1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác các công trình thủy lợi thuộc công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đầu tư phát triển thủy lợi sông đáy

115 134 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 2,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

[4] hè-Để quản lý hệ thống thủy lợi to lớn mà Nhà nước và nhân dân đã đầu tư xây dựng, hiện nay cả nước có 93 Công ty khai thác công trình thuỷ lợi trong đó có 3 công ty liên tỉnh trực t

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong Luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định

Tác giả Luận văn

Đinh Thị Hà

Trang 2

LỜI CÁM ƠN

Trong qua trình học tâp và nghiên cứu tại trường Đại học Thủy Lợi tác giả đã nhận được

sự quan tâm rất lớn của các thầy, cô giáo trong trường, cùng tập thể lớp 25QLXD21, đồng thời tác giả nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ của Cơ quan nơi tác giả công tác trước đây, cũng như sự giúp đỡ từ phía gia đình tác giả tạo điều kiện cơ sở, vật chất cũng như kích lệ tinh thần để tác giả có thể hoàn thành tốt luận văn chuyên ngành Quản lý xây dựng tại trường

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến Trường Đại học Thủy lợi, Khoa Công trình, Phòng Đào tạo Đại học và Sau đại học, Bộ môn Công nghệ và Quản lý xây dựng, các phòng ban của Trường đã có những giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình thực hiện Luận văn Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Dương Đức Tiến là thầy hướng dẫn trực tiếp tác giả thực hiện Luận văn với đề tài: Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác các công trình thủy lợi thuộc Cty TNHH MTV ĐTPTTL Sông Đáy

Cuối cùng, tác giả xin cám ơn gia đình đã luôn động viên, khích lệ, là chỗ dựa vững chắc để tác giả hoàn thành việc nghiên cứu của mình

Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được sự giúp đóng góp của các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp để tác giả hoàn thiện Luận văn tốt hơn Trân trọng cảm ơn!

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, KHAI THÁC VẬN HÀNH CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 4

1.1 Khái quát chung về công tác quản lý khai thác vận hành công trình thủy lợi 4

1.1.2 Công tác quản lý khai thác vận hành công trình thủy lợi 5

1.2 Những thành tựu cơ bản trong công tác quản lý khai thác vận hành công trình thủy lợi ở Việt Nam 10

1.3 Công tác quản lý công trình thủy lợi 16

1.4 Kinh nghiệm quản lý công trình thủy lợi ở trên thế giới và Việt Nam 35

Kết luận chương 1 40

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ, khai thác CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 41

2.1 Cơ sở pháp lý về quản lý công trình thủy lợi 41

2.2 Phân cấp quản lý các công trình thủy lợi 54

2.3 Nội dung quản lý các công trình thủy lợi 56

2.4 Hiệu quả quản lý các công trình thủy lợi 65

Kết luận chương 2 69

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ KHAI THÁC VẬN HÀNH HỆ THỐNG CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI CỦA CÔNG TY ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN THỦY LỢI SÔNG ĐÁY 70

3.1: Giới thiệu chung về Công ty TNHH MTV ĐTPTTL Sông Đáy 70

3.1.1: Quy mô, phạm vi, quản lý của Công ty 70

31.2 Cơ cấu tổ chức 74

3.1.3 Nội dung hoạt động 75

3.1.4 Phương thức hoạt động 76

3.1.5 Nguồn tài chính và sử dụng nguồn tài chính 78

3.1.6 Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện công tác quản lý, khai thác vận hành hệ thống công trình thủy lợi của Công ty 80

3.2 Công tác quản lý điện năng 90

Trang 4

Bảng 3.5 Điện năng tiêu thụ từ năm 2013 đến năm 2017 90

3.3 Công tác quản lý khai thác vận hành các công trình thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng 91

3.4 Đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý khai thác vận hành hệ thống các công trình thủy lợi của Công ty ĐTPT Thủy lợi Sông Đáy 94

3.4.1 Giải pháp đối với công tác sửa chữa thường xuyên 94

3.4.2 Giải pháp đối với công tác quản lý điện năng 97

3.4.3 Giải pháp đối với công tác quản lý khai thác vận hành hệ thống công trình thủy lợi nhỏ, nội đồng 98

99

3.4.4 Giải pháp cơ cấu tổ chức và nguồn nhân lực 100

Kết luận chương 3 103

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

Trang 5

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1.1 Sơ đồ bồ trí hệ thống các công trình trạm bơm 23

Hình 1.2 Sơ đồ công trình các kiểu trạm bơm 24

Hình 3.1 Bản đồ hệ thống công trình thủy lợi Sông Đáy 73

Hình 3.2 Công trình trạm bơm dã chiến Bá Giang 74

Hình 3.3 Sơ đồ tổ chức của Công ty Đầu tư phát triển Thủy lợi Sông Đáy 75

Hình 3.4 Công trình trạm bơm Đan Hoài 80

Hình 3.5 Trạm bơm Cực Nam xuống cấp – huyện Đan Phượng 91

Hình 3.6 Trạm bơm Bến Đá – huyện Hoài Đức 92

Hình 3.7 Máy bơm trạm bơm Bè Rách xuống cấp – huyện Đan Phượng 92

Hình 3.8 Trạm bơm có diện tích phục vụ tưới tiêu nhỏ có thể loại bỏ bằng các giải pháp công trình khác (trạm bơm Chùa Tán – xã Tân Lập, Đan Phượng) 99

Hình 3.9 Đề xuất sơ đồ tổ chức Công ty 102

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Các khoản chi phí trung bình từ năm 2013 đến 2017 của Công ty 79

Bảng 3.2 Nguồn kinh phí sửa chữa thường xuyên từ năm 2013 đến 2017 84

Bảng 3.3 Số lượng công trình sửa chữa thường xuyên từ năm 2013 đến 2018 85

Bảng 3.4 Thời gian phê duyệt dự toán chi tiết đặt hàng từ năm 2013 đến năm 2018 86

Bảng 3.5 Điện năng tiêu thụ từ năm 2013 đến năm 2017 90

Bảng 3.6 Số lượng công trình thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng 93

Bảng 3.7 Bảng theo dõi công tác sửa chữa thường xuyên phần cơ điện 95

Bảng 3.8 Bảng theo dõi công tác sửa chữa thường xuyên phần thủy công 96

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BNNPTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

CNH Công nghiệp hóa

CTTL Công trình thủy lợi

HĐH Hiện đại hóa

PTNT Phát triển nông thôn

QLKTCTTL Quản lý khai thác công trình thủy lợi

TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam

TNHHMTV Trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

*Trong những năm gần đây, đặc biệt trận lũ lịch sử năm 2008 cho đến nay, công tác duy trì vận hành tưới tiêu các công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố Hà Nội luôn được

cá cấp chính quyền, các cơ quan chức năng và nhân dân đặc biệt quan tâm.Hệ thống công trình thủy lợi là cơ sở hạ tầng thiết yếu, phục vụ tưới, tiêu cho diện tích lớn cây trồng, góp phần quan trọng làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp, thủy sản; phòng, chống giảm nhẹ thiên tai và thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế khác

*Công ty TNHH MTV- ĐTPTTL Sông Đáy với hệ thống các công trình thủy lợi được bàn giao quản lý, khai thác và vận hành phục vụ tưới, tiêu nước dân sinh kinh tế và đất nông nghiệp của 6 quận huyện chính đó là: H Đan Phượng, H Hoài Đức, H Hà Đông,

H Thanh Oai, H Chương Mỹ, H Mỹ Đức và một phần của quận Bắc Từ Liêm, huyện Phú Xuyên, Thường Tín thuộc TP Hà Nội Tổng diện tích lưu vực trên 60.000 ha, trong

