Công tác quản lý, sử dụng, khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực, Nhà nước từng bước nắm được số lượng, chất lượng, hiện t
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học
Tác giả luận văn
Hoàng Đình Tráng
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn này tôi đã nhận được
sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, cá nhân, các cơ quan và các tổ chức Tôi xin được bầy tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Ban Giám hiệu trường Đại học Thủy lợi Hà Nội, các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế và Quản lý, các thầy cô giáo trong bộ môn Quản lý xây dựng, các cá nhân, các cơ quan và tổ chức đã quan tâm giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi đặc tôi xin chân thành cảm ơn TS Đặng Ngọc Hạnh, thầy đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Chi cục Thủy lợi tỉnh Hòa Bình, Ủy ban nhân dân các huyện và các xã thuộc huyện Lương Sơn, Kỳ Sơn, Yên Thủy; phòng Nông nghiệp và PTNT các huyện, Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường tỉnh Hòa Bình và bà con nhân dân đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra thực tế để nghiên cứu
đề tài và hoàn thành luận văn này
Qua đây, tôi xin chân thành cảm ơn những người thân và bạn bè đã chia sẻ cùng tôi những khó khăn, động viên và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi học tập, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ ix
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CÁC CÔNG TRÌNH NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN 5
1.1 Cơ sở lý luận 5
1.1.1 Một số khái niệm 5
1.1.2 Vai trò và đặc điểm của công trình nước sinh hoạt nông thôn 6
1.1.3 Hiệu quả quản lý và sử dụng công trình nước sinh hoạt nông thôn 7
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý và sử dụng công trình nước sinh hoạt nông thôn 9
1.1.4.1 Yếu tố về tự nhiên, xã hội 9
1.1.4.2 Yếu tố về công nghệ, năng lực 9
1.1.4.3 Yếu tố về con người, nguồn nước 10
1.1.4.4 Điều kiện thi công 10
1.2 Nội dung quản lý và sử dụng công trình nước sinh hoạt nông thôn 10
1.3 Nội dung và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý khai thác công trình nước sinh hoạt nông thôn 11
1.3.1 Nội dung đánh giá 11
1.3.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá 12
1.3.2.1 Hiệu quả trong quản lý 12
1.3.2.2 Hiệu quả trong sử dụng 12
1.3.2.3 Một số chỉ tiêu khác 12
1.4 Cơ sở thực tiễn 13
1.4.1 Thực tiễn quản lý và sử dụng công trình nước sinh hoạt nông thôn ở Việt Nam13 1.4.2 Hệ thống quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương 14
1.4.3 Hoạt động của các đơn vị tư vấn, sự nghiệp đã đạt được những kết quả nhất định 16
Trang 41.4.4 Hiệu quả của các công trình cấp nước tập trung nông thôn (CNTTNT) 16
1.4.5 Hiệu quả của các công trình cấp nước nhỏ lẻ 17
1.4.6 Một số chính sách về quản lý công trình nước sinh hoạt nông thôn hiện nay 17 1.5 Kinh nghiệm đầu tư, quản lý khai thác các công trình nước sạch nông thôn ở thế giới và Việt Nam 18
1.6 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 25
Kết luận chương 1 27
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CÔNG TRÌNH NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÒA BÌNH 28
2.1 Đặc điểm cơ bản của tỉnh Hòa Bình 28
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 28
2.1.1.1 Vị trí địa lý 28
2.1.1.2 Địa hình 29
2.1.1.3 Khí hậu, thời tiết, thủy văn 29
2.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 31
2.1.2.1 Đất đai và tình hình sử dụng đất đai 31
2.1.2.2 Tình hình nhân khẩu và lao động 33
2.1.2.3 Cơ sở hạ tầng của tỉnh 35
2.1.2.4 Tình hình phát triển kinh tế xã hội 36
2.2 Thực trạng công tác quản lý nước sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 38
2.2.1 Mô hình quản lý, khai thác 38
2.2.2 Phân cấp tổ chức quản lý, vận hành, khai thác công trình 39
2.2.2.1 Đối với những công trình cấp nước tập trung nông thôn được đầu tư xây dựng mới và công trình được đầu tư nâng cấp, mở rộng 39
2.2.2.2 Đối với những công trình hiện có 39
2.2.2.3 Đối với công trình do Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn quản lý 40
2.2.2.4 Đơn vị quản lý, vận hành, khai thác công trình cấp nước tập trung nông thôn do UBND cấp huyện quyết định thành lập 41
2.2.3 Trình độ, năng lực quản lý 42
2.2.4 Công tác kiểm tra, giám sát 45
2.3 Những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân tồn tại 46
Trang 52.3.1 Những kết quả đạt được 46
2.3.1.1 Kết quả công tác cấp nước trên địa bàn tỉnh 46
2.3.1.2 Theo dõi, đánh giá tình hình cấp nước nông thôn 47
2.3.1.3 Cơ chế, chính sách 49
2.3.1.4 Quy hoạch cấp nước nông thôn 50
2.3.2 Những tồn tại hạn chế 52
2.3.2.1 Công tác quản lý vận hành công trình còn yếu kém 52
2.3.2.2 Theo dõi, đánh giá chất lượng nước cấp chưa được quan tâm 54
2.3.2.3 Mô hình quản lý vận hành không chuyên nghiệp 54
2.3.3 Nguyên nhân tồn tại 55
Kết luận chương 2 57
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CÔNG TRÌNH NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÒA BÌNH 58
3.1 Định hướng đầu tư xây dựng và quản lý khai thác các công trình nước sinh hoạt nông thôn tại tỉnh Hòa Bình 58
3.1.1 Một số yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư và quản lý khai thác các công trình nước sinh hoạt nông thôn tại tỉnh Hòa Bình 58
3.1.2 Định hướng chiến lược phát triển cấp nước nông thôn trên địa bàn tỉnh 59
3.1.3 Mục tiêu xây dựng và quản lý các công trình cấp nước sạch nông thôn 60
3.2 Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý và sử dụng các công trình nước sinh hoạt nông thôn tại tỉnh Hòa Bình 61
3.2.1 Giải pháp ngắn hạn 61
3.2.1.1 Tăng cường kiểm tra, giám sát công tác quản lý vận hành 61
3.2.1.2 Mở các lớp tập huấn kỹ thuật vận hành công trình 62
3.2.1.3 Tuyên truyền, vận động người dân nâng cao ý thức trong bảo vệ công trình cấp nước sạch 62
3.2.1.4 Giải pháp tăng cường mối liên hệ giữa các cơ quan quản lý nhà nước với các tổ chức quản lý, vận hành công trình 62
3.2.2 Giải pháp dài hạn 63
3.2.2.1 Giải pháp về Hợp tác công tư trong quản lý khai thác các công trình NSNT 63
Trang 63.2.2.2 Giải pháp tư nhân hóa cung cấp NS&VSMTNT 68
3.2.3 Nhóm giải pháp về đầu tư các công trình nước sinh hoạt nông thôn 70
3.2.3.1 Giải pháp đối với các công trình xây dựng mới 70
3.2.3.2 Giải pháp đối với các công trình sửa chữa, nâng cấp 70
3.2.4 Nhóm giải pháp phát triển ứng dụng hệ thống thông tin nhằm nâng cao hiệu quả quản lý công trình nước sạch nông thôn 71
Kết luận chương 3 72
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH-HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
NSHNT Nước sinh hoạt nông thôn
NS&VSMTNT Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
VSMT Vệ sinh môi trường
UBND Uỷ ban nhân dân
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Diện tích các loại đất tỉnh Hòa Bình 32 Bảng 2.2: Hiện trạng dân số tỉnh Hòa Bình năm 2016 33 Bảng 2.3: Dân số trung bình phân theo nông thôn, thành thị năm 2016 34
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Hình ảnh về mô hình cấp nước sạch liên xã cho nông thôn tỉnh Nam Định (Nguồn: http://www.trungtamnuocsach.vn) 22 Hình 2.1: Vị trí địa lý tỉnh Hòa Bình 28 Hình 3.1 Mô hình hợp tác công tư trong quản lý vận hành công trình NSNT63 Hình 3.2 Mô hình tư nhân hóa cung cấp NS&VSMTNT 69
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Việt Nam là một quốc gia có nhiều hệ thống sông, suối, hồ, nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa Vì vây, tạo điều kiện thuận cho việc đảm bảo nguồn cung cấp nước sinh hoạt nông thôn, đặc biệt là các tỉnh miền núi phía bắc, góp phần cải thiện đời sống, nâng cao sức khỏe người dân, bảo đảm an sinh xã hội, phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn
Trong thời gian qua, Chính phủ đã tập trung nhiều nguồn lực để phát triển mạng lưới cấp nước sạch nông thôn, nhất là tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn Việc bảo vệ, sử dụng, khai thác hiệu quả, bền vững, gắn với huy động các nguồn lực ngoài ngân sách cùng Nhà nước đầu tư phát triển, khai thác công trình nước sạch là rất cần thiết
Công tác quản lý, sử dụng, khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực, Nhà nước từng bước nắm được số lượng, chất lượng, hiện trạng sử dụng, tình hình biến động của công trình để phục vụ công tác đầu tư, quản lý, khai thác, xác lập hồ sơ công trình và chủ thể được giao quản lý công trình, bước đầu xã hội hóa việc đầu tư, vận hành công trình nước sạch nông thôn Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện còn một số hạn chế dẫn đến nhiều công trình hoạt động không hiệu quả và xuống cấp nghiệm trọng Để tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng bền vững công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 35/CT-TTg ngày 27/12/2016 về tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng bền vững công trình cấp nước sạch
