Các kết quả đạt được là những đóng góp nhỏ về mặt khoa học trong quá trình nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng các dự án
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
TỐNG HỮU TRUNG
QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH CÁC DỰ ÁN NHÀ Ở XÃ HỘI
CỦA CÔNG TY ĐỊA ỐC HOÀNG QUÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
TỐNG HỮU TRUNG
QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH CÁC DỰ ÁN NHÀ Ở XÃ HỘI
CỦA CÔNG TY ĐỊA ỐC HOÀNG QUÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ XÂY DỰNG
MÃ SỐ: 1581580302266
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS ĐINH TUẤN HẢI
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc đến quý thầy cô giảng dạy chuyên ngành Quản lý xây dựng, bộ môn Công nghệ và Quản lý xây dựng, Trường Đại học Thủy lợi đã tận tình giảng dạy và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại Trường
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến người thầy, PGS.TS Đinh Tuấn Hải,
đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, tư vấn và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này Kiến thức chuyên môn và sự tận tâm của thầy đối với học viên là một chuẩn mực mà tôi luôn ngưỡng mộ
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả những anh, chị đi trước, các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ, hỗ trợ tôi có được những thông tin, dự liệu để hoàn thành luận văn này
Các kết quả đạt được là những đóng góp nhỏ về mặt khoa học trong quá trình nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng các dự án nhà ở xã hội của Công ty Hoàng Quân trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn, do điều kiện thời gian
và khả năng nghiên cứu có hạn nên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những lời đóng góp của các thầy, cô, các anh, chị đi trước và các bạn đồng nghiệp
Nhân đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình tôi, tập thể lớp Cao học 23QLXD11-CS2 đã động viên và khích lệ tinh thần để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Học viên
Tống Hữu Trung
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện với sự hướng dẫn của PGS.TS Đinh Tuấn Hải Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Các nội dung nghiên cứu và kết quả đề tài là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
cứ công trình nghiên cứu nào trước đây
TP.Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2019
Học viên
Tống Hữu Trung
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Giới thiệu chung 1
2 Mục đích của đề tài 1
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Thực tiễn của đề tài 2
4 Đối tượng nghiên cứu 2
5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 2
6 Kết quả dự kiến đạt được 2
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG DÂN DỤNG 3
1.1 Dự án đầu tư xây dựng công trình 3
1.1.1 Khái niệm về Dự án 3
1.1.2 Công trình xây dựng 3
1.1.3 Công trình xây dựng dân dụng 4
1.1.4 Dự án đầu tư xây dựng công trình 4
1.2 Dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội 4
1.2.1 Khái niệm Nhà ở xã hội 4
1.2.2 Chủ đầu tư dự án Nhà ở xã hội 5
1.2.3 Đối tượng sử dụng Nhà ở xã hội 7
1.2.4 Đặc điểm Nhà ở xã hội 8
1.3 Chất lượng công trình xây dựng 10
1.3.1 Khái niệm về chất lượng 10
1.3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng 11
1.3.3 Chất lượng công trình xây dựng 12
1.4 Quản lý chất lượng công trình xây dựng 12
1.4.1 Khái niệm về quản lý 12
1.4.2 Khái niệm về quản lý chất lượng 13
1.4.3 Quản lý chất lượng công trình xây dựng 14
1.4.4 Hệ thống quản lý chất lượng công trình xây dựng 15
1.4.5 Công tác quản lý chất lượng công trình trên thế giới và Việt Nam 22
Trang 61.5 Quá trình hình thành và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình xây
dựng 26
1.5.1 Đặc điểm của sản phẩm xây dựng ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm 26
1.5.2 Quá trình hình thành chất lượng công trình xây dựng 27
1.5.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình xây dựng 28
1.6 Các phương pháp đánh giá chất lượng công trình 33
1.6.1 Đánh giá chất lượng vật tư, vật liệu, cấu kiện, sản phẩm xây dựng 33
1.6.2 Đánh giá mức độ nguy hiểm của cấu kiện 37
1.7 Kết luận Chương 1 42
CHƯƠNG 2 – CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH CỦA CHỦ ĐẦU TƯ CÁC DỰ ÁN XÂY DỰNG NHÀ Ở XÃ HỘI 43
2.1 Cơ sở pháp lý về quản lý chất lượng công trình 43
2.1.1 Luật Xây dựng 43
2.1.2 Nghị định về quản lý chất lượng công trình xây dựng 44
2.2 Công tác quản lý chất lượng xây dựng công trình các dự án Nhà ở xã hội 47
2.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất lượng công trình Nhà ở xã hội 47
2.2.2 Các công cụ quản lý chất lượng xây dựng của các công trình nhà ở xã hội 50
2.3 Xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng Nhà ở xã hội 57
2.3.1 Sự cần thiết xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng Nhà ở xã hội 57
2.3.2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng giải pháp nhà ở xã hội 57
2.4 Kinh nghiệm quản lý chất lượng nhà ở xã hội ở một số nước trên thế giới 62
2.4.1 Hình mẫu Thụy Điển 62
2.4.2 Kinh nghiệm Singapore 62
2.4.3 Kinh nghiệm quản lý chất lượng nhà ở xã hội ở Hàn Quốc, Nhật Bản 63
2.4.4 Kinh nghiệm quản lý chất lượng nhà ở xã hội ở Trung Quốc 63
2.4.5 Nhà ở xã hội của Pháp 63
2.5 Kết luận Chương 2 64
CHƯƠNG 3 – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH CÁC DỰ ÁN NHÀ Ở XÃ HỘI DO CÔNG TY ĐỊA ỐC HOÀNG QUÂN LÀM CHỦ ĐẦU TƯ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 65
3.1 Thực trạng công tác quản lý chất lượng công trình các dự án nhà ở xã hội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 65
3.1.1 Tổng quan về các dự án xây dựng nhà ở xã hội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn từ năm 2011 - 2015 65
Trang 73.1.2 Tổng quan về các dự án xây dựng nhà ở xã hội trên địa bàn thành phố Hồ
Chí Minh giai đoạn từ năm 2016 - 2020 69
3.1.3 Thực trạng chất lượng xây dựng công trình tại các dự án nhà ở xã hội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn từ năm 2010 đến nay 74
3.2 Công tác quản lý chất lượng công trình các dự án nhà ở xã hội do Công ty Địa ốc Hoàng Quân làm chủ đầu tư trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 75
3.2.1 Thực trạng trong công tác quản lý chất lượng công trình tại các dự án 75
3.2.2 Các nguyên nhân gây nên tình trạng quản lý kém chất lượng các dự án xây dựng nhà ở xã hội do Công ty Địa ốc Hoàng Quân làm chủ đầu tư trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 80
3.3 Các giải pháp giúp Công ty Địa ốc Hoàng Quân tăng cường công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng Nhà ở xã hội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 85 3.3.1 Giải pháp đối với Ban quản lý dự án của Chủ đầu tư 85
3.3.2 Tăng cường công tác quản lý chất lượng theo từng giai đoạn của dự án 86
3.3.3 Tăng cường vai trò của đơn vị tư vấn giám sát 90
3.3.4 Tăng cường công tác giám sát tác giả của đơn vị tư vấn thiết kế 91
3.3.5 Tăng cường trách nhiệm của nhà thầu thi công 92
3.4 Kết luận Chương 3 93
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 97
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Các yếu tố đảm bảo chất lượng 17
Hình 1.2 Mô hình đảm bảo chất lượng - QA 18
Hình 1.3 Mô hình kiểm soát chất lượng toàn diện - TQC 22
Hình 2.1 - Các ký hiệu của lưu đồ 52
Hình 2.2 - Sơ đồ tiến độ để vẽ một lưu đồ 53
Hình 2.3 - Lưu đồ quá trình đổ bê tông 54
Hình 2.4 - Sơ đồ lập biểu đồ nhân quả Tìm kiếm nguyên nhân gây kém chất lượng trong công tác đổ bê tông sàn 56
Hình 2.5 - Kết quả khảo sát các tiêu chí ảnh ảnh hưởng đến chất lượng nhà ở xã hội trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh 61
Hình 3.1 - Sơ đồ quản lý chất lượng xây dựng công trình tại các dự án của Công ty Hoàng Quân 80
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 1.1 - Tiêu chuẩn thí nghiệm, đánh giá các loại vật liệu xây dựng 34
Bảng 2.1 - Các tiêu chí đánh giá chất lượng giải pháp xây dựng nhà ở xã hội 58
Bảng 2.2 - Mức độ ảnh hưởng của các tiêu chí đánh giá chất lượng giải pháp 61
xây dựng nhà ở xã hội tại một số dự án TP.Hồ Chí Minh 61
Bảng 3.1 - Danh sách các dự án nhà ở xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh 66
giai đoạn 2011-2015 66
Bảng 3.2 - Danh sách các dự án chuyển đổi từ nhà ở thương mại sang nhà ở xã hội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh tháng 5/2013 68
Bảng 3.3 - Danh sách các dự án nhà ở xã hội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2016 đến nay 70
Bảng 3.4 - Các dự án NOXH của Công ty Hoàng Quân đã khởi công xây dựng từ năm 2013 đến nay 76
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Giới thiệu chung
Trong giai đoạn hiện nay nền kinh tế nước ta vẫn trong giai đoạn khủng hoảng đặc biệt là tình trạng đóng băng bất động sản, nhiều doanh nghiệp do không bán được sản phẩm đã dẫn tới việc tuyên bố phá sản
Để tìm giải pháp, nhiều doanh nghiệp đã hướng tới đầu tư xây dựng nhà ở xã hội như một giải pháp mới hiện nay, hướng tới nhu cầu thực của người dân Tuy nhiên, để