đó diện tích đất nông nghiệp gần 30.000 ha Vùng hệ thống phục vụ có vị trí địa lý: Phía Bắc giáp sông Hồng, phía Nam giáp tỉnh Hà Nam, phía Đông giáp Công ty TNHH MTV ĐTPT thuỷ lợi Sông Nhuệ, phía Tây giáp tỉnh Hoà Bình

*Tuy nhiên, với tình hình biến đổi khí hậu ngày càng khắt nghiệt như hiện nay, mùa kiệt thì mực nước sông Hồng, xuống thấp, chất lượng nước bị ô nhiễm trầm trọng, mùa

lũ thì lên nhanh, tiêu rút chậm do cơ cấu sử dụng đất thay đổi nhanh chóng cùng sự phát triển của các khu đô thị, khu dân cư Hệ thống các công trình thủy lợi lạc hậu xuống cấp chủ yếu được đầu tư xây dựng từ những năm 1970-1980, trong khi đầu tư xây dựng mới các công trình thủy lợi theo quy hoạch thủy lợi 2020 và tầm nhìn 2030 của TP Hà Nội chưa thể đáp ứng kịp thời những thay đổi trên Mặt khác, theo phân cấp quản lý nhà nước trên địa bàn TP Hà Nội mới ban hành theo Quyết định số 17978/QĐ-UBND Cty tiếp nhận thêm 534 trạm bơm lớn nhỏ, tưới, tiêu kết hợp và toàn bộ hệ thống kênh mương nội đồng của các quận huyện: Đan Phượng, Hoài Đức, Quận Bắc Từ Liêm, Quận Hà Đông, Thanh Oai, Thường Tín, Phú Xuyên, Chương Mỹ,

Mỹ Đức( trước đây do các Xã, huyện phụ trách quản lý)

Trang 10

*Tất cả những vẫn đề trên đặt ra một vấn đề hết sức khó khăn và nan giải cho Cty TNHH MTV ĐTPTTL Sông Đáy nói riêng và ngành thủy lợi trên địa bàn Hà Nội nói chung về việc thực hiện các nội dung của công tác quản lý, khai thác vận hành hệ thống công trình thủy lợi Đặc biệt về những vấn đề khó khăn nổi cộm trong việc quản

lý điện năng, công tác tu sửa chữa thường xuyên, công tác khai thác, vận hành những trạm bơm nhỏ lẻ, kênh mương nội đồng được nhận lại của các hợp tác xã

* Mặt khác quy định về quản lý khai thác và vận hành công trình còn thiếu, do vậy việc quản lý khai thác và vận hành cần được nghiên cứu để xây dựng quy trình tốt và đạt hiệu quả hơn

-Vì vậy tác giả luận văn chọn đề tài: Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý,

khai thác các công trình thủy lợi thuộc Công ty TNHH MTV – ĐTPTTL Sông Đáy

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác các công trình thủy lợi thuộc Công ty TNHH MTV – ĐTPTTL Sông Đáy

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý các công trình thủy lợi;

Phạm vi nghiên cứu: Quản lý các công trình thủy lợi thuộc Công ty TNHH MTV –

ĐTPTTL Sông Đáy

3 Phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài dựa trên phương pháp chung nghiên cứu là duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng; phương pháp thống kê số liệu thực tế và các phương pháp kỹ thuật cụ thể như phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp các vấn đề

4 Cấu trúc của Luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về công tác quản lý công trình thủy lợi

Trang 11

Chương 2: Cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý về nâng cao hiệu quả quản lý các công trình thủy lợi

Chương 3: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý công trình thủy lợi thuộc Công ty TNHH MTV – ĐTPTTL Sông Đáy

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, KHAI THÁC VẬN HÀNH CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI

1.1 Khái quát chung về công tác quản lý khai thác vận hành công trình thủy lợi

1.1.1 Khái quát về công tác quản lý khai thác vận hành công trình xây dựng

Công tác quản lý khai thác vận hành công trình là gì? Công tác quản lý khai thác vận hành công trình là sự tác động có tổ chức của đơn vị quản lý đối với các hoạt động khai thác công trình nhằm mục đích sử dụng tiềm năng và lợi thế của công trình phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường, duy trì trạng thái kỹ thuật và không gian kiến trúc của công trình

Trong Luật xây dựng 50/2014/QH13 đã quy định về hoạt động xây dựng gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, thi công xây dựng, giám sát xây dựng, quản lý dự án, lựa chọn nhà thầu, nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng và hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình [1]

Như vậy, nội hàm của hoạt động xây dựng là các công việc xuyên suốt từ chủ trương đầu tư đến kết thúc tuổi thọ công trình Thông thường, một vòng đời khép kín của một

dự án đầu tư xây dựng, bắt đầu từ khi có ý tưởng ban đầu đến khi thành hiện thực, thông thường phải trải qua sáu giai đoạn cơ bản như sau: 1 Nghiên cứu lập dự án; 2 Thực hiện các bước thiết kế; 3 Thi công xây dựng, lắp đặt thiết bị công nghệ; 4 Vận hành và hoàn chỉnh; 5 Đưa vào khai thác sử dụng, bảo hành, bảo trì; 6 Tháo dỡ, phá bỏ công trình khi hết tuổi thọ thiết kế Do đó, công tác quản lý khai thác vận hành công trình xây dựng là một hoạt động không thể tách rời trong các hoạt động xây dựng

Ở Việt Nam cùng với sự phát triển mạnh mẽ của đất nước, là sự ra đời của những công trình xây dựng lớn mới được xây dựng như: các tòa nhà cao tầng, các công trình giao thông, công trình cấp nước, công trình thủy lợi, thủy điện cùng với hệ thống các công trình cũ đã được xây dựng đang góp phần quan trọng trong phát triển đời sống kinh tế -

xã hội của đất nước Nếu trước đây, công tác quản lý khai thác vận hành công trình xây dựng chưa được quan tâm chú trọng đúng mức Thì trong những năm gần đây, công tác

Trang 13

thành nội dung quan trọng trong chiến lược quản lý tài sản, bằng việc ra đời của hàng loạt các cơ sở pháp lý và kỹ thuật từ chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và khai thác, bảo trì công trình, nhằm đảm bảo và duy trì sự làm việc bình thường, an toàn của công trình theo quy định của thiết kế trong suốt quá trình khai thác sử dụng

1.1.2 Công tác quản lý khai thác vận hành công trình thủy lợi

Việt Nam có mạng lưới sông ngòi dày đặc (2.360 sông dài trên 10 km) tạo nên nguồn tài nguyên nước phong phú với tổng lượng dòng chảy trên toàn lãnh thổ ước tính 850 tỷ

m3 Hơn 62 tỷ m3 nước được trữ lại tròn khoảng gần 7.000 hồ chứa để tiều tiết, cấp nước cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Cho đến nay, ngành thủy lợi phục vụ cho nông nghiệp là một trong những ngành sử dụng nước lớn nhất Việt Nam, khai thác nước phục vụ tưới vượt qía 65,5 tỷ m3 mỗi năm (chiếm khoảng 80% tổng lượng nước sử dụng)

Trong nhiều năm qua, chính phủ đã quan tâm đầu tư cho công trình thủy lợi phục vụ đa mục tiêu Cả nước có 6.648 hồ chứa nước thủy lợi các loại đã được xây dựng, trong đó:

số hồ có dung tích từ 10 triệu m3 trở lên có 103 hồ, dung tích từ 3 đến 10 triệu có 152

hồ, dung tích dưới 3 triệu m3 có 6.393 hồ.[2]

