BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI NGUYỄN THU HÀ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CÁC CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG KHÔ HẠN TRONG ĐÁNH GIÁ NGUỒN NƯỚC VÀ GIÁM SÁT TÌN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
NGUYỄN THU HÀ
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CÁC CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG KHÔ HẠN TRONG ĐÁNH GIÁ NGUỒN NƯỚC VÀ GIÁM SÁT TÌNH HÌNH THIẾU HỤT NGUỒN NƯỚC VÙNG SÔNG PHAN – CÀ LỒ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
NGUYỄN THU HÀ
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CÁC CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG KHÔ HẠN TRONG ĐÁNH GIÁ NGUỒN NƯỚC VÀ GIÁM SÁT TÌNH HÌNH THIẾU HỤT NGUỒN NƯỚC VÙNG SÔNG PHAN – CÀ LỒ
Chuyên ngành: Kỹ thuật tài nguyên nước
Mã số: 8580212
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC 1:
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC 2:
TS NGUYỄN QUANG PHI PGS.TS NGUYỄN VĂN TUẤN
HÀ NỘI, NĂM 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Nguyễn Thu Hà, tôi xin cam đoan đề tài luận văn của tôi là do tôi làm Những kết quả nghiên cứu là trung thực Trong quá trình làm tôi có tham khảo các tài liệu liên quan nhằm khẳng định thêm sự tin cậy và cấp thiết của đề tài Các tài liệu trích dẫn rõ nguồn gốc và các tài liệu tham khảo được thống kê chi tiết Những nội dung và kết quả trình bày trong Luận văn là trung thực, nếu vi phạm tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng 3 năm 2019
TÁC GIẢ
Nguyễn Thu Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu, đến nay luận văn thạc sĩ với đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng các chỉ số đánh giá tình trạng khô hạn trong đánh giá nguồn nước và giám sát tình hình thiếu hụt nguồn nước vùng sông Phan - Cà Lồ” đã được hoàn thành tại
Trường Đại học Thủy lợi Hà Nội với sự nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ, chỉ bảo, hướng dẫn nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo, của các đồng nghiệp và bạn bè
Để hoàn thành quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này, lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến PGS,TS Nguyễn Văn Tuấn và TS Nguyễn Quang Phi, người đã trực tiếp chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để tôi hoàn thiện luận văn này Ngoài ra tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô trong Khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước đã đóng góp những ý kiến quý báu cho luận văn
Nhân dịp này, tôi cũng xin cảm ơn Khoa Kỹ thuật tài nguyên nước Trường đại học Thủy lợi, lãnh đạo và các anh chị đang công tác tại Viện quy hoạch Thủy lợi đã giúp
đỡ, tạo điều kiện và dành thời gian cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân, bạn bè đã luôn bên tôi, động viên tôi hoàn thành khóa học và bài luận văn này
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 3 năm 2019
TÁC GIẢ
Nguyễn Thu Hà
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu đề tài 3
4 Các kết quả dự kiến đạt được 3
5 Cấu trúc của luận văn 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HẠN HÁN VÀ TỔNG QUAN VÙNG NGHIÊN CỨU 5
1.1 Khái niệm về hạn hán 5
1.1.1 Định nghĩa hạn hán 5
1.1.2 Phân loại hạn hán 6
1.2 Tình hình hạn hán và các nghiên cứu về hạn hán trên thế giới 7
1.2.1 Tình hình hạn hán trên thế giới 7
1.2.2 Các nghiên cứu về hạn hán trên thế giới 10
1.3 Tình hình hạn hán và các nghiên cứu về hạn hán ở Việt Nam 12
1.3.1 Tình hình hạn hán ở Việt Nam 12
1.3.2 Một số nghiên cứu liên quan 15
1.4 Tổng quan vùng nghiên cứu 17
1.4.1 Tổng quan vùng nghiên cứu 17
1.4.2 Tình hình hạn hán vùng nghiên cứu 27
CHƯƠNG 2: CÔNG CỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Thu thập, phân tích số liệu khí tượng 31
2.2 Xây dựng công thức tính toán chỉ số SPI 38
2.3 Xây dựng công cụ tính toán chỉ số Kappa 42
2.4 Phân tích lựa chọn công cụ GIS để phân tích tình trạng thiếu hụt nguồn nước 43
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 45
3.1 Kết quả tính toán chỉ số Kappa 45
3.2 Kết quả tính toán chỉ số SPI 48
3.3 So sánh kết quả đánh giá hạn bằng chỉ số Karpa và SPI 55
Trang 63.4 Xây dựng bản đồ hạn SPI và đánh giá diện tích hạn 57
3.5 Đề xuất một số giải pháp ứng phó, khắc phục thiếu hụt nguồn nước lưu vực sông Phan - Cà Lồ 60
3.5.1 Một số giải pháp công trình 60
3.5.2 Một số giải pháp phi công trình 61
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
I)Kết luận 63
II) Kiến nghị 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Đặc điểm địa hình lưu vực sông Phan – Cà Lồ 19
Bảng 1.2 Lượng mưa trung bình tháng tại các trạm vùng nghiên cứu 20
Bảng 1.3 Tổng hợp số lượng công trình trên hệ thống sông chính 23
Bảng 1.4 Diện tích sử dụng đất của vùng nghiên cứu năm 2015 26
Bảng 2.1 Lượng bốc hơi trạm Vĩnh Yên giai đoạn năm 1985-2010 37
Bảng 2.2 Lượng bốc hơi trạm Tam Đảo giai đoạn năm 1985-2008 38
Bảng 2.3 Ngưỡng các giá trị phân loại tình trạng khô hạn theo chỉ số SPI 41
Bảng 2.4 Ngưỡng các giá trị phân loại tình trạng khô hạn theo chỉ số K 42
Bảng 3.1 Kết quả tính chỉ số Kappa trạm Vĩnh Yên 45
Bảng 3.2 Kết quả tính chỉ số Kappa trạm Tam Đảo 47
Bảng 3.3: Tỷ lệ diện tích hạn của vùng nghiên cứu 60
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Bản đồ ví trí vùng nghiên cứu 18
Hình 2.1 Bản đồ mạng lưới trạm đo mưa vùng nghiên cứu 31
Hình 2.2 Lượng mưa năm tại các trạm vùng nghiên cứu 35
Hình 2.3 Diễn biến lượng mưa năm và lượng mưa mùa khô tại 1 số trạm đo 36
Hình 3.1 Kết quả tính Kappa trạm Vĩnh Yên T1 đến T3 46
Hình 3.2 Kết quả tính Kappa trạm Vĩnh Yên T12 đến T5 46
Hình 3.3 Kết quả tính Kappa trạm Tam Đảo T2 đến T4 48
Hình 3.4 Kết quả tính Kappa trạm Tam Đảo T12 đến T5 48
Hình 3.5 Diễn biến hạn hán vùng nghiên cứu tại các trạm theo chỉ số SPI1 49
Hình 3.6 Diễn biến hạn hán vùng nghiên cứu tại các trạm theo chỉ số SPI3 53
Hình 3.7 Diễn biến hạn hán vùng nghiên cứu theo chỉ số SPI6 55
Hình 3.8 Bản đồ hạn theo chỉ số SPI 3 lưu vực sông Phan – Cà Lồ năm 1988 57
Hình 3.9 Bản đồ hạn theo chỉ số SPI 3 lưu vực sông Phan – Cà Lồ năm 1995 58
Hình 3.10 Bản đồ hạn theo chỉ số SPI 3 lưu vực sông Phan – Cà Lồ năm 2005 58
Hình 3.11 Bản đồ hạn theo chỉ số SPI 3 lưu vực sông Phan – Cà Lồ năm 2010 59
Hình 3.12 Bản đồ hạn theo chỉ số SPI 3 lưu vực sông Phan – Cà Lồ năm 2015 59
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hạn hán là hiện tượng lượng mưa thiếu hụt nghiêm trọng kéo dài, làm giảm hàm lượng
ẩm trong không khí và hàm lượng nước trong đất, làm suy kiệt dòng chảy sông suối,
hạ thấp mực nước ao hồ, mực nước trong các tầng chứa nước dưới đất gây ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây trồng, làm môi trường suy thoái gây đói nghèo dịch bệnh… Hạn hán được phân loại thành 04 nhóm bao gồm: Hạn khí tượng, hạn nông nghiệp, hạn thủy văn và hạn kinh tế xã hội Bốn loại hạn hán này đều có liên quan tới
