Mục đíchnghiên cứu Thông qua việc nghiên cứu tổng quan về chất lượng sản phẩm xây dựng, vai trò và nội dung của công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng, cơ sở khoa học về quản lý
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
LƯƠNG VĂN SINH
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP HOÀN THIỆNCÔNG TÁC QUẢN
LÝ CHẤT LƯỢNG THI CÔNG XÂY DỰNG CHO CÔNG TY
TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN THỦY LỢI NGHĨA HƯNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
LƯƠNG VĂN SINH
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN
LÝ CHẤT LƯỢNG THI CÔNG XÂY DỰNG CHO CÔNG TY
TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN THỦY LỢI NGHĨA HƯNG
Chuyên ngành: Quản lý xây dựng
Mã số: 8580302
HÀ NỘI, NĂM 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin can đoan luận văn tốt nghiệp với đề tài “Nghiên cứu giải pháp hoàn thiện
công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng cho Công ty trách nhiệm hữu hạn thủy lợi Nghĩa Hưng”là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn của
thầy TS Trần Văn Toản Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tham khảo đầy đủ, theo đúng quy định hiện hành
Tác giả luận văn
Lương Văn Sinh
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Sau 20 tuần cố gắngnỗ lực của bản thân để thực hiện luận văn, đến nay luận văn tốt
nghiệp với đề tài “Nghiên cứu giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chất lượng thi
công xây dựng cho Công ty trách nhiệm hữu hạn thủy lợi Nghĩa Hưng”đã được
tác giả hoàn thành Có được kết quả này, ngoài sự tự rèn luyện và phấn đấu của bản thân, tác giả đã nhận được được nhiều sự giúp đỡ của gia đình, đồng nghiệp và bạn bè, đặc biệt là các thầy cô giáo và các cán bộ của Bộ môn Công nghệ và Quản lý xây dựng, Khoa Công trình, Trường Đại học Thủy lợi và Công ty TNHH thủy lợi Nghĩa Hưng
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tác giả xin bày tỏ longbiết ơn và ghi nhận sự động viên và giúp đỡ rất nhiềutừ vợ, các con, người thân và anh chị em trong gia đình
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, các phòng ban chuyên môn của Công ty TNHH Thủy lợi Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định đã không ngừng hỗ trợ, tạo điều kiện tốt nhất cho học viên trong quá trình học tập, làm việc vàthu thập tài liệu để thực hiện luận văn này
Hơn nữa, với tình cảm chân thành, học viên xin được bày tỏ lòng cảm ơn đến Ban giám hiệuvà toàn thể quý thầy cô giáo tham gia giảng dạy chương trình cao học Quản
lý xây dựng cho lớp 25QLXD21 đã truyền đạt các kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực quản lý xây dựng cho các học viên của lớp nói chung và tác giả nói riêng
Cuối cùng, tác giả xin được dành tình cảm đặc biệt để cảm ơn thầy TS Trần Văn Toản
đã tận tình hướng dẫn và định hướng cho nội dung luận văn của tác giả được hoàn chỉnh và có ý nghĩa khoa học
Do kinh nghiệm nghiên cứu và năng lực viết báo cáo khoa học, cũng như thời gian còn hạn chế nên luận văn của học viên khó tránh được những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô, các nhà khoa học, bạn bè đồng nghiệp để tác giả chỉnh sửa cho luận văn được hoàn thiện hơn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THI CÔNG XÂY DỰNG 5
1.1 Chất lượng công trình xây dựng 5
1.1.1 Công trình xây dựng 5
1.1.2 Vai trò của ngành xây dựng trong phát triển kinh tế xã hội 5
1.1.3 Chất lượng công trình xây dựng 6
1.2 Quản lý chất lượng công trình xây dựng 9
1.2.1 Tổng quan về quản lý chất lượng công trình xây dựng 9
1.2.2 Quản lý chất lượng trong thi công xây dựng công trình 10
1.3 Vai trò và ý nghĩa của quản lý xây dựng đối với chất lượng công trình xây dựng 11 1.4 Thực trạng quản lý chất lượng thi công xây dựng 12
1.4.1 Trên thế giới 12
1.4.2 Ở Việt Nam 16
1.4.3 Một số sự cố công trình do công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng 20
Kết luận chương 1 23
CHƯƠNG 2CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH 24
2.1 Cơ sở khoa học của công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng 24
2.1.1 Cơ sở lý thuyết 24
2.1.2 Cơ sở pháp lý 29
2.1.3 Cơ sở thực tiễn 33
2.2 Nội dung công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình 34
2.2.1 Quản lý chất lượng của nhà thầu 34
Trang 62.2.2 Quản lý chất lượng của chủ đầu tư 36
2.2.3 Quản lý chất lượng của Tư vấn thiết kế 36
2.2.4 Quản lý chất lượng của nhà nước 36
2.3 Các mô hình quản lý chất lượng 40
2.4 Phương thức quản lý chất lượng thi công công trình hiện nay 44
2.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng thi công xây dựng công trình 47
2.5.1 Các yếu tố kháchquan 47
2.5.2 Các yếu tố chủ quan 48
2.6 Kinh nghiệm quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình tại một số doanh nghiệp 52
Kết luận chương 2 54
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THI CÔNG XÂY DỰNG CHO CÔNG TY TNHH THỦY LỢI NGHĨA HƯNG, TỈNH NAM ĐỊNH 55
3.1 Giới thiệu về Công ty TNHH Thủy lợi Nghĩa Hưng 55
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 55
3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận 56
3.1.3 Năng lực, kinh nghiệm quản lý chất lượng thi công xây dựng của công ty 62
3.1.4 Mô hình quản lý chất lượng công trình xây dựng của Công ty 65
3.2 Thực trạng công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng của công ty TNHH thuỷ lợi Nghĩa Hưng 66
3.2.1 Mô hình quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình hiện hành 66
3.2.2 Những kết quả đã đạt được 70
3.2.3 Cơ cấu tổ chức quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình 71
3.2.4 Các tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 72
3.3 Đánh giá năng lực quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình của Công ty TNHH Thủy lợi Nghĩa Hưng 74
3.3.1 Năng lực cán bộ 74
3.3.2 Cơ sở vật chất 75
3.3.3 Năng lực tổ chức 75
3.3.4 Năng lực quản lý chất lượng hiện trường 75
Trang 73.3.5 Năng lực thực hiện nghiệm thu và thanh quyết toán 76
3.3.6 Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin 76
3.3.7 Năng lực quản lý thông tin và phối hợp với các bên liên quan 77
3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục các hạn chế để nâng cao công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng cho Công ty TNHH thủy lợi Nghĩa Hưng 77
3.4.1 Hoàn thiện phương thức tổ chức quản lý chất lượng thi công xây dựng 78
3.4.2 Hoàn thiện công tác giám sát, quản lý chất lượng tại hiện trường 82
3.4.3Tăng cường năng lực quản lý chất lượng và cơ sở vật chất cho cán bộ giám sát 84
3.4.4 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức của Ban QLDA tại công trường thi công 85
3.4.5 Công tác nghiệm thu, thanh quyết toán 87
3.4.6 Phối hợp các đơn vị tham gia 94
3.5 Kết luận chương 3 96
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97
Kết luận 97
Kiến nghị 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Sự cố vỡ đập hồ chứa nước Đầm Hà Động 20
Hình 1.2 Sự cố sạt lở mái kè đê sông Mã 20
Hình 1.3 Sự cố vỡ đập Z20 Hương Khê, Hà Tĩnh năm 2009 21
Hình 1.4 Sự cố vỡ đập thủy điện Ia Crel 2 Gia Lai năm 2013 22
Hình 2.1 Quan hệ giữa các bên trong quá trình thi công xây dựng công trình 37
Hình 2.2 Cơ cấu tổ chức nhân sự thi công công trình của một số doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Nam Định 53
Hình 3.1 Mô hình Công ty trực tiếp quản lý dự án 67
Hình 3.2 Sơ đồ bộ máy tổ chức Ban QLDA 72
Hình 3.3 Mô hình Ban QLDA của Công ty TNHH thuỷ lợi Nghĩa Hưng đề xuất 78
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Bảng các thiết bị, máy móc của Công ty 63Bảng 3.2 Các công trình do công ty TNHH thủy lợi Nghĩa Hưng thực hiện từ 2012 đến nay 64
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nam Định là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng và nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ Nam Định có vị trí địa lý phía Bắc giáp tỉnh Hà Nam, phíaTây giáp tỉnh Ninh Bình, phía Đông giáp tỉnh Thái Bình, phía Nam giáp biển Đông Thành phố Nam Định nằm cách trung tâm Hà Nội 90 Km về phía Đông Nam Nam Định có mạng lưới sông ngòi dày đặc, mật độ mạng lưới sông khá cao, có hai hệ thống sông lớn chảy qua gồm sông Đào và sông Thái Bình Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của đất nước, Nam Định cũng đang thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa các ngành kinh tế mũi nhọn Có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất được thành lập nhằm đẩy mạnh ngành công nghiệp
