1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đề xuất quy trình vận hành cho hệ thống tiêu 3 trạm bơm dương hà phù đổng thịnh liên, huyện gia lâm, TP hà nội trong điều kiện đô thị hóa và biến đổi khí hậu

226 127 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 226
Dung lượng 7,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật với đề tài: “Nghiên cứu đề xuất quy trình vận hành cho hệ thống tiêu 3 trạm bơm Dương Hà – Phù Đổng – Thịnh Liên, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội tron

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật với đề tài: “Nghiên cứu đề xuất quy trình vận hành cho

hệ thống tiêu 3 trạm bơm Dương Hà – Phù Đổng – Thịnh Liên, huyện Gia Lâm,

TP Hà Nội trong điều kiện đô thị hóa và biến đổi khí hậu.” được hoàn thành tại

Trường Đại học Thủy lợi Hà Nội với sự giúp đỡ, chỉ bảo, hướng dẫn nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo, của các đồng nghiệp và bạn bè

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy TS Lưu Văn Quân, người hướng dẫn khoa học đã rất chân tình hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn này Xin chân thành cảm ơn: Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trong Khoa Kỹ thuật tài nguyên nước, các thầy giáo cô giáo các bộ môn trong Trường Đại học Thủy lợi Xin chân thành cảm ơn đến các cơ quan đoàn thể, đồng nghiệp, bạn bè đã giúp đỡ và góp những ý kiến quý báu trong luận văn này

Cuối cùng xin cảm tạ tấm lòng của những người thân trong gia đình, đã tin tưởng động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này Do

đề tài giải quyết vấn đề mới mẻ, cũng như thời gian và tài liệu thu thập chưa thực sự đầy đủ, luận văn khó tránh khỏi các thiếu sót, tác giả rất mong nhận được sự thông cảm, góp ý chân tình của các thầy cô và đồng nghiệp quan tâm tới vấn đề này

Hà Nội, … tháng … Năm 2019

Tác giả:

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả luận văn xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Các kết quả nghiên cứu và những kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác Việc tham khảo, trích dẫn các nguồn tài liệu đã được ghi rõ nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định

Vũ Thúy Huyền

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC HÌNH VẼ v

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii

MỞ ĐẦU 1

I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

II MỤC ĐÍCH VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

1 Mục đích nghiên cứu 3

2 Phạm vi nghiên cứu: 3

III CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 3

1 Cách tiếp cận: 3

2 Phương pháp nghiên cứu: 3

IV KẾT QUẢ DỰ KIẾN ĐẠT ĐƯỢC .4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 5

1.1.Tổng quan về tiêu nước 5

1.1.1 Tổng quan về vấn đề tiêu nước 5

1.1.2.Tổng quan về đô thị hóa 6

1.1.3.Tổng quan về biến đổi khí hậu 8

1.1.4 Tổng quan về quy trình vận hành hệ thống tiêu động lực 9

1.1.5 Tổng quan về các nghiên cứu có liên quan 10

1.1.5.1 Trên thế giới 10

1.1.5.2 Trong nước 12

1.2 Tổng quan về vùng nghiên cứu 15

1.2.1 Điều kiện tự nhiên 15

1.2.2 Tình hình dân sinh kinh tế và các yêu cầu phát triển của hệ thống tiêu 3 trạm bơm Dương Hà – Phù Đổng – Thịnh Liên 20

1.2.3.Phương hướng phát triển kinh tế xã hội trong vùng 24

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG TIÊU NƯỚC VÀ XÂY DỰNG CÁC KỊCH BẢN 25

2.1 Hiện trạng các công trình tiêu nước 25

2.1.1 Khu đầu mối (03 trạm bơm) 25

2.1.2 Hệ thống kênh và công trình trên kênh 35

Trang 4

2.2.1.Tình hình ngập úng trong vùng 39

2.2.2.Nguyên nhân gây ngập úng 40

2.3 Xây dựng các kịch bản tính toán 41

2.3.1.Chọn kịch bản BĐKH cho lưu vực tính toán 41

2.3.2 Chọn mưa tiêu tính toán 42

2.3.3 Cơ cấu sử dụng đất 43

2.3.4 Đề xuất các kịch bản tính toán 43

CHƯƠNG 3 TÍNH TOÁN YÊU CẦU TIÊU VÀ ĐỀ XUẤT QUY TRÌNH VẬN HÀNH 44

3.1.Mưa tiêu thiết kế 44

3.1.1.Chọn trạm, thời đoạn tính toán 44

3.1.2 Phương pháp tính toán lượng mưa tiêu thiết kế 45

3.1.3 Kết quả tính toán 49

3.1.4.Xác định mưa tiêu tính toán thời kỳ tương lai 2030 50

3.2 Tính toán chế độ tiêu cho hệ thống 54

3.3 Mô phỏng tính toán và kiểm định mô hình 59

3.3.1 Lựa chọn mô hình 59

3.3.2 Giới thiệu sơ lược về mô hình SWMM 59

3.3.3 Kiểm định mô hình 60

3.4 Phân tích đề xuất quy trình vận hành cho từng trạm bơm tương ứng với các trường hợp tính toán trên 67

3.4.1.Phân tích sử dụng điện năng của từng trạm bơm 67

3.4.2.Tính toán, đề xuất quy trình vận hành tương ứng từng kịch bản 71

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87

1 Kết luận 87

2 Kiến nghị 89

Trang 5

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 2.1 Bản đồ khu vực hệ thống 3 trạm bơm tiêu Dương Hà – Phù Đổng – Thịnh

Liên 25

Hình 2.2: Chính diện đầu hồi phải nhà máy bơm 26

Hình 2.3: Bên trong nhà máy bơm 27

Hình 2.4: Khu quản lý nhìn từ mặt đê sông Đuống 28

Hình 2.5: Trạm bơm Thịnh Liên 30

Hình 2.6: Hình ảnh trong nhà trạm 32

Hình 2.7: Nhà trạm 34

Hình 3-1: Sơ đồ tính toán tiêu nước mặt ruộng bằng đập tràn, chế độ chảy tự do 56

Hình 3-2: Sơ đồ tính toán tiêu nước mặt ruộng bằng đập tràn, chế độ chảy ngập 58

Hình 3.1.Sơ đồ hệ thống 3 trạm bơm 63

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1-2 Lượng mưa trung bình tháng, năm khu vực Hà Nội ( đơn vị :mm) 17Bảng 1-3 Độ ẩm không khí trung bình tháng, năm khu vực Hà Nội (đơn vị :%) 17Bảng 1-4 Bốc thoát hơi trung bình tháng, năm khu vực Hà Nội ( đơn vị : mm) 18Bảng 1-5 Số giờ nắng trung bình tháng, năm khu vực Hà Nội ( đơn vị: giờ/ngày) 19Bảng 1-6 Tốc độ gió trung bình tháng, năm khu vực Hà Nội ( đơn vị: m/s) 19Bảng 3-1: Các đặc trưng thuỷ văn thiết kế của đường tần suất lý luận 49Bảng 3-3: Lượng mưa 5 ngày max kể đến BĐKH từ năm 2020 đến 2039 52Bảng 3-4 Bảng đánh giá sai số tổng số giờ bơm giữa tính toán và thực đo tại 3 trạm bơm Dương Hà-Phù Đổng-Thịnh Liên 64Bảng 3-5 Bảng đánh giá sai số mực nước tại bể hút giữa tính toán và thực đo tại 3 trạm bơm Dương Hà-Phù Đổng-Thịnh Liên 65Bảng 3-6: Bảng đánh giá sai số tổng số giờ bơm giữa tính toán và thực đo tại 3 trạm bơm Dương Hà-Phù Đổng-Thịnh Liên 66Bảng 3-7: Bảng đánh giá sai số mực nước tại bể hút giữa tính toán và thực đo tại 3 trạm bơm Dương Hà-Phù Đổng-Thịnh Liên 66Bảng 3-8: Bảng tính toán công suất bơm tại 3 trạm bơm Dương Hà-Phù Đổng-Thịnh Liên theo KB1 72Bảng 3-9: Bảng tổng hợp theo KB1a 72Bảng 3-10: Bảng tổng hợp điện năng tiêu thụ theo từng ngày tại 3 trạm bơm Dương Hà-Phù Đổng-Thịnh Liên theo KB1b1 73Bảng 3-11: Bảng tổng hợp theo KB1b1 73Bảng 3-12: Bảng tổng hợp điện năng tiêu thụ theo từng ngày tại 3 trạm bơm Dương Hà-Phù Đổng-Thịnh Liên theo KB1b2 74Bảng 3-13: Bảng tổng hợp theo KB1b2 74Bảng 3-14: Bảng tổng hợp điện năng tiêu thụ theo từng ngày tại 3 trạm bơm Dương Hà-Phù Đổng-Thịnh Liên theo KB1b3 75Bảng 3-15: Bảng tổng hợp theo KB1b3 75Bảng 3-16: Bảng tổng hợp điện năng tiêu thụ theo từng ngày tại 3 trạm bơm Dương

