1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ xã hội học quan niệm, hành vi và những yếu tố ảnh hưởng tới việc nuôi con bằng sữa mẹ ở phụ nữ đang nuôi con nhỏ tại hà nội hiện nay

118 84 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 277,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: “Nếu có một loại vắcxin có thể giúp phòng tránh tử vong cho hơn một triệu trẻ em, chi phí thấp, an toàn, có thể uống trực tiếp và không cần bảo quản lạnh, vắcxin đó sẽ là một nhu cầu cấp thiết cho sức khỏe cộng đồng. Nuôi con bằng sữa mẹ có thể làm được tất cả những điều này và còn nhiều hơn thế” 31. Lời khẳng định trên đã phần nào nói lên được lợi ích của việc Nuôi con bằng sữa mẹ. Xét một cách toàn diện, Nuôi con bằng sữa mẹ mang lại lợi ích cho trẻ, cho bà mẹ, cho gia đình và cho toàn xã hội. Đối với trẻ, sữa mẹ giúp trẻ chống lại bệnh tật, đồng thời tăng cường sức khỏe và thúc đẩy sự tăng trưởng tối ưu của trẻ. Đối với bà mẹ, Nuôi con bằng sữa mẹ giúp họ giảm được nguy cơ mắc các bệnh như tiểu đường, ung thư, loãng xương, trầm cảm sau sinh hay thiếu máu, cho con bú cũng giúp họ giảm cân sau sinh nhanh hơn và tránh thai tốt hơn. Nuôi con bằng sữa mẹ cũng có lợi cho kinh tế gia đình khi giúp giảm thiểu chi phí tốn kém cho sữa công thức (trung bình mỗi gia đình tốn khoảng 800.0001.200.000 đồng mỗi tháng cho việc mua các sản phẩm thay thế sữa mẹ cho trẻ). Cũng nhờ những lợi ích về mặt sức khỏe do Nuôi con bằng sữa mẹ mang lại, các gia đình cũng tiết kiệm được thời gian và tiền bạc cho việc khám chữa bệnh. Đối với xã hội, việc này cũng mang lại những lợi ích vô cùng to lớn. Nuôi con bằng sữa mẹ giúp làm giảm chi phí y tế chung của quốc gia cho khám chữa các bệnh liên quan đến việc nuôi dưỡng trẻ nhỏ kém. Nuôi con bằng sữa mẹ giúp ổn định lực lượng lao động cho các doanh nghiệp khi các lao động nữ không phải nghỉ làm để chăm con ốm. Sữa mẹ cũng là một nguồn lực hữu ích đảm bảo an ninh thực phẩm cho trẻ nhỏ và các gia đình trên toàn thế giới khi có thiên tai, dịch bệnh hay khủng hoảng kinh tế 31. Hiểu được những lợi ích đó của Nuôi con bằng sữa mẹ sẽ khiến các bà mẹ cho con bú sữa mẹ nhiều hơn và lâu dài hơn. Tuy nhiên, không phải bà mẹ nào cũng có hiểu biết đó, và không phải bà mẹ nào cũng có quan niệm ủng hộ việc Nuôi con bằng sữa mẹ. Điều này tác động không nhỏ đến hành vi nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ của các bà mẹ (quyết định có cho con bú mẹ hay không). Ngoài ra có những yếu tố ảnh hưởng tới việc Nuôi con bằng sữa mẹ như những yếu tố liên quan đến cá nhân người mẹ, những yếu tố văn hóaxã hội và những yếu tố hỗ trợ xã hội. Quan niệm, hành vi và những yếu tố ảnh hưởng tới việc Nuôi con bằng sữa mẹ đã được quan tâm nghiên cứu nhưng chủ yếu về mặt định lượng, số lượng các nghiên cứu định tính vẫn còn rất hạn chế. Việc hiểu một cách sâu sắc các yếu tố ảnh hưởng tới Nuôi con bằng sữa mẹ sẽ giúp ích rất nhiều trong việc thiết kế các chương trìnhchính sách phù hợp nhằm tăng cường, thúc đẩy việc Nuôi con bằng sữa mẹ trong xã hội hiện nay. Vì lý do đó, tác giả thực hiện nghiên cứu định tính “Quan niệm, hành vi và những yếu tố ảnh hưởng tới việc Nuôi con bằng sữa mẹ ở phụ nữ đang nuôi con nhỏ tại Hà Nội hiện nay”.

Trang 1

Mục lục

Danh mục các bảng 6

Danh mục các hộp 6

MỞ ĐẦU 7

1 Tính cấp thiết của đề tài……… 7

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu……… 8

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài……… 16

3.1 Mục đích nghiên cứu……… 16

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu……… 16

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu của đề tài……… 16

4.1 Đối tượng nghiên cứu……… 16

4.2 Khách thể nghiên cứu……… 16

4.3 Phạm vi nghiên cứu……… 17

5 Câu hỏi nghiên cứu……… 17

6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài……… 18

6.1 Phương pháp luận của đề tài……… 18

6.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể của đề tài……… 18

6.3 Phương pháp chọn mẫu……… 20

7 Điểm mới và ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài……… 21

7.1 Điểm mới của đề tài……… 21

7.2 Ý nghĩa lý luận của đề tài……… 21

7.3 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài……… 21

8 Kết cấu của đề tài……… 22

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 24

1.1 Các khái niệm 24

1.2 Các lý thuyết 28

1.3 Các chính sách của Đảng và Nhà nước về Nuôi con bằng sữa mẹ 34

CHƯƠNG 2: QUAN NIỆM VÀ HÀNH VI CÓ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ Ở PHỤ NỮ ĐANG NUÔI CON NHỎ Ở HÀ NỘI HIỆN NAY

36 2.1 Quan niệm về việc Nuôi con bằng sữa mẹ 36

2.2 Hành vi có liên quan đến việc Nuôi con bằng sữa mẹ 58

CHƯƠNG 3: NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ Ở PHỤ NỮ ĐANG NUÔI CON NHỎ Ở HÀ NỘI HIỆN NAY

77 3.1 Những yếu tố mang tính cá nhân 77

3.2 Những yếu tố văn hóa-xã hội 84

3.3 Những yếu tố hỗ trợ xã hội 90

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 112

PHỤ LỤC 116

Trang 2

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 Bảng 1: Tình hình Nuôi con bằng sữa mẹ tại Việt Nam 9

2 Bảng 2: Thực hành Nuôi con bằng sữa mẹ tại Việt Nam 11

DANH MỤC CÁC HỘP

1 Hộp 1: Câu chuyện của mẹ CTNA: Máy hút sữa và sự tin

tưởng tuyệt đối vào việc Nuôi con bằng sữa mẹ

61

3 Hộp 3: Thông tin về mô hình Mặt trời bé thơ-Dự án

Alive&Thrive

102

Trang 3

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài:

“Nếu có một loại vắc-xin có thể giúp phòng tránh tử vong cho hơn một triệu trẻ

em, chi phí thấp, an toàn, có thể uống trực tiếp và không cần bảo quản lạnh, xin đó sẽ là một nhu cầu cấp thiết cho sức khỏe cộng đồng Nuôi con bằng sữa mẹ

vắc-có thể làm được tất cả những điều này và còn nhiều hơn thế” [31] Lời khẳng định trên đã phần nào nói lên được lợi ích của việc Nuôi con bằng sữa mẹ Xét một cách toàn diện, Nuôi con bằng sữa mẹ mang lại lợi ích cho trẻ, cho bà mẹ, cho gia đình và cho toàn xã hội Đối với trẻ, sữa mẹ giúp trẻ chống lại bệnh tật, đồng thời tăng cường sức khỏe và thúc đẩy sự tăng trưởng tối ưu của trẻ Đối với bà mẹ, Nuôi con bằng sữa mẹ giúp họ giảm được nguy cơ mắc các bệnh như tiểu đường, ung thư, loãng xương, trầm cảm sau sinh hay thiếu máu, cho con bú cũng giúp họ giảm cân sau sinh nhanh hơn và tránh thai tốt hơn Nuôi con bằng sữa mẹ cũng có lợi cho kinh tế gia đình khi giúp giảm thiểu chi phí tốn kém cho sữa công thức (trung bình mỗi gia đình tốn khoảng 800.000-1.200.000 đồng mỗi tháng cho việc mua các sản phẩm thay thế sữa mẹ cho trẻ) Cũng nhờ những lợi ích về mặt sức khỏe do Nuôi con bằng sữa mẹ mang lại, các gia đình cũng tiết kiệm được thời

Trang 4

gian và tiền bạc cho việc khám chữa bệnh Đối với xã hội, việc này cũng mang lại những lợi ích vô cùng to lớn Nuôi con bằng sữa mẹ giúp làm giảm chi phí y tế chung của quốc gia cho khám chữa các bệnh liên quan đến việc nuôi dưỡng trẻ nhỏkém Nuôi con bằng sữa mẹ giúp ổn định lực lượng lao động cho các doanh

nghiệp khi các lao động nữ không phải nghỉ làm để chăm con ốm Sữa mẹ cũng là một nguồn lực hữu ích đảm bảo an ninh thực phẩm cho trẻ nhỏ và các gia đình trêntoàn thế giới khi có thiên tai, dịch bệnh hay khủng hoảng kinh tế [31]

Hiểu được những lợi ích đó của Nuôi con bằng sữa mẹ sẽ khiến các bà mẹ cho con bú sữa mẹ nhiều hơn và lâu dài hơn Tuy nhiên, không phải bà mẹ nào cũng

có hiểu biết đó, và không phải bà mẹ nào cũng có quan niệm ủng hộ việc Nuôi con bằng sữa mẹ Điều này tác động không nhỏ đến hành vi nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ của các bà mẹ (quyết định có cho con bú mẹ hay không) Ngoài ra có những yếu tố ảnh hưởng tới việc Nuôi con bằng sữa mẹ như những yếu tố liên quan đến cá nhân người mẹ, những yếu tố văn hóa-xã hội và những yếu tố hỗ trợ

xã hội

Quan niệm, hành vi và những yếu tố ảnh hưởng tới việc Nuôi con bằng sữa mẹ

đã được quan tâm nghiên cứu nhưng chủ yếu về mặt định lượng, số lượng các nghiên cứu định tính vẫn còn rất hạn chế Việc hiểu một cách sâu sắc các yếu tố ảnh hưởng tới Nuôi con bằng sữa mẹ sẽ giúp ích rất nhiều trong việc thiết kế các chương trình/chính sách phù hợp nhằm tăng cường, thúc đẩy việc Nuôi con bằng sữa mẹ trong xã hội hiện nay Vì lý do đó, tác giả thực hiện nghiên cứu định tính

“Quan niệm, hành vi và những yếu tố ảnh hưởng tới việc Nuôi con bằng sữa mẹ ở phụ nữ đang nuôi con nhỏ tại Hà Nội hiện nay”

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu:

2.1 Thực trạng Nuôi con bằng sữa mẹ trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay

Trên thế giới, tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu là tương đốithấp Theo Ngân hàng dữ liệu toàn cầu của tổ chức Y tế Thế giới [29] về nuôidưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, trong giai đoạn từ năm 2006 đến 2013, tỷ lệ chung

Trang 5

của toàn thế giới là 37%; tỷ lệ ở từng khu vực cụ thể: thấp nhất là khu vực TâyThái Bình Dương (30%), tiếp đến là Châu Mỹ (31%), Châu Phi (35%), Đông ĐịaTrung Hải (36%) và Đông Nam Á (47%); tính theo các nhóm thu nhập: tỷ lệ thấpnhất thuộc về nhóm có thu nhập trên trung bình (29%), tiếp đến là nhóm thu nhập

dưới trung bình (39%) và tỷ lệ ở nhóm thu nhập thấp là 47% Trong bài viết

“Những xu hướng toàn cầu về Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn” của mình, Cai vàđồng sự [4] đã chỉ ra tỷ lệ trẻ từ 0-5 tháng được bú sữa mẹ hoàn toàn năm 2010 ởmột số khu vực đang phát triển như Tây và Trung Phi là 28%, Đông Á và Châu ÁThái Bình Dương 29%, Nam Á 45%, Tây và Nam Phi 47%, tỷ lệ chung của ChâuPhi là 35%, Châu Á (trừ Trung Quốc) là 41% và của nhóm các nước đang pháttriển là 39% Bộ cơ sở dữ liệu về nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ của UNICEF[27] cũng đã đưa ra tỷ lệ trung bình trên thế giới trẻ vừa bú mẹ vừa ăn các thức ăn

bổ sung là 55%, tỷ lệ trẻ được bú mẹ đến 1 năm tuổi là 75%, đến 2 năm tuổi giảmxuống còn 58%