Hệ thống thủy lợi, hiện nay, cả nước đã xây dựng được gần 100 hệ thống thuỷ lợi vừa

và lớn, trong đó có 1.967 hồ chứa có dung tích chứa trên 0,2 triệu m3, tổng dung tích trữ 24,8 tỷ m3, tổng năng lực thiết kế tưới đạt khoảng 505.000 ha; năm 2003 cả nước có khoảng 5164 trạm bơm lớn đến nay số trạm bơm là trên 10 nghìn trạm (Q = 24,8 triệu

m3/h), trong đó trên 2 nghìn trạm bơm lớn; 1.000 km kênh trục lớn, 5.000 cống tưới, tiêu lớn, 23.000 bờ bao ngăn lũ đầu vụ hè thu ở ĐBSCL, cùng với hàng vạn km kênh mương và công trình trên kênh Các hệ thống có tổng năng lực tưới trực tiếp cho 3,45 triệu ha, tạo nguồn cấp nước cho 1,13 triệu ha, tiêu cho 1,4 triệu ha, ngăn mặn cho 0,87

triệu ha và cải tạo chua phèn cho 1,6 triệu ha đất canh tác nông nghiệp [3] Diện tích

lúa, rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày được tưới không ngừng tăng lên qua từng thời kì Cụ thể theo 7 vùng kinh tế như sau :

- Vùng Trung du và Miền núi Bắc bộ

Trang 14

+ Tưới tiêu, cấp nước: Hiện có 1.750 hồ chứa vừa và nhỏ, 40.190 đập dâng, hàng trăm công trình thuỷ điện, thuỷ lợi, 379 trạm bơm điện, hàng vạn công trình tiểu thuỷ nông Trong vùng có những công trình lớn lợi dụng tổng hợp điều tiết cấp nước, phát điện, chống lũ cho cả vùng trung và hạ du là Hoà Bình, Thác Bà, Núi Cốc, Cấm Sơn Diện tích tưới thiết kế 263.067 ha, thực tưới được 206.037 ha và cấp nước sinh hoạt cho hơn

30 vạn dân nông thôn, cấp nước cho các khu đô thị và công nghiệp ở các tỉnh

+ Phòng chống thiên tai lũ lụt: Dọc các sông nhánh chính của hệ thống sông Hồng-Thái

Bình đều đã có đê khép với các tuyến đê ở hạ du, tạo thành hệ thống đê hoàn chỉnh bảo

vệ cho cả vùng trung du và đồng bằng sông Hồng, trong đó có 399 km đê sông, 194 cống dưới đê Trung ương quản lý và 120 km đê biển và cửa sông.[4]

+ Phòng chống thiên tai lũ lụt: Đã hình thành một hệ thống đê điều hoàn chỉnh gồm:

2.700 km đê sông, 1.118 cống dưới đê trung ương quản lý, 310 km đê biển + cửa sông

Đê sông được thiết kế chống lũ có mực nước tương ứng +13,1m ở Hà Nội và +7,20 m tại Phả Lại Riêng đoạn đê hữu sông Hồng bảo vệ Hà Nội có mức nước thiết kế +13,4m.[4]

- Vùng Bắc Trung bộ

+ Tưới tiêu, cấp nước: Trong vùng đã xây dựng được 2 hệ thống thủy lợi lớn là Đô Lương và Bái Thượng, 20 hồ chứa có dung tích trên 10 triệu m3 và hàng nghìn công trình hồ, đập, trạm bơm vừa và nhỏ Tổng diện tích tưới thiết kế là 424.240 ha canh tác, thực tưới 235.600 ha lúa đông-xuân, 159.700 ha lúa hè-thu và 219.700 ha lúa mùa, cung cấp và tạo nguồn cấp cho dân sinh và các khu đô thị trong vùng Các hệ thống tiêu được thiết kế với hệ số tiêu 4,2-5,6 l/s.ha, có diện tích tiêu thiết kế 163.200 ha (tiêu động lực 48.330 ha), thực tiêu được 132.880 ha (tiêu động lực được 35.210 ha)

Trang 15

+ Phòng chống thiên tai lũ lụt: Dọc các hệ thống sông Mã, sông Cả và ven biển đã có

đê chống lũ và ngăn sóng, triều Riêng 3 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh có 512 km

đê sông, 259 cống dưới đê trung ương quản lý và 784 km đê biển + cửa sông Đê sông

Mã, sông Cả có thể chống lũ chính vụ lớn như lũ lịch sử (P > 2-2,5%) không bị tràn, đê các sông khác chỉ chống được lũ sớm, lũ tiểu mãn và lũ muộn (P >10-20%) bảo vệ sản xuất vụ đông-xuân và hè-thu.[4]

- Vùng Duyên hải Nam Trung bộ

+ Tưới tiêu, cấp nước: Có 891 công trình thuỷ lợi cấp nước, gồm 16 đập dâng, 32 hồ

chứa 154 trạm bơm, 683 công trình nhỏ Tổng năng lực tưới thiết kế 181.930 ha, thực tưới được 106.440 ha

+ Phòng tránh bão lũ: Các giải pháp phòng chống lũ chủ yếu là bố trí sản xuất tránh lũ chính vụ, mới có một số hệ thống bờ bao bảo vệ sản xuất vụ hè-thu Riêng đê biển ở tỉnh Quảng Nam và Thành phố Đà Nẵng có chiều dài 214 km.[4]

- Vùng Tây Nguyên

+Tưới tiêu, cấp nước: Có 972 công trình thuỷ lợi lớn nhỏ tưới cho 34.224 ha lúa Đông xuân và 87.148 ha cây cà phê Trong đó, ở tỉnh Kon Tum có 150 công trình, tưới cho 4.900 ha lúa đông-xuân, 5.000ha cà phê; tỉnh Gia Lai có 165 công trình, tưới cho 11.650

ha lúa đông xuân, 9.600 ha cà phê; tỉnh Đắc Lắc có 476 công trình, tưới cho 9.864 ha lúa đông-xuân, 46.878 ha cà phê; Lâm Đồng có 180 công trình, tưới 7.830 ha lúa đông xuân, 31.870 ha cà phê

+ Công trình chống lũ: chưa được đầu tư nhiều, mới có một vài tuyến đê nhỏ, bờ bao chống lũ sớm và lũ tiểu mãn ở một số vùng nhỏ

- Miền Đông Nam bộ

+ Tưới tiêu, cấp nước, thuỷ điện: Đã xây dựng được nhiều công trình lớn lợi dụng tổng

hợp như: Trị An trên sông Đồng Nai, Thác Mơ trên Sông Bé, Dầu Tiếng trên sông Sài Gòn, Hàm Thuận - Đa Mi (công suất 475 MW, điện lượng 1550 Gwh/năm); đập Nha Trinh, Hồ Sông Quao, hồ Đá Bàn, Đa Tôn, Sông Mây…cùng các công trình có quy mô vừa khác có tổng công suất 1.188 MW, điện lượng trung bình 4,498 tỷ Kwh/năm Công

Trang 16

trình Dầu tiếng có diện tích tưới thiết kế khoảng 93.000 ha và chuyển sang sông Vàm

Cỏ khoảng 10 m3/s Ngoài ra còn nhiều công trình vừa và nhỏ khác tưới cho hàng chục ngàn hecta Các hồ chứa đã điều tiết tăng lưu lượng kiệt ở hạ lưu, ranh giới mặn được đẩy lùi về hạ lưu: sông Đồng Nai khoảng 18-20 km; sông Vàm Cỏ Đông 8-10 km Nước ngầm được khai thác chủ yếu cấp cho sinh hoạt, một số nơi được khai thác để tưới cho cây công nghiệp, chủ yếu là cà phê Tổng lượng nước ngầm khai thác ước tính khoảng 750.000 m3/ngày, trong đó cấp cho sinh hoạt 700.000 m3/ngày (gồm các trạm bơm Hoóc Môn ở TP Hồ Chí Minh 20.600 m3/ngày và Hòa An, Suối Vàng, Sông Dinh) + Phòng chống lũ: Hiện nay, công trình phòng chống lũ chủ yếu là các hồ chứa ở thượng lưu tham gia chống lũ cho bản thân công trình và một phần giảm lũ cho hạ du Ở hạ du chỉ có một vài tuyến đê nhỏ.[4]