Trang 7

Bảng 3-17: Bảng tổng hợp theo KB2a 77Bảng 3-18: Bảng tổng hợp điện năng tiêu thụ theo từng ngày tại 3 trạm bơm Dương Hà-Phù Đổng-Thịnh Liên theo KB2b1 77Bảng 3-19: Bảng tổng hợp theo KB2b1 77Bảng 3-20: Bảng tổng hợp điện năng tiêu thụ theo từng ngày tại 3 trạm bơm Dương Hà-Phù Đổng-Thịnh Liên theo KB3a 78Bảng 3-21: Bảng tổng hợp theo KB3a 79Bảng 3-22: Bảng tổng hợp điện năng tiêu thụ theo từng ngày tại 3 trạm bơm Dương Hà-Phù Đổng-Thịnh Liên theo KB3b 79Bảng 3-23: Bảng tổng hợp theo KB3b 80Bảng 3-24: Bảng tổng hợp điện năng tiêu thụ theo từng ngày tại 3 trạm bơm Dương Hà-Phù Đổng-Thịnh Liên theo KB4a 81Bảng 3-26: Bảng tổng hợp điện năng tiêu thụ theo từng ngày tại 3 trạm bơm Dương Hà-Phù Đổng-Thịnh Liên theo KB4b 82Bảng 3-27: Bảng tổng hợp theo KB4b 82Bảng 3-28: Bảng tổng hợp điện năng tiêu thụ theo từng ngày tại 3 trạm bơm Dương Hà-Phù Đổng-Thịnh Liên theo KB5a 83Bảng 3-29: Bảng tổng hợp theo KB5a 83Bảng 3-30: Bảng tổng hợp điện năng tiêu thụ theo từng ngày tại 3 trạm bơm Dương Hà-Phù Đổng-Thịnh Liên theo KB5b 84Bảng 3-31: Bảng tổng hợp theo KB5b 84Bảng 3-32: Bảng tổng hợp điện năng tiêu thụ theo từng ngày tại 3 trạm bơm Dương Hà-Phù Đổng-Thịnh Liên theo KB6a 85Bảng 3-33: Bảng tổng hợp theo KB6a 85Bảng 3-34: Bảng tổng hợp điện năng tiêu thụ theo từng ngày tại 3 trạm bơm Dương Hà-Phù Đổng-Thịnh Liên theo KB6b 86Bảng 3-35: Bảng tổng hợp theo KB6b 86

Trang 9

MỞ ĐẦU

I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Thời tiết ở Việt Nam những năm gần đây ngày càng bất thường Hạn hán, ngập lụt, sạt

lở, giông tố, bão lũ có diễn biến phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp của nước ta Đặc biệt, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu (BĐKH) do có bờ biển dài Nếu nước biển dâng một mét thì 40% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long và 10% diện tích Đồng bằng sông Hồng sẽ bị ngập, ảnh hưởng trực tiếp đến 20-30 triệu người dân

Cùng với tình hình biến đổi khí hậu, quá trình công nghiệp hoá, đô thị hóa làm gia tăng yêu cầu tiêu nước mưa khiến nhiều hệ thống tiêu quá tải gây ngập úng Một yếu

tố khiến ngập úng trầm trọng hơn là quy trình vận hành hệ thống chưa khoa học sẽ làm tăng mức thiệt hại do ngập úng Với những hệ thống tiêu lớn như sông Nhuệ, Bắc Hưng Hải… đã có quy trình vận hành được cấp có thẩm quyền chuyên ngành thẩm định và ban hành Những hệ thống tiêu nhỏ có vài trạm bơm tiêu liên thông với nhau thì hầu như chưa có quy trình vận hành nhằm tiết kiệm năng lượng hay tối ưu thiệt hại…

Hệ thống tiêu 3 trạm bơm: Dương Hà, Phù Đổng, Thịnh Liên là hệ thống trạm bơm tiêu chủ yếu cho khu vực Gia Lâm, tiêu ra sông Đuống Ba trạm bơm có hệ thống kênh tiêu thông với nhau, chung lưu vực tiêu Nhưng có các cống điều tiết để phân lưu vực cho từng trạm bơm khi cần thiết

Trạm bơm tiêu Phù Đổng xây dựng năm 1974, gồm 25 máy bơm loại 12LTX40 Đến nay, trải qua 39 năm khai thác sử dụng, công trình đã xuống cấp toàn bộ, từ máy móc đến nhà trạm, công trình nối tiếp…, cụ thể là: máy bơm và động cơ cũ, hiệu suất thấp, thường xuyên hỏng hóc; đường ống cũ nát, hoen gỉ, thủng rỗ nhiều chỗ, gây rò rỉ nước; hệ thống điện cũ nát, các thiết bị đóng mở điện không an toàn và đồng bộ; mái nhà máy bị dột thấm gây nên hiện tượng bong tróc lớp vữa trát, cốt thép bỉ hở, han gỉ; nền nhà máy bị bong tróc, luôn ẩm ướt; tường nhà máy bị bong tróc lớp trát, ẩm ướt; toàn bộ hệ thống cửa đều cũ nát, hư hỏng; Nhà máy rất chật hẹp do các tổ máy bơm bố

Trang 10

trí so le gây khó khăn cho việc quản lý, vận hành Ngoài ra, hệ thống kênh tiêu, bể hút, bể tháo, nhà quản lý, trạm biến áp cũng xuống cấp nghiêm trọng, không đảm bảo việc tiêu nước trong mùa mưa Hiện nay, lưu lượng bơm thực tế của hệ thống chỉ đạt khoảng 60% so với lưu lượng thiết kế

Trạm bơm Dương Hà chịu trách nhiệm tiêu úng cho khu dân sinh và diện tích sản xuất nông nghiệp địa phận xã Ninh Hiệp với tổng diện tích phụ trách khoảng 1100ha Hiện nay, trạm bơm này còn sử dụng khá tốt gồm 27 máy trục ngang 1000m3/h Bể hút trạm bơm bằng bê tông kết hợp gạch xây; bể hút rộng khoảng 35m Hiện nay, bể hút cũng bị bồi lắng, gây ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng làm việc của trạm bơm Cao trình đáy bể hút thiết kế là +3.35m Trên khu vực có tuyến kênh đất dài 2623,53m, bề rộng kênh, đáy kênh không đều, nhiều vị trí bị sạt lở, bồi lắng chỉ còn rộng 2,5m; có đoạn kênh cao gần bằng mặt ruộng và có những đoạn không còn bờ kênh Nhiều đoạn trong lòng kênh bị phủ bởi lớp bèo, cỏ rác và các loại cây, bụi cây, làm cản trở đến khả nằng tiêu thoát nước của kênh Vì vậy, hiện trạng công trình tiêu nước nói chung không đảm bảo khả năng tiêu nước gây nên ngâp úng làm ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế của nhân dân

Trạm bơm tưới tiêu Thịnh Liên xây dựng năm 1994, phụ trách tiêu với diện tích tiêu là 1.921,95 ha cho các xã Trung Mầu, Phù Đổng, Ninh Hiệp Trạm bơm gồm 9 máy bơm Hải Dương hướng trục trục đứng, lưu lượng tiêu 1 máy: 0,63 m3/s Đến nay, trải qua hơn 20 năm khai thác, sử dụng, công trình đã xuống cấp toàn bộ từ máy móc đến nhà trạm, công trình nối tiếp

Do tình hình biến đổi khí hậu hết sức phức tạp theo chiều hướng cực đoan Nền kinh tế đang dịch chuyển dần sang hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Diện tích đất nông nghiệp giảm, diện tích đô thị và các dịch vụ khác tăng khiến yêu cầu tiêu tăng nhanh Thêm vào đó là hệ thống công trình thủy lợi thì ngày càng xuống cấp, không phát huy được hết công suất thiết kế ban đầu Đối với hệ thống tiêu có nhiều công trình đưa nước ra khỏi lưu vực thì rất cần có quy trình vận hành hợp lý nhằm giảm chi phí điện năng tiêu thụ, giảm thiệt hại do ngập úng gây ra Lưu vwucj tiêu của 3 trạm bơm (Dương Hà, Phù Đổng, Thịnh Liên) là vùng trũng nên toàn bộ nước mưa phải tiêu

Trang 11

có quy trình vận hành phù hợp để vận hành ba trạm bơm sao cho hiệu quả tiêu là tốt nhất, điện năng tiêu thụ là thấp nhất Đề tài ” Nghiên cứu đề xuất quy trình vận hành cho hệ thống tiêu 3 trạm bơm Dương Hà – Phù Đổng – Thịnh Liên, huyện Gia Lâm,

TP Hà Nội trong điều kiện đô thị hóa và biến đổi khí hậu.” có ý nghĩa thực tế và khoa học cao

II MỤC ĐÍCH VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Tiếp cận thực tế: đi khảo sát, nghiên cứu, thu thập các số liệu cần thiết;

- Tiếp cận hệ thống: Tiếp cận, tìm hiểu, phân tích hệ thống từ tổng thể đến chi tiết, đầy đủ và hệ thống

- Tiếp cận các phương pháp hiện đại: Mô phỏng thủy văn, thủy lực bằng phần mềm

2 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa : Thu thập số liệu về bề rộng kênh, hệ số nhám lòng kênh, độ dốc lòng kênh, số máy bơm, loại máy bơm từng trạm….để nhập vào phần mềm SWMM