Cùng với sự biến đổi khí hậu của toàn cầu, với sự lên xuống thất thường của mực nước sông, bão lụt, hạn hán, tình trạng xâm nhập mặn ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người dân Hơn nữa, các công trình thủy lợi góp phần phòng chống và giảm nhẹ thiên tai được xây dựng từ trước những năm 1970, sau khi đưa vào vận hành khai thác đã bị
hư hỏng, xuống cấp khá nghiêm trọng Vậy nên, vấn đề xây dựng các kè sông, các trạm bơm tưới tiêu nước đã được UBND tỉnh Nam Định đặc biệt quan tâm, thường xuyên có những dự án tu bổ, sửa chữa nâng cấp, hay làm mới hệ thống đê sông, trạm bơm điện, kiên cố hóa kênh mương,… nhằm đáp ứng yêu cầu tưới tiêu nước, phòng chống lụt bão, đảm bảo dân sinh và phát triển kinh tế Vì vậy, chất lượng xây dựng công trình đê biển, đê sông và các trạm bơm điện có đáp ứng được yêu cầu, mục tiêu
và nhiệm vụ đã đề ra hay không? thì có vai trò rất quan trọng của công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng của các cơ quan quản lý
Đề tài “Nghiên cứu giải pháphoàn thiện công tác quản lý chất lượng thi công xây
dựng cho Công ty TNHH Thủy Lợi Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định”có ý nghĩa khoa
học và thực tiễn để góp phần nâng cao công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng các công trình hiện nay của Việt Nam nói chung và tỉnh Nam Định nói riêng
Trang 122 Mục đíchnghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu tổng quan về chất lượng sản phẩm xây dựng, vai trò và nội dung của công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng, cơ sở khoa học về quản lý chất lượng công trình xây dựng, các nội dung của công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thi công công trình xây dựng,
… tác giả đánh giá được thực trạng công tác quản lý chất lượng thi công công trình xây dựng của Công ty TNHH thủy lợi Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp khắc phục các hạn chế, tồn tại và phát huy các điểm mạnh phù hợp và khả thi với điều kiện thực tiễn công tác quản lý chất lượng thi công công trình xây dựng, góp phần hoàn thiện công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng cho Công ty TNHH thủy lợi Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng nói chung và chất lượng thi công công trình xây dựng nói riêng
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là một số công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Nam Định do Công ty TNHH thủy lợi Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định làm chủ đầu tư
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Điều tra, thu thập tài liệu, văn bản liên quan đến công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng từ khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư đến khai thác, vận hành dự
án Tiếp cận để tìm hiểu thực trạng công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng hiện hành ở Công ty TNHH Thủy lợi Nghĩa Hưng
Để thực hiện được nội dung nghiên cứu trong luận văn này, tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học sau đây:
Phương pháp điều tra thu thập thông tin;
Phương pháp thống kê số liệu;
Phương pháp phân tích tổng hợp;
Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia
Trang 135 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
5.1 Ý nghĩa khoa học
Công ty TNHH thủy lợi Nghĩa Hưng trực thuộc UBND tỉnh Nam Định, cónhiệm vụ chính là quản lý các dự án công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Nam Định nói chung và trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng nói riêng Thực hiện chức năng quản lý dự án đầu tư xây dựng, tu bổ, sửa chữa, nâng cấp các công trình thủy lợi thuộc các nguồn vốn nhà nước khi được cấp có thẩm quyền quyết định giao nhiệm vụ Để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ này cần có những giải pháp khoa học trong công tác quản lý Luận văn hoàn thành sẽ góp phần giải pháp khoa học và hoàn thiện công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng các công trình thủy lợi cho Công ty TNHH Thủy lợi Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định Ngoài ra, khi luận văn hoàn thành thì các kết quả nghiên cứu cũng là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý chất lượng thi công các công trình xây dựng, cho học viên cao học và sinh viên ngành quản lý xây dựng
5.2 Ý nghĩa thực tế
Luận văn phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng thi công công trình xây dựng, đánh giá được thực trạng công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình thủy lợi của Công ty TNHH thủy lợi Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định để từ đó đưa ra được các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chất lượng thi công công trình thủy lợi nhằm nâng cao chất lượng thi công công trình và nâng cao hiệu quả công tác quản lý các dự
án mà Công ty TNHH Thủy lợi Nghĩa Hưng được giao nhiệm vụ
6 Kết quả đạt được
Luận văn được hoàn thành sẽ có một số kết quả dự kiến như sau:
Tổng quan được chất lượng sản phẩm xây dựng, vai trò và nội dung của công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng;
Trình bày được cơ sở khoa học về quản lý chất lượng công trình xây dựng, các nội dung của công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thi công công trình xây dựng;
Trang 14 Đánh giá được thực trạng công tác quản lý chất lượng thi công công trình xây dựng của Công ty TNHH thủy lợi Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định;
Đề xuất được một số giải pháp khắc phục các hạn chế, tồn tại và phát huy các điểm mạnh phù hợp và khả thi với điều kiện thực tiễn công tác quản lý chất lượng thi công công trình xây dựng, góp phần hoàn thiện công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng cho Công ty TNHH thủy lợi Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THI CÔNG XÂY DỰNG
1.1 Chất lượng công trình xây dựng
1.1.1 Công trình xây dựng
Công trình xây dựng là một sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình được liên kết định vị với nền đất, bao gồm phần trên và dưới mặt đất (phần ngầm)được xây dựng theo thiết kế đã được phê duyệt Công trình xây dựng gồm có công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, hạ tầng, nông nghiệp và phát triển nông thôn, thủy điện, năng lượng và các công trình khác
1.1.2 Vai trò của ngành xây dựng trong phát triển kinh tế xã hội
Công nghiệp xây dựng là một ngành sản xuất hàng hoá đầu tư, có nghĩa là các sản phẩm mới của nó được yêu cầu, không phải vì bản thân của các sản phẩm này mà vì các hàng hoá hoặc dịch vụ mà các sản phẩm này có thể tạo ra hoặc giúp cho tạo ra Ngành công nghiệp xây dựng giữ một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân bởi ba đặc thù chính là: ngành xây dựng có quy mô lớn nhất trong đất nước, ngành cung cấp phần lớn các hàng hoá đầu tư và Chính phủ là khách hàng của phần lớn các công trình của ngành
Ở nước ta, công nghiệp xây dựng là ngành sản xuất vật chất lớn nhất của nền kinh tế quốc dân, liên quan đến nhiều lĩnh vực trong xã hội Hàng năm xây dựng cơ bản tiêu tốn lượng vốn ngân sách và vốn đầu tư khác với tỷ lệ cao (giai đoạn 15 năm đổi mởi 1985– 2000 vốn đầu tư xây dựng cơ bản chiếm khoảng 25%÷26% GDP hàng năm Trong khi đó tỷ trọng sản phẩm xây dựng trong tổng sản phẩm quốc nội của một số nước theo thống kê năm 1989 là: các nước EU: 12,3%; CHLB Đức: 11,0%; Pháp: 11,4%; Anh: 10,1%; Mỹ: 8,7%; Canada 14,9%; Nhật: 19,3%) Xây dựng cơ bản giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước Bởi vì:
Xây dựng cơ bản nhằm đảm bảo và không ngừng nâng cao năng lực sản xuất, năng lực phục vụ cho các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân Tất cả các ngành
Trang 16kinh tế khác chỉ có thể phát triển được nhờ có xây dựng cơ bản, thực hiện xây dựng mới, nâng cấp các công trình về quy mô, đổi mới về công nghệ và kỹ thuật để nâng cao năng xuất và hiệu quả sản xuất;
