Về thực trạng Chi nhánh cấp nước huyện Châu Thành là chi nhánh trực thuộc Trung tâm nước sạch và Vệ sinh Môi trường Nông thôn tỉnh Sóc Trăng, đang quản lý 12 trạm hệ cấp nước hiện tại cá
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài:
Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển bền vững của một quốc gia Trong đó, hệ thống cấp nước góp phần quan trọng đối với đời sống và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội
Về thực trạng Chi nhánh cấp nước huyện Châu Thành là chi nhánh trực thuộc Trung tâm nước sạch và Vệ sinh Môi trường Nông thôn tỉnh Sóc Trăng, đang quản lý 12 trạm hệ cấp nước hiện tại các trạm hệ cấp nước đang hoạt động riêng
lẻ, chiều dài tuyến ống là 136km, công suất thiết kế là 5.200m3, cung cấp cho hơn 13.000 hộ, đang hoạt động hết công suất, tỷ lệ thất thu, thất thoát vẫn còn cao trên 21%, các hệ cấp nước lên đến 50%
Về mặt quản lý, kinh phí đầu tư cho quản lý mạng lưới còn gặp nhiều khó khăn, nguồn nhân lực chuyên môn còn hạn chế nên công tác vận hành và quản lý hệ thống chưa đạt được kết quả như mong muốn
Về mục tiêu về chính trị là tỉnh ủy chọn 4 xã của huyện Châu Thành để xây dựng Nông thôn mới trong đó có chỉ tiêu về 17.1 là nhằm nâng cao hộ dân sử dụng nước sinh hoạt hợp quy chuẩn 02/2009/BYT của Bộ Y tế ngày 17/6/2009
Ngoài ra, huyện Châu Thành cũng là huyện chịu sự ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu theo thông báo của UBND tỉnh Sóc Trăng
Với mục tiêu lâu dài là nâng cao hiệu quả quản lý, mở rộng quy mô quản lý hệ thống mạng lưới cấp nước Vì vậy, cần phải từng bước phát triển khoa học kỹ thuật, tăng cường ứng dụng công nghệ mới, từng bước hiện đại hóa hệ thống cấp nước nhằm phục vụ công tác quản lý hệ thống cấp nước một cách có hiệu quả, tiết kiệm chi phí quản lý và đầu tư, duy trì bền vững, cung cấp kịp thời nước cho dân
sử dụng và ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời gian tới Đó là lí do tôi chọn đề
tài “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả, quản lý hệ thống
cấp nước cho chi nhánh cấp nước huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng”
2 Mục tiêu nghiên cứu:
- Đánh giá một cách toàn diện và thực trạng quản lý hệ thống cấp nước tại Chi nhánh cấp nước huyện Châu thành
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hệ thống cấp huyện Châu
Trang 2Thành
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Hệ thống mạng lưới cấp nước Chi nhánh cấp nước huyện Châu Thành, tỉnh Sóc trăng
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Trên địa bàn các xã thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng
4 Nội dung nghiên cứu:
Thu thập thông tin, phân tích và đánh giá hiện trạng hoạt động vận hành và cung cấp nước cho người dân trong Chi nhánh cấp nước huyện Châu Thành Xem xét cơ cấu và trình độ quản lý, đội ngũ cán bộ về trình độ chuyên môn kỹ thuật của nhân viên trong chi nhánh
Đề xuất áp dụng mô hình quản lý mạng lưới cấp nước thông minh thông qua kết nối hệ thống Scada Từ đó, xem xét và đề xuất phương án tinh giản biên chế
5 Phương pháp nghiên cứu:
5.1 Cách tiếp cận:
- Tiếp cận thực tiễn
- Tiếp cận lý thu
- Tiếp cận công nghệ mới
- Tiếp cận đa mục tiêu và bền vững
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp kế thừa: Kế thừa các kết quả của các đề tài, dự án trước đó để tổng hợp thông tin đưa vào cơ sở dữ liệu đầu vào phục vụ cho luận văn
- Phương pháp thu thập, tổng hợp, phân tích và thống kê
- Phương pháp đánh giá nhanh
- Phương pháp sử dụng mô hình, công nghệ thông tin
Trang 3thôn mới tại các xã: xã Phú Tân, xã Hồ Đắc Kiện, xã An Hiệp, xã An Ninh của huyện Châu Thành do Tỉnh ủy tỉnh Sóc Trăng chọn (Chỉ tiêu 17.1 - nâng cao hộ dân sử dụng nước sinh hoạt đáp ứng QCVN 02/2009/BYT do Bộ Y tế ban hành ngày 17/6/2009)
6.3 Vận hành bền vững các công trình cấp nước trong địa bàn huyện nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu
Trang 4CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
1.1.1 Các mô hình quản lý hệ thống cấp nước trên thế giới:
Từ ngày xưa con người đã biết sử dụng các nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt, ăn, uống, nuôi trồng, sản xuất có sẳn trong tự nhiên như từ các sông, suối, ao, hồ, từ các giếng đào, hồ chứa nước Xã hội ngày càng phát triển con người biết sử dụng đến các công trình xử lý nước nhằm nâng cao giá trị của chất lượng và cho sức khỏe của con người
Trên thế giới mô hình quản lý cấp nước chung cũng là các Công ty cấp nước do nhà nước quản lý, đến các trung tâm và các công ty tư nhân phục vụ quản lý và cung cấp nước cho người dân sử dụng
Đất nước Hà Lan là một quốc gia có mật độ dân số khá cao nhưng với gần 2/3 diện tích lãnh thổ nằm dưới mực nước biển, Hà Lan chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ biến đổi khí hậu Nhưng những sự cố vỡ đê dường như chưa bao giờ làm nhục chí, mà trái lại còn làm người Hà Lan trở nên mạnh mẽ và khôn ngoan hơn trong việc trị thủy và ngày nay, người Hà Lan không coi biến đổi khí hậu là nguy cơ, thách thức đối với nền kinh tế…, mà còn nhìn nhận đó là cơ hội…
Ở Hà Lan các ủy ban về nước (water board) - một thể chế bao gồm chính quyền địa phương, các cơ quan chuyên môn và các tổ chức đại diện cho người dân trên địa bàn
cả về quyền lợi và nghĩa vụ… đã có từ 700 năm nay, và hiện nay, số lượng ủy ban chỉ còn lại 27, nhằm tăng cường về nguồn lực và sự phối hợp được nhanh chóng và tập trung hơn
Đảo quốc Malta có lẽ là quốc gia duy nhất trên thế giới không có sông, suối, hồ nước ngọt tự nhiên Bên cạnh đó, lượng mưa ghi nhận tại Malta hàng năm chỉ là 550mm nên người dân buộc phải đào giếng tự phát Dù vậy, đây hoàn toàn không phải là giải pháp lâu dài bởi theo quy định của Liên minh châu Âu (Malta là thành viên từ năm 2004), việc khai thác các giếng nước ngọt phải được kiểm soát theo quy hoạch và chịu thuế Hơn nữa, theo tính toán của Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO), các nguồn
Trang 5nước ngọt của Malta sẽ cạn kiệt trong vài thập kỷ tới Để đối phó với thực trạng này, các cơ quan chức năng Malta đã nghĩ ngay đến nước biển - nguồn tài nguyên gần như
vô tận đối với quốc đảo
Hiện tại, nguồn nước ngọt được lọc từ nước biển đã trở thành nguồn nước quan trọng đứng thứ hai của người dân Malta Hầu hết, nước sinh hoạt hàng ngày tại các đô thị ở Malta là nước được xử lý, tẩy mặn từ nước biển thông qua các nhà máy lớn với công nghệ hiện đại Cũng nhờ công nghệ tẩy mặn nước biển, trong tương lai gần, người dân Malta hiện không quá phải lo lắng thiếu nước ngọt cho sinh hoạt và sản xuất
Tuy nhiên, nước biển có thể là nguyên liệu vô hạn nhưng để tẩy mặn nước biển lại cần
sử dụng rất nhiều năng lượng truyền thống có thể gây hiệu ứng nhà kính tăng cao Theo đại diện Cơ quan Quản lý tài nguyên Malta, giải pháp bền vững nhất để đảm bảo nguồn tài nguyên nước ngọt trong tương lai vẫn là ý thức tiết kiệm của người dân
1.1.2 Các mô hình quản lý hệ thống cấp nước ở Việt Nam:
* Tại các đô thị và thị xã: NHà nước quả lý, Bộ xây dựng là đơn vị đầu mối UBND cấp tỉnh là đơn vị quản lý trực tiếp tại địa phương quản lý chung các đơn vị cấp nước trong địa bàn tỉnh ở các đô thị đa số các đơn vị cấp nước là các công ty cổ phẩn cấp nước là đơn vị quyết định và ban hánh các đơn giá tiền nước Tùy theo mỗi địa phương mà đơn vị quản lý có cách gọi và đặt tên khác nhau Có nơi là công ty cấp thoát nước, công ty cổ phần cấp nước, công ty TNHH MTV cấp nước… tuy có tên gọi khác nhau nhưng mục đính chính vẫn vag cung cấp nước cho người dân sử dụng được nguồn nước sạch
Hiện nay chính sách chung của đảng và nhà nước là cổ phần hóa các dơn vị cung cấp nước dơ nhà nước quản lý và kêu gọi đầu tư các công trình cấp nước mới với hình thức xã hội hóa với 100% là nguồn vốn sử dụng điều là của tư nhân
Công tác quản lý vận hành và cung cấp nước để bán cho người dân đều qua đồng hồ
đo nước tại các hộ gia đình quy ra giá trị trên một mét khối nước được nhà nước ban hành theo một giá trị cụ thể Việc lắp đặt hệ thống đấu nối khách hàng kể cả thủy lượng kế do các đơn vị cấp nước đầu tư theo quy định tại Nghị định số 117/2007/NĐ –