- Phương pháp kế thừa : kế thừa những nghiên cứu của những người trước về vẽ

mô hình mưa

Trang 12

- Phương pháp phân tích hệ thống, thống kê : tiến hành phân tích hiện trạng, tình hình ngập úng từ đầu mối điến mặt ruộng; Tổng hợp các số liệu như: mưa, số giờ bơm…

thủy lực

IV KẾT QUẢ DỰ KIẾN ĐẠT ĐƯỢC

- Tính toán các tần suất mưa

- Đề xuất được kịch bản cơ cấu sử dụng đất trong tương lai và biến đổi khí hậu (năm 2030)

- Tính toán yêu cầu nước cho hệ thống ứng với điều hiện hiện tại, điều kiện phát triển kinh tế xã hội và biến đổi khí hậu

- Đề xuất quy trình vận hành cho từng trạm bơm tương ứng với các trường hợp tính toán nêu trên với yêu cầu không gây thiệt hại do ngập úng

Trang 13

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1.TỔNG QUAN VỀ TIÊU NƯỚC

1.1.1 Tổng quan về vấn đề tiêu nước

Nước ta có địa hình đồi núi chiếm đến 3/4 diện tích lãnh thổ, tập trung phần lớn ở vùng Đông Bắc, Tây Bắc và miền Trung, phần diện tích còn lại là châu thổ và đồng bằng phù sa, chủ yếu là ở ĐBSH và ĐBSCL Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, lượng mưa trung bình nhiều năm trên toàn lãnh thổ vào khoảng 1.940 mm/năm nhưng do ảnh hưởng của địa hình đồi núi, lượng mưa phân bố không đều trên

cả nước và biến đổi mạnh theo thời gian nên gây khó khăn cho việc tiêu khi mưa lớn xảy ra Đặc biệt là khi đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, quá trình đô thị hóa ngày càng tăng cao, làm giảm đáng kể khả năng tiêu thoát nước ở các vùng đô thị, nhất là những đô thị lớn, đang phát triển mạnh

Tại đồng bằng sông Hồng: Các sông tự nhiên đều có đê bao phòng chống lũ Trong nội đồng thường có các kênh rạch tự nhiên và nhân tạo làm nhiệm vụ tưới và tiêu Mối liên

hệ giữa các kênh rạch và các con sông chính được thực hiện qua cống lấy nước tự chảy hoặc các công trình tháo nước hoặc các trạm bơm

Tại các hệ thống ven biển miền Trung: Do quy mô của các hệ thống tiêu thoát nước nhỏ, việc phòng chống lũ và ngăn chặn nước mặn lại do các đê biển đảm nhiệm Các hệ thống tưới tiêu riêng biệt hầu hết là tự chảy, nhưng cũng có nhiều vùng tưới tiêu bằng bơm Thiệt hại do ngập lụt, ngập úng vẫn xảy ra thường xuyên và nghiêm trọng

Vùng cao nguyên, miền núi: Hệ thống tưới tiêu riêng biệt và thường là tự chảy đối với vùng địa hình cao, đôi khi dùng bơm để lấy nước sông với vùng có địa hình thấp hoặc các hệ thống hỗn hợp

Ở đồng bằng sông Cửu Long: Ngập lụt phụ thuộc rất nhiều vào lũ từ thượng nguồn, mưa nội đồng, địa hình thấp, triều cường, các kênh rạch và các cống ngăn mặn ở cửa sông Các công trình đê biên giới, đê sông Tiền, sông Hậu chỉ có tác dụng vào đầu mùa lũ, khi lũ cao hệ thống này không chống được lũ Công trình thoát lũ ra biển Tây hiệu

Trang 14

quả chưa cao nên ngập lụt ở đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết

Việt Nam phát triển kinh tế nhanh trong vài thập kỷ gần đây kéo theo sự phát triển đô thị và công nghiệp diễn ra trên cả nước, đặc biệt nhanh với những vùng ven các đô thị lớn Việc phát triển đô thị hay công nghiệp đã làm tăng yêu cầu tiêu, trong khi các hệ thống tiêu không cải tạo, nâng cấp để đáp úng sự phát triển trên nên gây ra ngập úng Ngoài ra, yếu tố làm gia tăng quá trình ngập úng là hệ thống tiêu bị mất diện tích trữ nước tạm thời, diện tích thấm nước, sự xuống cấp của công trình tiêu và biến đổi bất thường theo hướng bất lợi của khí hậu

Nhiều hệ thống tiêu chỉ được thiết kế, xây dựng tiêu nước cho nông nghiệp nhưng hiện nay phải gánh vác thêm diện tích đô thị, công nghiệp khiến quá tải Với những hệ thống tiêu nhiều đầu mối tiêu (cống tự chảy hay trạm bơm tiêu) thì quy trình vận hành hợp lý có thể giảm bớt mức độ ngập úng và giảm chi phí điện năng

1.1.2.Tổng quan về đô thị hóa

Hiện nay,quá trình đô thị hoá ở nước ta đang là nguyên nhân gây biến động nguồn tài nguyên nước, theo đó, các con sông, hồ trong các đô thị ngày một bị thu hẹp dòng chảy, thậm chí bị lấp hoàn toàn để lấy đất phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế- xã hội, xây dựng các công trình giao thông, khu dân cư, khu công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp… Quá trình đô thị hoá đã và đang tác động sâu sắc đến các hoạt động kinh tế-

xã hội Do tác động của quá trình này, các đoạn sông chảy qua các khu đô thị, khu dân

cư tập trung và các cơ sở sản xuất kinh doanh vùng ngoại thành thường xuyên nằm trong tình trạng báo động

Gia Lâm - vùng đất địa linh nhân kiệt, nằm ở cửa ngõ phía Đông của Thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến, nơi giao thoa của dòng văn hoá Thăng Long và Kinh Bắc Gia Lâm được xác định là vùng kinh tế trọng điểm Trên địa bàn huyện có nhiều tuyến đường giao thông quan trọng đã và đang được đầu tư xây dựng: Quốc lộ 1A; Quốc lộ 1B; Quốc lộ 3 mới Hà Nội - Thái Nguyên; Quốc lộ 5; Đường ôtô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng; đường Hà Nội - Hưng Yên; đường 181 ; đường thuỷ sông Hồng, sông Đuống,

ga Yên Viên và hệ thống đường sắt ngược lên phía Bắc, Đông Bắc và xuôi cảng biển

Trang 15

thương mại được hình thành; nhiều làng nghề nổi tiếng, thu hút đông khách thập phương trong và ngoài nước như làng gốm sứ Bát Tràng, dát vàng, may da Kiêu Kỵ, chế biến thuốc bắc Ninh Giang Đây chính là những động lực và tiềm năng to lớn để phát triển kinh tế thương mại, du lịch, dịch vụ giao thông, giao lưu hàng hoá hiện nay

và trong tương lai

Đặc biệt, tháng 6/2018, UBND thành phố Hà Nội có quyết định phê duyệt Quy hoạch chi tiết Khu đô thị Gia Lâm, tỷ lệ 1/500 tại khu vực thị trấn Trâu Quỳ và các xã: Dương Xá, Kiêu Kỵ, Đa Tốn Tổng diện tích đất khu vực nghiên cứu quy hoạch khoảng 420ha và quy mô dân số khoảng 89.500 người

“Siêu” đô thị mới này được nghiên cứu quy hoạch bao gồm: Khu biệt thự cao cấp được bố trí bên trong lòng đô thị, các khu nhà ở cao tầng với chiều cao từ 25 - 38 tầng, các trường mầm non, trường học các cấp bố trí trung tâm các khu ở, hệ thống công trình công cộng thành phố bố trí, hệ thống các công trình công cộng dịch vụ hỗ trợ và bãi đỗ xe

Để phát triển hạ tầng cho đô thị, huyện cũng triển khai dự án nhà máy nước sạch khu vực Yên Viên Ngoài ra, Dự án Nhà máy nước mặt sông Đuống (giai đoạn 1), với công suất 150.000 m3/ngày đêm sẽ được khánh thành vào đúng tháng 10/2018 Tổng quy mô dự án với diện tích gần 61,5 ha, tổng vốn đầu tư gần 5000 tỷ đồng tại xã Phù Đổng và xã Trung Mầu Đặc biệt, Gia Lâm là một trong những huyện đi đầu trong đầu

tư đồng bộ hệ thống chiếu sáng Theo đó, 411,8km hệ thống chiếu sáng trên địa bàn huyện được đầu tư Huyện cũng triển khai đồng bộ việc cải tạo, xây dựng trụ sở làm việc, trạm y tế, nhà văn hóa, trung tâm văn hóa xã; đến nay đã có 153/171 thôn, làng,

tổ dân phố, cụm dân cư có nhà văn hóa; 100% trạm y tế các xã đạt chuẩn; 58/75 trường đạt chuẩn quốc gia

Do quá trình đô thị hóa trên địa bàn diễn ra với tốc độ nhanh Diện tích đất nông nghiệp giảm, diện tích đất đô thị tăng Các công trình tiêu thoát nước trước đây chủ yếu phục vụ cho muc đích tiêu cho nông nghiệp Nên vấn đề tiêu thoát nước cho đô thị

và công nghiệp đang trở thành bài toán khó cho ban lãnh đạo khu vực nghiên cứu

Trang 16

1.1.3.Tổng quan về biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm: khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai, bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định Nguyên nhân chính làm BĐKH trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác

Việt Nam là một quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á, chịu ảnh hưởng của vùng gió mùa, khí hậu nóng và ẩm rất đặc trưng Việt Nam có đường bờ biển dài hơn 3200km với 75% dân số sống gần biển Việt Nam là nước đứng thứ 2 trong 5 nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu

Nhiệt độ trong 50 năm qua (1958–2007), nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam tăng lên khoảng từ 0,5đ0C đến 0,70C Nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn nhiệt độ mùa hè và nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Bắc tăng nhanh hơn ở các vùng khí hậu phía Nam Lượng mưa giảm từ 5 đến 10% trên đa phần diện tích phía Bắc nước ta và đang tăng khoảng 5 đến 20% ở các vùng khí hậu phía Nam Xu thế diễn biến của lượng mưa năm tương tự như lượng mưa mùa mưa, tăng ở các vùng khí hậu phía Nam, giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc Khu vưc Nam Trung Bộ có lượng mưa mùa khô, mùa mưa và lượng mưa năm tăng mạnh nhất so với các vùng khác ở nước ta, nhiều nơi đến 2% trong 50 năm qua

Số lượng xoáy thuận nhiệt đới họat động trên khu vực Biển Đồng có xu hướng tăng nhẹ, trong khi đó số cơn ảnh hưởng hoặc đổ bộ vào đất liền Việt Nam không có xu hướng biến đổi rõ ràng Khu vực đổ bộ của các cơn bão và áp thấp nhiệt đới vào Việt Nam có xu hướng lùi dần về phía Nam nước ta; số lượng các cơn bão rất mạnh có xu hướng gia tăng, mùa bão có dấu hiệu kết thúc muộn hơn trong thời gian gần đây Mức

độ ảnh hưởng của bão đến nước ta có xu hướng mạnh lên

Tình hình BĐKH diễn biến ngày càng phức tạp theo hướng cực đoan và bất lợi cho việc tưới và tiêu Số trận mưa có cường độ lớn và tổng lượng lớn bất thường xuất hiện

Trang 17

ngày càng thường xuyên Trong khi nhiều công trình trong hệ thống tiêu xuống cấp và thiết kế với mức đảm bảo thấp đã không đáp ứng được yêu cầu tiêu hiện tại và tương lai

1.1.4 Tổng quan về quy trình vận hành hệ thống tiêu động lực

Việt Nam là một nước nông nghiệp, có đến 70% dân số lao động trong lĩnh vực này

Vì vậy, sản xuất nông nghiệp đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đóng góp khoảng 24% GDP, gần 30% giá trị hàng hóa xuất khẩu Ngành xuất khẩu chủ yếu của nước ta đó chính là lúa nước Nhưng nhiều năm trở lại đây, sản lượng gạo xuất khẩu giảm, một phần là do ảnh hưởng của BĐKH, còn phần lớn là do quy trình quản lý vận hành, khai thác hệ thống của nước ta chưa tốt Đặc biệt là khi hiện nay, nước ta chủ yếu tiêu úng bằng động lực (trạm bơm tiêu động lực)

Cả nước có 172 công ty quản lý thuỷ nông với 75 hệ thống thuỷ lợi vừa và lớn, nhiều

hệ thống thuỷ lợi nhỏ, trong đó có khoảng 2000 trạm bơm điện lớn vừa có công suất lắp máy 250 MW cho tưới và 300 MW cho tiêu và hơn 755.000 máy bơm vừa và nhỏ

do hợp tác xã và hộ nông dân mua sắm Ngoài ra còn có trạm bơm dầu, nhưng với số lượng rất nhỏ, không đáng kể

Chi phí vận hành của các trạm bơm điện (chủ yếu là điện năng) là rất lớn, ước tính trung bình chiếm 45% đến 50% tổng chi phí quản lý vận hành Như vậy, nếu tính trên bình diện cả nước thì chi phí vận hành bơm hàng năm lên đến hàng trăm tỷ đồng Thời gian gần đây, Chính phủ đã khuyến cáo các doanh nghiệp phải tìm các biện pháp để giảm nhỏ chi phí vận hành các hệ thống thủy lợi, đặc biệt là ở các hệ thống tiêu bằng động lực Thực hiện chủ trương này, hầu hết các doanh nghiệp đã thực hiện các qui trình tiêu nước vào những giờ thấp điểm để giảm chi phí vận hành

Nhiều biện pháp kỹ thuật đã được áp dụng để nâng cao hiệu quả quản lý nhưng thực tế cho thấy, tình trạng ngập lụt vẫn xảy ra trầm trọng ở một số nơi, đặc biệt là BĐKH diễn ra ngày càng phức tạp Theo số liệu đánh giá của Cục Thuỷ Lợi, hiện nay diện tích được tiêu của các hệ thống thuỷ nông chỉ đạt 50% đến 65% so với thiết kế

Trang 18

Các hệ thống lớn như hệ thống CTTL Bắc Nam Hà, hệ thống sông Nhuệ… đều có quy trình vận hành được Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn ban hành cho từng

hệ thống

Trong khi đó, những hệ thống tiêu vừa và nhỏ có từ 2 trạm bơm tiêu trở lên chưa có quy trình vận hành khoa học cho từng trạm bơm Thực tế, các trạm bơm tiêu trong hệ thống vận hành đồng thời, đồng đều…nên chưa phát huy được ưu điểm của hệ thống tiêu liên thông các trạm bơm và chưa tiết kiệm điện năng

1.1.5 Tổng quan về các nghiên cứu có liên quan

1.1.5.1 Trên thế giới

Trong những năm gần đây, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về tác động của BĐKH đến mưa tiêu, nhu cầu tiêu và hệ thống tiêu, quy trình vận hành hệ thống điển hình như các nghiên cứu sau:

*Grum M và Jorgensen [3]- Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến tiêu nước đô thị: một đánh giá dựa trên mô phỏng mô hình khí hậu vùng Trong nghiên cứu này, các tác giả đã sử dụng phương pháp mô phỏng mô hình khí hậu vùng (RCM) để đánh giá ảnh hưởng của BĐKH đến sự thay đổi của cường độ mưa và biểu đồ mưa, từ

đó đánh giá được ảnh hưởng đến dòng chảy trong hệ thống tiêu thoát nước đô thị

*O.Mark, G.Svensson và nnk [4] – Nghiên cứu Phân tích và thích nghi với những tác động của BĐKH đến những hệ thống tiêu Mục đích của nghiên cứu là nâng cao hiểu biết và kiến nghị chiến lược thích ứng BĐKH đối với các hệ thống thoát nước nhằm giảm thiểu tổn thương do BĐKH gây ra Nghiên cứu đã phân tích ảnh hưởng của BĐKH đến sự thay đổi trong biểu đồ mưa ở những nước Bắc Âu và đã phác thảo chiến lược giảm thiểu tác động của BĐKH đến các hệ thống tiêu Nghiên cứu đã tập chung vào: hướng dẫn liên quan đến chiến lược giảm thiểu tác động của BĐKH đến hệ thống tiêu; hướng dẫn về cách thực hiện phân tích đánh giá tác động của BĐKH đến hệ thống tiêu và giới thiệu kết quả phân tích tác động của BĐKH đến những hệ thống tiêu

ở Helsingborg, Kalmar Sweden và Odense của Đan Mạch

Trang 19

* Linmei Nie, Oddvar Lindholm và nkk [6] – Nghiên cứu Tác động của BĐKH đến những hệ thống tiêu đô thị – Một nghiên cứu điển hình ở Fredrikstad, Norway Trong nghiên cứu này, ảnh hưởng bất lợi của BĐKH đến úng ngập bề mặt, hiện tượng tràn kênh, dòng chảy qua tràn tách nước mưa được phân tích Dựa trên những kịch bản BĐKH đã có, nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tổng lượng nước ngập tại các giếng thu nước mưa tăng lên 2 – 4 lần, lượng tăng của mưa và tổng dòng chảy tràn tại các tràn tách nước mưa của hệ thống cống chung sẽ tăng 1,5 – 3 lần mức tăng của mưa Kết quả mô phỏng cũng chỉ ra rằng, số lượng các giếng thu bị ngập và số lượng đoạn cống, mương

bị tràn có thể thay đổi đột ngột và không đều với sự thay đổi không đáng kể của mưa

và thay đổi theo các trận và thời lượng mưa

* Supria Paul, A.K.M Saiful Islam và nnk [8] – Nghiên cứu tác động của BĐKH đến những hệ thống tiêu đô thị ở ba thị trấn ven biển của Bangladesh Trong nghiên cứu này, mô hình SWMM đã được sử dụng để đánh giá những điều kiện tiêu thoát trong tương laic ho 3 vùng thị trấn ven biển là Amtali, Galachipa và Pirojpur Mưa thiết kế thời lượng 2 giờ, tần suất 10% và mực nước của các sông bao quanh tần suất 5% đã được chọn mô phỏng hệ thống tiêu Đối với mưa tương lai, những thông tin BĐKH phân giải cao đã được tạo ra qua sử dụng kịch bản phát thải trung bình SRES A1B được tính từ mô hình khí hậu vùng REGCM3 Số liệu mực nước biển dâng tù nguồn cấp hai đã được bổ sung với tần suất 5% để mô phỏng kịch bản tương lai Độ phân giải DEM 10m đã được sử dụng để mô tả địa hình lưu vực và hệ thống tiêu Kết quả mô phỏng đã cho thấy rằng, những mương nhánh cấp 2 sẽ không đủ năng lực để dẫn nước mưa ứng cới trận mưa thiết kế và vùng ngập úng sẽ tăng lên đáng kể từ sau năm 2030