- Vùng Đồng bằng sông Cửu long

+ Tưới tiêu, cấp nước: Đã cải tạo và đào mới trên 4.430 km kênh trục và kênh cấp

I tạo nguồn cách nhau khoảng 5 km/kênh (có chiều rộng từ 840 m, cao trình đáy từ 2,0 ¸ -4,0 m); trên 6.000 km kênh cấp II (khoảng 1-2 km có 1 kênh), đưa nước ngọt tưới sâu vào nội đồng và tăng cường khả năng tiêu úng, xổ phèn cho đồng ruộng và 105 trạm bơm điện quy mô lớn và vừa, hàng vạn máy bơm nhỏ để tưới tiêu với năng lực tưới thiết

-kế 81.620 ha (thực tưới được 23.380 ha) Xây dựng khoảng 80 cống rộng từ 5 m trở lên trong đó có nhiều cống rộng từ 10-30 m, hàng trăm cống có bề rộng 2-4 m và hàng vạn cống nhỏ để ngăn mặn, ngăn lũ, lợi dụng thuỷ triều tưới tiêu Lớn nhất là cống đập Ba Lai có chiều rộng 84m

+ Kiểm soát lũ: Xây dựng khoảng 23.000 km bờ bao chống lũ tháng 8 bảo vệ lúa thu Đã xây dựng 450 km đê biển, 1.290 km đê sông để ngăn mặn cho vùng ven biển Xây dựng hơn 200 km đê bao cho các khu rừng chàm tập trung để giữ nước mưa chống cháy rừng trong mùa khô [4]

hè-Để quản lý hệ thống thủy lợi to lớn mà Nhà nước và nhân dân đã đầu tư xây dựng, hiện nay cả nước có 93 Công ty khai thác công trình thuỷ lợi (trong đó có 3 công ty liên tỉnh trực thuộc Bộ NN&PTNT, còn lại là các Công ty trực thuộc UBND cấp tỉnh), một số tổ

Trang 17

tục thực hiện lộ trình sắp xếp, đổi mới hoạt động của doanh nghiệp các địa phương tiếp tục đổi mới, kiện toàn các tổ chức quản lý khai thác công trình thuỷ lợi và củng cố tổ chức hoạt động của các tổ chức hợp tác dùng nước Một số tỉnh đã kiện toàn hệ thống

tổ chức quản lý nhà nước về thuỷ lợi như Thừa Thiên Huế, Hà Giang, Bắc Cạn, Phú Yên đã thành lập các Chi cục Thuỷ lợi hoặc kiện toàn về tổ chức như Quảng Ngãi Các địa phương khác chưa có Chi cục Thuỷ lợi cũng đang trong quá trình xây dựng Đề án thành lập Chi cục Thuỷ lợi Các doanh nghiệp khai thác công trình thủy lợi thường xuyên chịu tác động của các chủ trương, chính sách mới, dẫn đến việc thường xuyên đưa vào diện được xem xét tách, nhập, tổ chức lại Một số tỉnh đã thực hiện đổi mới, sắp xếp lại hệ thống doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi trong tỉnh như TP.Hà Nội sau khi sáp nhập còn 4 doanh nghiệp khai thác công trình thủy lợi liên huyện: Sông Đáy, Sông Tích, Sông Nhuệ và Quản lý, đầu tư thuỷ lợi Hà Nội; tỉnh Hải Dương sát nhập các Công ty KTCTTL huyện thành Công ty KTCTTL tỉnh

Các tổ chức quản lý khai thác vận hành công trình thủy lợi qua nhiều năm hoạt động đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần vô cùng quan trọng cho sự phát triển của mọi ngành kinh tế - xã hội nhất là trong thời kỳ đổi mới của đất nước, đặc biệt là phát triển sản xuất lương thực

Tuy nhiên hiệu quả khai thác công trình thủy lợi chưa cao, các công trình thủy lợi phục

vụ nông nghiệp chỉ khai thác được 60-65% năng lực thiết kế, thậm chí có công trình mới khai thác với năng lực thấp hơn Bên cạnh nguyên nhân khác quan, như công trình

bị xuống cấp theo thời gian, nhiều công trình xây dựng cách đây 40, 50 năm; xu hướng bất lợi của thời tiết khí hậu; chế độ vận hành hồ chưa hợp lý; nhu cầu nước các ngành tăng lên do phát triển kinh tế - xã hội Có Nguyên nhân chủ quan do không được đầu tư thỏa đáng để duy tu, bảo dưỡng và sửa chữa, nâng cấp công trình; do các vấn đề về thể chế và tổ chức quản lý khai thác vận hành công trình

Luật Thủy lợi số 08/2017/QH14 có hiệu lực từ ngày 01/7/2018 và theo đó các Nghị định, Thông tư hướng dẫn Luật lợi có hiệu lực, đã hoàn thiện cơ sở pháp lý, quy định rõ nội dung, chức năng nhiệm vụ và nguồn tài chính hoạt động cho các tổ chức hoạt động quản lý khai thác vận hành công trình thủy lợi, cùng với nhận thức mới về tầm quan trọng của công tác quản lý khai thác vận hành công trình thủy lợi của Nhà nước và nhân

Trang 18

dân, sự lỗ lực nâng cao hiệu quả quản lý của các đơn vị tổ chức quản lý, hi vọng sẽ mang lại sự đột phá mới trong công tác quản lý khai thác vận hành công trình thủy lợi, góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước

1.2 Những thành tựu cơ bản trong công tác quản lý khai thác vận hành công trình thủy lợi ở Việt Nam

- Công tác thủy lợi đã góp phần quan trọng trong việc phục vụ sản xuất và dân sinh, bảo đảm an ninh lương thực, góp phần bảo vệ môi trường và phòng, chống giảm nhẹ thiên tai

- Hệ thống tổ chức quản lý thủy lợi từ Trung ương đến địa phương không ngừng củng

cố, hoàn thiện

+ Tổ chức nhà nước về thủy lợi từ Trung ương đến địa phương tương đối đồng bộ, thống nhất để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về thủy lợi Ở Trung ương, có Tổng cục Thủy lợi trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực chức năng quản lý nhà nước về thủy lợi Ở cấp tỉnh, có 62/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Chi cục Thủy lợi (hoặc Chi cục Thủy lợi và Phòng chống lụt bão) Ở cấp huyện, thành lập Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoặc Phòng Kinh tế thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thủy lợi Nhìn chung, các cơ quan quản lý nhà nước về thủy lợi đã thực hiện tốt chức năng tham mưu giúp việc cho cấp lãnh đạo trong chỉ đạo, điều hành phục vụ phát triển kinh tế - xã hội

+ Tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi

Về quản lý công trình thủy lợi đầu mối, hệ thống thủy lợi liên xã trở lên, cả nước hiện

có 93 Công ty khai thác công trình thuỷ lợi (trong đó có 3 công ty liên tỉnh trực thuộc

Bộ NN&PTNT, còn lại là các Công ty trực thuộc UBND cấp tỉnh), 7 đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh và 4 Chi cục Thủy lợi kiêm nhiệm.[2]

Về quản lý các công trình thủy lợi nhỏ và hệ thống kênh mương nội đồng, cả nước có 16.238 Tổ chức dùng nước, bao gồm các loại hình chủ yếu là: Hợp tác xã có làm dịch

vụ thủy lợi (Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và Hợp tác xã chuyên khâu thủy nông), Tổ

Trang 19

nông Trong đó, Hợp tác xã và Tổ hợp tác là hai loại hình chính, chiếm 90% Tổ chức dùng nước.[2]

Công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi đang từng bước đi vào nề nếp, phục vụ tốt sản xuất, dân sinh Hoạt động của các tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi

cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất, dân sinh Một số đơn vị ở địa phương và trung ương đã chủ động đổi mới mô hình tổ chức và cơ chế quản lý nhằm nâng cao hiệu quả các công trình thủy lợi, như: Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Nội, Thanh Hóa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Thành Phố Hồ Chí Minh, An Giang, Công ty TNHHMTV Khai thác công trình thủy lợi Bắc Nam Hà, vv…