sự thiếu hụt lượng mưa kéo dài qua các năm; tuy nhiên, các yếu tố khác nhau của chu trình thủy văn sẽ phản ánh các loại hạn hán khác nhau Vùng cực Nam Trung bộ, Đông Nam Bộ, Trung Bộ, miền núi Trung du Bắc Bộ, Tây Nguyên, là những khu vực thường xuyên bị hạn hán với mức độ nghiêm trọng nhất
Mưa rất ít, lượng mưa không đáng kể trong thời gian dài hầu như quanh năm, đây là tình trạng phổ biến trên các vùng khô hạn và bán khô hạn Lượng mưa trong khoảng thời gian dài đáng kể thấp hơn rõ rệt mức trung bình nhiều năm cùng kỳ Tình trạng này có thể xảy ra trên hầu khắp các vùng, kể cả vùng mưa nhiều Mưa không ít lắm, nhưng trong một thời gian nhất định trước đó không mưa hoặc mưa chỉ đáp ứng nhu cầu tối thiểu của sản xuất và sinh hoạt của con người Đây là tình trạng phổ biến trên các vùng khí hậu gió mùa, có sự khác biệt rõ rệt về mưa giữa mùa mưa và mùa khô Ngoài ra nguyên nhân dẫn đến hạn hán còn do yếu tố con người Trước hết là do tình trạng phá rừng bừa bãi làm giảm khả năng điều tiết nước mặt, hạ thấp mực nước ngầm dẫn đến cạn kiệt nguồn nước; việc trồng cây không phù hợp, vùng ít nước cũng trồng cây cần nhiều nước (như lúa) làm cho việc sử dụng nước quá nhiều, dẫn đến việc cạn kiệt nguồn nước; thêm vào đó công tác quy hoạch sử dụng nước, bố trí công trình không phù hợp, làm cho nhiều công trình không phát huy được tác dụng
Hạn hán có tác động to lớn đến môi trường, kinh tế, chính trị xã hội và sức khoẻ con người Hạn hán là nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, bệnh tật thậm chí là chiến tranh do xung đột nguồn nước Hạn hán tác động đến môi trường như huỷ hoại các loài thực vật, các loài động vật, quần cư hoang dã, làm giảm chất lượng không khí, nước, làm
Trang 10gia tăng nguy cơ cháy rừng, xói lở đất Các tác động này có thể kéo dài và không khôi phục được Hạn hán tác động đến kinh tế xã hội như giảm năng suất cây trồng, giảm diện tích gieo trồng, giảm sản lượng cây trồng, chủ yếu là sản lượng cây lương thực Tăng chi phí sản xuất nông nghiệp, giảm thu nhập của lao động nông nghiệp Tăng giá thành và giá cả các lương thực Giảm tổng giá trị sản phẩm chăn nuôi Các nhà máy thuỷ điện gặp nhiều khó khăn trong quá trình vận hành
Nghiên cứu về hiện tượng hạn hán từ lâu đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học trong và ngoài nước Dữ liệu quan trắc, chủ yếu là các yếu tố khí tượng như lượng mưa, nhiệt độ không khí gần bề mặt, tốc độ gió, lượng hơi nước trong khí quyển, độ ẩm tương đối và sự bốc thoát hơi nước là những thông tin đầu vào quan trọng để theo dõi, đánh giá và định lượng mức độ hạn hán cũng như các tác động của hạn hán đến môi trường sinh thái, đến cuộc sống của con người
Tỉnh Vĩnh Phúc là tỉnh thuộc khu vực trung du có bốn con sông chính chảy qua gồm: sông Hồng, sông Lô, sông Đáy và sông Cà Lồ Lượng nước hằng năm của các sông cung cấp nước tưới cho 38.200 ha đất canh tác nông nghiệp, được chia làm hai hệ thống sông chính: hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Cà Lồ Nhưng những năm gần đây lượng mưa của tỉnh Vĩnh Phúc giảm đáng kể dẫn đến tình trạng thiếu hụt nguồn nước ở các con sông Vì vậy, để giám sát tình hình thiếu hụt nguồn nước và có
giải pháp ứng phó với hạn hán thì đề tài:" Nghiên cứu ứng dụng các chỉ số đánh giá
tình trạng khô hạn trong đánh giá nguồn nước và giám sát tình hình thiếu hụt nguồn nước vùng sông Phan - Cà Lồ" là rất cần thiết
2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trang 11 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Phạm vi nghiên cứu: Lưu vực sông Phan – Cà Lồ
- Đối tượng nghiên cứu: Các đặc điểm khí tượng như lượng mưa, bốc hơi
3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Cách tiếp cận
- Tiếp cận thực tế: khảo sát, thu thập, nghiên cứu các số liệu cần thiết
- Tiếp cận kết quả của các nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề hạn hán
- Tiếp cận theo mô hình: Các mô hình liên quan đến tính toán các chỉ số hạn và xây dựng bản đồ phân vùng
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp kế thừa: Luận văn sử dụng, kế thừa quả nghiên cứu, đề tài, dự án trên thế giới cũng như tại Việt Nam về các vấn đề về hạn hán, dự báo, cảnh báo hạn hán và
quản lý hạn hán Kế thừa, sử dụng có chọn lọc số liệu
- Phương pháp điều tra, khảo sát thu thập số liệu: Nhằm đánh giá hiện trạng, thu thập
số liệu phục vụ công tác tính toán, đánh giá, xây dựng công cụ dự báo cũng như đề xuất các giải pháp ứng phó
- Phương pháp thống kê phân tích: Thống kê và phân tích các số liệu đo đạc, thu thập được để phục vụ tính toán phân tích và dự báo
- Phương pháp ứng dụng mô hình: Luận văn sử dụng các mô hình liên quan đến tính toán các chỉ số hạn và xây dựng bản đồ phân vùng
4 Các kết quả dự kiến đạt được
- Xây dựng bộ chỉ số hạn và mức độ hạn cho từng vùng
- Thành lập bản đồ thể hiện vùng hạn hán và mức độ hạn
- Các giải pháp ứng phó với hạn hán đối với vùng nghiên cứu
Trang 125 Cấu trúc của luận văn
Nội dung bao gồm phần mở đầu, phần kết luận kiến nghị và 3 chương:
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu đánh giá hạn hán và tổng quan vùng nghiên cứu Chương 2: Công cụ và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả và thảo luận
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HẠN HÁN VÀ TỔNG QUAN VÙNG NGHIÊN CỨU
1.1 Khái niệm về hạn hán
1.1.1 Định nghĩa hạn hán
Hạn hán là một phần tự nhiên của khí hậu, hạn hán hình thành do một hoặc nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm sự thiếu hụt mưa, lượng bốc hơi lớn và việc khai thác quá mức nguồn tài nguyên nước Hạn hán xuất hiện trên khắp thế giới có thể xảy
ra ở tất cả các vùng khí hậu, với các đặc tính của hạn biến đổi đáng kể từ vùng này sang vùng khác Hạn hán là một sự sai khác theo thời gian, rất khác với sự khô hạn Bởi khô hạn bị giới hạn trong những vùng có lượng mưa thấp, nhiệt độ cao và là một đặc trưng lâu dài của khí hậu So với các thảm họa tự nhiên khác như: xoáy, lũ lụt, động đất, sự phun trào núi lửa và sóng thần có sự khởi đầu nhanh chóng, có ảnh hưởng trực tiếp và có cấu trúc, thì hạn hán lại ngược lại Hạn hán khác với các thảm họa tự nhiên khác theo các khía cạnh quan trọng sau:
Không tồn tại một định nghĩa chung về hạn hán
Hạn hán có sự khởi đầu chậm, là hiện tượng từ từ, dẫn đến khó có thể xác định được sự bắt đầu và kết thúc một sự kiện hạn
Thời gian hạn dao động từ vài tháng đến vài năm, vùng trung tâm và vùng xung quanh bị ảnh hưởng bởi hạn hán có thể thay đổi theo thời gian
Không có một chỉ thị hoặc một chỉ số hạn đơn kẻ nào có thể xác định chính xác sự bắt đầu và mức độ khắc nghiệt của sự kiện hạn cũng như các tác động tiềm năng của nó