Là một nước đang phát triển nằm trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương, ViệtNam cũng là một nước có tỷ lệ Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn khá thấp Cuộc Tổng điều tra Dinh dưỡng của Viện Dinh dưỡng quốc gia (Bộ Y tế) và UNICEF (2009-2010) [36]đã đưa ra bảng dưới đây thể hiện tình hình Nuôi con bằng sữa mẹ

ở Việt Nam:

Bảng 1: Tình hình Nuôi con bằng sữa mẹ tại Việt Nam

Thời gian bà mẹ cai sữa cho trẻ:

Trang 6

(Nguồn: Lê Nhất Phương Hồng, 2015, 68 Ngộ nhận và Giác ngộ về Nuôi con sữa mẹ - Sai

và Khó, Đúng và Dễ, NXB Phụ nữ)

Theo số liệu của WHO [29] tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu của Việt Nam năm 2011 là 17% Theo nghiên cứu được tiến hành năm 2011 trên địa bàn 11 tỉnh, thành phố với số mẫu tương đối lớn (10834 mẫu) của dự án Alive

& Thrive [30], tỷ lệ bú sớm sau sinh là 50,5% và Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu là 20,2% Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn và Nuôi con bằng sữa mẹ là chủ yếu đều giảm dần trong 6 tháng đầu, ở trẻ 1 tháng tuổi, tỷ lệ Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn là 41,4%, trong khi đó ở trẻ 5 tháng tuổi giảm chỉ còn 6,2% 79,5% trẻ được bú mẹ đến 1 năm tuổi nhưng chỉ có 18,2% trẻ được tiếp tục

bú đến 2 năm tuổi Tình trạng các bà mẹ Việt Nam thường cho con uống nước, sữabột và ăn thức ăn bổ sung quá sớm là khá phổ biến Tỷ lệ ăn sữa bột là 17% ở trẻ dưới 1 tháng tuổi, 24% ở trẻ 2-4 tháng tuổi và 41,9% ở trẻ 5 tháng tuổi

2.2 Quan niệm và hành vi có liên quan đến Nuôi con bằng sữa mẹ

Nhìn chung, các bậc phụ huynh và đặc biệt là các bà mẹ đang nuôi con nhỏ xuấthiện trong những nghiên cứu cả ở trong và ngoài nước đều có những quan điểmkhá đa dạng và nhiều khi là mâu thuẫn về Nuôi con bằng sữa mẹ, trong đó có cảtích cực và tiêu cực [3] Với một số người mẹ ở phương Tây, Nuôi con bằng sữa

mẹ mang đến sự liên kết về cả thể chất và tâm hồn, cảm giác viên mãn và là sựphản ánh chất lượng của “việc làm mẹ” của họ, cho con bú có mối liên hệ và đồngnghĩa với việc thể hiện tình yêu thương [20], với họ, NCBSM được coi như mộtgiá trị đặc biệt trong cuộc sống, nó là nhiệm vụ, là bản năng của người mẹ, nó đemlại cảm giác gắn bó, niềm vui và niềm tự hào cho họ [14] Hầu như các bà mẹ hiệnnay dù sống ở đâu cũng đều ít nhiều nắm được những kiến thức cơ bản về Nuôicon bằng sữa mẹ và đều biết rằng sữa mẹ là quan trọng đối với trẻ sơ sinh và trẻnhỏ [11], [12], tuy nhiên những hiểu biết của họ ở đâu đó cũng có những nhầm lẫndẫn tới những quan niệm không mấy tích cực đối với việc này Ở một số nơi, trong

đó có Việt Nam, Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn dường như không phải là mộtchuẩn mực xã hội, không ít bà mẹ “không tin rằng những người khác Nuôi con

Trang 7

bằng sữa mẹ hoàn toàn hoặc những người khác cũng không mong đợi họ làm nhưvậy.” [30] Thậm chí, trong xã hội còn đang tồn tại một chuẩn mực khá tiêu cực và

có phần cổ hủ về việc này như cho con bú cần phải kín đáo, cho con bú nơi côngcộng là một điều khiếm nhã, bất lịch sự hay đáng xấu hổ [3]… Chính chuẩn mựcnày đang xung đột với những lời khẳng định của các chuyên gia y tế rằng Nuôi conbằng sữa mẹ là lựa chọn tốt nhất, là cần thiết cho trẻ, những chuẩn mực mâu thuẫnlẫn nhau này đang gây ảnh hưởng không nhỏ đến quan niệm, quyết định và hành viliên quan tới việc cho con bú của người mẹ [5] Có không ít bà mẹ bị ám ảnh bởinhững suy nghĩ như con mình không thỏa mãn với việc chỉ bú sữa mẹ hay nói cáchkhác sữa mẹ là không đủ với chúng, cần phải cho uống sữa công thức/sữa bột conmới “bụ bẫm” và họ lo lắng về vấn đề dinh dưỡng, họ cho rằng con họ cần phải ăndặm hơn là bú mỗi sữa mẹ [13], rồi thì sữa mẹ nóng con không tăng cân, haynhững lo lắng về việc mình không đủ sữa cho con [3], mẹ sinh mổ thì không cósữa, rồi thì cho con bú sẽ làm hỏng bầu ngực, cho con bú là mất thời gian… Đóchỉ là một vài trong số vô vàn những quan niệm của các bà mẹ về Nuôi con bằngsữa mẹ Những quan niệm này dẫn tới những hành vi khác nhau liên quan tới việcnuôi dưỡng đứa trẻ

Như số liệu đã trình bày ở phần trên cũng như rất nhiều những số liệu, kết quảnghiên cứu khác đã chỉ ra, chúng ta nhận thấy rằng tỷ lệ Nuôi con bằng sữa mẹhoàn toàn trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng vẫn còn khá khiêm tốn

Có rất ít người Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và hầu hết đềungưng hoặc dự định sẽ ngưng cho con bú khi đứa trẻ được 18 tháng tuổi [12].Bảng dưới đây thể hiện kết quả Thực hành Nuôi con bằng sữa mẹ trong nghiên cứucủa Alive&Thrive [30] Kết quả này cũng phần nào nói lên được xu hướng hành vichung hiện nay:

Bảng 2: Thực hành Nuôi con bằng sữa mẹ tại Việt Nam

Trang 8

(Nguồn: Alive and Thrive, 2012)

Nhìn vào đó, có thể thấy được tỷ lệ trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu làkhá thấp (20,2%) và tỷ lệ tiếp tục bú mẹ đến 2 năm tuổi theo khuyến cáo của tổchức WHO cũng rất thấp (18,2%) Các bà mẹ hiện nay thường có xu hướng lựachọn cho trẻ bú bình (bú sữa công thức) hoặc bú kết hợp (cả sữa mẹ và sữa côngthức) [3] Việc bổ sung quá sớm nước, sữa công thức/sữa bột, các loại chất lỏngkhác và thức ăn bổ sung cũng là một hành vi phổ biến ở các bà mẹ [1], [2], [9],[30] Theo số liệu thu thập được từ 6068 bà mẹ có con dưới 6 tháng tuổi trongmột nghiên cứu của Alive & Thrive được thực hiện tại 11 tỉnh, thành phố ở ViệtNam năm 2013 [16] tỷ lệ trẻ được cho uống các chất lỏng khác ngoài sữa mẹ sausinh là 73,3%, tỷ lệ trẻ uống sữa công thức là 53,5%, uống nước lọc là 44,1%,ngoài ra là các chất lỏng khác như mật ong, nước đường glucose…

2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến Nuôi con bằng sữa mẹ:

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quyết định có Nuôi con bằng sữa mẹ hay không của các bà mẹ, trong đó, có thể chia các yếu tố này thành 3 nhóm chính, đó là: những yếu tố mang tính cá nhân (thuộc về bản thân người mẹ), những yếu tố văn hóa-xã hội và những yếu tố hỗ trợ xã hội

2.3.1 Những yếu tố mang tính cá nhân:

Yếu tố mang tính cá nhân đầu tiên chính là tình trạng thể chất [3], [16], sứckhỏe [10] của người mẹ Cơ thể người mẹ đó có đủ khỏe mạnh để tiết sữa nuôicon hay không sẽ quyết định việc người mẹ đó có Nuôi con bằng sữa mẹ haykhông Kế đến là tình trạng tâm lý của người mẹ: sự lo lắng về việc không đủ sữacho con bú hay con không đủ no, không đủ dinh dưỡng [3], [13], sự xấu hổ, không

Trang 9

thoải mái khi cho con bú nơi công cộng [3], [5], [10], [16] hay sự mong muốn có

sự tham gia của người chồng/cha của đứa trẻ vào quá trình chăm sóc con cái, cụthể là cho con bú [11]… chính là những yếu tố khiến cho các bà mẹ không lựachọn việc Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn mà thay vào đó là cho bú sữa côngthức/sữa bột hay ăn bổ sung sớm

Trình độ học vấn nói chung [10] và kiến thức về Nuôi con bằng sữa mẹ nóiriêng [16], [30] của các bà mẹ cũng là một yếu tố có tầm ảnh hưởng lớn Trình độhọc vấn cao [17] kết hợp với những hiểu biết phù hợp, chính xác về Nuôi con bằngsữa mẹ, về việc cho trẻ ăn bổ sung đúng thời điểm [6] sẽ dẫn đến việc thực hànhNuôi con bằng sữa mẹ tích cực Ngược lại, sự thiếu kiến thức và tiếp nhận nhữngthông tin không chính xác cộng với việc thiếu phương tiện di chuyển hiệu quả gâytrở ngại cho khả năng tiếp cận với những chương trình và dịch vụ chăm sóc sứckhỏe tiền sản và hậu sản chính thống [24] là những yếu tố cản trở, gây khó khăncho quá trình Nuôi con bằng sữa mẹ hiện nay

Tuy nhiên, yếu tố cá nhân gây cản trở nhiều nhất cho việc Nuôi con bằng sữa

mẹ hoàn toàn chính là việc người mẹ phải quay trở lại đi làm sau thời gian nghỉ thai sản [6], [12], [30] Sau thời gian nghỉ 6 tháng thai sản (trước đây là 4 tháng), người mẹ thường sẽ phải quay trở lại với công việc, vì thế họ sẽ phải vắng nhà trong thời gian làm việc đó (thường là 8 tiếng) Việc chăm sóc con nhỏ đành phải giao phó lại cho người ở nhà (các bà nội, ngoại, người giúp việc…) Họ thường ngại chạy về cho con bú giữa buổi hay vắt/hút sữa để ở nhà nên thường có xu hướng cai sữa sớm, cho con uống sữa công thức/sữa bột và ăn bổ sung

Ngoài ra, tác giả nhận thấy có một số yếu tố cá nhân cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến việc cho con bú sữa mẹ đối với người mẹ như độ tuổi, tình trạng hôn nhân

và điều kiện kinh tế Tuy nhiên, trong phạm vi những tài liệu được tổng thuật, những yếu tố này lại chưa được khắc họa thực sự rõ nét Vì vậy, trong nghiên cứu này, tác giả sẽ chú ý hơn đến những yếu tố này

2.3.2 Những yếu tố văn hóa-xã hội:

Trang 10

Một trong những yếu tố văn hóa-xã hội đầu tiên cần phải nhắc tới chính là yếu

tố chính sách, pháp luật - một thiết chế xã hội quan trọng giữ vai trò chủ đạo trongmọi hệ thống xã hội Ở Việt Nam, liên quan đến Nuôi con bằng sữa mẹ, hiện đã cómột số văn bản quy phạm pháp luật có đề cập đến vấn đề này Nhìn chung, quanđiểm của pháp luật Việt Nam là khuyến khích, ưu tiên và tạo mọi điều kiện thuậnlợi cho việc Nuôi con bằng sữa mẹ, luôn luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của sữa

mẹ đối với sự phát triển của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ; không khuyến khích thông tintuyên truyền, quảng cáo cũng như sử dụng các sản phẩm thay thế sữa mẹ, đặc biệt

là các sản phẩm dành cho trẻ nhỏ dưới 24 tháng tuổi, cụ thể:

Về các bộ luật, Luật Lao động [40] sửa đổi có hiệu lực từ ngày 1/5/2013 đã

quy định rõ thời gian nghỉ thai sản của lao động nữ được tăng lên thành 6 thángchứ không phải là 4 tháng như trước đây, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các

bà mẹ Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu Luật Quảng cáo [39]

2012 quy định các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cấm quảng cáo (điều 7) trong đócấm quảng cáo các “sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ dùng cho trẻ dưới 24 tháng tuổi,sản phẩm dinh dưỡng bổ sung dùng cho trẻ dưới 06 tháng tuổi; bình bú và vú ngậmnhân tạo”

Về các văn bản dưới luật, Nghị định số 21/2006/NĐ-CP [32] về việc Kinh

doanh và sử dụng các sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ đã cũng đã quy định rất rõ về việc thông tin, giáo dục, truyền thông, quảng cáo, kinh doanh và sử dụng các sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ, trong đó tại điều 3 và 4 Chương II đã quy định cụ thể về những yêu cầu bắt buộc đối với thông tin, giáo dục, truyền thông về lợi ích của việc nuôi trẻ bằng sữa mẹ (điều 3) và tài liệu thông tin, giáo dục, truyền thông về nuôi dưỡng trẻ nhỏ (điều 4) Và như một sự bổ sung, làm rõ

hơn những quy định đó, Nghị định 176/2013/NĐ-CP [33] quy định xử phạt vi

phạm hành chính trong lĩnh vực y tế đã được ban hành, cụ thể tại Mục 6 Hành vi

vi phạm hành chính khác trong lĩnh vực y tế có đề cập đến những vi phạm quy định về thông tin giáo dục, truyền thông về Nuôi con bằng sữa mẹ (điều 87) và vi phạm quy định về kinh doanh và sử dụng sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ

Trang 11

(điều 88) với những hình thức xử phạt hết sức cụ thể, rõ ràng đối với từng vi phạm.

Gần đây, Chính phủ tiếp tục ra Nghị định 100/2014/NĐ-CP [34] quy định về kinh

doanh và sử dụng sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ, bình bú và vú ngậm nhân tạo, trong đó quy định về các hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông và quảng cáo; kinh doanh và sử dụng sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ, bình bú

và vú ngậm nhân tạo; trách nhiệm trong kinh doanh và sử dụng sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ Về cơ bản, Nghị định này là sự cập nhật và hoàn chỉnh thêm của Nghị định 21/2006/NĐ-CP

Yếu tố tiếp theo cần phải kể đến là những niềm tin, những chuẩn mực xã hội, những quan niệm mang tính văn hóa, truyền thống có liên quan đến nuôi dưỡng trẻnhỏ đang tồn tại trong mỗi xã hội Điều này được chia sẻ trong những nghiên cứu của Duong DV [10], Lundberg PC & Thu TTN [15], Alive & Thrive [30] ở Việt Nam và Cai [4], Lee và đồng sự [12] ở các nước khác Những quan niệm truyền thống này thường được đưa ra dưới dạng những lời khuyên cho những phụ nữ mới sinh con bởi các bà, các mẹ của họ, bởi những phụ nữ lớn tuổi hoặc có kinh

nghiệm hơn hay từ bạn bè, hàng xóm, những người xung quanh, và những lời khuyên này có tác động không nhỏ tới hành vi nuôi dưỡng trẻ của các bà mẹ trẻ.Một yếu tố khác cũng được đề cập trong một vài nghiên cứu [21], [28], [30] đó

là yếu tố khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin và truyền thông Nó có thể là mộtcông cụ giúp nâng cao hiểu biết và thúc đẩy việc thực hành Nuôi con bằng sữa mẹ,

và ngược lại, cùng với sự quảng bá rộng khắp của các nhà sản xuất sữa công thức,

nó cũng có thể là yếu tố làm giảm thậm chí mất đi giá trị của việc cho con bú đối với các bà mẹ trẻ-những người đang chịu nhiều sự chi phối của khoa học công nghệ trong đời sống hiện đại ngày nay Đây cũng sẽ là một yếu tố được tác giả cânnhắc và đưa vào nghiên cứu này thông qua việc tìm hiểu sâu hơn tác động của việctiếp xúc với khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin và truyền thông nói chung và việc tham gia vào những nhóm/hội ảo có liên quan đến Nuôi con bằng sữa mẹ trên mạng Internet nói riêng của những phụ nữ trong nghiên cứu này

2.3.3 Những yếu tố hỗ trợ xã hội:

Trang 12

Hỗ trợ xã hội được chia thành 3 nhóm chính: hỗ trợ tinh thần, hỗ trợ vật

chất/thể chất và hỗ trợ thông tin Hỗ trợ về thông tin chủ yếu đến từ các cán bộ y

tế Nghiên cứu của Deaden K và cộng sự [6] về Nuôi con bằng sữa mẹ ở khu vực nông thôn Việt Nam và những nghiên cứu khác như của Phillips [20], Schimied và cộng sự [22] và Lee và cộng sự [12] đã chỉ ra sự có mặt, hỗ trợ, những lời khuyên

từ các cán bộ y tế địa phương cũng là một yếu tố quan trọng tác động đến quá trìnhNuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ Yếu tố này kết hợp với sự sẵn có của nhữngnguồn thông tin chính xác, dễ truy cập, dễ hiểu cũng như những dịch vụ hỗ trợ, tư vấn chuyên nghiệp có liên quan đến Nuôi con bằng sữa mẹ, các lớp học tiền sản, hậu sản nhằm giúp cung cấp kiến thức cũng như hướng dẫn thực hành, giải đáp thắc mắc, tháo gỡ khó khăn trong quá trình nuôi con cho các bà mẹ là những điều kiện không thể thiếu quyết định đến sự thành công của việc Nuôi con bằng sữa mẹ [16], [18], [19], [22]

Ngoài ra, như đã nói ở trên, còn có các yếu tố hỗ trợ về mặt tinh thần và vật chất/thể chất đối với người mẹ để họ an tâm và vững tin Nuôi con bằng sữa mẹ

Dù đã được đề cập ở đâu đó trong một vài nghiên cứu tuy nhiên vẫn chưa thực sự được quan tâm và khắc họa rõ nét Vì vậy, trong đề tài này, tác giả sẽ đưa những yếu tố này vào tìm hiểu sâu hơn, hy vọng phần nào làm rõ hơn ý nghĩa của những

hỗ trợ này đối với người mẹ

3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài:

3.1 Mục đích:

Tìm hiểu quan niệm, hành vi và những yếu tố ảnh hưởng đến việc Nuôi conbằng sữa mẹ ở một số phụ nữ đang nuôi con nhỏ tại Hà Nội hiện nay, từ đó đưa ranhững kết luận, khuyến nghị góp phần giúp nâng cao nhận thức của phụ nữ nóiriêng và toàn xã hội nói chung về tầm quan trọng của sữa mẹ đối với trẻ sơ sinh,tiến tới tăng cường việc Nuôi con bằng sữa mẹ ở Việt Nam hiện nay

3.2 Nhiệm vụ:

- Phân tích và làm rõ khái niệm “Nuôi con bằng sữa mẹ” và một số khái niệmliên quan

Trang 13

- Phân tích các tài liệu, các nghiên cứu có liên quan đến việc Nuôi con bằngsữa mẹ

- Thu thập và xử lý thông tin định tính về quan niệm, hành vi và những yếu tốảnh hưởng đến việc Nuôi con bằng sữa mẹ của một số phụ nữ đang nuôi connhỏ ở Hà Nội hiện nay

- Đưa ra kết luận và khuyến nghị

4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu của đề tài:

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Quan niệm, hành vi và những yếu tố ảnh hưởng đến việc Nuôi con bằng sữa

mẹ của phụ nữ đang nuôi con nhỏ ở Hà Nội hiện nay

4.2 Khách thể nghiên cứu:

Khách thể của nghiên cứu này là những phụ nữ hiện đang sinh sống trên địa bànthành phố Hà Nội đáp ứng các điều kiện sau:

- Trong độ tuổi từ 18 – 35 tuổi

Sở dĩ tác giả lựa chọn độ tuổi này là bởi: thứ nhất, 18 tuổi là mốc tuổi trưởng thành cả về mặt thể chất/sinh học cũng như về mặt pháp luật (được phép kết hôn) ở nữ giới Thứ hai, độ tuổi 18-35 cũng là độ tuổi thích hợp nhất cho việc mang thai và sinh nở ở phụ nữ để đảm bảo về sức khỏe cho người mẹ cũng như sức khỏe và sự phát triển của đứa trẻ, trẻ sinh ra sẽ ít gặp các vấn đề về sức khỏe hơn so với các em bé được sinh ra bởi các bà

mẹ lớn hơn 35 tuổi Thứ ba, đây cũng là độ tuổi phổ biến của các bà mẹ đang nuôi con nhỏ hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam.

- Sinh con trong vòng 2 năm (24 tháng) trở lại thời điểm tiến hành nghiên cứu

Tác giả lựa chọn độ tuổi của trẻ là 2 tuổi (24 tháng) bởi đây là khoảng thời gian tối thiểu các mẹ nên Nuôi con bằng sữa mẹ theo khuyến cáo của tổ chức Y tế Thế giới (WHO) Theo quan sát thực tế thì dường như đây lại là mốc tối đa cho con bú của hầu hết các bà mẹ hiện nay và các nghiên cứu về Nuôi con bằng sữa mẹ hiện có hầu như cũng không đề cập đến số liệu có liên quan đến các bà mẹ cho con bú tới trên 2 tuổi.

4.3 Phạm vi nghiên cứu:

Trang 14

- Địa điểm: thành phố Hà Nội, trong đó, lựa chọn người trả lời ở cả 2 khu vựcnội thành và ngoại thành với những khác biệt về đặc điểm kinh tế-xã hội vàđặc biệt là sự sẵn có của những hỗ trợ xã hội đối với việc Nuôi con bằng sữa

mẹ như tư vấn của cán bộ y tế, các nguồn thông tin, các lớp học tiền sản, hậusản nhằm phần nào tìm hiểu những khác biệt (nếu có) trong việc Nuôi conbằng sữa mẹ ở những phụ nữ đang nuôi con nhỏ ở 2 khu vực này

- Thời gian tiến hành thực địa: từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 01 năm 2015

5. Câu hỏi nghiên cứu:

- Những phụ nữ tham gia vào nghiên cứu này quan niệm như thế nào về việcNuôi con bằng sữa mẹ?

- Những bà mẹ có con nhỏ đang nuôi dưỡng con họ như thế nào (liên quan tớiviệc cho con bú sữa mẹ hay sữa công thức)? Họ có lựa chọn việc Nuôi con bằngsữa mẹ hay không? Nếu có thì cách thức như thế nào? Vì sao những phụ nữ nàylại có những lựa chọn như vậy (có hay không Nuôi con bằng sữa mẹ)?

- Đâu là những yếu tố thúc đẩy việc Nuôi con bằng sữa mẹ?

- Đâu là những yếu tố gây trở ngại, khó khăn cho việc Nuôi con bằng sữa mẹ?

Và những phụ nữ này đã làm gì để vượt qua những khó khăn và trở ngại trong việcnày?

