tái chế chất thải rắn
Trang 231.2.1.7 Các hệ thống công trình hạ tầng khác
Hệ thống công trình ngầm
Hệ thống công trình ngầm đô thị rất phát triển nó được đánh giá là thành phần kỹ thuật quan trọng trong hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị
Hệ thống công trình ngầm đựơc phân thành:
Công trình công cộng ngầm và phần ngầm của các công trình xây dựng gồm các công trình như: hầm đỗ xe, tầng hầm của nhà cao tầng, bể chứa nước lớn bố trí ngầm, hầm phục vụ lưu trữ, phục vụ khi có chiến tranh
Công trình giao thông ngầm là công trình phục vụ giao thông được xây dựng dưới mặt đất: tàu điện ngầm, đường ngầm vượt qua các tuyến giao thông chính …
Công trình hạ tầng kỹ thuật ngầm bao gồm các công trình đường ống cấp nước, cấp năng lượng, thoát nước; công trình đường dây cấp điện, thông tin liên lạc; hào, tuynel
kỹ thuật và các công trình đầu mối hạ tầng kỹ thuật được xây dựng
ngầm
Cây xanh, mặt nước
Cây xanh, mặt nước là diện tích không thể thiếu, với mục đích nâng cao sinh hoạt văn hóa, đời sống tinh thần cho cộng đồng dân cư, mà còn là yếu tố kỹ thuật, yếu tố môi trường không thể thiếu được đối với các đô thị Việt Nam ở miền nhiệt đới Cây xanh, mặt nước là hạ tầng xã hội những lại chiếm vai trò quan trọng trong hệ thống hạ tầng
kỹ thuật
- Nghĩa trang
Nghĩa trang là nơi để an táng người chết tập trung theo các hình thức táng khác nhau, thuộc các đối tượng khác nhau như nghĩa trang nhân dân, nghĩa trang quân đội, nghĩa trang làng, nghĩa trang công giáo, các nghĩa trang nay được quản lý, xây dựng theo quy hoạch Xây dựng, quy hoạch xây dựng nghĩa trang là việc tổ chức không gian kiến trúc, phân khu chức năng và hệ thống hạ tầng kỹ thuật trong nghĩa trang nhằm khai
Trang 24thác sử dụng có hiệu quả về đất đai và đáp ứng yêu cầu về cảnh quan, bảo vệ môi trường, làm cơ sở pháp lý cho việc đầu tư xây dựng, cải tạo, sử dụng và quản lý nghĩa trang
- Hệ biển báo, tín hiệu
Hệ biển báo, tín hiệu là nơi truyền đạt các hiệu lệnh, là nơi cung cấp thông tin những điều cần phải làm, nên biết đối với những hoạt động Hệ thống biển báo có mối liên quan tới hầu hết các hệ thống hạ tầng kỹ thuật khác như: giao thông, năng lượng, cấp nước, thoát nước
Quy hoạch hạ tầng kỹ thuật là một nội dung trong đồ án quy hoạch điểm dân cư nông thôn;
Nội dung quy hoạch hạ tầng kỹ thuật
Quy hoạch hạ tầng kỹ thuật phải bảo đảm phù hợp với yêu cầu của từng loại quy hoạch và tính chất đặc thù của từng địa phương
Quy hoạch giao thông phải xác định quỹ đất dành cho xây dựng và phát triển giao thông; vị trí, quy mô các công trình đầu mối; tổ chức mạng luới giao thông đô thị (bao gồm trên mặt đất, dưới mặt đất và trên cao) Xác định phạm vi bảo vệ và hành lang an toàn giao thông;
Quy hoạch chuẩn bị kỹ thuật đất xây dựng phải xác định các khu vực thuận lợi xây dựng; khu vực cấm và hạn chế xây dựng; cao độ xây dựng; mạng lưới thoát nước mưa
và các công trình đầu mối;
Quy hoạch cấp nước phải xác định nhu cầu; lựa chọn nguồn; xác định vị trí, quy mô các công trình cấp nước (bao gồm mạng lưới tuyến truyền tải và phân phối, nhà máy, trạm làm sạch); phạm vi bảo vệ nguồn nước và hành lang bảo vệ các công trình cấp nước;
Quy hoạch thoát nước thải phải xác định tổng lượng nước thải; vị trí và quy mô các công trình thóat nước (bao gồm mạng lưới tuyến ống thoát, nhà máy, trạm xử lý nước thải); khoảng cách ly vệ sinh và hành lang bảo vệ các công trình thóat nước thải;
Trang 25Quy hoạch cấp năng lượng và chiếu sáng phải xác định nhu cầu sử dụng năng lượng, chiếu sáng; nguồn cung cấp; yêu cầu bố trí địa điểm, quy mô các công trình đầu mối; mạng lưới truyền tải, mạng lưới phân phối; hành lang an toàn và phạm vi bảo vệ các công trình;
Quy hoạch xử lý chất thải rắn phải xác định tổng lượng chất thải; vị trớ, quy mụ các điểm trung chuyển, các cơ sở xử lý chất thải rắn, các công trình phụ trợ, khoảng cách
ly vệ sinh của các cơ sở xử lý chất thải rắn;
Quy hoạch địa điểm nghĩa trang là một nội dung của đồ ỏn quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn; khi phờ duyệt quy hoạch này, cơ quan của thẩm quyền đồng thời phờ duyệt quy hoạch địa điểm nghĩa trang Quy hoạch nghĩa trang phải xác định nhu cầu an táng; vị trí, quy mô và ranh giới nghĩa trang; phân khu chức năng, bố trí các công trình hạ tầng kỹ thuật và khoảng cách ly vệ sinh của nghĩa trang;
Quy hoạch thông tin liên lạc phải xác định tuyến truyền dẫn thông tin, vị trí, quy mô trạm vệ tinh, tổng đài và các công trình phụ trợ kốm theo
Nội dung quy hoạch xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật được thể hiện:
Phân tích hiện trạng
Quy hoạch tổng mặt bằng sử dụng đất; bố trí các công trình hạ tầng kỹ thuật…
Dự kiến các hạng mục ưu tiên phát triển Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp xã Lập quy hoạch
