Tại Ninh Thuận, đa phần các công trình thủy lợi CTTL hầu hết đã được xây dựng từ rất lâu đời nên xuống cấp nhanh và hoạt động thiếu đồng bộ trong khi đó nguồn vốn ngân sách đầu tư cho du
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
NGUYỄN LINH HUYỀN
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHẰM
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC BẢO TRÌ
CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TỈNH NINH THUẬN,
ÁP DỤNG CHO HỒ CHỨA NƯỚC SÔNG SẮT
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NINH THUẬN, NĂM 2019
Trang 2
NGUYỄN LINH HUYỀN
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHẰM
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC BẢO TRÌ
CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TỈNH NINH THUẬN,
ÁP DỤNG CHO HỒ CHỨA NƯỚC SÔNG SẮT
Chuyên ngành: QUẢN LÝ XÂY DỰNG
Mã số: 8580302
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NINH THUẬN, 2019
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ VĂN LƯỢNG
Trang 3GÁY BÌA LUẬN VĂN
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên: Nguyễn Linh Huyền học viên lớp cao học 23QLXD11-NT chuyên ngành
Quản lý xây dựng, tại Viện Đào tạo và Khoa học ứng dụng miền Trung - Trường Đại học Thủy lợi
Là tác giả luận văn thạc sĩ với đề tài “Đề xuất một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao
chất lượng công tác bảo trì cho các công trình thủy lợi tỉnh Ninh Thuận, áp dụng cho
hồ chứa nước Sông Sắt” đã được giao nghiên cứu tại Quyết định số 790/QĐ-ĐHTL
ngày 03 tháng 05 năm 2018 của Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi Tôi cam đoan các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nào khác
Ninh Thuận, ngày 20 tháng 03 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Linh Huyền
Trang 5LỜI CÁM ƠN
Qua thời gian thực hiện nghiên cứu, mặc dù gặp nhiều khó khăn trong việc thu thập tài liệu, cũng như tìm hiểu kiến thức thực tế Nhưng với sự giúp đỡ tận tình của thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè cùng với sự nỗ lực của bản thân, luận văn đã hoàn thành đúng thời hạn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành nhất đến thầy PGS.TS Đỗ Văn Lượng
đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, các thầy cô phòng Đào tạo Đại học và Sau đại học, Khoa Công trình trường Đại học Thủy Lợi, phòng Đào tạo của Viện Đào tạo và khoa học ứng dụng miền Trung, gia đình, bạn bè đã động viên, khích
lệ và tạo điều kiện để tôi hoàn thành khóa học và luận văn này
Tôi đã cố gắng hoàn thành luận văn bằng tất cả tâm huyết và khả năng của mình nhưng trong điều kiện thời gian và năng lực hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những lời góp ý của Quý thầy cô và đồng nghiệp để tôi có thể hoàn thiện hơn trong nghiên cứu và công tác sau này
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 6MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC BẢO TRÌ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 5
1.1 Khái quát về QLCL công trình xây dựng 5
1.1.1 Các khái niệm liên quan đến QLCL công trình xây dựng 5
1.1.2 Các giai đoạn phát triển của QLCL CTXD ở Việt Nam 8
1.1.3 Nguyên tắc chung trong QLCL CTXD 12
1.1.4 QLNN về chất lượng xây dựng công trình 13
1.2 Công tác bảo trì các CTXD 14
1.2.1 Khái niệm, vai trò và yêu cầu của công tác bảo trì CTXD 14
1.2.2 Phân loại bảo trì CTXD 15
1.2.3 Mối tương quan giữa giá trị CTXD và thời gian tồn tại 18
1.3 Thực trạng QLCL công tác bảo trì CTXD hiện nay 21
1.3.1 Sự phát triển của ngành xây dựng Việt Nam và thực trạng QLCL CTXD 21
1.3.2 Thực trạng bảo trì CTXD và công tác QLCL bảo trì CTXD 25
1.4 Kết luận chương 1 30
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG BẢO TRÌ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 32
2.1 Cơ sở pháp lý có liên quan đến chất lượng công tác bảo trì công trình 32
2.2 Cơ sở khoa học về QLCL bảo trì công trình 35
2.3 Nội dung công tác bảo trì CTTL 35
2.3.1 Kiểm tra công trình 36
2.3.2 Bảo dưỡng công trình 36
2.3.3 Sửa chữa công trình 36
2.3.4 Kiểm định chất lượng công trình 37
2.3.5 Quan trắc công trình 38
2.4 Nội dung QLCL bảo trì CTTL 38
2.5 Những yêu cầu trong công tác QLCL bảo trì CTTL 40
2.6 Lựa chọn phương pháp đánh giá chất lượng bảo trì CTTL tại Ninh Thuận 40
2.6.1 Các phương pháp xác định chất lượng sản phẩm 40
2.6.2 Lựa chọn phương pháp thực hiện 42
Trang 72.6.3 Giới thiệu phần mềm thống kê phân tích dữ liệu SPSS 20 42
2.6.4 Phương pháp xử lý thông tin khi ứng dụng SPSS 20 47
2.7 Kết luận chương 2 49
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC BẢO TRÌ HỒ CHỨA NƯỚC SÔNG SẮT 50
3.1 Tình hình công tác QLCL bảo trì CTTL tỉnh Ninh Thuận 50
3.1.1 Hiện trạng hệ thống CTTL tỉnh Ninh Thuận và giới thiệu về hồ Sông Sắt 50
3.1.2 Công tác QLCL trong khai thác, vận hành và bảo trì CTTL 62
3.2 Điều tra khảo sát, phân tích xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng bảo trì CTTL tại Ninh Thuận 80
3.2.1 Tiến trình khảo sát, phân tích số liệu điều tra 80
3.2.2 Mô hình nghiên cứu 83
3.2.3 Thu thập thông tin sơ cấp trong Nghiên cứu chính thức 84
3.2.4 Xử lý số liệu thu thập 86
3.2.5 Kiểm định, phân tích và tính tương quan các nhân tố 92
3.3 Đề xuất một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng công tác bảo trì cho hồ Sông Sắt 99 3.3.1 Tăng cường năng lực của các chủ thể tham gia quản lý công tác bảo trì 99
3.3.2 Tăng cường trách nhiệm quản lý của CTy 102
3.3.3 Đảm bảo nguồn kinh phí cho bảo trì 112
3.3.4 Tăng cường trách nhiệm quản lý của Chủ đầu tư 114
3.4 Kết luận chương 3 115
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 117
1 Những kết quả đạt được 117
2 Những hạn chế của đề tài 118
3 Một số kiến nghị 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
PHỤ LỤC 121
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Tương quan giữa thời gian tồn tại và giá trị của công trình 18
Hình 1.2 Mối quan hệ giữa công năng công trình và tuổi thọ 20
Hình 1.3 Mối quan hệ giữa sự xuống cấp và suy giảm công năng theo thời gian sử dụng của công trình 20
Hình 1.4 Sự cố sập cầu máng sông Dinh 3-Bình Thuận (2017) 23
Hình 1.5 Sự cố sập cầu Vòm thuộc khu vực của nhà máy thủy diện ICT-Chiêm Hóa (năm 2017) 23
Hình 2.1 Giao diện của SPSS 20.0 43
Hình 2.2 Màn hình làm việc của SPSS 20.0 44
Hình 3.1 Vị trí hồ Sông Sắt trên bản đồ hiện trạng thủy lợi tỉnh Ninh Thuận 56
Hình 3.2 Hồ Sông Sắt chụp tháng 7/2018 57
Hình 3.3 Hiện trạng hư hỏng mặt đập hạ lưu hồ Sông Sắt 60
Hình 3.4 Sơ đồ tổng thể hệ thống thiết bị quan trắc được lắp đặt tại hồ Sông Sắt 61
Hình 3.5 Một buổi bàn giao thiết bị cảnh báo sớm hồ Sông Sắt vào tháng 4/2018 62
Hình 3.6 Hệ thống quản lý khai thác vận hành CTTL tỉnh Ninh Thuận 63
Hình 3.7 Sơ đồ phối hợp quản lý CTTL giữa Cty và các cơ quan QLNN 64
Hình 3.8 Sơ đồ Cơ cấu tổ chức bộ máy Cty giai đoạn từ 2016-2020 66
Hình 3.9 Tiến trình khảo sát, phân tích số liệu điều tra 81
Hình 3.10 Mô hình nghiên cứu đề xuất 84
Hình 3.11 Các bước thực hiện thống kê mô tả trong SPSS 20.0 87
Hình 3.12 Biểu đồ thống kê nơi công tác của nhóm người được khảo sát 88
Hình 3.13 Biểu đồ thống kê thâm niên công tác của nhóm người được khảo sát 88
Hình 3.14 Biểu đồ thống kê trình độ học vấn của nhóm người được khảo sát 89
Hình 3.15 Các bước thực hiện giá trị trung bình trong SPSS 20.0 90
Hình 3.16 Giá trị trung bình của các nhân tố trong mẫu nghiên cứu 91
Hình 3.17 Các bước thực hiện Kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha trong SPSS 20.0 92
Hình 3.18 Các bước thực hiện Phân tích nhân tố khám phá EFA trong SPSS 20.0 93
Hình 3.19 Các bước thực hiện tương quan Pearson trong SPSS 20.0 96
Hình 3.20 Các bước thực hiện phân tích hồi quy đa biến trong SPSS 20.0 97
Hình 3.21 Mô hình đề xuất phối hợp thực hiện quản lý bảo trì công trình giữa phòng QLN-CT và phòng KH-KT của Cty 105
Hình 3.22 Ảnh minh họa sự tích hợp số liệu và sự kết nối trong ứng dụng Govone 111
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Các văn bản quy phạm kỹ thuật liên quan đến công tác bảo trì CTXD 32
Bảng 2.2 Các bước thực hiện nghiên cứu bằng phần mềm SPSS 20.0 45