nông thôn tập trung
Trong những năm gần đây, tỉnh Hòa Bình đã tập trung chỉ đạo công tác nâng cấp và
quản lý các công trình cấp nước sạch nông thôn như: Công văn số
5829/VPUBND-NNTN Ngày 02/11/2017 của Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, về việc thực hiện Thông tư số 76/2017/TT-BTC; Yêu cầu Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chù trì, phối hợp với các Sở, ngành liên quan, UBND các huyện, thành phố khẩn trương
Trang 12thực hiện một số nội dung theo Thông tư 76/2017/TT-BTC ngày 26/7/2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của của Thông tư 54/2013/TT-BTC ngày 04/5/2013 của Bộ Tài chính quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung Đến nay một số công trình được xây mới sử dụng vốn vay của ngân hàng Thế giới (WB), ADB; vốn các tổ chức nước ngoài và các nguồn vốn khác của địa phương Tuy nhiên, hiệu quả quản lý và sử dụng khai thác các công trình cấp nước sạch nông thôn còn thấp, chỉ mới tập trung cho đầu tư mà chưa coi trọng công tác nâng cấp, quản lý khai thác, duy tu, bảo dưỡng công trình; việc giao các công trình cho các đơn vị quản lý còn nhiều hạn chế về năng lực tài chính, con người Dẫn đến nhiều công trình không đủ kinh phí để sữa chữa thường xuyên và sữa chữa định kỳ nên xuống cấp nghiêm trọng Mặt khác, là chưa làm rõ vai trò của người dân trong việc xây dựng, vận hành và quản lý công trình nước sạch, họ coi công trình nước sạch là của Nhà nước, chứ không phải là tài sản chung của cộng đồng mà trong đó họ là người
trực tiếp hưởng lợi
Xuất phát từ vấn đề lý luận và thực tế trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tăng cường công tác quản lý các công trình nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn tình Hòa Bình”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác quản lý và sử dụng các công trình nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, đề tài đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý các công trình nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn tỉnh
Trang 133 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý và sử dụng các công trình nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2013-2017
Cơ sở lý thuyết về công tác quản lý và sử dụng các công trình nước sinh hoạt nông thôn
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
+ Phạm vi về nội dung: Đề tài đi sâu đánh giá thực trạng công tác quản lý và sử dụng
các công trình nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn tỉnh Hoàn Bình, từ đó xác định các yếu tố ảnh hưởng, những thuận lợi khó khăn trong công tác quản lý và sử dụng các công trình nước sinh hoạt nông thôn Trên cơ sở đó, đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác quản lý và sử dụng các công trình nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn tỉnh
+ Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi tỉnh Hòa Bình
+ Phạm vi về thời gian: Số liệu thu thập của đề tài được lấy từ tài liệu đã công bố và số
liệu điều tra trong khoảng thời gian năm 2013-2017 Đề xuất giải pháp tăng cường cho giai đoạn 2018-2020
4 Nội dung nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý và sử dụng các công trình nước sinh hoạt nông thôn
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý và sử dụng các công trình nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
- Xác định những yếu tố ảnh hưởng, thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lý và sử dụng các công trình nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn tỉnh
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý và sử dụng các công trình nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn tỉnh
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 14- Điều tra khảo sát thực tế ở một số trung tâm cấp nước sạch nông thôn;
- Thu thập các văn bản về công tác quản lý, cơ chế tài chính;
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh;
- Phương pháp chuyên gia
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương, bao gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý các công trình nước sinh hoạt nông thôn
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý công trình nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
Chương 3: Đề xuất giải pháp tăng cường công tác quản lý công trình nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
Trang 15CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN
LÝ CÁC CÔNG TRÌNH NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm
- Công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung (sau đây gọi tắt là công trình): Là một hệ
thống gồm các công trình khai thác, xử lý nước, mạng lưới đường ống cung cấp nước sạch đến nhiều hộ gia đình hoặc cụm dân cư sử dụng nước ở nông thôn và các công trình phụ trợ có liên quan; bao gồm các loại hình: cấp nước tự chảy, cấp nước sử dụng bơm động lực, cấp nước bằng công nghệ hồ treo
- Công trình cấp nước bằng động lực: Là công trình sử dụng máy bơm, bơm nước vào
đường ống dẫn nước và phân phối nước
- Công trình cấp nước bằng trọng lực: Là công trình được sử dụng nước tự chảy, chảy
vào đường ống dẫn nước và phân phối nước
- Công trình cấp nước sạch nông thôn nhỏ lẻ: à công trình cấp nước cho một hoặc một vài
hộ gia đình sử dụng nước ở nông thôn; bao gồm các loại hình: công trình thu và chứa nước hộ gia đình, giếng thu nước ngầm tầng nông (giếng đào, giếng mạch lộ), giếng khoan đường kính nhỏ
- Nước sinh hoạt: Là nước có nguồn gốc tự nhiên hoặc đã qua xử lý có các chỉ tiêu đạt
Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt theo quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành do Bộ Y tế ban hành
- Nước hợp vệ sinh: Là nước được sử dụng trực tiếp hoặc sau lọc thỏa mãn các yêu cầu
chất lượng: Không màu, không mùi, không vị lạ, không chứa thành phần có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, có thể dùng để ăn uống sau khi đun sôi (Quyết định
số 2570/2012/QĐ-BNN ngày 22/10/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
- Nước ăn uống: Là nước tự nhiên hoặc đã qua xử lý có các chỉ tiêu đạt Quy chuẩn kỹ
thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống theo quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành do Bộ Y
tế ban hành
Trang 16- Mạng lưới cấp nước: Là hệ thống đường ống truyền dẫn nước sinh hoạt từ nơi sản xuất
đến nơi tiêu thụ
- Sửa chữa nhỏ: Là loại sửa chữa mang tính chất thường xuyên trong năm nhằm duy trì sự
hoạt động bình thường cho công trình
- Sửa chữa lớn: Là loại sửa chữa mang tính chất định kỳ nhằm bảo đảm công trình hoạt
động như công suất thiết kế
- Bảo trì công trình: Là tập hợp các hoạt động gồm: bảo dưỡng thường xuyên, sửa chữa
định kỳ và sửa chữa đột xuất nhằm duy trì tình trạng kỹ thuật và hoạt động bình thường của công trình
- Đơn vị quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng công trình cấp nước tập trung nông thôn:
Là cơ quan, tổ chức, đơn vị được Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) quyết định giao công trình để trực tiếp quản
+ Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp xã)
- Khách hàng sử dụng nước: Là tổ chức, cá nhân và hộ gia đình mua nước sinh hoạt của
đơn vị cấp nước
1.1.2 Vai trò và đặc điểm của công trình nước sinh hoạt nông thôn
Nước sạch đóng vai trò rất quan trọng đối với sức khỏe và cuộc sống của con người Nước sạch giúp cho con người duy trì cuộc sống hàng ngày bởi con người sử dụng nước sạch để cung cấp cho các nhu cầu ăn uống, hoặc sử dụng cho các hoạt động sinh hoạt như tắm rửa, giặt giũ, rửa rau, vo gạo Để thỏa mãn các nhu cầu vệ sinh cá nhân và sinh hoạt, mỗi người cần tới khoảng 120 lít nước/ngày Nước sạch không chỉ là trong, không màu, không mùi, không vị mà còn phải an toàn đối với sức khỏe của người sử dụng Nếu sử
Trang 17dụng nước không sạch thì sẽ ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe, vì nước là môi trường trung gian chuyển tải các chất hóa học và các loại vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng gây bệnh mà mắt thường không nhìn thấy được
Nước sạch là nước phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của con người như nước dùng để ăn, uống, tắm rửa, giặt, chuẩn bị nấu ăn, cho các khu vệ sinh, tưới đường, tưới cây…Loại nước này chiếm đa số trong các khu dân cư Hệ thống cấp nước sinh hoạt là phổ biến nhất
và chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số các hệ thống cấp nước hiện có Nưới dùng trong sinh hoạt phải đảm bảo các tiêu chuẩn về hóa học, lý học và vi sinh theo các yêu cầu của quy phạm