CP ngày 11 tháng 7 năm 2007 về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch
Trang 6Hình 1.1: Sơ đồ tổ chức quản lý hệ thống cấp nước ở Việt Nam khu vực thành thị
Tại các khu vực nông thôn: Đảng và nhà nước ta luôn chú trọng đến cung cấp nước cho người dân trên địa bàn nông thôn để đảm bảo tình hình sức khỏe
Việt Nam phấn đấu đến năm 2020, 95% dân số được sử dụng nước hợp vệ sinh, 55% dân số sử dụng nước sạch Tuy nhiên, một số trở ngại trong việc cấp nước sạch nông thôn hiện nay là chúng ta chưa xây dựng được cơ chế, chính sách phù hợp vùng, miền, đối tượng Việc cấp nước không bền vững, chất lượng nước còn dễ bị ô nhiễm vì cấp nước nhỏ lẻ là chủ yếu (chiếm gần 60%) Mặt khác, nguồn hỗ trợ quốc tế cho cấp nước sạch nông thôn giảm
Ngoài ra, tác động của biến đổi khí hậu đang đe dọa chất lượng nguồn nước, đặc biệt
là trường hợp xảy ra thiên tai, nhiều nơi khó tiếp cận nguồn nước sạch Ô nhiễm môi trường nước có xu thế ngày càng tăng, trong khi ở một số khu vực (như Tây Nguyên), việc quản lý và vận hành công trình thiếu bền vững và chậm khắc phục
Hiện nay, chúng ta có tổng cộng 16.342 công trình cấp nước sạch tập trung, nhưng chỉ
có 33,5% công trình hoạt động bền vững; 37,8% hoạt động trung bình và 28,7% hoạt
Trang 7động kém hiệu quả và không hoạt động Trong đó, số công trình cấp nước nhỏ lẻ hợp
vệ sinh chiếm tới 56,5% dân số nông thôn
Để tạo điều kiện cho nhiều người dân được tiếp cận với nước sạch, góp phần hoàn thành tiêu chí nước sạch theo chương trình xây dựng nông thôn mới, các địa phương cần lồng ghép đầu tư xây dựng chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn với các chương trình xây dựng nông thôn mới, xóa đói, giảm nghèo Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư cấp nước, cũng như thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để giảm tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch
Các bộ, ngành, địa phương, cơ quan đoàn thể đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý, sử dụng, khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn theo phạm vi trách nhiệm của mình, phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng và trường học tổ chức phổ biến, giáo dục, hướng dẫn nhân dân, học sinh tham gia bảo vệ công trình cấp nước, sử dụng nước tiết kiệm và chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về cấpnước
Ở nước ta hiện nay các công trình cấp nước đa số là các công trình nhỏ lẽ có công suất
từ 7m3/h đến 40m3/h hoạt động thường xuyên, được quản lý bởi các Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn các tỉnh
Quy mô công trình trung bình (công suất từ 300 – 500 m3/ngày đêm) và quy mô lớn (công suất >500 m3/ngày đêm) Phạm vi cấp nước cho liên thôn (đồng bằng), liên bản (miền núi), xã liên xã Trình độ, năng lực quản lý, vận hành công trình thuộc loại trung bình hoặc cao
Mô hình tổ chức gồm: Giám đốc, các phó giám đốc và các phòng nghiệp vụ (phòng quản lý cấp nước, phòng tổ chức – hành chính, phòng kỹ thuật, phòng kế hoạch – tài chính…) và trạm cấp nước Giám đốc chịu trách nhiệm chung, trực tiếp quản lý phòng
tổ chức – hành chính, kế hoạch – tài chính Các phó giám đốc phụ trách các phòng chuyên môn và các tổ chức quản lý vận hành Các phòng ban giúp việc cho giám đốc theo chuyên môn, nhiệm vụ được giao
Mỗi trạm cấp nước thành lập một tổ quản lý vận hành trực thuộc phòng quản lý cấp
Trang 8nước và chịu trách nhiệm sự quản lý của các phòng chức năng thuộc Trung tâm, trực tiếp quản lý, vận hành công trình Thực hiện bảo trì, bảo dưỡng thường xuyên, sửa chữa những hư hỏng, đọc đồng hồ và ghi chép số lượng nước sử dụng của các hộ dùng nước, thu tiền nước của người sử dụng và nộp lên bộ phận kế toán Mỗi tổ quản lý từ 3 – 5 người (1 tổ trưởng 3 – 4 cán bộ vận hành bảo dưỡng)
Tại tỉnh Sóc Trăng Khu vực nông thôn phần là Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Sóc Trăng quản lý Mô hình này đảm bảo cung cấp nước có chất lượng mà giá thành phù hợp với người dân Mô hình cũng nhận được nhiều nguồn tài trợ từ các tổ chức trong nước và ngoài nước ( tổ chức Care, nguồn vốn ODA, dự án
WB, quỷ phòng chống thiên tai miền trung…), do đó cải thiện được kỹ thuật, áp dụng công nghệ kỹ thuật tiên tiến trong quá trình xử lý nước đồng thời quan tâm tới vấn đề bảo vệ môi trường và an ninh – xã hội
Hình 1.2: Sơ đồ tổ chức quản lý hệ thống cấp nước ở Việt Nam khu vực nông thôn
Trang 9Hình 1.3: Sơ đồ tổ chức quản lý hệ thống cấp nước ở Việt Nam tư nhân quản lý
Cơ cấu tổ chức của mô hình gồm: Giám đốc và các phòng ban giúp việc, Ban kiểm soát, Trạm cấp nước, cán bộ, công nhân vận hành duy tu bảo dưỡng công trình được tuyển dụng theo đúng nghiệp vụ, chuyên môn về quản lý, công nghệ kỹ thuật cấp nước, được đào tạo, có bằng cấp chuyên môn
Nhiệm vụ: Sản xuất kinh doanh ngành nghề dịch vụ cung cấp nước sạch cho người sử dụng theo hợp đồng thỏa thuận, thực hiện chế độ tài chính quy định của Nhà nước Giám đốc chịu trách nhiệm quản lý điều hành các hoạt động của công ty; Các phòng ban giúp việc cho Giám đốc theo từng nghiệp vụ chuyên môn, chức năng nhiệm vụ được giao; Ban kiểm soát có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh doanh của công ty; Trạm cấp nước trực tiếp quản lý, vận hành công trình, thực hiện bảo trì, bảo dưỡng thường xuyên, sửa chữa những hư hỏng, đọc đồng hồ và ghi chép số lượng nước sử dụng của các hộ dùng nước, thu tiền nước của người sử dụng và nộp lên bộ phận kế toán (Công ty) hoặc có bộ máy, hạch toán độc lập (Công ty thành viên)
* Dịch vụ cung cấp nước tại nước ta:
- Chất lượng nước cung cấp cho người dân thành thị đa số phải đạt Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01-1:2018/BYT về Chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt Quy chuẩn này quy định Quy chuẩn này quy định mức giới hạn các thông số chất lượng đối với nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt
- Nhu cầu sử dụng nước: tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 33-2006 đã quy định tiêu chuẩn cấp nước tính theo đầu người cho các đối tượng dùng nước: Thành phố lớn, thành phố
du lịch, nghỉ mát, khu công nghiệp lớn là 300 – 400 l/người.ngày Thành phố, thị xã vừa và nhỏ, khu công nghiệp nhỏ là 200 – 270 l/người.ngày Thị trấn, trung tâm công
Trang 10– nông nghiệp, công – ngư nghiệp, điểm dân cư nông thôn là 80 – 150 l/người.ngày và nông thôn là 40 – 60 l/người.ngày Áp lực tự do tại các điểm lấy nước vào nhà tính từ mặt đất không nhỏ hơn 10m và áp lực tự do bên ngoài của hệ thống cấp nước sinh hoạt tại các hộ tiêu thụ không nên quá 40m, trường hợp đặc biệt có thể lấy đến 60m Hiện nay, do khó khăn về kinh phí nên các địa phương chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước theo quy định của tiêu chuẩn trên
- Giá nước sạch: Sở tài chính các tỉnh tham mưu UBND tỉnh ban hành quyết định về giá nước và được điều chỉnh tùy theo lộ trình Bộ Tài Chính, Bộ Xây Dựng, Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành các thông tư liên tịch hướng dẫn nguyên tắc, phương pháp xác định giá tiêu thụ nước sạch và thẩm quyền quyết định giá tiêu thụ nước sạch thực hiện tại các đô thị, khu công nghiệp và khu vực nông thôn
Tại Sóc trăng nước tại khu đô thị giá nước sạch được tính theo kiểu lũy tiến theo mục đích sử dụng của khách hang Khu vực nông thôn ban hành một mức giá không tính theo lũy tiến Các tỉnh thành khác trong hiệp hội cấp nước vùng đồng bằng song Cữu Long giá nước cũng thống nhất theo một đơn giá không ban hành giá bậc thang
- Số khách hàng sử dụng dịch vụ cấp nước: Khách hàng sử dụng nước sạch ở khu vực
đô thị có sự khác biệt đáng kể trong việc tiếp cận giữa các khu vực nông thôn và đô thị Theo kết quả khảo sát, thống kê của UNICEF và Bộ Y Tế thì hiện tại ở khu vực nông thôn mới chỉ có 11.7% người dân được sử dụng nước sạch, 31% hộ gia đình phải