Bảng 3.1 Các hồ chứa nước tại tỉnh Ninh Thuận 51
Bảng 3.2 Các hồ chứa nước dự kiến xây dựng đến năm 2020 52
Bảng 3.3 Hiện trạng quy trình vận hành của các hồ chứa trong tỉnh 52
Bảng 3.4 Một số thông số kỹ thuật của hồ chứa nước Sông Sắt 57
Bảng 3.5 Đội ngũ nhân lực quản lý trạm Bác Ái 58
Bảng 3.6 Tình trạng hư hỏng và công tác bảo trì hồ Sông Sắt qua các năm 60
Bảng 3.7 Hiện trạng lao động của CTy năm 2017 so với năm 2011 67
Bảng 3.8 Một số văn bản liên quan đến công tác bảo trì CTXD do UBND tỉnh Ninh Thuận ban hành 70
Bảng 3.9 Doanh thu và Chi phí hoạt động của CTy qua các năm 76
Bảng 3.10 Tổng hợp các biến/nhân tố trong mẫu khảo sát 85
Bảng 3.11 Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha lần cuối cùng 93
Bảng 3.12 Kết quả phân tích EFA cho biến độc lập lần 1 94
Bảng 3.13 Kết quả phân tích EFA cho biến độc lập lần 2 94
Bảng 3.14 Kết quả phân tích EFA cho biến phụ thuộc 94
Bảng 3.15 Bảng phân nhóm và đặt tên nhóm cho các nhân tố 95
Bảng 3.16 Kết quả phân tích tương quan Pearson 96
Bảng 3.17 Kết quả phân tích hồi quy đa biến 97
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
công trình thủy lợi tỉnh Ninh Thuận
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
TNHH MTV Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài
Hệ thống công trình thủy lợi, giao thông nông thôn là cơ sở hạ tầng quan trọng bậc nhất trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn nói chung và xây dựng nông thôn mới nói riêng Hạ tầng kỹ thuật thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp, góp phần quan trọng làm tăng năng suất, sản lượng, chất lượng sản phẩm nông nghiệp, thủy sản, cấp nước dân sinh và các ngành kinh tế khác, đồng thời cũng góp phần phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế khác
Hàng nghìn dự án thủy lợi đã được thực hiện mỗi năm trên khắp mọi vùng miền cả nước, tập trung cho xây dựng các công trình mới và phần lớn nguồn kinh phí dành cho sửa chữa, duy tu và bảo dưỡng các công trình hiện có sau thời gian khai thác, vận hành Công tác tu sửa, bảo dưỡng và vận hành đúng quy trình các hệ thống đóng vai trò chính trong việc phát huy năng lực thiết kế của các công trình đã đưa vào vận hành khai thác
Bảo trì trước đây từ chỗ không được quan tâm, đánh giá đúng vai trò trong quản lý chất lượng công trình, thì từ năm 2014 trở đi khi Luật Xây dựng năm 2014 và Nghị định 46/2015/NĐ-CP ngày 12/05/2015 của Chính phủ về quản lý chất lượng được ban hành
thì bảo trì công trình xây dựng được coi là một trong những khâu đặc biệt quan trọng
nhằm bảo đảm chất lượng, tăng cường độ bền của công trình cũng như giảm thiểu chi phí vận hành Muốn kéo dài tuổi thọ các công trình nhất thiết phải dựa trên cơ sở làm tốt công tác duy tu, bảo trì, bảo dưỡng Nhưng thực tế thì công tác quản lý chất lượng
công tác bảo trì hiện nay còn khá mới mẻ, việc vận dụng các cơ sở pháp lý vào thực tiễn của các cơ quan quản lý và đơn vị khai thác sử dụng công trình còn nhiều bất cập, thiếu
sự thống nhất dẫn đến hiệu quả bảo trì các công trình chưa cao
Tại Ninh Thuận, đa phần các công trình thủy lợi (CTTL) hầu hết đã được xây dựng từ rất lâu đời nên xuống cấp nhanh và hoạt động thiếu đồng bộ trong khi đó nguồn vốn ngân sách đầu tư cho duy tu bảo dưỡng rất hạn hẹp, cộng với nhận thức về vai trò bảo trì công trình của các cấp quản lý còn hời hợt nên năng lực phục vụ thực tế của công trình thấp hơn nhiều so với thiết kế Theo thống kê của Cty TNHH MTV Khai thác CTTL tỉnh Ninh Thuận thì hàng năm chi phí cho công tác nạo vét, duy tu và sửa chữa
Trang 12công trình của tỉnh chiếm từ 50-55% nguồn kinh phí cấp bù thủy lợi phí nhưng dường như vẫn chưa thể đáp ứng nhu cầu thực tế cần bảo trì của các công trình
Xuất phát từ thực trạng đó, ý tưởng thực hiện đề tài luận văn“Đề xuất một số giải pháp
quản lý nhằm nâng cao chất lượng công tác bảo trì cho các công trình thủy lợi tỉnh Ninh Thuận, áp dụng cho hồ chứa nước Sông Sắt” của tác giả được xây dựng, nhằm nghiên
cứu những giải pháp quản lý thiết thực, có cơ sở nhằm nâng cao chất lượng công tác bảo trì cho các công trình thủy lợi tỉnh Ninh Thuận
2 Mục đích nghiên cứu
Xác định được những tồn tại và nguyên nhân làm ảnh hưởng đến chất lượng bảo trì các công trình thủy lợi tại tỉnh Ninh Thuận Từ đó đề xuất một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng công tác bảo trì cho các công trình thủy lợi tỉnh Ninh Thuận, áp dụng cho hồ chứa nước Sông Sắt
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu: là công tác quản lý chất lượng bảo trì công trình thủy lợi tỉnh
Ninh Thuận, cụ thể là đối với hồ Sông Sắt
b Phạm vi nghiên cứu
Do thời gian nghiên cứu có hạn và trên cơ sở nguồn tài liệu thu thập được, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài như sau:
- Công trình thủy lợi đề cập trong phạm vi đề tài chỉ đề cập đến các hạng mục thuộc
công trình đầu mối của hồ chứa nước do Công ty TNHH MTV khai thác CTTL tỉnh
Ninh Thuận quản lý
- Các đề xuất tập trung vào giải pháp quản lý nhằm nâng cao chât lượng bảo trì
CTTL, không đi về giải pháp công trình
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Trang 134.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra, thu thập, kế thừa tài liệu, số liệu và hồ sơ lưu trữ liên quan
- Phương pháp thống kê, tổng hợp và phân tích các tài liệu, văn bản pháp luật liên quan
- Phương pháp chuyên gia
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: việc ứng dụng phần mềm thống kê phiên bản SPSS 20.0 vào phân
tích xử lý dữ liệu của đề tài về quản lý chất lượng bảo trì công trình thủy lợi là một hướng làm mới, tạo cơ sở chắc chắn và có tính khoa học cho những giải pháp đề xuất
trong luận văn
- Ý nghĩa thực tiễn: Một số kết quả đạt được của luận văn có thể áp dụng vào thực tiễn
công tác quản lý, khai thác và vận hành công trình thủy lợi tại tỉnh Ninh Thuận, đặc biệt
cho hồ Sông Sắt; góp phần bảo đảm chất lượng, tăng cường độ bền của công trình cũng
như giảm thiểu chi phí vận hành
6 Kết quả đạt được
6.1 Kết quả đạt được
- Luận văn đã khái quát được hiện trạng quản lý chất lượng bảo trì công trình thủy lợi của tỉnh Ninh Thuận, xác định được những tồn tại và nguyên nhân làm ảnh hưởng đến chất lượng bảo trì các công trình thủy lợi tại tỉnh NT, đó là cơ sở để xây dựng các nhân
tố cho phiếu khảo sát
Trang 14- Áp dụng phương pháp phiếu điều tra (pp chuyên gia) và phần mềm SPSS giúp cho
nguồn data trở nên khách quan hơn, việc xử lý thông tin tốt hơn, số liệu thu được có xét đến sự ràng buộc và mối quan hệ lẫn nhau, từ đó giúp tác giả có nhận định tốt hơn về các giải pháp đề xuất
- Tác giả đề xuất những giải pháp quản lý được cho là có tính khả thi có thể thay đổi hiện trạng chất lượng bảo trì hiện nay và nâng cao chất lượng bảo trì các CTTL do Công
ty TNHH MTV Khai thác CTTL tỉnh Ninh Thuận trực tiếp quản lý vận hành
6.2 Hạn chế của luận văn
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn bị giới hạn và có nhiều nội dung không được thực hiện như ý định ban đầu khi lập đề cương do khó khăn trong quá trình tiếp cận các cơ quan, đơn vị có liên quan để thu thập tài liệu
- Luận văn chưa bao quát hết được toàn bộ các vấn đề quản lý chất lượng bảo trì các CTTL của tỉnh, và đề xuất các giải pháp ở một góc nhìn hẹp chủ yếu từ nhu cầu của đơn
vị trực tiếp quản lý sử dụng, mà chưa mở rộng ở các cấp quản lý cao hơn
Trang 15TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC BẢO TRÌ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG
1.1 Khái quát về QLCL công trình xây dựng
1.1.1 Các khái niệm liên quan đến QLCL công trình xây dựng
1.1.1.1 Khái niệm công trình xây dựng
Công trình xây dựng (CTXD) là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con
người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất,
có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế CTXD bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác [1]
Hàng năm vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, của doanh nghiệp và của người dân dành cho xây dựng rất lớn, chiếm từ 25 - 30% GDP Vì vậy chất lượng CTXD là vấn đề cần được hết sức quan tâm, nó có tác động trực tiếp đến sự phát triển bền vững, hiệu quả kinh tế, đời sống của con người