đề ra, không chứa các thành phần lý, hóa học và vi sinh ảnh hưởng đến sức khỏe của con người Đối với hệ thống cấp nước sinh hoạt hoàn chỉnh và hiện đại, nước ở bất kỳ điểm lấy nước nào trên mạng lưới đều là nước uống trực tiếp được Yêu cầu này thường đạt được ở các nước phát triển Ở nước ta, nước tại trạm sử lý nơi phát vào mạng lưới tại một
số công trình cấp nước cũng đạt được tiêu chuẩn vệ sinh cần thiết để có thể uống trực tiếp được, nhưng tại các nơi tiêu dùng nước chưa đảm bảo được độ tin cậy cần thiết do đường ống cũ nát, bị rò rỉ nhiều tại các mối nối và các phụ kiện
Nước chiếm tỷ trọng lớn trong cơ thể con người (70% -75%) Thiếu nước sẽ gây ra các bệnh về da, não, nội tiết Nước đưa các chất dinh dưỡng vào cơ thể và giúp thải các chất cặn bã ra ngoài để duy trì sự sống Nhu cầu nước uống cho một người là từ 1,5 đến 2,5 lít mỗi ngày Bộ y tế đã ban hành một số thông tư ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn về chất lượng nước như: Thông tư 05/2009/TT-BYT ngày 17/6/2009 ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt gồm 14 chỉ tiêu; Thông tư 04/2009/TT-BYT ngày 17/6/2009 ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống gồm
109 chỉ tiêu
1.1.3 Hiệu quả quản lý và sử dụng công trình nước sinh hoạt nông thôn
Trong những năm trước đây, các công trình cấp nước sạch nông thôn sau khi đầu tư xây dựng đều được bàn giao lại cho ủy ban nhân dân xã tổ chức quản lý theo các mô hình như thành lập tổ quản lý vận hành hoặc giao cho Hợp tác xã dịch vụ hoặc cộng đồng quản lý Tuy nhiên những mô hình này đã bộc lộ nhiều hạn chế như: công tác quản lý, bảo vệ công trình bị buông lỏng; phân công trách nhiệm không rõ ràng; năng lực chuyên môn nghiệp vụ của những người trực tiếp quản lý vận hành công trình
Trang 18chưa đáp ứng yêu cầu, chưa qua đào tạo chuyên môn, thiếu kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp; thiếu công cụ và phương tiện kiểm tra, xử lý các sự cố xảy ra trong quá trình vận hành; kinh phí hoạt động không được hạch toán độc lập và quyền tự chủ về tài chính không rõ ràng; không được xét nghiệm, kiểm tra và giám sát của cơ quan chuyên môn về chất lượng nước; mức lương của người tham gia quản lý vận hành công trình thấp nên không gắn bó trách nhiệm với công trình… khiến cho nhiều công trình hoạt động kém hiệu quả, nhanh xuống cấp thậm chí hư hỏng không còn sử dụng được, làm lãng phí nguồn vốn ngân sách Nhà nước, tạo ra dư luận xấu trong nhân dân
Để khắc phục những hạn chế đó, cùng với việc đẩy mạnh đầu tư xây dựng các công trình nước sạch cho khu vực nông thôn, nhiều địa phương từng bước tiến hành chuyển đổi mô hình quản lý vận hành với việc giao một số công trình cho các doanh nghiệp và Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn quản lý Ngay sau khi được giao quản lý, các đơn vị đã thành lập các trạm cấp nước để vận hành, khai thác công trình Hiện các trạm đang hoạt động ổn định, đảm bảo cung cấp nước sạch 24/24h cho người dân Nhiều hộ dân ban đầu còn lo ngại, hoài nghi về tính hiệu quả của công trình nhưng giờ đây đã hoàn toàn tin tưởng và ngày càng có nhiều hộ dân đăng ký đấu nối để được sử dụng nước sạch Mô hình Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn quản lý công trình cấp nước nông thôn tập trung có nhiều ưu điểm như: tính
ổn định, chuyên nghiệp; được trang bị đầy đủ công cụ và phương tiện kiểm tra, xử lý kịp thời sự cố xảy ra trong quá trình vận hành; chất lượng nước được xét nghiệm định
kỳ tại Phòng xét nghiệm nước của Trung tâm, chịu sự giám sát của người dân và các
cơ quan chuyên môn; công tác duy tu bảo dưỡng được thực hiện thường xuyên, máy móc, thiết bị được bảo dưỡng định kỳ; có nhiều điều kiện thuận lợi để cải tiến công nghệ, nâng cấp thiết bị…, áp dụng công nghệ thông tin, chuyên môn hóa về lĩnh vực dịch vụ cấp nước nông thôn
Mô hình doanh quản lý lý công trình cấp nước nông thôn tập trung có nhiều ưu điểm như giao cho Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn quản lý Tuy nhiên, đối với các tỉnh miền núi do dân cư sống không tập trung, mật đô dân cơ thấp, thu nhập đời sống của nhân dân thấp, giá thành nước lại không cao, dẫn đến chi phí quản lý lớn, rễ bị thua lỗ, trong khi đó nhà nước lại không có chính sách trợ giá dẫn
Trang 19đến các doanh nghiệp không mặn mà trong việc tiếp nhận công trình ở vùng sâu, vùng xa; họ chỉ quan tâm đến các công trình tập trung ở thị trấn, thị tứ hoặc các xã có mật
độ dân cư đông, có kinh tế khá giả hoặc chỉ tiếp nhận các công trình cấp nước trọng lực, rễ vận hành
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý và sử dụng công trình nước sinh hoạt nông thôn
1.1.4.1 Yếu tố về tự nhiên, xã hội
Tình trạng ô nhiễm nước bề mặt và nước ngầm ngày càng gia tăng Ô nhiễm nguồn nước do chất thải rắn và lỏng từ các hoạt động sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, bệnh viện được thải trực tiếp vào môi trường mà không qua bất kỳ một khâu
xử lý nào Các loại hóa chất độc hại và các vi sinh vật gây bệnh sẽ xâm nhập vào các nguồn nước ngầm nông trong khi đó nước ngầm là nguồn cung cấp nguyên liệu chính cho các nhà máy nước và các trạm cấp nước tập trung Bên cạnh đó, tình trạng khai thác bừa bãi nguồn nước ngầm bằng các giếng khoan tự phát của các hộ gia đình, các
cơ quan xí nghiệp, các cơ sở sản xuất phục vụ cho mục đích sinh hoạt, kinh doanh, sản xuất đã và đang làm cho nguồn tài nguyên nước đang bị mất cân bằng nghiêm trọng và
tăng nguy cơ ô nhiễm tầng nước ngầm thông qua các giếng khoan (Nguồn: Tạp chí
Môi trường)
1.1.4.2 Yếu tố về công nghệ, năng lực
Công nghệ, năng lực, quy trình xử lý của nhiều cơ sở cung cấp nước còn hạn chế Trong khi một số nhà máy nước ở các thành phố lớn được đầu tư quy trình công nghệ
xử lý hiện đại có thể loại bỏ được hầu hết các chất độc hại trong quá trình xử lý, thì nhiều các nhà máy nước đô thị và trạm cấp nước tập trung ở nông thôn có năng lực xử
lý nước còn hạn chế, chưa có khả năng loại bỏ được tất cả các hóa chất độc hại ra khỏi nước Nhiều cơ sở cấp nước chưa tuân thủ quy trình công nghệ, ví dụ chưa có biện pháp bổ sung, duy trì hàm lượng clo dư trong toàn bộ hệ thống cấp nước đạt tiêu chuẩn cho phép 0,3 - 0,5 mg/l để có thể diệt khuẩn trong nước
Hệ thống đường ống phân phối và bể chứa nước đã cũ, xuống cấp gây vỡ, rò rỉ đường ống làm cho các chất ô nhiễm từ bên ngoài thấm ngược vào trong đường ống gây ô nhiễm nước Tại nhiều khu đô thị, khu chung cư, các hệ thống bể chứa đã cũ, nứt vỡ,
Trang 20thiếu nắp đậy, hư hỏng thì dù nước cấp có đảm bảo chất lượng cũng sẽ bị ô nhiễm nếu
các bể chứa nước không được quản lý tốt (Nguồn: Tạp chí Môi trường)
1.1.4.3 Yếu tố về con người, nguồn nước
Ý thức bảo vệ hệ thống đường ống cấp nước của một số người dân chưa cao Nhiều nơi có hiện tượng tự ý khoan đục đường ống để đấu nối trái phép gây thất thoát nước, giảm áp lực nước làm trào ngược nước bẩn và chất ô nhiễm vào trong đường ống
Nguồn nước bị ô nhiễm tự nhiên Bên cạnh các yếu tố ô nhiễm nguồn nước do các hoạt động của con người gây nên, nguồn nước cũng có thể bị ô nhiễm tự nhiên từ các lớp trầm tích trong lòng đất hoặc các quá trình hóa học xảy ra trong tự nhiên Ví dụ ô
nhiễm asen hiện nay trong nước ngầm chủ yếu là nhiễm asen tự nhiên (Nguồn: Tạp
chí Môi trường)
1.1.4.4 Điều kiện thi công
Các công trình nước sinh hoạt nông thôn ở miền núi có điều kiên thi công vô cùng phức tạp, địa điểm xây dựng khu vực đàu mối (nhận nước) thường là ở ngay lòng sông, lòng suối, luôn luôn bị nước lũ uy hiếp, đặc biệt là công tác chặn dòng khi thi công đập dâng kết hợp thủy lợi
1.2 Nội dung quản lý và sử dụng công trình nước sinh hoạt nông thôn
Các nội dung chính trong công tác quản lý và sử dụng công trình nước sinh hoạt nông
thôn, đó là:
- Lập kế hoạch: Là một hoạt động của quá trình quản lý mà con người cần hướng vào
mục tiêu để đạt được mục đích chung của công trình thủy lợi
- Tổ chức: Là quá trình hoạt động liên quan đến mục tiêu, kế hoạch và xác định trao
trách nhiệm quyền quản lý cho các tổ chức cá nhân để có hiệu quả nhất
- Điều hành: Là những hoạt động để xác định phạm vi, quyền hạn ra quyết định, phân
bổ và sử dụng các nguồn lực hợp lý, tăng cường quản lý có sự tham gia của cộng đồng
và đảm bảo đúng mức độ, mục đích phục vụ của các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn
Trang 21- Thúc đẩy: Nhằm tìm ra được những mặt lợi để thúc đẩy cộng đồng tham gia quản lý
sử dụng các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn đạt được hiệu quả nhất
- Kiểm soát và theo dõi: Là một quá trình theo dõi và đánh giá các kết quả đạt được từ
các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn
- Sử dụng công trình: Dựa vào tình hình và đặc điểm công trình, điều kiện dự báo khí