6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài:

6.1 Phương pháp luận của đề tài:

Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng; quán triệt sâu sắc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về Nuôi con bằng sữa mẹ, từ đó định hướng cho việc tiếp cận đối tượng nghiên cứu, luận giải các nhiệm vụ đã đề ra

6.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể của đề tài:

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính là chủ đạo với những phương pháp thu thập thông tin cụ thể sau:

- Phân tích tài liệu đối với tài liệu có liên quan đến Nuôi con bằng sữa mẹ, trong đó bao gồm:

Trang 15

o Các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam quy định về việc nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ nói chung và Nuôi con bằng sữa mẹ nói riêng

o Các bài viết khoa học, các báo cáo nghiên cứu, các bài báo trong và ngoài nước về Nuôi con bằng sữa mẹ

o Các tài liệu tuyên truyền, sản phẩm truyền thông về Nuôi con bằng sữa mẹ, cùng những tài liệu có liên quan khác

Các tài liệu được thu thập chủ yếu từ Thư viện Quốc gia, Viện Dinh dưỡng và một số cơ quan, tổ chức có uy tín khác trong lĩnh vực nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ nói chung và Nuôi con bằng sữa mẹ nói riêng Các bài báo, báo cáo nghiên cứu được lấy từ một số nguồn thư viện mở trực tuyến như Hinari (WHO),

PubMed, Midwifery, BMC public health, SAGE, UNICEF Ngoài ra tác giả cũngtham khảo thêm một số tài liệu từ một số website, diễn đàn về Bà mẹ và trẻ em có

uy tín, tương đối đáng tin cậy trên Internet hiện nay như Web trẻ thơ, Làm cha mẹ hay Hội Nuôi con bằng sữa mẹ Việt Nam…

- Ghi chép thực địa: tác giả kết hợp giữa việc phỏng vấn theo bản hướng dẫn bán cấu trúc đã được soạn sẵn và việc ghi chép quan sát các yếu tố liên quan tới phỏng vấn (khung cảnh xung quanh nơi diễn ra phỏng vấn như nhà ở haynơi làm việc, quan sát những diễn biến tâm lý, cử chỉ, thái độ của người trả lời trong quá trình phỏng vấn không thể hiện trong băng ghi âm)

- Phỏng vấn sâu (PVS) đối với 60 phụ nữ

Các cuộc PVS được thực hiện theo một quy trình nhất định Trước hết, tác giả

và người trả lời thực hiện những thỏa thuận tham gia nghiên cứu, quá trình phỏng vấn chỉ được bắt đầu khi người trả lời đồng ý với những thỏa thuận đó, người trả lời hoàn toàn có quyền từ chối phỏng vấn hoặc kết thúc cuộc phỏng vấn bất cứ lúc nào họ muốn Sau đó, mỗi người tham gia vào các PVS đều được yêu cầu điền một Bảng hỏi nhân khẩu học ngắn, điều này giúp nhà nghiên cứu dễ dàng tập hợp

và nắm bắt những thông tin, đặc điểm cơ bản của người trả lời trong nghiên cứu của mình Các cuộc PVS được ghi âm và ghi chép lại nội dung với sự đồng ý của đối tượng tham gia Những cuộc phỏng vấn này đều bám sát theo nội dung/chủ đề

Trang 16

trong các bản hướng dẫn PVS, mỗi cuộc diễn ra trong trong khoảng thời gian khoảng 60 phút tại những địa điểm thuận tiện và đảm bảo sự riêng tư cho người trảlời

Mọi thông tin thu thập được (danh tính người trả lời, băng ghi âm và các văn bản in ấn thu thập trên thực địa) đều được lưu trữ, bảo mật bởi nhà nghiên cứu, chỉ được sử dụng bởi nhà nghiên cứu và chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu

Các băng ghi âm của các cuộc PVS được gỡ băng ra dạng văn bản Word, tất cả các nội dung ngôn ngữ và phi ngôn ngữ (sự im lặng, khóc, cười…) đều được thể hiện trong các bản gỡ băng Việc gỡ băng được thực hiện bởi chính nhà nghiên cứu, tất cả đều phải thực hiện cam kết về bảo mật thông tin Các bản gỡ băng này được “làm sạch” để đảm bảo thông tin gỡ được chính xác Các bản gỡ băng này kết hợp với những ghi chép thực địa của nhà nghiên cứu đối với mỗi cuộc phỏng vấn tạo thành một bản dữ liệu tương đối hoàn chỉnh cho mỗi đối tượng tham gia vào nghiên cứu Quá trình xử lý và phân tích thông tin định tính được thực hiện thủ công

6.3 Phương pháp chọn mẫu:

Để có thể mời được những người trả lời đến từ những khu vực khác nhau, có thể cung cấp thông tin đa dạng và toàn cảnh hơn, đề tài sử dụng phương pháp chọnmẫu thuận tiện, có chủ đích Người trả lời được mời tham gia vào nghiên cứu thông qua sự hỗ trợ của các cán bộ dân số, cán bộ phụ nữ hoặc các nhà hộ sinh, trạm y tế, trung tâm tư vấn dinh dưỡng cho trẻ nhỏ ở mỗi địa bàn dân cư

Cụ thể, việc chọn mẫu được tiến hành như sau: các quận/huyện tham gia vào nghiên cứu sẽ được lựa chọn tùy thuộc vào tình hình liên hệ thực tế:

- Phỏng vấn sâu (PVS) đối với 60 phụ nữ, trong đó những phụ nữ này được phân chia một cách tương đối vào 2 nhóm theo hành vi có liên quan tới việc

Nuôi con bằng sữa mẹ (dựa trên tính chất dễ xác định hơn khi lựa chọn khách thể nghiên cứu trên thực địa của yếu tố hành vi so với yếu tố quan niệm):

Trang 17

o Nhóm những phụ nữ Nuôi con bằng sữa mẹ trên 6 tháng (trong đó Nuôi con bằng sữa mẹ bao gồm việc Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn, Nuôi con bằng sữa mẹ kết hợp với sữa công thức hoặc kết hợp với đồ ăn dặm)

o Nhóm những phụ nữ không Nuôi con bằng sữa mẹ dưới 6 tháng tính hoặc hoàn toàn không Nuôi con bằng sữa mẹ

Số lượng các cuộc PVS được thể hiện cụ thể ở bảng bên dưới:

Phương pháp Địa bàn NCBSM trên 6 tháng NCBSM dưới 6 tháng hoặc không NCBSM

Bảng mô tả đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu sẽ được trình bày

cụ thể ở phần Phụ lục của báo cáo này

7 Điểm mới và ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài:

7.1 Điểm mới của đề tài:

Đề tài này là một trong số không nhiều những đề tài nghiên cứu về chủ đề Nuôi con bằng sữa mẹ ở Việt Nam Đặc biệt, những nghiên cứu đã từng triển khai

ở nước ta về chủ đề này chủ yếu là những nghiên cứu định lượng và chủ yếu quan tâm tới khía cạnh thực hành Nuôi con bằng sữa mẹ Ở đây, tác giả đề tài tiếp cận vấn đề dưới góc nhìn định tính với mục đích tìm hiểu sâu về những quan niệm, kinh nghiệm thực hành Nuôi con bằng sữa mẹ của mỗi bà mẹ ở mỗi hoàn cảnh khác nhau, và hơn hết, tác giả đặc biệt quan tâm và muốn tìm ra đâu là những động

cơ, nguyên nhân hay những yếu tố tác động dẫn đến những lựa chọn của những bà

mẹ này có liên quan tới việc nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, đâu là những yếu tố

Trang 18

thúc đẩy, đâu là yếu tố gây trở ngại, khó khăn cho việc Nuôi con bằng sữa mẹ và cách thức những bà mẹ vượt qua những khó khăn, trở ngại đó.

7.2 Ý nghĩa lý luận của đề tài:

Đề tài này góp phần bổ sung thêm vào số lượng những nghiên cứu về Nuôi con bằng sữa mẹ ở Việt Nam hiện nay, đồng thời tạo cơ sở, nguồn số liệu cũng như

mở ra những hướng nghiên cứu mới cho những nghiên cứu tiếp theo

7.3 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:

Đề tài đưa ra cái nhìn rõ nét và sâu sắc hơn về những quan niệm, trải nghiệmNuôi con bằng sữa mẹ của một số bà mẹ đang nuôi con nhỏ ở Hà Nội cùng những

lý giải cho những hành vi, sự lựa chọn của họ trong việc nuôi dưỡng và chăm sóc con nhỏ Từ những phát hiện của đề tài, tác giả hy vọng có thể góp thêm những bằng chứng về tình hình Nuôi con bằng sữa mẹ ở các bà mẹ ở Việt Nam nhằm giúpích cho quá trình thiết kế, xây dựng các chương trình can thiệp góp phần giúp nângcao nhận thức của phụ nữ nói riêng và toàn xã hội nói chung về tầm quan trọng củasữa mẹ đối với trẻ sơ sinh, từ đó góp phần đẩy mạnh phong trào Nuôi con bằng sữa

mẹ ở Việt Nam trong thời gian tới Những phát hiện của nghiên cứu này phần nào cũng có thể tác động tới những chính sách tạo điều kiện cho việc Nuôi con bằng sữa mẹ, khiến cho những chính sách ngày càng hoàn thiện theo chiều hướng tạo thuận lợi hơn cho việc cho con bú sữa mẹ của các bà mẹ hiện nay

8 Kết cấu của đề tài:

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

2 Tình hình nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

5 Câu hỏi nghiên cứu

6 Phương pháp nghiên cứu

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

8 Cấu trúc luận văn

Trang 19

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Các khái niệm

1.1.1 Quan niệm

1.1.2 Hành vi

1.1.3 Ảnh hưởng

1.1.4 Nuôi con bằng sữa mẹ và một số khái niệm liên quan:

1.1.4.1 Nuôi con bằng sữa mẹ

1.1.4.2 Sữa công thức/sữa bột

2.1 Quan niệm về việc Nuôi con bằng sữa mẹ

2.1.1 Quan niệm ủng hộ việc Nuôi con bằng sữa mẹ

2.1.2 Quan niệm không ủng hộ việc Nuôi con bằng sữa mẹ

2.2 Hành vi có liên quan đến việc Nuôi con bằng sữa mẹ

2.2.1 Hành vi ủng hộ việc Nuôi con bằng sữa mẹ

2.2.2 Hành vi không ủng hộ việc Nuôi con bằng sữa mẹ

CHƯƠNG 3: NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ Ở PHỤ NỮ ĐANG NUÔI CON NHỎ Ở HÀ NỘI HIỆN NAY 3.1 Những yếu tố mang tính cá nhân

3.1.1 Độ tuổi, tình trạng thể chất, sức khỏe và tâm lý của người mẹ

3.1.2 Trình độ học vấn

3.1.3 Công việc

3.2 Những yếu tố văn hóa-xã hội

Trang 20

3.2.1 Niềm tin, chuẩn mực xã hội, quan niệm văn hóa, truyền thống

3.2.2 Khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin và truyền thông

Trong đề tài này, tác giả quan tâm tới quan niệm tức là quan tâm cụ thể tớicách hiểu, cách suy nghĩ của các bà mẹ đang nuôi con nhỏ về Nuôi con bằng sữa

mẹ, cụ thể hơn là cách họ định nghĩa thế nào là Nuôi con bằng sữa mẹ, họ đánh giáthế nào về Nuôi con bằng sữa mẹ và những tác động của nó, thái độ của họ đối vớiviệc này và đánh giá chung của họ về tình hình Nuôi con bằng sữa mẹ hiện nay

sự tư do tuyệt đối Nó bao giờ cũng phát triển trong một hệ thống cưỡng chế ít hay nhiều rõ rệt đối với chủ thể hành vi Nó không phải là hoàn toàn do các cơ cấu xã hội khách quan quy định Nó là hành vi cá nhân diễn ra trong quá trình xã hội hóa,

Trang 21

nhưng nó không phải là hệ quả máy móc của xã hội hóa, nó còn dựa vào từ những

ý định và động cơ của chủ thể hành vi, cũng như vào những phương tiện hành vi của chủ thể Nói cách khác, hành vi xã hội của một cá nhân vừa mang tính khách quan, vừa mang tính chủ quan Cách hiểu theo quyết định luận (déterminisme) cũng như của ý chí luận (volontarisme) đều phiến diện