có được các dự án đó thì các doanh nghiệp phải tính tới việc giảm chi phí xây dựng tới mức tối đa bằng nhiều cách khác nhau, như: chia nhỏ diện tích sử dụng, thay đổi công nghệ, thay đổi vật liệu, đẩy nhanh tiến độ xây dựng Chính mong muốn giảm tối thiểu chi phí xây dựng và tăng nhanh quay vòng sản phẩm sẽ dẫn tới những yêu cầu của doanh nghiệp về quản lý chất lượng bị giảm, làm ảnh hưởng tới chất lượng của các dự
án
Công ty Địa ốc Hoàng Quân là một doanh nghiệp đi đầu trong công tác đầu tư xây dựng các dự án nhà ở xã hội, nhà ở thương mại giá rẻ nhằm đáp ứng nhu cầu về nhà ở cho người dân trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, cũng như nhiều doanh nghiệp đầu tư xây dựng các dự án nhà ở xã hội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, công tác quản lý chất lượng xây dựng công trình các dự án nhà ở xã hội của Công ty Hoàng Quân chưa thật sự được quan tâm đúng mức
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Quản lý chất lượng công trình các Dự án Nhà ở
xã hội của Công ty Địa ốc Hoàng Quân trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh" là rất cần thiết trong công tác xây dựng hiện nay
2 Mục đích của đề tài
Dựa trên hệ thống cơ sở lý luận về công tác quản chất lượng công trình xây dựng
và phân tích các tồn tại, vướng mắc về chất lượng của chủ đầu tư các dự án xây dựng nhà ở xã hội, từ đó tác giả nghiên cứu đưa ra các giải pháp thiết thực giúp tăng cường công tác quản lý chất lượng xây dựng các dự án nhà ở xã hội do Công ty Địa ốc Hoàng Quân làm chủ đầu tư trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Trang 103 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu tổng quan các văn bản, quy phạm pháp luật của nhà nước về quản lý chất lượng công trình xây dựng, các tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy trình, công cụ, các lý thuyết về quản lý chất lượng và các chỉ tiêu đo lường chất lượng Từ đó tìm ra được vấn đề và giải pháp nhằm nâng cao quản lý chất lượng một cách hiệu quả
3.2 Thực tiễn của đề tài
Dựa trên tình hình thực tế đầu tư xây dựng các dự án nhà ở xã hội do Công ty Địa ốc Hoàng Quân làm chủ đầu tư trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đánh gia tổng quan về nhà ở xã hội, tìm hiểu thực trạng quy trình quản lý chất lượng các dự
án, những mặt tích cực, tiêu cực và các tồn tại bất cập ảnh hưởng tới chất lượng dự án
Từ đó tìm các giải pháp phù hợp nhằm giảm thiểu các tồn tại bất cập đó, đem lại hiệu quả cao cho công tác quản lý chất lượng xây dựng công trình các dự án nhà ở xã hội
do Công ty địa ốc Hoàng Quân làm chủ đầu tư trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: “Các Dự án đầu tư xây dựng Nhà ở xã hội do Công ty Địa
ốc Hoàng Quân làm chủ đầu tư trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”
5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
- Dựa trên các văn bản, quy phạm pháp luật của nhà nước về quản lý chất lượng công trình xây dựng (Luật Xây dựng số 50/2014/QH13, Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng…), các tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy trình, công cụ, các lý thuyết về quản lý chất lượng và các chỉ tiêu đo lường chất lượng
- Sử dụng phương pháp phân tích, thống kê, so sánh nhằm tiếp cận giải quyết vấn
đề, từ đó tìm ra các hạn chế, bất cập và đưa ra các giải pháp phù hợp
6 Kết quả dự kiến đạt được
Đưa ra giải pháp phù hợp nhằm giảm thiểu các tồn tại bất cập, đem lại hiệu quả cao cho công tác quản lý chất lượng xây dựng công trình các dự án nhà ở xã hội do Công ty Địa ốc Hoàng Quân làm chủ đầu tư trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Trang 11CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG DÂN DỤNG
1.1 Dự án đầu tư xây dựng công trình
1.1.1 Khái niệm về Dự án
- Theo Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN ISO 9000:2000), khái niệm về Dự án được hiểu như sau: “Dự án là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và được kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được một mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực”
- Theo Viện Quản lý dự án (Project Mangerment Institue - PMI) Hoa Kỳ: “Dự án
là sự nỗ lực tạm thời được thực hiện để tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất” [1]
- Theo PGS.TS Đinh Tuấn Hải: “Dự án là một sự tích lũy các cố gắng mà trong
đó thì sức lao động, vật liệu, máy móc và các nguồn lực tài chính được tổ chức hợp lý
để thực hiện một khối lượng công việc nhất định theo quy định trong yêu cầu kỹ thuật
từ trước, với sự hạn chế về thời gian và chi phí, nhưng vẫn phải đạt được sự hoàn thiện
tổng thể với các mục tiêu định tính và định lượng” [2]
Như vậy, dù có nhiều cách hiểu khác nhau về Dự án, nhưng chúng ta có thể rút ra được một số đặc điểm chung về Dự án như sau:
- Các Dự án đều được thực hiện bởi con người;
- Dự án phải nhằm đạt được một số mục tiêu nhất định;
- Được hoạch định, được thực hiện và được kiểm soát
1.1.2 Công trình xây dựng
Theo Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014: “Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế Công trình xây dựng bao gồm: Công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình
khác” [3]
Trang 121.1.3 Công trình xây dựng dân dụng
Theo QCVN 03:2012/BXD - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nguyên tắc phân loại, phân cấp công trình dân dụng, công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật đô thị: “Công trình dân dụng là công trình xây dựng bao gồm các loại nhà ở và công trình công
cộng” [4]
Trong đó, theo quy định tại Nghị định 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015, Công dân dụng bao gồm:
- Nhà ở bao gồm Nhà ở riêng lẻ và Nhà chung cư;
- Công trình công cộng bao gồm: Công trình giáo dục; Công trình y tế; Công trình thể thao; Công trình văn hóa; Công trình tôn giáo, tín ngưỡng; Công trình thương
mại, dịch vụ và trụ sở làm việc; Nhà ga; Trụ sở cơ quan nhà nước [5]
1.1.4 Dự án đầu tư xây dựng công trình
Theo Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014: “Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả
thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng” [3]
1.2 Dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội
1.2.1 Khái niệm Nhà ở xã hội
Khái niệm “Nhà ở xã hội” bắt đầu xuất hiện từ các nước Anh, Mỹ, Canada vào những năm 1970 và dần dần lan rộng ra các nước khác như Nhật Bản, Hàn Quốc Tại
đó, Nhà ở xã hội được hiểu là một loại nhà cung cấp cho những người không có thu nhập, hoặc có nhưng không đáng kể Họ là những người không thể nào và không bao giờ tự kiếm mình kiếm được một chỗ ở Những người này thường là người vô gia cư, người già đơn thân, người tật nguyền, người đau yếu không nơi nương tựa, những người sau khi mãn hạn tù nhưng không còn sức lao động Loại nhà này trong nhiều trường hợp được gọi là nhà từ thiện, và đa phần là của nhà nước, ngoài ra còn có các hiệp hội nhà ở, các tổ chức từ thiện tham gia từng phần để duy trì cuộc sống của những người sống trong nhà xã hội Tùy từng hoàn cảnh cụ thể mà người đăng ký ở nhà xã
Trang 13hội có người có thể được miễn phí hoàn toàn hoặc cho thuê với giá thấp Phần tiền thuê này thường được các tổ chức từ thiện như nhà thờ, tổ chức phi chính phủ, các mạnh thường quân chi trả qua các quỹ mà không chi trả trực tiếp cho người sử dụng vì
sợ họ tiêu phung phí
Theo từ điển mở Wikipedia, Nhà ở xã hội là một loại hình nhà ở thuộc sở hữu của cơ quan nhà nước (có thể trung ương hoặc địa phương) hoặc các loại hình nhà được sở hữu và quản lý bởi nhà nước, các tổ chức phi lợi nhuận được xây dựng với mục đích cung cấp nhà ở giá rẻ cho một số đối tượng được ưu tiên trong xã hội như công chức của nhà nước chưa có nhà ở ổn định, người có thu nhập thấp và được cho thuê hoặc cho ở với giá rẻ so với giá thị trường
Có thể hiểu Nhà ở xã hội là nhà ở do Nhà nước hoặc các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng trên cơ sở nhu cầu thuê và thuê mua thực tế trên thị trường của các đối tượng có thu nhập thấp và sinh sống trên địa bàn phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương
Tại Việt Nam, khái niệm Nhà ở xã hội đã được nhắc đến nhiều trong thời gian gần đây Theo TS Ngô Lê Minh với bài viết Nhà ở xã hội – Từ kinh nghiệm thực tế ở Thượng Hải đến Việt Nam đăng trên Tạp chí Kiến trúc – Hội Kiến trúc sư Việt Nam,
tháng 5/2013 định nghĩa: “Nhà ở xã hội là loại nhà ở dành cho những gia đình nghèo,
có thu nhập trung bình thấp, được thuê hoặc mua với giá ưu đãi, người mua phải đáp ứng một số điều kiện đặc thù do chính qu yền thành phố quy định, tuân theo các quy định và pháp luật của Nhà nước” [9]
Theo Khoản 7 Điều 3 Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 ngày 25/11/2014: “Nhà ở xã hội là nhà ở có sự hỗ trợ của Nhà nước cho các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở số 65/2014/QH13” [10]
1.2.2 Chủ đầu tư dự án Nhà ở xã hội
1.2.2.1 Khái niệm về Chủ đầu tư xây dựng công trình
Theo Khoản 9 Điều 3 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014: “Chủ đầu tư xây dựng là cơ quan, tổ chức, cá nhân sở hữu vốn, vay vốn hoặc được giao trực tiếp quản lý, sử dụng vốn để thực hiện hoạt động đầu tư xây dựng”
Trang 141.2.2.2 Chủ đầu tư dự án Nhà ở xã hội