1.2.1 Khái niệm về công trình thủy lợi

Hiện nay, vấn đề phát triển nông thôn đang là mối quan tâm hàng đầu ở các nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng cũng như thu hút được sự chú ý của nhiều nhà khoa học Để tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện, đáp ứng được yêu cầu trong đời sống của nhân dân, đòi hỏi nông thôn phải có một cơ sở hạ tầng đảm bảo, mà trước hết là thuỷ lợi - một lĩnh vực cơ bản có tính chất quyết định Thuỷ lợi đáp ứng các yêu cầu về nước một trong những điều kện tiên quyết để tồn tại và phát triển cuộc sống cũng như các loại hình sản xuất Đồng thời thuỷ lợi góp phần không nhỏ cho sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước, không ngừng nâng cao đời sống cả về kinh tế và văn hoá -

xã hội Tuy nhiên, khái niệm về công trình thủy lợi mới chỉ được đưa ra ở một số tài liệu sau:

Theo Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội số 32/2001/PL-UBTVQH10 ngày 04 tháng 04 năm 2001 về khai thác và bảo vệ công trinhg thủy lợi đưa ra khái niệm công trình thủy lợi như sau: “Công trình thuỷ lợi là công trình thuộc kết cấu hạ tầng nhằm khai thác mặt lợi của nước; phòng, chống tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái, bao gồm: hồ chứa nước, đập, cống, trạm bơm, giếng, đường ống dẫn nước, kênh, công trình trên kênh và bờ bao các loại” [1]

Theo Luật Thủy lợi số 08/2017/QH14 ngày 19 tháng 06 năm 2017 thì: “Công trình thủy lợi là công trình hạ tầng kỹ thuật thủy lợi bao gồm đập, hồ chứa nước, cống, trạm bơm,

hệ thống dẫn, chuyển nước, kè, bờ bao thủy lợi và công trình khác phục vụ quản lý, khai thác thủy lợi” [2]

Trang 20

Theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 8418:2010, công trình thủy lợi được định nghĩa như sau: “công trình thủy lợi là công trình thuộc kết cấu hạ tầng nhằm khai thác các mặt lợi của nước; phòng, chống tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái, bao gồm: hồ chứa nước, đập, cống, trạm bơm, kênh, công trình trên kênh và bờ bao các loại” [3]

Theo giáo trình Thủy công: “Công trình được xây dựng để sử dụng nguồn nước gọi là công trình thủy lợi” [4]

Như vậy, có thể thấy công trình thủy lợi là công trình thuộc kết cấu hạ tầng được xây dựng để sử dụng nguồn nước và đây làbiện pháp điều hoà giữa yêu cầu về nước với lượng nước đến của thiên nhiên trong khu vực; đó cũng là sự tổng hợp các biện pháp nhằm khai thác, sử dụng và bảo vệ các nguồn nước, đồng thời hạn chế những thiệt hại

do nước có thể gây ra

1.2.2 Đặc điểm công trình thủy lợi

Các hệ thống thủy lợi đều phục vụ đa mục tiêu, trong đó có tưới, tiêu, cấp nước sinh hoạt, thủy văn, sản xuất công nghiệp, phát điện, giao thông, du lịch, chống lũ, ngăn mặn, cải tạo đất đai, môi trường, sinh thái

Vốn đầu tư xây dựng công trình thủy lợi thường rất lớn, bình quân phải đầu tư thấp nhất cũng 50÷100 triệu đồng

Công trình thủy lợi muốn phát huy hiệu quả cao phải được xây dựng đồng bộ, khép kín

từ đầu mối (phần do Nhà nước đầu tư) đến tận ruộng (phần do dân tự xây dựng)

Mỗi công trình, hệ thống công trình thủy lợi chỉ phục vụ cho một vùng nhất định theo thiết kế, không thể di chuyển từ vùng đang thừa nước đến vùng thiếu nước theo yêu cầu thời vụ; đều phải có một tổ chức của nhà nước, tập thể hay cá nhân trực tiếp quản lý, vận hành theo yêu cầu của các hộ sử dụng nước

Hệ thống công trình thủy lợi nằm rải rác ngoài trời, trải trên diện rộng, có khi qua các khu dân cư, nên ngoài tác động của thiên nhiên, còn chịu tác động trực tiếp của con người (người dân)

Trang 21

Hiệu quả của công trình thủy lợi hết sức lớn và đa dạng, có loại có thể xác định được bằng tiền hoặc bằng khối lượng vật chất cụ thể, nhưng có loại không thể xác định được

1.2.3 Vai trò của công trình thủy lợi

- Tăng diện tích canh tác cũng như mở ra khả năng tăng vụ nhờ chủ động về nước, góp phần tích cực cho công tác cải tạo đất Nhờ có hệ thống thuỷ lợi mà có thể cung cấp nước cho những khu vực bị hạn chế về nước tưới tiêu cho nông nghiệp đồng thời khắc phục được tình trạng khi thiếu mưa kéo dài và gây ra hiện tượng mất mùa mà trước đây tình trạng này là phổ biến Mặt khác nhờ có hệ thống thuỷ lợi cung cấp đủ nước cho đồng ruộng từ đó tạo ra khả năng tăng vụ, vì hệ số quay vòng sử dụng đất tăng từ 1,3 lên đến 2,0÷2,2 lần đặc biệt có nơi tăng lên đến 2,4÷2,7 lần Nhờ có nước tưới chủ động nhiều vùng đã sản xuất được 4 vụ;

- Góp phần vào việc xoá đói giảm nghèovà chống hiện tượng sa mạc hoá;

- Tăng năng suất cây trồng, tạo điều kiện thay đổi cơ cấu nông nghiệp, giống loài cây trồng, vật nuôi, làm tăng giá trị tổng sản lượng của khu vực;

- Cải thiện chất lượng môi trường và điều kiện sống của nhân dân nhất là những vùng khó khăn về nguồn nước, tạo ra cảnh quan mới;

- Thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác như công nghiệp, thuỷ sản, du lịch, ;

- Tạo công ăn việc làm, góp phần nâng cao thu nhập cho nhân dân, giải quyết nhiều vấn

đề xã hội, khu vực do thiếu việc làm, do thu nhập thấp Từ đó góp phần nâng cao đời sống của nhân dân cũng như góp phần ổn định về kinh tế và chính trị trong cả nước;

- Thuỷ lợi góp phần vào việc chống lũ lụt do xây dựng các công trình đê điều, từ đó bảo

vệ cuộc sống bình yên của nhân dân và tạo điều kiện thuận lợi cho họ tăng gia sản xuất Tóm lại, thuỷ lợi có vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của nhân dân nó góp phần vào việc ổn định kinh tế và chính trị tuy nó không mang lại lợi nhuận một cách trực tiếp nhưng nó cũng mang lại những nguồn lợi gián tiếp như việc phát triển ngành này thì kéo theo rất nhiều ngành khác phát triển theo Từ đó tạo điều kiện cho nền kinh

tế phát triển và góp phần vào việc đẩy mạnh công cuộc CNH-HĐH đất nước

Trang 22

1.2.4 Phân loại công trình thủy lợi

Để phục vụ cho các lĩnh vực thủy lợi khác nhau và do điều kiện khí hậu thủy văn, địa chất

và địa hình khác nhau chia ra các loại công trình thủy lợi có kết cấu khác nhau như sau:

1.2.4.1 Các loại đập

Đây là những công trình chắn ngang sông, làm dâng cao mực nước ở phía trước tạo thành hồ chứa Vật liệu làm đập là bê tông, bê tông cốt thép, gỗ, đá, đất và được gọi là đập bê tông, đập bê tông cốt thép, đập gỗ, đập đá, đập đất Loại đập được dùng rộng rãi nhất là đập vật liệu tại chỗ và đập bê tông Đập vật liệu tại chỗ được xây dựng bằng các loại đất như đất thịt, sét, cát, thịt pha cát, đá và hỗn hợp đất đá