* Eric A.Rosenberg [7] – Nghiên cứu mưa cực hạn và những tác động của BĐKH đến công trình tiêu nước ở bang Washington Tác giả đã sử dụng số liệu mưa đo đạc trong quá khứ và số liệu mưa mô phỏng để đánh giá những thay đổi trong phân bố xác suất của mưa cực hạn ở vùng nghiên cứu Mưa đo đạc sử dụng trong khoảng thời gian 1949 – 2007 và mưa tương lai được xác định từ mô hình khí hậu vùng WRF trong khoảng thời gian 1970 – 2000 và 2020 – 2050 và thu phóng từ mô hình khí hậu toàn cầu ECHAM5 và CCSM3 Chuỗi mưa giờ từ phân tích thống kê được sử dụng như đầu vào của mô hình thủy văn HSOF để mô phỏng dòng chảy trong 2 lưu vực đô thị ở

Trang 20

miền trung Puget Sound Nghiên cứu kết luận rằng, những công trình tiêu nước được thiết kế khi sử dụng số liệu mưa trong thế kỷ 20 cần thiết phải được nâng cấp với tiêu chuẩn thiết kế mới để có thể đáp ứng được yêu cầu tiêu do BĐKH gây ra

1.1.5.2 Trong nước

Đã có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng BĐKH đến hệ thống tiêu và quy trình vận hành

hệ thống tiêu

a) Nghiên cứu tác động BĐKH và đô thị hóa đến tiêu:

* Bùi Nam Sách [10]– Nghiên cứu sự biến đổi của nhu cầu tiêu và biện pháp tiêu nước cho hệ thống thủy nông Nam Thái Bình có xét đến ảnh hưởng của BĐKH toàn cầu Tác giả đã chỉ ra một số kết quả sau:

+Về hệ số tiêu: Nếu chỉ xét riêng về ảnh hưởng của BĐKH đến yêu cầu tiêu thì hệ số tiêu mặt ruộng, lưu lượng tiêu thiết kế của các công trình đầu mối và tổng lượng nước cần tiêu của hệ thống thủy nông tăng theo tỷ lệ thuận với mức độ tăng của tổng lượng trận mưa tiêu thiết kế Nếu xét thêm ảnh hưởng của biến động cơ cấu sử dụng đất do công nghiệp hóa và đô thị mang lại thì so với thời điểm hiện tại khi lượng mưa tiêu tăng thêm 3,1% thì hệ số tiêu thiết kế tăng 5,62%, khi lượng mưa tăng thêm 7,9% thì

hệ số tiêu thiết kế tăng 17,12% và khi lượng mưa tăng thêm 19,1% thì hệ số tiêu năng 35,65%

+Về biện pháp tiêu: vùng tiêu tự chảy giảm từ 82,54% diện tích cần tiêu tại thời điểm hiện nay xuống còn 62,9% vào năm 2020, 39,9% vào năm 2050, 33,10% vào năm

2100 Ngược lại quy mô vùng tiêu bằng động lực tăng lên tương ứng với mức độ giảm của vùng tiêu tự chảy: tăng từ 10.435 ha ở thời điểm hiện nay lên 20.958 ha vào năm

2020, 34.670 ha vào năm 2050 và 38,732 ha vào năm 2100

+Với hệ số tiêu thiết kế đang áp dụng trong hệ thống thủy nông Nam Thái Bình khoảng 7,0 l/s, ở thời điểm hiện tại các công trình tiêu nước đã có trên hệ thống này mới chỉ có khả năng đáp ứng được khoảng 60% nhu cầu tiêu, đến năm 2020 đáp ứng được 58%, năm 2050 đáp ứng được trên 52% và năm 2100 đáp ứng được trên 45%

Trang 21

* Theo Viện Quy hoạch Thủy lợi [11], [12] tác động của BĐKH đến hệ thống tiêu nước Đồng Bằng Bắc Bộ như sau :

– Kết quả tính toán hệ tiêu với kịch bản BĐKH theo các giai đoạn: Tổng lượng mưa 5 ngày max đến năm 2020 tăng từ 2–5% so với hiện tại (năm 2010), đến năm 2030 tăng

từ 6% so với hiện tại, đến năm 2050 tăng từ 7–9% so với hiện tại, năm 2100 tăng từ 10–18% so với hiện tại Tính toán tiêu với cơ cấu sử dụng đất 2010, 2020, 2030, 2050 theo mưa các giai đoạn đến năm 2010, 2020, 2030, 2050 kết quả tính hệ số tiêu đều tăng lên nhiều so bới hiện tại, do mưa tăng lên, đồng thời với quá trình công nghiệp,

đô thị hóa ngày càng tăng, vì vậy ao hồ, đất nông nghiệp càng bị thu hẹp nên khả năng trữ nước càng ngày càng giảm, thời gian tiêu càng phải tiêu gấp rút

– Toàn vùng có diện tích cần tiêu 1.162.160 ha, đến năm 2050 do ảnh hưởng BĐKH lượng mưa thời đoạn tiêu tăng, cùng với tốc độ phát triển đô thị, cồng nghiệp trong vùng tăng nên nhu cầu tiêu tăng lên 37,5% so với hiện tại, mực nước chân triều tại vùng ven biển tăng lên sẽ gây ảnh hưởng tới tiêu thoát, cần nâng cấp, xây mới các công trình tiêu đầu mối và nội đồng, kết hợp nạo vét các trục tiêu trong các hệ thống

* Phạm Thế Vinh và nnk [14] – Nghiên cứu tính toán tiêu nước thành phố Hồ Chí Minh có kể đến BĐKH Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng kịch bản về mưa để xây dựng mô hình mưa tiêu thiết kế thời gian 3h, tần suất 50% và mực nước triêu tương ứng với giai đoạn 2030 để làm biên tính toán mô hình thủy lực mô phỏng hệ thống tiêu thoát nước thành phố Hồ Chí Minh

* Vũ Trọng Bằng [15] – Nghiên cứu ảnh hưởng của BĐKH và quá trình đô thị hóa đến nhu cầu tiêu nước của hệ thống tiêu trạm bơm Đông Mỹ, Hà Nội Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng kịch bản BĐKH năm 2012 của bộ TN & MT cho vùng Hà Nội

Do kịch bản BĐKH năm 2012 không có kịch bản về lượng mưa 5 ngày lớn nhất để tính toán mưa tiêu thiết kế, tác giả đã sử dụng tương quan giữa lượng mưa mùa hè và lượng mưa 5 ngày lớn nhất năm liệt từ mưa trong quá khứ Từ phương trình tương quan này và kịch bản về mức tăng lượng mưa mùa hè trong giai đoạn 2020, 2050, tác giả đã xác định được lượng mưa 5 ngày lớn nhất bình quân nhiều năm và lượng mưa 5 ngày lớn nhất tần suất 10% trong giai đoạn 2020, 2050 Sử dụng mô hình mưa điển

Trang 22

hình trong quá khứ, từ lượng mưa 5 ngày lớn nhất tần suất thiết kế 10%, thu phóng có được mô hình mưa tiêu thiết kế trong giai đoạn 2020, 2050 Tác giả sử dụng phương pháp tính hệ số tiêu theo quy định hiện hành và mô hình SWMM để mô phỏng hệ thống tiêu Kết quả tính toán đã chỉ ra rằng, đến năm 2020, nhu cầu tiêu của lưu vực tăng lên 2,13% và đến năm 2050, nhu cầu tiêu tăng lên 5,65% so với thời kỳ nền 1980 – 1999 Hạn chế của nghiên cứu này là mô hình mưa tiêu thiết kế trong tương lai được xác định dựa trên kịch bản biến đổi lượng mưa mùa hè, trong khi tương quan giữa lượng mưa mùa hè và lượng mưa 5 ngày lớn nhất không cao nên kết quả tính lượng mưa 5 ngày lớn nhất không chính xác

b) Nghiên cứu các quy trình vận hành tiêu:

* Nhóm tác giả Trịnh Quang Hòa, Dương Văn Tiển, Th.S.Lê Văn Học, Đan Văn Vân

đã xây dựng được một hệ điều hành quản lý hệ thống 6 trạm bơm điện lớn Hà Nam Định thực hiện các chức năng:

Nam Quản trị toàn bộ những dữ liệu về khí tượng, thủy văn trên khu vực, các số liệu địa hình, các con sông trong sơ đồ tính toán, cùng địa hình các khu ngập, các thông số cùng khả năng tháo nước của các cống điều tiết then chốt, các đường đặc tính công tác của trạm bơm đầu mối

- Nhận dạng quy mô lũ trên sông Hồng, nhận dạng cấp mưa nội đồng (to, vừa, nhỏ) trước từng đợt tiêu

- Tính toán đường mặt nước trên các kênh trục tiêu chính của hệ thống

- Đặt được mối liên hệ ngược giữa đường mặt nước trên hệ thống với sự hoạt động của các cống điều tiết chính, các trạm bơm đầu mối phục vụ cho việc điều khiển đường mặt nước trong việc tiêu úng