Phối hợp với cơ quan tư vấn lấy ý kiến của các tổ chức, cá nhân trong khu vực lập quy hoạch;
Cung cấp tư liệu số liệu, bản đồ về hiện trạng và dự án liên quan
Lưu trữ hồ sơ nhiệm vụ và đồ án quy hoạch xây dựng;
Bổ sung góp ý hoàn chỉnh đánh giá hiện trạng
Góp ý các giải pháp quy hoạch, tổ chức không gian, tổ chức thực hiện hệ thống hạ
Trang 26Quản lý quy hoạch
Công bố, công khai các đồ án quy hoạch xây dựng trên địa bàn
Tham gia quản lý các mốc giới, chỉ giới xây dựng và trật tự xây dựng hệ thống HTKT trên địa bàn theo quy hoạch đã được duyệt;
Xử lý hoặc trình cấp có thẩm quyền xử lý các vi phạm pháp luật;
1.2.2 Công tác thiết kế quy hoạch khu công nghiệp
Nội dung quy hoạch Khu Công nghiệp bao gồm: quy hoạch phân khu và quy hoạch chi tiết Việc đầu tiên khi quy hoạch phân khu là phải lập ranh giới quy hoạch, phân tích đánh giá hiện trạng sử dụng đất, tìm hiểu các dữ liệu liên quan, xác định loại hình khu công nghiệp, rồi đưa ra các đề xuất cơ cấu tổ chức không gian chức năng TCVN4449-
1987 đã đưa ra quy mô dân số đô thị từ loại I đến loại V để làm căn cứ tính toán quy
mô đất KCN để lập ranh giới quy hoạch tùy loại đô thị phụ thuộc:
– Đối với đô thị loại lớn và rất lớn, đất đai công nghiệp lấy từ 15 đến 20m2/người; – Đối với đô thị loại trung bình từ 10 đến 15m2/người
– Đối với đô thị loại nhỏ từ 5 đến 10m2/người (Số lớn dùng cho đô thị có chức năng công nghiệp là chủ yếu, số nhỏ dùng cho đô thị có chức năng tổng hợp; các đô thị hành chính, đất đai công nghiệp lấy dưới 5m2/người)
QCXDVN 01:2008/BXD mục 2.7.1 đã có quy định bắt buộc về việc cách ly độc hại đối với khu dân dụng Thậm chí trong phụ lục 3 TCVN449-1987 còn quy định cụ thể khoảng cách ly vệ sinh của từng loại hình sản xuất gây ô nhiễm theo cấp độ từ I đến V (từ 50m đến 1000m) Đây là căn cứ chính xác để người thiết kế có thể tính toán và xác định đúng phạm vi, ranh giới nghiên cứu quy hoạch khu công nghiệp Đồng thời giúp cho các bước thu thập tài liệu và sắp xếp bố trí các khu vực chức năng sau này về khu đất được thuận lợi và phù hợp
Bước quy hoạch sử dụng đất tiếp theo sẽ trở nên bài toán khó có lời giải đúng nếu không có những định hướng cụ thể có tính định lượng Ngay trong QCXDVN 01-2008
đã chỉ ra tỉ lệ tối thiểu của các loại đất sử dụng trong khu công nghiệp như sau:
Trang 27Căn cứ vào số liệu trên, khi thiết kế thì có thể áp dụng (TCVN4449-1987 mục 3.12) hoàn toàn linh hoạt trong việc phân khu sử dụng đất tùy theo đặc thù khu công nghiệp
và loại hình công nghiệp Tuy nhiên vấn đề quy hoạch chia lô lúc này mới xác định được chính xác kích thước trong quy hoạch thông qua việc lựa chọn, tổ chức và sắp xếp các lô đất Người thiết kế cần áp dụng những tiêu chuẩn cần thiết để xác định được
lô đất cơ bản Một tiêu chuẩn cơ bản được áp dụng để tính toán là chỉ tiêu chiếm đất của một lao động theo từng ngành công nghiệp riêng biệt là:
Căn cứ vào tiêu chuẩn này cùng với số lao động dự kiến có thể xác định nhu cầu sử dụng đất của XNCN Từ đó đưa ra lô đất cơ bản, kích thước lô đất theo modun và tỷ lệ các loại lô đất phù hợp loại hình công nghiệp hoạt động trong khu công nghiệp Việc phân chia lô đất mô hình chung đã hình thành cơ bản mạng lưới giao thông của khu công nghiệp Giải pháp quy hoạch theo kiểu ô cờ hay kiểu linh hoạt sẽ được xem xét cân nhắc dựa trên đánh giá về đặc thù hình thái khu đất và đặc điểm của mạng lưới giao thông đó
Quy hoạch chi tiết các khu vực chức năng của khu công nghiệp cần lưu ý: Đối với khu đất xây dựng nhà máy và kho tàng: Căn cứ đầu tiên để tiến hành bước này
là quy định tối đa về mật độ xây dựng thuần (Netto) và mật độ xây dựng gộp (Brutto)của đất xây dựng các nhà máy và kho tàng (QCXDVN 01:2008/BXD) Mật độ xây dựng thuần (net-to) tối đa đối với đất xây dựng nhà máy, kho tàng; Mật độ xây dựng gộp (brut-to) tối đa trong toàn khu công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp là 50% Ngoài ra QCXDVN 01:2008/BXD mục 2.8.8 còn quy định về tỷ lệ đất trồng cây xanh trong mỗi nhà máy trong khu công nghiệp phải chiếm tối thiểu 20% Cùng với các quy định về chỉ giới xây dựng, khoảng xây lùi được quy định trong quy chế kiểm soát phát triển từng khu để đưa ra giới hạn bố trí các công trình
Đối với khu vực trung tâm quản lý và điều hành khu công nghiệp: Tập trung chủ yếu các văn phòng làm việc và các công trình dịch vụ công cộng nên chịu chi phối bởi các tiêu chuẩn thiết kế như TCXDVN 276:2003, TCVN 4319:2012, TCVN 3905:1984 với mật độ xây dựng không nên vượt quá 35%