Theo Điều 57 Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 ngày 25/11/2014, Chủ đầu tư dự án xây dựng Nhà ở xã hội bao gồm:
a) Đối với Nhà ở xã hội được đầu tư bằng nguồn vốn hoặc hình thức quy định tại khoản 1 Điều 53 của Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 thì Bộ Xây dựng nếu là nguồn vốn đầu tư của trung ương hoặc cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh nếu là nguồn vốn đầu tư của địa phương báo cáo người có thẩm quyền quyết định đầu tư quyết định lựa chọn chủ đầu tư
b) Đối với Nhà ở xã hội được đầu tư không phải bằng nguồn vốn hoặc hình thức quy định tại khoản 1 Điều 53 của Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 thì cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện lựa chọn chủ đầu tư theo quy định như sau:
- Trường hợp Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất để xây dựng Nhà ở xã hội thì thực hiện lựa chọn chủ đầu tư thông qua hình thức đấu thầu nếu có từ hai nhà đầu tư trở lên đăng ký làm chủ đầu tư hoặc chỉ định chủ đầu tư nếu chỉ có một nhà đầu tư đăng ký làm chủ đầu tư;
- Trường hợp phải dành quỹ đất trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại
để xây dựng Nhà ở xã hội theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 thì giao chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở thương mại có trách nhiệm trực tiếp đầu tư xây dựng Nhà ở xã hội, trừ trường hợp Nhà nước sử dụng diện tích đất này để giao cho tổ chức khác thực hiện đầu tư xây dựng Nhà ở xã hội;
- Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã có quyền sử dụng đất hợp pháp, phù hợp với quy hoạch xây dựng nhà ở, có đủ điều kiện làm chủ đầu tư và có nhu cầu xây dựng Nhà ở xã hội thì doanh nghiệp, hợp tác xã đó được giao làm chủ đầu tư dự án xây dựng Nhà ở xã hội;
- Trường hợp xây dựng Nhà ở xã hội để bố trí cho người lao động làm việc trong khu công nghiệp ở thì doanh nghiệp kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp hoặc doanh nghiệp sản xuất trong khu công nghiệp hoặc doanh nghiệp có chức năng kinh doanh bất động sản được Nhà nước giao làm chủ đầu tư dự án
Trang 15c) Đối với hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu đầu tư xây dựng Nhà ở xã hội trên diện tích đất ở hợp pháp của mình thì hộ gia đình, cá nhân đó thực hiện việc đầu tư xây
dựng Nhà ở xã hội [10]
1.2.3 Đối tượng sử dụng Nhà ở xã hội
Phát triển Nhà ở xã hội là chính sách quan trọng trong việc đảm bảo an sinh xã hội của nhà nước ta, đảm bảo quyền được có chỗ ở của mỗi công dân Không những vậy, việc cung ứng Nhà ở xã hội còn góp phần cân bằng lại cán cân cung cầu trong thị trường bất động sản (BĐS) hiện nay Theo Tổng hội Xây dựng Việt Nam, phát triển Nhà ở xã hội là cách hữu hiệu làm giảm suy thoái kinh tế, khi nền kinh tế suy giảm, ngành BĐS có thể đóng băng, các nhu cầu bị ngưng lại, chỉ nhu cầu nhà ở của người thu nhập thấp là luôn tồn tại, và nếu họ được tạo điều kiện thỏa đáng thì nhu cầu của
họ sẽ trở thành nguồn cầu to lớn cho thị trường BĐS Bên cạnh đó, Nhà ở xã hội là loại hình nhà ở phi hàng hóa được dành để bán, cho thuê, thuê mua sẽ nhằm đáp ứng cho đối tượng dân nghèo, không có điều kiện mua hoặc thuê nhà theo giá thị trường Phát triển được loại hình nhà ở phi hàng hóa là con đường gần nhất để đi đến mục tiêu mọi người dân đều có quyền có chỗ ở
Để đảm bảo tính khách quan, ưu việt của chính sách Nhà ở xã hội, việc khoanh vùng các đối tượng ưu tiên hưởng chính sách là vô cùng cần thiết Tại nhiều quốc gia, các đối tượng được ở Nhà ở xã hội phụ thuộc vào quy định riêng của mỗi nước, nhưng tựu trung lại thường là các viên chức nhà nước, người nghèo, người có thu nhập thấp Tuy phần nhiều trong số họ có thu nhập ổn định nhưng sau khi trang trải các nhu cầu cuộc sống thì chỉ dành dụm được chút ít, khó tích lũy đủ mua nhà hoặc thuê nhà hợp
- Hộ gia đình nghèo và cận nghèo tại khu vực nông thôn;
- Hộ gia đình tại khu vực nông thôn thuộc vùng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu;
- Người thu nhập thấp, hộ nghèo, cận nghèo tại khu vực đô thị;
Trang 16- Người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài khu công nghiệp;
- Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân và quân đội nhân dân;
- Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức;
- Các đối tượng đã trả lại nhà ở công vụ theo quy định tại khoản 5 Điều 81 của Luật này;
- Học sinh, sinh viên các học viện, trường đại học, cao đẳng, dạy nghề; học sinh trường dân tộc nội trú công lập được sử dụng nhà ở trong thời gian học tập;
- Hộ gia đình, cá nhân thuộc diện bị thu hồi đất và phải giải tỏa, phá dỡ nhà ở theo
quy định của pháp luật mà chưa được Nhà nước bồi thường bằng nhà ở, đất ở [10]
1.2.4 Đặc điểm Nhà ở xã hội
Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt, khẳng định quan điểm, mục tiêu chính trị của Đảng, Nhà nước là phát triển nhà ở cho người nghèo, thực hiện mục tiêu vì con người Phát triển nhà ở không chỉ theo cơ chế thị trường mà Nhà nước có trách nhiệm can thiệp hoặc hỗ trợ để người dân có nhà ở, đặc biệt là những đối tượng thu nhập thấp, không có điều kiện mua nhà theo cơ chế thị trường Như vậy, về bản chất, Nhà ở xã hội mang tính xã hội rất cao, có sự khác biệt rõ ràng so với nhà ở thương mại là nhà ở
do tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng để bán, cho thuê theo nhu cầu và cơ chế thị trường Nhà nước điều tiết việc cung ứng Nhà ở xã hội cũng nhằm mục đích giúp Nhà ở xã hội không chịu sự cạnh tranh về giá cả như nhà ở thương mại
Cụ thể, theo Luật nhà ở số 65/2014/QH13 ngày 25/11/2014 và Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý Nhà ở xã hội, Nhà ở xã hội có những đặc điểm như sau:
1.2.4.1 Về quy mô, số lượng
Nhà ở xã hội được xây dựng tùy thuộc nhu cầu thuê và thuê mua của các đối tượng sinh sống trên địa bàn, phù hợp điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương
Trang 17Theo đó, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm phê duyệt và công bố kế hoạch xây dựng, quy hoạch phát triển Nhà ở xã hội, xác định cụ thể loại nhà ở, nhu cầu về diện tích nhà
ở, cơ cấu căn hộ dành để cho thuê, cho thuê mua, cân đối cụ thể với các nguồn vốn đầu
tư và cơ chế khuyến khích để kêu gọi đầu tư phát triển quỹ Nhà ở xã hội
1.2.4.2 Về nguồn vốn phát triển Nhà ở xã hội
Theo quy định tại Điều 70 Luật nhà ở số 65/2014/QH13, nguồn vốn thực hiện chính sách phát triển Nhà ở xã hội bao gồm:
- Vốn của chủ đầu tư hoặc vốn huy động thông qua hình thức góp vốn, hợp tác đầu tư, hợp tác kinh doanh, liên doanh, liên kết của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân;
- Vốn của đối tượng thuộc diện được hưởng chính sách hỗ trợ về Nhà ở xã hội;
- Vốn đầu tư của Nhà nước quy định tại khoản 1 Điều 53 của Luật nhà ở số 65/2014/QH13, bao gồm: vốn ngân sách nhà nước, công trái quốc gia, trái phiếu, vốn
hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước hoặc đầu tư xây dựng theo hình thức hợp đồng xây dựng - chuyển giao;
- Vốn do Nhà nước hỗ trợ trực tiếp cho đối tượng được hưởng chính sách Nhà ở
xã hội; vốn do Nhà nước cho vay ưu đãi thông qua Ngân hàng chính sách xã hội, tổ chức tín dụng do Nhà nước chỉ định;
- Vốn hỗ trợ từ các Quỹ và các nguồn hỗ trợ hợp pháp khác [10]
1.2.4.3 Loại nhà và tiêu chuẩn diện tích Nhà ở xã hội
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 7 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015, loại nhà và tiêu chuẩn diện tích Nhà ở xã hội được thực hiện như sau: a) Trường hợp Nhà ở xã hội là nhà chung cư thì căn hộ phải được thiết kế, xây dựng theo kiểu khép kín, bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn diện tích mỗi căn hộ tối thiểu là 25 m2 sàn, tối đa là 70 m2 sàn, bảo đảm phù hợp với quy hoạch xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Chủ đầu tư dự án được điều chỉnh tăng mật độ xây dựng hoặc hệ số sử dụng đất lên tối đa 1,5 lần so với quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng hiện hành do cơ quan có thẩm quyền ban hành;
Căn cứ vào tình hình cụ thể tại địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được điều chỉnh tăng tiêu chuẩn diện tích căn hộ tối đa, nhưng mức tăng không quá 10% so với diện tích căn hộ tối đa là 70 m2 và bảo đảm tỷ lệ số căn hộ trong dự án xây dựng Nhà
Trang 18ở xã hội có diện tích sàn trên 70 m2 không quá 10% tổng số căn hộ Nhà ở xã hội trong
dự án
b) Trường hợp Nhà ở xã hội là nhà ở liền kề thấp tầng thì tiêu chuẩn diện tích đất xây dựng của mỗi căn nhà không vượt quá 70 m2, hệ số sử dụng đất không vượt quá 2,0 lần và phải bảo đảm phù hợp với quy hoạch xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;
Trường hợp dự án xây dựng Nhà ở xã hội liền kề thấp tầng thì phải được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chấp thuận Đối với dự án xây dựng Nhà ở xã hội tại các
đô thị loại đặc biệt, loại 1 và loại 2 thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải báo cáo và xin ý kiến Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trước khi quyết định chủ trương đầu tư
c) Việc thiết kế Nhà ở xã hội riêng lẻ do hộ gia đình, cá nhân đầu tư xây dựng phải bảo đảm chất lượng xây dựng, phù hợp với quy hoạch và điều kiện tối thiểu do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền ban hành [11]