- Đập bê tông: gồm có đập bê tông trọng lực; đập bản chống và đập vòm

- Đập đất: được xây dựng bằng các loại đất, thân đập được đắp bằng một loại hay nhiều loại đất khác nhau.Nước thấm qua thân đập tạo thành dòng thấm

- Đập đá: loại này thân đập được đắp bằng đá hoặc được đắp bằng nửa đất nửa đá

- Các loại đập khác: đập đá đổ bọc bê tông, đập cao su, đập gỗ,…

1.2.4.2 Các công trình điều chỉnh

Các công trình điều chỉnh bao gồm:

- Hệ thống đê dọc các bờ sông để chống nước lũ tràn vào đồng ruộng, các khu dân cư, các khu kinh tế,…

- Các đập mỏ hàn, tường hướng dòng để lái dòng chảy trong sông theo hướng có lợi cho lấy nước, chống xói lở bờ;

- Các ngưỡng đáy để điều khiển bùn cát, chống bồi lấp cửa lấy nước và chống xói bờ sông;

- Các kè để bảo vệ bờ sông, mái đê khỏi bị xói do sóng đánh hay do dòng chảy mặt thúc vào trong mùa lũ;

- Các hệ thống lái dòng đặc biệt dùng để hướng dòng chảy mặt vào cửa lấy nước, xói trôi các bãi bồi, cải tạo luồng lạch phục vụ giao thông thủy

Trang 23

1.2.4.3 Các công trình dẫn nước

Các công trình dẫn nước bao gồm:

- Kênh là một dạng sông nhân tạo, được đào, đắp hoặc nửa đào nửa đắp hay xây mà thành Mặt cắt ngang thường có dạng hình thang, đôi khi là hình chữ nhật, nửa tròn,…;

- Máng nước, dốc nước, bậc nước, cầu máng là kênh nhân tạo được xây trên mặt đất hoặc cao hơn mặt đất, làm bằng bê tông cốt thép, thép, gỗ, gạch, đá xây Các công trình này được sử dụng khi điều kiện địa hình, địa chất không cho phép làm kênh;

- Đường hầm được xây dựng dưới đất, trong núi.Khi các đường dẫn nước gặp núi cao không thể đào kênh được thì người ta phải làm đường hầm để nối tiếp các kênh chuyển nước Cũng có thể là đường hầm dẫn nước vào nhà máy thủy điện, hoặc đường hầm tháo lũ của hồ chứa, ;

- Đường ống là những ống dẫn nước làm bằng thép, bê tông cốt thép được đặt trên mặt hoặc dưới đất hoặc bố trí trong thân đập, dưới kênh mương, đê,… để dẫn nước

1.2.4.4 Các công trình chuyên môn

Là những công trình được dùng cho một số mục đích kinh tế thủy lợi như:

- Trạm thủy điện, buồng xoắn, bể áp lực, tháp điều áp;

- Công trình giao thông thủy: âu tàu, máy nâng tàu, công trình chuyển gỗ, bến cảng,…;

- Công trình thủy nông: cống điều tiết, hệ thống tưới tiêu, hệ thống thoát nước;

- Công trình cấp nước và thoát nước: công trình lấy nước, dẫn nước, trạm bơm, công trình cho vệ sinh, thoát nước,…;

- Công trình cho cá: đường cá đi, đường chuyển cá, hồ nuôi cá,…

Trang 24

1.3 Công tác quản lý công trình thủy lợi

1.3.1 Công trình hồ chứa đập dâng

1.3.1.1 Các khái niệm và phân loại

(1) Các khái niệm:

- Đập: là công trình làm nhiệm vụ ngăn nước và các công trình có liên quan, tạo hồ chứa nước nhằm thực hiện các mục đích sau đây:

+ Tích trữ nước, cung cấp cho các nhu cầu dùng nước;

+ Điều tiết hoặc phân chia dòng chảy lũ, giảm ngập lụt cho vùng hạ du;

+ Tạo áp lực nước để phục vụ phát điện

- Các công trình có liên quan đến hồ chứa nước, gồm: công trình lấy nước, công trình tháo nước, công trình xả lũ, âu thuyền;

- Vùng hạ du đập: Là vùng bị ngập lụt khi hồ xả nước theo quy trình; xả lũ trong tình huống khẩn cấp hoặc vỡ đập;

- An toàn đập, hồ chứa nước: Là việc thực hiện các biện pháp thiết kế, thi công, quản

lý, khai thác nhằm bảo đảm an toàn cho đập, hồ chứa nước, các công trình có liên quan,

an toàn cho người và tài sản vùng hạ du đập;

- Chủ đập: Là tổ chức, cá nhân sở hữu đập để khai thác lợi ích của hồ chứa nước hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao quản lý, vận hành khai thác hồ chứa nước

(2) Phân loại đập

Đập gồm có các loại sau đây:

- Đập quan trọng quốc gia là đập của hồ chứa nước quan trọng quốc gia gồm:

+ Hồ chứa nước có dung tích lớn hơn 1.000.000.000m3 (một tỷ mét khối)

+ Hồ chứa nước có dung tích từ 1.000.000m3 (một triệu mét khối) đến 1.000.000.000m3(một tỷ mét khối) nhưng nằm ở địa bàn dân cư tập trung và địa bàn có công trình quốc phòng, an ninh

Trang 25

- Đập lớn là đập có chiều cao tính từ mặt nền đến đỉnh đập bằng hoặc lớn hơn 15m hoặc đập của hồ chứa nước có quy mô dung tích bằng hoặc lớn hơn 3.000.000m3 (ba triệu mét khối)

- Đập vừa là đập có chiều cao tính từ mặt nền đến đỉnh đập từ 10÷15m hoặc đập của hồ chứa có dung tích trữ từ 1.000.000m3 đến 3.000.000m3 (ba triệu mét khối)

- Đập nhỏ là đập có chiều cao tính từ mặt nền đến đỉnh nhỏ hơn 15m và tạo hồ chứa nước có dung tích trữ nhỏ hơn 3.000.000m3 (ba triệu mét khối)

1.3.1.2 Nguyên tắc quản lý an toàn hồ chứa đập dâng

Quản lý an toàn hồ chứa đập dâng đảm bao nguyên tắc sau:

- Bảo đảm an toàn đập bao gồm an toàn cho bản thân đập, vùng hạ du đập và các công trình lân cận đập;

- Bảo đảm an toàn đập là ưu tiên cao nhất trong xây dựng, quản lý, khai thác và bảo vệ hồ chứa nước;

- Công tác quản lý an toàn đập phải được thực hiện thường xuyên, liên tục trong quá trình xây dựng và quản lý khai thác hồ chứa nước;

- Bảo đảm tính chủ động trong quản lý an toàn đập;

- Xác định rõ trách nhiệm của chủ đập, của các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các cấp, đề cao ý thức của cộng đồng trong công tác quản lý an toàn đập

1.3.1.3 Nội dung quản lý công trình hồ chứa đập dâng

- Điều tiết nước hồ chứa:

+ Chủ đập phải lập quy trình điều tiết nước hồ chứa, quy định việc tích nước, xả nước

hồ, trong điều kiện bình thường và trong tình huống khẩn cấp, trình cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện;

+ Việc điều tiết nước hồ chứa nước phải tuân theo các quy định sau: Không được tích trữ nước trong hồ vượt trên mức do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quy định; trường hợp đập bị hư hỏng hoặc sự cố, có yêu cầu tháo nước để hạ thấp mức nước hồ, phải khống chế tốc độ hạ thấp mức nước sao cho không gây sạt trượt mái thượng lưu đập; trong mùa lũ, các hồ chứa có nhiệm vụ điều tiết lũ, việc vận hành tích nước, xả lũ