Xây dựng cơ bản nhằm đảm bảo mối quan hệ tỷ lệ, cân đối, hợp lý sức sản xuất cho
sự phát triển kinh tế giữa các ngành, các khu vực, các vùng kinh tế trong từng giai đoạn xây dụng và phát triển kinh tế của đất nước Tạo điều kiện xoá bỏ dần sự cách biệt giữa thành thị, nông thôn, miền ngược, miền xuôi Nâng cao trình độ mọi mặt cho đồng bào các dân tộc;
Xây dựng cơ bản tạo điều kiện để nâng cao chất lượng, hiệu quả của các hoạt động
xã hội, dân sinh, quốc phòng thông qua việc đầu tư xây dựng các công trình xã hội, dịch vụ cơ sở hạ tầng ngày càng đạt trình độ cao Góp phần nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần cho mọi người dân trong xã hội;
Xây dựng cơ bản đóng góp đáng kể lợi nhuận cho nền kinh tế quốc dân Hàng nãm Ngành xây dựng đóng góp cho ngân sách nhà nước hàng nghìn tỷ đồng Giải quyết công ăn việc làm cho một lực lượng lớn lao động Đội ngũ cán bộ cồng nhân viên Ngành xây đựng đông đảo có khoảng hai triệu người, chiếm khoảng 6% lao động trong xã hội
Như vậy, ngành xây dựng giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Nó quyết định quy mô và trình độ kỹ thuật của xã hội của đất nước nói chung và sự nghiêp công nghiệp hoá hiện đại hoá trong giai đoạn hiện nay nói riêng Và cũng có thể kết luận rằng ngành xây dựng là một công cụ điều chỉnh sự phát triển của nền kinh tế đối với mỗi quốc gia [1]
1.1.3 Chất lượng công trình xây dựng
Nói đến chất lượng công trình CLCT xây dựng, xét từ góc độ bản thân sản phẩm xây dựng, CLCT xây dựng được đánh giá bởi các đặc tính cơ bản như: Công năng, tuân thủ các tiêu chuẩn về kỹ thuật, độ bền vững, tuổi thọ, tính thẩm mỹ, an toàn trong khai thác sử dụng, tính kinh tế và đảm bảo mục đích sử dụng công trình [2], [3]
Trang 17Hay nói cách khác, CLCT xây dựng là một quá trình hình thành sản phẩm xây dựng cùng với các vấn đề liên quan khác Một số vấn đề cơ bản liên quan đến CLCT xây dựng là:
CLCT xây dựng cần quan tâm ngay từ khi hình thành ý tưởng về mục đích đầu tư xây dựng công trình, từ khi xin chủ trương đầu tư, lập quy hoạch, lập dự án, đến khâu khảo sát thiết kế và thi công xây dựng cho đến khi kết thúc dự án xong đưa công trình vào khai thác, sử dụng và dỡ bỏ công trình sau khi đã hết thời gian sử dụng CLCT xây dựng được thể hiện ở chất lượng quy hoạch xây dựng, chất lượng dự án ĐTXD công trình, chất lượng khảo sát và chất lượng về các bản vẽ thiết kế kỹ thuật công trình, chất lượng thi công xây dựng công trình và chất lượng quản lý, vận hành và duy tu bảo trì công trình;
CLCT phải được hình thành từ chất lượng của nguyên vật liệu đầu vào, cấu kiện và chất lượng công việc xây dựng các hạng mục, bộ phận cấu thành công trình và tuân thủ quy trình thực hiện thi công tạo ra các sản phẩm xây dựng;
Các tiêu trí, tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng không chỉ thể hiện ở việc lấy mẫu, thiết
kế mẫu, kết quả thí nghiệm, kiểm định nguyên vật liệu và máy móc thiết bị đưa vào sử dụng tại công trình mà còn thực hiện ở các bước như công nghệ thi công, chất lượng các công việc và đội ngũ công nhân, kỹ thuật, kỹ sư lao động trong quá trình diễn ra các hoạt động xây dựng;
Chất lượng công trình thi công xây dựng luôn luôn gắn liền với an toàn công trình,
an toàn trong quá trình quản lý, khai thác và sử dụng mà nó phải đảm bảo an toàn trong quá trình thi công xây dựng đối với bản thân công trình, với đội ngũ công nhân,
kỹ sư cùng các trang thiết bị trong khu vực xây dựng công trình;
Thời gian xây dựng không chỉ thể hiện ở thời hạn hoàn thành toàn bộ các hạng mục công trình để đưa vào khai thác, sử dụng mà còn thể hiện ở việc đáp ứng theo tiến độ
đã được ký kết;
Giá trị xây dựng không chỉ thể hiện ở số tiền quyết toán công trình do chủ đầu tư phải chi trả mà còn thể hiện ở góc độ đảm bảo lợi nhuận cho các nhà đầu tư thực hiện
Trang 18các hoạt động dịch vụ xây dựng như lập dự án, khảo sát thiết kế, thi công xây dựng, Ngoài ra, CLCT xây dựng cần chú ý đến yếu tố môi trường trong quá trình hình thành dự án
Tóm lại: CLCT xây dựng là đáp ứng các yêu cầu đặt ra trong điều kiện nhất định Nó
thể hiện sự phù hợp về quy hoạch đạt được độ tin cậy từ khâu thiết kế đến thi công xây dựng công trình, vận hành theo tiêu chuẩn, quy định đã định trước và nó có tính xã hội, thẩm mỹ, hiệu quả đầu tư Đặc biệt, nó thể hiện được tính đồng bộ trong công trình và thời gian thi công xây dựng đúng tiến độ
Chất lượng sản phẩm xây dựngtác động trực tiếp đến phát triển kinh tế toàn xã hội và đời sống con người Đặc biệt, ở nước ta hiện nay nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, các doanh nghiệp và nhân dân chiếm tỷ trọng khá lớn trong thu nhập nền kinh tế quốc dân Chính vì vậy, để quản lý chất lượng sản phẩm xây dựng trên phạm vi toàn quốc, các cơ quan quản lý Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp quy như Luật, Nghị định, Thông tư hướng dẫn, các tiêu chuẩn, quy chuẩn và quy phạm về xây dựng
cơ bản nhằm chuẩn hóa pháp lý về chất lượng, quy trình tạo rasản phẩm xây dựng Chủ đầu tư hoặcBan quản lý dự án, các tổ chức tư vấn (khảo sát, thiết kế, thẩm định, giám sát) và nhà thầu thi công xây dựng là 3 chủ thể trực tiếp quyết định chất lượng sản phẩm xây dựng Công trình nào có 3 chủ thể có trình độ, năng lực chuyên môn tốt đểquản lý về xây dựng cơ bản, tuân thủ đầy đủ các quy định hiện hành của nhà nước
về quản lý chất lượng sản phẩm xây dựng và thực hiện đầy đủ các điều khoản trong hợp đồng kinh tế, đặc biệt trong trường hợp các tổ chức này độc lập, chuyên nghiệp cao thì tại đó chất lượng sản phẩm xây dựng rất tốt và ngược lại
Chủ đầu tư, Ban quản lý dự án là đơn vị chủ động về nguồn vốn bỏ ra để đặt hàng công trình xây dựng - họ là chủ thể đưa ra các yêu cầu về kỹ, mỹ thuật, chất lượng cho các nhà thầu trong quá trình thực hiện từ lập dự án, khảo sát, thiết kế, đến giai đoạn triển khai thi công xây dựng vận hành bảo trì Vì vậy, họ là chủ thể đặc biệt quan trọng đểquyết định về chất lượng công trình xây dựng
Đối với dự án xây dựng công trình có vốn của các chủ thể làtư nhân hoặc vốn nước ngoài thì các công trình xây dựng thường có chất lượng tốt do công tácquản lý chất
Trang 19lượng được quan tâm ngay từ khi thực hiện quá trình thẩm định, duyệt hồ sơ thiết kế đến thi công xây dựng, bảo trì và nhanh chóng ra các quyết định kịp thời để đảm bảo chất lượng cho công trình xây dựng Trừ một số công trình nhỏ thì họ tự quản lý, còn lại đa số các dự án họ đều thuê tổ chức tư vấn chuyên nghiệp để thực hiện công tác quản lý chất lượng công trình trong suốt thời gian thực hiện dự án
Trong trường hợp vốn đầu tư là nguồn vốn của Nhà nước thì chủ đầu tư là ai? Các chủ đầu tư hiện nay không phải là chủ thể bỏ tiền vốn ra đầu tư mà thực chất là do Nhà nước uỷ nhiệm để quản lý nguồn vốn đầu tư xây dựng công trình, họ được thành lập thông qua các quyết định hành chính.Thực trạng hiện nay, rất nhiều chủ đầu tư không
có đủ năng lực, kinh nghiệm, trình độ, thiếu hiểu biết về xây dựng cơ bản, nhiều trường hợp làm việc kiêm nhiệm, … nên công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng còn hạn chế và bất cập
Vì vậy,hiện nay đã có nhiều đề nghị tách chức năng chủ đầu tư là chủ thể của tiền vốn nhà nước và đồng thời là chủ thểtrực tiếp quản lý sử dụng công trình với tư vấn quản
lý dự án “là một đơn vị làm thuê” thông qua ký kết hợp đồng kinh tế Tổ chức tư vấn quản lý dự án, tư vấn giám sát là tổ chức chuyên nghiệp, độc lập trừ các dự án có quy
mô nhỏ, có đơn kết cấu đơn giản để đảm bảo chất lượng công trình xây dựng tốt hơn
1.2 Quản lý chất lượng công trình xây dựng
1.2.1 Tổng quan về quản lý chất lượng công trình xây dựng
Quản lý chất lượng công trình xây dựngQuản lý CLCT xây dựng là tập hợp các hoạt động quản lý các bước tạo ra sản phẩm xây dựng thông qua các biện pháp kiểm tra, kiểm soát về chất lượng thực hiện các khâu và quy trình tạo ra sản phẩm xây dựng dựa trên các mục tiêu mà CĐT đặt ra và các quy định của Nhà nước
Hay nói cách khác quản lý CLCT xây dựng là tập hợp các hoạt động của cơ quan, đơn
vị có chức năng quản lý thông qua việc kiểm tra, kiểm soát chất lượng, cải tiến kỹ thuật được thực hiện trong ba khâu chính như chuẩn bị đầu tư công trình, thực hiện đầu tư công trình, kết thúc xây dựng công trình để đưa vào khai thác và sử dụng