1.3 Chất lượng công trình xây dựng
1.3.1 Khái niệm về chất lượng
Khái niệm về chất lượng đã hình thành từ lâu và được sử dụng rất phổ biến trong các lĩnh vực hoạt động của con người
Tùy theo đối tượng sử dụng, “Chất lượng” có ý nghĩa khác nhau Từ góc độ của nhà sản xuất có thể xem “Chất lượng” là mức độ hoàn thiện của sản phẩm (dự án) so với các tiêu chuẩn thiết kế được duyệt Theo quan điểm của người tiêu dùng, chất lượng là tổng thể các đặc tính của một thực thể, phù hợp với việc sử dụng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hay chất lượng là giá trị mà khách hàng nhận được, là sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng
Ngoài ra, do con người và các nền văn hóa khác nhau trên thế giới, nên cách hiểu, quan điểm về chất lượng cũng có sự khác nhau
Tuy nhiên, chất lượng sản phẩm dù được hiểu theo nhiều cách khác nhau dựa trên những cách tiếp cận khác nhau đều có một điểm chung nhất, đó là sự phù hợp với yêu cầu Yêu cầu này bao gồm cả yêu cầu của khách hang mong muốn thỏa mãn những yêu cầu của mình và cả các yêu cầu mang tính kỹ thuật, kinh tế và các tính chất pháp lý khác Với nhiều các khái niệm dựa trên quan điểm khác nhau, do đó cần phải xem chất lượng sản phẩm trong một thể thống nhất, cần phải hiểu khái niệm về chất
Trang 19lượng một cách có hệ thống mới đảm bảo hiểu được một cách đầy đủ nhất và hoàn thiện nhất về chất lượng Từ đó có thể hình thành khái niệm chất lượng tổng hợp là sự thỏa mãn yêu cầu trên tất cả các phương diện say:
- Tính năng của sản phẩm và dịch vụ đi kèm;
- Giá cả phù hợp;
- Thời gian;
- Tính an toàn và độ tin cậy; [6]
1.3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng
Chất lượng hàng hóa bị tác động bởi một số các yếu tố Các yếu tố này có thể ảnh hưởng trực tiết hoặc gián tiếp đến chất lượng sản phẩm Một sản phẩm có chất lượng
là những sản phẩm khắc phục một cách tốt nhất các ảnh hưởng đó
- Yếu tố nguyên vật liệu (Material): Đây là yếu tố cơ bản đầu vào, có ảnh hưởng
quyết định đến chất lượng sản phẩm Muốn có sản phẩm có chất lượng thì nguyên liệu đầu vào phải đảm bảo chất lượng Các yêu cầu về nguyên liệu đầu vào bao gồm đúng chủng loại, số lượng, chất lượng và giao hàng đúng kỳ hạn
- Yếu tố về thị trường: Đặc điểm của nhu cầu là luôn thay đổi, vận động theo
hướng đi lên, vì vậy chất lượng sản phẩm hàng hóa dịch vụ cũng phụ thuộc vào đó Thị trường sẽ quyết định mức chất lượng sản phẩm hàng hóa dịch vụ của các doanh nghiệp cung cấp Bên cạnh đó, thị trường cũng giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn, nắm vững hơn các nhu cầu đòi hỏi của khách hàng để từ đó đáp ứng ngày càng hoàn chỉnh hơn
- Yếu tố kỹ thuật - công nghệ - thiết bị (Machine): Yếu tố kỹ thuật - công nghệ -
thiết bị có một tầm quan trọng đặc biệt các tác dụng quyết định đến sự hình thành chất lượng sản phẩm Quá trình công nghệ là một quá trình phức tạp làm thay đổi, cải thiện tính chất ban đầu của nguyên vật liệu theo hướng phù hợp với các yêu cầu chất lượng Quá trình công nghệ được thực hiện thông qua hệ thống máy móc thiết bị Nếu như công nghệ hiện đại, nhưng thiết bị không đảm bảo thì không thể nào nâng cao chất lượng sản phẩm được Nhóm yếu tố kỹ thuật - công nghệ - thiết bị có quan hệ tương
hỗ chặt chẽ với nhau Để có được chất lượng ta phải đảm bảo sự đồng bộ của nhóm yếu tố này
Trang 20- Yếu tố vế quản lý (Method): Có nguyên vật liệu tốt, máy móc, trang thiết bị hiện
đại song nếu không có một phương pháp tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh thì không thể nào bảo đảm và nâng cao chất lượng Vấn đề quản lý chất lượng đã và đang được các nhà khoa học, các nhà quản lý rất quan tâm Vai trò của công tác quản lý chất lượng đã được xác định là một yếu tố có tính chất quyết định đến chất lượng sản phẩm
- Yếu tố con người (Man): Con người là một nguồn lực, yếu tố con người ở đây
phải hiểu là tất cả mọi người trong doanh nghiệp từ lãnh đạo cao nhất đến nhân viên đều tham gia vào quá trình tạo chất lượng
1.3.3 Chất lượng công trình xây dựng
Theo PGS.TS Lê Hồng Thái: “Chất lượng công trình xây dựng, một mặt là tính chất phù hợp với công năng sử dụng, là độ bền công trình, an toàn kết cấu, là phù hợp cảnh quan môi trường, kỹ thuật và công nghệ thi công với mức chi phí chấp nhận được, phù hợp với các điều khoản trong hợp đồng xây dựng; mặt khác là những nét
đặc trưng cho công trình ở mức độ hoàn hảo các tính chất trên” [7]
1.4 Quản lý chất lượng công trình xây dựng
1.4.1 Khái niệm về quản lý
Cũng như nhiều ngành khác, quản lý xuất hiện từ khá sớm do yêu cầu của hợp tác và phân công lao động trong xã hội loài người Mặc dù xuất hiện từ lâu đời và được áp dụng rộng rãi trong cuộc sống hàng ngày, nhưng cho tới nay vẫn chưa có một quan điểm thống nhất về quản lý với rất nhiều các khái niệm được đưa ra bởi các học giả và nhà nghiên cứu khác nhau như sau:
- Theo F.W Taylor: Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và
sau đó biết được rằng họ đã thực hiện công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất
- Theo Henrry Fayol: Quản lý là một tiến trình bao gồm tất cả cá khâu: lập kế hoạch, tổ chức, phân công điều hiển và kiểm soát các nỗ lực của cá nhân, bộ phận và
sử dụng có hiệu qủa các nguồn lực vật chất khác của tổ chức để đạt được mục tiêu đề
ra
- Theo M.P.Follet: Quản lý là nghệ thuật đạt mục tiêu thông qua con người
- Theo Koontz và O’Donnell: Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm
vụ và các mục tiêu đã định
Trang 21- Theo Stoner và Robbins: Quản lý là một tiến trình bao gồm việc hoạch định, tổ chức, quản trị con người và kiểm tra các hoạt động trong một đơn vị một cách có hệ thống nhằm hoàn thành các mục tiêu của đơn vị đó
- Theo Mary Parker Follet: Quản lý là hoàn thành công việc thông qua người khác Định nghĩa này đã đưa ra cách thức tiến hành các hoạt động quản trị thông qua người khác, quản trị là hoạt động có mục đích và mang tính tập thể
Từ những quan niệm trên, chúng ta có thể khái quát: Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể Quản lý lên đối tượng bị Quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức đã đề ra trong điều kiện biến động của môi trường và
sự thay đổi của các nguồn lực [8]
1.4.2 Khái niệm về quản lý chất lượng
Chất lượng không tự nhiên sinh ra, nó là kết quả của sự tác động của hàng loạt yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần phải quản lý một cách đúng đắn các yếu tố này Quản lý chất lượng là một khía cạnh của chức năng quản lý để xác định và thực hiện chính sách chất lượng Hoạt động quản lý trong lĩnh vực chất lượng được gọi là quản lý chất lượng
Hiện nay đang tồn tại các quan điểm khác nhau về quản lý chất lượng:
- Theo GOST15467-70: Quản lý chất lượng là xây dựng, đảm bảo và duy trì mức
chất lượng tất yếu của sản phẩm khi thiết kế, chế tạo, lưu thông và tiêu dùng Điều này được thực hiện bằng cách kiểm tra chất lượng có hệ thống, cũng như tác động hướng đích tới các nhân tố và điều kiện ảnh hưởng tới chất lượng chi phí;
- Theo A.G.Robertson, một chuyên gia người Anh về chất lượng cho rằng: Quản
lý chất lượng được xác định như là một hệ thống quản trị nhằm xây dựng chương trình
và sự phối hợp các cố gắng của những đơn vị khác nhau để duy trì và tăng cường chất lượng trong các tổ chức thiết kế, sản xuất để đảm bảo nền sản xuất có hiệu quả nhất, đối tượng cho phép thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu của người tiêu dung;
- Theo các tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản (JIS) xác định: Quản lý chất lượng
là hệ thống các phương pháp sản xuất tạo điều kiện sản xuất tiết kiệm hàng hoá có chất lượng cao hoặc đưa ra những dịch vụ có chất lượng thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng;
Trang 22- Theo giáo sư tiến sĩ Kaoru Ishikawa, một chuyên gia nổi tiếng trong lĩnh vực quản lý chất lượng của Nhật Bản đưa ra định nghĩa quản lý chất lượng có nghĩa là:
Nghiên cứu triển khai, thiết kế sản xuất và bảo dưỡng một số sản phẩm có chất lượng, kinh tế nhất, có ích nhất cho người tiêu dùng và bao giờ cũng thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dung;
- Theo Philip Crosby, một chuyên gia người Mỹ về chất lượng, định nghĩa quản
lý chất lượng: Là một phương tiện có tính chất hệ thống đảm bảo việc tôn trọng tổng
thể tất cả các thành phần của một kế hoạch hành động;
- Theo tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO 9000 cho rằng: Quản lý chất lượng là
một hoạt động có chức năng quản lý chung nhằm mục đích đề ra chính sách, mục tiêu, trách nhiệm và thực hiện chúng bằng các biện pháp như hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống chất lượng;
Như vậy, tuy còn nhiều tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý chất lượng, song nhìn chung chúng có những điểm giống nhau như:
- Mục tiêu trực tiếp của quản lý chất lượng là đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng phù hợp với nhu cầu thị trường với chi phí tối ưu;