Phạm vi không gian của hạn hán thường lớn hơn nhiều so với các thảm họa khác,
do đó ảnh hưởng của hạn thường trải dài trên nhiều vùng địa lý lớn
Các tác động của hạn nhìn chung không theo cấu trúc và khó định lượng Các tác động tích lũy lại và mức độ ảnh hưởng của hạn sẽ mở rộng khi các sự kiện hạn tiếp tục kéo dài từ mùa này sang mùa khác hoặc sang năm khác
Trang 14 Mặt khác, hạn hán ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực kinh tế và xã hội nên các định nghĩa về hạn sẽ được đưa ra theo nhiều cách tiếp cận khác nhau: như các ngưỡng
sử dụng, theo mục đích sử dụng, khu vực, địa phương Hơn nữa, hạn hán xảy ra với tần suất thay đổi gần như ở tất cả các vùng trên toàn cầu, các tác động của hạn đến nhiều lĩnh vực cũng khác nhau theo không gian và thời gian Như vậy để có được một định nghĩa chung nhất về hạn thì rất khó
D.A.Wilhite cho rằng mặc dù các nhân tố khí hậu (nhiệt độ cao, gió mạnh, độ ẩm tương đối thấp) thường gắn liền với hạn hán ở nhiều vùng trên thế giới và có thể làm nghiêm trọng thêm mức độ hạn, song lượng mưa vẫn là nhân tố ảnh hưởng chính gây
ra hạn hán và tác giả cũng đã đưa ra một định nghĩa về hạn hán: “hạn hán là kết quả của sự thiếu hụt lượng mưa tự nhiên trong một thời kỳ dài, thường là một mùa hoặc lâu hơn” Chính vì vậy, hạn hán thường gắn liền với các khoảng thời gian (mùa hạn chính, sự khởi đầu muộn của mùa mưa, sự xuất hiện mưa trong mối liên hệ với các giai đoạn sinh trưởng chính của cây trồng) và đặc tính của mưa (cường độ mưa, các đợt mưa) Với các thời điểm hạn xuất hiện khác nhau sẽ dẫn đến các sự kiện hạn khác nhau về tác động, phạm vi ảnh hưởng cũng như các đặc tính khí hậu của hạn khác nhau
(2) Hạn nông nghiệp (Agricultural Dought): hạn nông nghiệp thường xảy ra ở nơi độ
ẩm đất không đáp ứng đủ nhu cầu của một cây trồng cụ thể ở một thời gian nhất định
và cũng ảnh hưởng đến vật nuôi và các hoạt động nông nghiệp khác Mối quan hệ giữa lượng mưa thấm vào đất thường không được chỉ rõ Sự thẩm thấu lượng mưa vào
Trang 15trong đất sẽ phụ thuộc vào các điều kiện ẩm trước đó, độ dốc của đất, loại đất, cường
độ mưa Hạn nông nghiệp xảy ra sau hạn hán khí tượng, bởi vì hận khí tượng có ảnh hưởng đến lượng nước có trong đất, khả năng giữ nước trong đất thấp thì khả năng xảy
ra hạn nông nghiệp sẽ cao và ngược lại Ví dụ, một số loại đất có khả năng giữ nước tốt hơn thì các loại đất đó ít bị hạn hơn
(3) Hạn thủy văn (Hydrological Drought): hạn thủy văn liên quan đến sự thiếu hụt nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm Nó được lượng hóa bằng dòng chảy, tuyết, mực nước hồ, hồ chứa và nước ngầm Hạn thủy văn xuất hiện trễ hơn hạn khí tượng và nông nghiệp, sau khi kết thúc một đợt hạn khí tượng và hạn nông nghiệp thì hạn thủy văn phải mất một thời gian dài mới kết thúc Cũng giống như hạn nông nghiệp, hạn thủy văn không chỉ ra được mối quan hệ rõ ràng giữa lượng mưa và trạng thái cung cấp nước bề mặt trong các hồ, bể chứa, tầng ngập nước, dòng suối Bởi vì quá trình hình thành dòng chảy rất phức tạp và phụ thuộc vào nhiều thành phần trong hệ thống thủy văn, như sự tưới tiêu, kiểm soát lũ lụt, vận chuyển nước, phát điện, cung cấp nước sinh hoạt và bảo tồn môi trường
(4) Hạn kinh tế - xã hội khác hoàn toàn với các loại hạn khác Bởi nó phản ánh mối quan hệ giữa sự cung cấp và nhu cầu hàng hóa kinh tế (ví dụ như cung cấp nước, thủy điện), nó phụ thuộc vào lượng mưa Sự cung cấp đó biến đổi hàng năm như là một hàm của lượng mưa và nước Nhu cầu nước cũng dao động và thường có xu thế dương
do sự tăng dân số, sự phát triển của kinh tế và các nhân tố khác
1.2 Tình hình hạn hán và các nghiên cứu về hạn hán trên thế giới
Trang 16ướt Diện tích hoang mạc hoá đã lên đến 39,4 triệu km2, chiếm 26,3% đất tự nhiên thế giới và 100 quốc gia chịu ảnh hưởng Nguy cơ đói và khát do hạn hán uy hiếp 250 triệu con người, kèm theo đó còn ảnh hưởng tới môi trường khí hậu chung toàn cầu (WMO [1]) Một số ví dụ điển hình về hạn hán tại các quốc gia:
- Tại Trung Quốc, từ năm 1876 đến 1879, hạn hán và lũ lụt đã gây ra nạn đói lịch
sử, làm chết khoảng 9 đến 13 triệu người Năm 1985 đến 1961, mưa lũ diễn ra ở nhiều vùng, sau đó là các đợt hạn hán nghiêm trọng và kéo dài đã gây mất mùa khiến sản lượng ngũ cốc giảm khoảng từ 25-30%, khiến khoảng 16,5 triệu người thiệt mạng và đây được coi là nạn đói khủng khiếp nhất trong lịch sử nước này, trong các năm 1994
và 1995, mỗi năm có khoảng 27 đến 55 triệu ha đất nông nghiệp bị ảnh hưởng do thiên tai có liên quan đến hạn, chỉ tính riêng năm 1994 đã làm tổn thất khoảng 25 triệu tấn lương thực [2] Mùa xuân năm 1995, hạn hán lan rộng khắp nơi, tại phần lớn các tỉnh phía Bắc Trung Quốc có lượng mưa giảm từ 50-80% so với bình thường, một số vùng không có mưa hoặc tuyết Thêm vào đó, gió mạnh và nhiệt độ cao đã góp phần làm cho hạn hán càng thêm nặng nề Kết quả là nhiều vùng thuộc tỉnh Hà Bắc, phía Bắc tỉnh Sơn Tây và Thiểm Tây, phía Đông tỉnh Cam Túc, phía Tây vùng Nội Mông, miền Trung và Đông tỉnh Sơn Đông, một số vùng tại tỉnh Giang Tây, tỉnh An Huy tại miền Đông Trung Quốc đều bị hạn nặng Đến đầu tháng 5/1995 đã có hơn 10 triệu người và hơn 5 triệu gia súc thiếu nước sinh hoạt Mùa hè năm 2000, hạn hán kéo dài 3 tháng liên tục tại nhiều địa phương đã làm cho tổng sản lượng lương thực ở Trung Quốc giảm 9% [3]
- Ở Indonexia, từ năm 1982 đến 1983, hiện tượng El Nino xảy ra đồng thời với hạn hán và làm cho 420.000 ha ruộng lúa bị ảnh hưởng do thiếu nước, 158.000 ha bị mất trắng và 3,7 ha rừng gỗ tái sinh bị cháy trụi Năm 1991, hiện tượng El Nino cùng với nắng nóng đã gây ra hạn hán nghiêm trọng nhất trong lịch sử, gây tổn thất lớn đến sản xuất nông nghiệp làm 483.000 ha trong đó có 190.000 ha lúa bị huỷ hoại hoàn toàn, buộc chính phủ phải nhập khẩu khẩn cấp 600.000 tấn lương thực Hạn hán cũng
là nguyên nhân gây ra cháy rừng, tại Kalimantan ở Indonexia 88.000 ha rừng bị cháy Đây là vụ cháy rừng lớn nhất trong lịch sử tại quốc gia này, cháy lớn đến nỗi lớp khói dày đặc do nó tạo ra đã bao phủ toàn bộ đảo Kalimantan, lan tới tận các nước láng giềng là Singapore và Malaixia trong tháng 9 và tháng 10 năm 1991 và cháy rừng âm ỉ
Trang 17kéo dài đến tận 29/4/1992 Trong những năm 1997-1998, do ảnh hưởng của hiện tượng El Nino, các nước trong khu vực Đông Nam Á (trong đó có Việt Nam) hầu như không có mưa, nhiệt độ không khí cao đã gây cháy rừng ở nhiều nơi, trong đó cháy rừng xảy ra nghiêm trọng nhất là ở Indonexia và Malaixia [4,5]