Trang 26

phải ưu tiên đảm bảo an toàn đập, thực hiện điều tiết cắt lũ và tích trữ nước hồ theo nhiệm vụ công trình

- Vận hành cửa van các công trình: việc vận hành cửa van các công trình lấy nước, công trình tháo nước, công trình xả lũ, âu thuyền thì chủ đập phải xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy định về thẩm quyền ra lệnh vận hành và quy trình thao tác, vận hành cửa van của từng công trình (sau đấy gọi

là vận hành công trình);

- Đo đạc quan trắc đập và các yếu tố khí tượng thuỷ văn:

+ Đối với đập lớn: sau khi tiếp nhận bàn giao để quản lý, chủ đập phải tổ chức đo đạc, quan trắc hoặc hợp đồng với các đơn vị chuyên ngành thực hiện đo đạc quan trắc, thu thập các yếu tố khí tượng, thuỷ văn trên lưu vực hồ chứa, các diễn biến về thấm, rò rỉ nước qua thân đập, nền đập, vai đập, chuyển vị của đập, diễn biến nứt nẻ, sạt trượt tại thân, nền và phạm vi lân cận công trình, tình trạng bồi lắng của hồ chứa.và các tài liệu quan trắc, đo đạc phải được hiệu chỉnh, hệ thống hoá, phân tích, đánh giá, so sánh với

số liệu thiết kế dự báo; phát hiện các đột biến để kịp thời có quyết định xử lý; thực hiện lưu trữ tài liệu theo quy định;

+ Đối với các đập nhỏ: phải thực hiện việc quan trắc mức nước hồ và các đo đạc quan trắc khác do đơn vị tư vấn thiết kế đập quy định của pháp luật

- Duy tu bảo dưỡng hồ chứa đập dâng:

+ Chủ đập phải quy định cụ thể nội dung và chế độ duy tu, bảo dưỡng cho từng công trình, bộ phận công trình và các thiết bị;

+ Việc duy tu, bảo dưỡng đập và các trang thiết bị phải được tiến hành định kỳ, thường xuyên theo quy định để bảo đảm công trình vận hành tin cậy, an toàn, dễ dàng kiểm tra, phát hiện các hư hỏng để khôi phục, sửa chữa kịp thời và bảo đảm về mặt mỹ quan công trình

- Kiểm hồ chứa đập dâng: Chủ đập phải thực hiện kiểm tra đập theo nội dung và chế độ quy định sau:

+ Kiểm tra thường xuyên thông qua phân tích, đánh giá tài liệu đo đạc, quan trắc đập và bằng trực quan tại hiện trường;

Trang 27

+ Kiểm tra định kỳ trước và sau mùa mưa lũ hàng năm;

+ Tiến hành kiểm tra đột xuất ngay sau khi xảy ra mưa lũ lớn, động đất mạnh hoặc phát hiện đập có hư hỏng đột xuất;

+ Kiểm tra, khảo sát chi tiết đập: Khi đập bị hư hỏng nặng, chủ đập phải tổ chức điều tra, khảo sát chi tiết để xác định nguyên nhân, mức độ, phạm vi hư hỏng; tiến hành thiết

kế sửa chữa; đồng thời phải thực hiện các biện pháp chủ động phòng, chống, bảo đảm

an toàn đập và an toàn vùng hạ du

- Khôi phục, sửa chữa, nâng cấp công trình hồ chứa đập dâng:

+ Phải thực hiện khôi phục, sửa chữa, nâng cấp đập khi xảy ra các tình huống sau đây: Đập bị hư hỏng nặng, không bảo đảm an toàn; công trình xả lũ thiếu khả năng xả lũ theo tiêu chuẩn thiết kế quy định; do thay đổi tiêu chuẩn thiết kế dẫn đến việc đập không thoả mãn điều kiện ổn định theo tiêu chuẩn thiết kế mới; xảy ra hiện tượng tái tạo bờ hồ chứa nước có ảnh hưởng đến an toàn đập;

+ Việc khôi phục, sửa chữa, nâng cấp đập tiến hành theo các quy định về quản lý đầu tư xây dựng hiện hành

- Báo cáo hiện trạng an toàn đập: hàng năm, chủ đập phải lập và gửi báo cáo cho Bộ Công nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các cơ quan liên quan theo quy định của pháp luật về hiện trạng an toàn đập Khi đập xả ra sự cố chủ đập phải báo cáo kịp thời cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền;

- Kiểm định an toàn đập: phải định kỳ kiểm định an toàn đối với đập của các hồ chứa nước có dung tích trữ bằng hoặc lớn hơn 10.000.000m3 (mười triệu mét khối)

1.3.1.4 Quản lý Nhà nước về an toàn hồ chứa đập dâng

Xây dựng, ban hành và kiểm tra việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản

lý an toàn đập, các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật về quản lý an toàn đập;

-Thực hiện kiểm tra, thanh tra, giám sát việc kiểm định về an toàn đập;

-Quyết định việc nghiệm thu, bàn giao đập;

-Phê duyệt quy trình điều tiết nước hồ chứa, phương án bảo vệ đập, phương án phòng chống lụt bão bảo đảm an toàn đập, phương án phòng chống lũ, lụt vùng hạ du đập; -Quyết định biện pháp xử lý, huy động lực lượng, vật tư, phương tiện để xử lý sự cố đập;

Trang 28

-Cấp, thu hồi, gia hạn giấy phép đối với các hoạt động phải có phép trong phạm vi bảo

vệ đập;

-Tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ vào việc xây dựng, quản

lý, khai thác và bảo vệ đập, phòng chống lũ, lụt vùng hạ du;

-Tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật và các thông tin có liên quan đến quản lý an toàn đập;

-Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, nhân viên làm công tác quản lý, vận hành, bảo vệ đập và quản lý an toàn đập;

-Tổ chức thực hiện việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quản lý an toàn đập

1.3.2 Kênh mương và các công trình trên kênh

1.3.2.1 Các khái niệm

- Kênh mương:

+ Kênh mương: kênh mương được xây dựng bằng vật liệu đất, đá, xi măng (bao gồm cả phần đào và đắp kênh), được bọc hoặc không bọc bằng lớp áo gia cố đáy kênh, gia cố mái kênh (mái trong và mái ngoài) dùng để dẫn nước (tưới, tiêu, cấp nước) trong công trình thủy lợi;

+ Kênh mương trong hệ thống thủy lợi là công trình làm bằng đất, đá, gạch, bê tông hoặc một số vật liệu khác dùng để dẫn nước tưới, tiêu để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp;

- Công trình trên kênh: là các công trình xây dựng trong phạm vi kênh (bờ kênh, lòng kênh hoặc dưới kênh) để lấy nước, chuyển nước, tiêu nước qua kênh hoặc phục vụ các yêu cầu khác của dân sinh,… Các công trình này gồm: đập, cống, bờ ngăn;

- Hệ thống kênh mương thủy lợi: Là hệ thống tưới tiêu bao gồm nhiều cấp kênh mương to nhỏ khác nhau và các công trình trên kênh mương làm thành một mạng lưới dẫn và tiêu nước từ đầu mối đến từng cánh đồng và ngược lại được tưới hoặc tiêu nước Hệ thống kênh mương thường bao gồm: hồ, trạm bơm, cống, đập, hệ thống mương tưới tiêu;

Trang 29

- Quản lý hệ thống kênh mương: Thường là quản lý Nhà nước hệ thống kênh mương do Nhà nước đầu tư xây dựng nhằm bảo đảm tưới, tiêu nước kịp thời, hiệu quả cho các ngành sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp

Mục tiêu của quản lý hệ thống kênh mương sẽ kéo dài thời gian sử dụng công trình, nâng cao hiệu ích dùng nước và hiệu quả sử dụng công trình Thông qua công tác quản

lý hệ thống kênh mương để kiểm tra và đánh giá mức độ chính xác của các khâu quy hoạch, thiết kế, thi công Vì vậy, không ngừng cải tiến quản lý hệ thống kênh mương làm cho công tác này ngày càng tốt hơn là trách nhiệm rất lớn của những người làm công tác quản lý