sử dụng giếng khoan, 31.2% số hộ gia đình sử dụng giếng đào Số còn lại chủ yếu dùng nước ao hồ (11%), nước mưa và nước đầu nguồn sông suối Hiện nay, nguồn nước đang bị ô nhiễm nặng Ông Nguyễn Tôn – Chủ tịch Hội Cấp thoát nước Việt Nam cho biết: “Hiện có khỏang 70% dân số tại các đô thị được sử dụng nước sạch” Theo ông Tôn, con số này khác xa so với báo cáo của cơ quan chức năng cho rằng hiện nay có tới 76% số dân vùng nông thôn, vùng đồng bằng sông Hồng được cung cấp nước sạch, cao hơn mức bình quân chung cả nước (70%) Theo đánh giá của Hội Cấp thoát nước Việt Nam, việc người dân nông thôn sử dụng nguồn nước giếng khoan, nước mưa, thậm chí là cả nguồn nước máy nhưng chất lượng cụ thể như thế nào vẫn chưa có giải đáp Đặc biệt, tại các khu vực bị nhiễm môi trường nặng thì nguồn nước
từ các giếng khoan có nguy cơ ô nhiễm rất nặng Số nhà cung cấp dịch vụ: Hiện nay,
Trang 11tại Việt Nam, có nhiều loại nhà cung cấp dịch vụ với sự khác biệt đáng kể trong các danh mục của các nhà cung cấp dịch vụ giữa thành thị và nông thôn Chịu trách nhiệm
về thiết lập chính sách trong cấp nước và VSCC: Bộ Xây dựng (khu vực đô thị), Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (quản lý giá và tài sản), Bộ Y tế (chất lượng nước, vệ sinh môi trường), Bộ Tài nguyên và môi trường (quản lý tài nguyên nước và đất đai)
-Nguồn nước: Sử dụng chủ yếu là nước mặt, một phần sử dụng là nước ngầm
-Các vấn đề ảnh hưởng đến nguồn cung cấp nước: Sự suy thoái về lưu lượng, chất lượng và hạ thấp mực nước ngầm Sự ô nhiễm của nguốn nước mặt và nhu cầu sử dụng ngày càng tăng cao trong các lĩnh vực hoạt động của sản xuất đời sống
Tùy theo điều kiện cụ thể, các nước đã nghiên cứu ban hành các hệ thống văn bản quản lý và khuôn khổ pháp lý để quản lý các hệ thống cấp nước tập trung trong phạm
vi của nước mình hay chung cho một tổ chức (như các nước thuộc EU)
Tiêu chuẩn quốc tế ISO 24510, Các hoạt động liên quan đến dịch vụ nước uống và nước thải – Hướng dẫn đánh giá và cải thiện dịch vụ cho người dùng; ISO 24511, Các hoạt động liên quan đến nước uống và dịch vụ nước thải – Hướng dẫn quản lý các tiện ích nước thải và đánh giá các dịch vụ nước thải, và ISO 24512, Các hoạt động liên quan đến dịch vụ nước uống và nước thải – Hướng dẫn quản lý các dịch vụ nước uống
và đánh giá các dịch vụ nước uống
Nước sạch đóng vai trò rất quan trọng đối với sức khỏe và cuộc sống của con người Nước sạch giúp cho con người duy trì cuộc sống hàng ngày bởi con người sử dụng nước sạch để cung cấp cho các nhu cầu ăn uống, hoặc sử dụng cho các hoạt động sinh hoạt như tắm rửa, giặt giũ, rửa rau, vo gạo Để thỏa mãn các nhu cầu vệ sinh cá nhân
và sinh hoạt, mỗi người cần tới khoảng 120 lít nước/ngày Nước sạch không chỉ là trong, không màu, không mùi, không vị mà còn phải an toàn đối với sức khỏe của người sử dụng Nếu sử dụng nước không sạch thì sẽ ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe, vì nước là môi trường trung gian chuyển tải các chất hóa học và các loại vi khuẩn, vi rút,
Trang 12ký sinh trùng gây bệnh mà mắt thường không nhìn thấy được
Việc sử dụng nước bị nhiễm bẩn các yếu tố vi sinh vật cũng là nguyên nhân gây nên các bệnh hoặc các vụ dịch đường tiêu hóa như tiêu chảy, tả, lỵ, thương hàn Nước cũng như thực phẩm rất dễ bị nhiễm các loại vi khuẩn E Coli, Salmonella gây bệnh tiêu chảy, phẩy khuẩn tả gây bệnh tả… Nhiều người dùng chung một nguồn nước bị nhiễm
vi khuẩn gây bệnh có thể gây bùng phát các vụ dịch trong cộng đồng và nếu phân hoặc chất thải của những người này không được quản lý tốt, gây ô nhiễm môi trường thì dịch bệnh lại càng có nguy cơ lan rộng hơn
Do đó, Nhà nước rất quan tâm đến lĩnh vực cấp nước Vì thế nên đã ban hành nhiều văn bản pháp quy để định hướng, điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực cấp nước Nghiên cứu xây dựng hoàn thiện, bổ sung mới hệ thống văn bản quản lý, các văn bản quy phạm pháp luật, các quy chế, quy định, tiêu chuẩn và hướng dẫn thực hiện có liên quan đến việc xây dựng, quản lý và vận hành HTCN
Nghị định 117/2007/NĐ-CP - ngày 11/7/2007 của Chính phủ về sản xuất,cung cấp và tiêu thụ nước sạch
Nghị định này quy định về các hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch theo hệ thống cấp nước tập trung hoàn chỉnh tại khu vực đô thị, khu vực nông thôn và các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế (sau đây gọi tắt là khu công nghiệp); quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân và hộ gia đình
có hoạt động liên quan đến sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch trên lãnh thổ Việt Nam
Nghị định này áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động liên quan đến việc sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch trên lãnh thổ Việt Nam
Ngoài ra cong nêu rõ một số trách nhiệm như sau: 1 Trách nhiệm lập nhiệm vụ, đồ án quy hoạch cấp nước vùng:
- Bộ Xây dựng tổ chức lập nhiệm vụ, đồ án quy hoạch cấp nước vùng liên tỉnh;
Trang 13- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) có trách nhiệm tổ chức lập nhiệm vụ, đồ án quy hoạch cấp nước vùng trong địa giới hành chính do mình quản lý
- Thẩm quyền thẩm định, phê duyệt nhiệm vụ, đồ án quy hoạch cấp nước vùng:
- Đối với quy hoạch cấp nước vùng liên tỉnh:
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hoặc uỷ quyền cho Bộ Xây dựng phê duyệt nhiệm vụ,
đồ án quy hoạch cấp nước vùng liên tỉnh trong thời hạn 25 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ
Bộ Xây dựng chủ trì thẩm định các nhiệm vụ, đồ án quy hoạch cấp nước vùng liên tỉnh thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ trong thời hạn 20 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ
- Đối với quy hoạch cấp nước vùng thuộc tỉnh:
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt nhiệm vụ, đồ án quy hoạch cấp nước vùng thuộc địa giới hành chính do mình quản lý trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận
đủ hồ sơ hợp lệ của cơ quan thẩm định và ý kiến thoả thuận của Bộ Xây dựng
Sở Xây dựng các tỉnh, Sở Giao thông công chính các thành phố trực thuộc trung ương chủ trì thẩm định các nhiệm vụ, đồ án quy hoạch cấp nước vùng thuộc thẩm quyền phê duyệt của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong thời hạn 20 ngày làm việc, kể từ ngày nhận
đủ hồ sơ hợp lệ
Quyết định 1929/QĐ-TTg Quyết định phê duyệt định hướng phát triển cấp nước đô thị
và khu công nghiệp Việt Nam đến năm 2025 tầm nhìn đến năm 2050
Quan điểm: Hoạt động cấp nước là loại hình hoạt động sản xuất kinh doanh chịu sự kiểm soát của Nhà nước nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đơn vị cấp nước và khách hàng sử dụng nước, trong đó có xét đến việc hỗ trợ cấp nước cho người nghèo, các khu vực đặc biệt khó khăn
Phát triển hoạt động cấp nước bền vững trên cơ sở khai thác tối ưu mọi nguồn lực, đáp
Trang 14tốt và kinh tế
Khai thác, sản xuất và cung cấp nước sạch không phụ thuộc vào địa giới hành chính
Ưu tiên khai thác các nguồn nước để cấp nước cho mục đích sinh hoạt của cộng đồng Khuyến khích sử dụng nước sạch hợp lý, tiết kiệm, an toàn và áp dụng công nghệ tái
Mục tiêu và các chỉ tiêu cụ thể đến năm 2025:
Tỷ lệ bao phủ dịch vụ cấp nước sạch tại các đô thị đạt 100%, tiêu chuẩn cấp nước bình quân đạt 120lít/người/ng.đ, chất lượng nước đạt quy chuẩn quy định
Tỷ lệ thất thoát thất thu nước sạch tại các đô thị dưới 15%
Dịch vụ cấp nước ổn định, liên tục 24 giờ trong ngày, áp lực nước trên toàn mạng đạt quy chuẩn quy định
Tuy nhiên, cần phải lập quy hoạch tổng thể cấp nước sạch Chú ý đầy đủ đến điều kiện
tự nhiên và xã hội của từng vùng Tạo môi trường thuận lợi cho Nhà nước và tư nhân tham gia phát triển cấp nước Hoàn thiện các hệ thống quản lý để các hợp đồng thi công có thể được đấu thầu và quản lý một cách rõ ràng và công bằng Cần cung cấp đầy đủ và sắp xếp lại cho hợp lý cán bộ nhân viên trong lĩnh vực cho phù hợp với nghề nghiệp và yêu cầu nhiệm vụ sắp tới Bồi dưỡng cho các cán bộ các kiến thức và kỹ năng về lập chương trình, kế hoạch, điều phối, quản lý theo cách tiếp cận dựa trên nhu cầu cấp nước
Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 23/01/2009 của Chính phủ