- Ở Châu Phi, một trong những khu vực điển hình thường xuyên xảy ra hạn hán và cũng vì hạn hán xảy ra triền miên đã là nguyên nhân gây ra nghèo đói và chiến tranh, trong đó có nhiều cuộc chiến tranh chỉ đơn thuần xuất phát từ việc tranh dành nguồn nước Do nguồn nước phân bố không đều, nên nhiều vùng tại Châu Phi, hạn hán mang tính thường xuyên đã gây nên sự suy giảm nguồn lương thực, năng lượng và nước rất phổ biến [6] Những thông báo về sự suy giảm của nền kinh tế và môi trường tại châu lục này đang gây mối lo ngại cho nhiều quốc gia trên thế giới Theo OTA (Office of Technology Assessment), do hạn hán kéo dài, sản xuất lương thực trong thời kì từ
1975 đến 1985 tại Tây Phi đã giảm sút 25%, khiến cộng đồng quốc tế đã phải trợ giúp
15 tỷ USD nhưng vẫn không cải thiện nổi nền kinh tế bị sa sút của các nước ở khu vực này Nơi điển hình chịu tác động nghiêm trọng nhấ của hạn hán tại châu lục này là nước Cộng hoà Sudan vào mùa xuân năm 1984, mất mùa làm nạn đói lan rộng, trong
đó ba tỉnh Kordofan và Darfur ở miền Tây và tỉnh Red Sea (Biển Đỏ) ở miền Đông Sudan la bị đói nghèo nặng nề nhất Tình trạng thiếu đói đã ảnh hưởng đến một nửa dân số, khoảng 20-15 triệu người và làm chết khoảng 3% dân số trong vòng một tháng Khoảng 2,5 triệu người phải di cư ra thành phố hoặc đến các khu vực phía Nam Hạn hán kéo dài tại tỉnh Kordofan đã làm sa mạc đã tiến về hướng Nam khoảng 90-
100 km trong vòng 17 năm, trung bình mức sa mạc hoá từ 5 đến 6 km hằng năm Đợt hạn tại Sahel năm 1974 đã làm chết tới 300.000 người và ảnh hưởng đến 150 triệu người do bị đói và suy dinh dưỡng Trước đó, những đợt hạn liên tiếp trong thời gian 6 năm (1968-1974) đã làm số người chết ước tính từ 100.000 đến 300.000 người Tại Mali, hạn hán kéo dài đã làm cho sa mạc Shara mở rộng xuống phía Nam khoảng 350km trong vòng 20 năm, kết quả là đã có 1,5 tỷ ha vốn là đất canh tác biến thành hoang mạc
- Tại Hoa Kỳ, sản xuất công, nông nghiệp và dịch vụ phát triển cao, đồng thời cũng là quốc gia sử dụng nhiều nước nhất trên thế giới Do vậy, những năm bị hạn hán, thiệt hại về kinh tế ở nước này là rất nghiêm trọng Hoa Kỳ cũng là nước quan
Trang 18tâm nhiều đến vấn đề hạn hán và có nhiều cơ quan nghiên cứu về hạn hán Theo kết quả thống kê về những thiệt hại do bão, lũ lụt và hạn hán gây ra là lớn nhất, từ 6-8 tỷ USD, tiếp sau đó là do lũ lụt khoảng 2,41 tỷ USD và sau cùng là do bão khoảng từ 1,2 đến 4,8 tỷ USD Cũng theo số liệu thống kê, thiệt hại về kinh tế do hạn hán gây ra, cao nhất là vào năm 1988, khoảng 39,4 tỷ USD, gần tương đương với mức thiệt hại năm
1998 cũng do hạn bao gồm mất mát về nông nghiệp, năng lượng, nước, sinh thái và các vấn đề khác, chiếm hơn 39 tỷ USD Về thời gian, hạn hán cũng hết sức dai dẳng,
có thể kéo dài hàng tháng, hàng năm, thậm chí hàng thập kỷ Theo tài liệu thống kê của cơ quan Quản lý lưu vực sông và khí quyển đại dương quốc gia Hoa Kỳ cho thấy, tại một số nơi liên tục có hạn trong cả 100 năm, lưu vực sông Missouri có đến 90 năm
bị hạn có ở mức độ khác nhau [7]
- Thiệt hại do hạn hán gây ra ở nhiều nước trên thế giới là rất nghiêm trọng, kể cả
về người và tài sản Thực tế, các con số thiệt hại đó rất khó có thể thống kê một cách chính xác do số liệu thống kê chưa đầy đủ hoặc giá cả trong quá khứ và hiện tại là khác nhau
1.2.2 Các nghiên cứu về hạn hán trên thế giới
Trên thế giới, có rất nhiều tác giải nghiên cứu về hạn hán Nhưng do tính phức tạp của hiện tượng này, đến nay vẫn chưa có một phương pháp chung cho các nghiên cứu về hạn hạn Trong việc xác định, nhận dạng, giám sát và cảnh báo hạn hán, các tác giả thường sử dụng công cụ chính là các chỉ số hạn hán Việc theo dõi sự biến động của giá trị các chỉ số hạn hán sẽ giúp ta xác định được sự khởi đầu, thời gian kéo dài cũng như cường độ hạn Chỉ số hạn hán là hàm của các biến đơn như lượng mưa, nhiệt độ, bốc thoát hơi, dòng chảy hoặc là tổng hợp của các biến Mỗi chỉ số đều có ưu nhược điểm khác nhau và mỗi nước đều sử dụng các chỉ số phù hợp với điều kiện của nước mình Việc xác định hạn hán bằng các chỉ số hạn không chỉ áp dụng với bộ số liệu quan trắc mà còn áp dụng với bộ số liệu sản phâm của mô hình khí hậu khu vực và mô hình khí hậu toàn cầu Trong quá trình nghiên cứu hạn, việc xác định các đặc trưng của hạn là hết sức cần thiết, như xác định sự khởi đầu và kết thúc hạn, thời gian kéo dài hạn, phạm vi mở rộng của hạn, mức độ hạn, tần suất và mối liên hê giữa những biến đổi của hạn với khí hậu [8]
Trang 19Các phân tích về hạn hán trên quy mô toàn cầu của Aiguo Dai và cộng sự [9], theo khu vực và địa phương của Benjamin Lloyd-Hughes & Mark A.Saunders [10]; Michael J.Hayes và cộng sự [11] đã thông qua cấc chỉ số hạn dựa trên số liệu mưa, nhiệt độ và
độ ẩm quan trắc trong quá khứ cho thấy số đợt hạn, thời gian kéo dài hạn, cũng như tần suất và mức độ của nó ở một số nơi đã tăng lên đáng kể Nổi bật lên nghiên cứu hạn trên quy mô toàn cầu là nghiên cứu của Nico Wanders và cộng sự [12], trong nghiên cứu của mình tác giả đã phân tích ưu điểm, nhược điểm của 18 chỉ số hạn hán bao gồm cả chỉ số hạn khí tượng, chỉ số hạn thủy văn, chỉ số độ ẩm, rồi lựa chọn ra các chỉ số thích hợn để áp dụng phân tích các đặc trưng của hạn hán trong năm vùng khí hậu khác nhau trên toàn cầu: vùng xích đạo, vùng khô hạn cực, vùng nhiệt độ ẩm, vùng tuyết, vùng địa cực Nhiều nghiên cứu cho thấy sự giảm lượng mưa đáng kể đi kèm với sự tăng nhiệt độ sẽ làm tăng quá trình bốc hơi, gây ra hạn hán nghiêm trọng hơn (A.V.Meshcherskaya & V.G Blazhevich [13], A.Loukas & L.Vasiliades [14]) Cùng với xu thế nóng lên trên toàn cầu giai đoạn (1980-2000), tần suất và xu thế hạn tăng lên và xảy ra nghiêm trọng hơn vào bất cứ mùa nào trong năm, như ở Cộng Hòa Séc cứ khoảng 5 năm lại xảy ra đợt hạn hán nặng trong suốt mùa đông hoặc mùa hè với mức độ nặng và tần suất lớn nhất vào tháng IV và tháng VI (xảy ra trên toàn bộ lãnh thổ với tổng diện tích là 95%) [15]; hạn hán xảy ra vào các tháng mùa hè ở Hy Lạp ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoa màu và sự cung cấp nước trong thành phố (A.Loukas & L.Vasiliades [14]; ở Cộng hòa Moldova, cứ 2 năm thì lại có một đợt hạn nặng vào mùa thu [15] Bên cạnh sự gia tưng về tần suất và mức độ hạn, thời gian kéo dài các đợt hạn cũng tăng lên đáng kể, thời gian xảy ra hạn có thể kéo vào tháng đến vài năm ở nhiều quốc gia Nghiên cứu hạn dựa trên bộ số liệu mưa và nhiệt độ tháng quan trắc với bước lưới 0,5o trên toàn lãnh thổ Châu Âu 35o-70oN và 35oE-10oW (Benjamin Lloyd-Hughes & Mark A.Saunders [10]) đã chỉ ra rằng thời hạn hạn hán lớn nhất trung bình trên mỗi ô lưới ở Châu Âu là 48±17 tháng, tần suất hạn hán cao hơn xảy ra ở lục địa Châu Âu, thấp hơn ở bờ biển phía đông bắc Châu Âu, bờ biển Địa Trung Hải, thời gian hạn kéo dài nhất thì xảy ra ở Italya, đông bắc Pháp, đông bắc Nga, với thời gian kéo dài là 40 tháng Xukai Zou, và cộng sự [16] đã chỉ ra rằng hạn hán ở phía bắc Trung Quốc có xu thế tăng lên kể từ sau những năm 1990, đặc biệt có vài vùng hạn hán kéo dài 4-5 năm từ năm 1997 đến năm 2003 Vì vậy, có thể nói hạn