1.1.1.2 Khái niệm chất lượng CTXD
Chất lượng CTXD là những yêu cầu tổng hợp đối với đặc tính về an toàn, bền
vững, kỹ thuật và mỹ thuật của công trình phù hợp với Quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn
kỹ thuật, phù hợp với hợp đồng kinh tế và pháp luật hiện hành của Nhà nước [2] Ngoài ra, chất lượng CTXD cần được hiểu không chỉ từ góc độ của bản thân sản phẩm và người thụ hưởng sản phẩm xây dựng mà còn cả trong quá trình hình thành sản phẩm xây dựng đó với các vấn đề liên quan như:
- Chất lượng CTXD được hình thành ngay từ trong các giai đoạn đầu tiên của quá trình đầu tư xây dựng công trình đó Nghĩa là vấn đề chất lượng xuất hiện và cần được quan tâm ngay từ trong khi hình thành ý tưởng về xây dựng công trình, từ khâu quy hoạch, lập dự án, đến khảo sát, thiết kế, thi công đến giai đoạn khai thác, sử dụng và dỡ bỏ công trình sau khi đã hết thời hạn phục vụ
Trang 16- Chất lượng công trình tổng thể phải được hình thành từ chất lượng của nguyên vật liệu, cấu kiện;
- Các tiêu chuẩn kỹ thuật không chỉ thể hiện ở các kết quả thí nghiệm, kiểm định vật liệu, cấu kiện, mà còn ở chất lượng các công việc của đội ngũ công nhân, kỹ sư lao động
có đáp ứng tay nghề và chuyên môn theo quy định trong quá trình thực hiện các hoạt động xây dựng
- Vấn đề an toàn không chỉ là trong khâu khai thác, sử dụng đối với người thụ hưởng công trình mà còn là cả trong giai đoạn thi công xây dựng đối với đội ngũ công nhân,
kỹ sư xây dựng
- Tính thời gian không chỉ thể hiện ở thời hạn công trình có thể phục vụ mà còn ở thời hạn phải hoàn thành, đưa công trình vào khai thác, sử dụng
- Tính kinh tế không chỉ thể hiện ở số tiền quyết toán công trình chủ đầu tư phải chi trả
mà còn thể hiện ở góc độ đảm bảo lợi nhuận cho các nhà thầu thực hiện các hoạt động
và dịch vụ xây dựng như lập dự án, khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng
- Vệ sinh và bảo vệ môi trường
* Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm xây dựng
Nhóm yếu tố khách quan
- Thị trường: bao gồm các yếu tố cung-cầu, giá cả, quy mô thị trường, sự cạnh
tranh…Trên cơ sở nghiên cứu thị trường các doanh nghiệp có thể xây dựng chiến lược sản phẩm với mức chất lượng phù hợp, giá cả hợp lý với nhu cầu và khả năng tiêu dùng
ở thời điểm nhất định
- Trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật: tiến bộ khoa học kỹ thuật đã tạo ra những
bước đột phá quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực mới: tin học, công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa…đã cho phép rút ngắn chu trình sản xuất, tiết kiệm nguyên vật liệu, nâng cao năng suất lao động, chất lượng và giá thành sản phẩm
Trang 17- Cơ chế chính sách quản lý của nhà nước: Cơ chế quản lý của Nhà nước vừa là môi
trường, vừa là điều kiện cần thiết tác động đến phương hướng, tốc độ cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm
- Điều kiện tự nhiên: có ảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng sản phẩm xây dựng bởi các
điều kiện khí tượng, địa chất, thủy văn…đều tác động trực tiếp đến sản phẩm xây dựng trong suốt mọi giai đoạn thực hiện sản phẩm từ khâu chuẩn bị, khảo sát đến giai đoạn vận hành và đưa vào sử dụng, đặc biệt tác động mạnh mẽ ở giai đoạn thi công
- Văn hóa địa phương và thói quen tiêu dùng: phong tục tập quán, môi trường sống,
thu nhập, trình độ của người dân mỗi khu vực đều tác động đến quy mô, hình thức và chất lượng của mỗi sản phẩm xây dựng
Nhóm yếu tố chủ quan
- Đội ngũ nhân lực: con người luôn luôn là nhân tố căn bản quyết định tới chất lượng
của các hoạt động thông qua trình độ chuyên môn, tay nghề, kỹ năng, kinh nghiệm và ý thức trách nhiệm của từng lao động Cần phải có biện pháp tổ chức lao động khoa học, bồi dưỡng phát triển, tạo môi trường làm việc an toàn và khơi dậy được động lực làm việc, phát huy khả năng sáng tạo cho đội ngũ lao động
- Chủ trương, quan điểm lãnh đạo của doanh nghiệp: Chính sách và kế hoạch chất
lượng được lập ra trên cơ sở ý tưởng, những nghiên cứu thiết kế của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, và đó chính là cơ sở thực hiện việc cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm
- Máy móc, công nghệ: doanh nghiệp muốn sản phẩm xây dựng có chất lượng đủ khả
năng cạnh tranh trên thị trường thì doanh nghiệp đó cần cò chính sách công nghệ phù hợp và khai thác sử dụng cò hiệu quả các công nghệ và máy móc, thiết bị hiện đại đã, đang và sẽ đầu tư
- Trình độ tổ chức và quản lý: điều này gắn liền với trình độ nhận thức, hiểu biết của
cán bộ quản lý về chất lượng, chính sách chất lượng, chương trình và kế hoạch chất lượng nhăm xác địnhđược mục tiêu một cách chính xác rõ ràng, làm cơ sở cho việc hoàn thiện, cải tiến
Trang 18- Chất lượng nguồn nguyên vật liệu: nguyên vật liệu là yếu tố cấu thành thực thể sản
phẩm Không thể có những sản phẩm chất lượng cao từ nguồn nguyên liệu không đảm bảo Do đó để đảm bảo chất lượng, các doanh nghiệp cần xác lập thiết kế mô hình dự trữ hợp lý, khả năng tổ chức cung ứng và khả năng quản lý cả đầu ra và đầu vào…
1.1.1.3 Khái niệm Quản lý chất lượng công trình xây dựng
Quản lý chất lượng công trình xây dựng (QLCL CTXD) là hoạt động quản lý của các chủ thể tham gia các hoạt động xây dựng theo quy định pháp luật có liên quan trong quá trình chuẩn bị, thực hiện đầu tư xây dựng công trình và khai thác, sử dụng công trình nhằm đảm bảo các yêu cầu về chất lượng và an toàn của công trình [3]
QLCL xây dựng công trình là công tác quan trọng xuyên suốt toàn bộ một dự án, từ khâu thẩm định tư vấn thiết kế, dự toán, báo cáo kinh tế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công đến khi công trình hoàn thành và đưa vào sử dụng Nhất là khi tốc độ xây dựng hạ tầng cơ sở, hạ tầng kỹ thuật gia tăng nhanh chóng để bắt kịp với tốc độ phát triển kinh
tế - xã hội hiện nay thì việc QLCL công trình bảo đảm an toàn, mang tính bền vững càng trở lên cấp thiết
1.1.2 Các giai đoạn phát triển của QLCL CTXD ở Việt Nam
1.1.2.1 Thời kỳ trước năm 1954 (trước hiệp định Giơ-ne-vơ)
Trong giai đoạn này, Việt Nam còn rất nghèo nàn lạc hậu, nhân dân không đủ cơm ăn
áo mặc, nhà ở chủ yếu là nhà tranh vách đất, đường làng là đường đất, một vài nơi khá hơn có một số đoạn đường lát gạch, đường cấp huyện, tỉnh cũng là đường đất hoặc tốt hơn thì là đường cấp phối Do đó vấn đề quản lý xây dựng ở nông thôn là không có nhu cầu, chỉ đặt ra ở các đô thị, nhưng ở đô thị nhu cầu cầu xây dựng cũng không nhiều Do khối lượng xây dựng không lớn, mà quy chế lại chặt chẽ, thể hiện ở một số văn bản về quản lý xây dựng trong thời Pháp thuộc và dưới chính thể ngụy quyền, nên hầu hết các công trình thời kỳ này khá hoàn chỉnh, chất lượng công trình bền vững với niên hạn sử dụng và tương thích với quy mô của nó [4]
1.1.2.2 Thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1994 (Thời kỳ bao cấp)
Thời kỳ đầu của chế độ bao cấp, xây dựng cơ bản trong lĩnh vực Nhà nước thì chỉ có vốn ngân sách, còn khu vực tập thể là vốn của hợp tác xã, mảng tư nhân không được đề
Trang 19cập đến (tư nhân xây dựng gần như không đáng kể) Giai đoạn sau của thời kỳ bao cấp
đã đề cập đến vốn vay và vốn tự có của các doanh nghiệp, huy động vốn góp của tập thể…Việc quản lý xây dựng theo cơ chế chỉ đạo tập trung
Vào cuối năm 1979 và những năm của thập kỷ 80, tư tưởng “nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường” chưa du nhập vào được trong các văn bản quản lý xây dựng cơ bản Điển hình như Nghị định 232/CP ngày 6-6-1981 chỉ là hệ thống hóa, tập hợp và thay thế một loạt các văn bản cũ mà chưa có sự thay đổi nào về chất lượng, vẫn là văn bản phục vụ cho chế độ bao cấp, kế hoạch hóa, hay nghị định 385/HĐBT cũng không đáp ứng được vì còn mang nặng cơ chế quản lý tập trung của thời bao cấp, thể hiện ở chỗ vẫn coi việc đầu tư xây dựng cơ bản phải thực hiện theo kế hoạch hóa toàn diện và đồng bộ, đó là một yêu cầu mà trong thực tế không thể làm được ngay từ khâu lập kế hoạch chứ chưa nói đến kiểm soát kế hoạch hoặc điều hành việc thực hiện kế hoạch đó [4]