Như vậy, muốn hiểu một hiện tượng xã hội, trước hết phải hiểu những hành

vi của cá nhân tạo ra nó Tại sao hành vi ấy xảy ra với người đó, trong hoàn cảnh đó? Tại sao trong hoàn cảnh đó, hành vi ấy lại không xảy ra với người khác, và ngược lại, tại sao cũng người ấy trong hoàn cảnh khác lại có hành vi khác? Hiểu hành vi xã hội, do đó, có nghĩa là hiểu nó trong mối liên hệ cá nhân-xã hội chặt chẽ Hành vi cá nhân đều bao hàm những yếu tố bất biến (hằng số) của những bối cảnh văn hóa khác nhau Có thể coi những hằng số này hợp thành bản tính con người, nhưng chỉ có thể hiểu được những hành vi cá nhân khi chúng tuân theo những hằng số ấy (khoảng cách văn hóa và thời gian là một trở ngại về nhận thức trong việc hiểu hành vi xã hội)

Trong đề tài này, tác giả quan tâm nghiên cứu tới những hành vi có liên quantới việc Nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ hiện nay, cụ thể là việc họ có cho con

bú sữa mẹ hay không, cho bú như thế nào và trong khoảng thời gian bao lâu Quantrọng hơn, tác giả quan tâm tìm hiểu trong những hoàn cảnh, bối cảnh xã hội khác nhau (nông thôn và đô thị) thì hành vi của các bà mẹ này có giống và khác nhau gì không và nếu có thì như thế nào; và cũng xem xét trong cùng một hoàn cảnh, các

bà mẹ có những hành vi khác nhau hay không; đồng thời đi tìm hiểu động cơ của những hành vi đó

1.1.3 Ảnh hưởng [43]

Trong liên hệ và giao tiếp xã hội, hành vi của người này (hay của những người này) có tác động như một chỉ dẫn định hướng (tán thành, hay phản đối, hay dửng dưng) đối với hành vi của người khác (hay những người khác) Tác động đó

là ảnh hưởng xã hội Nói cách khác, ảnh hưởng xã hội bao gồm tất cả những gì tạo

Trang 22

ra một thay đổi hành vi do những sức ép chi phối trong một bối cảnh xã hội nhất định.

Ảnh hưởng xã hội biểu hiện thành những quá trình khác nhau: bắt chước, lâytruyền xã hội, so sánh xã hội Bắt chước không có nghĩa là sao chép nguyên xi hành vi người khác mà là tiếp nhận những khuôn mẫu ứng xử để đi tới những hành

vi có hiệu quả hơn và hài lòng hơn (bắt chước mốt ăn mặc, chẳng hạn làm tăng thêm sự hài lòng của người bắt chước và làm cho anh ta cảm thấy mình có giá trị hơn đối với người khác) Lây truyền xã hội xảy ra khi những ý kiến hay những xúc cảm nào đó từ một người (hay một số ít người), trong quá trình giao tiếp, nhân lên thành của nhiều người, của đám đông, nhưng không phải bằng cưỡng bức Ảnh hưởng xã hội thường thông qua so sánh xã hội Người ta không phải bao giờ cũng tin chắc vào ý kiến và hành vi của mình, do đó có xu hướng tìm kiếm ở ngườikhác để xem ý kiến và hành vi của mình có đúng không, có được chấp nhận trong nhóm, trong xã hội mình sống không Nhưng đó không phải là một quá trình thụ động Các thí nghiệm tâm lý học xã hội cho thấy một cá nhân đã có phán xét vữngchắc của mình lại dễ tiếp nhận phán xét của người khác, hơn là một cá nhân không tin chắc vào ý kiến của mình Trong so sánh xã hội, ý kiến cá nhân đóng vai trò tích cực

Ảnh hưởng xã hội bao giờ cũng dựa vào những chuẩn mực xã hội Sự hình thành, củng cố hay sự thay đổi của ý kiến và hành vi cá nhân bao giờ cũng lấy những chuẩn mực xã hội làm tiêu điểm

Nhưng các cá nhân không chịu ảnh hưởng xã hội một cách giống nhau, ảnh hưởng xã hội mang những hình thức khác nhau Nó có thể được chấp nhận theo lối khuôn phép hoặc vâng theo Nhưng nó cũng có thể không được chấp thuận

Đề tài này quan tâm nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng tới việc các bà mẹ

có Nuôi con bằng sữa mẹ hay không trong đó bao gồm những yếu tố liên quan tới bản thân người mẹ như độ tuổi, tình trạng thể chất, sức khỏe, tâm lý, trình độ học vấn, công việc; những yếu tố văn hóa-xã hội như niềm tin, chuẩn mực xã hội, quanniệm văn hóa, truyền thống hay khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin và truyền

Trang 23

thông; và những yếu tố hỗ trợ xã hội về tinh thần, vật chất và thông tin Đề tài đi vào tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của mỗi yếu tố và xem đâu là yếu tố có ảnh hưởngtích cực và đâu là yếu tố có ảnh hưởng tiêu cực tới những lựa chọn của các bà mẹ; đâu là yếu tố thúc đẩy việc Nuôi con bằng sữa mẹ và đâu là yếu tố gây cản trở, khókhăn cho việc này.

1.1.4 Nuôi con bằng sữa mẹ và một số khái niệm liên quan:

1.1.4.1 Nuôi con bằng sữa mẹ:

Theo UNICEF trong cuốn Hướng dẫn chương trình Dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ [26], Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn nghĩa là "trẻ chỉ bú sữa mẹ (bao gồm cả sữa mẹ vắt ra bình hoặc sữa của mẹ khác) mà không cho ăn hay uống bất cứ thứ gì khác, trừ Oresol (chất bù điện giải), thuốc, vitamin và khoáng chất."

Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng khái niệm Nuôi con bằng sữa mẹ chứ không chỉ có khái niệm Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn nhằm bao quát được tất

cả những bà mẹ có thời gian cho con bú sữa mẹ trên 6 tháng, kể cả cho bú mẹ kết hợp uống sữa công thức/sữa bột; cho bú mẹ trực tiếp hay bú sữa mẹ vắt ra bình - bằng tay hoặc bằng máy; cho bú sữa xin của mẹ khác đều được xem là Nuôi con bằng sữa mẹ

1.1.4.2 Sữa công thức/sữa bột:

Theo ThS Lê Nhất Phương Hồng - một chuyên gia về sữa mẹ[36], "sữa bột cho trẻ được sản xuất lần đầu tiên vào cuối thế kỷ 18 - có tên gọi gốc là Artificial Baby Milk, có nghĩa là "sữa nhân tạo dành cho trẻ em", gọi tắt là "sữa bột cho trẻ em", được tạo ra bằng cách phân tích thành phần hóa học của sữa mẹ và dùng sữa của động vật khác bắt chước theo sữa mẹ Sữa bột cho trẻ em phát triển dần cùng với sự phát triển của công nghiệp thực phẩm, cụ thể là phương pháp thanh trùng và

sử dụng các chất bảo quản, phương pháp đông đặc và chưng khô."

"Trong khoảng 10 năm trở lại đây, tên gọi "sữa công thức" được các hãng sữa tiếp thị rầm rộ để thay thế tên gọi "sữa nhân tạo cho trẻ em", khiến nhiều ngườidùng thay đổi thái độ đối với loại hàng hóa này một cách vô thức Vì tên gọi "sữa nhân tạo" có hàm ý hàng nhái, không tự nhiên, không tươi nguyên Trong khi đó,

Trang 24

tên gọi "sữa công thức" mang dáng vẻ cao cấp, khoa học hiện đại" Ở Việt Nam, năm 2013, các sản phẩm sữa công thức thay thế sữa mẹ thậm chí đã được đổi tên thành "thực phẩm bổ sung" hay "sản phẩm dinh dưỡng", điều này khiến những sản phẩm này nằm ngoài sự kiểm soát của Bộ Tài chính về giá cả, đồng thời "ảnh hưởng đến việc thực thi Luật Quảng cáo, trong đó quy định cấm quảng cáo các sảnphẩm thay thế sữa mẹ cho trẻ em dưới 24 tháng tuổi, có hiệu lực từ tháng 1 năm 2013"

1.1.4.3 Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ:

Theo tổ chức UNICEF [26], trẻ sơ sinh (infant) là trẻ trong độ tuổi từ khi mới sinh ra đến 12 tháng tuổi và trẻ nhỏ (young child) là trẻ trong độ tuổi từ trên

12 tháng đến 36 tháng tuổi Tuy nhiên trong nghiên cứu này, tác giả chỉ giới hạn

độ tuổi của trẻ nhỏ đến 24 tháng tuổi (tức 2 tuổi) dựa trên khuyến cáo của tổ chức

Y tế Thế giới (WHO) về việc nên cho trẻ bú sữa mẹ tới 2 tuổi và cũng dựa trên tìnhhình thực tế là 2 tuổi là mốc thời gian cho con bú sữa mẹ tối đa của hầu hết các bà

mẹ hiện nay

1.2 Các lý thuyết

1.2.1 Lý thuyết Giải thích văn hóa

Theo Từ điển Xã hội học Oxford [35], "khi các nhà khoa học xã hội sử dụngthuật ngữ Văn hóa thì họ có xu hướng nói về một khái niệm có giới hạn rộng hơn

so với những gì ngụ ý trong ngôn ngữ thường ngày Trong khoa học xã hội, văn hóa là tất cả những gì hiện diện trong xã hội loài người, những cái được chuyển giao bằng con đường xã hội hơn là bằng con đường sinh học, trong khi đó việc sử dụng thuật ngữ này trong ngôn ngữ thường ngày có xu hướng chỉ nói về văn học nghệ thuật Văn hóa vì thế là một thuật ngữ tổng quát để chỉ nhưng khía cạnh mang tính biểu trưng và do học hỏi mà có của xã hội loài người, mặc dù một số nhà nghiên cứu về hành vi động vật ngày nay khẳng định một số loài động vật linh trưởng cũng có đôi chút năng lực văn hóa."

"Các quan điểm nhân học xã hội về văn hóa phần lớn dựa vào định nghĩa do Edward Taylor đưa ra vào năm 1871, trong đó, ông đề cập đến văn hóa như một

Trang 25

phức hợp của tri thức, niềm tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp và tập quán do học hỏi mà có Định nghĩa này ngụ ý rằng văn hóa và văn minh là một và đồng nhất Trong khảo cổ học, mặc dù thừa nhận tính tổng thể của xã hội loài người, nhưng cũng phân biệt giữa văn hóa vật thể (hay những đồ tạo tác) với những tập quán, niềm tin, tức văn hóa phi vật thể hay văn hóa thích nghi được chuyển giao bằng giáo dục và truyền thống Các nhà khảo cổ học chỉ tiếp cận văn hóa vật thể, còn văn hóa thích nghi là đối tượng của sử học, xã hội học và nhân học."[35]

"Ở Mỹ, đôi khi người ta cho rằng khái niệm văn hóa có thể cung cấp những cách giải thích và thấu hiểu hành vi của con người, của các hệ thống niềm tin, các giá trị và các hệ tư tưởng, cũng như những dạng nhân cách đặc thù về phương diện văn hóa." [35]

Đồng quan điểm với Edward Taylor, Roger M.Keesing cho rằng "văn hóa bao gồm các hệ tư tưởng cùng được chia sẻ, là hệ thống các khái niệm, những quy định và ý nghĩa làm nền tảng cho cuộc sống và được thể hiện qua lối sống của mỗi người" [7] Như vậy, những thuộc tính của văn hóa phải được các thành viên của một xã hội hay cộng đồng cụ thể cùng chia sẻ với nhau và có giá trị như là một khái niệm trung tâm để giải thích lý do của những hành vi mà mỗi cá nhân trong cộng đồng xã hội đó thực hiện

Trong lĩnh vực sức khỏe, quan niệm, nhận thức về những vấn đề liên quan tới sức khỏe và cách thức mà mỗi người lựa chọn để giữ gìn sức khỏe, đề phòng bệnh tật, tai nạn hay ứng phó khi mắc bệnh, chấn thương xảy ra có căn nguyên từ bản chất văn hóa và sự chi phối của văn hóa tới cách ứng xử đối với sức khỏe và bệnh tật của con người trong từng hoàn cảnh cụ thể về kinh tế, xã hội Thuyết văn hóa khi giải thích về nguy cơ sức khỏe cho rằng những cách thức mà mỗi người thực hiện không thể được hình thành độc lập với bối cảnh xã hội [8] Điều này có nghĩa là mối quan tâm đến tình trạng sức khỏe và việc lý giải về các phương thức, hành vi thực hiện liên quan đến sức khỏe của mỗi cá nhân có liên quan sâu sắc đến đặc trưng văn hóa Tiếp cận giải thích văn hóa là cách phiên giải ý nghĩa của hành

vi, của cách thức ứng xử có liên quan đến sức khỏe Việc quan trọng là cần phải

Trang 26

mô tả thật sự sâu sắc về bối cảnh diễn ra các sự kiện văn hóa để từ đó phiên giải tốthơn ý nghĩa của các hiện tượng xảy ra Mỗi hành động, cử chỉ, lời nói, ngôn từ được sử dụng trong một bối cảnh cụ thể sẽ mang một ý nghĩa văn hóa tượng trưng nhất định đối với con người thuộc về nền văn hóa đó.