- Thực chất của quản lý chất lượng là tổng họp các hoạt động của chức năng quản lý như: Hoạch định, tổ chức, kiểm soát và điều chỉnh Nói cách khác, quản lý chất lượng chính là chất lượng của quản lý
- Quản lý chất lượng là hệ thống các hoạt động, các biện pháp (hành chính, tổ chức, kinh tế, kỹ thuật, xã hội) Quản lý chất lượng là nhiệm vụ của tất cả mọi người, mọi thành viên trong xã hội, trong doanh nghiệp, là trách nhiệm của tất cả các cấp,
nhưng phải được lãnh đạo cao nhất chỉ đạo [6]
1.4.3 Quản lý chất lượng công trình xây dựng
Theo Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng: “Quản lý chất lượng công trình xây dựng là hoạt động quản lý của các chủ thể tham gia các hoạt động xây dựng trong quá trình chuẩn bị, thực hiện đầu tư xây dựng công trình và khai thác, sử dụng công trình nhằm
đảm bảo các yêu cầu về chất lượng và an toàn của công trình” [5]
Trang 231.4.4 Hệ thống quản lý chất lượng công trình xây dựng
Hệ thống chất lượng được xem là phương tiện cần thiết để thực hiện các chức năng quản lý chất lượng Nó gắn với toàn bộ các hoạt động của quy trình và được xây dựng phù hợp với những đặc trưng riêng của sản phẩm và dịch vụ trong doanh nghiệp
Hệ thống chất lượng cần thiết phải được tất cả mọi người trong tổ chức hiểu và có khả năng tham gia
Hệ thống quản lý chất lượng phải có quy mô phù hợp với tính chất của các hoạt động của doanh nghiệp Các thủ tục trong hệ thống hồ sơ chất lượng của doanh nghiệp, nhằm mục đích đảm bảo và giữ vững sự nhất quán trong các bộ phận của quy trình Các hồ sơ tác nghiệp cần phải được lưu lại và kiểm soát
Lĩnh vực xây dựng cũng là một lĩnh vực sản xuất, tuy nhiên nó lại có những đặc biệt riêng của ngành xây dựng do đó hệ thống quản lý chất lượng trong lĩnh vực xây dựng cũng có những nguyên tắc khác biệt:
- Nguyên tắc đầu tiên là hệ thống quản lý chất lượng phải phù hợp với ngành xây
dựng và phù hợp với hoạt động sản xuất xây dựng Có như vậy mới đảm bảo rằng hệ thống đó có thể kiểm soát và quản lý được chất lượng công trình
- Nguyên tắc thứ hai là phải đặt lợi ích của khách hàng lên hàng đầu Do chất
lượng của sản phẩm xây dựng gắn liền với sự an toàn của người sử dụng nên hệ thống quản lý chất lượng của xây dựng phải ngăn chặn các lỗi sai ngay từ đầu, các lỗi sai phải được loại bỏ Do quá trình xây dựng có nhiều quá trình, nhiều công việc nên các lỗi sai rất dễ phát sinh
- Nguyên tắc thứ ba là phải tạo tính thống nhất cao trong các quy trình Gĩưa các
quá trình hay giữa các công việc luôn dễ phát sinh các sai hỏng nhất Đảm bảo rằng giữa các công việc phải có sự kết hợp nhẹ nhàng, ăn ý và chính xác Các tiêu chuẩn, quy cách và các tài liệu văn bản phải thống nhất và tiêu chẩn hóa
- Nguyên tắc cuối cùng là hệ thống quản lý chất lượng cần xác định rõ phạm vi
về trách nhiệm và quyền hạn của từng bộ phận từng cá nhân Tránh sự chồng chéo, không phân định rõ ràng
Tùy theo cách nhìn nhận, đánh giá và phân loại, các chuyên gia chất lượng trên thế giới có nhiều cách đúc kết khác nhau, nhưng về cơ bản tất cả đều nhất quán về
Trang 24hướng phát triển của quản lý chất lượng và có thể đúc kết thành một số hệ thống cơ bản sau:
1.4.4.1 Thiết lập kế hoạch chất lượng
Là quá trình của việc xác định, kiểm tra các yêu cầu về chất lượng và tiêu chuẩn cho dự án và các tài liệu hướng dẫn làm thế nào để dự án thực hiện phù hợp
Một phương thức đảm bảo chất lượng sản phẩm phù hợp với qui định là kiểm tra các sản phẩm và chi tiết bộ phận, nhằm sàng lọc và loại bỏ các chi tiết, bộ phận không đảm bảo tiêu chuẩn hay quy cách kỹ thuật
Các sản phẩm sau quá trình sản xuất mới tiến hành kiểm tra các khuyết tật Khi phát hiện ra các khuyết tật mới đề ra các biện pháp xử lý, thông thường phương pháp này không phát hiện ra được nguyên nhân đích thực Để khắc phục những sai sót này thì các doanh nghiệp đã tăng cường các cán bộ KCS Đi kèm với việc này là việc tăng chi tiêu rất nhiều mà công tác kiểm tra không đảm bảo, trong nhiều trường hợp độ tin cậy rất thấp
Kiểm tra chỉ là một sự phán loại sản phẩm đã được chế tạo, đây là cách xử lý chuyện đã rồi Điều đó có nghĩa là chất lượng không được tạo dựng nên qua kiểm tra Ngoài ra, để đảm bảo chất lượng sản phẩm phù hợp qui định một cách có hiệu quả bằng cách kiểm tra sàng lọc 100% sản phẩm, cần phải thỏa mãn những điều kiện sau:
- Công việc kiểm tra cần được tiến hành một cách đáng tin cậy và không có sai sót
- Chi phí cho sự kiểm tra phải ít hơn chi phí tổn thất do sản phẩm khuyết tật và những thiệt hại do ảnh hưởng đến lòng tin của khách hàng
- Quá trình kiểm tra không được ảnh hưởng đến chất lượng
Những điều kiện trên không phải thực hiện dễ dàng ngay cả với công nghiệp hiện đại Ngoài ra, sản phẩm phù hợp qui định cũng chưa chắc đã thỏa mãn nhu cầu thị
trường nếu như các qui định không phản ánh đúng nhu cầu [6]
1.4.4.2 Hệ thống đảm bảo chất lượng
Là quá trình kiểm tra các yêu cầu về chất lượng và các kết quả từ hệ thống kiểm soát chất lượng để đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng phù hợp và các hoạt động xác định
đã được áp dụng
Trang 25Sau khi kiểm soát được chất lượng sản phẩm, các doanh nghiệp cần phải duy trì mức chất lượng đã đạt được thông qua việc đảm bảo chất lượng sản phẩm Đây là quá trình cung cấp các hồ sơ chứng minh việc kiểm soát chất lượng và các bằng chứng việc kiểm soát chất lượng sản phẩm cho khách hàng
Đảm bảo chất lượng được thực hiện dựa trên hai yếu tố: Phải chứng minh được việc thực hiện kiểm soát chất lượng và đưa ra được những bằng chứng về việc kiểm soát ấy
Hình 1.1 Các yếu tố đảm bảo chất lượng
Tùy theo mức độ phức tạp của cơ cấu tổ chức và mức độ phức tạp của sản phẩm dịch vụ mà việc đảm bảo chất lượng đòi hỏi phải có nhiều hay ít văn bản Mức độ tối thiểu cần đạt được gồm những văn bản như ghi trong sơ đồ trên Khi đánh giá, khách hàng sẽ xem xét các văn bản tài liệu này và xem nó là cơ sở ban đầu để khách hàng đặt niềm tin vào nhà cung ứng
Trang 26Hình 1.2 Mô hình đảm bảo chất lượng - QA
Đảm bảo chất lượng là mọi hoạt động có kế hoạch và hệ thống, được kiểm định nếu cần để đem lại lòng tin thoả đáng để sản phẩm thoả mãn các yêu cầu đã định đối với chất lượng
Để có thể đảm bảo chất lượng theo nghĩa trên, người cung cấp phải xây dựng một
hệ thống đảm bảo chất lượng có hiệu lực và hiệu quả, đồng thòi làm thế nào để chứng
tỏ cho khách hàng biết điều đó Đó chính là nội dung cơ bản của hoạt động đảm bảo chất lượng
a) Các biện pháp đảm bảo chất lượng:
- Trong quá trình thiết kế sản phẩm: Tập hợp và chuyển hóa nhu cầu của khách hàng thành đặc điểm của sản phâm; đưa ra các phương án khác nhau cho quá trình thiết kế; thử nghiệm, kiểm tra các phương án để lựa chọn phương án tối ưu; quyết định những đặc điểm lựa chọn; phân tích kinh tế;
- Trong quá trình sản xuất: Mục đích cùa khâu quản lý quá trình sản xuất không phải là loại bỏ những sản phẩm xấu, kém chất lượng sau quá trình sản xuất, mà phải ngăn chặn những nguyên nhân làm xuất hiện sản phẩm xấu trong quá trình sản xuất với mục đích: đảm bảo chất lượng sản phẩm được hình thành ở mức cao nhất; đảm bảo chi phí sản xuất thấp nhất; đảm bảo hoàn thành kế hoạch sản xuất; đảm bảo duy trì chất lượng sản phẩm trong quá trinh lưu thông Để đảm bảo các mục tiêu này, cần thực
Trang 27hiện các công việc sau: Cung ứng vật tư đảm bảo số lượng, chất lượng, thời gian, địa điểm; tổ chức lao động hợp lý; thiết lập thực hiện các tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục, thao tác thực hiện các công việc; kiểm tra chất lượng sau từng công đoạn sản xuất; kiểm tra chất lượng thành phẩm; kiểm tra, hiệu chỉnh thường kỳ các dụng cụ kiểm tra,
đo lường; kiểm tra thường xuyên kỹ thuật công nghệ để có kế hoạch bảo dưỡng kịp thời;
- Trong quá trình sử dụng sản phẩm: Thỏa mãn các khiếu nại khi cung cấp sản phẩm chất lượng thấp; ấn định thời gian bảo hành; lập các trạm bảo dưỡng, sửa chữa định kỳ và cung cấp phụ tùng thay thế để đảm bảo uy tín cho nhà sản xuất, đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng; Cung cấp tài liệu hướng dẫn sử dụng;
- Lập biện pháp ngăn ngừa lặp lại lỗi: Loại bỏ những biểu hiện bên ngoài của khuyết tật; loại bỏ nguyên nhân trực tiếp; loại bỏ nguyên nhân sâu xa gây ra khuyết tật
b) Phạm vi của đảm bảo chất lượng có thể bao gồm các công việc sau:
- Thiết kế chất lượng;
- Kiểm soát chất lượng nguyên vật liệu sử dụng trong sản xuất và kiểm soát tồn kho: lựa chọn nhà cung cấp đáp ứng chất lượng vật tư; tạo lập hệ thống thông tin phản hồi chặt chẽ và thường xuyên cập nhật; thỏa thuận việc đảm bảo chất lượng thường xuyên nguyên vật liệu cung ứng; thỏa thuận phương pháp kiểm tra, xác minh; thỏa thuận phương án giao nhận; xác định các điều khoản giải quyết khi có tranh chấp;
- Tiêu chuẩn hóa;
- Phân tích và kiểm soát các quá trình sản xuất;
- Kiểm tra và xử lý các sản phẩm có khuyết tật;
- Giám sát các khiếu nại và kiểm tra chất lượng;
- Quản lý thiết bị và lắp đặt nhằm đảm bảo các biện pháp an toàn lao động và thủ tục, phương pháp đo lường;
- Quản lý nguồn nhân lực: Phân công, giáo dục, huấn luyện và đào tạo;
- Quản lý các tài nguyên bên ngoài;
- Phát triển công nghệ: Phát triển sản phẩm mới, quản lý nghiên cứu và phát triển
và quản lý công nghệ;
- Chẩn đoán và giám sát: Thanh tra các hoạt động kiểm soát chất lượng và giám