1.1.2.3 Thời kỳ từ năm 1994 đến 2003 (Những tìm kiếm ban đầu cho cơ chế thị trường)
Tốc độ đầu tư và xây dựng trong thập kỷ 90 được phát triển mạnh, làm thay đổi hàng ngày bộ mặt của đất nước, tạo nhiều việc làm cho người lao động, cải thiện nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân làm cho nền kinh tế nước nhà tăng trưởng không ngừng Đồng thời với những thành tựu đạt được, công tác quản lý đầu tư và xây dựng cũng bộc lộ những tồn tại như phát triển không đồng bộ, quy hoạch không chi tiết đầy đủ, cơ sở kỹ thuật hạ tầng bị khập khiễng, chất lượng một số công trình không bảo đảm, vấn đề môi sinh môi trường- cảnh quan thiên nhiên và các di sản văn hóa lịch sử - bản sắc văn hóa kiến trúc đang bị đe dọa nghiêm trọng
Chỉ đến khi có Nghị định 177/CP ngày 20-10-1994 thay thế cho các Nghị định 385/HĐBT ngày 7-11-1990 và Nghị định 237-HĐBT ngày 19-9-1985 thì lúc đó không còn nhắc đến nguyên tắc “phải thực hiện theo kế hoạch hóa toàn diện và đồng bộ”, cũng như không nhắc đến “Chủ trương đầu tư và kế hoạch hóa đầu tư xây dựng cơ bản phải góp phần đảm bảo nhịp độ phát triển nền kinh tế một cách cân đối nhịp nhàng”
Những văn bản quản lý xây dựng ở nước ta thời kỳ đó đã cố gắng bám sát thực tiễn để đáp ứng sự phát triển mạnh mẽ của công tác đầu tư xây dựng, nhưng chưa đoán trước
Trang 20và chưa đón đầu được những phát triển trong tương lai kể cả tương lai gần do đó phải luôn luôn thay đổi để không lạc hậu với thực tiễn Ở một số lĩnh vực ta thấy có sự buông lỏng quản lý, ở một số lĩnh vực khác công tác quản lý lại đi quá mức cần thiết dẫn đến
sự can thiệp vào nội bộ công việc của chủ đầu tư hoặc của các nhà thầu [4]
1.1.2.4 Thời kỳ từ cuối năm 2003 đến 2014
Luật Xây dựng lần đầu tiên được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004, là bước đột phá trong công tác Quản lý nhà nước (QLNN) về xây dựng bằng pháp luật ở nước ta, đã tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân kể cả trong nước
và nước ngoài đầu tư xây dựng cũng như hoạt động xây dựng tại Việt Nam Công tác QLNN trong lĩnh vực xây dựng đã được tăng cường, bước đầu đã đi vào nền nếp; ý thức chấp hành pháp luật của các chủ thể đã được nâng cao; tốc độ đầu tư xây dựng đã được đẩy mạnh; trật tự xây dựng đã được chấn chỉnh
Ngày 13/6/2007 Chính phủ ban hành Nghị định số 99/2007/NĐ-CP về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình, bước đầu đổi mới cơ chế quản lý phù hợp với thông lệ quốc
tế và cơ chế thị trường: chi phí xây dựng công trình do các bên mua – bán thỏa thuận và được xác định cho từng công trình; chủ đầu tư chịu trách nhiệm toàn diện việc quản lý chi phí đầu tư XDCT
Kể từ ngày 01/4/2009, Nghị định số 12/2009/NĐ-CP về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình chính thức có hiệu lực (thay thế Nghị định số 16/2005/NĐ-CP, Nghị định số 112/2006/NĐ-CP) Điểm mới của Nghị định số 12/2009/NĐ-CP hơn các Nghị định trước là đã xác định rõ thẩm quyền của các cấp và một đổi mới cơ bản là những sửa đổi
bổ sung về điều kiện điều chỉnh giá đã linh hoạt hơn
Tuy nhiên, nội dung QLNN về chất lượng CTXD trong Luật Xây dựng năm 2003 là chính quyền không can thiệp trực tiếp mà gián tiếp qua công cụ pháp luật tác động vào công tác quản lý sản xuất hàng ngày của người mua (chủ đầu tư) và người bán (các nhà thầu) để làm ra sản phẩm xây dựng Nhà nước chỉ hướng dẫn và kiểm tra trên cơ sở văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quy phạm kỹ thuật để tạo pháp lý cho mối quan hệ của các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng hướng tới việc hình thành công trình, không coi trọng quá trình tiền kiểm
Trang 21Vai trò QLNN chưa được coi trọng đúng mức; tư duy theo hướng quá coi trọng thị trường, quá đề cao vai trò của chủ đầu tư, chưa chỉ rõ trách nhiệm của nhà thầu, chưa có
cơ chế quản lý riêng cho các nguồn vốn khác nhau; quản lý đầu tư xây dựng đối với các
dự án sử dụng vốn Nhà nước, đặc biệt là dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước chưa chặt chẽ Trách nhiệm của các chủ thể tham gia QLCL công trình không cao, các nhà thầu có tư duy lợi nhuận còn lớn, chưa có ý thức xây dựng thương hiệu, uy tín của nhà thầu, Nhà nước chưa có chế tài đủ mạnh để làm động lực, kích thích cho các chủ doanh nghiệp xây dựng thương hiệu nhà thầu Thực tế đến nay tồn tại tư duy nhà thầu thi công, lắp dựng, cung cấp dịch vụ tư vấn khi sản phẩm được nghiệm thu nghiễm nhiên được hiểu là đạt yêu cầu và trách nhiệm thuộc về người đồng ý nghiệm thu, nhà thầu chỉ còn trách nhiệm trong thời gian bảo hành hoặc không còn trách nhiệm gì, vô hình chung trách nhiệm về chất lượng CTXD thuộc về chủ đầu tư
1.1.2.5 Thời kỳ từ cuối năm 2014 đến nay
Để phù hợp với thị trường và thực tế khách quan, tạo được sự thống nhất của cả hệ thống pháp luật có liên quan đến quá trình đầu tư xây dựng, Luật Xây dựng mới 2014 thay thế Luật Xây dựng năm 2003 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản số 38/2009/QH12 Với tư duy mới nhằm khắc phục những tồn tại, Luật Xây dựng năm 2014 trên nguyên tắc tôn trọng quy luật thị trường, xong tăng cường quản lý của Nhà nước, tăng cường quản lý năng lực của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng thông qua việc quy định chặt chẽ về xếp hạng, cấp chứng chỉ năng lực tổ chức, cá nhân hành nghề xây dựng; điều chỉnh các hoạt động đầu tư xây dựng theo loại nguồn vốn và xuyên suốt toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng (quá trình tạo lập ra sản phẩm CTXD), có cơ chế quản lý cụ thể với từng nguồn vốn, kiểm soát chất lượng CTXD từ chuẩn bị, thực hiện đầu tư xây dựng đến nghiệm thu, bàn giao đưa CTXD vào khai thác, sử dụng và bảo hành, bảo trì, bảo hiểm CTXD Riêng đối với các
dự án có sử dụng vốn Nhà nước, cơ quan QLNN chuyên ngành phải quản lý chặt chẽ về chất lượng và chi phí đầu tư xây dựng ngay từ khâu “tiền kiểm”, “can thiệp” trực tiếp vào nhóm các yếu tố “đảm bảo” chất lượng của quá trình đầu tư xây dựng thông qua việc thẩm định dự án, thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật, bản vẽ thi công và dự toán, kiểm tra công tác nghiệm thu nhằm nâng cao chất lượng công trình và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
Trang 22Nhằm hướng dẫn Luật Xây dựng năm 2014 về nội dung QLCL CTXD, Chính phủ ban hành Nghị định 46/2015/NĐ-CP ngày 12/05/2015 về QLCL và bảo trì CTXD Nghị định coi trọng đảm bảo an toàn cho người, an toàn cộng đồng, tài sản, thiết bị, công trình
và đảm bảo môi trường; quy định cụ thể trách nhiệm, vai trò của các chủ thể tham gia QLCL CTXD, đề cao trách nhiệm của các nhà thầu, đặc biệt là trách nhiệm của nhà thầu thi công Bao trùm việc thực hiện của các chủ thể là có sự quản lý chặt chẽ của cơ quan QLNN ở các khâu Nhà nước tăng cường thực hiện chức năng của mình là hướng dẫn, uốn nắn, kiểm tra và xử lý vi phạm theo quy định Thông qua đó nhằm tạo dựng môi trường đầu tư xây dựng lành mạnh, phát triển
Văn bản mới về QLCL CTXD này đã là một bước tiến trong việc cải cách hành chính theo hướng phân cấp rõ ràng triệt để và ai có liên quan tới hoạt động xây dựng đều gắn quyền lực với trách nhiệm, trong đó chịu trách nhiệm chính về QLCL các CTXD của
dự án vẫn là chủ đầu tư
1.1.3 Nguyên tắc chung trong QLCL CTXD
Theo điều 4 của Nghị định 46/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 05 năm 2015 v/v quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng, quy định các nguyên tắc chung trong QLCL CTXD như sau [5]:
- CTXD phải được kiểm soát chất lượng theo quy định của Nghị định 46/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 05 năm 2015 và pháp luật có liên quan từ chuẩn bị, thực hiện đầu tư xây dựng đến quản lý, sử dụng công trình nhằm đảm bảo an toàn cho người, tài sản, thiết bị, công trình và các công trình lân cận
- Hạng mục công trình, CTXD hoàn thành chỉ được phép đưa vào khai thác, sử dụng sau khi được nghiệm thu bảo đảm yêu cầu của thiết kế xây dựng, tiêu chuẩn áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật cho công trình, các yêu cầu của hợp đồng xây dựng và quy định của pháp luật có liên quan