Trang 20hán trên thế giới đã có rất nhiều các nghiên cứu và đi đến kết luận: Hạn hán là hiện tượng hết sức phức tạp mà sự hình thành là do cả hai nguyên nhân: tự nhiên và con người; Các yếu tố tự nhiên gây hạn như sự dao dộng của các dạng hoàn lưu khí quyển
ở phạm vi rộng và các vùng xoáy nghịch, hoặc các hệ thống áp thấp, áp cao, sự biến đổi khí hậu, sự thay đổi nhiệt độ mặt nước biển như EL Nino; Các nguyên nhân do con người như nhu cầu nước ngày càng gia tăng, phá rừng, ô nhiễm môi trường ảnh hưởng tới nguồn nước, quản lý đất và nước kém bền vững, gây hiệu ứng nhà kính [17] Hiện nay, rất nhiều chỉ số/ hệ số hạn hán khác nhau đã được phát triển và ứng dụng ở các nước trên thế giới như: Chỉ số ẩm Ivanov (1948), Chỉ số khô Budyko (1950), Chỉ số khô Penman, Chỉ số gió mùa GMI, Chỉ số mưa chuẩn hóa SPI, Chỉ số chuẩn hóa lượng mưa và bốc hơi SPEI, Chỉ số Sazonov, Chỉ số Koloskov (1925), Hệ số khô, Hệ số cạn, Chỉ số Palmer (PDSI), Chỉ số độ ẩm cây trồng (CMI), Chỉ số cấp nước mặt (SWSI), Chỉ số RDI (Reclamation Drought Index) Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy hầu như không có một chỉ số nào có ưu điểm vượt trội so với các chỉ số khác trong mọi điều kiện Do đó, việc áp dụng các chỉ số/hệ số hạn phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng vùng cũng như hệ thống cơ sở dữ liệu quan trắc sẵn có ở vùng đó [18]
Nhằm mục đích giảm nhẹ tác hại của hạn hán, ở một số nước phát triển trên thế giới đã thành lập các trung tâm giám sát, dự báo, cảnh báo hạn hán Nhiệm vụ chính của các trung tâm này là:
1 Theo dõi, giám sát, dự báo và cảnh báo hạn hán;
2 Phối hợp với các ban ngành có liên quan để đề xuất và tiến hành các hoạt động ngăn ngừa, phòng tránh và giảm nhẹ tác hại của hạn hán;
3 Phối hợp với các cơ quan nghiên cứu khoa học xây dựng các phương pháp dự báo
Trang 21sản xuất nông nghiệp Trong những năm qua, nhà nước đã ưu tiên thực hiện nhiều giải pháp phòng chống hạn hán diễn biến ngày càng phức tạp, đặc biệt do biến đổi khí hậu toàn cầu đã làm thiên tai hạn hán gay gắt hơn Có thể nêu các ví dụ điển hình về thiệt hại do hạn hán gây ra những năm gần đây ở Việt Nam như sau [19]
- Năm 1992, hạn nặng ở miền Trung và đồng bằng Nam Bộ đã làm cho 6.000 ha rừng đặc dụng ở Quảng Nam – Đà Nẵng bị cháy, 300.000ha lúa hè thu ở Nam Bộ bị hại, mất trắng 10.000 ha Ước tính thiệt hại trên 50 tỷ đồng
- Mùa hè thu năm 1993 ở Bắc Trung Bộ, do lượng mưa thiếu hụt suốt trong 7-8 tháng, đặc biệt là các tháng VI, VII, VIII với nhiệ độ cao 38- 40 độ, nắng nóng gay gắt, hạn đã xảy ra hết sức nghiêm trọng Đồng ruộng nứt nẻ, lúa bị chết, hầu hết các hồ đập bị cạn nước, ngay cả nước sinh hoạt cũng khó khăn Đó là đợt hạn hiếm thấy trong vòng 50-60 năm gần đây ở khu vực này, làm cho trên 26.000 ha lúa không cấy được hoặc bị chết và trên 35.000 ha hạn nặng, 500ha rừng bị cháy Thiệt hại ước tính trên 42
tỷ đồng
- Hạn đông xuân 1994 – 1995, hạn xảy ra gay gắt ở một số tỉnh thuộc cao nguyên Trung Bộ, trong đó Đak Lak đã bị hạn chưa từng thấy trong 50 năm qua ảnh hưởng rất lớn đến cây trồng, đặc biệt là cafe – nguồn kinh tế lớn của nhân dân địa phương, nước sinh hoạt hàng ngày bị thiếu nghiêm trọng Thiệt hại cho sản xuất khoảng 600 tỷ đồng
- Hạn đông xuân 1995 - 1996 đã xảy ra ở nhiều nơi trên phạm vi toàn quốc Ở trung du miền núi Bắc Bộ diện tích bị hạn là 13.380 ha, ở đồng bằng Bắc Bộ là 100.000 ha
- Đặc biệt hạn trên diện rộng vào đông xuân 1997-1998 Với ảnh hưởng của ElNino hoạt động mạnh từ tháng 5 năm 1997 đến tháng 4 năm 1998 làm cho nhiều nước trên thế giới bị hạn nghiêm trọng, gây tổn thất lớn cho nền kinh tế và sự phát triển của xã hội Tính riêng thiệt hại về vật chất trong nông nghiệp ở Việt Nam đã tới 5.000 tỷ
Trang 22- Năm 2002, hạn nghiêm trọng đã diễn ra ở vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ gây thiệt hại về mùa màng, gây cháy rừng trên diện rộng, trong đó có cháy rừng lớn ở các khu rừng tự nhiên U Minh thượng và U Minh hạ
- Những tháng trước mùa mưa năm 2003, hạn hán bao trùm hầu khắp Tây Nguyên, gây thiệt hại cho khoảng 300 ha lúa ở Kon Tum, 3000 ha lúa ở Gia Lai và 50.000 ha đất canh tác ở Đắk Lắc; thiếu nước cấp cho sinh hoạt của 100.000 hộ dân Chỉ tính riêng cho Đắk Lắc, tổng thiệt hại ước tính khoảng 250 tỷ đồng
- Hạn hán thiếu nước năm 2004-2005 xảy ra trên diện rộng nhưng không nghiêm trọng như năm 1997-1998 Ở Bắc Bộ, mực nước sông Hồng tại Hà Nội vào đầu tháng
3 xuống mức 1,72m thấp nhất kể từ năm 1963 đến năm 2005 Ở Miền Trung và Tây Nguyên, nắng nóng kéo dài, dòng chảy trên các sông suối ở mức thấp hơn trung bình nhiều năm cùng kỳ, một số suối cạn kiệt hoàn toàn; nhiều hồ hết khả năng cấp nước
- Trong năm 2006, những tháng đầu năm cho đến những tháng cuối năm, do lượng mưa bị thiếu hụt so với trung bình nhiều năm nên tại nhiều nơi tình trạng thiếu nước dẫn đến khô hạn rồi hạn hán cục bộ xảy ra liên tục, rải rác ở một số tỉnh trong cả nước
- Trong 4 tháng đầu năm 2007, hạn hán cục bộ đã xảy ra ở nhiều nơi trên cả nước
từ tháng VII đến đầu tháng VIII hạn hán cục bộ cũng xảy ra tại các tỉnh từ Nghệ An đến Khánh Hòa
- Năm 2008, các tháng IV-VI, hạn hán cục bộ xảy ra ở nhiều nơi trên phạm vi cả nước,trong đó nặng nề nhất là các tỉnh thuộc Tây Nguyên và Nam Trung Bộ
- Ninh Thuận là địa phương bị hạn hán thiếu nước khốc liệt nhất trong vòng 20 năm qua, chủ yếu do mưa ít, lượng mưa trong 4 tháng (từ tháng 11/2004 đến tháng 2/2005) chỉ bằng khoảng 41% TBNN; các sông suối, ao hồ đều khô cạn, chỉ có hồ Tân Giang còn khoảng 500.000 m3 nước nhưng ở dưới mực nước chết, hồ thuỷ điện Đa Nhim- nguồn cung cấp nước chủ yếu cho Ninh Thuận, cũng chỉ còn 1/3 dung tích so với cùng kỳ năm trước Toàn tỉnh có 47.220 người thiếu nước sinh hoạt
- Mùa khô năm 2009 - 2010 là năm rất nhiều khu vực trên thế giới, trong đó có Việt Nam Trên các hệ thống sông , suối toàn quốc, dòng chảy đều thiếu hụt nhiều so với trung bình nhiều năm, có nơi tới 60-90%; mực nước nhiều nơi đạt mức tháp nhất
Trang 23lịch sử như sông Hồng, Thái Bình, mực nước xuống mức thấp nhất lịch sử nên đã gây thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp, không mưa, nhiều nơi còn nghiêm trọng hơn năm 1998
- Năm 2011, từ tháng II-IV, hạn hán đã xảy ra tại một số tỉnh Yên Bái, Đà Nẵng, Kon Tum, Đắc Lắc và Bình Phước; khô hạn đã làm 14.300 ha cây trồng, 1000 ha lúa
bị hạn, hàng chục héc ta rừng bị cháy, thiệt hại khoảng 363 tỷ đồng
- Năm 2013, do tác động của hạn hán, khu vực Nam Trung Bộ có đến 17.277ha cây trồng bị thiếu nước và xâm nhập mặn, gồm 15.627 ha lúa, 300ha cà phê, 1.350ha cây trồng khác Khu vực Tây Nguyên có 51.403ha cây trồng cũng lâm vào cảnh tương
tự