Quy định chính sách ưu đãi, hỗ trợ, khuyến khích đối với các dự án đầu tư xây dựng
Trang 15công trình cấp nước sạch
Bộ Xây dựng ban hành TCVN 5576:1991 về quy phạm quản lý kỹ thuật hệ thống cấp thoát nước TCVN 33 – 2006 quản lý thiết kế công trình cấp thoát nước Quy chuẩn QCVN 07:2010/BXD là quy định về các yêu cầu kỹ thuật bắt
buộc phải tuân thủ trong đầu tư và xây dựng mới, cải tạo hoặc nâng cấp các công trình
hạ tầng kỹ thuật đô thị
Thông tư số 88/2012/TT-BXD, ngày 21/11/2012 hướng dẫn thực hiện đảm bảo cấp nước an toàn trong lĩnh vực sản xuất, cung cấp nước sạch theo hệ thống cấp nước tập trung hoàn chỉnh tại khu vực đô thị và khu công nghiệp Bộ Tài chính nghiên cứu ban hành các thông tư hướng dẫn việc thực hiện quyết toán vốn đầu tư và khung giá cấp nước, quản lý tài sản
Bộ Tài nguyên và môi trường ban hành quyết định số 16/2008/QĐ-MTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2008 quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về môi trường kèm theo QCVN 08:2008/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước mặt, QCVN 09:2008 quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước ngầm Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về bùn thải từ quá trình xử lý nước QCVN 50:2013/BTNMT được ban hành theo Thông tư số 32/2013/TT-BTNMT ngày 25 tháng 10 năm 2013
Tuy nhiên, với tình hình chất lượng nước nguồn ngày càng diễn biến xấu đi do tình trạng xả thải của các khu công nghiệp và ý thức của người dân chưa cao Dẫn đến tình trạng ngày càng có nhiều chất ô nhiễm, độc hại tồn tại trong nước với nồng độ cao gây khó khăn trong quá trình xử lý Do đó, cần có các biện pháp bảo vệ nước nguồn và đầu
tư thiết bị công nghệ xử lý tối ưu cho hệ thống để có chất lượng nước tốt phục vụ cho toàn xã hội
Ngoài ra, tai Sóc Trăng trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn cũng đã lập đề án cấp nước sạch sinh hoạt cho các xã nông thôn mới tỉnh Sóc Trăng giai đoạn năm 2018 đến năm 2023 được ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng phê duyệt tại quyết định số 1912/QĐ-UBND ngày 06 tháng 8 năm 2018 và cũng đang thực hiện thi công công trình
Trang 161.4 Tổng quan về khu vực nghiên cứu:
1.4.1 Vị trí địa lý:
Chi nhánh nước sạch huyện Châu Thành được đặt tại khu hành chánh huyện Châu thành, trong đó có các trạm cấp nước: trạm Tái định cư Thuận Hòa, Thuận Hòa A, Thuận Hòa B, Trạm An Hiệp, trạm Phú Tân, trạm Phú Tâm, trạm Thiện Mỹ, trạm An Ninh, trạm Hồ Đắc Kiện, hệ cấp nước Chông Nô, hệ cấp nước Xây Đá A đang hoạt động riêng lẻ
Huyện Châu Thành là một huyện được tách lập từ huyện Mỹ Tú, theo Nghị định số 02/2008/NĐ-CP, ngày 24 tháng 9 năm 2008 của Chính phủ và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 06 tháng 01 năm 2009 Huyện Châu Thành nằm ở phía Bắc của tỉnh Sóc Trăng, cách Thành phố Sóc Trăng khoảng 15 km Châu Thành có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Sóc Trăng, là cửa ngõ của tỉnh, là đầu mối giao thông quan trọng, là nơi tập trung nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp cùng với nguồn nguyên liệu dồi dào
Với lợi thế giao thông thuận lợi về đường bộ, huyện Châu Thành là cửa Ngõ vào trung tâm thành phố Sóc Trăng, có tuyến Quốc lộ 1A chạy dọc huyện theo hướng Đông Bắc – Tây Nam chia huyện thành 2 phần tương đối đều nhau, là tuyến giao thông huyết mạch, nối địa bàn huyện với tỉnh Hậu Giang, Bạc Liêu Ngoài Quốc lộ 1A, địa bàn huyện còn giáp với tuyến Quốc lộ 60, đây là tuyến trục đối ngoại quan trọng của huyện nối với huyện Long Phú, Cù Lao Dung và các tỉnh Trà Vinh, Bến Tre, đây là một lợi thế quan trọng thứ hai của Huyện trong vùng
Giao thông đường thủy cũng rất thuận lợi với tuyến kênh Maspero, Kênh An Mỹ - 30/4,… thuận lợi giao thương với các vùng lân cận; nguồn nguyên vật liệu dồi dào, các cơ sở chế biến đa số nằm rãi rác trong các khu dân cư không có điểm tập trung với quy mô lớn; đất đai còn khá nhiều nhưng chưa khai thác hiệu quả, có khả năng phát triển xây dựng, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trước mắt và lâu dài
1.4.2 Điều kiện khí hậu:
Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm 26,80°C; nhiệt độ bình quân cao nhất 31,10°C; nhiệt độ bình quân thấp nhất 23,80°C
Trang 17Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình năm 1840mm, phân bố theo mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài 7 tháng (tháng 5 đến tháng 11) Số ngày mưa bình quân khoảng 130 ngày/năm Mưa ở Châu Thành thường không kéo dài liên tục nhiều ngày mà phổ biến là mưa trận cách quãng nhau, thời gian kéo dài trung bình khoảng 2-3 giờ
Độ ẩm không khí: Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm là 83,4%, mùa mưa độ ẩm cao có thể đạt tới 88%, các tháng có độ ẩm thấp trung bình 77,3%
Nắng: Tổng số giờ nắng trung bình trong năm khoảng 2372 giờ, các tháng có số giờ nắng cao từ tháng 3 đến tháng 9 trung bình đạt 260 giờ/tháng (cao nhất vào tháng 5), các tháng có số giờ nắng thấp từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau trung bình 120-130 giờ/tháng (thấp nhất vào tháng 12)
Gió: Hướng gió thịnh hành là gió Đông từ tháng 11 đến tháng 4; gió Đông Nam tháng 5; gió Tây tháng 6 đến tháng 9; gió Tây Nam tháng 10 Tốc độ gió trung bình năm là 3,9m/s, trung bình tháng lớn nhất là 4,9m/s, trung bình tháng nhỏ nhất là 3,lm/s
1.4.3 Điều kiện thủy văn:
Huyện Châu Thành chịu ảnh hưởng chủ yếu của chế độ bán nhật triều biển Đông, chảy vào huyện theo hai hướng chính: Hướng từ sông Hậu chảy qua các kênh Quản lộ Phụng Hiệp, kênh Phụng Hiệp - Sóc Trăng, kênh 30/4 và các kênh thuỷ lợi; Hướng từ sông Mỹ Thanh đổ vào qua sông Nhu Gia theo kênh Phụng Hiệp-Sóc Trăng bị ngăn chặn, chủ động bởi các cống ngăn mặn, điều tiết nước Nên được chia làm 2 vùng, khu vực lập quy hoạch chịu ảnh hưởng trực tiếp của triều biển Đông thông qua sông Hậu, các kênh rạch ở Kế Sách và thông qua 2 trục kênh chính của vùng là kênh 30/4 và kênh An Mỹ-30/4, kênh; với biên độ triều trung bình từ 0,5 - lm, thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ, hải sản
1.4.4 Địa chất công trình:
Qua kết quả tham khảo bản đồ đất của Hội khoa học đất Việt Nam và Sở Địa chính Sóc Trăng năm 1999 cho thấy, trên địa bàn của huyện Châu Thành được chia làm 4 nhóm đất chính sau:
+ Nhóm đất phèn
+ Nhóm đất phù sa
+ Nhóm đất giồng cát
+ Nhóm đất nhân tác
Trang 181.5 Hiện trạng cơ sở hạ tầng hệ thống cấp nước ở Chi nhánh cấp nước huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng
Hình 1.4 : Sơ đồ công nghệ xử lý nước ngầm đại diện của chi nhánh cấp nước huyện Châu Thành
Nguồn nước hiện tại đang sử dụng là nguồn nước ngầm, chiều sâu giếng khoan của các trạm giao động từ các trạm là 120m-410m Các giếng nước được khoan trong trạm công suất khai thác là 40m3/h
Giếng + Bơm giếng: có nhiệm vụ lấy nước từ giếng và bơm đến trạm xử lý nước được xây dựng với diện tích là 1m2
Công trình oxy hóa: Các công trình sử dụng giàn mưa có chức năng để không khí mang oxy xâm nhập vào trong nước cung cấp oxy cho quá trình oxy hóa Fe2+ thành Fe3+ và đuổi CO2 ra khỏi nước, góp phần nâng pH, công trình được xây dựng ngay trên hệ thống lọc
Trộn hóa chất nâng độ kiềm: Nước được châm hóa chất là clo để đảm bảo cho quá trình oxy hóa tạo kết tủa Fe(OH)3 để loại ra khỏi nước nhanh hơn
Bể tiếp xúc: là nơi để các quá trình oxy hóa tạo kết tủa Fe(OH)3 thực hiện, các cặn sắt nhỏ tiếp xúc va chạm tạo thành các hạt cặn lớn hơn để có thể lắng, lọc được
Bể lọc nhanh: là công đoạn cuối cùng làm nhiệm vụ loại bỏ sắt ra khỏi nước đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng nước Nước vào bể lọc có thể từ bể tiếp xúc, bể lắng tiếp xúc và
bể lắng Nước vào bể lọc có hàm lượng cặn < 20mg/l Nước vào bể lọc càng trong càng tốt, để giảm chi phí vận hành bể lọc hiện tại công nghệ được áp dụng là hệ thống lọc hở được xây dựng với diện tích là 2m2
Khử trùng nước: Nước sau khi được làm trong cần được khử trùng nước Hóa chất khử