tượng thủy văn và nhu cầu nước trong hệ thống bộ phận quản lý phải xây dựng kế hoạch lợi dụng nguồn nước Trong quá trình lợi dụng tổng hợp cần có tài liệu dự báo khí tượng thủy văn chính xác để nắm vững tình hình và xử lý linh hoạt nhằm đảm bảo
công trình làm việc an toàn
- Bảo dưỡng: Cần thực hiện chế độ bảo dưỡng thường xuyên và định kỳ thật tốt để
công trình luôn làm việc trong trạng thái an toàn và tốt nhất Hạn chế mức độ hư hỏng
các bộ phận công trình
- Sữa chữa: Phải sữa chữa kịp thời các bộ phận công trình hư hỏng, không để hư hỏng
mở rộng, đồng thời sửa chữa thường xuyên, định kỳ
- Sử dụng công trình: Cần có một kế hoạch dùng nước cụ thể để đảm bảo công trình
làm việc đúng theo chỉ tiêu thiết kế, an toàn và kéo dài thời gian phục vụ, đồng thời gắn việc sử dụng nước với công tác quản lý hệ thống công trình vào nề nếp, tạo dựng tác phong làm việc theo kiểu công nghiệp và nâng cao nghiệp vụ quản lý cán bộ Bên cạnh xây dựng kế hoạch dùng nước phải có phương án bảo vệ công trình và thực hiện
ký kết hợp đồng cung cấp nước sinh hoạt cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân và nhân dân trong vùng; tổ chức hợp tác dùng nước, sử dụng nước hợp lý, tiết kiệm và bảo vệ môi trường nước
1.3 Nội dung và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý khai thác công trình nước sinh hoạt nông thôn
1.3.1 Nội dung đánh giá
* Bảo vệ nguồn tài nguyên nước ngầm và loại bỏ phơi nhiễm Asen:
- Thực tế, nước ngầm thường ít bị ô nhiễm kim loại do nguyên nhân trực tiếp từ các nguồn thải trên mặt đất Tuy nhiên, các hoạt động gây tác động thay đổi địa chất có thể
Trang 22là nguyên nhân khiến một số kim loại như As, Mn, xuất hiện với mức độ đột biến trong nước ngầm
- Việc khai thác tài nguyên nước ngầm phục vụ cho cấp nước sinh hoạt từ các công trình cấp nước nhỏ lẻ của các hộ gia đình đã ảnh hưởng xấu đến nền địa chất, báo động nguy cơ sụt giảm mạch nước ngầm, ảnh hưởng nghiêm trọng ở những khu vực có nền địa chất yếu Vì vậy các công trình cấp nước tập trung tỏ ra ưu việt hơn
- Hiện tượng khai thác nguồn nước ngầm từ các công trình cấp nước nhỏ lẻ của các hộ dân phục vụ cấp nước sinh hoạt đã gây nên những tác động tiêu cực đến tài nguyên nước ngầm và phát tán ô nhiễm Asen đến tài nguyên đất, nông nghiệp
* Nước sạch và sức khoẻ của người hưởng lợi Các công trình cấp nước tập trung hoạt động đấu nối nguồn nước sạch cho người dân đã giảm hẳn các loại bệnh tật phổ biến thường gặp trước đây: bệnh về đường tiêu hoá, hô hấp, mắt, da, phụ khoa và đặc biệt bệnh tiêu chảy ở trẻ nhỏ
* Tác dụng tích cực đến hệ thống giáo dục tại địa phương Chương trình cấp nước sạch
và VSMTNT nói chung, các công trình cấp nước tập trung nói riêng đã và đang kết hợp với hiệu quả truyền thông tích cực thay đổi hành vi sử dụng nước sạch của người dân thông qua việc giáo dục các em học sinh ở các nhà trường
1.3.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá
1.3.2.1 Hiệu quả trong quản lý
Giảm chi phí vận hành, bảo dưỡng công trình làm giảm giá thành sử dụng nước
1.3.2.2 Hiệu quả trong sử dụng
Đảm bảo cung cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh cho các hộ dân, góp phần cải thiện đời sống, nâng cao sức khỏe người dân, bảo đảm an sinh xã hội, phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn
1.3.2.3 Một số chỉ tiêu khác
- Tính bền vững của công trình: Sau khi công trình hoàn thành, giao cho doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập hoặc giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã có đủ năng lực để quản lý, khai thác, sử dụng và duy tu công trình được lâu dài
Trang 23- Hiệu quả về môi trường sinh thái: Sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất và nước
01 bản, liên bản đến xã và liên xã Ở đồng bằng, xây dựng công trình cấp nước cho 01 thôn, liên thôn, xã, liên xã, cấp cho cả huyện và liên huyện Vì vậy, từ khi chưa có Chương trình đến nay đã có rất nhiều công trình cấp nước tập trung và theo đó là rất nhiều mô hình quản lý khác nhau Theo một số tài liệu nghiên cứu, đến nay có thể tổng hợp một số mô hình quản lý cấp nước sạch nông thôn ở Việt Nam hiện nay theo các loại như sau:
a) Cộng đồng quản lý: Hình thức quản lý này thường ở miền núi, cộng đồng quản lý
với các công trình cấp nước công cộng, người dân phải lấy nước ở các bể chứa nước sạch trên địa bàn thôn hoặc đầu vòi cấp nước tập trung Hình thức quản lý này thường
áp dụng cho các công trình cấp nước quy mô nhỏ và có sự tham gia của trưởng thôn, trưởng bản, già làng, các đơn vị, tổ chức của bản
b) HTX quản lý: Hình thức HTX quản lý được áp dụng khá phổ biển trên phạm vi cả
nước, Các công trình cấp nước giao cho HTX quản lý thường có nguồn vốn của nhà nước, các nhà tài trợ nhưng đặc biệt là có nguồn vốn đóng góp của nhân dân để xây dựng công trình Mô hình này được áp dụng với các công trình có quy mô nhỏ hơn
500 m3/ngày-đêm và cấp cho thôn, liên thôn và có thể trong phạm vi cả xã HTX chủ động việc hoạt động kinh doanh theo Luật HTX và đảm bảo việc duy tu, bảo dưỡng công trình
c) UBND xã quản lý: Mô hình UBND xã quản lý cũng được áp dụng phổ biến, Các
công trình áp dụng mô hình này thường có cấp nước cho toàn xã và cũng được xây dựng bằng một nguồn vốn của địa phương, nhân dân đóng góp Mọi vấn đề về tài chính và duy tu bảo dưỡng công trình do UBND xã đảm nhiệm
Trang 24d) Tư nhân quản lý: Mô hình này được áp dụng ở một số tỉnh trước kia chỉ với quy mô
nhỏ, thường cấp cho thôn, bản nhưng hiện nay đã được mở rộng, một công trình cấp nước của tư nhân có thể cấp nước trong phạm vi xã hoặc nhiều hơn một xã Tại tỉnh Tiền Giang, Đồng Tháp, mô hình này được áp dụng đem lại hiệu quả: dân có nước sạch, người đầu tư có hiệu quả kinh tế
Tại tỉnh Bình Thuận, một số hộ dân ở Mũi Né đã tự đầu tư khoan giếng, xử lý thủ công rồi cấp cho nhân dân xung quanh Mô hình này cũng đã xuất hiện ở Phú Hài, Hàm Đức; Mộc Châu, Sơn La; [14]
e) Đơn vị sự nghiệp quản lý: Hiện nay mô hình này được áp dụng tương đối rộng rãi
và chủ yếu là do Trung tâm nước sạch và VSMT nông thôn các tỉnh thực hiện Mô hình này khá phổ biến ở các tỉnh phía Nam: tỉnh Bà Rịa – Vũng Tầu quản lý 13 nhà máy cấp nước, tỉnh Bình Thuận hơn 30 xã, tỉnh Ninh Thuận
f) Doanh nghiệp quản lý: Mô hình doanh nghiệp quản lý công trình cấp nước sạch
nông thôn được áp dụng khá phố biến trong thời gian gần đây Mô hình này ra đời nhằm mục đích xã hội hóa đầu tư và quản lý vận hành công trình nước sạch nông thôn, xác định nước sạch nông thôn là hàng hóa và vận hành theo cơ chế thị trường, tiến tới đảm bảo chất lượng nước tương đương với đô thị Chính phủ đã ban hành Quyết định
số 131/2009/QĐ-TTg ngày 02/11/2009 về một số chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu
tư và quản lý, khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn; Tỉnh Hà Nam đã ban hành Quyết định 12/2007/QĐ-UBND ngày 04/9/2007 và Quyết định số 29/2012/QĐ- UBND ngày 10 tháng 12 năm 2012 về việc ban hành quy định chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư quản lý, khai thác công trình cấp nước sạch tập trung nông thôn, đến nay đã có một số địa phương xuất hiện các mô hình cấp nước do Doanh nghiệp tư nhân tự bỏ vốn đầu tư xây dựng sau đó cấp nước, thu tiền để sửa chữa, bảo dưỡng và chi cho quản lý, ở một số công trình đã đem lại lợi nhuận
1.4.2 Hệ thống quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương
* Cấp Trung ương: Ba Bộ chính có chức năng nhiệm vụ liên quan đến quản lý
CLNSHNT là:
- Bộ Y tế : Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, Bộ đã xây dựng, ban hành,
Trang 25hướng dẫn, kiểm tra, giám sát thực hiện các quy định liên quan đến quản lý CLN sinh hoạt, nước ăn uống Bộ đã xây dựng và ban hành 2 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia mới là: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống (QCVN 01:2009/BYT) [3] và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt (QCVN 02: 2009/BYT) [4] Các quy chuẩn này đã góp phần tích cực vào việc tăng cường quản lý CLNSHNT hiện nay Cục Y tế dự phòng và môi trường của Bộ có chức năng, nhiệm
vụ quản lý nhà nước các hoạt động chuyên môn về lĩnh vực y tế dự phòng trong phạm
vi cả nước, trong đó có nhiều hoạt động liên quan đến quản lý CLNSHNT, đã có tác dụng nâng cao hiệu lực giám sát CLNSHNT và VSMTNT
- Bộ NN&PTNT: Có chức năng quản lý nhà nước (QLNN) về hoạt động cấp nước tại khu vực nông thôn; đầu mối chủ trì, phối hợp thực hiện nhiệm vụ CNS&VSMTNT Theo quyết định số 03/2010/QĐ-TTg ngày 25/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ quy định về nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng Cục Thuỷ lợi [9], một trong những chức năng nhiệm vụ của Tổng Cục là tham mưu cho Bộ trưởng về lĩnh vực
“cấp thoát nước, NS&VSMTNT”; thực hiện nhiệm vụ Văn phòng thường trực Chương trình mục tiêu Quốc gia NS&VSMTNT Bên cạnh đó, Trung tâm Quốc gia NS&VSMTNT của Bộ thực hiện nhiệm vụ phục vụ quản lý nhà nước của Bộ trong lĩnh vực CN&VSMTNT trên phạm vi cả nước [3]