- Năm 2014-2016 từ cuối năm 2014, hiện tượng El Nino đã ảnh hưởng đến Việt Nam làm cho nền nhiệt độ tăng cao, thiếu hụt lượng mưa là nguyên nhân gây ra hạn hán, xâm nhập mặn, gây thiệt hại nặng nề đã đe dọa nghiêm trọng đến sản xuất và dân sinh Theo thông tin tổng hợp của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai, tính đến ngày 22/04/2016, thiệt hại do hạn hán và xâm phập mặn ở khi vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và ĐBSCL như sau: thiệt hại về lúa: 240.215 ha; về hoa màu: 18.335 ha; cây ăn quả: 55.651ha; cây công nghiệp:104.106 ha; thủy sản: 4.641 ha; gây thiếu nước sinh hoạt: khoảng 400.000 hộ Tổng thiệt hại ước tính là 5.572 tỷ VNĐ Nhưng điều nghiêm trọng hơn là 1.5 triệu người dân (của 400.000 hộ) thiếu nước sinh hoạt hợp vệ sinh với những rủi ro lớn đến sức khỏe và sinh hoạt
1.3.2 Một số nghiên cứu liên quan
Đối với Việt Nam, nơi có tiềm năng nguồn nước phong phú nhưng do tính chất phân mùa sâu sắc nên thường xuyên xuất hiện hạn hán Cũng như các nghiên cứu trên thế giới, các nghiên cứu về hạn hán ở Việt Nam chủ yếu tập trung đến hạn khí tượng, hạn thủy văn và hạn nông nghiệp Các đề tài, dự án nghiên cứu hạn hán ở Việt Nam đã được triển khai trong những năm gần đây, chủ yếu tập trung vào 2 vấn đề chính:
(1) Các nghiên cứu cơ bản về hạn hán và tác động tới dân sinh, kinh tế, xã hội
(2) Các giải pháp, phòng chống và giảm nhẹ hạn hán bao gồm:
Trang 24- Giải pháp công trình xây dựng các công trình thu trữ, điều tiết nước;
- Các giải pháp phi công trình như: nghiên cứu xây dựng các hệ thống dự báo, cảnh báo sớm; các giải pháp về thể chế chính sách để giảm nhẹ thiệt hại do hạn hán, sử dụng tài nguyên nước hiệu quả, hợp lý
- Năm 2001, Nguyễn Đức Hậu [20] đã nghiên cứu xác định chỉ tiêu hạn, ứng dụng chỉ tiêu hạn để đánh giá tác động của hiện tượng ENSO đến tình hình hạn và xây dựng một loạt các phương trình hồi quy dự báo hạn cho 7 vùng khí hậu ở Việt Nam: Tây Bắc, Đông Bắc, đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ bằng chỉ số hạn SPI Năm 2006, Nguyễn Trọng Yêm [21] đã nghiên cứu đánh giá những đặc điểm cơ bản về hạn hán ở Việt Nam, các kết quả được phân tích, đúc kết dựa trên các đặc trưng hạn bằng chỉ số khô hạn tháng, năm và tần suất hạn tháng Đến năm 2007, Nguyễn Văn Thắng [19] đã đánh giá được mức độ hạn hán ở các vùng khí hậu và chọn được các chỉ tiêu xác định hạn hán phù hợp với từng vùng khí hậu ở Việt Nam, đồng thời xây dựng được công nghệ dự báo và cảnh báo sớm hạn hán cho các vùng khí hậu ở Việt Nam bằng các số liệu khí tượng thuỷ văn và các tư liệu viễn thám để phục vụ phát triển kinh tế xã hội, trọng tâm là sản xuất nông nghiệp và quản
lý tài nguyên nước trong cả nước Năm 2010, Nguyễn Lập Dân [22] đã xây dựng hệ thống quản lý hạn hán vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH), hệ thống quản lý sa mạc hóa vùng Nam Trung Bộ và đề xuất các giải pháp chiến lược và tổng thể quản lý hạn ở cấp Quốc gia, phòng ngừa, ngăn chặn và phục hồi các vùng hoang mạc hóa, sa mạc hóa Năm 2015, Vũ Thị Thu Lan [23] đã xây dựng được bản đồ hạn KT-XH phù hợp với vùng hạ du sông Hồng đến năm 2020; đề xuất các giải pháp giảm thiểu hạn KT-
XH cũng như giải pháp ứng phó khi xuất hiện hạn KT-XH phù hợp cho vùng hạ du sông Hồng Năm 2015, Nguyễn Văn Thắng [24] đã xây dựng được bộ chỉ tiêu hạn phù hợp để thực hiện giám sát, cảnh báo hạn hán; xây dựng công nghệ, quy trình mô hình thống kê tổ hợp dự báo hạn khí tượng cho toàn quốc theo chỉ số hạn SPI; xây dựng được công nghệ, quy trình ứng dụng sản phẩm dự báo của 8 mô hình toàn cầu trong cảnh báo hạn ở Việt Nam hạn đến 6 tháng; đã ứng dụng thành công các mô hình khí hậu khu vực RSM và CWRF vào dự báo các trường khí hậu trung bình phục vụ dự báo hạn thủy văn, nông nghiệp ở ĐBSH hạn đến 6 tháng; xây dựng công nghệ, quy trình
Trang 25dự báo hạn thủy văn, nông nghiệp cho vùng ĐBSH theo chỉ số hạn SWSI và PDSI; xây dựng và đưa vào ứng dụng nghiệp vụ hệ thống giám sát hạn hán thời gian thực bằng công nghệ viễn thám và nhóm nghiên cứu cũng đã xây dựng được các hướng dẫn, quy trình thực hiện trong dự báo nghiệp vụ
- Còn đối với vùng nghiên cứu thì năm 2000 Nguyễn Trọng Hiệu [25] và 2001, Nguyễn Văn Cư [26] đã nghiên cứu xác định chỉ tiêu hạn, đánh giá tác động của hạn hán (hạn khí tượng và hạn thuỷ văn) đến tình hình hạn, nguyên nhân hoang mạc hoá
và các giải pháp phòng chống hạn hán, hoang mạc hoá ở 4 tỉnh Quãng Ngãi, Bình Định, Ninh Thuận và Bình Thuận Cũng trong năm 2001, Đào Xuân Học [27] đã sử dụng chỉ số khô hạn Sazonop để khảo sát, đánh giá hạn hán cho các tỉnh DHMT Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ số Sazonop tương đối phù hợp với diễn biến hạn thực tế, đặc biệt trong những năm hạn nặng Đồng thời, nghiên cứu này cũng đã phân tích xác định nguyên nhân gây ra hạn hán, phân loại và phân cấp hạn Dựa trên các nguyên nhân gây hạn hán, đã đưa ra các biện pháp phòng chống và giảm nhẹ hạn hán Năm
2005, Nguyễn Quang Kim [28] đã nghiên cứu hiện trạng hạn hán, thiết lập cơ sở khoa học cho quy trình dự báo hạn cho vùng NTB và Tây nguyên, cơ sở dữ liệu khu vực nghiên cứu để lập trình các phần mềm tính toán chỉ số hạn và phần mềm dự báo hạn khí tượng bằng chỉ số SPI Việc dự báo hạn được dựa trên nguyên tắc phân tích mối tương quan giữa các yếu tố khí hậu, các hoạt động ENSO và các điều kiện thực tế vùng nghiên cứu Năm 2008, Trần Thục [29] đã đánh giá được mức độ hạn hán và thiếu nước sinh hoạt ở 9 tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Trên cơ sở đó đã xây dựng được bản đồ hạn hán thiếu nước sinh hoạt trong vùng nghiên cứu Tuy nhiên, ở đây cũng chỉ xét đến hạn khí tượng, hạn thủy văn và hạn nông nghiệp Năm 2014, Nguyễn Lương Bằng [30] đã sử dụng chỉ số SPEI trong nghiên cứu ảnh hưởng của ENSO tới diễn biến hạn khí tượng ở lưu vực sông Cái Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ số SPEI đánh giá diễn biến hạn hán ở lưu vực sông Cái là phù hợp hơn so với chỉ
số SPI và trong công thức tính toán có sử dụng yếu tố nhiệt độ không khí để tính toán lượng bốc hơi
1.4 Tổng quan vùng nghiên cứu
1.4.1 Tổng quan vùng nghiên cứu
Trang 26a) Vị trí địa lý
Tỉnh Vĩnh Phúc có diện tích tự nhiên 1231 km2, phía bắc giáp tỉnh Tuyên Quang, phía nam giáp Hà Nội, phía Đông Giáp hai huyện Sóc Sơn và Đông Anh – Hà Nội Tỉnh có
9 đơn vị hành chính: 2 thành phố, 7 huyện; 137 xã, phường, thị trấn
Vùng nghiên cứu nằm phía nam của tỉnh Vĩnh Phúc với diện tích lưu vực 710 km2 chiếm 2/3 diện tích tỉnh Vĩnh Phúc, được bao quanh bởi bờ tả của đê sông Phó Đáy,
bờ tả đê sông Hồng, đê của sông Cà Lồ và dãy núi Tam Đảo Vùng nghiên cứu có 7 đơn vị hành chính bao gồm thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên và 5 huyện: Tam Dương, Tam Đảo, Bình Xuyên, Vĩnh Tường và Yên Lạc
Hình 1.1 Bản đồ ví trí vùng nghiên cứu
b) Đặc điểm địa hình