- Nhà thầu khi tham gia hoạt động xây dựng phải có đủ điều kiện năng lực theo quy định, phải có biện pháp tự QLCL các công việc xây dựng do mình thực hiện, Nhà thầu chính hoặc tổng thầu có trách nhiệm QLCL công việc do nhà thầu phụ thực hiện
Trang 23- Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức QLCL công trình phù hợp với hình thức đầu tư, hình thức quản lý dự án, hình thức giao thầu, quy mô và nguồn vốn đầu tư trong quá trình thực hiện đầu tư xây dựng công trình theo quy định của Nghị định này Chủ đầu tư được quyền tự thực hiện các hoạt động xây dựng nếu đủ điều kiện năng lực theo quy định của pháp luật
- Cơ quan chuyên môn về xây dựng hướng dẫn, kiểm tra công tác QLCL của các tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng công trình; thẩm định thiết kế, kiểm tra công tác nghiệm thu CTXD, tổ chức thực hiện giám định chất lượng CTXD; kiến nghị và xử lý các vi phạm về chất lượng CTXD theo quy định của pháp luật
- Các chủ thể tham gia hoạt động đầu tư xây dựng chịu trách nhiệm về chất lượng các công việc do mình thực hiện
1.1.4 QLNN về chất lượng xây dựng công trình
Theo nội dung điều 51, Nghị định 46/2015/NĐ-CP về QLCL và bảo trì CTXD ngày 12/05/2015, trách nhiệm QLNN về chất lượng CTXD được quy định như sau:
a Bộ Xây dựng thống nhất QLNN về chất lượng CTXD trong phạm vi cả nước và QLCL các CTXD chuyên ngành
c Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý chất lượng các công trình quốc phòng, an ninh
d Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh QLNN về chất lượng CTXD trên địa bàn Sở Xây dựng và các Sở quản lý CTXD chuyên ngành giúp UBND cấp tỉnh QLCL công trình chuyên ngành trên địa bàn như sau:
Trang 24- Sở Xây dựng quản lý chất lượng các công trình dân dụng; công trình công nghiệp vật liệu xây dựng, công trình công nghiệp nhẹ; công trình hạ tầng kỹ thuật; công trình giao thông trong đô thị trừ công trình đường sắt, công trình cầu vượt sông và đường quốc lộ;
- Sở Giao thông vận tải quản lý chất lượng công trình giao thông trừ các công trình giao thông do Sở Xây dựng quản lý
- Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNT) quản lý chất lượng công trình NN&PTNT;
- Sở Công thương quản lý chất lượng công trình công nghiệp trừ các công trình công nghiệp do Sở Xây dựng quản lý
1.2 Công tác bảo trì các CTXD
1.2.1 Khái niệm, vai trò và yêu cầu của công tác bảo trì CTXD
1.2.1.1 Khái niệm liên quan đến bảo trì công trình
Bảo trì
Theo BS 3811 (Anh)-1984, bảo trì là tập hợp tất cả các hành động kỹ thuật và quản trị nhằm giữ cho thiết bị luôn ở, hoặc phục hồi nó về một tình trạng trong đó nó có thể thực hiện chức năng yêu cầu Chức năng yêu cầu này có thể định nghĩa như là một tình trạng xác định nào đó
Bảo trì CTXD là tập hợp các công việc nhằm bảo đảm và duy trì sự làm việc bình
thường, an toàn của công trình theo quy định của thiết kế trong quá trình khai thác sử dụng
Bảo trì công trình bao gồm các hạng mục:
- Bảo trì phần xây dựng (bảo trì kết cấu công trình, bảo trì chi tiết kiến trúc)
- Bảo trì phần thiết bị, hệ thống: bảo trì thiết bị, máy móc, hệ thống điện,…
Quy trình bảo trì CTXD là tài liệu quy định về trình tự, nội dung và chỉ dẫn thực
hiện các công việc bảo trì CTXD
Trang 25Thời hạn sử dụng theo thiết kế của công trình (tuổi thọ thiết kế) là khoảng thời gian công trình được dự kiến sử dụng, đảm bảo yêu cầu về an toàn và công năng Thời hạn sử dụng theo thiết kế của công trình được quy định trong quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn áp dụng
có liên quan, nhiệm vụ thiết kế xây dựng công trình
Thời hạn sử dụng thực tế của công trình (tuổi thọ thực tế) là khoảng thời gian công trình được sử dụng thực tế, đảm bảo các yêu cầu về an toàn và công năng
1.2.1.2 Vai trò của bảo trì CTXD
- Phòng ngừa để tránh cho máy móc, công trình không hư hỏng, đảm bảo hoạt động đúng yêu cầu và liên tục tương ứng với tuổi thọ của công trình
- Tối ưu hóa hiệu suất của các thiết bị và công năng của công trình
- Bảo trì hiệu quả giúp cho chi phí vận hành công trình giảm, đồng thời duy trì chất lượng và tuổi thọ công trình
1.2.1.3 Yêu cầu của công tác bảo trì CTXD
- Công trình và các bộ phận công trình khi đưa vào khai thác, sử dụng và bảo trì phải tuân thủ các quy định về bảo trì tại văn bản pháp luật hiện hành của Chính phủ và địa phương
- Quy trình bảo trì công trình được lập phù hợp với các bộ phận công trình, thiết bị lắp đặt vào công trình, loại, cấp công trình và mục đích sử dụng của công trình
- Việc bảo trì công trình phải đảm bảo an toàn về người và tài sản và đảm bảo tối đa
sự vận hành liên tục và an toàn của công trình
- Cơ quan, đơn vị được giao quản lý sử dụng công trình phải có kế hoạch bảo trì công trình gồm: Công tác khảo sát hiện trạng, lập kế hoạch vốn, kiểm tra xác định mức độ và thời gian xuống cấp, đánh giá chất lượng công trình và thực hiện công việc sửa chữa công trình khi cần thiết
1.2.2 Phân loại bảo trì CTXD
1.2.2.1 Cấp bảo trì CTXD
Công việc bảo trì CTXD được thực hiện theo các cấp bảo trì như sau:
Trang 26 Cấp duy tu, bảo dưỡng: được tiến hành thường xuyên để đề phòng hư hỏng của từng
chi tiết, bộ phận công trình
Cấp sửa chữa nhỏ: được tiến hành khi có hư hỏng ở một số chi tiết của bộ phận công
trình nhằm khôi phục chất lượng ban đầu của các chi tiết đó
Cấp sửa chữa vừa: được tiến hành khi có hư hỏng hoặc xuống cấp ở một số bộ phận
công trình nhằm khôi phục chất lượng ban đầu của các bộ phận công trình đó
Cấp sửa chữa lớn: được tiến hành khi có hư hỏng hoặc xuống cấp ở nhiều bộ phận
công trình nhằm khôi phục chất lượng ban đầu của công trình
1.2.2.2 Các hình thức của công tác Bảo trì công trình
Bảo trì hư hỏng: là hình thức bảo trì đợi cho đến khi thiết bị, bộ phận công trình
hoặc công trình bị lỗi, bị sự cố và tiến hành sửa chữa, bảo trì Hình thức bảo trì này thường được sử dụng khi sự hư hỏng không ảnh hưởng đến hoạt động hoặc sản xuất hoặc gây ra sự thiệt hại ngoài chi phí khắc phục sự cố
Bảo trì phòng ngừa: là hình thức bảo trì hàng ngày (làm sạch, bôi dầu, kiểm tra và
thắt chặt lại bu lông, ốc vít, ) Hình thức này được thiết kế để duy trì tình trạng sẵn sàng làm việc của thiết bị, công trình thông qua việc phòng chống xuống cấp, kiểm tra định kỳ hoặc chuẩn đoán tình trạng của thiết bị, công trình để đánh giá mức độ xuống cấp Hình thức này được chia thành 02 hình thức bảo trì: (1) Bảo trì định kỳ và (2) Bảo trì chuẩn đoán
Bảo trì định kỳ: bao gồm việc kiểm tra định kỳ, bảo trì, vệ sinh và thay thế, sửa
chữa các bộ phận bị hư hỏng để ngăn chặn các sự cố bất ngờ hoặc các vấn đề ảnh hưởng tới quá trình vận hành
Bảo trì chuẩn đoán: là phương pháp bảo trì mà tuổi thọ của các bộ phận quan trọng
được dự doán dựa trên kiểm tra hoặc chẩn đoán để khai thác tối đa tuổi thọ của các bộ phận này So với bảo trì định kỳ, bảo trì chuẩn đoán là hình thức bảo trì có điều kiện Hình thức bảo trì này kiểm soát xu hướng tình trạng của thiết bị, công trình dựa trên việc đo lường, phân tích các dữ liệu liên quan tới việc xuống cấp và sử dụng hệ thống
Trang 27theo dõi, quan sát được thiết kế để kiểm soát tình trạng của thiết bị, công trình thông qua
hệ thống quan trắc thời gian thực
Bảo trì phòng ngừa tổng thể: Bảo trì phòng ngừa tổng thể cải thiện trang thiết
bị, công trình được tiến hành một cách đáng tin cậy Thiết bị, công trình với một điểm yếu thiết kế phải được thiết kế lại để cải thiện độ tin cậy, hoặc tăng cường khả năng bảo
trì
Riêng trong ngành thủy lợi, các hình thức bảo trì tài sản kết cấu hạ tầng thủy lợi được quy định trong như sau [6]:
1 Bảo trì theo chất lượng thực hiện
a) Bảo trì theo chất lượng thực hiện là việc Nhà nước giao khoán cho doanh nghiệp thực hiện hoạt động bảo trì theo các tiêu chuẩn chất lượng được xác định trong một thời gian với một số tiền nhất định được quy định tại Hợp đồng kinh tế;
b) Bảo trì theo chất lượng thực hiện áp dụng đối với hoạt động bảo dưỡng thường xuyên tài sản kết cấu hạ tầng thủy lợi;