Trang 28Đối với khu vực các công trình cung cấp và đảm bảo kỹ thuật: Các quy định bắt buộc trong Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị QCVN 07:2010/BXD của Bộ Xây dựng ban hành kèm theo thông tư số 02/TT-BXD ngày 05/02/2010 và bộ TCVN4449-1987 là tài liệu cần thiết làm cơ sở thiết kế các công trình cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải, chất thải rắn, cấp điện và thông tin liên lạc trong khu công nghiệp Đặc biệt lưu ý khi thiết kế khu vực xử lý nước thải theo 2 cấp độ: tại nguồn thải của nhà máy và tại khu xử lý chung của KCN, phù hợp với tiêu chuẩn Giá trị giới hạn về nồng độ chất ô nhiễm trong nguồn nước -TCVN 5945-1995 Đối với khu vực đất giao thông: TCVN4449-1987 đã đưa ra những tiêu chuẩn cơ bản cho việc thiết kế giao thông trong khu công nghiệp Ví dụ như xác định loại đường giao thông trong khu công nghiệp thuộc cấp đường nội bộ với tốc độ tính toán là 60km/h, chiều rộng tính toán 3,75m/làn xe, số làn xe 2 chiều tối thiểu là 2 + 1 làn xe
dự phòng, độ dốc lớn nhất 6%, bán kính cong nhỏ nhất là 125m, chiều rộng vỉa hè tối thiểu 1,5 – 3m, diện tích tối thiểu chỗ đỗ xe ô tô con 25m2, xe máy 3m2, xe đạp 0,9m2
Khi thiết kế giao thông, cần lưu ý tuân thủ Quy định phòng cháy – chữa cháy theo QCXDVN 01:2008/BXD mục 2.7.4 là: “đối với công trình Công nghiệp phải bố trí đường cho xe chữa cháy chạy bên ngoài dọc theo một phía nhà khi chiều rộng nhà nhỏ hơn 18m và chạy dọc theo 2 phía nhà khi nhà rộng từ 18m trở lên”
Từ đó có thể chia đường giao thông khu công nghiệp làm 3 loại: Đường chính KCN ít nhất 4 làn xe, rộng tối thiểu 15m, tốc độ 60km/h; Đường nhánh KCN ít nhất 2 làn xe, rộng tối thiểu 7,5m, tốc độ 40km/h; Đường nội bộ trong từng lô đất theo thiết kế hoàn thiện lô đất; Đường sắt nếu có tùy theo theo kích thước khổ đường sắt 1m hay 1,435m,
sẽ áp dụng theo quy chuẩn đường sắt QCVN 08:2015/BGTVT của Bộ GTVT ban hành kèm theo thông tư số 12/2015/TT-BGTVT ngày 20/4/2015 để thiết kế
Đối với khu vực đất cây xanh cảnh quan
Thiết kế cảnh quan cây xanh & mặt nước trong khu công nghiệp là một nội dung quan trọng trong thiết kế Quy hoạch KCN QCXDVN 01:2008/BXD đã nhấn mạnh yêu cầu
Trang 29phải: ”Bố trí các công trình phù hợp với điều kiện địa hình, địa chất, cảnh quan, hài hoà với các quần thể kiến trúc khác trong đô thị”
Nhóm cây xanh công cộng dạng công viên, vườn hoa, mặt nước được thiết kế theo tiêu chuẩn nhóm cây xanh phạm vi hẹp (TCVN4449-1987) với diện tích tối thiểu vườn dạo 0,5ha, công viên 3ha
Nhóm cây xanh dọc tuyến đường chủ yếu tạo bóng mát, ngăn bụi và tiếng ồn thì căn
cứ theo chiều rộng vỉa hè, dải phân cách để xác định chiều rộng tán cây và khoảng cách tối thiểu với các công trình (theoTCVN4449-1987)
Nhóm cây xanh cách ly QCXDVN 01:2008/BXD quy định “Trong dải cách ly vệ sinh, tối thiểu 50% diện tích đất phải được trồng cây xanh và không quá 40% diện tích đất có thể được sử dụng để bố trí bãi đỗ xe, trạm bơm, trạm xử lý nước thải, trạm trung chuyển chất thải rắn” Nhưng trên thực tế dải cây xanh cách ly này nên có độ dày tối thiểu là 20m và mật độ xây dựng công trình không quá 5% mới phù hợp
Một số KCN vừa và nhỏ sau khi đã phát triển mạnh cần thu hút đầu tư lớn đều có thể xin phép nâng cấp lên thành KCN tập trung và điều chỉnh quy hoạch thích hợp (điển hình như việc chuyển đổi khu công nghiệp vừa và nhỏ Nhân Hòa – Phương Liễu thành khu công nghiệp An Việt – Quế Võ 6, tỉnh Bắc Ninh)…Vừa qua đã có lúc nhiều KCN tập trung trong một thời gian dài không lấp đầy được các lô đất dành cho các xí nghiệp công nghiệp (XNCN) Nguyên nhân là khi thiết kế quy hoạch đã đưa ra các lô đất cơ bản phù hợp với các tiêu chí của dự án được lập nhưng khi đi vào hoạt động diện tích
lô đất lại quá lớn so với khả năng hạn chế về vốn cũng như nhu cầu diện tích nhà xưởng cần thiết của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở địa phương Việc điều chỉnh lại quy hoạch bằng cách chia nhỏ các lô đất một cách hợp lý và có quy chế quản lý thích hợp theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể vào thuê đất vào hoạt động là giải pháp khắc phục tình trạng thừa đất thiếu người thuê nêu trên
Một thực tế khác là hiện nay các dự án KCN ở Việt Nam chỉ chủ yếu tập trung vào các ngành sản xuất gia công, lắp ráp, chế biến đơn giản, cần nhiều nhân công nhưng hàm lượng công nghệ chưa cao, thậm chí một số dự án đầu tư nước ngoài (FDI) còn đưa
Trang 30vào nước ta những dây chuyền công nghệ đã lạc hậu Điều đó làm cho các thiết kế quy hoạch các KCN nói chung vẫn theo những giải pháp truyền thống mà trên thế giới đã
áp dụng từ 30 năm về trước (các thế hệ cũ của Business Park) Vì vậy đang cần một sự bứt phá về Khoa học công nghệ trong các ngành sản xuất công nghiệp để có thể theo kịp các mô hình KCN tiên tiến trên thế giới Bên cạnh đó, những yêu cầu khắt khe của các tiêu chuẩn về môi trường đòi hỏi các khu xử lý chất thải tập trung của KCN luôn được chú trọng từ khâu thiết kế Nhưng lỗ hổng ô nhiễm lại xuất hiện từ việc xử lý chất thải tại nguồn ở các XNCN Tại đây đã có nhiều doanh nghiệp mặc dù có thiết kế nhưng không đầu tư khu xử lý chất thải và cố ý bỏ qua các bước xử lý mà thải trực tiếp