Công tác quản lý CLCT xây dựng chủ yếu là công tác giám sát của CĐT hoặc các chủ thể khác ta gọi chung là công tác giám sát xây dựng Nội dung công tác giám sát và tự
Trang 20giám sát của các chủ thể có thể thay đổi tùy thuộc theo nội dung của HĐXD Có thể tóm tắt nội dung hoạt động của các chủ thể giám sát trong từng giai đoạn của dự án xây dựng gồm:
Giai đoạn khảo sát: Ngoài sự giám sát của CĐT, Ban QLDA nhà thầu khảo sát xây dựng phải có bộ phận chuyên trách tự giám sát công tác khảo sát;
Giai đoạn thiết kế: Nhà thầu tư vấn thiết kế tự giám sát sản phẩm thiết kế theo các quy định và chịu trách nhiệm trước CĐT, Ban QLDA và pháp luật về chất lượng thiết
kế XDCT Sau khi CĐT, Ban QLDA nghiệm thu sản phẩm thiết kế và chịu trách nhiệm về các bản vẽ thiết kế giao cho nhà thầu;
Giai đoạn thi công XDCT: Có các hoạt động QLCL và tự giám sát của nhà thầu thi công xây dựng công trình; giám sát thi công XDCT và công tác nghiệm thu của CĐT; Ban QLDA, giám sát tác giả của nhà thầu thiết kế XDCT, đặc biệt ở một số dự án có
sự tham gia giám sát của cộng đồng;
Giai đoạn bảo hành công trình CĐT, Ban QLDA và chủ sở hữu hoặc chủ quản lý sử dụng công trình có trách nhiệm kiểm tra tình trạng CTXD, phát hiện kịp thời hư hỏng
để yêu cầu nhà thầu sửa chữa và thay thế
Trong quá trình giám sát, tự giám sát của các chủ thể, quá trình triển khai XDCT còn
có sự tham gia giám sát của người dân khu vực xây dựng và các cơ quan QLNN về CLCT xây dựng
Tất cả các hoạt động giám sát đã được nêu trên đều góp phần đảm bảo chất lượng CTXD Quá trình hoạt động giám sát được thể hiện thông qua hồ sơ QLCL, bao gồm các văn bản phê duyệt, biên bản nghiệm thu và thiết lập bản vẽ hoàn công, nhật ký giám sát của CĐT, Ban QLDA và nhật ký công trường của nhà thầu xây dựng, việc thực hiện các hoạt động giám sát về chất lượng, lập và lưu trữ hồ sơ QLCL được gọi chung là công tác QLCL
1.2.2 Quản lý chất lượng trong thi công xây dựng công trình
Hoạt động quản lý CLCT xây dựng trong giai đoạn thi công chủ yếu là công tác giám sát, kiểm soát chất lượng của nhà thầu, giám sát của CĐT (có thể là TVGS) và các
Trang 21thành phần chủ thể khác
Trong giai đoạn thi công xây dựng công trình thì hoạt động QLCL có hoạt động tự giám sát của nhà thầu thi công xây dựng công trình; giám sát thi công XDCT và công tác nghiệm thu của CĐT; Ban QLDA, giám sát tác giả của nhà thầu thiết kế XDCT, đặc biệt ở một số dự án có sự tham gia giám sát của cộng đồng
1.3 Vai trò và ý nghĩa của quản lý xây dựng đối với chất lượng công trình xây dựng
Công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng có vai trò và ý nghĩa to lớn đối với nhà nước, CĐT, Ban QLDA, nhà thầu thi công xây dựng trong việc đảm bảo chất lượng công trình xây dựng trước khi bàn giao cho cộng đồng, cụ thể như:
Đối với Nhà nước: Công tác QLCL thi công xây dựng được đảm bảo sẽ tạo được sự
ổn định trong toàn xã hội, tạo được niềm tin đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào các lĩnh vực xây dựng, hạn chế được nhiều rủi ro;
Chủ đầu tư, Ban QLDA: Đảm bảo tính nâng cao chất lượng thi công công trình xây dựng, tiết kiệm được nguồn vốn do Nhà nước hoặc nhà đầu tư để góp phần nâng cao chất lượng của cuộc sống nhân dân, đảm bảo lòng tin của các tổ chức xã hội và người hưởng lợi đối với CĐT, Ban QLDA, góp phần phát triển mối quan hệ hợp tác lâu dài bền vững;
Nhà thầu thi công xây dựng: Việc đảm bảo chất lượng thi công công trình xây dựng gắn liền với tiết kiệm nguyên nhiên vật liệu, nhân công, máy móc thiết bị, đồng thời áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thi công xây dựng để nâng cao năng suất lao động
có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp xây dựng để đảm bảo đời sống cho cán bộ và công nhân Ngoài ra, chất lượng thi công xây dựng công trình gắn liền với an toàn công trình, thiết bị và nhân lực của nhà thầu trong quá trình suốt quá trình thi công xây dựng để đảm bảo cho việc duy trì, nâng cao uy tín, thương hiệu cũng như phát triển bền vững của nhà thầu thi công xây dựng
Hơn nữa, công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng là một vấn đề sống còn được Nhà nước và cộng đồng đặc biệt quan tâm Nếu công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng thực hiện tốt sẽ hạn chế rủi ro sự cố công trình, tuổi thọ công trình được kéo dài, đáp ứng thời gian quy định, phát huy hết hiệu quả của dự án đã được đầu tư xây
Trang 22dựng Vì vậy, việc nâng cao công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng không những tiết kiện được kinh phí trong xây dựng mà còn góp phần vào công cuộc phòng, chống tham nhũng và ngăn ngừa thất thoát trong xây dựng cơ bản
Thực tế cho thấy, ở đâu tuân thủ nghiêm ngặt những quy định của Nhà nước về xây dựng cơ bản nói chung, quản lý chất lượng công trình nói riêng thì ở đó CLCT rất tốt
và hạn chế được mọi tiêu cực trong xây dựng CTXD khác với sản phẩm hàng hoá thông thường, CTXD có phạm vi ảnh hưởng tương đối lớn và được thực hiện trong một thời gian nhất định tùy thuộc vào từng loại và cấp công trình CTXD thường có nhiều người tham gia, gồm nhiều vật liệu tạo thành sản phẩm, thường xuyên chịu ảnh hưởng, tác động của thời tiết và điều kiện tự nhiên khác Cũng vì đặc điểm đó, mà việc nâng cao công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng là rất cần thiết và cấp bách hiện nay, vì vậy nếu xảy ra sự cố thì sẽ gây ra tổn thất vô cùng lớn về người và của cải, đồng thời sẽ có tác động xấu đến môi trường sinh thái và có những hậu quả to lớn khó khắc phục
Nâng cao được chất lượng thi công xây dựng sẽ góp phần nâng cao chất lượng công trình xây dựng và nâng cao chất lượng đời sống cho người hưởng lợi Công trình thi công xây dựng phải có chất lượng tốt, hạn chế được những sự cố đáng tiếc xảy ra sẽ tiết kiệm được đáng kể nguồn ngân sách của quốc gia góp phần tái đầu tư và bổ sung đầu tư vào các dự án tiếp theo
1.4 Thực trạng quản lý chất lượng thi công xây dựng
1.4.1 Trên thế giới
1.4.1.1 Nhật Bản
Nhật Bản quản lý rất chặt chẽ việc thực hiện quản lý chất lượng Ngay từ khi bắt đầu triển khai thi công, CĐT phải thỏa mãn các yêu cầu về mặt bằng xây dựng, an toàn, phòng chống cháy nổ, giao thông, môi trường thì mới được cơ quan quản lý về xây dựng phê duyệt Nhật Bản có một hệ thống quy phạm pháp luật quy định chặt chẽ công tác giám sát thi công và cơ cấu hệ thống kiểm tra
Ở Nhật Bản, công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng tại công trường góp phần quan trọng vào đảm bảo chất lượng CTXD Quản lý chất lượng thi công tại công
Trang 23trường gồm giám sát thi công và kiểm tra công tác thi công xây dựng, với những nội dung về sự phù hợp các điều kiện hợp đồng, tiến trình thi công, độ an toàn lao động Việc kiểm tra được thực hiện ở những hạng mục cụ thể, từ chất lượng, kích thước của các cấu kiện bê tông đúc sẵn, lắp dựng cốt thép cho kết cấu bê tông cũng như kiểm tra kết quả thực hiện công tác xử lý nền đất mền yếu, đường kính và chiều dài của các cọc sâu
Ở Nhật Bản, bảo trì được coi là một trong những khâu đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm chất lượng, tăng cường độ bền của công trình cũng như giảm thiểu chi phí vận hành Bảo trì được quy định chặt chẽ bằng hệ thống các Luật, văn bản quy phạm pháp luật, bắt buộc chủ sở hữu và người sử dụng công trình có trách nhiệm bảo trì và cập nhật thường xuyên cần phải tuần thủ về công trình Khi một khiếm khuyết về công trình được phát hiện thì chủ sở hữu (hoặc người sử dụng) phải khẩn trương sửa chữa
và báo cáo kết quả với cơ quan có thẩm quyền để kiểm tra
Việc bảo trì định kỳ sẽ do người có trình độ chuyên môn thực hiện và đều được báo cáo đầy đủ với cơ quan chức năng Công tác bảo trì được thực hiện đối với tất cả các hạng mục như phòng cháy chữa cháy, hệ thống cấp nước, điều hòa cũng như các thiết
bị điện Người kiểm tra có trách nhiệm kiểm tra chi tiết đến từng bộ phận cần bảo trì
và chịu trách nhiệm đối với kết quả công tác bảo trì đó
1.4.1.2 Liên bang Nga