c) Cơ quan được giao quản lý tài sản có trách nhiệm xác định cụ thể đơn giá bảo dưỡng thường xuyên cho từng tài sản kết cấu hạ tầng thủy lợi thuộc phạm vi được giao quản lý; trình cơ quan, cấp có thẩm quyền phê duyệt Trong trường hợp tổ chức đấu thầu để lựa chọn doanh nghiệp thực hiện bảo trì thì giá này là giá gói thầu;
d) Bộ NN&PTNT quy định tiêu chí giám sát, nghiệm thu kết quả bảo dưỡng thường xuyên tài sản kết cấu hạ tầng thủy lợi theo chất lượng thực hiện
2 Bảo trì theo khối lượng thực tế
a) Bảo trì theo khối lượng thực tế tài sản kết cấu hạ tầng thủy lợi là việc Nhà nước giao cho doanh nghiệp thực hiện việc bảo trì tài sản kết cấu hạ tầng thủy lợi và thực hiện thanh toán cho doanh nghiệp theo khối lượng công việc thực tế đã thực hiện;
b) Việc bảo trì theo khối lượng thực tế áp dụng đối với hoạt động sửa chữa định kỳ và sửa chữa đột xuất
Trang 281.2.3 Mối tương quan giữa giá trị CTXD và thời gian tồn tại
Bảo trì CTXD được hiểu như là một tập hợp các hành động để đảm bảo cho công trình hoạt động hiệu quả, an toàn nhất theo đúng mục đích và công năng thiết kế để phục vụ con người Chất lượng bảo trì ảnh hưởng rất lớn đến công năng sử dụng, tuổi thọ và giá trị tài sản của CTXD
Có thể mô tả môi tương quan giữa thời gian tồn tại và giá trị của công trình theo một biểu đồ định tính dưới đây:
Hình 1.1 Tương quan giữa thời gian tồn tại và giá trị của công trình
Trong hình 1.1, chúng ta phân tích tuổi thọ công trình theo 3 giai đoạn
dụng của khách Công lao tạo dựng lên giá trị là các nhà nghiên cứu thiết kế và bàn tay
của những người thợ khéo léo
nhucầu của khách hàng Chính trong giai đoạn này diễn ra quá trình hao mòn giá trị theo thời gian:
Trang 29Hao mòn vô hình: là sự giảm giá trị công trình không nhìn thấy được do sự lạc hậu
trong giải pháp kiến trúc, sự không phù hợp trong sử dụng, sự thích nghi kém về tiện nghi
Hao mòn hữu hình: công trình qua một thời gian dài đưa vào sử dụng, các thiệt bị vận
hành bị bào mòn hoặc do tác động của môi trường đất/nước sẽ làm hoen rỉ, hư hỏng, gãy đổ đòi hỏi phải bảo dưỡng hoặc thay thế
Quá trình hao mòn của CTXD theo hai dạng đó có tốc độ rất khác nhau Nhiều CTXD giá trị vô hình ngược lại không hề giảm mà trở nên trường tồn như các công trình có giá trị văn hoá và lịch sử
triệt để Tới đây, tuổi thọ của công trình kết thúc theo phương diện không thoả mãn những giá trị ban đầu đặt ra nhưng hoàn toàn có thể sử dụng công trình vì một mục đích mới như là một di tích và chúng ta đã kéo dài tuổi thọ vô hình của công trình
Tuổi thọ của công trình về nguyên tắc được xác định theo quy định của thiết kế, tuy nhiên thực tế nó lại phụ thuộc rất nhiều vào quá trình vận hành sử dụng ở nhiều khía cạnh: tuân thủ quy định vận hành, vận hành đúng năng lực thiết kế, bảo trì đúng kế hoạch và các yếu tố tác động từ môi trường
Tuổi thọ công trình phụ thuộc vào chất lượng xây dựng và chất lượng bảo trì công trình, trong đó yếu tố vận hành đúng công năng, công suất thiết kế, duy trì chính sách bảo trì đúng kế hoạch là vô củng quan trọng Trên thực tế có rất nhiều bộ phận công trình có tuổi thọ khá ngắn, thậm chí ngắn hơn nữa nếu không được bảo trì thường xuyên
Công trình được khai thác dài hơn niên hạn sử dụng mà vẫn đảm bảo đầy đủ công năng
là một trong những yếu tố làm tăng hiệu quả đầu tư và giá trị công trình, đạt được điều
đó phải giải quyết được bài toán mối quan hệ giữa giá trị, thời hạn sử dụng và tuổi thọ công trình
Trang 30Hình 1.2 Mối quan hệ giữa công năng công trình và tuổi thọ
Ở hình 1.2, người ta cho rằng tuổi thọ công trình có 2 mức: tuổi thọ thiết kế và tuổi thọ phục vụ Trong giai đoạn tuổi thọ thiết kế, công năng công trình suy giảm từ thiết kế đến mức tối thiểu trong giới hạn chấp nhận được Giai đoạn phải thay thế là giai đoạn công năng suy giảm rất nhanh, đến thời điểm kết thúc tuổi thọ công trình [7]
Hình 1.3 Mối quan hệ giữa sự xuống cấp và suy giảm công năng theo thời gian sử
dụng của công trình
Ở hình 1.3, sự suy giảm công năng của công trình có quan hệ tuyến tính với sự xuống cấp công trình Nghĩa là công trình càng đưa vào sử dụng lâu thì công năng càng suy
Trang 31giảm nhanh và sự xuống cấp công trình càng nghiêm trọng hơn khi gần kết thúc tuổi thọ công trình
1.3 Thực trạng QLCL công tác bảo trì CTXD hiện nay
1.3.1 Sự phát triển của ngành xây dựng Việt Nam và thực trạng QLCL CTXD
1.3.1.1 Sự phát triển của ngành xây dựng Việt Nam
Ngành xây dựng Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển thăng trầm, có những lúc khó khăn trì trệ, chìm lắng, nhưng có lúc lại bùng nổ với những bước tiến vượt bậc Những năm đầu của thế kỷ 20, CTXD lớn ở Việt Nam còn rất ít ỏi, chủ yếu là do người Pháp xây dựng như Nhà hát Lớn Hà Nội, cầu Long Biên, QL1, tuyến đường sắt Bắc Nam…Tiếp đến là thời kỳ các công trình được xây dựng chủ yếu phục vụ sản xuất trong kháng chiến như khu gang thép Thái Nguyên, Nhà máy phân lân Văn Điển, Nhà máy Bóng đèn phích nước Rạng Đông (trước 1975)…Bước sang thời kỳ Đổi mới, chỉ sau nửa thế kỷ số lượng và quy mô các công trình đã tăng rất nhanh Hiện nay, bình quân hàng năm cả nước có trên 8.000 dự án đầu tư xây dựng công trình được triển khai Quy
mô và loại công trình rất đa dạng, từ các công trình nhỏ như nhà ở riêng lẻ tới các CTXD quy mô vừa và lớn như: Bệnh viện, trường học, chung cư và khu đô thị mới, các nhà máy nhiệt - thuỷ điện, trạm và đường dây tải điện, hệ thống cầu - đường - hầm giao thông, cảng biển và cảng hàng không, nhà máy phân bón, nhà máy lọc dầu, đập và hồ chứa, các công trình hạ tầng kỹ thuật… Nhiều công trình giao thông có quy mô lớn như cầu Mỹ Thuận, cầu Bãi Cháy, cầu Nhật Tân, cầu Rồng, đường trên cao vành đai 3 Hà Nội, đại lộ Thăng Long, đại lộ Đông Tây, hầm vượt sông Sài Gòn, nhà giàn ĐK1… Và những “cao ốc” cao nhất Việt Nam như Keangnam Hanoi, Landmark Tower, Bitexco Financial Tower, VietinBank Tower, tòa Landmark 81 (tòa nhà cao thứ 10 thế giới) … Riêng với ngành thủy lợi, đã có trên 7.000 công trình hồ chứa thuỷ điện, thuỷ lợi đã xây dựng và đưa vào vận hành, trong đó thủy điện Sơn La với công suất 2400MW lớn nhất Đông Nam Á, thủy điện Hòa Bình, thủy điện Lai Châu, công trình đầu mối thủy lợi-thủy điện Cửa Đạt, Thủy điện Đồng Nai 2, công trình Thủy điện Sông Bung 4, công trình đầu mối hồ chứa Nước Trong; Đập dâng Văn Phong… Nhiều công trình quan trọng, thiết yếu được đưa vào sử dụng, tạo diện mạo mới cho các tỉnh, thành phố trong
Trang 32nước, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng - an ninh của địa phương và cả đất nước
1.3.1.2 Thực trạng QLCL CTXD
Chất lượng CTXD phụ thuộc vào chất lượng của các khâu khảo sát, thiết kế, thi công, điều kiện năng lực của các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng, quản lý, khai thác vận hành, bảo trì và sự kiểm soát của các cơ quan QLNN có liên quan Với những đặc điểm phát triển như trên đã phân tích, có thể thấy ngành xây dựng đã có một bước tiến dài trong quá trình tự chủ và cơ bản tạo được những diện mạo CTXD đẹp về thẩm mỹ, bền vững về kết cấu và có quy mô ngày càng lớn
Chuyên môn và năng lực của các chủ thể tham gia các hoạt động xây dựng ngày càng được cải thiện đáng kể, dần tiềm cận với tiêu chuẩn của thế giới đã phần nào góp phần đưa chất lượng công trình có xu hướng ngày càng được nâng cao Chất lượng công trình, đặc biệt là các công trình trọng điểm, công trình quan trọng quốc gia về cơ bản đã được kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn áp dụng và đưa vào vận hành, khai thác an toàn, hiệu quả
Theo số lượng tổng hợp hàng năm về tình hình chất lượng công trình, bình quân trong những năm gần đây có trên 90% công trình đạt chất lượng từ khá trở lên Sự cố công trình có xu hướng giảm, chiếm tỷ lệ thấp từ 0,1% đến 0,2% trong tổng số CTXD hàng năm (theo tổng hợp báo cáo từ các địa phương, Bộ, ngành năm 2013 có 70 sự cố - chiếm khoảng 0,2%; năm 2014 có 47 sự cố - chiếm khoảng 0,15% tổng số công trình đang xây dựng; năm 2015 có 40 sự cố - chiếm khoảng 0,1%) Đây là kết quả của việc tăng cường vai trò QLNN và sự cố gắng của các chủ thể có liên quan đối với công tác QLCL CTXD ngay từ khâu khảo sát, thiết kế, thi công, nghiệm thu đưa vào sử dụng [8]