ra ngoài Điều này đã làm cho quy trình các bước xử lý chất thải ở nhiều KCN không thể thực hiện được Các khu xử lý chất thải chung KCN hoặc quá tải hoặc bị vô hiệu hóa Đây chính là sự lỏng lẻo trong việc ban hành quy chế quản lý và giám sát thực hiện nên cần có sự vào cuộc quyết liệt từ phía các cấp, ban, ngành liên quan
Để hoàn chỉnh một thiết kế quy hoạch khu công nghiệp cần phải phối hợp nhiều thiết
kế thành phần Điều quan trọng là phải vận dụng linh hoạt các nguyên lý thiết kế cơ bản với thực tế khách quan hiện trường Trong quá trình này những Quy chuẩn định hướng đã, sẽ và luôn đồng hành với người tư vấn thiết kế giúp cho việc lựa chọn áp dụng các Tiêu chuẩn phù hợp
1.2.3 Công tác thiết kế quy hoạch khu sản xuất Nông nghiệp và PTNT
Trong những năm gần đây, phát triển nông nghiệp, nông thôn luôn giành được sự quan tâm to lớn của Đảng và Nhà nước, nhiều chủ trương chính sách đã được ban hành và
tổ chức thực hiện hiệu quả và đạt được nhiều thành tự đáng kể:
Tại khu vực đồng bằng sản xuất nông nghiệp đã chuyển mạnh sang cơ cấu sản xuất hiệu quả hơn và đạt tốc độ tăng trưởng khá cao; an ninh lương thực được bảo đảm Tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, phát triển ngành nghề tăng tạo điều kiện tăng thu nhập, xãa đói, giảm nghèo, tạo việc làm cho nông dân Sản xuất tiểu thủ công nghiệp phát triển khá mạnh, số hộ chuyển sang công nghiệp, dịch vụ tăng
Thiết kế quy hoạch khu sản xuất Nông nghiệp và PTNT là bố trí, sắp xếp các khu chức năng, sản xuất, dịch vụ; hạ tầng kinh tế- xã hội- môi trường trên địa bàn, theo tiêu
Trang 31chuẩn nông thôn mới, gắn với đặc thù, tiềm năng, lợi thế của từng địa phương; được mọi người dân của xã trong mỗi làng, mỗi gia đình ý thức đầy đủ, sâu sắc và quyết tâm thực hiện
Đến trước khi Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa X ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5-8-2008 “Về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, còng là sau 22 năm đổi mới, nông nghiệp, nông thôn nước ta đã có những thay đổi lớn lao, đời sống nông dân đã được cải thiện vượt bậc Tuy nhiên, so với các nước phát triển trong khu vực, đối chiếu với mục tiêu công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước thì nông nghiệp, nông thôn nước ta vẫn còn hết sức lạc hậu và có rất nhiều yếu kém Chúng ta đều dễ dàng nhận thấy: Nông thôn phát triển thiếu quy hoạch và cơ bản vẫn là tự phát; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tuy có những biến đổi tích cực về điện, đường, trường, trạm song vẫn lạc hậu; mức sống vật chất, văn hoá, y tế, giáo dục của cư dân nông thôn được cải thiện một bước nhưng còn ở mức thấp và đặc biệt ngày càng doãng cách
xa so với đô thị; cảnh quan, sinh thái nông thôn truyền thống với cây đa, bến nước, sân đình, không khí trong lành đã bị biến dạng ngày càng xấu, mức độ ô nhiễm ngày càng nhanh và nghiêm trọng; chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở (xã, thôn, bản, ấp…), nhất là năng lực quản lý điều hành của cán bộ rất yếu kém Những hạn chế đó đang cản trở con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nói riêng, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung
Nghị quyết 26/TQ-TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã đề ra chủ trương Xây dựng nông thôn mới vừa phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân nói chung, phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của cư dân sống ở nông thôn nói riêng, đồng thời nhằm khắc phục những mặt yếu kém trên
Nghị quyết đã xác định rõ mục tiêu: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng
Trang 322020: 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới (theo 19 tiêu chí được Thủ tướng Chính phủ
cụ thể hóa tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày16/4/2009) trên tổng số 9.121 xã hiện nay; 100% số xã có quy hoạch nông thôn mới được duyệt; 100% cán bộ cơ sở được đào tạo, tập huấn về kiến thức xây dựng nông thôn mới; thu nhập bình quân của cư dân nông thôn bằng 2,5 lần so với hiện nay; tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 3%