Hầu hết, các nghiên cứu trong nước về BĐKH tập trung vào vấn đề tăng lượng mưa tiêu dẫn đến tăng yêu cầu tiêu và xây dựng quy trình điều hành cho hệ thống tiêu lớn

có nhiều trạm bơm mà chưa có nghiên cứu về hệ thống tiêu quy mô vừa và nhỏ có từ hai đầu mối tiêu trở lên

Trang 23

* Tác giả Nguyễn Thanh Hương [22] đã có một số kết quả nghiên cứu về hệ thống Bắc Nam Hà:

- Đã chỉ ra được một số cơ sở khoa học phục vụ cho công tác quản lý điều hành hệ thống

- Nghiên cứu, chia khu vực tiêu thành các ô tiêu cơ bản, đồng thời xác định được quan

hệ F~Z trong từng ô và khu tiêu;

- Xây dựng được mô hình tiêu úng nội đồng, mô tả diễn biến mực nước trong từng ô tiêu, từng đoạn sông, kênh tiêu dưới tác động của mưa và hoạt động của các trạm bơm

và các cống điều tiết then chốt;

- Phân tích chuỗi số liệu và tài liệu mưa làm cơ sở cho việc lựa chọn phương án

1.2 TỔNG QUAN VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU

1.2.1 Điều kiện tự nhiên

1.2.1.1 Vị trí địa lý

Lưu vực của hệ thống 3 trạm bơm (Dương Hà, Phù Đổng và Thịnh Liên) nằm trên địa phận 3 xã Dương Hà, Phù Đổng, Trung Mầu Phía Bắc giáp với xã Yên Thường, Vĩnh Long, Phía Đông và phía Nam giáp với sông Đuống, phía Đông giáp với xã Phù Chẩn, Ninh Hiệp của tỉnh Bắc Ninh Ba trạm bơm phụ trách tiêu ra sông Đuống cho khu vực Bắc Đuống, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội với tổng diện tích tiêu khoảng 2500ha

1.2.1.2 Đặc điểm địa hình

Địa hình lưu vực tiêu khá bằng phẳng, hướng dốc tự nhiên từ Tây sang Đông (từ lưu vực TB Dương Hà về TB Thịnh Liên) và dốc từ Bắc xuống Nam theo hướng đổ ra sông Đuống Cao độ tự nhiên khoảng từ +4,5 m đến +6,5 m

1.2.1.3 Đặc điểm khí tượng, thủy văn, thổ nhưỡng

 Đặc điểm thổ nhưỡng:

Trang 24

Đất đai trong khu vực tương đối phì nhiêu, đại bộ phân đất đai trong khu vực phần lớn

là đất phù sa cổ và đất thịt pha cát, hàm lượng mùn ở mức độ trung bình, hàm lượng sét ở mức trung bình nên đất có khả năng giữ nước tương đối tốt Điều kiện thổ nhưỡng ở đây rất phù hợp với cây lúa nước và một số loại hoa màu: su hào, bắp cải, khoai lang, ngô, lạc, đậu tương…

 Đặc điểm khí tượng:

- Khí tượng vùng nghiên cứu có đặc tính khí tượng giống với khí tượng khu vực Hà Nội, tiêu biểu cho khí tượng Bắc Bộ, mang tính chất nhiệt đới gió mùa phân thành hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa Mùa khô bắt đầu từ tháng XI đến tháng III năm sau, mùa mưa từ tháng IV đến tháng X

- Nhiệt độ: Bình quân 230C Mùa hè cao nhất là 39.80C Mùa đông thấp nhất là 60C Trung bình là 180C

Bảng 1.1 Nhiệt độ trung bình tháng, năm khu vực Hà Nội ( Đơn vị: 0C)

Trang 25

Hà nội có mùa đông lạnh rõ rệt so với các địa phương khác ở phí Nam tần số front lạnh cao hơn, số ngày nhiệt độ thấp đnags kể, nhất là rét đậm, rét hại nhiều hơn, mùa lạnh kéo dài hơn và mưa phùn cũng nhiều hơn Nhờ mùa đông lạnh trong cơ cấu cây trồng của Hà Nội cũng như đồng bằng Bắc Boh, có cả một vụ đông độc đáo ở miền nhiệt đới

Bảng 1-2 Lượng mưa trung bình tháng, năm khu vực Hà Nội ( đơn vị :mm)

XI đến tháng III năm sau) lượng bốc hoi trung bình tháng lớn hơn lượng mưa trung bình Do vậy cần có biện pháp tưới cung cấp nước giữ ẩm cho cây trồng là điều cần thiết

Trang 26

Bảng 1-4 Bốc thoát hơi trung bình tháng, năm khu vực Hà Nội ( đơn vị : mm) Chỉ

Trang 27

Bảng 1-5 Số giờ nắng trung bình tháng, năm khu vực Hà Nội ( đơn vị: giờ/ngày)

Nhiệt độ trung bình hàng năm tăng khoảng 0,01-0,150C/thập kỉ nhưng không đồng đều Năm 2015, nhiều đợt mưa lớn trên diện rộng xảy ra Đặc biệt là 2 đợt mưa lũ diễn ra từ 13 –18/10 và từ 30/10 –7/11 đã gây nhiều thiệt hại về người và của cho khu vực Hà Nội nói rieeng và toàn nước Việt Nam nói chung Mặc dù không phải là khu vực giáp biển, nhưng các cơn bão hoạt động trên biển Đồng và các cơn bão đổ bộ trực

Trang 28

tiếp vào nước ta cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống người dân khu vực nơi đây

1.2.2 Tình hình dân sinh kinh tế và các yêu cầu phát triển của hệ thống tiêu 3 trạm bơm Dương Hà – Phù Đổng – Thịnh Liên

Nói đến Phù Đổng người ta nghĩ đến ngay chăn nuôi bò sữa, hiện nay xã có 1.814 con trâu bò, trong đó có 805 con bò sữa cho thu nhập hàng năm trên 30 tỷ đồng (số liệu năm 2011) Bên cạnh đó, với nỗ lực không ngừng của cán bộ và nhân dân xã Phù Đổng, hàng năm tổng sản lượng lương thực của xã trung bình đạt 5.400 - 5.600 tấn, tổng giá trị thu nhập toàn xã năm qua đạt trên 50 tỷ đồng, hộ khá giàu tăng từ 30% lên 38,5%, mỗi năm giảm hơn 20 hộ nghèo Hiện xã còn 1,7% số hộ nghèo

Phù Đổng luôn quan tâm đầu tư cho giáo dục, tranh thủ được nguồn vốn của thành phố, huyện, đặc biệt sự tự nguyện góp sức của người dân địa phương, xã đã xây dựng được 34 phòng học kiên cố, đổ bê tông, lát gạch gần 4km đường làng ngõ xóm, xây nhà văn hóa thôn, cải tạo mạng lưới điện, xây dựng nhà máy nước sạch đủ cung cấp cho người dân

Để có được những kết quả trên, trước hết phải kể đến sự đoàn kết nhất trí của Đảng bộ

và nhân dân xã Phù Đồng Đảng bộ xã hiện có 341 đảng viên đang công tác, sinh hoạt tại 9 Chi bộ Công tác giáo dục chính trị tư tưởng luôn được Đảng bộ quan tâm và đặt lên hàng đầu Đảng ủy và Các Ban Chi ủy, Chi Bộ thường xuyên đổi mới nội dung,

Trang 29

Thông qua việc đẩy mạnh thi đua làm giàu chính đáng, phong trào nông dân sản xuất kinh doanh giỏi đã thúc đẩy tăng giá trị sản lượng trồng lúa, chăn nuôi gia súc gia cầm, đặc biệt là nghề chăn nuôi bò sữa, đồng thời phát huy nghề truyền thống dâu tằm, nghề làm vườn hoa cây cảnh

Về văn hóa, Phù Đổng có nhiều công trình văn hóa tầm cỡ quốc gia và quốc tế như: Khu di tích Đền Gióng, Nhà thờ Đặng Công Chất, Chùa Kiến Sơ và mới đây (năm 2010) Lễ hội Gióng được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại

Phát huy truyền thống Đảng bộ trong sạch vững mạnh, trong thời gian tới Đảng bộ xã Phù Đổng tiếp tục khai thác mọi nguồn lực, tiềm năng, đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn

1.2.2.2 Xã Trung Mầu

Trung Mầu là xã có truyền thống cách mạng vẻ vang của huyện Trung Mầu từng là an toàn khu của Trung ương, Xứ ủy Bắc Kỳ và tỉnh ủy Bắc Ninh trước đây Trong những năm từ 1936 đến 1944, nhiều cán bộ cao cấp của Đảng, quân đội như các đồng chí Hoàng Quốc Việt, Văn Tiến Dũng, Lê Quang Đạo v.v đã đi về hoạt động, được quần chúng yêu mến, tận tình nuôi giấu, chở che, trở thành một trong những “cái nôi” của các tổ chức cách mạng và phong trào yêu nước trước Cách mạng tháng 8-1945

Nằm phía tả ngạn sông Đuống, giáp gianh với xã Phù Đổng, trước đây Trung Mầu là một xã thuộc tổng Dũng Vi, huyện Tiên Du, trấn Kinh Bắc (từ năm 1831 là tỉnh Bắc Ninh) Trong kháng chiến chống Pháp, nằm trong xã Toàn Thắng của huyện Gia Lâm; sau Cải cách ruộng đất (giữa năm 1956), làng Trung Mầu và làng Thịnh Liên tách khỏi

xã Toàn Thắng để lập thành xã Trung Hưng thuộc huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Tháng 4 - 1961, xã Trung Hưng được cắt chuyển về huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội Năm 1964 xã đổi tên thành xã Trung Mầu