sát các nguyên công kiểm soát chất lượng [6]
Trang 281.4.4.3 Hệ thống kiểm soát chất lượng
Là quá trình theo dõi và ghi lại kết quả thực hiện các hoạt động chất lượng để đánh giá hiệu suất và đề xuất những thay đổi cần thiết
Walter A Shewhart, một kỹ sư thuộc phòng thí nghiệm Bell Telephone tại Priceton, Newjersey (Mỹ) là người đầu tiên đề xuất việc sử dụng các biểu đồ kiểm soát vào việc quản lý các cụm công nghiệp và được coi là mốc ra đời của hệ thống kiểm soát chất lượng hiện đại Kiểm soát chất lượng là các hoạt động kỹ thuật mang tính tác nghiệp được sử dụng để đáp ứng các yêu cầu chất lượng
Để kiểm soát chất lượng, công ty phải kiểm soát được mọi yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình tạo ra chất lượng Việc kiểm soát này nhằm ngăn ngừa sản xuất ra sản phẩm khuyết tật
Mỗi doanh nghiệp muốn có sản phẩm, dịch vụ của mình có chất lượng cần phải kiểm soát được 5 điều kiện cơ bản sau đây:
- Kiểm soát con người: Tất cả mọi người, từ lãnh đạo cấp cao nhất tới nhân viên
thường trực phải: Được đào tạo để thực hiện nhiệm vụ được giao; đủ kinh nghiệm để
sử dụng các phương pháp, qui trình cũng như biết sử dụng các trang thiết bị, phương tiện; hiểu biết rõ về nhiệm vụ và trách nhiệm của mình đối với chất lượng sản phẩm;
có đầy đủ những tài liệu, hướng dẫn công việc cần thiết và có đủ phương tiện để tiến hành công việc; có đủ mọi điều kiện cần thiết khác để công việc có thể đạt được chất lượng như mong muốn
- Kiểm soát phương pháp và quá trình: Phương pháp và quá trình phải phù hợp
nghĩa là bằng phương pháp và quá trình chắc chắn sản phẩm và dịch vụ được tạo ra sẽ đạt được những yêu cầu đề ra
- Kiểm soát việc cung ứng các yếu tố đầu vào: Nguồn cung cấp nguyên vật liệu
phải được lựa chọn Nguyên liệu phải được kiểm tra chặt chẽ khi nhập vào và trong quá trình bảo quản
- Kiểm soát trang thiết bị dùng trong sản xuất và thử nghiệm: Các loại thiết bị
này phải phù hợp với mục đích sử dụng Đảm bảo được yêu cầu như: Hoạt động tốt; Đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật; An toàn đối với công nhán vận hành; Không gáy ô nhiễm môi trường, sạch sẽ
Trang 29- Kiểm soát thông tin: Mọi thông tin phải được người có thẩm quyền kiểm tra và
duyệt ban hành Thông tin phải cập nhật và được chuyển đến những chỗ cần thiết để
sử dụng
Cần lưu ý rằng kiểm soát chất lượng phải tiến hành song song với kiểm tra chất lượng vì nó buộc sản phẩm làm ra phải được một mức chất lượng nhất định và ngăn ngừa bớt những sai lỗi có thể xảy ra Nói cách khác là kiểm soát chất lượng phải gồm
cả chiến lược kiểm tra sản xuất Giữa kiểm tra và kiểm soát chất lượng có điểm khác nhau cơ bản Kiểm tra là sự so sánh, đối chiếu giữa chất lượng thực tế của sản phẩm với những yêu cầu kỹ thuật, từ đó loại bỏ các phế phẩm Kiểm soát là hoạt động bao quát hơn, toàn diện hơn Nó bao gồm các hoạt động Marketing, thiết kế, sản xuất, so sánh, đánh giá chất lượng và dịch vụ sau bán hàng, tìm nguyên nhán và biện pháp khắc phục
Quality Control ra đời tại Mỹ, các phương pháp này được áp dụng mạnh mẽ trong lĩnh vực quán sự và không được các công ty Mỹ phát huy sau chiến tranh Trái lại, chính ở Nhật Bản, việc kiểm soát chất lượng mới được áp dụng và phát triển Trong thập kỷ áp dụng đầu tiên vào cuối những năm 1940 tại Nhật Bản, các kỹ thuật kiểm soát chất lượng thống kê (SQC) chỉ được áp dụng rất hạn chế trong một số khu vực sản xuất và kiểm nghiệm Để đạt được mục tiêu chính của quản lý chất lượng là thỏa mãn người tiêu dùng, thì đó chưa phải là điều kiện đủ, nó đòi hỏi không chỉ áp dụng các phương pháp này vào quá trình xảy ra trước quá trình sản xuất và kiểm tra, như khảo sát thị trường, nghiên cứu, lập kế hoạch, phát triển, thiết kế và mua hàng mà còn phải áp dụng cho các quá trình xảy ra sau đó như đóng gói, lưu kho, vận chuyển, phán phối, bán hàng và dịch vụ sau khi bán hàng Từ đó khái niệm quản lý chất lượng
toàn diện ra đời nhằm nâng cao hệ thống quản lý chất lượng [6]
Trang 30Hình 1.3 Mô hình kiểm soát chất lượng toàn diện - TQC
1.4.5 Công tác quản lý chất lượng công trình trên thế giới và Việt Nam
1.4.5.1 Tình hình quản lý chất lượng xây dựng ở các nước
a) Quản lý chất lượng xây dựng ở Singapore
Đối với quản lý chất lượng công trình, ngoài cơ quan của nhà nước là Cơ quan Quản lý Xây dựng & Nhà ở (Building and Construction Authority – BCA), từ năm
1989, Singapore áp dụng hệ thống kiểm tra độc lập do các cá nhân hay tổ chức không thuộc BCA đảm nhiệm, gọi là Kiểm tra viên được ủy quyền (Accredited Checker – AC) AC có thể là một tổ chức hay cá nhân đạt các điều kiện về năng lực, kinh nghiệm chuyên môn (ví dụ đối với cá nhân phải có trên 10 năm kinh nghiệm hoạt động xây dựng tại Singapore, đã đăng ký hành nghề theo Luật Kỹ sư Chuyên nghiệp (Professional Engineers Act); đối với tổ chức phải có ít nhất 02 kỹ sư có đăng ký, có chứng chỉ ISO 9001 ), có mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp theo quy định đối với cá nhân và đối với tổ chức Các Kiểm tra viên này được BCA cấp giấy chứng nhận
để thay cơ quan QLNN thực hiện kiểm tra thiết kế kết cấu (trước khi cấp phép xây dựng) và các kiểm tra trong quá trình thi công Luật của Singapore quy định chủ công trình phải thuê một Kiểm tra viên từ giai đoạn thiết kế; khi nộp hồ sơ để được cấp phép xây dựng, phải có báo cáo đánh giá của Kiểm tra viên đối với chất lượng thiết kế
Trang 31Nguyên tắc quản lý chất lượng xây dựng của chính quyền Singapore là chủ đầu
tư phải chứng minh và đạt sự chấp thuận của chính quyền đối với sự tuân thủ pháp luật trong qúa trình xây dựng thông qua các hình thức: chấp thuận thiết kế kết cấu khi cấp phép xây dựng, chấp thuận cho thi công tiếp tại các điểm chuyển giai đoạn quan trọng của công trình, chấp thuận công trình hoàn thành đưa vào sử dụng
Theo số liệu tháng 2 năm 2013, hiện ở Singapore có 25 cá nhân và 45 tổ chức thực hiện vai trò Kiểm tra viên (Accredited Checker – AC) Các Kiểm tra viên hoạt động với tư cách cá nhân chỉ được kiểm tra công trình có giá trị dưới 15 triệu SGD, công trình có giá trị xây lắp lớn hơn phải do các AC là tổ chức thực hiện kiểm tra Hệ thống AC đã phát huy vai trò quan trọng trong việc giúp cơ quan QLNN kiểm soát
chất lượng từ khâu thiết kế đến thi công công trình [14]
b) Quản lý chất lượng xây dựng ở Australia
Việc quản lý xây dựng tại Australia do các bang tự đảm nhiệm, không có sự can thiệp của chính quyền trung ương Tại các bang, công tác quản lý xây dựng cũng giao cho chính quyền địa phương (Hội đồng địa phương cấp khu vực hoặc thành phố - Local council, hiện Australia có khoảng 700 hội đồng địa phương)
Lực lượng quản lý xây dựng tại các địa phương gồm Giám sát viên của nhà nước (gọi là Municipal Building Surveyor) do các hội đồng địa phương tuyển dụng và Giám sát viên tư nhân (Private Building Surveyors) Cả hai loại Giám sát viên này đều thực hiện việc quản lý xây dựng công trình qua các hình thức: ban hành giấy phép xây dựng (áp dụng từ năm 1993 đối với Giám sát viên tư nhân), kiểm tra quá trình thi công, ban hành giấy phép sử dụng (khi công trình hoàn thành)
Để trở thành Giám sát viên xây dựng (cả tư nhân và nhà nước) đều phải đạt các yêu cầu theo quy định (có năng lực, đạo đức, bảo hiểm trách nhiệm) và được cấp đăng
ký tại cơ quan quản lý hành nghề xây dựng của bang (Building Practitioners Board) Tùy theo năng lực, kinh nghiệm, Giám sát viên được phân thành 2 loại là Giám sát viên bậc 1 và bậc 2; giám sát viên bậc 1 được kiểm tra tất cả công trình xây dựng, không phân biệt loại và quy mô; giám sát viên bậc 2 chỉ được kiểm tra các công trình
từ 3 tầng trở xuống, có tổng diện tích sàn dưới 2000m2
Ngay từ khi xin phép xây dựng, chủ đầu tư phải chọn một Giám sát viên xây dựng (có thể của nhà nước hoặc tư nhân) để tiến hành công tác kiểm tra trong suốt quá
Trang 32trình thi công tại những bước chuyển giai đoạn quan trọng (được xác định ngay trong giấy phép xây dựng) Chủ đầu tư phải trả phí cho công tác kiểm tra này như một dịch
vụ bắt buộc để xác nhận việc xây dựng của mình tuân thủ các quy định về quản lý chất
lượng công trình [14]
c) Quản lý chất lượng xây dựng ở Mỹ
Việc quản lý xây dựng tại Mỹ do các bang tự đảm nhiệm, chính quyền trung ương không tham gia Tại các bang, việc quản lý xây dựng cũng giao cho chính quyền cấp quận, hạt (county) hoặc thành phố (city / borough) thực hiện
Cũng tương tự như ở Singapore và Australia, nguyên tắc QLCL xây dựng ở Mỹ
là chủ công trình phải có trách nhiệm đảm bảo sự tuân thủ các quy định của địa phương trong toàn bộ quá trình xây dựng và việc tuân thủ này phải được chứng thực thông qua kiểm tra và xác nhận bởi người có thẩm quyền
Người có thẩm quyền kiểm tra và xác nhận công trình tuân thủ quy định về quản
lý chất lượng xây dựng trong quá trình thi công gọi là Giám định viên (Inspector), thuộc một trong 3 thành phần sau:
- Cơ quan quản lý nhà nước
- Các tổ chức tư nhân, gọi là Tổ chức độc lập được công nhận
Các cá nhân được nhà nước công nhận
Về nguyên tắc, chủ công trình được chủ động chọn Giám định viên (Inspector) thuộc một trong 3 thành phần trên để thực hiện kiểm tra công trình