Thiết kế quy hoạch khu sản xuất Nông nghiệp và PTNT trong thời gian qua còn đã đối mặt với những khó khăn, vướng mắc, trước hết đó là tiến độ Hiện nay có 52% xã xong quy hoạch chi tiết” nhưng tới nay chưa thực hiện được với nhiều lý do: một là, một số tiêu chuẩn ngành chưa phù hợp hoặc chưa có hướng dẫn Việc làm thí điểm đang được tiến hành, nhưng việc tổ chức rút kinh nghiệm rút ra những nhận thức, bài học đối với công tác quy hoạch rất chậm (đến 28-10-2011, Thông tư liên tịch về quy hoạch thay thế các hướng dẫn riêng của 3 bộ: Xây dựng, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường mới được ban hành) Hai là, đội ngũ cán bộ làm công tác tư vấn xây dựng nông thôn mới còn rất thiếu Trình độ cán bộ xã còn hạn chế, nhất là trình độ quy hoạch (vốn họ chưa được đào tạo một cách bài bản về công tác này), chưa có kinh nghiệm trong việc xây dựng quy hoạch nông thôn Do vậy, họ chưa thể đáp ứng được những đòi hỏi hết sức khoa học của công tác lập quy hoạch nông thôn mới Sự tham gia của người dân và ban quản lý cấp xã chưa được huy động cao nhất, thậm chí người dân chưa được vào cuộc với nhiều lý do Do vậy, chất lượng quy hoạch nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu và chậm so với tiến độ Ba là, định mức
cụ thể cho công tác quy hoạch chậm được các cơ quan chức năng ban hành, kinh phí thực hiện công tác quy hoạch còn thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn theo vùng, nhất là đối với các vùng miền núi, Tây nguyên và Tây Nam Bộ do địa bàn rộng Trong chỉ đạo thực hiện quy hoạch nông thôn mới, hầu hết các địa phương đều chia đều, bình quân kinh phí thực hiện nên còng làm ảnh hưởng đến chất lượng của công tác quy hoạch
Thiết kế quy hoạch khu sản xuất Nông nghiệp và PTNT trước hết phải bắt đầu từ công tác quy hoạch và đòi hỏi nó có chất lượng và kiểm soát việc thực hiện, điều chỉnh quy hoạch cho ngày một hợp lý hơn Đó là tiền đề cho cả chương trình dài hơi sau này
Trang 33Thiết kế quy hoạch khu sản xuất Nông nghiệp và PTNT nhất thiết phải được tính đến một cách tổng thể từ trên xuống, để quy hoạch của mỗi làng xã phải nằm trong chỉnh thể toàn quốc, khu vực, địa phương trong mối liên hệ với kinh tế, xã hội, môi trường, sinh thái, khí hậu, thổ nhưỡng, quốc phòng từ cấu trúc kiến trúc, cấu trúc dân cư, cấu trúc hạ tầng kinh tế - kỹ thuật, hạ tầng xã hội
Thiết kế quy hoạch khu sản xuất Nông nghiệp và PTNT phải vừa đa dạng, vừa với tầm nhìn xa, bền vững trong xu thế phát triển chung của đất nước, của nhân loại và thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của cộng đồng cư dân nông thôn trong thời đại hội nhập quốc tế
Công tác quy hoạch phải được tính toán một cách khoa học, căn cơ, nhất thiết không được ồ ạt, rập khuôn, máy móc theo mô hình đô thị Trên cơ sở xây dựng quy hoạch thí điểm đối với từng loại hình nông thôn ở từng khu vực, từng vùng miền mà rút kinh nghiệm để điều chỉnh cho ngày một hợp lý hơn rồi mới nhân rộng
Công tác quy hoạch trước hết là sự nỗ lực tổ chức của các cấp chính quyền, của các chuyên gia có chuyên môn cao, nhưng nhất thiết phải được tiến hành dân chủ để phát huy vai trò của người dân Công tác quy hoạch có ảnh hưởng rất lớn tới dân sinh nên người dân phải được biết, nắm chắc, hiểu rõ thông tin về quy hoạch Họ phải là người tham gia xây dựng, phản biện thì quy hoạch mới thỏa mãn nhu cầu của chính họ Người dân tham gia, cụ thể hóa ý tưởng và hướng phát triển nông thôn theo quy hoạch
mà ở đó có đầu tư công của nhà nước, có điều kiện để dân làm, dân canh tác, dân sản xuất, dân trồng trọt, dân sinh sống, dân hưởng lợi thì quy hoạch đó mới khả thi
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn vùng đồng bằng được tăng cường, điện, đường, trường, trạm… nhất là thủy lợi, giao thông đã được đầu tư xây dựng tại nhiều nơi, góp phần thúc đẩy sản xuất, từng bước thay đổi bộ mặt nông thôn: tỷ lệ phần trăm
xã có trường học được kiên cố hóa, đạt chuẩn quốc gia về y tế, cư dân nông thôn có nước sinh hoạt vệ sinh, có điện thoại cố định đã tăng lên rất nhiều so với thời gian trước
Tại nông thôn vùng đồng bằng – vựa lúa của cả nước trong phát triển kinh tế sản xuất
Trang 34kinh tế trong khu vực nông thôn trong những năm gần đây vẫn còn chậm Trình độ sản xuất còn ở mức sản xuất nhỏ là chủ yếu Chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông thôn còn chậm Các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn đổi mới chậm, chưa đủ sức yểm trợ, thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa Kinh tế hộ phổ biến quy mô nhỏ , kinh tế trang trại chỉ chiếm tỷ lệ thấp Kinh tế tập thể phát triển chậm, hợp tác xã hoặc tổ hợp tác nhưng họat động còn hình thức hiệu quả chưa cao Tổng mức đầu tư vào khu vực nông nghiệp còn thấp;
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn còn yếu kém, lạc hậu và không đồng bộ Kết cấu hạ tầng chưa đảm bảo yêu cầu phát triển kinh tế theo hướng phát triển thương mại dịch vụ và công nghiệp hóa khu vực nông thôn; Cơ cấu hạ tầng liên kết vùng nỗi kết giữa các khu vực còn yếu kém, sự đấu nối, phối hợp trong kết cấu hạ tầng kinh tế -
xã hội của các điểm dân cư mới chỉ đáp ứng nhu cầu trước mắt và nhanh chóng bị lạc hậu trong quá trình phát triển Thủy lợi chưa đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất nông nghiệp