Luật xây dựng đô thị của Liên bang Nga quy định khá cụ thể về quản lý chất lượng xây dựng Theo đó, tại Điều 53 của Luật này, việc quản lý chất lượng xây dựng được tiến hành trong quá trình xây dựng, cải tạo, sửa chữa các công trình XDCB từ đó nhằm kiểm tra sự phù hợp của các công việc được hoàn thành với hồ sơ thiết kế, với các quy định trong nguyên tắc kỹ thuật, các kết quả khảo sát công trình và các quy định về sơ
đồ mặt bằng xây dựng trên khu đất
Quản lý chất lượng xây dựng được tiến hành đối với đối tượng xây dựng Chủ xây dựng hoặc bên đặt hàng có thể thuê người thực hiện việc chuẩn bị hồ sơ thiết kế để kiểm tra về sự phù hợp của các công việc đã hoàn thành so với hồ sơ thiết kế Bên thực hiện xây dựng có trách nhiệm thông báo cho các cơ quan quản lý chât lượng xây dựng của nhà nước về từng trường hợp xuất hiện các sự cố trên công trình xay dựng
Trang 24Việc quản lý, giám sát phải được tiến hành ngay trong quá trình thi công xây dựng, căn cứ vào công nghệ kỹ thuật xây dựng, trên cơ sở đánh giá xem công trình đó có bảo đảm an toàn hay không Việc giám sát không thể diễn ra sau khi hoàn thành công trình Khi đã phát hiện thấy sai phạm về công việc, kết cấu, các khu vực kỹ thuật công trình, chủ xây dựng hay bên đặt hàng có thể yêu cầu giám sát lại sự an toàn về các kết cấu của các khu vực mạng lưới, bảo đảm kỹ thuật công trình sau khi loại bỏ những sai phạm đã có Các biên bản kiểm tra các công việc, kết cấu và các khu vực mạng lưới bảo đảm kỹ thuật công trình được lập chỉ sau khi đã khắc phục được các sai phạm Việc quản lý xây dựng của cơ quan nhà nước được thực hiện khi xây dựng các công trình XDCB mà hồ sơ thiết kế của các công trình đó sẽ được các cơ quan nhà nước thẩm định hoặc là hồ sơ thiết kế kiểu mẫu; cải tạo, sửa chữa các công trình xây dựng nếu hồ sơ thiết kế của công trình đó được cơ quan nhà nước thẩm định; xây dựng các công trình quốc phòng theo sắc lệnh của Tổng thống Liên bang Nga Những người có chức trách thực hiện quản lý chất lượng xây dựng nhà nước có quyền tự do ra vào đi lại tại các công trình xây dựng trong thời gian hiệu lực giám sát công trình xây dựng
1.4.1.3 Mỹ
QLCL CTXD theo quy định của pháp luật Mỹ rất đơn giản vì Mỹ dùng mô hình 3 bên
để QLCL CTXD Bên thứ nhất là các nhà thầu (thiết kế, thi công…) tự chứng nhận chất lượng sản phẩm của mình Bên thứ hai là khách hàng giám sát và chấp nhận về chất lượng sản phẩm có phù hợp với tiêu chuẩn các yêu cầu đặt hàng hay không Bên thứ ba là một tổ chức tiến hành đánh giá độc lập nhằm định lượng các tiêu chuẩn về chất lượng phục vụ cho việc bảo hiểm hoặc giải quyết tranh chấp Giám sát viên phải đáp ứng tiêu chuẩn về mặt trình độ chuyên môn, có bằng cấp chuyên ngành; chứng chỉ
do Chính phủ cấp; kinh nghiệm làm việc thực tế 03 năm trở lên; phải trong sạch về mặt đạo đức và không đồng thời là công chức Chính phủ
1.4.1.4 Pháp
Nước Pháp đã hình thành một hệ thống pháp luật tương đối nghiêm ngặt và hoàn chỉnh
về quản lý giám sát và kiểm tra chất lượng CTXD Ngày nay, nước Pháp có hàng chục công ty kiểm tra chất lượng công trình rất mạnh, đứng độc lập ngoài các tổ chức thi công xây dựng Pháp luật của Cộng hòa Pháp quy định các công trình có trên 300
Trang 25người hoạt động, độ cao hơn 28 m, nhịp rộng hơn 40 m, kết cấu cổng sân vườn ra trên
200 m và độ sâu của móng trên 30 m đều phải tiếp nhận việc kiểm tra giám sát chất lượng có tính bắt buộc và phải thuê một công ty kiểm tra chất lượng được Chính phủ công nhận để đảm đương phụ trách và kiểm tra chất lượng công trình
Ngoài ra, tư tưởng QLCL của nước Pháp là “ngăn ngừa là chính” Do đó, để QLCL các CTXD, Pháp yêu cầu bảo hiểm bắt buộc đối với các công trình này Các hãng bảo hiểm sẽ từ chối bảo hiểm khi CTXD không có đánh giá về chất lượng của các công ty kiểm tra được công nhận Họ đưa ra các công việc và các giai đoạn bắt buộc phải kiểm tra để ngăn ngừa các nguy cơ có thể xảy ra chất lượng kém Kinh phí chi cho kiểm tra chất lượng là 2% tổng giá thành Tất cả các chủ thể tham gia xây dựng công trình bao gồm CĐT, thiết kế, thi công, kiểm tra chất lượng, sản xuất bán thành phẩm, tư vấn giám sát đều phải mua bảo hiểm nếu không mua sẽ bị cưỡng chế Chế độ bảo hiểm bắt buộc đã buộc các bên tham gia phải nghiêm túc thực hiện quản lý, giám sát chất lượng
vì lợi ích của chính mình, lợi ích hợp pháp của Nhà nước và của khách hàng
1.4.1.5 Trung Quốc
Ở Trung Quốc bắt đầu thực hiện giám sát trong lĩnh vực xây dựng công trình từ những năm 1988 Vấn đề QLCL công trình được quy định trong Luật xây dựng Trung Quốc Phạm vi giám sát xây dựng các hạng mục công trình của Trung Quốc rất rộng, thực hiện ở các giai đoạn, như: giai đoạn nghiên cứu tính khả thi thời kỳ trước khi xây dựng, giai đoạn thiết kế công trình, thi công công trình và bảo hành công trình - giám sát các CTXD, kiến trúc Người phụ trách đơn vị giám sát và kỹ sư giám sát đều không được kiêm nhiệm làm việc ở cơ quan nhà nước Các đơn vị thiết kế và thi công, đơn vị chế tạo thiết bị và cung cấp vật tư của công trình đều chịu sự giám sát
Quy định chất lượng khảo sát, thiết kế, thi công công trình phải phù hợp với yêu cầu của tiêu chuẩn Nhà nước Nhà nước chứng nhận hệ thống chất lượng đối với đơn vị hoạt động xây dựng Tổng thầu phải chịu trách nhiệm toàn diện về chất lượng trước CĐT Đơn vị khảo sát, thiết kế, thi công chịu trách nhiệm về sản phẩm do mình thực hiện; chỉ được bàn giao công trình đưa vào sử dụng sau khi đã nghiệm thu Quy định
về bảo hành, duy tu công trình, thời gian bảo hành do Chính phủ quy định
Trang 26Đối với hai chủ thể quan trọng nhất là Chính quyền và các tổ chức cá nhân làm ra sản phẩm xây dựng, quan điểm của Trung Quốc thể hiện rất rõ trong các quy định của Luật xây dựng là “Chính quyền không phải là cầu thủ và cũng không là chỉ đạo viên của cuộc chơi Chính quyền viết luật chơi, tạo sân chơi và giám sát cuộc chơi”
1.4.1.6 Singapore
Chính quyền Singapore quản lý rất chặt chẽ việc thực hiện các dự án ĐTXD Ngay từ giai đoạn lập dự án, CĐT phải thỏa mãn các yêu cầu về quy hoạch xây dựng, an toàn, phòng, chống cháy nổ, giao thông, môi trường thì mới được cơ quan quản lý về xây dựng phê duyệt
Singapore không có đơn vị giám sát xây dựng hành nghề chuyên nghiệp Giám sát xây dựng công trình là do một kiến trúc sư, kỹ sư chuyên ngành thực hiện Họ nhận sự ủy quyền của CĐT, thực hiện việc quản lý giám sát trong suốt quá trình thi công xây dựng công trình Theo quy định của Chính phủ thì đối với cả 02 trường hợp Nhà nước đầu tư hoặc cá nhân đầu tư đều bắt buộc phải thực hiện việc giám sát Do vậy, các CĐT phải mời kỹ sư tư vấn giám sát để giám sát CTXD
Đặc biệt, Singapore yêu cầu rất nghiêm khắc về tư cách của kỹ sư giám sát Họ nhất thiết phải là các kiến trúc sư và kỹ sư chuyên ngành đã đăng ký hành nghề ở các cơ quan có thẩm quyền do Nhà nước xác định Chính phủ không cho phép các kiến trúc
sư và kỹ sư chuyên nghiệp được đăng báo quảng cáo có tính thương mại, cũng không cho phép dùng bất cứ một phương thức mua chuộc nào để môi giới mời chào giao việc Do đó, kỹ sư tư vấn giám sát thực tế chỉ nhờ vào danh dự uy tín và kinh nghiệm
của các cá nhân để được các CĐT giao việc
1.4.2 Ở Việt Nam
Qua quá trình hình thành và phát triển của công tác quản lý chất lượng ở Việt Nam đã trải qua rất nhiều thời kỳ, có nhiều thăng trầm lịch sử, luôn luôn thay đổi và phát triển
có thể được tổng hợp và khái quát như sau:
Thời kỳ trước năm 1954, theo các nhà nghiên cứu về lịch sử và luật thì ngay ở các triều Vua phong kiến ở nước ta cũng có quy định về một số điều nhằm phục vụ cho việc quản lý xây dựng, điều này được thể hiện trong Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia
Trang 27Long, nhưng nội dung chủ yếu là những quy định về xây dựng cung đình, xây dựng nhà cho Vua, quan và một số quy định về xây dựng đê điều và các công trình khác Trước năm 1954 nhìn chung Việt Nam còn rất nghèo nàn, lạc hậu, nhân dân không có
đủ cơm ăn áo mặc, nhà ở hầu như là nhà tranh vách đất Vì thế công tác quản lý chất lượng ở nông thôn là không có nhu cầu, công tác này chỉ đặt ra ở các đô thị lớn Tuy công tác xây dựng không lớn nhưng quy chế lại rất chặt chẽ, thể hiện ở một số văn bản