Trang 19trùng được sử dụng là Clo và các hợp chất của Clo, được trộn đều vào nước Clo/hợp chất clo thường được châm vào trước bể chứa để đảm bảo thời gian Clo tiếp xúc với nước tối thiểu 30 phút trước khi cấp tới người sử dụng Hàm lượng clo dư trên mạng lưới đảm bảo > 0,3mg/l
Bể chứa nước sạch 120m3: làm nhiệm vụ điều hòa nước giữa trạm bơm cấp I và cấp II,
dự trữ một lượng nước cho chữa cháy và cho bản thân trạm xử lý nước
Trạm bơm cấp II: làm nhiệm vụ bơm nước từ bể chứa nước sạch vào mạng lưới cấp nước, đảm bảo cung cấp nước đến các hộ dùng nước trong mạng lưới với lưu lượng và
Trang 20Hình 1.6 : Sơ đồ tổ chức bộ máy cấp nước của chi nhánh huyện Châu Thành
Chi nhánh cấp nước huyện Châu Thành là đơn vị trực thuộc trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Sóc Trăng Được bố trí nhân sự như sau:
- Giám đốc ( 1 người): quản lý chung các công việc nhiệm điều hành, quản lý toàn bộ hoạt động của Chi nhánh, quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến mọi hoạt động hàng ngày của Chi nhánh, chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các quyết định của Trung tâm về phương án kinh doanh và phương án đầu tư của Chi nhánh, kiến nghị cách bố trí cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ Chi nhánh, đề xuất với Giám đốc Trung tâm bổ nhiệm, miễn nhiệm các chức danh quản lý trong Chi nhánh Giám đốc còn là chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hoạt động kinh doanh của Chi nhánh
Đề ra những hướng đi cụ thể cho Chi nhánh Có quyền đề xuất khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công nhân viên trong Chi nhánh
- Phó giám đốc (1 người): tham mưu cho giám đốc các vấn đề liên quan đến kinh doanh, kỹ thuật và phát triển của Chi nhánh Thay giám đốc giải quyết các vấn đề tại Chi nhánh khi giám đốc vắng mặt Theo dõi và giải quyết các vấn đề liên quan đến tình hình kinh tế, kỹ thuật của Chi nhánh
Trang 21- Nhân viên trạm (mỗi trạm có từ 1-3 người): thực hiện các công việc của ban giám đốc chi nhánh giao như: trực quản lý vận hành, thu tiền nước, trực sửa chửa các sự cố nhỏ như bể ống từ phi 114 trở xuống
1.6.2 Năng lực cán bộ quản lý:
Chi nhánh cấp nước huyện Châu Thành đang tự xây dựng cho mình các quy trình nội
bộ về quản lý chất lượng, vận hành, bảo trì, bảo dưỡng hệ thống cấp nước do mình quản lý và khai thác
Trình độ, năng lực và tính chuyên nghiệp vụ còn hạn chế Các nhân viên của trạm đa
số chưa có bằng chuyên môn phù hợp với công việc
cấp nước huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng
1.7.1 Mặt mạnh trong công tác quản lý hệ thống ở chi nhánh
Tự chủ trong công tác quản lý, vận hành không phụ thuộc vào sự hỗ trợ của nhà nước trong công tác cung cấp nước Vì hoạt động sản xuất, kinh doanh của Chi nhánh nhằm mục đích thu lợi nhuận góp phần thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội đồng thời đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong Chi nhánh
Từng bước áp dụng công nghệ vận hành bán tự động và tự động trong quản lý vận hành hệ thống cấp nước như: lắp đặt hệ thống biến tần ở trạm bơm cấp II, công tác châm hóa chất vào nguồn nước cấp cũng được châm bằng bơm định lượng, việc thí nghiệm mẫu được trung tâm nước Sóc Trăng hỗ trợ hàng tháng, kết hợp với trung tâm
y tế dự phòng tỉnh Sóc Trăng lấy mẫu thí nghiệm hàng quý đúng theo quy định
1.7.2 Mặt yếu trong công tác quản lý hệ thống ở chi nhánh
Công tác tác phối hợp với các chính quyền địa phương trong công tác kiểm tra, giám sát, quản lý đầu tư phát triển hệ thống cấp nước chưa được chủ động
Chưa nghiên cứu đề xuất các cơ chế chính sách nhằm khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong công tác đầu tư, quản lý và vận hành hệ thống cấp nước, tuyên truyền cho người dân sử dụng đúng nguồn nước sạch đảm bảo cho sức khỏe
Trang 22Chưa xây dựng được cơ chế khoán nội bộ trong hoạt động sản xuất kinh doanh và cung cấp nước Chưa có cơ chế trả lương phân phối thu nhập cho người lao động một cách rõ ràng nên chưa phát huy được năng suất sản xuất của Chi nhánh, mỗi cán bộ còn tính trông chờ và ỷ lại được sự giúp đở của Trung tâm
Chính quyền địa phương nói chung và Chi nhánh cấp nước nói riêng chưa chủ động trong việc huy động các nguồn vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế để mở rộng phát triển hệ thống cấp nước, nâng cao năng suất dịch vụ và chất lượng của dịch vụ cấp nước
Năng lực quản lý một số bộ phận chuyên trách còn thiếu và yếu, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu chung của Chi nhánh, nhân viên kỹ thuật của chi nhánh không đúng chuyên môn nghiệp vụ, bằng cấp chưa phù hợp với vị trí việc làm, dẫn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, sự hài lòng của khách hàng chưa cao
Chưa xây dựng được kế hoạch vận hành duy tu bảo dưỡng cũng như quản lý tài sản trên hệ thống cấp nước một cách chuyên nghiệp đặc biệt là các thiết bị gắn với mạng lưới cấp nước Các sự cố chưa phát hiện kịp thời nếu có phát hiện thì mất hết thời gian dài, nhất là sự cố bể ống chưa khoanh vùng được sự cố, đa số là đi tìm kiếm bằng thủ công hoặc do người dân địa phương báo vào đường dây nóng
Chi phí sản xuất vẫn cao, chi phí tiêu hao điện năng vẫn lớn, tỷ lệ thất thoát rò rỉ ở mức cao dẫn đến giá thành sản phẩm vẫn chưa thể hiện đúng giá trị của nó
1.7.3 Cơ hội trong công tác quản xây dựng hệ thống cấp nước của chi nhánh
Trong thời gian qua hệ thống cấp nước ở các khu vực Nông thôn của Việt Nam được Đảng, Chính phủ, các đơn vị tài trợ quan tâm ưu tiên cải tạo và xây dựng nhằm từng bước đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế xã hội cho vùng nông thôn trong giai đoạn hiện nay
Hệ thống cấp nước ở Chi nhánh cấp nước huyện Châu Thành nói riêng và hệ thống cấp nước tỉnh Sóc Trăng nói chung cũng được hưởng lợi rất nhiều từ các cơ chế chính sách của nhà nước và chính quyền địa phương
Thu hút sự quan tâm của các dự án hợp tác có nguồn vốn đầu tư nước ngoài của các tổ chức tài trợ, các dự án vay vốn ADB, ODA, WB, Care … nhằm cải thiện cấp nước và môi trường
Trang 23Cơ chế chính sách thu hút sự tham gia của các thành phần kinh tế của nhà nước tạo cơ hội cho việc nâng cao năng lực phục vụ và chất lượng của hệ thống cấp nước
Sự gia tăng nhanh chóng về dân số dẫn tới số lượng khách hành sử dụng nước sẽ tăng trong tương lai, đây là cơ hội để mở rộng phạm vi cấp nước cũng như ra tăng doanh thu cho Chi nhánh
Dân trí ngày càng cao, ý thức của cộng đồng về nước sạch vệ sinh môi trường ngày càng tốt, là tiền đề cho sự tham gia tham vấn của cộng đồng trong công tác quản lý hệ thống cấp nước
1.7.4 Thách thức trong công tác quản lý hệ thống cấp nước ở Chi nhánh
Cơ chế chính sách của địa phương vẫn còn nhiều thủ tục chưa tạo điều kiện tốt nhất cho việc thực hiện quản lý các dự án có nguồn vốn vay một cách hiệu quả nhất
Là khu vực nông thôn dân số nhiều vùng còn thưa thớt rất khó đầu tư nhằm cung cấp đầy đủ nước cho người dân nông thô được sử dụng nguồn nước sạch là 65% là rất khó khăc và thách thức
Chưa xây dựng được công tác sử phạt đối với người dân quy phạm và được ống cấp nước như cố tình làm vỡ được ống nước, sử dụng nước chưa qua đồng hồ, còn một bộ phận nhỏ nhười dân chưa ý thức được tầm quan trọng trong sử dụng nước sạch, sử dụng không tiết kiệm
Chưa xây dựng được cơ chế chính sách, bộ máy tổ chức quản lý vận hành hệ thống cấp nước khi có sự tham gia của các thành phần kinh tế, hay sự tham gia của cộng đồng
Mạng lưới đường ống cấp nước xây dựng từ rất lâu, gây thất thoát và rò rỉ lớn
Kế hoạch triển khai xây dựng, cải tạo mạng lưới đường ống cấp nước còn chậm và chưa thực sự khoa học gây ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ cung cấp nước cho các khách hàng của Chi nhánh
Sự mở rộng liên tục về địa giới hành chính sang các vùng lân cận làm phá vỡ các định hướng phát triển cấp nước đã đề ra trước đó và gây sức ép lên các công trình đầu mối hiện có
Trang 24Sự khó khăn về nguồn vốn phát triển mạng lưới cấp nước cho các khu vực mở rộng mới của thành phố
Trình độ dân trí không đồng đều gây khó khăn trong công tác quản lý, giám sát mạng lưới cấp nước, cũng như tuyên truyền về sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nước sạch