Vùng nghiên cứu thuộc trung du miền núi phía bắc vì vậy điều kiện địa hình của vùng khá phức tạp, hướng dốc Tây Bắc - Đông Nam
Trang 27- Các huyện phía bắc như Tam Dương, Tam Đảo, Bình Xuyên ở độ cao chủ yếu từ +300m đến +700m
- Các huyện phía Nam và Đông Nam như Vĩnh Tường, Yên Lạc, Bình Xuyên, Vĩnh Yên ở độ cao từ +10.0m đến + 12.0m
- Một số vùng tiếp giáp với đê sông Hồng nằm phía Tây nam ở độ cao +5,0 ~ +8.0m
Bảng 1.1 Đặc điểm địa hình lưu vực sông Phan – Cà Lồ
* Nhiệt độ: Vùng nghiên cứu thuộc khu vực Bắc Bộ nên có 2 mùa rõ tệt là mùa nóng
và mùa lạnh: mùa nóng ẩm kéo dài từ tháng 4 đến tháng 11; mùa lạnh, khô diễn ra từ tháng 12 đến tháng 3 Nhiệt độ giữa các mùa chênh lệch nhau đáng kể, nhiệt độ trung
Trang 28bình nhiều năm là 23,3 23,40C Nhiệt độ cao nhất rơi vào các tháng 5, 6, 7 khoảng
32 330C Nhiệt độ thấp nhất vào các tháng mùa đông tháng 12, 1, 2 khoảng 15 200C
* Số giờ nắng: Tổng số giờ nắng bình quân của vùng trong năm là 1.400 đến 1.800 giờ, trong đó, tháng có nhiều giờ nắng trong năm nhất là tháng 6 và tháng 7, tháng có
ít giờ nắng trong năm ít nhất là tháng 3
* Bốc hơi: Lượng bốc hơi bình quân trong năm của vùng là 1.040 mm, lượng bốc hơi bình quân trong 1 tháng từ tháng 4 đến tháng 11 là 107,58 mm, từ tháng 12 đến tháng
3 năm sau là 71,72 mm
* Độ ẩm không khí: Độ ẩm bình quân cả năm là 83% Nhìn chung độ ẩm không có sự chênh lệch nhiều qua các tháng trong năm giữa vùng núi với vùng trung du và vùng đồng bằng Vùng núi độ ẩm không khí được đo tại trạm Tam Đảo, vùng trung du được
đo tại trạm khí tượng Vĩnh Yên
* Gió: Trong năm có 2 loại gió chính: Gió đông nam thổi từ tháng 4 đến tháng 9; gió đông bắc thổi từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Tốc độ gió trung bình 1-2 m/s
* Mưa: Tại vùng nghiên cứu có 2 trạm đo mưa là Tam Đảo (đo mưa khu vực vùng núi) và Vĩnh Yên (đo mưa khu vực trung du và đồng bằng) Lượng mưa trung bình hàng năm đạt 1.400 đến 1.600 mm Lượng mưa phân bố không đều trong năm, tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô
từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chỉ chiếm 20% tổng lượng mưa trong năm
Bảng 1.2 Lượng mưa trung bình tháng tại các trạm vùng nghiên cứu
Đơn vị: mm
Vĩnh Yên 89 35 56,2 101,1 76,8 153 198 236 220 61,5 9,0 9,5 Tam Đảo 10 80 78,9 112,6 107,8 227 167 185 310 117 26 38
Nguồn: Chi cục Thủy lợi tỉnh Vĩnh Phúc
d) Đặc điểm mạng lưới sông ngòi
Tỉnh Vĩnh Phúc có bốn con sông chính chảy qua gồm: sông Hồng, sông Lô, sông Đáy
Trang 29và sông Cà Lồ Lượng nước hàng năm của các con sông này có thể cung cấp nước tưới cho 38.200 ha đất canh tac nông nghiệp, được chia làm hai hệ thống sông chính: hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Cà Lồ
Hiện tại việc tiêu thoát hay cung cấp nước của toàn vùng nghiên cứu phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống trục chính sông Phan - sông Cà Lồ, hướng tiêu thoát duy nhất là ra sông Cầu tại cửa Phúc Lộc Phương
Sông Phan bắt nguồn từ núi Tam Đảo, thuộc địa phận các xã Hoàng Hoa (huyện Tam Dương), Tam Quan, Hợp Châu (huyện Tam Đảo), chảy qua các xã Duy Phiên, Hoàng Lâu (huyện Tam Dương), Kim Xá, Yên Lập, Lũng Hòa, Thổ Tang (huyện Vĩnh Tường) theo hướng đông bắc – tây nam; vòng sang hướng đông nam qua các xã Vũ
Di, Vân Xuân (huyện Vĩnh Tường) rồi theo hướng tây nam – đông bắc qua các xã Tề
Lỗ, Đồng Văn, Đồng Chương (huyện Yên Lạc) đổ vào đầm Vạc (thành phố Vĩnh Yên), qua xã Quất Lưu chảy về Hương Canh (huyện Bình Xuyên), qua xã Sơn Lôi (huyện Bình Xuyên) nhập với sông Bá Hạ rồi đổ vào sông Cà Lồ ở địa phận xã Nam Viêm (thành phố Phúc Yên)
Sông Cà Lồ là một phân lưu của sông Hồng Nó tách ra khỏi sông Hồng ở xã Trung
Hà (huyện Yên Lạc), theo hướng tây nam – đông bắc, giữ hai huyện Bình Xuyên và
Mê Linh, vòng qua thị xã Phúc Yên rồi theo hướng vòng cung rộng phía nam hai huyện Kim Anh và Đa Phúc cũ, đổ vào sông Cầu ở thôn Lương Phúc, xã Việt Long (nay thuộc huyện Sóc Sơn – Hà Nội) Nguồn nước sông Cà Lồ ngày nay chủ yếu là nước các sông bắt nguồn từ núi Tam Đảo, núi Sóc Sơn, lưu lượng bình quân chỉ 30m3/s Lưu lượng cao nhất về mùa mưa là 286m3/s
Tổng chiều dài sông Phan - Cà Lồ từ cống 3 cửa An Hạ về đến Phúc Lộc Phương khoảng 140 km, trong đó chiều dài sông trong địa phận vùng nghiên cứu khoảng 86
km, sông có độ quanh co lớn K 1,8 Bề rộng lòng sông thay đổi từ 7 đến 15m (tại An Hạ) và mở rộng dần về phía hạ du từ 30 đến 50m (riêng đoạn từ hạ lưu cống điều tiết Lạc Ý đến cầu Hương Canh bề rộng sông khoảng 80 đến 100m)
Hệ thống sông Phan - Cà Lồ là hệ thống sông tự nhiên, chịu tác động trong quá trình phát triển của vùng nghiên cứu Theo kết quả khảo sát trên toàn tuyến hiện có 102
Trang 30công trình cầu dân sinh, cầu máng, cống điều tiết v.v , trong đó riêng trên sông Phan
có 76 công trình các loại
Trang 31Bảng 1.3 Tổng hợp số lượng công trình trên hệ thống sông chính
trục chính
Công trình trên phụ lưu
Nguồn: Chi cục Thủy lợi tỉnh Vĩnh Phúc
e) Tình hình dân sinh - kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu
* Dân sinh:
Theo thống kê dân số trung bình năm 2015 vùng nghiên cứu có 823.529 người, trong
đó nam 406.724 người chiếm 49,39%, nữ 416.805 người chiếm 50,61% Mật độ dân
số 1.160 người/ km2 cao hơn mật độ dân số trung bình của cả nước là 277 người/ km2 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,1% Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động chiếm 60% Lao động đã qua đào tạo chiếm 63%, dân số làm việc trong khu vực nhà nước chiếm 8,2%, làm việc ngoài nhà nước chiếm 86,6%, làm việc trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 5,2%
* Vị trí của vùng nghiên cứu với sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực:
Do có vị trí địa lý thuận lợi nên tỉnh Vĩnh Phúc nói chung và vùng nghiên cứu nói riêng đã trở thành một phần không thể thiếu của các vành đai phát triển công nghiệp phía bắc và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi sự lây lan của các khu công nghiệp lớn tại
Hà Nội như Bắc Thăng Long, Sóc Sơn, v.v
Trang 32Sự hình thành và phát triển của các hành lang vận tải quốc tế và nội địa liên quan đến địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã có những tỉnh gần với các trung tâm kinh tế, công nghiệp và các thành phố lớn của cả nước như: Côn Minh - Hà Nội nối với hành lang kinh tế Hải Phòng; Quốc lộ 2: Việt Trì - Hà Giang - Trung Quốc; Đường hành lang Quốc lộ 18 và đường vành đai IV của Hà Nội trong tương lai
* Sản xuất nông nghiệp:
Trong nông nghiệp, trồng trọt vẫn đang là ngành sản xuất chính Cây trồng hàng năm chủ yếu là lúa, ngô, khoai lang, khoai tây, rau… Trong diện tích trồng cây hàng năm, lâu năm, diện tích trồng lúa có xu hướng giảm do chuyển sang trồng cây ngắn ngày có giá trị kinh tế cao như thanh long, chuối và một số diện tích chuyển sang chăn nuôi gia súc; các mô hình trang trại (lúa – cá – vịt)