Như vậy, sử dụng cách tiếp cận giải thích văn hóa trong nghiên cứu này sẽ phần nào giúp chúng ta lý giải những quan niệm và việc lựa chọn hành vi có liên quan tới việc chăm sóc trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ của các bà mẹ đang nuôi con nhỏ hiệnnay dựa vào những giá trị, chuẩn mực, niềm tin, phong tục tập quán, quan niệm truyền thống tồn tại trong nền văn hóa của cộng đồng mà họ đang sống Những yếu tố này sẽ được xem xét như là những yếu tố ảnh hưởng tới việc có hay không Nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ trong nghiên cứu này

1.2.2 Lý thuyết Hỗ trợ xã hội

Hỗ trợ xã hội là một vấn đề được rất nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu như Tâm lý học, Dược học, Điều dưỡng, Sức khỏe cộng đồng, Xã hội học, Công tác xã hội Trong Xã hội học, Hỗ trợ xã hội có liên quan tới mảng lý thuyết

về Mạng lưới xã hội Các tác giả của lý thuyết mạng lưới xã hội đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu cấu trúc bên trong của xã hội Đó là cấu trúc của các mối liên hệ xã hội, tương tác xã hội và quan hệ xã hội giữa các cá nhân Các lý thuyết cấu trúc xãhội đưa ra lời giải thích về tác động của các đặc điểm của cấu trúc mạng lưới xã hội đối với hành vi của cá nhân, các thành viên tham gia cấu trúc xã hội đó Hàng loạt những khái niệm, những mô hình đã được đưa ra để nghiên cứu mạng lưới xã hội Trong số đó, quan trọng nhất cần kể tới những đặc điểm định lượng như tần suất tiếp xúc, cường độ giao tiếp và các đặc điểm định tính như chiều, hướng, vị trí, kiểu, dạng, loại hình của mối liên hệ, cấp độ, đơn vị phân tích [38]

Hỗ trợ xã hội được định nghĩa một cách rộng rãi như là những nguồn lực hay những tương tác do những người khác mang lại có thể giúp một người nào đó giải quyết vấn đề mà họ gặp phải Cách định nghĩa này, tuy nhiên, bao gồm một vài quan điểm khác nhau về hỗ trợ xã hội, và những quan điểm này được phản ánh trong những hướng tiếp cận đánh giá và những thiết kế nghiên cứu khác nhau Có

Trang 27

một điều còn gây tranh luận đó là liệu hỗ trợ được khái niệm hóa như là số người

mà cá nhân đó biết, hay hỗ trợ nên được khái niệm hóa như là số lượng những nguồn lực hiệu quả hiện có đối với một cá nhân, không kể số bạn bè và người quen

cố định Có một vấn đề khác cũng còn chưa ngã ngũ đó là liệu có cần thiết phải đạt tới một đánh giá mang tính toàn cầu về hỗ trợ của một người hay không, hay cócần thiết phải đo lường những chiều cạnh cụ thể của hỗ trợ được mang lại bởi những người từ những khu vực sống khác nhau, bao gồm vợ/chồng, bạn bè, đồng nghiệp Định nghĩa rộng này cũng không đảm bảo rằng hỗ trợ xã hội chỉ hiệu quả đối với những người gặp nhiều khó khăn, bởi vì cũng có thể hỗ trợ cũng hiệu quả với tất cả mọi người, như vậy những người có tương đối ít khó khăn cũng có lợi như những người có nhiều khó khăn Cuối cùng, từ "có thể" trong cách định nghĩarộng kia cho phép khả năng những tương tác được xem như mang tính hỗ trợ từ người hỗ trợ có thể không phải lúc nào cũng được cảm nhận bởi người nhận hỗ trợ.Những quan điểm đa dạng này về hỗ trợ xã hội đã dẫn đến một vài hướng tiếp cận nghiên cứu khác nhau, mỗi hướng lại có những ưu, nhược điểm của riêng mình [25]

Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả quan tâm tới khía cạnh đo lường mang tính cấu trúc và chức năng của hỗ trợ xã hội hay nói cụ thể hơn là sự khác biệt giữa chúng Những đo lường về cấu trúc và chức năng bao gồm những giả thuyết về cơ sở cho sự hiệu quả của hỗ trợ, với việc đo lường cấu trúc nhấn mạnh tới tổng số liên kết người ta có trong cộng đồng của họ Những đo lường mang tính cấu trúc giả định rằng đó là số lượng của những kết nối xã hội ổn định, không thay đổi mà quan trọng, và những kết nối với những bộ phận khác nhau của cộng đồng có thể cũng cung cấp nhiều thông tin Đo lường về cấu trúc bao gồm những câu hỏi về sự tồn tại của những mối quan hệ xã hội sơ cấp, ví dụ như đã kết hôn chưa hay có họ hàng hay con cái sống gần bên không Họ có thường xuyên qua thăm hàng xóm và nói chuyện với bạn bè, một cách trực tiếp, hay qua điện thoại (hoặc, ngày nay, bằng Internet) không Một câu hỏi khác của đo lường cấu trúc hỏi

về sự tồn tại của những vai trò xã hội tiêu chuẩn, như có việc làm hay có thuộc về

Trang 28

những tổ chức cộng đồng không Những câu hỏi này có thể được kết hợp nhằm đưa ra chỉ số về kích cỡ tổng của mạng lưới của một cá nhân, số những vai trò xã hội khác nhau mà một cá nhận phải đảm nhận và những chỉ số khác như tỉ lệ phần trăm của họ hàng thân thích trong mạng lưới hay số thành viên trong mạng lưới quen biết nhau Mục đích của những chỉ số này là nhằm cung cấp một sự đo lườngmang tính định lượng về số lượng những kết nối mạng lưới xã hội Phân tích những đo lường cấu trúc điển hình dựa trên tổng điểm dành cho các kết nối xã hội, nhưng nhà điều tra đôi khi thực hiện những kiểm định riêng biệt những chỉ số thành phần để xác định những loại kết nối xã hội cụ thể nào có thể mang lại lợi ích một cách khác biệt cho nam giới và nữ giới Cần lưu ý rằng những đo lường về cấu trúc không hỏi về chất lượng của những mối quan hệ hiện có, và cũng không hỏi các thành viên trong mạng lưới cung cấp những nguồn lực gì.

Những đo lường mang tính chức năng dựa trên những giả định về chất lượngcủa những nguồn lực sẵn có mà là quan trọng nhất, từ đó những đo lường này hướng tới việc đánh giá quy mô mà những chức năng mang tính hỗ trợ này có thể hiện hữu đối với một cá nhân Ngược lại với hướng tiếp cận cấu trúc, việc đo lường chức năng hỏi về sự sẵn có của một chức năng cụ thể (ví dụ như việc có thể giãi bày với ai đó về những khó khăn và lo lắng) Không cần thiết phải xác định

hỗ trợ đến từ ai (mặc dù một vài nghiên cứu có đánh giá sự hiện hữu của những hỗ trọ tinh thần từ những nguồn khác nhau), mà cần tập trung hơn vào việc hỗ trợ đó

có sẵn có khi cần không

Những đo lường mang tính chức năng điển hình bao gồm những thang đo đamục để đánh giá sự hiện hữu được cảm nhận của mỗi chức năng hỗ trợ Những thang đo đối với hỗ trợ tinh thần (hay hỗ trợ đánh giá, tâm sự, bàn luận hay quý trọng) có những mục hỏi xem bạn có thể chia sẻ những nỗi sợ hãi hay lo lắng với

ai không, bạn có thể nói về những khó khăn của mình một cách thoải mái với ai không và có ai khiến bạn cảm thấy được thấu hiểu và chấp nhận không Những thang đo đối với hỗ trợ mang tính công cụ (hay hỗ trợ hữu hình, vật chất, hoặc thiếtthực) hỏi xem có ai có thể cung cấp những hỗ trợ đối với những khó khăn về tài

Trang 29

chính (ví dụ cho vay tiền), vận chuyển, sửa chữa, giúp việc nhà hay chăm sóc trẻ nhỏ Những thang đo về hỗ trợ về mặt thông tin (hay khuyên bảo, hướng dẫn, hoặc phản hồi) gồm những mục hỏi xem có ai có thể cung cấp những thông tin hữuích hay không và có ai có thể đưa ra những gợi ý về nguồn lực thích hợp và những cách thức hành động khác Những thang đo về hỗ trợ đồng hành (hay thân thuộc) bao gồm những mục hỏi xem có ai là bạn đồng hành trong những hoạt động thư giãn khác nhau như đi xem phim, xem các sự kiện thể thao, đi nhà hát hay bảo tàng, leo núi hay bơi thuyền Từ những thang đo này, các đối tượng có thể nhận được một tổng điểm dành cho hỗ trợ tinh thần, ví dụ dựa trên những câu trả lời tíchlũy của họ về sự hiện hữu của những khía cạnh khác nhau của chức năng này Điển hình có thể thấy là điểm số cho những chiều cạnh khác nhau của hỗ trợ chức năng có tương quan một cách đáng kể ví dụ, các cá nhân với điểm số cao đối với

hỗ trợ tinh thần cũng có xu hướng có điểm số cao đối với hỗ trợ vật chất và thông tin Điều này là do các yếu tố nhận thức, những ảnh hưởng tính cách hay những khác biệt cá nhân về khả năng tìm kiếm người hỗ trợ thì chưa được làm rõ một cách triệt để, vì lý do này, các nhà nghiên cứu thường kiểm định những hiệu quả đặc biệt của những chiều hướng khác nhau cũng như điểm tổng hợp của hỗ trợ chức năng

Có 2 thực tế thú vị về việc đo lường cấu trúc và chức năng: chúng không có mối tương quan lớn và chúng đều liên quan đến sức khỏe Thực tế đầu tiên ban đầu làm một số người bối rối, họ là những người cho rằng cá nhân càng quen biết nhiều người thì họ càng có nhiều sự hỗ trợ sẵn có Nguyên nhân của sự ít tương quan giữa việc đo lường cấu trúc và chức năng là sự tồn tại của một mối quan hệ không nói lên điều gì nhiều về chất lượng của của mối quan hệ đó, có thể những người với một mạng lưới xã hội tương đối nhỏ có thể vẫn có khả năng có một lượng lớn những hỗ trợ tinh thần, vật chất và hơn thế nữa, bởi bản chất những mối quan hệ của họ Thực tế bằng cả đo lường cấu trúc và chức năng đều liên quan đếnsức khỏe vẫn còn chưa được hiểu đúng Có những lý do để tin rằng những hỗ trợ

Trang 30

cấu trúc và chức năng góp phần tạo nên tình trạng sức khỏe qua những cơ chế khácnhau, nhưng câu hỏi này vẫn chưa được diễn giải triệt để [25].