1.7.5 Những vấn đề câng giải quyết của luận văn
1.7.5.1 Cơ cấu tổ chức quản lý:
Cần sắp xếp lại mô hình tổ chức, quản lý của Chi nhánh theo mô hình kinh tế thị trường, tạo tiền đề đổi mới toàn diện mô hình tổ chức và hoạt động kinh doanh, phục
vụ nhằm tạo sự chuyển biến cơ bản về năng lực quản lý, nâng cao năng suất lao động, khả năng cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người dân sử dụng nước Đẩy mạnh xã hội hóa công tác quản lý vận hành hệ thống cấp nước của Chi nhánh trên
cơ sở Nghị định 117/2007/NĐ-CP về sản xuất, cung cấp và kinh doanh nước sạch và Nghị định 108/2009/NĐ-CP về các hình thức đầu tư
1.7.5.2 Cơ chế chính sách:
Cần có các giải pháp cụ thể hơn về cơ chế chính sách trong công tác sản xuất kinh doanh nước sạch, tiến tới xây dựng chính sách giá hợp lý để tiến tới công tác cổ phần hóa
Cần quan tâm tới vấn đề đào tạo nâng cao năng lực cán bộ đáp ứng được yêu cầu về quản lý vận hành hệ thống cấp nước theo kịp với sự phát triển của khoa học công nghệ
và có cơ chế đãi ngộ hợp lý đối với các cán bộ có trình độ cao
Nâng cao năng lực quản lý thực hiện các dự án đầu tư và mở rộng thị trường
Chuẩn bị kế hoạch ứng cứu cho hệ thống cấp nước khi có khả năng bị rủi ro cao
Xây dựng các cơ chế chính sách kêu gọi sự tham gia tham vấn của cộng đồng trong công tác quản lý hệ thống cấp nước
1.7.5.3 Cơ chế quản lý kyc thuật của chi nhánh
Nghiên cứu các ứng dụng khoa học công nghệ trong công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật nói chung và quản lý hệ thống cấp nước nói riêng, để nâng cao năng lực quản lý hệ thống cấp nước
Xây dựng và thực hiện kế hoạch duy tu bảo trì, bảo dưỡng hệ thống cấp nước
Trang 25Lập kế hoạch và chương trình hành động cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chống thất thoát thất thu nước sạch
Tăng cường công tác quản lý kỹ thuật trong sản xuất nhằm tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và nâng cao hơn nữa chất lượng dịch vụ cấp nước
Công tác dịch vụ phục vụ và phát triển khách hàng cần được đổi mới và nâng lên đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khách hàng
Công tác thiết kế mạng lưới, phát triển khách hàng phải gắn liền với định hướng phát triển ngành trong quy hoạch tổng thể để phát triển bền vững và hiệu quả
Trang 26CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ HỆ THỐNG CẤP NƯỚC CHO CHI NHÁNH CẤP NƯỚC HUYỆN CHÂU
THÀNH TỈNH SÓC TRĂNG2.1 Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Vai trò, đặc điểm của hệ thống cấp nước:
Hệ thống cấp nước là một tập hợp các công trình: Thu nước, xử lý nước, điều hòa, vận chuyển nước và phân phối nước đến nơi tiêu dung nước
Hệ thống cấp nước là tổ hợp các công trình đơn vị Từ nguồn, trạm bơm cấp I, khu xử
lý, trạm bơm cấp II, mạng lưới đường ống truyền tải và phân phối, các thiết bị phụ kiện và thiết bị cấp nước Với quá trình khai thác, vận hành hệ thống cấp nước tạo ra nguồn nước đáp ứng nhu cầu ăn uống sinh hoạt, công nghiệp đảm bảo chất lượng và lưu lượng nước
Các yêu cầu cơ bản đối với một hệ thống cấp nước là: đảm bảo đưa đầy đử là liên tục lượng nước cần thiết đến nơi tiêu dung; đảm bảo chất lượng nước và các yêu cầu sử dụng, giá thành xây dựng và quản lý rẻ, thi công và quản lý dể dàng thuận tiện có khảo năng tự động hóa và cơ giới hóa việc khai thác, xử lý và vận chuyển nước…
Hệ thống cấp nước có thể phân ra thành các giai đoạn sau:
- Theo đối tượng phục vụ:
+ Hệ thống cấp nước đô thị
+ Hệ thống cấp nước công nghiệp
+ Hệ thống cấp nước nông nghiệp
+ Hệ thống cấp nước đường sắt
- Theo chức năng phục vụ:
+ Hệ thống cấp nước sinh hoạt
Trang 27+ Hệ thống cấp nước chữa cháy
+ Hệ thống cấp nước kết hợp
- Theo phương pháp sử dụng:
+ Hệ thống cấp nước chảy thẳng: Nước được dung trong thải đi ngay
+ Hệ thống cấp nước tuần hoàn: Nước chảy tuần hoàn trong một chu trình kín Hệ thống này tiết kiệm nước chỉ vì cần bổ sung một phần nước hao hụt trong quá trình tuần hoàn, thường dung trong công nghiệp
+ Hệ thống cấp nước dung lại: nước có thẻ dung lại một vài lần rồi mới thảy đi, thường áp dụng trong công nghệp
- Theo phương pháp vận chuyển nước:
+ Hệ thống cấp nước có áp: nước chảy trong ống chịu áp lực do bơm hoặc bể nước trên cao tạo áp
+ Hệ thống cấp nước tự chảy: nước tự chảy theo ống hoặc mương hở do chênh lệch địa hình
- Theo phương pháp chữa cháy:
+ Hệ thống chữa cháy áp lực thấp: áp lực nước ở mạng lưới đường ống cấp nước thấp nên phải dung bơm đặt trên xe chửa cháy nhằm tạo ra áp lực cần thiết để dập tắt đám cháy Bơm có thể hút trực tiếp từ đường ống thành phố hay tại các thùng chứa nước trên xe chữa cháy
+ Hệ thống chữa cháy áp lực cao: áp lực nước trên mạng lưới đường ống đảm bảo đưa nước tới mọi nơi chữa cháy Do đó đội phòng cháy chữa cháy chỉ câpf việc lấp ống vải gai vào họng chữa cháy trên mạng lưới đường ống để lấy nước chữa cháy
- Theo phạm vi phục vụ:
+ Hệ thống cấp nước trong nhà
+ hệ thống cấp nước tiểu khu
Trang 28+ Hệ thống cấp nước thành phố
2.1.2 Các yêu cầu cơ bản của hệ thống cấp nước nông thôn
Các yêu cầu cơ bản đối với một hệ thống cấp nước là: đảm bảo đưa đầy đủ và liên tục lượng nước cần thiết đến các nơi tiêu dùng; bảo đảm chất lượng nước đáp ứng mọi yêu cầu sử dụng, giá thành xây dựng và quản lý rẻ, thi công và quản lý dễ dàng, thuận tiện,
có khả năng tự động hóa và cơ giới hóa việc khai thác, xử lý và vận chuyển nước
Hệ thống cấp nước đô thị cần đảm bảo các yêu cầu sau:
+ Đảm bảo đưa đầy đủ và liên tục lượng nước cần thiết đến các nơi tiêu dùng: Điều này có nghĩa là, ở mọi điểm trên mạng lưới cấp nước, kể cả vị trí bất lợi nhất, vào bất
cứ giờ nào, ban ngày hay ban đêm, mùa lạnh cũng như mùa nóng, lúc nào cũng có đủ nước cho các đối tượng sử dụng
+ Đảm bảo chất lượng nước cho mọi đối tượng dùng nước: Chất lượng nước ăn uống, sinh hoạt phải đảm bảo yêu cầu về chất lượng do Nhà nước quy định theo tiêu chuẩn chỉ tiêu các thành phần trong nước ăn uống sinh hoạt của Bộ Y tế quy định tại QCVN 02:2009/BYT
Chất lượng nước sử dụng cho công nghiệp và việc sử dụng hóa chất để xử lý nước phải phù hợp với yêu cầu công nghệ và phải xét đến yêu cầu của chất lượng nước đối với sản phẩm
Giá thành xây dựng và quản lý rẻ: Để có giá thành xây dựng và quản lý rẻ, khi thiết kế
hệ thống cấp nước phải đưa ra các giải pháp kỹ thuật, dựa trên cơ sở các chỉ tiêu kinh
tế, kỹ thuật sao cho toàn bộ giá thành toàn bộ của sản phẩm nước sạch là nhỏ nhất Giá nước được tính đúng, tính đủ để trang trải chi phí đầu tư và phát triển
Lập lại kỷ cương cấp nước trong ngành cấp nước ở khu vực nông thôn ở tất cả các khâu từ quy trình công nghệ, sản xuất, kinh doanh tài chính, phục vụ đến quản lý nhà nước Kiên quyết loại trừ các hiện tượng tiêu cực trong ngành nước, đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao dân trí kết hợp với pháp luật, phát huy vai trò, quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng quản lý và sử dụng hệ thống cấp nước nông thôn
Trang 29Mở rộng phạm vi và nâng cao chất lượng dịch vụ cấp nước đô thị Phấn đâu đến năm
2023 có 65% dân số nông thôn được sử dụng nước sạch
Đảm bảo cấp nước cho nhu cầu sinh hoạt và các nhu cầu văn hóa xã hội trong các khu vực nông thôn
Cải tạo các công trình quá cũ nâng cao công suất phục vụ cho người dân
Giảm tỷ lệ thất thoát thất thu nước về 15% là mục đích của trung tâm nước Sóc Trăng cần đạt đến
Đào tạo cán bộ và đổi mới công tác quản lý phù hợp với đường lối công nghiệp hóa – hiện đại hóa của Đảng và nhà nước
Lựa trọn các đơn vị tư vấn để đảm bảo được công tác lập dự án, thiết kế các hệ thống cấp nước đạt được các yêu cầu đề ra
Phát triển khoa học kỹ thuật, tăng cường ứng dụng công nghệ mới thông qua chuyển giao công nghệ, từng bước hiện đại hóa hệ thống cấp nước nông thôn, từng bước nâng tầm với nước của đô thị
Khi thiết kế hệ thống cấp nước phải quan tâm đến hệ thống thoát nước và vệ sinh môi trường của khu vực lập các đề án bảo vệ môi trường đúng quy định Ghi các hồ sơ quan trắc gõ rang, mạch lạc và chính xác