* Chăn nuôi:
Hiện tại, trong vùng nghiên cứu đang phát triển chăn nuôi tập trung: các trang trại chuyên nuôi gà, có quy mô từ 5.000 đến 12.000 con/trại và các trang trại chuyên nuôi lợn, có quy mô từ 5.000 đến 10.000 con/trại
Ngoài ra trên lưu vực nghiên cứu còn có nhiều làng nghề hoạt động tại các trung tâm huyện và các khu vực nông thôn dọc theo sông Phan
* Cơ sở hạ tầng:
Cơ sở hạ tầng của vùng có sự phát triển vượt bậc Các tuyến đường vành đai, hướng tâm, đường qua các khu công nghiệp, các tuyến đường quan trọng qua các địa phương
Trang 33được cải tạo, nâng cấp, đầu tư xây mới Hệ thống đường đô thị, nhiều tuyến đường giao thông nông thôn và giao thông nội đồng được kiên cố hóa
Theo thống kê của Sở Giao thông Vận tải, năm 2015, toàn tỉnh Vĩnh Phúc có 4 tuyến quốc lộ chạy qua với tổng chiều dài 109 km, trong đó có 99 km đường nhựa đã hư hỏng khá nặng và 10 km đường cấp phối Chất lượng của hầu hết các tuyến tỉnh lộ và huyện lộ đều rất kém Đến nay 100% các tuyến quốc lộ chạy qua địa bàn đều được cứng hóa
Đặc biệt tuyến cao tốc Nội Bài - Lào Cai qua địa phận Vĩnh Phúc có chiều dài 41 km
đã và đang tạo thuận lợi để kết nối giao thương với các tỉnh phía Bắc và đồng bằng sông Hồng Toàn tỉnh có 24 tuyến đường cấp tỉnh với tổng chiều dài 353 km, tỷ lệ cứng hóa 100% Hệ thống giao thông nông thôn, giao thông nội đồng phát triển mạnh với tỷ lệ kiên cố hóa lần lượt là 90% và 55%
Trang 34Bảng 1.4 Diện tích sử dụng đất của vùng nghiên cứu năm 2015
TỔNG DIỆN TÍCH (ha)
Bình Xuyên
Phúc Yên
Tam Dương
Tam Đảo
Vĩnh Tường
Vĩnh Yên 14,847 12,013 10,821
Đất cơ sở sản xuất kinh
Trang 35TỔNG DIỆN TÍCH (ha)
Bình Xuyên
Phúc Yên
Tam Dương
Tam Đảo
Vĩnh Tường
Vĩnh Yên 14,847 12,013 10,821
Trang 36Vùng hệ thống thủy lợi Liễn Sơn - Bạch Hạc: Hệ thống Liễn Sơn hiện nay phục vụ tưới tương đối chủ động với 4 công trình tưới lớn Về vụ mùa nguồn nước đảm bảo nhưng về vụ chiêm nguồn nước bị hạn chế nhất là những năm hạn Vùng thường xuyên hạn:
+ Phía kênh Hữu có khoảng 670 ha thường bị hạn do đầu nước thấp
+ Vùng bãi sông Phó Đáy còn 500 ha thường xuyên hạn hán do khó khăn về nguồn nước
+Vùng hệ thống thủy lợi Tam Đảo: Nguồn nước cung cấp chính cho hệ thống là mạng lưới sông suối nội vùng, bắt nguồn từ dãy núi Tam Đảo, nguồn sinh thuỷ dồi dào.Tuy nhiên, do điều kiện địa hình vùng đồi núi phức tạp, chia cắt, ruộng dốc nên vấn đề điều phối nguồn giữa các vùng gặp khó khăn Trong vùng còn một số vùng khó khăn thiếu nước tưới là vùng tưới vùng hồ Làng Hà (khoảng 300 ha)
+ Vùng hệ thống thủy lợi Phúc Yên: Diện tích hạn khoảng 500 ha vùng Cà Lồ cụt phía thượng nguồn cầu Tiền Châu
Những năm gần đây:
+ Năm 2010, hạn hán đã xẩy ra gay gắt đối với cả nước nói chung và trên địa bàn vùng trung du Bắc Bộ nói riêng Mực nước các sông, suối đã xuống thấp hơn trung bình nhiều năm và các hồ chứa ở mức thấp hiếm có, nhiều hồ chứa cạn kiệt, nắng nóng kéo dài làm cho tình hình khô hạn và thiếu nước xẩy ra ngày càng gay gắt hơn
Vụ đông xuân, tỉnh Vĩnh Phúc có kế hoạch gieo trồng 42 nghìn ha, trong đó có 31 nghìn ha lúa, 11 nghìn ha rau màu Theo tính toán của Chi cục Thủy lợi tỉnh, để bảo đảm đủ nước tưới cho diện tích lúa và rau màu theo kế hoạch đề ra, cả tỉnh cần một lượng nước tưới suốt vụ là 218 triệu m3 Trong khi đó, tận dụng mọi khả năng nguồn nước hiện có tại các công trình thủy lợi vẫn còn thiếu khoảng 40 triệu m3 Ðể khắc phục khó khăn về nguồn nước tưới và giảm thiểu thiệt hại do hạn hán gây ra Một mặt
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc vận động nông dân trồng các loại cây chịu hạn, cần ít lượng nước tưới, tỉnh hỗ trợ giống chuyển đổi cây trồng Mặt khác chủ động tích nước khi có mưa và các hồ thủy điện xả nước
Trang 37+ Năm 2012, thời tiết nắng nóng liên tục với nhiệt độ cao từ 38 oC – 42oC, kéo dài
từ đầu tháng 4 đến tháng 5, trong đó trọng điểm các ngày từ 28/4 đến 04/5 nhiệt độ liên tục từ 40-42 oC gây khô hạn trên diện rộng đã làm ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân
Thời gian bị hạn và thiếu nước đối với sản xuất nông nghiệp thường tập trung vào các giai đoạn sau từ tháng 1 tháng 3 và cuối tháng 5 tháng 6 và tháng 11,12
- Năm 2015, Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ hiện tượng El Nino, gây nên tình trạng lượng mưa, dòng chảy sông, suối ở hầu hết các khu vực đều thiếu hụt so với trung bình nhiều năm, dẫn đến hạn hạn xảy ra gay gắt trên diện rộng Tại tỉnh Vĩnh Phúc, nhiệt độ 10 tháng năm 2015 cao hơn trung bình nhiều năm và cùng kỳ năm 2014; xuất hiện 6 đợt nắng nóng kéo dài, trong đó có 2 đợt với nhiệt độ cao nhất trong ngày từ 37-390C; lượng mưa từ đầu năm đến nay đo được là 1,399mm, thấp hơn trung bình nhiều năm 65mm
Theo báo cáo của Sở NN&PTNT, vụ Đông - Xuân 2015- 2016, toàn tỉnh có kế hoạch gieo trồng 41.500 ha, trong đó hơn 30.000 ha lúa; 10.200 ha rau màu các loại Để đảm bảo cân bằng nguồn nước cho diện tích trên cần khoảng hơn 200 triệu m3, nhưng trên thực tế, khả năng cung cấp nước của các hồ, đập trên địa bàn tỉnh chỉ đạt khoảng 195 triệu m3, thiếu hụt hơn 5 triệu m3 Bên cạnh đó, các nguồn nước lại phân bổ không đều ; khả năng cấp nguồn từ các trạm bơm ven sông lại phụ thuộc hoàn toàn vào mực nước các sông, chế độ xả nước của Tập đoàn Điện lực Việt Nam Tính đến thời điểm 10-10-2015, tổng dung tích hữu tính các hồ lớn trên địa bàn tỉnh đều giảm so với cùng
kỳ năm 2014, trong đó, vùng hồ Đại Lải thiếu hụt 0,9 triệu m3; vùng hồ Xạ Hương thiếu hụt 4,35 triệu m3; vùng hồ Làng Hồ thiếu hụt 0,55 triệu m3; vùng hồ Thanh Lanh thiếu hụt 1,66 triệu m3; vùng hồ Suối Sải thiếu hụt 0,39 triệu m3
- Theo báo cáo của Trung tâm Dự báo Khí tượng thủy văn Trung ương, hiện tượng El Nino đã kéo dài đến hết mùa Đông năm 2015 – 2016 và trở thành El Nino kéo dài nhất trong khoảng 60 năm qua Nhiệt độ trong những tháng chính của mùa Đông, từ tháng 12/2015 đến tháng 2/2016 có xu hướng cao hơn trung bình nhiều năm, rét đậm, rét hại không kéo dài và là mùa đông ấm Mùa mưa đến muộn và kết thúc sớm, tổng lượng
Trang 38mưa phổ biến thiếu hụt so với trung bình nhiều năm Từ tháng 10/2015 đến tháng 4/2016, dòng chảy trên các sông, suối sẽ giảm dần và có khả năng thiếu hụt so với trung bình nhiều năm Do vậy, tình hình hạn hán diễn ra khá gay gắt nhất, đặc biệt các
xã thuộc các huyện ven dãy núi Tam Đảo và Sáng Sơn; các vùng bán sơn địa không có công trình thủy lợi thuộc các huyện: Tam Dương và Bình Xuyên; vùng bãi thuộc các huyện: Vĩnh Tường, Yên Lạc Tuy nhiên trên thực tế hạn hán xảy ra tại vùng nghiên cứu không nhiều Báo cáo công tác phòng chống thiên tai của tỉnh Vĩnh phúc trong 3 năm liền 2014, 2015, 2016 đều cho thấy không có thiệt hại do hạn hán hay thiết hụt lượng mưa