về quản lý chất lượng xây dựng trong thời Pháp thuộc và dưới chính thể ngụy quyền, như: Nghị định của Toàn quyền Đông Dương ngày 15/01/1903 về vấn đề xây dựng công trình công cộng; Nghị định ngày 15/6/1930 về việc trưng dụng đền bù đất các công trình vì mục đích công của Chính phủ Pháp nên đội ngũ viên chức thực thi pháp luật xây dựng khá thuận lợi Hiện tượng tiêu cực hầu như không xảy ra vì lương tháng của viên chức đủ để nuôi sống cả gia đình Chính vì vậy mọi người ý thức được rằng việc họ không chấp hành pháp luật sẽ gây ra thiệt hại rất nhiều
Thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1994, việc quản lý chất lượng xây dựngchủ yếu là sử dụng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp, nên việc quản lý chất lượng xây dựng
là theo cơ chế chỉ đạo tập trung.Thời kỳ này có những văn bản về quản lý CLXD như: Trước khi có một Nghị định tương đối toàn diện và đồng bộ về quản lý XDCB điển hình cho thời kỳ bao cấp (Nghị định 232/CP ngày 06/06/1981) thì CP đã có những văn bản số 354/TTg ngày 05/08/1957 về tăng cường quản lý kiến thiết cơ bản, Nghị định 64/CP ngày 19/11/1960 của CP ban hành Điều lệ cấp phát kiến thiết cơ bản, Nghị định 242/CP ngày 31/12/1971 của CP ban hành Điều lệ lập, thẩm tra và xét duyệt thiết kế công trình xây dựng và các Nghị định thông tư khác (số 50/CP ngày 01/04/1969, số 120-TTG ngày 19/11/1969, số 91-TTG ngày 10/9/1969, số 113-TTg ngày 25/3/1971,
số 217-TTG ngày 13/6/1975, số 385/HĐBT ngày 07/11/1990).Những văn bản về công tác quản lý chất lượng công trình của thời kỳ này có nội dung thể hiện đúng đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước, nhằm sử dụng nguồn vốn đầu tư có hiệu quả nhất
Thời kỳ từ năm 1994 đến nay, ngày 16/7/1996 Chính phủ ban hành Nghị định 42/CP
để thay thế Nghị định 177/CP ngày 20/10/1994 rồi sửa đổi, bổ sung Nghị định 42/CP bằng Nghị định 92/CP ngày 23/8/1997.Tốc độ ĐTXD công trình trong thập kỷ 90
Trang 28được phát triển mạnh, làm thay đổi hàng ngày bộ mặt của đất nước, tạo nhiều việc làm cho người lao động, cải thiện đời sống nâng cao vật chất và tinh thần văn hóa của nhân dân làm cho nền kinh tế nước ta tăng trưởng không ngừng Bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác quản lý chất lượng xây dựng cũng bộc lộ những tồn tại như phát triển không đồng bộ, quy hoạch tràn lan không chi tiết đầy đủ, cơ sở kỹ thuật hạ tầng
bị khập khiễng, chất lượng một số công trình không bảo đảm, vấn đề môi sinh môi trường, cảnh quan thiên nhiên và các di sản văn hóa lịch sử bị đe dọa nghiêm trọng
Do vậy, ngày 08/07/1999 CP đã ban hành Nghị định số 52/1999/NC-CP về Quy chế Quản lý đầu tư và xây dựng Và ngày 05/05/2000 CP đã phải ban hành Nghị định số 12/2000/NĐ-CP để sửa đổi bổ sung một số điều tại Nghị định 52/1999/NĐ-CP Những văn bản QLXD của ta đã cố gắng bám sát thực tiễn để đáp ứng sự phát triển mạnh mẽ của công tác ĐTXD nhưng chưa đoán trước và chưa đón đầu được những phát triển trong tương lai kể cả tương lai gần do đó phải luôn luôn thay đổi Ở một số lĩnh vực xuất hiện việc buông lỏng quản lý, ở một số lĩnh vực khác công tác quản lý lại đi quá mức cần thiết dẫn đến sự can thiệp vào nội bộ công việc của CĐT hoặc của các nhà thầu Cuối cùng, Luật xây dựng đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26/11/2003.Luật xây dựng là văn bản pháp luật cao nhất về xây dựng đã thể chế hóa các đường lối, chủ trương của Đảng trong lĩnh vực xây dựng; điều chỉnh toàn bộ các vấn đề có liên quan đến các hoạt động xây dựng và là cơ sở pháp lý chủ yếu để điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong hoạt động xây dựng Điều này đã giúp công tác quản lý chất lượng công trình trở nên
dễ dàng hơn rất nhiều Ngày 18/06/2014, Quốc hội đã ban hành Luật xây dựng số 50/2014/QH13 [3] để hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung những tồn tại trong Luật xây dựng
số 16/2003/QH11
Các năm gần đây, Việt Nam đang đẩy mạnh hội nhập với xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong toàn bộ các lĩnh vực, phải kể đến lĩnh vực quản lý chất lượng trong ĐTXD Công tác quản lý chất lượng trong ĐTXD có một tầm quan trọng và ngày càng trở nên phức tạp, đòi hỏi phải có sự phối hợp nhịp nhàng của nhiều cấp, nhiều ngành
và các bên liên quan Vì vậy để đáp ứng được nhu cầu XDCT của nước ta trong thời gian tới, cần phải đẩy mạnh công tác quản lý chất lượng xây dựng phát triển sâu rộng
và mang tính chuyên nghiệp hơn
Trang 29Đối với công tác đào tạo các đội ngũ cán bộ QLDA, tay nghề kỹ thuật của kỹ sư, công nhân lành nghề, áp dụng các trang thiết bị, kỹ thuật tiên tiến, hiện đại vào thi công, học tập kinh nghiệm quản lý, chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển trên thế giới, kết hợp việc ban hành các chính sách và các văn bản pháp quy tăng cường công tác quản lý chất lượng về xây dựng, chúng ta đã tự điều hành, quản lý nhiều dự án trọng điểm Quốc gia và vượt tiến độ như: Nhà máy thủy điện Lai Châu; Đập Cửa Đạt, Cao tốc Hà Nội - Lào Cai; Cao tốc Hà Nội - Hải Phòng đã góp phần cải thiện đời sống của nhân dân, nâng cao mức tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân
Trong quá trình quản lý chất lượng ở nước ta vẫn còn tồn tại một số vấn đề sau: Khả năng tài chính và biện pháp thi công của nhiều nhà thầu còn kém, việc lựa chọn nhà thầu thi công vẫn còn chứa nhiều yếu tố nhạy cảm, việc lựa chọn nhà trúng thầu dựa trên giá thấp nhất có thể ảnh hưởng đến chất lượng công trình; Chất lượng XDCT còn kém, chưa đáp ứng được yêu cầu về kỹ thuật; Công tác thanh, quyết toán chậm, nợ đọng về xây dựng cơ bản lâu ngày
Nguyên nhân do: CĐT thiếu vốn, việc phân bổ vốn cho các dự án đầu tư chưa hợp lý còn mang tính dàn trải, công tác quyết toán vốn đầu tư còn chậm; Nguồn nhân sự thường xuyên bị thay đổi, một số cán bộ còn hạn chế về năng lực, kinh nghiệm; Công tác đấu thầu ở một số dự án còn mang tính hình thức, không rõ ràng, vẫn đề để lọt những nhà thầu yếu kém không đáp ứng được yêu cầu, không đủ năng lực; Việc đền
bù, GPMB khiến người dân còn nhiều khúc mắc do giá cả và phương án tái định cư chưa hợp lý; Hiệu lực pháp lý của các văn bản luật còn yếu, còn chồng chéo, chưa có
sự thống nhất, phù hợp với thực tế, nhiều dự án không tuân thủ đúng các quy định về trình tự lập, thẩm tra, thẩm định, phê duyệt dự án và sự kết hợp các chính sách, kế hoạch của nhà nước trong việc đưa ra quyết định đầu tư
Nâng cao quản lý chất lượng là yếu tố đặc biệt quan trọng, đảm bảo dự án ĐTXD công trình đạt yêu cầu về kỹ thuật mỹ thuật, đảm bảo chất lượng, phù hợp với quy hoạch xây dựng, mang lại hiệu quả kinh tế, góp phần cho sự phát triển của nền kinh tế xã hội, tạo đà cho đất nước đi lên, phát triển mạnh mẽ Việc này đòi hỏi sự tham gia tích cực
và đồng bộ của các cấp, các ngành, sự vào cuộc của CĐT, nhà thầu và cả của cộng đồng dân cư trong suốt quá trình thực hiện xây dựng
Trang 301.4.3 Một số sự cố công trình do công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng
1.4.3.1 Sự cố vỡ đập hồ chứa nước Đầm Hà Động, Quảng Ninh năm 2014
Nguyên nhân ban đầu gây ra sự cố: Do mưa lớn kéo dài lũ về tràn đập Đầm Hà Động, gây vỡ đập phụ 2, hư hại nặng đập chính đang trong quá trình thi công (Hình 1.1) Nước đổ xuống hạ du đã gây thiệt hại lớn về sản xuất, đường giao thông và nhất là ngập nặng tại thị trấn Đầm Hà Tuy nhiên, không có thiệt hại về người[4]
Hình 1.1Sự cố vỡ đập hồ chứa nước Đầm Hà Động
1.4.3.2 Sự cố sạt lở mái kè đê sông Mã,tỉnhThanh Hóa vàonăm 2015
Hình 1.2Sự cố sạt lở mái kè đê sông Mã
Trang 31Nguyên nhân: Do chủ đầu tư - Ban QLDA, đơn vị thi công và đơn vị tư vấn giám sát chưa tuân thủ các quy định về công tác quản lý chất lượng đầu tư xây dựng và quản lý chất lượng công trình xây dựng Theo Hình 1.2 đoạn mái đê bị sụt lún do cán bộ Tập đoàn Đầu tư xây dựng Cường Thịnh là đơn vị thi công[5]
Theo bản vẽ thiết kế đã được phê duyệt thì mái đê được gia cố bằng đá hộc lát khan, phía trên là một lớp đá dăm đệm, chân đê gia cố bằng đá hộc thả rối, mặt trên là đá hộc lát khan Hiện tại các vị trí đã bị sụt lún không thấy lớp đá hộc mà chỉ có một lớplót đá dăm mỏng
1.4.3.3 Sự cố vỡ đập Z20 tại Hương Khê, Hà Tĩnh năm 2009