- Bộ Tài nguyên và Môi trường: Có chức năng quản lý nhà nước ở lĩnh vực tài nguyên nước và môi trường; hướng dẫn về quản lý, khai thác sử dụng nguồn nước bảo đảm bền vững, chỉ đạo và tổ chức thực hiện việc xử lý môi trường làng nghề, môi trường nông thôn và các nguồn nước bị ô nhiễm nặng, cảnh báo về các nguy cơ ô nhiễm nguồn nước
* Cấp địa phương
- Cấp Tỉnh: Các tỉnh đã thực hiện các biện pháp tổ chức, kiện toàn các mô hình quản
lý công trình cấp nước nông thôn tại địa phương; Quy định chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của Trung tâm NS&VSMTNT cấp tỉnh; Tăng cường năng lực quản lý tài nguyên nước và môi trường nông thôn cho Chi cục Môi trường tỉnh.v.v
- Cấp huyện: Ở cấp huyện, tuy chưa có cán bộ chuyên trách QLNN về NS&VSMTNT
Trang 26nhưng đã có các cán bộ kiêm nhiệm trong các phòng chức năng như phòng NN&PTNT Phòng Y tế huyện đều có từ 1đến 3 cán bộ kiêm nhiệm nhiệm vụ liên quan đến NS&VSMTNT Phòng Giáo dục huyện có từ 1 đến 2 cán bộ quản lý Y tế học đường kiêm nhiệm nhiệm vụ NS&VSMTNT
- Cấp xã : Trong Uỷ ban nhân dân xã thường có phân công 1 lãnh đạo uỷ ban kiêm nhiệm, thường là Phó Chủ tịch phụ trách văn xã kiêm nhiệm nhiệm vụ quản lý nhà nước về NS&VSMTNT trên địa bàn Một số xã còn giao luôn nhiệm vụ quản lý vận hành hệ thống cấp nước trên địa bàn xã cho UBND trực tiếp quản lý vận hành
1.4.3 Hoạt động của các đơn vị tư vấn, sự nghiệp đã đạt được những kết quả nhất định
* Trung tâm quốc gia NS&VSMTNT : là đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ NN&PTNT có bề
dày kinh nghiệm trong thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, tư vấn, đào tạo, truyền thông.v.v trong lĩnh vực NS&VSMTNT Nguồn nhân lực của Trung tâm có trình độ
cơ bản đại học & trên đại học đến 86,5% với các ngành nghề tương đối đồng bộ
* Các Trung tâm NS & VSMTNT tỉnh: Nhìn chung, các Trung tâm NS&VSMTNT tỉnh
thường được giao các nhiệm vụ cụ thể như: Làm chủ đầu tư một số công trình, dự án trong phạm vi của Chương trình mục tiêu Quốc gia hoặc các dự án hợp tác quốc tế về CN&VSMTNT; Trực tiếp quản lý và vận hành khai thác một số công trình CNTTNT
đã hoàn thành giai đoạn đầu tư xây dựng cơ bản; Thực hiện công tác xét nghiệm chất lượng nước đã sản xuất ở các công trình CNTTNT do Trung tâm nước cấp tỉnh trực tiếp quản lý; Thực hiện nhiệm vụ Văn phòng thường trực của Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu Quốc gia NS&VSMTNT ở cấp tỉnh
- Các trung tâm y tế dự phòng tỉnh : Các trung tâm y tế dự phòng cấp tỉnh được phân
công thực hiện các nhiệm vụ mang tính sự nghiệp hỗ trợ QLNN trong lĩnh vực NS&VSMTNT, có khoảng 3 đến 7 cán bộ chuyên trách và kiêm nhiệm làm nhiệm vụ kiểm tra CLN, tổ chức các phong trào, vận động truyền thông về NS&VSMTNT
1.4.4 Hiệu quả của các công trình cấp nước tập trung nông thôn (CNTTNT)
Các tỉnh đã tăng cường thực hiện các biện pháp tổ chức quản lý vận hành các công trình CNTTNT theo Nghị định số 117/2007/NĐ-CP ngày 11/7/2007 [6] và Chỉ thị số
Trang 27105/2006/CT-BNN ngày 16/11/2006 và đã đạt những kết quả như: các địa phương đã
và đang lựa chọn, áp dụng các mô hình tổ chức quản lý phù hợp với địa phương mình
để nâng cao hiệu quả khai thác công trình CNTTNT sau khi đã hoàn thành xây dựng
Do vậy, tình hình CLNSHNT cấp cho người dân sử dụng cũng dần được nâng cao
1.4.5 Hiệu quả của các công trình cấp nước nhỏ lẻ
Các công trình cấp nước nhỏ lẻ qui mô hộ gia đình đang là hình thức quản lý chủ yếu đối với các công trình cấp nước nhỏ lẻ nông thôn hiện nay Các địa phương đã áp dụng
cơ chế hỗ trợ đầu tư của nhà nước, vận động nhân dân xây dựng mới, tu sửa, cải tạo, quản lý, giữ gìn vệ sinh các công trình cấp nước nhỏ lẻ qui mô hộ gia đình Từ năm
2006 đến nay, bình quân hàng năm đã có khoảng 300.000 công trình cấp nước nhỏ lẻ được đầu tư mới hoặc được cải tạo, nâng cấp Nhiều hộ gia đình đã chú trọng gìn giữ
vệ sinh, bảo vệ các nguồn nước cấp nhỏ lẻ Nhờ đó, CLN sinh hoạt cung cấp từ các công trình cấp nước nhỏ lẻ ở nhiều vùng nông thôn đã có tiến bộ hơn trước khá nhiều
(Nguồn: Bùi Quốc Lập “Công tác quản lý chất lượng nước sinh hoạt nông thôn hiện nay và một số vấn đề cần giải quyết”)
1.4.6 Một số chính sách về quản lý công trình nước sinh hoạt nông thôn hiện nay
- Nghị định số 117/2007/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 2007 của Chính phủ về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch;
- Nghị định số 124/2011/NĐ-CP ngày 28 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 117/2007/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 2007 của Chính phủ về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch;
- Thông tư số 54/2013/TT-BTC ngày 04 tháng 5 năm 2013 của Bộ Tài chính quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung
- Quyết định số 131/2009/QĐ-TTg ngày 02 tháng 11 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư và quản lý, khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn;
- Căn cứ Nghị định số 87/2017/NĐ-CP ngày 26 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Trang 28- Chỉ thị số 35/CT-TTg ngày 27 tháng 12 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng bền vững công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung
1.5 Kinh nghiệm đầu tư, quản lý khai thác các công trình nước sạch nông thôn ở thế giới và Việt Nam
1.5.1 Kinh nghiệm ở Việt Nam
1.5.1.1 Kinh nghiệm ở tỉnh Thái Bình
+ Làm sao để công trình nước sạch không lãng phí? Từ quyết tâm của các cấp chính quyền và sự thay đổi trong nhận thức của người dân, một sự chuyển động chưa từng có
về nước sạch đã bắt đầu xuất hiện trên các vùng quê Thái Bình Nếu như năm 2012, tổng vốn đầu tư các công trình nước sạch của Thái Bình chỉ là hơn 613 tỷ đồng thì đến năm 2017, đã có trên 2.000 tỷ đầu tư xây dựng, quản lý 56 công trình cấp nước Thế nhưng thực tế, nước sạch về được tới tận hộ dân là cả một chặng đường dài Những bất cập bắt đầu bộc lộ Tiếng kêu về chất lượng nguồn nước bắt đầu vang lên
+ Dân khát nước sạch Tháng 6/2016, bà con các thôn Phú Chử, Mỹ Bổng, Hương Điền, xã Việt Hùng, huyện Vũ Thư khổ sở vì chất lượng nước sạch và tình trạng nước máy thiếu, yếu, không đủ đáp ứng nhu cầu của người dân trong mùa hè”, ông Phạm Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch UBND xã Việt Hùng cho biết Xã cũng đã đề nghị doanh nghiệp cung cấp nước nâng công suất hoạt động, nâng cấp đường ống, thiết bị, đại diện doanh nghiệp cũng đã hứa hẹn nhiều lần, nhưng tình hình chưa được cải thiện Cũng vào tháng 7/2016, gần 2.000 hộ dân xã Vũ Hội, huyện Vũ Thư sử dụng nguồn nước sạch do xã cung cấp luôn trong tình trạng lo lắng về chất lượng Ông Đỗ Ngọc Oanh, thôn Hiếu Thiện, xã Vũ Hội, huyện Vũ Thư nhấn mạnh: “Nói chung những năm trước kia nước còn đảm bảo nhưng giờ thì ô nhiễm lắm nên chúng tôi ai cũng lo lắng” Tháng 8/2017, gần 300 hộ dân của xã Tam Quang, huyện Vũ Thư chưa được dùng nước sạch, tập trung chủ yếu ở 2 thôn Hòa Bình và Vô Ngại
Cũng tháng 9/2017, người dân của 17 xã thuộc phạm vi cấp nước của Công ty Cổ phần Nước sạch Hưng Hà phản ánh lên các cấp chính quyền đề nghị giải quyết tình trạng mất tiền mà không được dùng nước sạch Nhiều gia đình đã đập bể nước mưa thay thế bằng test nước máy, nhưng chờ mãi mà không thấy doanh nghiệp thực hiện cam kết
Trang 29đấu nối cấp nước sạch nông thôn Chất lượng nước của một số doanh nghiệp, trạm cấp nước như trạm cấp nước thị trấn Hưng Hà, thị trấn Hưng Nhân, Công ty TNHH Bitexco Nam Long, Trạm Phương La, Trạm Thanh Cách… bỗng trở nên thất thường
Ngoài những trạm cấp nước thất thường về chất lượng, 18 công trình nước sạch khác trên địa bàn tỉnh đã ngừng hoạt động, trong đó 13 công trình được đầu tư bằng nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia và 5 công trình được đầu tư bằng nguồn vốn khác như doanh nghiệp tự đầu tư, vốn của Bộ Khoa học và Công nghệ, vốn của Bộ Xây dựng… trong khi tổng công suất thiết kế của các công trình này lên tới 4.800 m3/ngày đêm với tổng số hộ dân được cấp nước là 12.595 hộ
Nguyên nhân khiến các trạm cấp nước ngừng hoạt động được xác định là do quy mô đầu tư nhỏ, không phù hợp với xu thế sản xuất tập trung; mô hình quản lý không đồng nhất, hoạt động quản lý yếu kém, tỷ lệ nước thất thoát lớn, chưa khai thác hết công suất thiết kế và chất lượng nước của một số công trình chưa bảo đảm…
“Để người dân bước qua được rào cản, bỏ giếng khoan dùng nước sạch đã khó Giờ nếu để người dân mất niềm tin vào nước sạch, vào cách làm của đảng bộ, chính quyền, việc làm lại sẽ khó vô cùng” Đó là điều khiến lãnh đạo tỉnh Thái Bình trăn trở Bởi trên thực tế nhiều tỉnh, thành phố khác trên cả nước cũng đã vấp phải rồi!