Xã có diện tích đất tự nhiên 424 ha, trong đó đất nông nghiệp là 222 ha với số dân 5.500 người (số liệu năm 2012) Những năm qua, vượt qua khó khăn cán bộ và nhân dân Trung Mầu đã thực hiện quyết liệt việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phát triển trồng

Trang 30

trọt chăn nuôi và các ngành nghề phụ như: Trồng cây cảnh, chăn nuôi bò sữa và dâu tằm…Ngoài ra, nhân dân nơi đây còn mạnh dạn đưa các giống mới vào sản xuất để tăng năng suất cây trồng, đạt mức thu nhập cao hơn từ 1,4 đến 1,5 lần so với trước Nhiều mô hìnhh kinh tế mới đã và đang được hình thành và từng bước được nhân rộng Tất cả các thôn xóm đều đã có điện lưới quốc gia phục vụ sản xuất và sinh hoạt

Hệ thống trường học, Trạm y tế, Nhà văn hóa được xây dựng mới khang trang, phục

vụ ngày càng tốt hơn đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, phần lớn các hộ gia đình đều đã có xe gắn máy và nhiều phương tiện đắt tiền khác; 80% số hộ có nhà mái bằng Bên cạnh đó, văn hóa giáo dục ngày một phát triển, trình độ dân trí không ngừng được nâng cao Nếu trong thời Pháp thuộc, xã Trung Mầu số người biết chữ chỉ đếm được trên đầu ngón tay, thì nay xã đã đủ điều kiện để được công nhận hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở Các trường đang trong quá trình xây dựng trường chuẩn Quốc gia, xã có hàng trăm người có trình độ đại học, một người có học vị tiến sĩ Năm 2000, Trung Mầu vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” thời kỳ chống Pháp Và có lẽ ít có nơi nào như Trung Mầu được Nhà nước tặng bằng “Làng có công với nước” và cũng ít có xã nào

18 gia đình được công nhận “Gia đình có công với nước” như Trung Mầu, toàn xã có

9 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 126 liệt sĩ, thương bệnh binh trong các cuộc kháng chiến

1.2.2.3 Xã Dương Hà

Xã Dương Hà nằm ở bờ bắc sông Đuống, phía đông giáp với xã Phù Đổng, phía đông nam là dòng sông Đuống, phía tây bắc giáp xã Đình Xuyên và xã Yên Viên Xã Dương Hà ngày nay có 3 thôn là thôn Thượng, thôn Trung và thôn Hạ với tổng diện tích tự nhiên 267,42 ha, trong đó đất ở là 28,8ha, đất canh tác nông ngiệp là 155,1ha Toàn xã hiện có 5900 nhân khẩu với 1590 hộ gia đình, trong thôn Hạ có 17/60 hộ theo đạo Thiên chúa giáo Trên địa bàn xã có 3 thôn thì cả 3 thôn đều có đình, chùa và miếu được xây dựng từ lâu đời để thờ Đại Vương Thiên Thần và thành Hoành làng Hà Uyên- một vị tướng có công phò tá giúp Hai Bà Trưng đánh dduoir giặc phương Bắc Hiện các đình và chùa của 3 thôn trong xã đều đã được xếp hạng là di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật được nhà nước đầu tư tổng kinh phí hang chục tỷ đồng để tôn tạo,

Trang 31

tu bổ thành các điểm sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng cộng đồng kết hợp du lịch danh thắng của Thủ đô

Trong các cuộc đấu tranh chống Pháp, chống Mỹ và bảo vệ Tổ quốc, xã Dương Hà đã đóng góp hàng trăm tấn lương thực, thực phẩm, đã có hàng trăm thanh niên trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu Toàn xã có 1 gia đình được công nhận là gia đình có công giúp đỡ cách mạng, 4 mẹ Việt Nam anh hung, 70 liệt sỹ, 22 thương binh và có 35 chiến sỹ bị địch bắt, tù đày

Nằm ven sông, có diện tích đất canh tác cả trong đồng và ngoài bãi nên từ ngàn xưa đến nay, Dương Hà vẫn duy trì nghề nông với cây trồng chủ lực là lúa và ngô Trước đây người dân còn thuê thêm đất của các vùng lân cận để trồng mía kéo mật và trồng dâu nuôi tằm, kéo tơ dệt lụa

Cùng với sự phát triển của đất nước trong thời kỳ đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng

bộ, sự quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi của chính quyền và sự hỗ trợ tích cực từ các đoàn thể, nhân dân xã Dương Hà đã phát huy có hiệu quả lợi thế của xã ven thị đẩy mạnh phát triển kinh tế theo hướng: giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng nhanh

tỷ trọng Thương mại- Dịch vụ- Xây dựng cơ bản Xã khuyến khích và tạo nhiều cơ hội tốt để các thôn duy trì nghề truyền thống và các nghề mới Hiện tại, thôn Trung tiếp tục duy trì nghề nấu rượu, nuôi lợn Thôn Hạ phát triển nghề chế thuốc nam, nghề sản xuất chậu hoa và làm cây cảnh Thôn thượng phát triển các loại hình dịch vụ, buôn bán đường dài

Hiện tại trên địa bàn xã đã có hàng chục hộ có xưởng may gia công, sản xuất chậu cây cảnh, sản xuất gạch bê tông, bóc gỗ, sơ chế thuốc nam, chăn nuôi quy mô vừa…tạo việc làm thường xuyên và thu nhập cho hàng trăm lao động nông thôn Ngoài ra

xã còn khai thác triệt để lợi thế xã ven đê có đồng cỏ tự nhiên để phát triển chăn nuôi

bò sữa Tuy nhiên để đảm bảo sự phát triển bền vững trong xu thế đất nông nghiệp ngày một thu hẹp, xã Dương Hà đã lập quy hoach sử dụng toàn bộ đất bãi ven sông vào việc quy hoạch vùng chăn nuôi và phát triển các ngành nghề truyền thống

Tuy là xã thực hiện đề án xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2, nhưng ngay từ năm

Trang 32

việc bê tông hóa giao thông hóa nội đồng, đã xây dựng 3 nhà văn hóa, trường tiểu học, trạm y tế đạt chuẩn Các thôn đều có thư viện và thủ thư phục vụ tốt nhu cầu đọc sách hằng ngày của các tầng lớp nhân dân Sự nghiệp giáo dục, y tế, dân số ở Dương Hà phát triển toàn diện, nhiều năm là điểm sáng dẫn đầu toàn huyện

1.2.3.Phương hướng phát triển kinh tế xã hội trong vùng

- Phương hướng chung về phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn của vùng là:

- Khuyến khích và tạo nhiều cơ hội tốt để các thôn duy trì nghề truyền thống và phát triển các nghề mới

- Tiếp tục củng cố quan hệ sản xuất, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông nghiệp và nông thôn như điện, đường, trường, trạm và các cơ sở hạ tầng kỹ thuật khác, Thực hiện tốt các chính sách xã hội, từng bước cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân

- Tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng: giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng nhanh tỷ trọng Thương mại – Dịch vụ

- Từng bước cải tạo, nâng cấp các công trình trọng điểm chống úng, trong đó có hệ thống tiêu 3 trạm bơm Dương Hà – Phù Đổng – Thịnh Liên

Trang 33

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG TIÊU NƯỚC VÀ XÂY DỰNG CÁC KỊCH BẢN

2.1 HIỆN TRẠNG CÁC CÔNG TRÌNH TIÊU NƯỚC

Hình 2.1 Bản đồ khu vực hệ thống 3 trạm bơm tiêu Dương Hà – Phù Đổng – Thịnh

Liên

2.1.1 Khu đầu mối (03 trạm bơm)

2.1.1.1.Trạm bơm Phù Đổng

* Trạm bơm hiện tại:

Trạm bơm xây dựng năm 1974, gồm 25 máy bơm loại 12LTX40 Đến nay, trải qua 39 năm khai thác sử dụng, công trình đã xuống cấp toàn bộ, từ máy móc đến nhà trạm, công trình nối tiếp,…

Trang 34

Hình 2.2: Chính diện đầu hồi phải nhà máy bơm

Về công trình thủy công: Sàn nhà máy bị nứt, vỡ; tường nhà bị bong tróc vữa trát và rêu mọc nhiều, trần nhà có nhiều điểm rạn nứt gây rò rỉ nước; không có hệ thống thoát nước mái nên khi mưa nước chảy tràn trên toàn mái; các cửa sổ đã xuống cấp, một số

đã được sửa chữa nhưng chỉ chấp vá nhằm tránh nước mưa; Cửa chính đã hư hỏng từ lâu và được thay thế bằng cửa lưới sắt, cửa này chỉ có tác dụng ngăn không có người

ra vào chứ không chặn được mưa gió Mái bể hút sụt sạt nhiều, lắng đọng bùn, rác Bể

xả đã xuất hiện những dấu hiệu xuống cấp gây mất an toàn cho đê Nhìn chung phần công trình thủy công đã xuống cấp nghiêm trọng, có thể nói đây là trạm bơm cũ nát nhất thành phố Hà Nội hiện nay