Áp dụng các tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm tiên tiến đưa ngành nước Việt Nam hội nhập với các nước trên thế giới phù hợp với chính sách mở cửa và mở rộng hợp tác quốc tế của Đảng và Nhà nước
2.1.3 Quản lý kỹ thuật hệ thống cấp nước
Nhiệm vụ quản lý kỹ thuật hệ thống cấp nước gồm:
* Theo dõi định kỳ chế độ làm việc của hệ thống cấp nước
- Kiểm tra lưu lượng, chất lượng nước trước và sau khi xử lý
- Kiểm tra áp lực phân phối vào mạng lưới
Trang 30- Đi dọc theo tuyến ống để kiểm tra tình trạng làm việc của hệ thống cấp nước:
đo áp lực từng đoạn, kiểm tra chất lượng nước từng đoạn
- Quan sát thiết bị và công trình trên hệ thống như: các van khóa tuyến, các van
xả nguồn, nắp hố van, họng chữa cháy, van xả khí, …
- Phát hiện chỗ sụt lở, rò rỉ và các sự cố khác
- Quan sát vị trí của đường ống đi qua những nơi đặc biệt như: ống qua đường sắt, ống dưới lòng sông, ống qua cầu, ống qua qo, mương, ống qua các cánh đồng ruộng, ống qua các vườn ăn trái…
- Quan sát kỹ các điểm đấu nối từ mạng truyền dẫn vào mạng phân phối và xác định tình trạng kỹ thuật tại các điểm đấu đó
- Kiểm tra các đồng hồ nước trên các tuyến ống nhánh vào khu nhà ở
- Kiểm tra kỹ thuật các đường ống dẫn nước vào công trình
- Nghiên cứu chế độ làm việc của mạng lưới đường ống
* Sửa chữa các chỗ hư hỏng và bảo dưỡng theo định kỳ
- Sửa chữa đột xuất:
+ Khảo sát rò rỉ của các đoạn ống trên mạng lưới và sửa chữa, thay thế kịp thời + Bịt các chỗ nứt nẻ của đường ống
+ Sửa chữa các chỗ hư hỏng cục bộ
- Bảo dưỡng định kỳ:
+ Xiết lại các đinh ốc, bulong, sơn chống rỉ ngoài vỏ
+ Sửa chữa hố van, thay thế nắp đậy
+ Sửa chữa và thay thế phụ tùng, thiết bị trên hệ thống cấp nước
* Tẩy rửa, khử trùng hệ thống:
Trang 31Tẩy rửa bằng dòng nước áp lực, tăng vận tốc nước chảy trong ống từ 2 – 4 lần Biện pháp này có thể tẩy rửa được cặn mềm và cặn vi sinh
Tẩy rửa bằng gió, nước kết hợp: Đưa hỗn hợp khí nước vào đường ống tẩy rửa với vận tốc 2,5 m/s đối với cặn mềm và 10 m/s đối với cặn cứng trong khoảng thời gian 15 –
30 phút
Tẩy rửa bằng thủy lực và cơ khí: dùng quả cầu kim loại đưa vào trong đường ống, nhờ tác dụng của dòng nước đẩy quả cầu mà cặn trong ống được làm sạch - Khử trùng hệ thống bằng các biện pháp sau:
Hàng tuần tiến hành châm clo khử trùng các công trình đơn vị trong khu xử lý
Trên mạng lưới: dùng dung dịch Clo hàm lượng 40 – 50 mg/l đưa vào đường ống ngâm trong 4 – 6 giờ Sau đó xả rửa ống bằng nước sạch đến khi nồng độ Clo trong nước còn 0,4 – 0,5mg/l
* Quản lý thất thoát nước
Các nguyên nhân chính dẩn đến việc thất thu, thất thoát nước như:
- Thất thoát kỹ thuật bao gồm:
+ Rò rỉ trên đường ống
+ Rò rỉ tại thiết bị phụ tùng nối ống
+ Rò rỉ tại những điểm đấu vào mạng truyền dẫn, đặc biệt là các điểm đấu trái phép
- Thất thoát và thất thu do quản lý bao gồm:
+ Việc quản lý cấp phép đấu nối đường ống chưa chặt chẽ, gây việc đấu nối bừa bãi và thiết bị đấu nối không đạt tiêu chuẩn cho phép
+ Do đồng hồ đo nước không chính xác, gây sai số
+ Do dùng hợp đồng khoán
Trang 32+ Do không có van khóa khống chế áp lực, nên nhiều vị trí trên mạng lưới có áp lực quá lớn, gây rò rỉ, thất thoát nước
- Các biện pháp giảm thất thu thất thoát:
+ Điều chỉnh lưu lượng và áp lực trên mạng lưới phù hợp với chế độ tiêu thụ nước trên mạng lưới
+ Phát hiện rò rỉ, sửa chữa kịp thời
+ Đưa ra các văn bản xử phạt hành chính với các hành vi đấu nối trái phép
+ Lắp đạt đồng hồ đo nước cho 100% khách hàng
+ Cải tiến mạng lưới ghi thu hóa đơn
+ Đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý
+ Nâng cao dân trí, giáo dục ý thức tự giác
+ Xây dựng mô hình quản lý khách hang
Quản lý nhu cầu theo đối tượng sử dụng
Những người sử dụng có thu nhập cao: cần lắp đặt các thiết bị tiết kiệm nước trong nhà, các biện pháp tiết kiệm nước ngoài nhà (vườn, bể bơi,…) và các biện pháp định giá nước
Những người sử dụng có thu nhập trung bình: cần lựa chọn quản lý nhu cầu nước hiệu quả nhất đối với nhóm này là các biện pháp định giá nước, đặc biệt là mức thuế tăng lên và chiến dịch tăng nhận thức có hiệu quả
Những người sử dụng có thu nhập thấp: cần thiết phát triển mạng cấp nước phục vụ tới từng hộ gia đình thuộc khu dân cư có thu nhập thấp, đảm bảo cấp nước đầy đủ và sẵn sàng
Trang 332.1.4 Giới thiệu mô hình quản lý cấp nước thông minh thông qua kết nối hệ thống kết nối SCADA
2.1.4.1 Lược sử hình thành:
SCADA ( viết tắc từ chữ: Supervisory Control And Data Acquisition) là một hệ thống quản lý tự động hóa trong công nghiệp với chức năng điều khiển giám sát và thu thập
dữ liệu Khởi nguồn của hệ thống SCADA chính là các thiết bị nhập, xuất dữ liệu được
sử dụng để kiểm soát từ xa các hoạt động công nghiệp trong những năm 1960 Chỉ đến đầu những năm 1970, khái niệm “SCADA” mới được hình thành, khi mà các bộ vi xử
lý và điều khiển khả trình PLC (Programmable Logic Controller) phát triển, từ đó giúp nâng cao khả năng quản lý và kiểm soát quy trình tự động hóa ở các doanh nghiệp Trong những năm 1980 và 1990, hệ thống SCADA đã được cải tiến với việc sử dụng mạng cục bộ LAN (Local Area Network), cho phép các hệ thống SCADA kết nối với nhau, và là tiền đề cho sự phát triển của phần mềm giao diện người - máy trên máy tính (PC - based HMI software)
Đến những năm 1990 và đầu 2000, các cơ sở dữ liệu (CSDL) sử dụng ngôn ngữ truy vấn cấu trúc (SQL) đã trở thành tiêu chuẩn cho CSDL công nghệ thông tin Tuy nhiên, nhiều nhà lập trình SCADA đã không ứng dụng phương pháp này, khiến công nghệ SCADA có những bước lùi trong giai đoạn này Nhưng ngay sau thời kì này, khi các tiêu chuẩn công nghệ thông tin hiện đại và các phương pháp như ngôn ngữ SQL đã được ứng dụng vào hệ thống SCADA, các hệ thống này đã trở nên hiệu quả, an toàn,
ổn định và năng suất hơn
- Ưu điểm của hệ thống Scada:
+ Ghi và lưu trữ một số lượng rất lớn dữ liệu vào máy tính
+ Dữ liệu có thể được chia sẽ và hiển thị mọi nơi, mọi lúc
+ Một hệ thống Scada lớn có thể kết nối hàng ngàn thiết bị cảm biến
+ Có thể thu thập nhiều kiểu dữ liệu khác nhau từ các RTUs
Trang 34- Nhược điểm của hệ thống Sacda:
+ Hệ thống ngày càng trở nên phức tạp hơn
+ Yêu cầu phải có kỹ năng lập trình, phân tích hệ thống
+ Do phải kết nối rất nhiều thiết bị nên việc đấu dây rất phức tạp và khó khăn
Trang 35- Phân loại RTU: RTU dung cho trạm chung truyển: có dung lượng gõ nhập/xuất rất lớn gồm nhiều ngăn card cho phép kết nối tới nhiều vi xử lý, card ADC và DAC, card I/O
- RTU dung để tự động hóa lưới phân phối: có tác dụng gõ nhập/xuất nhở
Thường là các mạch điều khiển đơn board, coa màn hình Monitor trên đó tích hợp sẳn các ngõ I/O
Bộ điều khiển logic khả trình: PLC ( Programable logic control)
Hệ thống của I/O của PLC có thể mở rộng rất lớn tín hiệu điều khiển ác ngỏ ra hoặc điều khiển bằng chương trình nạp sẳn
► Truyền thông trong Scada: được kết nối mạng Lan hay Wan
Một khi sự kiên được kích hoạt thật sự, nó bật ON hay OFF thiết bị điều khiển bên ngoài được gọi là thiết bị vật lý Một bộ điều khiển lập trình lien tục “lặp” trong trương trình do “ người sử dụng lập ra” chờ tín hiệu ngõ vào và xuất tính hiệu ở ngỏ ra tại các thời điểm đã lập trình
2.1.4.4 Cấu trúc:
Tất cả các PLC đều có thành phần chính là: Một bộ nhớ trong chương trình Ram bên trong Một bộ vi xử lý có cổng giao tiếp dung cho ghép nối với PLC các Modul vào/ra
Bên cạnh đó, một bộ PLC hoàn chỉnh còn đi kèm them một đơn vị lập trình bằng tay
Trang 36hay bằng máy tính Hầu hết các đơn vị lập trình đơn giản đều có đủ Ram để chứa đựng chương trình dưới dạng điều khiển hoàn thiện hay bổ sung
2.1.4.5 Nguyên lý hoạt động của PLC
CPU điều khiển các hoạt động bên trong PLC Bộ xủa lý sẽ đọc và kiểm tra chương trình được chứa đựng trong bộ nhớ, sau đó sẽ thực hiện thứ tự từng lệnh trong chương trình,sẽ dóng hay ngắt các đầu ra Các trạng tháy ngõ ra ấy được phát tới các thiết bị lien kết để thực thi và toàn bộ các hoạt động thực thi đó đều phụ thuộc vào chương trình điều khiển được giử trong bộ nhớ