+ Tích cực lắng nghe và quyết liệt vào cuộc: Nắm bắt tâm tư, ý kiến của nhân dân, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh và các cấp, ngành đã tích cực vào cuộc Ngày 23/8/2017, Đoàn công tác của UBND tỉnh và UBND huyện Vũ Thư đã xuống kiểm tra tình hình cung cấp nước sạch tại địa bàn xã Tam Quang, chỉ đạo Nhà máy nước Nam Long khẩn trương khắc phục mọi khó khăn để cấp nước sớm nhất cho người dân Chỉ một ngày sau, từ ngày 24/8 nước sạch đã về đến các gia đình trên địa bàn
Tại huyện Hưng Hà, ông Phạm Văn Sinh – Bí thư Tỉnh ủy; ông Nguyễn Hồng Diên –
Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; ông Đặng Trọng Thăng – Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh cùng nhiều Ủy viên ban thường vụ Tỉnh ủy đã trực tiếp về chỉ đạo, yêu cầu doanh nghiệp thực hiện cấp nước sạch cho người dân 17 xã của huyện Hưng Hà
Trang 30“Nếu ngày 16/11/2017, Công ty không triển khai các nội dung nêu trên hoặc không đúng tiến độ trong kế hoạch thì đơn vị hoàn toàn chịu trách nhiệm và chấp thuận để UBND tỉnh điều chỉnh lại quy hoạch cấp nước của dự án cho các doanh nghiệp khác”
là chỉ đạo đanh thép của lãnh đạo Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Thái Bình tại buổi làm việc này
Cũng theo chỉ đạo của lãnh đạo Tỉnh uỷ, UBND tỉnh tại các buổi làm việc: “Đối với huyện Hưng Hà, chỉ đạo doanh nghiệp thực hiện công khai các tài liệu liên quan đến chất lượng nước với người dân Giao trách nhiệm cho các tổ chức đoàn thể (nông dân, cựu chiến binh, phụ nữ) đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động người dân đấu nối
sử dụng nước sạch Chủ động phối hợp với doanh nghiệp để giải quyết các vấn đề đặt
+ Vướng mắc ở đâu tháo ngay tại đó: “Không thể để nước sạch dừng chân ở cổng làng
mà phải đến thẳng được hộ dân” “Không thể để dân mất tiền mà không được dùng nước sạch” là nhấn mạnh của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình Nguyễn Hồng Diên tại nhiều cuộc họp Quyết tâm nâng cao tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch tại tất cả các địa phương trên địa bàn cũng được lãnh đạo tỉnh truyền đến tất cả các cấp, các ngành Việc tổ chức họp giao ban hàng tháng, ban hành các văn bản chỉ đạo kịp thời, nhanh chóng và chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo tỉnh đã giải quyết được rất nhiều vướng mắc trong quá trình thực hiện Dự án của nhà đầu tư, đảm bảo thực hiện kế hoạch, mục tiêu
đề ra
Trang 31Không chỉ vậy, lãnh đạo UBND tỉnh nêu hẳn một thời hạn yêu cầu các nhà đầu tư phải quyết tâm thực hiện: “Đến ngày 31/12/2017, các dự án đã hoàn thành đường ống cấp
1, phải đạt tỷ lệ đấu nối trên 80% Các dự án đang trong quá trình hoàn thiện, mở rộng quy mô phải đẩy nhanh tiến độ xây lắp và phải đạt tỷ lệ đấu nối 65% Sau mốc thời gian này, các doanh nghiệp chậm tiến độ, sẽ bị tỉnh xem xét điều chỉnh mạng lưới, thậm chí rút giấy chứng nhận đầu tư, căn cứ vào mức độ vi phạm”
1.5.1.2 Kinh nghiệm Hà Nam
Chỉ thị 04/CT-UBND năm 2017 tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả khai thác và
sử dụng bền vững công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung do tỉnh Hà Nam ban hành
Trong những năm qua, thực hiện chủ trương xã hội hóa công trình nước sạch nông thôn, công tác đầu tư xây dựng, quản lý, sử dụng, khai thác công trình nước sạch tập trung nông thôn trên địa bàn tỉnh đã đạt được những kết quả quan trọng Một số địa bàn của tỉnh gặp khó khăn về nước sạch đã cơ bản được giải quyết Nhiều công trình cấp nước tập trung được đầu tư xây mới hoàn thành, các công trình cũ xuống cấp được đầu tư cải tạo, nâng cấp đảm bảo cấp nước bền vững góp phần cải thiện đời sống của người dân nông thôn
Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn những tồn tại: toàn tỉnh vẫn còn 20 trạm cấp nước nhỏ lẻ xuống cấp, bị hư hỏng chưa được thanh lý; 15 trạm cấp nước do UBND xã quản lý vận hành kém hiệu quả chưa được cải tạo, nâng cấp hoặc chưa bàn giao cho doanh nghiệp đầu tư nâng cấp, dẫn đến chất lượng nước không đảm bảo; một
số công trình chưa được quyết toán hoặc hồ sơ quyết toán chưa đảm bảo yêu cầu; nguồn vốn đầu tư đa dạng từ nhiều chương trình và nhiều nguồn khác nhau nên việc theo dõi, hạch toán, tính khấu hao công trình chưa được quan tâm đúng mức; chưa tính đúng, tính đủ chi phí sản xuất vào giá thành nước sạch; việc phê duyệt giá bán nước, cấp bù giá nước chưa được thực hiện
1.5.1.3 Kinh nghiệm Nam Định
Tại tỉnh Nam Định, mô hình này hiện đang được áp dụng rộng rãi ở nhiều địa phương trong cả nước, điển hình như tỉnh Nam Định, theo báo cáo của Trung tâm
Trang 32nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, những năm qua, nhiều hộ dân ở trung tâm thành phố hay các huyện, xã trên địa bàn tỉnh Nam Ðịnh đã có nước sạch sử dụng hằng ngày
Ðể làm nên những thành công trên có phần đóng góp của Công ty cổ phần Nước sạch và Vệ sinh nông thôn Nam Ðịnh, với cách làm bài bản nhưng hiệu quả, đó là cấp nước sạch theo mô hình liên xã
Hình 1.1 Hình ảnh về mô hình cấp nước sạch liên xã cho nông thôn tỉnh Nam Định (Nguồn: http://www.trungtamnuocsach.vn)
Hiện nay, công ty đang quản lý 5 nhà máy, cung cấp nước cho 13 xã, với giá bán đến từng gia đình là 3.800 đồng/m3 (đối với nhà máy đầu tư từ vốn chương trình mục tiêu quốc gia) và 4.500 đồng/m3 (đối với nhà máy đầu tư từ vốn vay WB) Năm 2008, công ty có hơn 12,3 nghìn hộ tham gia kết nối đồng hồ sử dụng nước, tổng lượng nước thương phẩm bán ra là 754.950m3, tỷ lệ thất thoát 19,9%, lượng nước sử dụng bình quân của mỗi hộ là 5,7m3/tháng, doanh thu đạt hơn ba tỷ đồng Với cách tổ chức cấp nước sạch theo mô hình liên xã của Công ty cổ phần Nước sạch và Vệ sinh nông thôn Nam Ðịnh, nhiều gia đình ở các vùng nông thôn Nam Ðịnh đã được tiếp cận với nguồn nước hợp vệ sinh Mô hình cấp nước sạch liên xã
có các lợi thế như: khai thác triệt để nguồn nước mặt tại các sông lớn để xử lý thành nguồn nước sạch cung cấp cho nhân dân vùng bị nhiễm asen, hiệu quả đầu tư cao
Trang 33do các chi phí về đất, điện, máy móc, đường ống dẫn nước, có điều kiện áp dụng công nghệ xử lý nước tiên tiến, tập trung quản lý, giám sát hiệu quả hoạt động của các nhà máy nước Tuy nhiên, để xây dựng được các công trình cấp nước sạch tập trung liên xã rất cần có nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là huy động nguồn vốn đối ứng của dân
1.5.2 Kinh nghiệm ở một số nước
1.5.2.1 Mô hình kinh doanh công ty nước của Pháp
Công ty nước của Pháp không tư hữu hóa Chính phủ không chỉ trực tiếp quản lý cấp nước, mà còn trực tiếp đầu tư kinh doanh Các mô hình kinh doanh công ty nước của Pháp có thể khái quát như sau :
Loại 1, Cơ quan quản lý thành phố không chỉ đầu tư, xây dựng mà lập công ty trực
tiếp kinh doanh, quyền sở hữu và quyền kinh doanh thống nhất, bản chất là các công ty hoàn toàn của nhà nước
Loại 2, Cơ quan quản lý thành phố đầu tư, xây dựng nhưng ủy quyền cho công ty kinh
doanh tiến hành kinh doanh quản lý Công ty kinh doanh bỏ vốn lưu động tiến hành kinh doanh, tiền thu được từ kinh doanh nước dùng để trả lãi vay xây dựng, thời hạn là