Mặc dù con số về tỷ lệ sự cố công trình thống kê được dường như rất nhỏ, nhưng tình trạng các sự cố diễn ra liên tiếp trong thời gian qua ở các mức độ thiệt hại khác nhau đã khiến người dân lo lắng và bức xúc, và cũng dấy lên hồi chuông báo động cho chủ thể tham gia các hoạt động xây dựng về vấn đề cần quan tâm đến chất lượng công trình Không ít công trình có chất lượng kém, không đáp ứng được yêu cầu sử dụng, công
Trang 33trình nứt, vỡ, lún sụt, thấm dột, bong dộp đưa vào sử dụng thời gian ngắn đã hư hỏng gây tốn kém, phải sửa chữa, phá đi làm lại
Đối với cán bộ QLNN về xây dựng từ trung ương tới địa phương chỉ có 32% có trình
độ sơ cấp và chưa qua đào tạo riêng, cấp xã có đến 41% có trình độ sơ cấp và 68,7% chưa được đào tạo về kiến thức QLNN Đội ngũ cán bộ công chức ngành xây dựng còn bất cập về chuyên môn chỉ có 36% có chuyên môn về kiến trúc xây dựng Về lực lượng công nhân trực tiếp sản xuất lực lượng quyết định đến năng suất lao động, chất lượng, tiến độ của công trình đang là vấn đề rất đáng quan tâm Tỷ lệ công nhân qua đào tạo nghề rất thấp Theo cơ cấu bình quân hiện nay ở Việt Nam giữa kỹ sư -trung cấp chuyên nghiệp - công nhân học nghề là 1:1,3:0,5 trong khi ở các nước trên thế giới bình quân là 1:4:10 [9]
Hình 1.4 Sự cố sập cầu máng sông
Dinh 3 - Bình Thuận (2017)
Hình 1.5 Sự cố sập cầu Vòm thuộc khu vực của nhà máy thủy diện ICT -
Chiêm Hóa (năm 2017)
a Những mặt làm được
- Hệ thống pháp luật về QLCL CTXD ngày càng được hoàn thiện đầy đủ và chặt chẽ hơn trong thời gian qua Nhiều văn bản quy phạm pháp luật về quản lý CLCTXD đã được ban hành với các chính sách mới về quản lý dự án đầu tư xây dựng, cấp giấy phép xây dựng, với nhiều nội dung đổi mới theo hướng tăng cường phân cấp, ủy quyền hợp
lý trong quản lý các hoạt động xây dựng
- Công tác QLNN trong lĩnh vực xây dựng đã được tăng cường, bước đầu đã đi vào nền nếp; ý thức chấp hành pháp luật của các chủ thể đã được nâng cao; tốc độ đầu tư xây dựng đã được đẩy mạnh; trật tự xây dựng đã được chấn chỉnh
Trang 34- QLCL CTXD giờ đây không còn là trách nhiệm riêng của cơ quan nhà nước hay chủ đầu tư, mà trở thành hoạt động quản lý của các chủ thể tham gia các hoạt động xây dựng theo quy định của pháp luật trong quá trình chuẩn bị, thực hiện đầu tư xây dựng công trình và khai thác
- QLCL CTXD hiện tại đã phân định rõ trách nhiệm, phù hợp với chức năng, nhiệm
vụ và năng lực của các cơ quan QLNN chuyên ngành, chuyên môn về xây dựng, người quyết định đầu tư Cắt giảm các quy định, thủ tục hành chính không còn phù hợp, thời gian thực hiện cấp phép xây dựng được đơn giản và rút ngắn
- Công tác quản lý CLCTXD đã tiếp cận và hội nhập được với các nước có nền khoa học công nghệ xây dựng và QLCL xây dựng phát triển cao trong khu vực và trên thế giới Chúng ta đã chủ động áp dụng nhiều công nghệ xây dựng tiên tiến của thế giới, đã
đủ khả năng quản lý, xây dựng các công trình hiện đại, có yêu cầu kỹ thuật phức tạp và yêu cầu về chất lượng bằng nội lực của chính mình
b Những vấn đề tồn tại
- Lực lượng quản lý xây dựng nói chung và QLCL CTXD nói riêng ở các địa phương còn mỏng, chưa đáp ứng được yêu cầu Cùng với đó còn có sự chồng chéo và thiếu sự phối hợp trong thực hiện QLCL CTXD
- Nhiều nơi, năng lực của chủ đầu tư chưa đáp ứng nhưng vẫn được giao làm chủ đầu
tư CTXD nên dẫn đến quản lý dự án, chất lượng không đảm bảo
- Việc quản lý đầu tư xây dựng đối với các dự án sử dụng vốn nhà nước, đặc biệt là dự
án sử dụng vốn ngân sách nhà nước thường “buông lỏng” hơn so với công trình dùng
“vốn tư”
- Nhiều chủ thể tham gia trực tiếp trong quá trình thi công xây dựng công trình (chủ đầu tư và các nhà thầu), chủ quản lý sử dụng công trình chưa tuân thủ nghiêm túc các quy định của pháp luật về QLCL CTXD trong các khâu khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, giám sát thi công, nghiệm thu, bảo hành và bảo trì công trình
Trang 35- Năng lực của nhiều nhà thầu tham gia hoạt động xây dựng còn hạn chế, không đáp ứng yêu cầu và chưa được kiểm soát chặt chẽ; năng lực quản lý dự án của nhiều chủ đầu
tư yếu, chưa đáp ứng yêu cầu
- Việc tổ chức thực hiện công tác bảo trì công trình (lập và phê duyệt quy trình bảo trì, thực hiện quy trình bảo trì, nguồn vốn cho công tác bảo trì CTXD), đối với nhiều công trình còn bị coi nhẹ
- Cơ chế quản lý cùng với nhận thức về lập quy trình bảo trì và thực hiện bảo trì CTXD của các chủ thể có liên quan trong xã hội chưa cao đang là một trong những nguyên nhân khiến các quy định về bảo trì CTXD chưa được thực hiện nghiêm, công tác QLNN
về bảo trì CTXD còn bị buông lỏng Việc xử lý cũng mang tính giải pháp tình thế, hư đến đâu sửa đấy, thiếu khoa học Điều đó dẫn tới tình trạng nhiều công trình xuống cấp nhanh, giảm tuổi thọ, gây thất thoát và lãng phí lớn vốn ngân sách nhà nước
1.3.2 Thực trạng bảo trì CTXD và công tác QLCL bảo trì CTXD
1.3.2.1 Thực trạng bảo trì CTXD
Hiện tại, các cấp quản lý và các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng chỉ mới coi trọng việc hoàn thành các khâu thực hiện và trước bàn giao công trình, còn khi công trình đưa vào khai thác thì không những không có chính sách chăm sóc cho công trình mà còn làm ngơ trước sự kiệt quệ của những tài sản quí giá này Chỉ rất ít các công trình trọng điểm, công trình có quy mô lớn như các công trình giao thông, hồ chứa, đập thủy lợi lớn, một số công trình công nghiệp, dân dụng…mới có quy trình và vận hành công tác bảo trì Còn lại đa số các công tác duy tu, sửa chữa công trình chỉ được thực hiện khi công trình xuất hiện các sự cố hoặc hư hỏng cần phải khắc phục Ngoài ra, có nhiều công trình không tiến hành bảo trì hoặc bảo trì không đúng định kỳ làm giảm tuổi thọ công trình Cá biệt ở một số công trình gây sự cố làm thiệt hại rất lớn đến tiền của và tính mạng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu tư
Tại Việt Nam, hiện nay bảo trì công trình còn nhiều bất cập, chưa thực sự được quan tâm đúng mức Trình độ phát triển ngành Bảo trì nếu phân hạng theo trình độ phát triển của thế giới thì Việt Nam đang ở thế hệ thứ nhất của bảo trì là bảo trì hư hỏng (Breakdown Maintenence), nghĩa là hư hỏng đến đâu sửa đến đó Việc phát triển lên thế
Trang 36hệ thứ 2: bảo trì phòng ngừa (Preventing Maintenance) đang được từng bước thực hiện như việc lập kế hoạch bảo trì định kỳ, lập dự toán bảo trì …
Thực tế, khi nhắc đến bảo trì CTXD, hầu hết các chủ quản lý sử dụng công trình chủ yếu nghĩ đến bảo trì các thiết bị sử dụng cho công trình là chính, như là: thang máy, máy bơm nước PCCC, máy điều hòa nhiệt độ…, chứ không nghĩ đến các vấn đề sửa chữa liên quan đến kết cấu, công năng của CTXD Do đó, có rất nhiều công trình không được bảo dưỡng, sửa chữa kịp thời đúng thời hạn làm công trình xuống cấp nhanh chóng (thép làm cầu bị rỉ, dầm bê tông nứt vỡ, lớp bảo vệ bị phá hỏng dẫn đến ăn mòn cốt thép, đê đập bị sụt lở, nhà cửa bị thấm dột, hư hại thép chịu lực) thậm chí nhiều công trình không
có kế hoạch, nguồn vốn để thực hiện duy tu bảo trì, điển hình là các nhà chung cư, công trình phúc lợi xã hội công cộng (trường học, bệnh viện…) dẫn đến công trình xuống cấp, tuổi thọ rất ngắn hỏng trước thời hạn, gây lãng phí tiền của rất lớn mà chẳng ai chịu trách nhiệm
1.3.2.2 Công tác QLCL bảo trì CTXD
a Hệ thống văn bản pháp luật về bảo trì
Nội dung bảo trì CTXD đã được quan tâm cách đây 20 năm, và qua các giai đoạn khác nhau đều có những văn bản pháp luật được ban hành thể hiện nội dung này như:
- Thông tư 05/2001/TT-BXD ngày 30/8/2001 về hướng dẫn bảo trì xây dựng;
- Nghị định 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 v/v QLCL CTXD (chương VII về nội dung bảo trì) và Thông tư 08/2006/TT-BXD ngày 24/11/2006 v/v hướng dẫn công tác bảo trì;
- Nghị định 114/2010/NĐ-CP ngày 6/12/2010 về bảo trì xây dựng, Thông tư số 02/2012/TT-BXD ngày 12 tháng 6 năm 2012 Hướng dẫn một số nội dung về bảo trì công trình dân dụng, công trình công nghiệp vật liệu xây dựng và công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị, Thông tư 11/2012/TT-BXD ngày 25/12/2012 về hướng dẫn lập và quản lý chi phí bảo trì xây dựng;