Nguyên nhân gây ra sự cố:Do đắp đất sét luyện xung quanh thân cống không được đảm bảo yêu cầu chống thấm Trong đó: thiết kế lỗi là không quy định cụ thể về chỉ tiêu đất đắp xung quanh cống, thi công không thực hiện đầy đủ quy trình đắp đất thủ công xung quanh cống và kiểm tra chất lượng đất đắp và không giám sát đầy đủ quá trình đắp quanh thân cống và lấy mẫu kiểm tra chất lượng
Ngoài ra, mái hố móng bờ trái đào quá dốc, không đảm bảo nối tiếp an toàn giữa thân đập và bờ trái Trong đó: thiết kế có lỗi khi không ghi chú rõ ràng yêu cầu làm chân khay ở đáy đập và rãnh thoát nước ở chân hạ lưu đập đoạn vai trái; thi công thì đào mái hố móng phía trái quá dốc, không theo đúng bản vẽ thiết kế, không làm chân khay
ở đáy đập và rãnh thoát nước ở hạ lưu chân đập đoạn vai trái và giám sát không phát hiện những sai sót khác của thi công so với thiết kế để xử lý kịp thời[6]
Hình 1.3Sự cố vỡ đập Z20 Hương Khê, Hà Tĩnh năm 2009
Trang 321.4.3.4 Sự cố vỡ đập thủy điện Ia Crel2 tại Gia Lai năm 2013
Hình 1.4Sự cố vỡ đập thủy điện Ia Crel 2 Gia Lai năm 2013 Nguyên nhân gây ra sự cố: Do hàng loạt sai phạm của chủ đầu tư cả trong thiết kế và thi công Đây là sự cố nghiêm trọng, vì trước đó công trình này đã từng bị vỡ đập Sau
sự cố lần đầu, Bộ Công thương và ngành chức năng tỉnh Gia Lai đã đồng ý cho chủ đầu tư - Công ty Cổ phần Công nghiệp - Thuỷ điện Bảo Long, xây dựng lại công trình, nhưng chỉ được tiến hành sau khi hoàn thành các thủ tục cần thiết Trong thời gian chờ được xây dựng lại, nghiêm cấm việc tích nước lòng hồ
Tuy nhiên, Công ty đã phớt lờ những chỉ đạo này, bất chấp cả những cảnh báo về vấn
đề an toàn hồ đập và địa phương cũng thiếu chặt chẽ, cương quyết trong giám sát, nên
đã dẫn đến sự cố vỡ đập lần hai[7]
Trang 33Kết luận chương 1
Trong chương 1 này, tác giả đã trình bày tổng quan về CLCT xây dựng nói chung và
về chất lượng thi công công trình xây dựng nói riêng Trong đó, tác giả cũng điểm lại vai trò và ý nghĩa của công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Đồng thời, tác giả cũng trình bày tổng quan về thực trạng công tác quản lý CLCT công trình xây dựng nói chung và CTTL nói riêng trên thế giới và ở nước ta hiện nay đang
có nhiều vấn đề tồn tại và hạn chế cần khắc phục
Đất nước ta đang trong giai đoạn phát triển nên hệ thống CTTL cũng đang được đầu tư mạnh mẽ và dần đến giai đoạn hoàn chỉnh Qua đánh giá tổng quan cho thấy, nhiều công trình đạt chất lượng cao, đảm bảo tiến độ, an toàn và phát huy hiệu quả đầu tư Bên cạnh những công trình đảm bảo chất lượng cũng còn nhiều công trình không đảm bảo chất lượng, hoặc chất lượng kém do những nguyên nhân chủ quan do con người và nguyên nhân khách quan bất khả kháng xảy ra
Để công tác QLCL các CTXD ở nước ta phát huy được hiệu quả hơn nữa, rất cần có một cơ chế chính sách của Nhà nước phù hợp, một môi trường pháp lý chặt chẽ, một đội ngũ tư vấn QLDA, tư vấn giám sát chuyên nghiệp, được đào tạo bài bản, một bộ phận các nhà thầu có năng lực thi công chất lượng tốt, có đạo đức nghề nghiệp và một môi trường đầu tư trong sạch, minh bạch, thông thoáng, tạo điều kiện để năng lực của các đơn vị tư vấn, các doanh nghiệp xây dựng được phát huy, góp phần nâng cao CLCT xây dựng nói chung và chất lượng CTTL nói riêng
Để có thể đánh giá được thực trạng và đề xuất được các giải pháp hoàn thiện công tác QLCL xây dựng các CTTL, tác giả tiến hành nghiên cứu cơ sở khoa học về QLCL CTXD, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thi công CTXD, đặc biệt là CTTL và các
mô hình QLCL Các nội dung này sẽ được tác giả làm rõ ở các chương tiếp theo
Trang 34CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH
2.1 Cơ sở khoa học của công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng
Trước tình hình phát triển kinh tế khu vực và trên thế giới hiện nay, việc hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật dựa trên cơ sở lý thuyết và phù hợp với thực tiễn Việt Nam để tạo ra một hành lang pháp lý chặt chẽ, quy định rõ ràng trong lĩnh vực QLCL công trình xây dựng là hết sức cần thiết và cấp bách Các văn bản về quy phạm pháp luật trong lĩnh vựcQLCL xây dựng luôn có sự điều chỉnh, bổ sung để đáp ứng yêu cầu thực tiễn và cũng tiến tới hội nhập khu vực và thế giới nhằm mang lại hiệu quả đầu tư, phòng tránh thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng công trình nói chung, công trình thủy lợi nói riêng Công tác quản lý CLCT xây dựng nói chung ở nước ta dựa trên cơ
sở khoa học sau:
2.1.1 Cơ sở lý thuyết
Chất lượng không tự nhiên sinh ra, nó là kết quả của sự tác động của hàng loạt yếu tố
có liên quan chặt chẽ với nhau Muốn đạt được chất lượng như mong muốn cần phải quản lý một cách đúng đắn các yếu tố này QLCL xây dựng là một khía cạnh của chức năng quản lý và thực hiện chính sách chất lượng Hoạt động quản lý chất lượng trong
lĩnh vực xây dựng được gọi là quản lý chất lượng xây dựngInvalid source specified
Theo quan điểm triết học, chất lượng là tính xác định bản chất nào đó của sự vật, hiện tượng, tính chất mà nó khẳng định, chính là cái đó chứ không phải là cái khác hoặc cũng nhờ nó mà nó tạo ra một sự khác biệt với một khách thể khác Chất lượng của khách thể không quy về những tính chất riêng biệt của nó mà gắn chặt với khách thể như một khối thống nhất bao chùm toàn bộ khách thể Theo quan điểm này thì chất lượng đã mang trong nó một ý nghĩa hết sức trừu tượng, nó không phù hợp với thực tế đang đòi hỏi
Một quan điểm khác về chất lượng cũng mang một tính chất trừu tượng là chất lượng theo quan điểm này được định nghĩa như là sự đạt một mức độ hoàn hảo mang tính chất tuyệt đối Chất lượng là một cái gì đó mà làm cho mọi người, mỗi khi nghe thấy đều nghĩ ngay đến một sự hoàn mỹ tốt nhất, cao nhất Như vậy, theo nghĩa này thì chất
Trang 35lượng vẫn chưa thoát khỏi sự trừu tượng của nó Đây là một khái niệm còn mang nặng tính chất chủ quan, cục bộ và quan trọng hơn, khái niệm này về chất lượng vẫn chưa cho phép ta có thể định lượng được chất lượng Vì vậy, nó chỉ mang một ý nghĩa nghiên cứu lý thuyết mà không có khả năng áp dụng trong kinh doanh và xây dựng Một quan điểm thứ 3 về chất lượng theo định nghĩa của W A Shemart, một nhà quản
lý người Mỹ, là người khởi xướng và đạo diễn cho quan điểm này đối với vấn đề về chất lượng và QLCL Shemart cho rằng “chất lượng sản phẩm trong sản xuất kinh doanh công nghiệp là một tập hợp những đặc tính của sản phẩm phản ánh giá trị sử dụng của nó”
So với những khái niệm trước đó về chất lượng thì ở khái niệm này, Shemart đã coi chất lượng như là một vấn đề cụ thể và có thể định lượng được Theo quan điểm này thì chất lượng sản phẩm sẽ là một yếu tố nào đó nó tồn tại trong các đặc tính của sản phẩm và vì tồn tại trong các đặc tính của sản phẩm nên chất lượng sản phẩm cao cũng đồng nghĩa với việc phải xác lập cho các sản phẩm những đặc tính tốt hơn, phản ánh một giá trị hoàn hảo cho sản phẩm Vì vậy, chi phí sản xuất sản phẩm cũng hoàn thiện, làm cho giá bán của sản phẩm ở một chừng mực nào đó khó được người tiêu dùng và
xã hội chấp nhận Bởi vậy, quan điểm về chất lượng này của Shewart ở một mặt nào
đó có một ý nghĩa nhất định nhưng nhìn chung đây là một quan điểm đã được tách rời chất lượng với người tiêu dùng và các nhu cầu của họ Nó không thể thoả mãn được các điều kiện về kinh doanh và khâu cạnh tranh trong bối cảnh thị trường hiện nay Theo quan điểm thứ 4 về chất lượng xuất phát từ phía nhà sản xuất Theo họ quan điểm này, chất lượng sản phẩm là sự đạt được và tuân thủ đúng những tiêu chuẩn, quy chuẩn và những yêu cầu về kinh tế, kỹ thuật đã được đặt ra từ trước, trong khâu thiết
kế sản phẩm Theo quan điểm này, chất lượng gắn liền với vấn đề công nghệ và đề caovai trò của công nghệ trong việc sản xuất ra một sản phẩm có chất lượng cao Quan điểm này cho rằng “chất lượng là một trình độ cao nhất mà một sản phẩm có được khi sản xuất”
Đặc biệt xuất phát từ nhà sản xuất nên khái niệm về chất lượng theo quan điểm này còn có nhiều bất cập Nó luôn đặt ra cho các nhà sản xuất những câu hỏi không dễ gì