20 năm Mô hình kinh doanh này tuy quyền sở hữu và quyền kinh doanh vẫn gắn liền với nhau nhưng quyền kinh doanh đã được ủy thác quản lý
Loại 3, Cơ quan quản lý thành phố đầu tư, xây dựng, nhượng quyền kinh doanh cho
các công ty kinh doanh (thời hạn 30 năm), các công ty kinh doanh nộp lệ phí cấp giấy phép (tương đương với việc mua các thiết bị cấp nước), thông qua việc quản lý kinh doanh thu hồi lợi nhuận, đó là quyền sở hữu và quyền quản lý trong một thời gian nhất định đã tách rời
Loại 4, Cơ quan quản lý thành phố phê duyệt dự án, ký hợp đồng với công ty (thời hạn
30 năm), công ty được ủy nhiệm tiền hành đầu tư, xây dựng và kinh doanh, sau khi thời gian hợp đồng kết thúc, tài sản thuộc sở hữu của thành phố, đó là tư hữu hóa có thời hạn
Trang 341.5.2.2 Mô hình quản lý nước công trình nước sạch và môi trường nông thôn ở Trung Quốc
Nước sạch và vệ sinh môi trường ở Trung Quốc được bắt đầu từ những năm 80 của thế
kỷ trước Sau khoá họp lần thứ 35 của WHO (phát động thập kỷ nước sạch) Từ đó đến nay Trung Quốc đã liên tục tổ chức thực hiện các kế hoạch năm năm Kế hoạch 5 năm 2000-2005 đã xác định vấn đề nước sạch và Vệ sinh môi trường lồng nghép với phát triển kinh tế và là tiền đề cho xây dựng kế hoạch 5 năm tiếp theo 2006-2010 Chìa khoá thành công của TQ chính là quá trình lập kế hoạch, xác định trách nhiệm tham gia của các cấp chính quyền, các ngành của TƯ và địa phương Theo kinh nghiệm của Trung Quốc sau khi lập kế hoạch việc đảm bảo nguồn tài chính là rất quan trọng Chiến lược huy động vốn từ 3 nguồn: Từ nguồn vốn của chính phủ TƯ và địa phương, huy động quyên góp vốn từ các tổ chức, giới kinh doanh, đóng góp của người hưởng lợi từ chương trình Từ1980, trong quá trình thực hiện các kế hoạch năm năm đã qua mỗi giai đoạn đều có tỷ lệ đầu tư về vốn khác nhau Hiện nay trong giai đoạn lồng ghép NS-VSMT với phát triển kinh tế thì số lượng vốn từ phía Nhà nước phải nhiều hơn Ví dụ trong dự án vay vốn WB cho nước sạch và VSMT 50% vốn từ WB, 25% từ Chính phủ Trung Quốc và 25% còn lại là đóng góp của hộ gia đình (đối tượng được hưởng lợi) Chiến lược huy động vốn ở Trung Quốc rất hiệu quả, trung bình mỗi năm huy động trên 10 tỷ nhân dân tệ cho VSMT nông thôn
Sau đây là ví dụ cụ thể về công tác quản lý nước sạch ở 3 thôn miền Bắc Trung Quốc:
Với nỗ lực nhằm đảm bảo sử dụng nước ngầm bền vững, các cơ quan quản lý ở Qingxu
đã thiết lập cơ chế kiểm soát khai thác nước theo quy định và khuôn khổ hợp tác trong hoạt động quản lý của chính phủ và người dân Trong khuôn khổ hợp tác này, chính phủ tiến hành xây dựng các công trình tưới và thực hiện xây dựng thể chế và chính sách (quyền sở hữu nước và khai thác, kiểm soát, theo dõi và thực thi) Kết quả là người dân thanh toán tiền nước và các dịch vụ bằng hệ thống tính tiền trả trước sáng tạo
Sự tham gia của người dân trong quản lý nước bao gồm các hoạt động: (i) tham gia bầu cử để lựa chọn người phụ trách và những người đại diện cho dân; (ii) các quy định
về quản lý nước được phê duyệt bởi hội đồng các thành viên đại diện cho người dân; (iii) Sự minh bạch và giám sát hoạt động quản lý nước Các quy định về quản lý nước,
Trang 35các giá trị hạn mức, đơn giá bậc thang, kế hoạch chi tiêu bằng nguồn tiền nước thu được trong phạm vi hạn mức và vượt hạn mức đều được công khai trên bảng lớn ở văn phòng
(i) Thứ nhất, cải cách cơ chế tài chính đã được ban hành mà nhờ đó các dịch vụ
nước hiện nay được bù đắp từ các khoản đóng góp của người dân bằng việc trả tiền (hoặc trả tiền trước) khi sử dụng nước Hệ thống thẻ IC có chi phí lớn đã được đầu tư
từ nguồn kinh phí nhà nước Với tỷ lệ thu tiền nước đạt 100%, hệ thống thẻ này đã giải quyết được vấn đề ỷ lại trong quản lý cũng như thiếu sự đóng góp của người dân Nhờ vậy chi phí điện để bơm nước và hầu như tất cả các chi phí duy tu sửa chữa đều đã được bù đắp ở tất cả các trường hợp nghiên cứu Tuy vậy chỉ có Xiaowang ngoài việc thanh toán toàn bộ chi phí lương và O&M, họ còn dư tiền vào năm 2012 Điều này có được là do lượng nước sử dụng vượt quá hạn mức lớn đã đem lại cho Xiaowang mức thu nhập cao hơn Ở tất cả mọi nơi, Chính phủ đều tham gia đầu tư các công nghệ tiết kiệm nước (hệ thống đường ống) và hỗ trợ liên tục (tập huấn và kinh phí) Các kết quả
về giá trị sử dụng nước của cây ngô cho thấy giá trị MVP cao của nước khi so sánh với đơn giá thủy lợi phí đang áp dụng nhờ sản lượng cao và sử dụng hợp lý lượng nước tưới bổ sung Trong trường hợp cần thiết người dân vẫn có thể thanh toán thủy lợi phí
ở mức giá cao hơn một chút nhằm trang trải tốt hơn các chi phí của dịch vụ tưới và đảm bảo tính bền vững
(ii) Thứ hai, sự điều chỉnh thể chế trong mối quan hệ với cơ cấu quản lý của chính
phủ cũng đã thành công (đánh giá từ Mollinga et al, 2006) Quả thực cơ chế phân cấp quản lý và kinh phí của Trung Quốc đã có đan xen với hệ thống quản lý nước ở phạm
vi từ cấp tỉnh đến cấp thôn
1.6 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả cũng đã sưu tầm và tìm đọc một số tài liệu, một số
đề tài nghiên cứu khoa học, bài báo, các luận văn thạc sĩ tương tự Trên cơ sở đó, tác giả cũng phân tích, rút ra được những kiến thức phục vụ cho luận văn của mình Một
số tài liệu cụ thể như sau:
- Luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp: Quản lý nước sinh hoạt nông thôn huyện
Trang 36Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang - Nguyễn Thế Hùng (2007) Luận văn đã nghiên cứu thực tế vấn đề cấp nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang Trên cơ sở đó tác giả cũng đề xuất một số giải pháp để quản lý nước sinh hoạt trên địa bàn huyện như: Lựa chọn xây dựng công trình nước sinh hoạt phù hợp với từng vùng của huyện; Phân cấp quản lý các công trình cấp nước sinh hoạt
- Luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp: Nghiên cứu hoàn thiện mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang - Dương Anh Chung (2011) Luận văn cũng đi vào phân tích, đánh giá các mô hình quản lý nước hiện tại của huyện Sơn Dương, đồng thời đề xuất một số định hướng, giải pháp về xây dựng công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn, giải pháp hoàn thiện mô hình quản lý nước trên địa bàn huyện
- Luận văn thạc sĩ kinh tế tài nguyên thiên nhiên và môi trường: Nghiên cứu mô hình quản lý vận hành bền vững cho hệ thống cấp nước sinh hoạt 6 xã khu C, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam – Đỗ Hoàng Hải (2013) Trong luận văn, tác giả đã đề xuất mô hình quản lý cấp nước cho 6 xã Mô hình đề xuất là mô hình tổ chức dựa trên cơ sở mô hình
tổ chức hiện có của Công ty cổ phần nước sạch và VSNT kết hợp với mô hình của các HTX dịch vụ nông nghiệp
- Luận văn thạc sĩ kinh tế tài nguyên thiên nhiên và môi trường: Nghiên cứu mô hình quản lý cấp nước sạch nông thôn, áp dụng tại xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An – Hoàng Thị Thắm (2012) Luận văn đã đề xuất mô hình quản lý Nhà nước kết hợp với tư nhân nên có sự quản lý của Nhà nước thông qua Trung tâm nước sạch