Giám định viên thuộc thành phần 2 và 3 ở trên được gọi chung là Giám định viên
tư nhân có chức năng kiểm tra công trình như giám định viên nhà nước nhưng phải báo cáo kết quả kiểm tra của mình cho cơ quan QLNN địa phương Nếu phát hiện vi phạm, chỉ có cơ quan QLNN mới có quyền áp dụng các biện pháp chế tài
Để trở thành Giám định viên, cá nhân phải đạt một số điều kiện về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, có bảo hiểm trách nhiệm và được chính quyền địa phương công nhận (cấp giấy chứng nhận, giấy phép) Tuy nhiên, tùy theo địa phương
mà thủ tục công nhận khác nhau, một số bang yêu cầu ứng viên phải qua một kỳ thi hay phỏng vấn, các bang khác chỉ yêu cầu ứng viên có chứng chỉ đào tạo nghiệp vụ do một số hiệp hội nghề nghiệp phát hành
Trang 33Theo số liệu năm 2010, ở Mỹ có khoảng 102.400 giám định viên (Inspector), trong đó 44% làm việc cho cơ quan QLNN của chính quyền địa phương; 27% làm việc trong các tổ chức độc lập (Certified Third Party Agencies), 8% là giám định viên cá nhân, chủ yếu là Giám định viên nhà ở (Home Inspector), số còn lại làm việc cho chính quyền các bang
Như trên cho thấy ở các nước Singapore, Australia, Mỹ, đều có sự tham gia tích cực của thành phần tư nhân trong quá trình quản lý chất lượng công trình Ở các nước này, lực lượng tư nhân mặc dù có tên gọi khác nhau (ở Singapore là Kiểm tra viên được ủy quyền, ở Australia là Giám sát viên tư nhân và ở Mỹ là Giám định viên tư nhân ); nhưng có tính chất giống nhau là lực lượng hỗ trợ cơ quan nhà nước trong
kiểm soát chất lượng xây dựng [14]
1.4.5.2 Tình hình quản lý chất lượng xây dựng ở Việt Nam
Công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng ở nước ta hiện có nhiều chuyển biến tích cực kể từ khi Luật Xây dựng 2003 ra đời
Ngoài trách nhiệm trong công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng của các bên tham gia dự án, gồm chủ đầu tư và các nhà thầu,
Cùng với sự ra đời của Luật Xây dựng 2014 thay thế Luật Xây dựng 2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 46/2015/NĐ-CP về quản lý chất lượng công trình xây dựng và Nghị định số 59/2015/NĐ-CP về quản lý dự án xây dựng, các Nghị định này
và các văn bản hướng dẫn đã quy định rõ trách nhiệm của các bên liên quan trong công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng
Qua đó, ngoài trách nhiệm trong công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng của các bên tham gia dự án, gồm chủ đầu tư và các nhà thầu, cơ quan chuyên môn về xây dựng (bao gồm: các cơ quan chuyên môn trực thuộc Bộ Xây dựng, Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành; Sở Xây dựng, Sở quản lý công trình xây dựng chuyên ngành; Phòng có chức năng quản lý xây dựng thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện) đã tham gia công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng một cách xuyên suốt từ khâu thẩm định thiết kế, dự toán, báo cáo kinh tế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công, đến kiểm tra công tác nghiệm thu đưa công trình vào sử dụng khi công trình hoàn thành
Trang 34Với vai trò tiền kiểm và hậu kiểm của mình, cơ quan chuyên môn về xây dựng đã góp phần hạn chế những sự cố công trình nghiêm trọng xảy ra
Tuy nhiên, vai trò của các cơ quan chuyên môn về xây dựng chỉ phát huy hiệu quả tại một số thành phố lớn Tại các tỉnh, thành còn lại, cơ quan chuyên môn về xây dựng chưa thật sự phát huy hết hiệu quả của mình do năng lực hạn chế, lực lượng mỏng, chưa tương xứng với sự phát triển của ngành xây dựng
1.5 Quá trình hình thành và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình xây dựng
1.5.1 Đặc điểm của sản phẩm xây dựng ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm
Sản phẩm xây dựng có rất nhiều đặc điểm riêng biệt khác với các sản phẩm của các ngành sản xuất khác Những đặc điểm của sản phẩm xây dựng lại tác động chi phối đến hoạt động thi công xây dựng và từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế xã hội, ảnh hưởng đến phát triển công nghệ xây dựng, phát triển vật liệu xây dựng, máy móc thiệt bị xây dựng, ảnh hưởng đến cơ chế chính sách và hệ thống pháp luật quản lý xây dựng
1.5.1.1 Tính đơn chiếc riêng lẻ
Sản phẩm xây dựng đa dạng, phức tạp, có tính cá biệt cao về công dụng và chế tạo Mỗi sản phẩm khi thiết kế đều có nét đặc thù riêng không thể sản xuất hàng loạt theo dây chuyền tương tự cho toàn bộ sản phẩm, tùy theo yêu cầu cả về kinh tế lẫn kỹ thuật Do đó khối lượng chất lượng và chi phí xây dựng của mỗi công trình đều khác nhau
Đặc điểm này làm cho sản xuất xây dựng có tính lưu động, thiếu ổn định và khó kiểm soát về chất lượng
1.5.1.2 Đặc điểm quy mô lớn và kết cấu phức tạp
Với đặc điểm quy mô lớn và kết cấu phức tạp của sản phẩm xây dựng dẫn đến chu kỳ sản xuất lâu dài Vì vậy, cần phải có kế hoạch, lập tiến độ thi công, có biện pháp kỹ thuật thi công hợp lý để đảm bảo chất lượng công trình Ngoài ra nhu cầu về vốn, lao động, vật tư, máy móc thiết bị thi công rất lớn, nếu có những sai sót trong quá trình xây dựng gây nên lãng phí lớn
Trang 351.5.1.3 Thời gian sử dụng lâu dài
Sản phẩm xây dựng đã hoàn thành có thời gian sử dụng lâu dài và tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, sử dụng nhưng vẫn giữ nguyên hình thái ban đầu cho tới khi thanh lý Từ đặc điểm này đòi hỏi chất lượng công trình phải tốt để các ngành khác ít
1.5.2 Quá trình hình thành chất lượng công trình xây dựng
Chất lượng công trình xây dựng nó xuất hiện từ rất sớm, thể hiện trên tất cả các giai đoạn của quá trình xây dựng: từ giai đoạn lập dự án, khảo sát, thiết kế quy hoạch, đến giai đoạn thi công đến vận hành khai thác dự án
- Giai đoạn lập dự án: Đây là giai đoạn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng và mang
tính chất định hướng toàn bộ dự án, nó thể hiện được mục tiêu và mục đích dự án, giai đoạn này giúp nhà đầu tư xác định được tính khả thi của dự án và hiệu quả kinh kế do
dự án mang lại Nếu công tác lập dự án không tốt có thể dẫn đến những thiệt hại vô cùng to lớn, gây ảnh hưởng lớn đến lợi ích của nhà đầu tư Vì vậy công tác quản lý chất lượng ở giai đoạn này là hết sức cần thiết
- Giai đoạn khảo sát: Công tác khảo sát giúp cung cấp số liệu thực tế về dự án
cho nhà thiết kế, nhà thầu thi công, cho phép lập được bảng dự toán hợp lý, giúp cho nhà thiết kế có những tính toán chính xác về kết cấu, các giải pháp hợp lý về công năng cũng như tính thẩm mỹ của công trình Chất lượng công tác khảo sát tốt còn hạn chế được các rủi ro phát sinh trong quá trình thi công gây ảnh hưởng tới chất lượng, tiến độ, chi phí của dự án
Trang 36- Giai đoạn thiết kế: Trong giai đoạn này, việc sử dụng kết quả khảo sát, áp dụng
và tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật phù hợp đối với từng loại công trình, sẽ hạn chế các nhân tố rủi ro xuất hiện trong quá trình thi công gây ảnh hưởng tới chất lượng công trình
- Giai đoạn thi công: Đây là giai đoạn triển khai từ ý tưởng, bản vẽ thành sản
phẩm thực tế, chất lượng công trình xây dựng được thể hiện rõ nét ở giai đoạn này bao gồm: chất lượng về kết cấu, chất lượng về thẩm mỹ Thi công phải đảm bảo đúng các tiêu chuẩn, quy phạm kỹ thuật được Nhà nước ban hành, xây dựng đúng theo thiết kế
và theo hợp đồng đã định trước Đảm bảo cho công trình đạt sự hài lòng của tất cả các bên
Ngoài ra giai đoạn thi công là giai đoạn cũng dễ nảy sinh các rủi ro phát sinh (như an toàn lao động, cháy nổ, đổ sập công trình ) gây nên những thiệt hại đáng tiếc cho chủ đầu tư, ảnh hưởng đến chất lượng công trình và uy tín của các bên nên công tác đảm bảo chất lượng cần được giám sát cực kỳ chặt chẽ
- Giai đoạn vận hành khai thác: Đây là giai đoạn cuối cùng của dự án, hiệu quả
của dự án thể hiện rõ nét ở giai doạn này (sự thỏa mãn của khách hàng đối với dự án,
sự bền vững của dự án theo thời gian, hiệu quả về kinh tế đem lại cho Chủ đầu tư )
Để có được điều đó, thì ngoài công tác quản lý chất lượng chặt chẽ ở các giai đoạn trên, giai đoạn này doanh nghiệp cần tăng cường các công tác chất lượng về duy tu, bảo dưỡng công trình theo định kỳ, điều hành hoạt động khu dự án một cách hài hòa đem lại sự thỏa mãn về nhu cầu sinh hoạt cho khách hàng, tạo được uy tín lớn cho doanh nghiệp
1.5.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình xây dựng
1.5.3.1 Nhóm các nhân tố khách quan
a) Thị trường
Thị trường: Đề cập tới các yếu tố cung, cầu, giá cả, quy mô thị trường, cạnh tranh Chất lượng sản phẩm luôn gắn liền với sự vận động và biến đổi của thị trường, đặc biệt là nhu cầu thị trường, tác động trực tiếp đến chất lượng sản phẩm Trên cơ sở nghiên cứu thị trường doanh nghiệp xác định được khách hàng của mình là đối tượng nào; Quy mô ra sao; và tiêu thụ ở mức như thế nào;
Trang 37Từ đó doanh nghiệp có thể xây dựng chiến lược sản phẩm, kế hoạch sản xuất để
có thể đưa ra những sản phẩm với mức chất lượng phù hợp, giá cả hợp lý với nhu cầu
và khả năng tiêu dùng ở những thời điểm nhất định Bởi vì sản phẩm có chất lượng cao không phải lúc nào cũng tiêu thụ nhanh và ngược lại chất lượng có thể không cao nhưng người tiêu dùng lại mua chúng nhiều Điều này có thể do giá cả, thị hiếu của người tiêu dùng ở các thị trường khác nhau là khác nhau, hoặc sự tiêu dùng mang tính thòi điểm Điều này được phản ánh rõ nét nhất với các sản phẩm mốt hoặc những sản phẩm sản xuất theo mùa vụ