Tuy nhiên, bởi bản chất là một nghiên cứu định tính, nghiên cứu này sẽ ít đo lường về mặt cấu trúc, không đi đo đếm số lượng mối quan hệ hay hỗ trợ xã hội

mà người trả lời hiện có mà quan tâm nhiều hơn tới khía cạnh đo lường về chức năng của hỗ trợ xã hội Tác giả sẽ đi vào tìm hiểu và làm rõ những hỗ trợ mà những phụ nữ đang nuôi con nhỏ trong nghiên cứu này nhận được về mặt tinh thần, vật chất và thông tin trong quá trình họ chăm sóc trẻ, chất lượng cũng như tácđộng của những hỗ trợ đó đối với hành vi chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ nhỏ, cụ thể hơn là việc Nuôi con bằng sữa mẹ của họ

1.3 Các chính sách của Đảng và Nhà nước về Nuôi con bằng sữa mẹ

Như đã nói trong phần Tổng quan tình hình nghiên cứu, ở Việt Nam hiệnnay, liên quan đến Nuôi con bằng sữa mẹ, hiện đã có một số văn bản quy phạmpháp luật có đề cập đến vấn đề này như Luật Lao động sửa đổi năm 2013, LuậtQuảng cáo năm 2012, Nghị định số 21/2006/NĐ-CP về việc Kinh doanh và sử

dụng các sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ, Nghị định 176/2013/NĐ-CP quy

định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, Nghị định 100/2014/NĐ-CPquy định về kinh doanh và sử dụng sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ, bình

bú và vú ngậm nhân tạo Nhìn chung, những văn bản quy phạm pháp luật này đãtạo ra một khung pháp lý vững chắc để hỗ trợ, bảo vệ và thúc đẩy việc Nuôi conbằng sữa mẹ với quan điểm luôn luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của sữa mẹ đốivới sự phát triển của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ; không khuyến khích thông tin tuyêntruyền, quảng cáo cũng như sử dụng các sản phẩm thay thế sữa mẹ, đặc biệt là cácsản phẩm dành cho trẻ nhỏ dưới 24 tháng tuổi

Hiện nay, Việt Nam cũng đang thực hiện "Kế hoạch Hành động Quốc gia vềNuôi dưỡng Trẻ nhỏ giai đoạn 2010-2015" Kế hoạch này tập trung vào việc chămsóc trẻ trong 1000 ngày đầu để đảm bảo sự phát triển tối đa tiềm năng của trẻ Kế

hoạch đã đề ra Mục tiêu 1: Mở rộng diện bao phủ các can thiệp thiết yếu chăm sóc trẻ em, tăng cường sự sẵn có và khả năng tiếp cận đối với trẻ em ở các vùng núi

Trang 31

và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, và để đạt được Mục tiêu đó, kế

hoạch đưa ra 8 chỉ tiêu hướng tới đến năm 2015, trong đó có 3 chỉ tiêu liên quantới việc NCBSM:

- Tăng tỷ lệ trẻ được bú mẹ ngay trong vòng 1 giờ sau sinh lên 90%

- Tăng tỷ lệ trẻ dưới 6 tháng tuổi được bú mẹ hoàn toàn lên 50%

- Tăng tỷ lệ trẻ 6-9 tháng tuổi được bú mẹ và cho ăn bổ sung hợp lý lên 85%Trong một vài năm trở lại đây, dưới sự chủ trì của Bộ Y tế phối hợp vớiUNICEF, WHO và Dự án Alive&Thrive (A&T), mỗi năm vào tuần đầu tháng 8,Việt Nam đã tổ chức Tuần lễ Nuôi con bằng sữa mẹ thế giới nhằm nhấn mạnh tầmquan trọng của sữa mẹ đối với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, đồng thời có những hoạt độngnhằm bảo vệ, thúc đẩy và hỗ trợ việc Nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ ở ViệtNam [36]

Trang 32

CHƯƠNG 2: QUAN NIỆM VÀ HÀNH VI CÓ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ Ở PHỤ NỮ ĐANG NUÔI CON NHỎ Ở

HÀ NỘI HIỆN NAY 2.1 Quan niệm về việc Nuôi con bằng sữa mẹ

2.1.1 Quan niệm ủng hộ việc Nuôi con bằng sữa mẹ

2.1.1.1 Định nghĩa về Nuôi con bằng sữa mẹ

Để bắt đầu câu chuyện về Nuôi con bằng sữa mẹ cùng các bà mẹ trẻ trong nghiên cứu này, tác giả đã mời các mẹ chia sẻ quan niệm của họ về Nuôi con bằng sữa mẹ hay nói một cách cụ thể là cách họ định nghĩa thế nào là Nuôi con bằng sữa

mẹ, suy nghĩ, thái độ và những đánh giá của họ đối với việc này Trước hết, các

mẹ được đề nghị đưa ra cách định nghĩa của riêng mình xem thế nào là Nuôi con bằng sữa mẹ và mỗi mẹ đã đưa ra định nghĩa theo cách rất riêng của mình, có những định nghĩa khá đơn giản và ngắn gọn kiểu như sữa mẹ là sữa từ cơ thể mẹ hay sữa mẹ là sữa của con người:

"Nuôi con bằng sữa mẹ là cho con bú trực tiếp nguồn sữa trong cơ thể mình ra"

(Mẹ NTBL, quận Cầu Giấy)

"Nuôi con bằng sữa mẹ là nuôi bằng sữa của con người chứ không phải là sữa của bất kì động vật nào khác thì nó sẽ phù hợp với con người nhất."

(Mẹ DTH, quận Cầu Giấy)

Có những định nghĩa lại rõ ràng và chi tiết hơn trong đó đề cập đến tỷ lệ cho

bú sữa mẹ và sữa công thức như thế nào thì được coi là Nuôi con bằng sữa mẹ hay các cách thức cho bú sữa mẹ:

Trang 33

"Nuôi con bằng sữa mẹ tức là con bú sữa mẹ và nguồn dinh dưỡng chính cung cấp cho con là sữa mẹ Còn một số bạn vẫn bổ sung sữa ngoài

ví dụ như buổi đêm đi ngủ bú 1 bình chẳng hạn nhưng ban ngày vẫn bú sữa

mẹ nhiều thì chị nghĩ đấy vẫn là Nuôi con bằng sữa mẹ, tức là nguồn dinh dưỡng chính cung cấp cho em bé là sữa mẹ."

(Mẹ VVA, quận HBT)

"Nuôi con bằng sữa mẹ là làm sao cho con được bú sữa mẹ, có thể là sữa của chính mình, bú trực tiếp hoặc là sữa vắt ra bình, hoặc là sữa của

mẹ khác thì cũng là Nuôi con bằng sữa mẹ tất nhiên, theo quan điểm của chị,

tốt nhất vẫn là bú trực tiếp, sau đấy mới là vắt ra bình, sau đấy mới là sữa trữ đông, và cuối cùng sẽ là ăn sữa mẹ khác."

(Mẹ THD, quận Hà Đông)Cần phải khẳng định rằng, đa phần các mẹ tham gia trong nghiên cứu này,

dù ít hay nhiều, đều có quan niệm tương đối ủng hộ đối với việc Nuôi con bằng sữa mẹ Họ tin tưởng rằng sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng quý giá và là rất cần thiết, rất quan trọng cho trẻ Do hiệu quả của công tác tuyên truyền về việc Nuôi con bằng sữa mẹ từ các cơ sở y tế đến các thông điệp trên các phương tiện truyền thôngđại chúng như pano, áp phích, báo, tạp chí, quảng cáo trên truyền hình, câu khẩu hiệu "Sữa mẹ là tốt nhất cho sức khỏe và sự phát triển của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ" ngày càng được phổ biến hơn và trong nghiên cứu này cũng đã có bà mẹ đề cập đến điều này:

"Sữa mẹ là tốt nhất cho sự phát triển (của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ) đấy thì mình vẫn tin tưởng theo quan niệm đấy thôi, cái gì tốt thì mình làm"

(Mẹ TTMN, huyện Chương Mỹ)Cách viện dẫn câu nói này là một cách ngắn gọn và đơn giản để thể hiện quan niệm ủng hộ đối với việc nuôi con bằng sữa mẹ và dường như cũng là một cách để bà mẹ này thể hiện sự hiểu biết, sự cấp tiến, thức thời của mình khi mà cả

xã hội ai ai, đâu đâu cũng đều nói như vậy, dù rất có thể với một vài người, thực tâm họ không hoàn toàn tin tưởng và suy nghĩ như vậy Điều này thể hiện ngay ở

Trang 34

sự khác biệt giữa suy nghĩ đó với những suy nghĩ khác hay sự trái ngược giữa quanniệm và hành vi của chính họ sẽ được tác giả phân tích cụ thể ở những phần sau.

Hầu như mọi người đều có suy nghĩ mẹ sinh con ra và cho con bú là điều tất nhiên, tự nhiên nhất, là lẽ thường tình và là "thiên chức" của người mẹ Tạo hóa đãtạo ra con người và cũng tạo ra dòng sữa mẹ để nuôi dưỡng con người, và dòng sữa mẹ là thứ tự nhiên nhất, tốt nhất dành cho những em bé khi mới sinh ra Đây cũng là quan niệm truyền thống không chỉ ở Việt Nam mà hầu như ở đâu cũng vậy:

"Nuôi con bằng sữa mẹ là lẽ tự nhiên của tạo hóa, quan điểm của em điều gì tự nhiên đều là tốt nhất Sữa mẹ ngọt lành để nuôi dưỡng và phát triển con người, mọi động vật khác đều đủ sữa để nuôi con của nó."

"Tại sao mình lại chọn sữa mẹ? Tại vì bây giờ cái sữa bột bên ngoài mình không thể tin tưởng được, không thể đảm bảo được"

(Mẹ NTL, huyện Chương Mỹ)

"(Nuôi con bằng sữa mẹ), cơ bản là tích cực, (không cần phải) nghiên cứu sữa ngoại sữa nội, sữa nhiễm độc"

(Mẹ VVA, quận Hai Bà Trưng)

"ông cũng đã tin là cháu mình được hưởng nguồn dinh dưỡng tốt nhất, mà bố chị năm nay là 70 mấy rồi đấy, ông bảo là "bố cũng nghĩ

Trang 35

ngày xưa các cụ cũng làm gì có sữa công thức, thỉnh thoảng lại thông báo một lô sữa nhiễm Melamine"

(Mẹ DTQH, quận Thanh Xuân)

"Một cái nữa bây giờ mình mới nghĩ lại là tiêu cực của sữa công thức, sữa công thức bây giờ trên thị trường rất là nhiều loại mà bán rất là đắt thế

nên nhiều khi nó trà trộn những hàng giả, ngay cả những công ty rất nổi tiếng cũng có hàng giả nên những đứa trẻ bây giờ về giới tính không rõ ràng rất là nhiều, chưa kể những đứa trẻ bị dậy thì sớm"

(Mẹ PHQ, quận Hà Đông)

"em sợ là nếu không được bú sữa mẹ và cho bú sữa ngoài nhiều quá thì cơ thể của con sẽ bị phát triển sớm so với bình thường như một số đứa trẻ em thấy bé còn nhỏ mà ngực đã rất là to rồi, đấy là do bú sữa ngoài, em muốn cho con bú sữa mẹ nhiều hơn"

(Mẹ VTH, huyện Chương Mỹ)

2.1.1.2 Thời gian Nuôi con bằng sữa mẹ:

Các bà mẹ trong nghiên cứu này cũng khá thống nhất ở quan điểm về

khoảng thời gian Nuôi con bằng sữa mẹ, đa phần các mẹ đều cho rằng nên cho trẻ

bú mẹ đến khoảng 18-24 tháng tuổi, mốc này cũng gần đúng với mốc mà WHO khuyến cáo; thậm chí có những mẹ còn muốn cho bú đến khi con hơn 24 tháng hoặc đến khi nào con không muốn bú nữa hoặc mẹ không còn sữa nữa mới thôi:

"Theo quan điểm của chị thì Nuôi con bằng sữa mẹ thì ít ra đứa trẻ phải được bú đủ cho đến 18 tháng, thời gian phải kéo dài đến 18 tháng"

(Mẹ PHQ, quận Hà Đông)

"Nói chung vẫn sẽ duy trì cho bú đến 2 tuổi rồi tính tiếp xem như thế nào Thật ra đến 2 tuổi xem đã, tại vì cũng không phải là cứ đến 2 tuổi là phải cai, ít nhất là đến 2 tuổi, sau đấy thì tùy 2 mẹ con, xem là nếu mà mình

có em bé nữa thì sẽ tính xem cái sức khỏe của mình đến đâu, mình có thể tiếp tục cho con bú không, trước mắt là kể cả nếu bây giờ có bầu thì vẫn cố giữ sữa cho con đến 2 tuổi vẫn có thể là vừa bầu vừa cho con bú được."