và vệ sinh môi trường nông thôn của tỉnh
Ngoài ra, tác giả cũng tìm đọc một số đề tài luận văn có cùng hướng nghiên cứu với đề tài của tác giả như:
- Luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp: Nghiên cứu các mô hình quản lý trạm cấp nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn tỉnh Ninh Bình – Tống Văn Dũng (2014)
- Luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp: Nghiên cứu mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình - Nguyễn Xuân Tân (2014);
Trang 37- Luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp: Nghiên cứu mô hình quản lý cấp nước sinh hoạt nông thôn huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên - Hoàng Cúc Phương (2013):
- Luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp: Nghiên cứu mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình - Nguyễn Anh Minh (2008)
Kết luận chương 1
Cấp nước sạch nông thôn được xác định là một chương trình quốc gia, mang tính
xã hội cao Tuy nhiên, nếu không tính đến yếu tố kinh doanh lâu dài sẽ không có vốn tái đầu tư và bảo dưỡng công trình Chính vì vậy, ngay từ khi xây dựng các công trình cấp nước nông thôn cần chủ trương đầu tư hiện đại, nước sản xuất phải đạt tiêu chuẩn quốc gia Bên cạnh mục tiêu phục vụ là chính, các công trình cấp nước nông thôn còn có thể thực hiện mục tiêu kinh doanh để bù đắp kinh phí đầu
tư Hiện nay, nước sinh hoạt do các nhà máy nước nông thôn sản xuất có chất lượng không thua kém nước do các doanh nghiệp sản xuất phục vụ khu vực thành thị Ngoài việc cấp nước sinh hoạt cho người dân, các nhà máy nước còn cung cấp nước đủ cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh trong vùng sử dụng
Qua cơ sở lý luận và thực tiễn và kinh nghiệm trong công tác quản lý các công trình nước sạch nông thôn trong và ngoài nước, chương 1 đã đưa ra các nội dung, tiêu chí và kinh nghiệm thực tiễn để làm cơ sở đánh giá thực trạng công tác quản lý khai thác các công trình cấp nước sạch nông thôn trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CÔNG TRÌNH NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÒA BÌNH
2.1 Đặc điểm cơ bản của tỉnh Hòa Bình
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Hòa Bình là là vùng đệm giữa đồng bằng châu thổ của hệ thống hai con sông lớn là sông Hồng và sông Thái Bình với khu vự rừng núi Tây Bắc được nối nhau bằng đường
bộ là quốc lộ 6 và bằng đường thủy là con sông Đà Hòa Bình là “cửa ngõ Tây Bắc của
Tổ quốc”, cách thủ đô Hà Nội 75km Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 4.662,53 km² nằm trong khoảng 20,9o vĩ Bawcs,86 độ kinh Đông:
- Phía Bắc giáp với tỉnh Phú Thọ
- Phía Nam giáp với các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình
- Phía Đông giáp với thủ đô Hà Nội
- Phía Tây giáp với các tỉnh Sơn La, Thanh Hóa
Hình 2.1: Vị trí địa lý tỉnh Hòa Bình
Trang 392.1.1.2 Địa hình
Địa hình nổi bật là miền núi cao, chia cắt phức tạp, độ dốc lớn, thấp dần từ Bắc xuống Nam và Tây sang Đông Và chia thành hai vùng rõ rệt: Vùng cao Tây Bắc bao gồm các huyện Mai Châu, Đà Bắc kéo dài đến Tân Lạc, Lạc Sơn với độ cao trung bình khoảng 1.000m Ngọn núi cao nhất là Pucanh 1.373m Chiều cao của các dãy núi giảm dần về hướng Đông Nam, cụ thể: Núi cao nhất ở xã Bắc Sơn (Tân Lạc) là 934m, còn ngọn núi cao nhất ở xã Tự Do (Lạc Sơn) chỉ còn cao 820m Hệ thống núi đá ở vùng cao Tây Bắc Hòa Bình có cấu tạo bởi đá xâm nhập, chủ yếu là đá granit và gaboro Vùng núi thấp và đồi phía Đông Nam bao gồm thành phố Hòa Bình và các huyện Kỳ Sơn, Lương Sơn, Kim Bôi, LẠc Thủy, Yên Thủy Địa hình vùng này có sự xen kẽ giữa hiện tượng cácstơ và xâm thực tạo nên nhiều hang động khó giữ được mặt nước,
độ cao núi chỉ từ 20-500m lại bị chia cắt thành nhiều khối rời rạc
2.1.1.3 Khí hậu, thời tiết, thủy văn
- Khí hậu, thời tiết
Vùng nghiên cứu có lượng mưa trung bình nhiều năm dao động từ 1.661 ÷ 2.142mm Vùng lưu vực sông Bôi có lượng mưa tới 2.142 mm/năm là vùng có lượng mưa lớn nhất trong tỉnh, sông Bùi có lượng mưa khoảng 1.661 mm/năm Do điều kiện đặc thù về vị trí địa lý và địa hình, các lưu vực này nằm ở các thung lũng đón gió hoặc khuất gió đối với các hệ thống gió mùa mùa đông hoặc gió mùa mùa hạ
Lượng mưa phân phối không đều theo thời gian trong năm tập trung chủ yếu vào các tháng mùa lũ Mùa mưa nhiều từ tháng V X, tổng lượng mưa các tháng này chiếm tới trên 84,8 ÷ 88,9% tổng lượng mưa của cả năm
Thời kỳ có lượng mưa trung bình tháng nhỏ nhất trong năm là từ tháng XII đến tháng II, thông thường chỉ đạt từ 10 - 30mm mỗi tháng ở hầu hết các nơi trong vùng, tổng lượng mưa của 3 tháng này chỉ đạt từ 2,7 4,0% so với tổng lượng mưa năm
Mặt khác, sự biến động lượng mưa hàng năm cũng tương đối đáng kể, năm mưa lớn nhất có thể gấp từ 2 -3 lần năm mưa nhỏ nhất
Trang 40Có sự biến đổi rất thất thường về lượng mưa ở các tháng trong năm Ngoài thời kỳ mưa lớn như đã nói trên, cuối mùa mưa lũ kể từ tháng XI lượng mưa giảm đi rất nhanh và kéo dài cho đến tháng IV Đây là thời kỳ mà các tháng liên tục có lượng mưa nhỏ dưới
100 mm Tiếp đến tháng V lượng mưa lại bắt đầu tăng đáng kể, đây là thời thường gọi là mùa mưa tiểu mãn Loại mưa này không phải năm nào cũng xảy ra, nhưng theo thống
kê nhiều năm thì số lần xảy ra chiếm tỉ lệ cũng khá lớn vào khoảng 60 - 70% Ở thời kỳ mưa tiểu mãn, thông thường lượng mưa không lớn như ở thời kỳ mùa mưa lũ chính trong năm
Do đặc điểm về sự phân phối khoảng đều của lượng mưa ở các thời kỳ như vậy cho nên biến trình lượng mưa trung bình nhiều năm trong vùng này có dạng 1 đỉnh mưa lớn nhất
là tháng VIII, trùng với thời kỳ thường xảy ra lũ lớn nhất trong năm tại vùng hạ du
- Thủy văn
Mạng lưới sông suối của tỉnh Hòa Bình khá dày đặc, phân bố tương đối đồng đều Trên địa bàn tỉnh Hòa Bình có ba lưu vực sông lớn gồm: lưu vực sông lớn là sông Đà, sông Bôi, sông Bưởi, sông Bùi Những con sông lớn chảy qua địa phận tỉnh có: sông Đà dài 151km, sông Bôi dài 66 km, sông Bưởi dài 48 km, sông Bùi dài 9 km và một số sông nhỏ như sông Cò (Lương Sơn), sông Cầu Đường, sông Thanh Hà, sông Lạng (Yên Thủy) Trữ lượng nước mặt của các dòng sông nói trên rất lớn, tốc độ dòng chảy cao do đặc điểm địa hình tương đối dốc Trong đó, đáng lưu ý nhất là sông Đà
Sông Đà là nhánh lớn của sông Hồng, bắt nguồn từ núi Ngụy Sơn của tỉnh Vân Trung Quốc, có cao độ đầu nguồn là 1.500 m Diện tích lưu vực sông đến công trình thủy điện Hòa Bình là 51.700 km2, chiếm 31% lưu vực sông Hồng, nhưng về tổng lượng nước thì lại chiếm 49% tổng lượng nước của sông Hồng Dòng chính sông Đà chảy qua các huyện Mai Châu, Đà Bắc, Tân Lạc, Thành phố Hòa Bình và huyện Kỳ Sơn Ngoài dòng chính sông Đà còn có các nhánh suối nhỏ chảy trên đất Hòa Bình như: Suối Khoáng, suối Nhạp, Bãi Sang, Ngòi Hoa, Ngòi Lát, Ngòi Mong
Nam-Sông Bôi là nhánh chính của sông Đáy Tổng chiều dài dòng chính sông Bôi có chiều dài trên 100 km (đoạn chảy qua tỉnh Hòa Bình là 66 km), diện tích toàn bộ lưu vực là
664 km2 Lưu vực sông Bôi phần lớn thuộc vào địa phận tỉnh Hòa Bình, trong đó phần