Trang 35

Hình 2.3: Bên trong nhà máy bơm

Về thiết bị cơ khí: Động cơ của máy bơm đã hoen rỉ vỏ, nắp đậy của các đầu nối điện vào hầu hết đã mất do hư hỏng; động cơ đặt trong môi trường ẩm thấp nhiều năm nên hiện tượng rò điện xảy ra thường xuyên khiến công nhân vận hành phải đi ủng, phải gác thang tre trên các ông để đi lại tránh điện giật Máy bơm đã xuống cấp ở hầu hết các bộ phận từ ổ trụ, cánh quạt, đường ống…khiến hiệu suất máy bơm hiện tại chỉ khoảng 50% Rò rỉ nước từ các mặt bích xảy ra nhiều khiến nhà trạm luôn ướt khi vận hành, mồi nước gặp rất nhiều khó khăn Do ổ trục bị mòn làm tăng rung lắc, tiếng ồn khi máy bơm hoạt động, lượng hao phí dầu mỡ bôi trơn lớn

Về điện: Điện chiếu sáng trong nhà máy cũ nát, công tắc hư hỏng, bóng đèn cháy, bóng đèn chập chờn nên mặc dù ban ngày nhưng trong nhà trạm luôn tối, để đảm bảo

an toàn cho công nhân vận hành thì mỗi công nhân phải tự sắm cho mình một chiếc đèn pin riêng để đi vào nhà máy khi cần Trạm biến áp được lắp đặt cùng thời điểm xây dựng trạm bơm mà chưa được thay thế nên dòng điện không được ổn định Việc khởi động với máy bơm động cơ nhỏ nhưng rất vất vả và không an toàn do toàn bộ các thiết bị đã xuống cấp, thường xuyên đặt trong môi trường ẩm thấp, côn trùng cắt đứt

Trang 36

dây thường xuyên, rò điện ra vỏ cũng thường xuyên, biện pháp khởi động trực tiếp yêu cầu dòng điện lớn nên khi đóng cầu dao tạo ra tia lửa điện Công nhân vận hành phải đeo gang tay cao su cách điện khi khởi động và khi kiểm tra trước khi khởi động Toàn

bộ hệ thống điện đã xuống cấp nghiêm trọng gây mất an toàn cho công nhân, tiềm ẩn các nguy cơ liên quan đến điện Trong thời gian này công nhân vẫn phải vận hành máy bơm trong lo âu và sợ hãi với các mối nguy hiểm từ điện có thể đến bất cứ lúc nào Hiện tại, khi yêu cầu tiêu căng thẳng thì trạm bơm có thể huy động tối đa … máy làm nhiệm vụ, nhưng lưu lượng bơm thực tế chỉ còn khoảng 50~70% so với lưu lượng thiết

kế của máy bơm

Trang 37

cửa ra vào hư hỏng bản lề, cong vênh mọng mạng… Gạch lát nền nhà đã bong nhiều,

vỡ nhiều khiến nước thấm ngược từ dưới nền gây ẩm ướt, đặc biệt khi mưa, khi thời tiết nồm Cấp điện cho nhà quản lý cũng phải thay sửa lặt vặt thường xuyên với mục đích cố gắng duy trì Cấp nước cho công nhân vận hành rất khó khăn, hiện tại vẫn phải

sử dụng trực tiếp nước giếng khoan…

Về sân: Sân nhà quản lý được láng vữa vôi cát nên đã bong, vỡ hết, riêng trước nhà quản lý có láng lại một chút vữa xi măng nhưng đã nứt nẻ chân chim từ lâu do chỉ láng một lớp mỏng mà không xử lý nền cũng như chưa đủ độ dày, cường độ

Tường rào xây gạch chỉ vữa vôi cát đã bong tróc vữa trác, đổ vỡ và xây lại nhiều đoạn, tường thấp không chống được trộm

Dốc lên xuống khu đầu mối được xây bậc bằng gach chỉ, không trát nên đã rời ra thành từng tảng, từng viên

Từ thực trạng trên khẳng định rằng hệ thống tiêu trạm bơm Phù Đổng hiện nay không đáp ứng được nhu cầu hiện tại, riêng trạm bơm đầu mối là một trong số các trạm bơm cũ nát và xuống cấp nhất của Xí nghiệp ĐTPT thủy lợi Gia Lâm, Hà nội gây rất nhiều khó khăn cho công tác tiêu úng và phòng chống lụt bão của Xí nghiệp trên địa bàn Lưu lượng tiêu bơm thực tế hiện nay chỉ đạt khoảng 60% so với lưu lượng thiết kế do vậy thường phải kéo dài thời gian bơm

Hiện nay, thành phố Hà Nội đã phê duyệt hồ sơ thiết kế xây dựng mới trạm bơm Phù Đổng với công suất lắp đặt 4 máy bơm loại 8000 m3/h, hệ thống kênh và công trình trên kênh cũng được cải tạo, nâng cấp cho đồng bộ Công trình được khởi công từ 12/2018 đến 2020 là hoàn thành

* Trạm bơm đang xây dựng (đưa vào vận hành năm 2020):

Theo quyết định số 5999/QĐ – UBND ngày 31/10/2016 của UBND thành phố Hà Nội

về phê duyệt thiết kế và dự toán xây dựng công trình: Cải tạo, nâng cấp hệ thống tiêu trạm bơm Phù Đổng Trạm bơm dự kiến đưa vào sử dụng năm 2020 Nội dung của dự

án như sau:

Trang 38

- Xây dựng nhà máy bơm lắp đặt 4 máy bơm trục đứng 1 sàn loại 8.000 m3/h gồm có các hạng mục: Nhà máy, bể hút, bể xả, kênh xả

- Lắp đặt hệ thống điện cho vận hành, quản lý và sinh hoạt

- Xây dựng trạm biến áp mới cấp điện cho nhà máy, quản lý và sinh hoạt

- Xây dựng nhà quản lý bao gồm nhà ở, công trình phụ trợ và tường rào bảo vệ toàn bộ khu nhà máy và nhà quản lý

- Nạo vét 1467m và kè mái 239 m kênh chính

- Nạo vét 4 kênh tiêu nhánh cấp 1: Tào khê, Đổng Viên, Giao Thông và Kênh 7 xã tổng chiều dài là 6 028m

- Nâng cấp 20 công trình trên kênh

2.1.1.2.Trạm bơm Thịnh Liên

Hình 2.5: Trạm bơm Thịnh Liên

Trang 39

* Trạm bơm: Trạm bơm xây dựng năm 1994, gồm 9 máy bơm Hải Dương hướng trục trục đứng HTD2300 Đến nay, trải qua 19 năm khai thác sử dụng, công trình đã xuống cấp toàn bộ, từ máy móc đến nhà trạm, công trình nối tiếp…

Nhà máy bơm sau 19 năm đưa vào vận hành đã xuống cấp, trần và trụ pin có nhiều rêu mọc và xuất hiện vết nứt nhỏ Đặc biệt là bể tháo rạn nứt, phần bê tông quanh ống đẩy rạn nứt khiến cho nước từ bể tháo chảy vào bể hút

Về thiết bị cơ khí: Động cơ của máy bơm đã hoen rỉ vỏ, nắp đậy của các đầu nối điện vào hầu hết đã mất do hư hỏng Động cơ đặt trong môi trường ẩm thấp nhiều năm nên hiện tượng rò rỉ điện xảy ra thường xuyên khiến công nhân vận hành phải đi ủng, phải gác thang tre trên các ống để đi lại tránh điện giật Rò rỉ nước từ các mặt bên xảy ra nhiều khiến nhà trạm luôn ướt khi vận hành, mồi nước gặp nhiều khó khăn Do ổ trục pin bị mòn làm tăng rung lắc, tiếng ồn khi máy bơm hoạt động, lượng hao phí dầu mỡ bôi trơn lớn

Về điện: Điện chiếu sáng trong nhà máy cũ nát, công tắc hư hỏng, bóng đèn cháy, bóng đèn chập chờn nên mặc dù ban ngày nhưng trong nhà trạm luôn tối, để đảm bảo

an toàn cho công nhân vận hành thì mỗi công nhân phải tự sắm cho mình một chiếc đèn pin riêng để đi vào nhà máy khi cần Trạm biến áp được lắp đặt cùng thời điểm xây dựng trạm bơm mà chưa được thay thế nên dòng điện không được ổn định Việc khởi động với máy bơm động cơ nhỏ cũng rất vất vả, không an toàn do toàn bộ các thiết bị đã xuống cấp, thường xuyên đặt trong môi trường ẩm thấp, côn trùng cắn đứt dây, rò điện ra vỏ thường xuyên, biện pháp khởi động trực tiếp yêu cầu dòng điện lớn nên khi đóng cầu dao tạo nên tia lửa điện Công nhân vận hành phải đeo găng tay cao

su cách điện khi khởi động và kiểm tra trước khi khởi động Toàn bộ hệ thống điện đã xuống cấp nghiêm trọng gây mất an toàn cho công nhân , tiềm ẩn các nguy cơ liên quan đến điện

Trang 40

Hình 2.6: Hình ảnh trong nhà trạm

Các thông số cơ bản của trạm bơm:

+ Diện tích tiêu: 800ha/lưu vực

+ Diện tích tưới: 400ha/vụ

Ngày đăng: 06/05/2020, 21:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w