Trang 36giải đáp được Thứ nhất, do đề cao yếu tố công nghệ trong vấn đề sản xuất mà quên đi rằng vấn đề sản phẩm có đạt được chất lượng cao hay không, chính là do người tiêu dùng nhận xét chứ không phải là do các nhà sản xuất nhận xét Dựa trên một số cơ sở không đầy đủ, thiếu tính thuyết phục, đó là công nghệ sản xuất của họ, thứ hai câu hỏi đặt ra cho các nhà sản xuất là họ lấy gì để đảm bảo rằng quá trình sản xuất được thực hiện trên công nghệ của họ không gặp một khó khăn, trở ngại nào hoặc gắp rắc rối nào trong suốt quá trình sản xuất ra một sản phẩm và một điều nữa, liệu công nghệ của họ
có còn thích hợp nữa hay không so với nhu cầu về các loại sản phẩm cả sản phẩm cùng loại và sản phẩm thay thế trên thị trường
Chính vì vậy, theo khái niệm về chất lượng này, các nhà sản xuất không tính đến những tác động luôn luôn thay đổi hoặc thay đổi một cách liên tục của môi trường kinh doanh
Để giải quyết khắc phục những hạn chế, tồn tại và những khuyết tật trong khái niệm trên buộc các nhà quản lý, các tổ chức, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phải đưa ra một khái niệm bao quát hơn, hoàn chỉnh hơn về chất lượng sản phẩm, chính khái niệm này một mặt phải đảm bảo được tính khách quan, mặt khác phải phản ánh được hiệu quả của sản xuất kinh doanh mà sản phẩm chất lượng cao sẽ mang lại cho doanh nghiệp, cho tổ chức đó Cụ thể hơn, khái niệm về chất lượng sản phẩm này phải thực
sự xuất phát từ hướng của người tiêu dùng Theo quan điểm này thì “chất lượng là sự phù hợp một cách tốt nhất, các yêu cầu, mục đích của người tiêu dùng” Trong khái niệm trên về chất lượng thì bước đầu tiên của một quá trình sản xuất kinh doanh phải
là việc nghiên cứu, tìm hiểu các nhu cầu người tiêu dùng về các loại sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ mà doanh nghiệp định cung cấp ra trên thị trường Nhu cầu của thị trường, người tiêu dùng luôn thay đổi đòi hỏi các tổ chức và các doanh nghiệp tham gia sản xuất kinh doanh phải liên tục đổi mới và cải tiến chất lượng để đáp ứng kịp thời thị hiếu, những thay đổi của nhu cầu, bối cảnh các điều kiện sản xuất kinh doanh Đây chính là sự đòi hỏi cơ bản và mang tính chất đặc trưng của nền kinh tế thị trường
và nó đã trở thành nguyên tắc chủ yếu nhất trong sản xuất kinh doanh hiện đại, trong thị trường ngày nay Tuy vậy, quan điểm trên đây về chất lượng sản phẩm vẫn còn
Trang 37những nhược điểm của nó Đó là sự thiếu chủ động trong các quyết định sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Ngoài các khái niệm đã nêu ở trên, còn một số khái niệm khác về chất lượng sản phẩm cũng được đưa ra nhằm bổ sung hỗ trợ cho các khái niệm đã được nêu ra trước đó Cụ thể theo các chuyên gia về chất lượng thì chất lượng bao gồm:
Sự phù hợp về các yêu cầu;
Sự phù hợp với công dụng;
Sự thích hợp khi đưa vào sử dụng;
Sự phù hợp với mục đích;
Sự phù hợp các tiêu chuẩn, quy chuẩn;
Cuối cùng là sự thoả mãn của người tiêu dùng
Như vậy, chất lượng sản phẩm mặc dù được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau dựa trên các cách tiếp cận khác nhau nhưng đều có một điểm chung nhất đó là sự phù hợp với yêu cầu sử dụng Với nhiều các khái niệm dựa trên các quan điểm khác nhau như trên nên ta cần phải xem chất lượng sản phẩm trong một thể thống nhất Các khái niệm trên mặc dù có phần khác nhau nhưng không loại trừ mà bổ sung cho nhau Cần phải hiểu khái niệm về chất lượng một cách có hệ thống mới đảm bảo và hiểu được một cách đầy đủ nhất, hoàn thiện nhất về chất lượng
Chính vì vậy, có thể hình thành khái niệm chất lượng sản phẩm xây dựng được tổng hợp lại là sự thoả mãn yêu cầu trên tất cả các phương diện như:
Tính năng của sản phẩm và dịch vụ đi kèm;
Giá cả thị trường phù hợp;
Tính an toàn và độ tin cậy cao
Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm xây dựng:
Trang 38Chỉ tiêu về chất lượng sản phẩm xây dựng mang đặc tính, định lượng của tính chất cấu thành hiện vật sản phẩm xây dựng Nó có nhiều các chỉ tiêu phản ánh về chất lượng sản phẩm xây dựng Chúng được phân thành hai loại sau:
Nhóm các chỉ tiêu không thể so sánh được;
Chỉ tiêu về công nghệ: Là những chỉ tiêu đặc trưng cho phương pháp, quy trình sản xuất nhằm tiết kiệm các yếu tố vật chất trong quá trình sản xuất sản phẩm (hạ thấp nhất các chi phí sản xuất) sản phẩm;
Chỉ tiêu về lao động học: Phản ánh được mối quan hệ giữa con người với sản phẩm, đặc biệt là sự thuận lợi trong sản phẩm đó đem lại cho người tiêu dùng trong quá trình
Trang 39 Chỉ tiêu về kinh tế: Đã phản ánh được các chi phí cần thiết từ khi thiết kế, chế tạo đến khi cung ứng sản phẩm ra thị trường và các chi phí liên quan sau khi tiêu dùng sản phẩm
Để đáp ứng sản xuất kinh doanh một sản phẩm nào đó các doanh nghiệp phải xây dựng được một hệ thống tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm của mình, phải đăng ký và được các cơ quan quản lý chất lượng sản phẩm Nhà nước phê duyệt Tuỳ thuộc vào mỗi loại sản phẩm, điều kiện của doanh nghiệp mà xây dựng tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm riêng Trong quá trình thực hiện doanh nghiệp phải đáp ứng các độ chuẩn hóa, thông số chất lượng đã đăng ký của sản phẩm, đây chính là cơ sở để kiểm tra, đánh giá sản phẩm sản xuất
Trên thực tế, việc đánh giá chất lượng của sản phẩm được căn cứ vào hệ thống các chỉ tiêu do Nhà nước công bố, các ban ngành ban hành hoặc do chính doanh nghiệp xây dựng Điều này đảm bảo cho việc kiểm tra, đánh giá được độ chính xác, tập trung, bảo
vệ quyền lợi của người tiêu dùng
2.1.2 Cơ sở pháp lý
Chất lượng công trình xây dựng không những có liên quan trực tiếp đến an toàn sinh mạng và an toàn cộng đồng, hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng công trình nó còn là yếu tố quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia Do vậy nó có vai trò quan trọng như vậy nên luật pháp về xây dựng của các nước trên thế giới đều coi
đó là mục đích mà công tác quản lý chất lượng thông qua hệ thống pháp luật hướng tới Ở Việt Nam hiện nay, Luật Xây dựng 2014 được Quốc Hội Khóa XIII thông qua ngày 18/6/2014, trong đó chất lượng công trình xây dựng cũng là nội dung trọng tâm
và xuyên suốt trong quá trình thực hiện dự án Luật Xây dựng và các văn bản hướng dẫn Luật về quản lý chất lượng công trình xây dựng đã và đang được hoàn thiện theo hướng hội nhập quốc tế; những mô hình quản lý chất lượng công trình tiên tiến cùng
hệ thống tiêu chí kỹ thuật cũng được áp dụng một cách có hiệu quả
Hệ thống các văn bản luật liên quan đến vấn đề công tác quản lý chất lượng công trình thi công xây dựng đó là:
Trang 402.1.2.1 Luật xây dựng số 50/2014/QH13
Phân biệt rõ các dự án đầu tư xây dựng sử dụng các nguồn vốn khác thì có phương thứcquản lý khác nhau
Đồng thời tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nướcmà chính
là cơ quan chuyên ngành Đặc biệt là việc kiểm tra, kiểm soát, quản lý chất lượng, chi phí xây dựng ở tất cả các khâu của quá trình đầu tư xây dựng, thông qua việc thẩm định dự án, thẩm định thiết kế kỹ thuật và lập dự toán, việc cấp phép xây dựng, quản
lý năng lực hành nghề xây dựng, kiểm tra công tác nghiệm thu công trình trước khi đưa công trình vào khai thác sử dụng, bàn giao
Đổi mới mô hình quản lý dự án theo hướng chuyên nghiệp hóa, áp dụng các mô hình Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực để quản lý tốt các dự án
có sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước
Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 là cơ sở pháp lý quan trọng để đưa các hoạt động đấu thầu, mua sắm sử dụng vốn Nhà nước dần đi vào nề nếp,góp phần thiết lập môi trường minh bạch, có tính cạnh tranh cao cho các hoạt động đấu thầu, phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo cơ sở để chủ đầu tư lựa chọn được nhà thầu có đủ uy tín, năng lực
và kinh nghiệm cung cấp hàng hóa, dịch vụ giúp tiếtkiệm nguồn vốn có hạn của Nhà nước
2.1.2.2 Văn bản dưới luật hướng dẫn Luật Xây dựng
Nghị định 46/2015/NĐ-CP ngày 12/05/2015 của Chính phủ hướng dẫn Luật Xây dựng về quản lý chất lượng công trình xây dựng trong công tác khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng; về bảo trì công trình xây dựng và giải quyết sự cố công trình xây dựng[2];
Nghị định 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ hướng dẫn Luật Xây dựng về lập, thẩm định, phê duyệt dự án; thực hiện dự án; kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng; hình thức và nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng[8];