và dân sinh; Tỷ lệ kênh mương do xã quản lý được kiên cố hóa còn thấp Giao thông chất lượng thấp, không có quy chuẩn, chủ yếu phục vụ dân sinh, nhiều vùng giao thông chưa phục vụ tốt sản xuất, lưu thông hàng hóa Hệ thống lưới điện hạ thế ở tình trạng chắp vá, chất lượng thấp; quản lý lưới điện ở nông thôn còn yếu, tổn hao điện năng cao Hệ thống các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở ở nông thôn có tỷ
lệ đạt chuẩn về cơ sở vật chất thấp một số xã chưa có nhà trẻ, mẫu giáo Hầu hết các thôn không có khu thể thao theo quy định; mức đạt chuẩn của nhà văn hóa và khu thể thao xã thấp; Tỷ lệ chợ nông thôn đạt chuẩn thấp; Số xã có điểm bưu điện văn hóa theo tiêu chuẩn, số thôn có điểm truy cập Internet còn ít; Hầu hết nhà ở nông thôn được xây không có quy hoạch, quy chuẩn, số nhà xây tạm bỡ vẫn còn nhiều
Đời sống cư dân nông thôn tuy được cải thiện nhưng còn ở mức thấp, chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng ngày càng cao Tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn chiếm 16,2% Hệ thống an sinh xã hội ở các vùng nông thôn chưa thống nhất và thông suốt; dân cư nông thôn ít tham gia các hình thức bảo hiểm y tế
Hệ thống bảo hiểm sản xuất nông nghiệp chưa được hình thành Mức hưởng thụ về văn hóa của người dân thấp Những vấn đề xã hội ở nông thôn vẫn phát sinh nhiều vấn
Trang 35đề bức xúc; bản sắc văn hóa dân tộc ngày bị mai một; tệ nạn xã hội có xu hướng gia tăng; tỷ lệ lao động nông thôn đã qua đào tạo rất thấp
Môi trường nông thôn ngày càng bị ô nhiễm, đặc biệt là các vùng ven đô thị, khu công nghiệp, làng nghề ô nhiễm nghiêm trọng do chất thải sản xuất và sinh hoạt
Việc quy hoạch xây dựng nông thôn vùng đồng bằng hiện nay có sự phân bố dân cư manh mún, mật độ dân cư cao, phân bố trong sản xuất còn lẻ tẻ không thuận lợi cho canh tác theo kiểu cơ giới hoá và đầu tư kết cấu hạ tầng nông thôn Nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, tự phát, trên địa bàn cả nước có khoảng 23,8 % xã có quy hoạch được lập, phê duyệt, nhưng chất lượng chưa cao đa phần quy hoạch được lập là quy hoạch chi tiết trung tâm xã hay điểm dân cư nông thôn, khu tái địnhcư Việc xây dựng điểm dân cư còn tuỳ tiện, mang nặng tính tự phát, kiến trúc thiếu trật tự, rập khuôn đã gây không ít khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội Khu vực nông thôn chưa hình thành bản sắc phù hợp với đặc thù vùng, miền, truyền thống dân tộc Văn hoá truyền thống nông thôn chưa được bảo tồn, bị xuống cấp, xâm hại bởi xu thế đô thị hoá Công tác quy hoạch xây dựng nông thôn còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập; Hệ thống các văn bản về quy hoạch xây dựng nông thôn chưa đồng bộ; sự chồng chéo, xung đột nội dung, phương pháp giữa các qui hoạch trên địa bàn nông thôn: giữa qui hoạch sử dụng đất với qui hoạch xây dựng, quy hoạch ngành, quy hoạch đô thị chưa được giải quyết; Lực lượng làm công tác lập quy hoạch trong cả nước rất thiếu so với nhu cầu chất lượng chưa cao, chưa đáp ưng yêu cầu quy hoạch phát triển nông thôn theo tiêu chí mới Kinh phí đầu tư cho công tác quy hoạch xây dựng nông thôn hạn chế
Môi trường nông thôn vùng đồng bằng đang là vấn đề đáng lo ngại bởi nhiều lý do trong đó việc công nghiệp nông thôn, làng nghề mới phát triển thiếu khả năng cạnh tranh; điểm dân cư với sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp quá tải về điều kiện
hạ tầng và xuống cấp về môi trường, các làng nghề truyền thống bị ô nhiễm; mật độ dân cư đông; nhiều vùng dân cư bị ảnh hưởng nặng nề của thiên tai không đảm bảo an toàn cho cuộc sống người dân dẫn đến quá trình phát triển điểm dân cư thiếu tính bền vững
Trang 361.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác thiết kế quy hoạch xây dựng ở Việt Nam
1.3.1 Điều kiện thời tiết, khí hậu
Đặc điểm nền đất, cây cối, địa hình địa phương mức độ chia cắt vùng đất, độ dốc, đất trượt, hiện tượng Karsto; điều kiện nước mặt và nước ngầm; điều kiện địa chất công trình, trong đó có hiện tượng động đất
Giải pháp quy hoạch kiến trúc đô thị nào phản ảnh được việc khai thác tốt điều kiện tự nhiên thuận lợi, khắc phục các bất lợi do tự nhiên địa phương tác động sẽ tạo điều kiện
đô thị có môi trường sống, làm việc, nghỉ ngơi của dân cư tốt, đô thị sẽ phát triển bền vững, có bản sắc Riêng, giải pháp quy hoạch kiến trúc đô thị phù hợp và cải thiện được điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm sẽ góp phần nâng cao hiệu quả về sử dụng, kinh tế xã hội, tăng tuổi thọ và chất lượng thẩm mỹ công trình
Đặc điểm nổi trội của khí hậu nhiệt đới ẩm là mùa hè nhiều mưa, mùa đông lạnh và khô hơn Những vùng gần biển đông có hiện tượng giảm nóng mùa hè, giảm lạnh mùa đông, tạo ra dạng thời tiết khí hậu đặc sắc như sương mù, thời tiết ẩm ướt và ấm trong mùa đông lạnh khô, tạo ra một chế độ mưa phong phú quanh năm