- Nghị định 46/2015/NĐ-CP ngày12/5/2015 về QLCL và bảo trì CTXD, Thông tư 26/2016/TT-BXD ngày 26/10/2016 quy định chi tiết một số nội dung về QLCL và bảo
Trang 37trì CTXD, Thông tư 03/2017/TT-BXD ngày 16/3/2017 v/v hướng dẫn xác định chi phí bảo trì CTXD
Do đó, có thể thấy hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo trì CTXD là khá hoàn chỉnh, thường xuyên được bổ sung, cập nhật để phù hợp với thực tiễn…, nhưng vấn đề
là việc triển khai áp dụng thực hiện ở thực tế hiệu quả rất hạn chế
b Đội ngũ nhân viên liên quan bảo trì xây dựng
- Về số lượng: nguồn lao động am hiểu và có chuyên môn thiếu hụt nghiêm trọng do hầu hết các trường đại học, trường dạy nghề hầu như không có chuyên ngành đào tạo riêng về vận hành, bảo dưỡng, bảo trì và xử lý các sự cố công trình
- Về chất lượng: Phần lớn lao động không có kiến thức chuyên sâu về bảo trì, hầu hết chỉ được đào tạo từng bộ môn riêng lẻ như điện, điện lạnh, cấp thoát nước,…hoặc thậm chí có người không có chuyên môn hay kinh nghiệm gì về nghề này cũng được bố trí đảm nhận công việc quan trọng này
c Trách nhiệm của các chủ thể tham gia liên quan
Năng lực của một số chủ thể tham gia hoạt động xây dựng còn hạn chế, không đáp ứng yêu cầu và hầu hết mọi khâu quản lý đều chưa được kiểm soát chặt chẽ
Chủ đầu tư
- Năng lực quản lý của một số chủ đầu tư còn yếu, không vững trong nghiệp vụ quản
lý và áp dụng hệ thống văn bản pháp luật, chuyên môn kém
- Nhiều chủ đầu tư xem nhẹ công tác bảo trì, thường khoán trắng trách nhiệm cho các nhà thầu (khảo sát, thiết kế, thi công, cung cấp lắp đặt thiết bị) nên công tác giám sát, kiểm tra theo dõi các nhà thầu cũng còn rất mờ nhạt, hoặc chỉ thực hiện một cách hình thức, thiếu trách nhiệm
Nhà thầu thiết kế
Trang 38- Theo quy định, nhà thầu thiết kế phải lập quy trình bảo trì công trình Tuy nhiên, thực trạng của Việt Nam lâu nay là các tổ chức tư vấn thiết kế thường không thực hiện đầy
đủ việc lập quy trình bảo trì cho các công trình
- Năng lực thực hiện lập quy trình bảo trì công trình của các nhà thầu thiết kế còn yếu, không đủ năng lực, thiếu kinh nghiệm… Do đó, đa số các công trình đều không có quy trình bảo trì hoặc có quy trình bảo trì nhưng lại không đáp ứng được thực tế nhưng lại chưa được bổ sung, điều chỉnh
Nhà thầu thi công
Nhiều nhà thầu thi công xem nhẹ công tác QLCL cho các công trình duy tu, sửa chữa, nên không chấp hành các quy định về công tác QLCL, không lập kế hoạch và biện pháp đảm bảo chất lượng
Bắt nguồn từ công tác chỉ định thầu, nhiều nhà thầu tuy không đủ năng lực về kinh nghiệm, con người, tài chính, máy móc phục vụ thi công vẫn trúng thầu, nên dẫn đến tình trạng thi công bớt xén, cố tình sử dụng vật liệu, vật tư sai, giảm đường kính cốt thép, độ sạch của cốt liệu; hiện tượng dùng hàng giả, hàng nhái, không tuân thủ hồ sơ thiết kế được duyệt và tiêu chuẩn kỹ thuật xảy ra rất phổ biến
Đơn vị quản lý sử dụng
Do nhiều nguyên nhân cả chủ quan và khách quan, cơ quan, đơn vị được giao quản lý
sử dụng công trình thường chậm trễ trong việc lập kế hoạch bảo trì công trình gồm: Công tác khảo sát hiện trạng, lập kế hoạch vốn, kiểm tra xác định mức độ và thời gian xuống cấp, đánh giá chất lượng công trình và thực hiện công việc sửa chữa công trình khi cần thiết, dẫn đến chất lượng bảo trì hiện tại không cao
d Nguồn kinh phí thực hiện bảo trì
Kinh phí đang là rào cản lớn nhất cho vấn đề bảo trì ở nước ta, bởi thông thường chiếm phần lớn chi phí bảo trì là dành cho bảo dưỡng, sửa chữa lớn theo định kỳ, nên nguồn vốn cần là rất lớn và cấp bách
Trang 39Nguồn vốn bảo trì còn rất thiếu, trước năm 2013 chỉ đáp ứng được 25-30% nhu cầu vốn tối thiểu Từ năm 2013 đến nay mới đáp ứng được khoảng 40% Tình trạng này kéo dài dẫn đến công tác bảo trì không được thực hiện đầy đủ, việc sửa chữa đường phải thụ động, hỏng đâu sửa đó Điển hình như ngành giao thông, đến nay có khoảng hơn 10.000
km đường đã quá thời hạn sửa chữa trung tu và đại tu [10]
Việc lập kế hoạch, lập dự toán bảo trì còn rất nhiều sai sót, công tác kiểm tra quản lý, thanh quyết toán chi phí sau bảo trì không chặt chẽ nên nguồn vốn đã thiếu lại càng thiếu hơn và không được sử dụng hợp lý, gây lãng phí và thất thoát nhiều
1.3.2.3 Công tác QLCL bảo trì công trình thủy lợi
Công tác QLCL bảo trì các CTTL nằm trong tình trạng chung như các CTXD đã được phân tích ở trên Nhưng do một số đặc điểm riêng của ngành, mà công tác QLCL bảo trì CTTL có thêm một số nội dung khác:
- Phần lớn các công trình thủy lợi (CTTL) được xây dựng từ hàng chục năm trước đây nên đến nay đã xuống cấp, hư hỏng ở nhiều mức độ khác nhau, do đó CTTL luôn đứng top đầu danh sách có nhu cầu cao về bảo trì trong xây dựng Đặc biệt trong điều kiện biến đổi khí hậu ngày một rõ nét với mức ảnh hưởng tiêu cực ngày càng lớn thì các CTTL rất dễ gặp các sự cố, rủi ro và hư hỏng, nên số lượng công trình cần được bảo trì
là cực lớn và cấp thiết
- Hệ thống CTTL được xây dựng rộng khắp, mỗi hệ thống lại có số lượng lớn các hạng mục, bộ phận, thiết bị công trình liên quan nên công tác quản lý bảo dưỡng, duy tu, sửa chữa gặp nhiều khó khăn do không thể tiến hành đồng bộ và cùng thời điểm được Thường phải tiến hành bảo trì luân phiên theo kế hoạch nhằm đảm bảo lịch sản xuất,
thời vụ của người dân Trong thời gian bảo trì, công trình vẫn phải phục vụ sản xuất
- Với nguồn kinh phí rất hạn chế, việc bảo trì các hệ thống công trình đầu mối hiện nay chỉ mang tính chất sửa chữa nhỏ (đắp đất sạt lỡ mái hạ lưu đập, nạo vét rãnh thoát nước…) sửa chữa, bảo trì một cách chắp vá, hư hỏng ở đâu thì chỉ sửa chữa bộ phận hoặc thay thế thiết bị đơn lẻ ở đó Việc đầu tư gia cố, nâng cấp các kênh đất chỉ đủ kinh phí cho gia cố các đoạn kênh xung yếu, cục bộ thường xuyên xảy ra thiếu nước với chiều dài bình quân từ 200-300m/ tuyến kênh; chưa đủ kinh phí để đầu tư đồng bộ cho các hệ
Trang 40thống kênh Do đó, chất lượng của công trình sau khi được sửa chữa, bảo trì vẫn không được cải thiện là mấy so với ban đầu do thiếu đồng bộ và thường lại xuống cấp sau một thời gian bảo trì Việc đầu tư nâng cấp đập, hồ chứa, kênh tưới, trạm bơm chủ yếu từ các nguồn vốn an toàn đập, phòng chống thiên tai, vốn vay WB, ADB, AFD…
- Hệ thống CTTL thì rộng lớn, trải rộng và kéo dài, nhưng việc phân cấp quản lý CTTL đến nay vẫn không thống nhất nên có nơi việc quản lý bị chồng chéo, có nơi lại bị buông lỏng, bỏ không nên chất lượng công trình, đặc biệt là chất lượng bảo trì ngày một đi xuống, thiếu kiểm soát
- Đa phần các hạng mục CTTL đều nằm trong đất và dưới nước, khối lượng và quy mô công trình lớn nên khó đánh giá đúng chất lượng công trình trước khi bảo trì, và khi bảo trì thì thường cũng gặp nhiều khó khăn do nhiều yếu tố khách quan tác động
- Các doanh nghiệp khai thác thủy lợi không chủ động được nguồn vốn trong hoạt động sản xuất, nguồn cấp bù thủy lợi phí là nguồn thu chủ yếu của doanh nghiệp dẫn đến các doanh nghiệp bị động trong điều hành công việc Khi cần tu sửa công trình hoặc khắc phục sự cố do thiên tai gây ra thì phải qua nhiều cấp giải quyết, chi phí cho công tác quản lý vận hành công trình được các địa phương cấp phát hàng năm thấp hơn nhiều so với nhu cầu thực tế nên doanh nghiệp thiếu kinh phí cho công tác duy tu, bảo dưỡng thường xuyên, không khắc phục kịp thời sự cố xảy ra làm ảnh hưởng đến việc vận hành khai thác công trình
- CTTL gắn liền với cuộc sống của người nông dân, đem lại lợi ích rất lớn cho người dân, thế nhưng nhận thức cũng như trách nhiệm tham gia tu bổ, sửa chữa công trình hết sức còn hạn chế, họ luôn trông chờ vào nhà nước địa phương, và xem như không có nghĩa vụ phải bảo trì công trình mà mình đang hưởng lợi, cứ vô tư phá hoại khi không được thõa mãn nguồn nước tưới
1.4 Kết luận chương 1
QLCL CTXD ở khâu bảo trì sau khi đưa công trình vào khai thác sử dụng có lẽ còn khá mới mẻ ở Việt Nam, nhưng thực chất nó đã tồn tại và phát triển rất lâu trong QLCL xây dựng của thế giới bởi bảo trì được đánh giá là một trong những khâu đặc biệt quan trọng