Thông thường, khi mức sống xã hội còn thấp, sản phẩm khan hiếm thì yêu cầu của người tiêu dùng chưa cao, người ta chưa quan tâm nhiều tới mặt xã hội của sản phẩm Nhưng khi đời sống xã hội tăng lên thì đòi hỏi về chất lượng cũng tăng theo Đôi khi họ chấp nhận mua sản phẩm với giá cao tới rất cao để có thể thoả mãn nhu cầu
cá nhân của mình
Chính vì vậy, các doanh nghiệp không chỉ phải sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu thị trường mà còn phải quan tâm tới khía cạnh thẩm mỹ, an toàn và kinh tế của người tiêu dùng khi tiêu thụ sản phẩm
b) Trình độ phát triển của khoa học – kỹ thuật
Ngày nay, không có sự tiến bộ kinh tế xã hội nào không gắn liền với tiến bộ khoa học công nghệ trên thế giới Trong vài thập kỷ trở lại đây, trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy mạnh mẽ sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Tiến bộ khoa học kỹ thuật đã tạo ra những bước đột phá quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực mới:
Tự động hoá, điện tử, tin học, công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, robot đã tạo ra những thay đổi to lớn trong sản xuất cho phép rút ngắn chu trình sản xuất, tiết kiệm nguyên vật liệu nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm
Bên cạnh đó, sự phát triển của khoa học công nghệ cũng đặt ra những thách thức không nhỏ cho các doanh nghiệp trong việc quản lý, khai thác và vận hành công nghệ
có hiệu quả cao Bởi vì, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì thời gian để chế tạo công nghệ mới thay thế công nghệ cũ dần dần được rút ngắn lại Sự ra đời cùa một công nghệ mới thường đồng nghĩa với chất lượng sản phẩm cao hơn, hoàn thiện hơn Bên cạnh đó, đào tạo nhân lực để thích ứng với sự thay đổi liên tục của khoa học công nghệ không thể ngày một ngày hai mà phải có thời gian Đây cũng là những khó
Trang 38khăn của các doanh nghiệp Việt Nam trong khi nguồn kinh phí cho đào tạo, bồi dưỡng không nhiều
c) Cơ chế chính sách quản lý của nhà nước
Cơ chế chính sách của Nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình thúc đẩy cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm của mỗi doanh nghiệp Việc ban hành các
hệ thống chỉ tiêu chất lượng sản phẩm, các quy định về sản phẩm đạt chất lượng, xử lý nghiêm việc sản xuất hàng giả, hành kém chất lượng, không bảo đảm an toàn vệ sinh, thuế quan, các chính sách ưu đãi cho đầu tư đổi mới công nghệ là những nhân tố hết sức quan trọng, tạo động lực phát huy tính tự chủ, sáng tạo trong cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm
Rõ ràng, các doanh nghiệp không thể tồn tại một cách biệt lập mà luôn có mối quan hệ chặt chẽ và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, đặc biệt phải kể đến là cơ chế quản lý kinh tế của nhà nước Cơ chế quản lý vừa là môi trường, vừa là điều kiện cần thiết tác động đến phương hướng, tốc độ cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm
d) Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên có tác động mạnh mẽ đến việc bảo quản và nâng cao chất lượng sản phẩm, đặc biệt là đối với những nước có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm mưa nhiều như Việt Nam Nó tác động tới các đặc tính cơ lý hoá của sản phẩm, làm giảm đi chất lượng của sản phẩm, của hàng hoá trong quá trình sản xuất cũng như trong trao đổi, lưu thông và tiêu dùng
Khí hậu, thời tiết, các hiện tượng tự nhiên như: gió, mưa, bão, sét ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng các, nguyên vật liệu dự trữ tại các kho tàng, bến bãi Đồng thời
nó cũng ảnh hưởng tới hiệu quả vận hành các thiết bị, máy móc, đặc biệt đối với các
thiết bị, máy móc hoạt động ngoài trời [6]
1.5.3.2 Nhóm các nhân tố chủ quan
a) Trình độ lao động của doanh nghiệp
Trong tất cả các hoạt động sản xuất, xã hội, nhân tố con người luôn luôn là nhân
tố căn bản, quyết định tới chất lượng của các hoạt động đó Nó được phản ánh thông qua trình độ chuyên môn, tay nghề, kỹ năng, kinh nghiệm, ý thức trách nhiệm của từng lao động trong doanh nghiệp Trình độ của người lao động còn được đánh giá thông
Trang 39qua sự hiểu biết, nắm vững về phương pháp, công nghệ, quy trình sản xuất, các tính năng, tác dụng của máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, sự chấp hành đúng quy trình phương pháp công nghệ và các điều kiện đảm bảo an toàn trong doanh nghiệp
Để nâng cao chất lượng quản lý trong doanh nghiệp cũng như nâng cao trình độ năng lực của lao động thì việc đầu tư phát triển và bồi dưỡng cần phải được coi trọng Mỗi doanh nghiệp phải có biện pháp tổ chức lao động khoa học, đảm bảo và trang bị đầy đủ các điều kiện, môi trường làm việc an toàn, vệ sinh cho người lao động Bên cạnh đó, các doanh nghiệp phải có các chính sách động viên, khuyến khích nhằm phát huy khả năng sáng tạo trong cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm thông qua chế độ thưởng phạt nghiêm minh Mức thưởng phạt phải phù hợp, tương ứng với phần giá trị mà người lao động làm lợi hay gây thiệt hại cho doanh nghiệp
b) Trình độ công nghệ, máy móc mà doanh nghiệp sử dụng
Đối với mỗi doanh nghiệp, công nghệ luôn là một trong những yếu tố cơ bản, quyết định tới chất lượng sản phẩm
Trình độ hiện đại, tính đồng bộ và khả năng vận hành công nghệ ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng sản phẩm Trong điều kiện hiện nay, thật khó tin rằng với trình độ công nghệ, máy móc ở mức trung bình mà có thể cho ra đời các sản phẩm có chất lượng cao Ngược lại, cùng không thể nhìn nhận rằng cứ đổi mới công nghệ là có thể
có được những sản phẩm chất lượng cao, mà chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Nguyên vật liệu, trình độ quản lý, trình độ khai thác và vận hành máy móc, thiết bị
Đối với các doanh nghiệp tự động hoá cao, dây chuyền và tính chất sản xuất hàng loạt thì chất lượng sản phẩm chịu ảnh hưởng rất nhiều Do đó, trình độ của các doanh nghiệp về công nghệ, thiết bị máy móc phụ thuộc vào rất nhiều và không thề tách rời trình độ công nghệ thế giới Bởi nếu không, các nước, các doanh nghiệp sẽ không thể theo kịp được sự phát triển trên thế giới trong điều kiện đa dạng hoá, đa phương hoá Chính vì lý do đó mà doanh nghiệp muốn sản phẩm của mình cố chất lượng đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường thì doanh nghiệp đó cần có chính sách công nghệ phù hợp và khai thác sử dụng có hiệu quả các công nghệ và máy móc, thiết bị hiện đại, đã đang và sẽ đầu tư
c) Trình độ tổ chức và quản lý sản xuất của doanh nghiệp
Trang 40Các yếu tố sản xuất như nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, lao động dù có ở trình độ cao song không được tổ chức một cách hợp lý, phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng giữa các khâu sản xuất thì cũng khó có thể tạo ra những sản phẩm có chất lượng Không những thế, nhiều khí nó còn gây thất thoát, lãng phí nhiên liệu, nguyên vật liệu của doanh nghiệp Do đó, công tác tổ chức sản xuất và lựa chọn phương pháp tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp đóng một vai tròn hết sức quan trọng
Tuy nhiên, để mô hình và phương pháp tổ chức sản xuất được hoạt động có hiệu quả thì cần phải có năng lực quản lý Trình độ quản lý nói chung và quản lý chất lượng nói riêng một trong những nhân tố cơ bản góp phần cải tiến, hoàn thiện chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp Điều này gắn liều vói ữình độ nhận thức, hiểu biết của cán bộ quản lý về chất lượng, chính sách chất lượng, chương trình và kế hoạch chất lượng nhằm xác định được mục tiêu một cách chính xác rõ ràng, làm cơ sở cho việc hoàn thiện, cải tiến
Trên thực tế, sự ra đời của hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000 đã khẳng định vai trò và tầm quan trọng của quản lý trong quá trình thiết kế,
tổ chức sản xuất, cung ứng và các dịch vụ sau khi bán hàng
d) Chất lượng nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu là yếu tố chính tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, cấu thành thực thể sản phẩm Chất lượng sản phẩm cao hay thấp phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng nguyên vật liệu đầu vào Quá trình cung ứng nguyên vật liệu đầu vào Quá trình cung ứng nguyên vật liệu có chất lượng tốt, kịp thời, đầy đủ, đồng bộ sẽ bảo đảm cho quá hình sản xuất diễn ra liên tục, nhịp nhàng; sản phẩm ra đời với chất lượng cao Ngược lại, không thể có được những sản phẩm có chất lượng cao từ nguyên liệu sản xuất không bảo đảm, đồng bộ hơn nữa nó còn gây ra sự lãng phí, thất thoát nguyên vật liệu
Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào mà doanh nghiệp có thể bảo đảm được việc cung ứng nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất với chất lượng cao, kịp thời, đầy đủ
và đồng bộ Điều này chỉ có thể thực hiện được, nếu như doanh nghiệp xác lập thiết
kế mô hình dự trữ hợp lý; hệ thống cung ứng nguyên vật liệu thích hợp trên cơ sở nghiên cửu đáng giá nhu cầu về thị trường (cả đầu vào và đầu ra), khả năng tổ chức cung ứng, khả năng quản lý