Cường độ trục xạ trung bình năm lúc 12h30 là 0,31 calo/cm2 bằng 17% hằng số mặt trời - 1,98 calo/cm2 phút, vào lúc 3 giờ trước và sau đó giá trị yếu tố này lần lượt là 0,2 và 0,19 calo/cm2
Tốc độ gió trung bình tương đối đồng đều giữa các tháng trong năm và giữa các địa phương trong vùng Bắc Bộ, có giá trị từ 2,0 - 3,6 m/s
Mưa - vùng có nhiều mưa; mưa tập trung chủ yếu trong 5 tháng mùa hè; lượng mưa mùa hè chiếm khoảng 75 đến 80% tổng lượng mưa cả năm Tháng 8 là tháng mưa nhiều nhất
Nhiệt độ không khí trung bình tháng thấp nhất 15-16oC tháng 12 đến tháng 3, trung bình tháng cao nhất 30-33oC tháng 5 đến tháng 9
Độ ẩm không khí trung bình tháng 60-65%, cao nhất 90-95%, có khi tới 100% Các giải pháp quy hoạch kiến trúc đô thị trong điều kiện nhiệt đới ẩm phải được xem xét và
Trang 37đề cập suốt toàn bộ tiến trình thiết kế xây dựng đô thị: từ quy hoạch vùng, quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết, thiết kế xây dựng từng khu dự án Mục tiêu của giải pháp quy hoạch là tạo điều kiện giảm nhiệt độ không khí trong đô thị vào mùa hè, chống gió lạnh mùa đông; tạo điều kiện thông thoáng trong môi trường thành phố; tránh tích tụ khói bụi, khí độc, sương mù trong đô thị, tạo điều kiện cho bầu trời đô thị luôn trong lành
Bình thường, nhiệt độ không khí ở giữa khu xây dựng thành phố lớn cao hơn nhiệt độ không khí khu ngoại thành 2-3oC Chính vì vậy không nên xây dựng đô thị quá đông đặc trên một vùng lãnh thổ rộng lớn, mà nên có cơ cấu quy hoạch khu dân dụng phân tán hơn Một đô thị cực lớn có thể phân chia thành nhiều đô thị trung bình, chúng liên kết nhau bằng những khoảng cây xanh hoặc không gian trống Vấn đề này cần được đề cập ở giai đoạn quy hoạch vùng Khí hậu ẩm làm cho khói bụi bẩn khó khuếch tán, mà chúng tích tụ ở tầng thấp, tác động xấu đến sức khỏe con người Để hạn chế tác hại này, ngay giai đoạn quy hoạch vùng nên hạn chế chọn đất phát triển công nghiệp và khu dân cư ở các nơi có điều kiện thông thoáng không khí kém Đặc biệt không nên bố trí công nghiệp thải nhiều khói bụi, hóa chất độc ở các thung lũng kín và hẹp
Ở giai đoạn quy hoạch chung, trong phân khu chức năng không nên bố trí các khu công nghiệp có thải bụi, khói, hóa chất độc hại ở đầu hướng gió mát mùa hè và hướng gió lạnh đông bắc mùa đông Rất đáng tiếc, ở nhiều đồ án quy hoạch của các đô thị đã không lưu ý thích đáng vấn đề này Ví dụ như quy hoạch chung của thành phố Hạ Long đã tập trung bố trí một số nhà máy sản xuất xi măng ở Hoành Bồ - Cửa Lục Khói bụi các nhà máy xi măng này sẽ gây hại cho khu du lịch Bãi Cháy - Tuần Châu Điển hình cơ cấu quy hoạch chung đô thị không tốt là đồ án quy hoạch chung đô thị mới Hòa Lạc Toàn bộ khu công nghiệp Phú Cát và Khu công nghệ cao được bố trí trên khu đất tốt nhất ở đầu hướng gió thịnh hành cả mùa đông và mùa hè so với khu dân dụng, khu trung tâm đô thị
Mạng lưới đường phố chủ yếu theo hướng luồng dân cư đi làm việc, đến các trung tâm dịch vụ công cộng và ra ngoại thành, đến các trung tâm dịch vụ công cộng và ra ngoại thành, đến các trục giao thông đối ngoại Để tránh mặt đường bị mặt trời "đốt nóng"
Trang 38tránh các trục đường có hướng Đông - Tây; nên quy hoạch theo hướng Đông Nam - Tây Bắc và Đông Bắc - Tây Nam Trên đường có cây xanh che nắng
Hệ thống cây xanh tập trung nên phân bố hài hòa trên lãnh thổ thành phố, điển hình của hệ thống cây xanh hợp lý cho thành phố nóng ẩm như sơ đồ thí điểm thành phố tuyến do Hilberseimer và Coropiusv đề xuất
Các trung tâm công cộng, nơi tập trung đông người dân thành phố nên được bố trí cạnh những nơi có mặt nước thoáng, các mảng cây xanh lớn Trong khu dân dụng nên tạo các quảng trường xanh thảm cỏ ở các trung tâm công cộng của khu vực quận, phường Trong khu xây dựng nhà ở, cây xanh chủ yếu trong theo vỉa hè các đường phố, giữa các đơn vị ở nên tạo các không gian trống, chủ yếu thảm cỏ và cây xanh nhỏ, tránh tích tụ không khí ẩm
Hình thái bố trí và công trình công cộng trong khu ở hết sức lưu ý đến vấn đề thông thoáng khu đất ở, hướng nhà thích hợp tránh bị đốt nóng suốt ngày ảnh hưởng đến khí hậu trong căn hộ ở Đối với các công trình nhà trẻ, trường học việc tạo không gian chung quanh nhà là hết sức quan trọng
Giải pháp quy hoạch chi tiết xây dựng các khu ở, khu công cộng mới cần lưu ý đảm bảo mật độ xây dựng hợp lý, phù hợp với quy chuẩn xây dựng để tạo điều kiện thông thoáng môi trường bên ngoài, cố gắng "chọc thủng", tạo thêm nhiều không gian trống trong khu đô thị cũ, hết sức hạn chế việc xây dựng các tường rào kín quanh các nhà Nhà, vườn, không gian chung của cả thành phố phải thành một thể thống nhất