Hệ thống Bus là tuyến dùng để truyền tín hiệu, hệ thống gồm nhiều đường tín hiệu song song:
- Address Bus : Bus địa chỉ dung để truyền địa chỉ đến các Modul khác nhau
- Data Bus: Bú được dung để truyền dữ liệu
- Control Bus: Bus điều khiển dung để điều khiển truyền các tín hiệu định thì và điều khiển đồng bộ các hoạt động trong PLC
Trên Address Bus, modul đầu vào ra tương úng nhận được dữ liệu từ data bus Coltrol Bus sẽ chuyền các tín hiệu điều khiển vào theo dõi chu trình hoạt động của trong PLC các số liệu được trao đổi giũa bộ vi xử lý và các modul vào ra thông qua Data bus Address Bus và Data Bus gồm 8 đường, ở cùng thời điểm cho phép truyền 8 bit của 1 byte một các đồng thời hay song song
Nếu một modul đầu vào nhận được địa chỉ của nó trên Address Bus, nó sẽ chuyển tất
cả trạng thái dầu vào của nó vào data Bus Nếu một địa chỉ byte của 8 đầu ra xuất hiện PLC Các địa chỉ và số liệu được chuyển lên các Bus tương ứng trong một thời gian hạn chế
Hệ thống Bus sẽ làm nhiệm vụ trao đổi thông tin giữa CPU, bộ nhớ và I/O bên cạnh
đó, CPU được cung cấp một xung clock có tần số rừ 1.8 Mhz xung này quyết định tốc
độ hoạt động của PLC và cung cấp các yếu tố về định thời, đồng hồ của hệ thống
Trang 372.1.4.6 Hệ thống Scada về sử lý nước trong nhà máy
Hình 2.2 Quy trình sản xuất và cung cấp nước của chi nhánh cấp nước huyện Châu
thành
Để nâng cao hiệu quả điều hành qua trình này, cần phải giám sát lien tục các thông số
kỹ thuật :
- Lượng nước thô khai thác: thông số này lien quan đến phí phải trả về tài nguyên
và là một thông số lien quan đến đánh giá tổn thất thoát nước hiện tại chi nhánh Châu thành chỉ ghi bằng cách xem chỉ số trên đồng hồ tổng khai thác thông đánh giá khách quan về quá trình thu thập dữ liệu, nếu nhân viên quên thì quá trình ghi chỉ số không đồng nhất
- Các thông số đo lường cần giám sát, lưu trữ các quá trình sản xuất và cung cấp nước sạch gồm: mực nước trong giếng khoan, bể nước sạch, các bể thuộc các công đoạn của quá trình xử lý nước, hàm lượng clo dư, các áp lực nước trên các đường ống,
độ PH, độ đục, độ lắng cặn
- Lượng nước sạch cung cấp: tại đầu ra của nhà máy tổng lượng nước sạch tại các
hồ và địa chỉ tiêu dung nước thông số này lien quan đến thu tiền nước và việc đánh giá tổn that nước cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Trạng thái kỹ thuật của các thiết bị, máy móc trong nhà máy gồm: thông báo trạng thái tức thời chất lượng kỹ thuật, lượng nước cấp, lượng điện năng tiêu thụ
- Như vậy, tất cả các thông tin trên đều cần phải được thể hiện trực quan sinh động trên các mang hình đặt tại các phòng chức năng liên quan đến đều khiển giám sát
và thu thập dữ liẹu, đều này hoàn toàn được thỏa mãn bởi hệ thống Scada
Trang 382.1.4.6 Hệ thống điều khiển giám sát và thu thập dữ liệu ( Scada) cho nhà máy nước:
- Hệ thống được chia thành các hệ thống điều khiển thành phần bao gồm: Hệ thống điều khiển trạm bơm nước thô: nhiệm vụ của công đoạn này là bơm nước thô lên để trộn với hóa chất vào trong nước, theo dõi lưu lượng, áp lực đường ống…
- Hệ thống điều khiển nhà hóa chất: nhiệm vụ của công đoạn này là xử lý hóa chất trước khi đưa lên tháp làm thoán, giám sát nồng độ clo dư trong không khí, bơm tiếp tục châm clo…
- Hệ thống điều khiển cụm xử lý nước: sau một thợi gian lọc nước thì cặn bẩn có nhiều trong lỗ rỗng của các lọc sẽ làm giảm hiệu suất lọc nước, do đó phải tiến hành rữa bể lọc để nâng cao khả năng lọc của bể
- Hệ thống điều khiển trạm bơm nước sạch: Bơm nước vào hệ thống cấp nước toàn bộ
hệ thống được giám sát tại nhà quản lý, dữ liệu sẽ được gửi đến máy trung tâm để phân tích, thống kê, lên kế hoạch sản xuất
2.1.4.7 Những đặc điểm của hệ thống:
- Hệ thống có cấu trúc tập trung
- Mọi thông tin đều được tập trung về máy chủ thông qua các OLC
- Việc truyền thông tin được thực hiện dưới dạng số thông qua Profibus
- Việc truy cập trao đổi thông tin được thực hiện theo các tiêu chuẩn quốc tế RS232, RS485 và các giao thức công nghiệp
2.1.4.8 Các chức năng chính của hệ thống:
- Thu thập các thông số của các thiêý bị máy móc, sản phẩm
- Điều khiển và giám sát các trạng thái của tất cacr các thiết bị máy móc tại hiện trường đảm bảo chất lượng
- Báo cáo thống ke và in ấn
- Tạo lập và thực thi hàmm công thức
Trang 39- bảo mật và phân quyền thực thi hệ thống
- Chỉnh sửa online
2.1.4.9 Nguyên lý hoạt động của hệ thống:
Từ hiện trường ( nơi đặt các thiết bị, máy móc của dây chuyền sản xuất và hệ thống đường ống, tương lai là toàn bộ các địa chỉ và hộ tiêu dung nước) các cảm biến (s) đưa tín hiệu đo: đến modul vào/ra (I/O) và đến PLC Thông tin tại PLC được xủa lý sơ bộ
và truyền lên máy tín chủ, người thao tác có thể tác động đến bất kỳ điểm nào trên hiện trường thông qua các cơ cấu chấp hành (A) Hoạt động của hệ thống Scada sẽ đảm bảo tính liên tục
Điều khiển tự đông các thiết bị, máy móc rời rạc và các thiết bị, máy móc quá trình lien tục
Giám sát tự động lien tục toàn bộ quy trình sản xuất của nhà máy và mạng đường ống cung cấp nước sạch
Thông báo thông tin đầy đủ về lỗi và trạng thái làm việc của thiết bị, máy móc; chủ yếu là các bơm, van, biến tần
Thu thập và lưu trữ dữa liệu những thông tin phục vụ quản lý cà điều hành những thông tin chính, mức nước bể chứa, áp lực, lưu lượng, điện năng tiêu thụ, chất lượng nước in ấn báo cáo kết quản các dữ liệu giam sát
2.1.4.10 Giải thích sơ đồ hệ thống điều khiển nhà máy nước:
- Monitor > PLC> Profibus>PLC ( các hệ thống điều khiển thành phần)
- Giao thức Profibus: Profibus là một tieu chuẩn mạng trường mở, Quốc tế theo mạng trường Châu âu EN 50170 và EN 50254 Trong sản xuất, các ứng dụng tự động hóa quá trình công nghiệp và tự động hóa tòa nhà, mạng trường nối tiếp có thể hoạt động như hệ thống truyền thông, trao đổi thông tin giữa các hệ thống tự động Profibus là một mạng Fieldbus được thiết kê giao tiếp giữa máy tính và PLC Dựa trên nguyên tắc token bus không đồng bộ ở chế độ thời gian thực, profibus xá định mối quan hệ truyền thông giữa nhiều master và giữa mastẻ - slave, với khả năng truy cập theo chu kỳ và
Trang 40không theo chu kì, tốc độ truyền lên tới 500kbit/s
2.1.4.11 Chức năng cảnh báo lỗi:
Trong các trang màn hình công nghệ có ô Alams để vào trang cảnh báo và báo lỗi trang này hiển thị các trạng thái lỗi của các thiết bị/máy móc/ tín hiệu Các trạng thái lỗi được hiển thị ở hai dạng khác nhau:
- Được thể hiện đươi dạng đèn báo ( ô tròn nhỏ) trên màn hình công nhệ, mỗi biểu tượng sẻ ứng với ten của một thiết bị/ máy móc Khi hệ thống phát hiện bất kì một lỗi nào thì lỗi đó sẽ tự đọng được lưu vào bảng hay tên của một tín hiệu khi có lỗi
Dạng hiển thị náy mang tính tức thời
- Danh sách lỗi ( alảm list) Do đó, người vận hành có thể tra cứu lại các lỗi trong quá khứ theo thời gian mong muốn hay tìm lỗi của thiết bị trong một nhóm nào đó…
và cuối cùng là có thể in ra danh sách các lỗi, hay in ra các file để lưu trữ Dạng hiển thị này phục vụ cho công tác thống kê, quản lý lỗi và trên cơ sở đó giúp các kỹ thuật viên có hướng sử lý lỗi
2.1.4.12 Chức năng lưu trữ các thông số vận hành của các thiết bị/máy móc và vẽ đồ thị:
Trong quá trình sản xuất và cung cấp nước sạch, các thong số vận hành của: các máy bơm trong các trạm bơm, các thiết bị/máy móc thuộc các công đoạn xử lý nước, cac van trên tuyến đường ống… sẽ được lưu tự động trong các file dữ liệu của hệ thống ( Historical Data) Hệ thongs sẽ sử dụng các thông tin trong file này để thực hiện vẽ đồ thị
Thông qua các bản vẽ này, các kỹ thuật viên sẽ biết được trạng thái hoạt động của thiết bị/máy móc trong quá khứ Các biểu đồ sử dụng các “ Historical Data” để vẽ được gọi
là “ Historical Trending” Một dạng Trending khác là Online Trending ( hay còn gọi là Time Trending) có đặc điểm: dữ liệu dung để vẽ đồ thị được lấy trực tiếp từ các giá trị thực của các thiết bị/máy móc Khi kỹ thuật viên mở một ô để xem realtime Trending thì ngay khi mở ra hệ thống mới bắt đầu vẽ, còn ở Historical Trending thì do dữ liệu
đã được lưu trước nên kỹ thuật viên chỉ việc chỉ ra khoản thời gian nào để xem