Trang 36

(Mẹ CTNA, quận Đống Đa)

"Thời gian Nuôi con bằng sữa mẹ sẽ kéo dài ít nhất khi bé 2 tuổi , mình vẫn thích cho con bú mặc dù mẹ ít sữa dần Quan điểm của mình muốn cho con bú đến lúc nào bé chán không muốn bú nữa thì thôi."

(Mẹ NTH, huyện Gia Lâm)

"Q: Thời gian Nuôi con bằng sữa mẹ của chị dự định kéo dài bao lâu?"

A: Đến khi nào lượng sữa không có nữa."

(Mẹ NTTH, quận Hà Đông)

2.1.1.3 Tác động tích cực của việc Nuôi con bằng sữa mẹ:

Bên cạnh việc đưa ra định nghĩa về Nuôi con bằng sữa mẹ, các mẹ cũng chia

sẻ những suy nghĩ của mình về tác động của việc cho con bú đối với cả mẹ và bé Trước hết, đối với người mẹ, việc cho con bú mang đến khá nhiều tác động tích cực Phải kể đến đầu tiên chính là điều được hầu hết các mẹ chia sẻ đó là việc cho con bú mang lại cho họ cảm giác yêu thương, hạnh phúc, thiêng liêng, gắn kết tình cảm mẹ con Đó là khoảnh khắc khiến họ cảm thấy thực sự hạnh phúc, khó quên, được xem như sự thể hiện thiên chức của một người mẹ, là biểu tượng của tình mẫu tử thiêng liêng, và không ít mẹ cảm thấy nuối tiếc khi không thể hay không còn được cho con bú nữa:

"Mình cảm thấy rất là hạnh phúc khi được ôm con, cho con ti, thấy tình cảm giữa hai mẹ con được gắn chặt hơn"

(Mẹ NTL, huyện Chương Mỹ)

"Em nghĩ Nuôi con bằng sữa mẹ tạo gần gũi cho hai mẹ con, mình cảm thấy như vậy mình mới là một người mẹ, còn nếu mà nuôi sữa ngoài không thì cảm giác cũng chẳng gần gũi í chị, như vậy thì cảm giác như là mình nuôi một con vật gì đó, cứ đến giờ ăn là cho ăn, cho con ti thì cảm giác ôm con vào lòng thích lắm, mỗi ngày lại cảm thấy nó lớn hơn, đầu tiên đẻ ra

đỏ hỏn nhưng mỗi ngày lại lớn hơn, bây giờ bế dài rộng, 7 tháng rồi, cảm giác bây giờ anh ấy ôm mẹ thì mẹ không ôm lọt thỏm nữa rồi."

Trang 37

(Mẹ NTP, huyện Chương Mỹ)

"Với bà mẹ thì cảm giác bế con cho bú rất là thân thương, nó kết nối giữa mẹ với con, cảm giác rất thiêng liêng, đó là cái trải nghiệm mà chỉ có phụ nữ cho con bú mới có, đấy là về mặt tình cảm, mẹ với con kết nối hơn."

(Mẹ VVA, quận Hai Bà Trưng)

"Nuôi con bằng sữa mẹ cảm giác mẹ con gắn kết, cho bú rất là vui, lúc nào cho nó bú mặt nó cười rất tươi, lúc nào nói "bú tí nhé" là cười "hề

hề hề" rất là buồn cười, nó rất là thích."

(Mẹ CTNA, quận Đống Đa)

"Bây giờ nếu mình còn Nuôi con bằng sữa mẹ, mình đang ngồi như này mà nó khóc cái thì mình cho nó bú, những lúc con khóc hoặc những lúc con tắm xong, nếu mẹ cho con ti thì nó sẽ ấm hơn, sẽ tốt cho con, thứ hai là tiện, con khóc cái là mẹ cho bú ngay, nhìn thấy người khác con con ti, thích lắm, tiếc."

(Mẹ LTCN, huyện Chương Mỹ)Thậm chí, có mẹ cảm thấy buồn và tự trách mình vì không cho con bú nhiều,cai sữa sớm nên con chỉ thích theo bà, theo bố mà không theo mẹ, không gắn bó tình cảm nhiều với mẹ, chị còn thể hiện sự quan ngại, lo lắng về ảnh hưởng của việc con không gần gũi mẹ nhiều tới sự phát triển tâm lý của con trong tương lai:

"Hơn nữa là nó cũng không theo mẹ lắm nên nhiều khi mình cũng buồn khi có mẹ với ba đi cùng thì chỉ theo ba thôi chứ không theo mẹ, không biết là do mình cho bú ít hay sao mà tình cảm nó cũng không được nhiều với mẹ.

Theo chị một trong những cái để phát triển tâm trí của đứa trẻ là

nó được gần mẹ, thế nên hiện tại như bản thân chị cũng như nhiều bà mẹ khác rất là bận bịu với công việc hay đơn giản không cho trẻ bú nhiều thì khoảng cách mẹ con sẽ bị ảnh hưởng, mặc dù không ảnh hưởng một cách ngay tức khắc nhưng nó sẽ ảnh hưởng về sau Xã hội bây giờ những đứa trẻ phát triển một cách lệch lạc về tâm lý rất nhiều, đôi khi nó nảy sinh từ việc

Trang 38

đứa trẻ ít được gần mẹ, ít được bú mẹ, ít nhiều giảm tình cảm, không được tâm sự với mẹ, không cảm thấy mẹ gần gũi với nó thì dần dần nó cứ xa mẹ"

(Mẹ PHQ, quận Hà Đông)Đối với một số mẹ, cho con bú là một cách tuyệt vời để giảm cân và lấy lại vóc dáng sau sinh một cách tự nhiên, nhẹ nhàng và nhanh chóng, đây vẫn được xem như một bài toán đau đầu với rất nhiều bà mẹ do số cân nặng của cơ thể tăng quá nhiều sau quá trình mang thai:

"Đặc biệt, với các bà mẹ trẻ thì chị nghĩ là Nuôi con bằng sữa mẹ giúp người mẹ lấy lại phom dáng, hình thể nhanh hơn rất nhiều so với các

bà mẹ không Nuôi con bằng sữa mẹ"

(Mẹ VVA, quận Hai Bà Trưng)

"Đối với bản thân em thì khi Nuôi con bằng sữa mẹ cái tích cực là mình giảm cân tự nhiên, tức là sau khi sinh một thời gian ngắn thôi là đã sụt luôn 10kg rồi"

(Mẹ CTNA, quận Đống Đa)

"Nuôi con bằng sữa mẹ kích thích hormone có thể trợ giúp cơ thể mẹ phục hồi sau khi sinh Ngoài ra, Nuôi con bằng sữa mẹ còn giúp mẹ nhanh chóng giảm cân."

(Mẹ ĐTA, quận Cầu Giấy)

Và Nuôi con bằng sữa mẹ, theo một số mẹ, giúp mẹ khỏe mạnh hơn, đề kháng tốt hơn, ăn ngủ tốt hơn, và đó còn là một cách để các mẹ tránh được một số vấn đề về sức khỏe như viêm tắc, áp xe vú cũng như một số nguy cơ bệnh tật như trầm cảm sau sinh, ung thư vú, ung thư buồng trứng,

"Còn sức khỏe thì nói chung là cho con bú sẽ khỏe hơn đấy, bởi vì thứ nhất người mẹ mà trong người có sữa thì bao giờ sức đề kháng cũng tốt hơn, khỏe hơn, người nóng hơn thì chịu đựng tốt hơn, thứ hai là mình sẽ ăn tốt hơn, chuyển hóa hơn, buồn ngủ hơn, ngủ nghỉ tốt hơn."

(Mẹ THD, quận Hà Đông)

Trang 39

"Cho con bú thường xuyên sẽ hạn chế được viêm tắc vú, áp xe vú và ung thư vú"

(Mẹ NTTH, quận Hà Đông)

"Nuôi con bằng sữa mẹ làm giảm khả năng phát triển ung thư buồng trứng và ung thư vú giai đoạn tiền mãn kinh."

(Mẹ ĐTO, quận Cầu Giấy)

"Mẹ cho con bú cũng nhanh trở về vóc dáng cũ hơn, tránh trầm cảm sau sinh"

(Mẹ PTHN, quận Hoàng Mai)Nuôi con bằng sữa mẹ, đặc biệt là cho con bú trực tiếp sẽ giúp người mẹ cũng như những người chăm sóc trẻ tiết kiệm được khá nhiều thời gian và công sức dành cho việc pha sữa công thức, và điều này thực sự có ý nghĩa vào ban đêm khi việc cho bú trực tiếp sẽ hạn chế sự gián đoạn giấc ngủ của mẹ, của bé và cả những người xung quanh:

"Nói chung ăn sữa ngoài, kể cả lúc đầu khi chưa có sữa, cho ăn sữa ngoài thấy lách cách, cứ phải dậy pha sữa, đến lúc nó hờn, nó khóc quá vì không pha sữa kịp, mấy ngày không có sữa cảm thấy khó chịu chị ạ"

(Mẹ NTP, huyện Chương Mỹ)

"Nuôi con bằng sữa mẹ mà nói nhàn rất nhiều, con đói chỉ việc vạch

ti lên, con khóc mếu cũng dù bằng ti, không gì dỗ con ngủ dễ bằng ti mẹ"

đi đâu có ti là xong"

Trang 40

(Mẹ Nguyễn Thùy Linh, quận HBT)

Đề cập đến khía cạnh tiết kiệm, việc Nuôi con bằng sữa mẹ còn giúp người

mẹ và gia đình giảm bớt được một khoản chi phí vì không phải mua sữa công thức,khoản này theo như nhiều bà mẹ than phiền là vô cùng đắt đỏ và tốn kém:

" tiết kiệm được rất nhiều vì sữa ngoài rất là đắt, 1 tháng mà mấy người cho con uống sữa ngoài hoàn toàn mất tới 2-3 triệu/tháng, hình như uống sữa ngoài sẽ uống nhiều hơn với sữa mẹ hay sao í, 1 tuần thấy kêu hết

1 hộp"

(Mẹ TTMN, huyện Chương Mỹ)

"(Nuôi con bằng sữa mẹ giúp) tiết kiệm chi phí mua sữa ngoài"

(Mẹ NTTB, )Cũng là Nuôi con bằng sữa mẹ nhưng nếu bà mẹ sử dụng cách vắt/hút sữa ra

và trữ vào bình cho con bú dần thì việc này còn mang đến một lợi ích rất lớn đó là những người khác trong gia đình như các bà hay bố, người giúp việc có thể giúp

mẹ cho bé bú sữa mẹ, người mẹ sẽ có thể có thêm thời gian nghỉ ngơi, hoặc có thể

đi ra ngoài, đi làm thoải mái hơn và con thì vẫn được bú sữa mẹ

" trước khi đi làm thì mình cũng hướng dẫn ông bà cách để hâm sữa (sữa mẹ vắt ra để tủ lạnh) cho cháu uống , cơ bản là mình để ở nhà sữa

như thế, bắt buộc ông bà phải cho nó ăn, không thì nó đói, nó khóc thì ông

bà cũng không làm thế nào được."

(Mẹ NTL, huyện Chương Mỹ)

"Mình nuôi con bằng sữa mẹ cả trực tiếp và gián tiếp Khi ở nhà mình cho con bú trực tiếp, khi có việc ra ngoài hoặc đi làm thì bà sẽ cho cháu ăn sữa mẹ hút ra Cháu sẽ được bà cho ăn bằng thìa."

(Mẹ PQN, quận Thanh Xuân)Đối với trẻ, những tác động tích cực của việc được bú sữa mẹ là rất rõ ràng

và không thể bàn cãi Trước hết, việc bú mẹ khiến đứa trẻ gần gũi, gắn bó và tình cảm với mẹ hơn:

Ngày đăng: 06/05/2020, 16:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w