Quy hoạch không gian kiến trúc đô thị là một lĩnh vực sáng tạo Quy hoạch xây dựng
đô thị mà khai thác tốt điều kiện thuận lợi của thiên nhiên, thời tiết khí hậu, khắc phục các bất lợi của khí hậu nhiệt đới ẩm sẽ tạo điều kiện thuận lợi để sáng tạo kiến trúc từng công trình cụ thể tiếp theo
Vấn đề quy hoạch và thiết kế xây dựng đô thị ở vùng nhiệt đới ẩm vừa là công tác sáng tạo, vừa là công việc có tính khoa học sâu sắc, cần có đề tài khoa học nghiên cứu vấn đề này để có thể nêu được các tiêu chí định lượng làm cơ sở cho công tác thiết kế, sáng tạo cũng như cho các tổ chức quản lý phát triển xây dựng đô thị
Trang 391.3.2 Điều kiện địa hình, địa chất
Cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội, tốc độ đô thị hóa cũng ngày một gia tăng và đã
có những tác động tiêu cực đến điều kiện tự nhiên của mỗi vùng lãnh thổ Trong khi
đó, các biện pháp khắc phục lại kém hiệu quả đã dẫn đến những nguy cơ đe dọa sự phát triển bền vững của mỗi đô thị Hệ thống đô thị Việt Nam phân bố trên khắp các vùng miền có địa hình đa dạng và thuộc các vùng địa lý khác nhau, nên việc lựa chọn hướng mở rộng đô thị thường gặp nhiều khó khăn Trước nhu cầu phát triển đô thị hiện nay, quỹ đất xây dựng được triệt để khai thác kể cả những khu vực có điều kiện
tự nhiên không thuận lợi và những vùng cảnh quan thiên nhiên
Để giảm bớt những yếu tố không có lợi của điều kiện tự nhiên nói chung và của địa hình nói riêng, các biện pháp thay đổi địa hình được sử dụng khá phổ biến Các biện pháp này đã mang lại hiệu quả cao trong việc làm tăng quỹ đất xây dựng nhưng cũng
để lại không ít những tác động xấu đến môi trường sinh thái, làm mất đi tính đặc trưng của các vùng miền khác nhau và thậm chí còn làm tổn hại đến kiến trúc cảnh quan đô thị
Cảnh quan đô thị là hình thức thị giác của loại hình thái vật chất do môi trường đô thị
và sinh hoạt đô thị cùng góp phần hình thành Cảnh quan đô thị được cấu thành bởi cảnh quan tự nhiên, cảnh quan nhân tạo và cảnh quan hoạt động Việc tổ chức tổng hợp và vận dụng một cách hợp lí ba loại cảnh quan nói trên trong thiết kế đô thị có tác dụng rất lớn đối với việc nâng cao hình ảnh đô thị và chất lượng môi trường đô thị Cảnh quan tự nhiên là trạng trái điều kiện tự nhiên sẵn có của đô thị, đó là núi sông, mặt nước, địa hình, địa mạo, điều kiện khí hậu và những đặc trưng về diện mạo chịu ảnh hưởng của những yếu tố tự nhiên
Bất cứ một đô thị nào cũng đều là sản phẩm của các điều kiện tự nhiên nhất định, đó cũng là căn cứ và cơ sở để bố cục và phát triển đô thị Các đặc trưng của địa hình như đỉnh núi có thể tạo nên tiêu điểm thị giác cấu thành cảnh quan đô thị, bờ sông rộng rãi
có thể tạo nên những hình ảnh đẹp, thơ mộng cho cảnh quan đô thị Cảnh quan tự nhiên mang lại cho hình ảnh đô thị những điều kiện thiên phú độc đáo và tạo cơ sở cho công tác quy hoạch, thiết kế đô thị Trong quy hoạch và thiết kế đô thị nếu biết bảo tồn
Trang 40và lợi dụng các điều kiện tự nhiên chắc chắn sẽ tạo ra bộ mặt cảnh quan kiến trúc đẹp, hài hòa và làm tăng thêm sức sống cho thành phố tương lai
Địa hình là yếu tố xác định trạng thái bề mặt của một khu vực đất đai nào đó, được đặc trưng bởi các thông số: hướng dốc, độ dốc, cao độ và hình dáng Sự đa dạng của địa hình sẽ tạo cho mỗi đô thị có nét độc đáo riêng với cảnh quan thiên nhiên và nhân tạo phong phú
Cảnh quan hiện có của một khu đất là một trong số các đặc điểm của điều kiện tự nhiên mà trong đó đặc điểm địa hình giữ một vai trò quan trọng Việc tạo lập hình ảnh cho mỗi đô thị có ảnh hưởng rõ nét của địa hình, nó ảnh hưởng trực tiếp đến giải pháp quy hoạch xây dựng nói chung và thiết kế đô thị nói riêng
Chính vì vậy, trong quy hoạch và thiết kế đô thị, yếu tố địa hình cần phải được quan tâm xem xét một cách toàn diện và đúng mức từ bước phân tích, đánh giá đến khai thác, sử dụng và cải tạo, hoàn thiện
1.3.2.1 Phân tích đánh giá địa hình tự nhiên
Phân tích và đánh giá các điều kiện tự nhiên trong quy hoạch xây dựng và thiết kế đô thị là một trong những cơ sở giúp các nhà thiết kế lựa chọn đất xây dựng và tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan đô thị Trong đó việc phân tích đánh giá yếu tố địa hình tự nhiên là một nhiệm vụ quan trọng và cần được xem xét ở cả hai khía cạnh là
kỹ thuật xây dựng và cảnh quan
- Về kỹ thuật, cần đánh giá mức độ thuận lợi của điều kiện địa hình tự nhiên (chủ yếu
là độ dốc) đối với công tác xây dựng đô thị và phân loại rõ:
Đất thuận lợi cho xây dựng có điều kiện thoả mãn yêu cầu xây dựng (độ dốc từ 0,4 đến 10%);
Đất ít thuận lợi cho xây dựng có điều kiện chưa đáp ứng ngay cho yêu cầu xây dựng (độ dốc <0,4% và từ 10 đến 20%, vùng núi đến 30%);
Đất không thuận lợi cho xây dựng có điều kiện phức tạp, không nên dùng vào mục đích xây dựng (độ dốc >20%, vùng núi >30%)