1.3.2.2 Vai trò quản lý kênh mương và công trình trên kênh

Hiện nay, công tác thủy lợi đã thực sự phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, mức độ

sử dụng nguồn nước cao (tỷ trọng giữa nguồn nước tiêu dùng và lượng nước nguồn do thiên nhiên cung cấp) thì không những từng quốc gia mà tiến hành liên quốc gia để giải quyết vấn đề lợi dụng tổng hợp nguồn nước phục vụ cho phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thủy sản,… Ngoài ra, thủy lợi còn đóng góp to lớn trong việc cải tạo và bảo vệ môi trường nước bị ô nhiễm

- Xuất phát từ vai trò ngành thủy lợi trong hệ thống kinh tế quốc dân Quản lý hệ thống kênh mương có vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và nền kinh tế quốc dân: + Đối với sản xuất nông nghiệp: Quản lý tốt hệ thống kênh mương nhằm cung cấp nước đầy đủ và kịp thời cho sản xuất nông nghiệp; tiêu nước nhanh tránh gây thiệt hại cho cây trồng vật nuôi;

+ Đối với ngành kinh tế khác: Quản lý hệ thống kênh mương giúp cho việc cung cấp nguồn nước sạch cho dân sinh, các ngành nông nghiệp, công nghiệp và xây dựng dẫn

và xử lý nước thải hàng ngày

- Quản lý tốt hệ thống kênh mương góp phần sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư xây dựng

cơ bản của Nhà nước;

- Ngoài ra, quản lý tốt hệ thống kênh mương còn có vai trò phòng chống lũ lụt, bảo vệ

đê điều, tránh thiệt hại về nguồn vốn, tài sản đảm bảo an sinh xã hội, môi trường;

Trang 30

Như vậy, phát huy hiệu quả đảm bảo phục vụ sản xuất nông nghiệp, dân sinh và các ngành kinh tế khác đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá sản xuất nông nghiệp

1.3.2.3 Nguyên tắc yêu cầu quản lý kênh mương và các công trình trên kênh

- Nguyên tắc: Quản lý kênh mương và các công trình trên kênh theo nguyên tắc sau: + Tiết kiệm nước: Cung cấp đủ nước cho sản xuất nông nghiệp, các ngành kinh tế khác, tránh thất thoát nước không cần thiết;

+ Kịp thời đảm bảo đúng thời vụ tưới nước, tiêu thoát nước theo hệ thống mang lại hiệu quả cho người dân, cho các ngành kinh tế, cho các nhà quản lý và một số tổ chức xã hội khác;

+ Kéo dài tuổi thọ các công trình kênh mương, đầu tư sửa chữa thường xuyên, nạo vét khơi dòng chảy không bị chặn dòng làm ảnh hưởng ứ đọng cục bộ nơi cấp và thoát nước khu cánh đồng thửa ruộng và cho các ngành kinh tế khác

- Yêu cầu: Quản lý, vận hành, nâng cấp, duy tu, bảo dưỡng công trình tưới, tiêu nước, cấp nước theo đúng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, đảm bảo an toàn công trình, phục

vụ sản xuất, xã hội, dân sinh kịp thời và hiệu quả

1.3.2.4 Nội dung quản lý kênh mương và các công trình trên kênh

- Quản lý nguồn nước: Điều hòa phân phối tưới, tiêu nước công bằng, hợp lý trong hệ thống kênh mương thủy lợi và các công trình thủy lợi, đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp, đời sống dân sinh, môi trường và các ngành nghề kinh tế khác;

- Quản lý công trình: Kiểm tra, theo dõi, phát hiện và xử lý kịp thời các sự cố trong hệ thống kênh mương thủy lợi và công trình thủy lợi, đồng thời thực hiện tốt việc duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa nâng cấp công trình, máy móc, thiết bị; bảo vệ và vận hành công trình theo đúng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, đảm bảo công trình vận hành an toàn, hiệu quả và sử dụng lâu dài và tiết kiệm nước;

- Quản lý cung cấp tưới, tiêu nước: Xây dựng mô hình tổ chức hợp lý để quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn, tài sản và mọi nguồn lực được giao nhằm thực hiện và

Trang 31

hoàn thành tốt nhiệm vụ khai thác, bảo vệ công trình thủy lợi, kinh doanh tổng hợp theo quy định của pháp luật;

- Quản lý tài chính: Cân đối nguồn chi phí sửa chữa thường xuyên, đầu tư xây dựng các công trình kênh mương thủy lợi hợp lý với kinh phí từ nguồn thủy lợi phí được Nhà nước cấp bù hoặc các nguồn hỗ trợ từ ngân sách trung ương đến ngân sách tính để sửa chữa nâng cấp các công trình thủy lợi và hệ thống kênh mương thủy lợi với mục tiêu chống hạn, úng, bão lụt hàng năm

- Tùy vào điều kiện cụ thể của từng địa phương mà mô hình tổ chức quản lý, khai thác

hệ thống kênh mương thủy lợi được xây dựng cho phù hợp theo các quy định của pháp luật, đảm bảo khai thác tính hiệu quả của công trình

- Trạm bơm: Là tập hợp các công trình và các thiết bị bơm tạo thành Trạm bơm thông thường bố trí một số thiết bị bơm với khả năng đóng mở theo yêu cầu về lưu lượng nước cần bơm Trạm bơm cũng có thể gồm chỉ một thiết bị bơm đơn lẻ đặt trên giá đỡ di động hoặc đặt trên phao có kèm theo thiết bị khởi động và điều chỉnh chế độ công tác của tổ máy bơm;

- Hệ thống công trình trạm bơm: Là tổ hợp các công trình thủy công và các trang thiết

bị cơ điện, nhằm đảm bảo lấy nước từ nguồn nước, vận chuyển và bơm nước đến nơi

sử dụng hoặc cần tiêu nước thừa ra nơi khác

Trang 32

Hình 1.1 Sơ đồ bồ trí hệ thống các công trình trạm bơm Trong đó:

+ 1 là công trình cửa lấy nước, lấy nước từ nguồn (lấy từ sông, hồ, kênh dẫn, );

+ 2 là công trình dẫn nước, có nhiệm vụ đưa nước từ cửa lấy nước về bể tập trung nước trước nhà máy bơm Công trình dẫn nước có thể là kênh dẫn, đường ống dẫn hoặc xi phông;

+ 3 là bể lắng cát;

+ 4 là bể tập trung nước, bể này nằm trước nhà máy bơm, nó có nhiệm vụ nối tiếp đường dẫn với công trình nhận nước (bể hút) của nhà máy sao cho thuận dòng;

+ 5 là nhà máy bơm, đây là nơi đặt các tổ máy bơm và các thiết bị phụ cơ điện;

+ 6 là đường ống áp lực (ống đẩy), đưa nước từ máy bơm lên công trình tháo;

+ 7 là công trình tháo (bể tháo), nhận nước từ ống đẩy, làm ổn định mực nước, phân phối nước cho kênh dẫn hoặc công trình nhận nước;

+ 8 là kênh dẫn;

+ 9 là công trình nhận nước (bể hút), lấy nước từ bể tập trung và cung cấp nước cho ống hút hoặc ống tự chảy vào máy bơm

Trang 33

1.3.3.2 Các kiểu công trình trạm bơm

Hình 1.2 Sơ đồ công trình các kiểu trạm bơm

Kiểu công trình trạm bơm cố định thường được xây dựng nhiều ở Việt Nam, nó thường

là các trạm bơm có công suất lớn, vừa và nhỏ.Việc quản lý, vận hành và bảo dưỡng các trạm bơm này rất quan trọng

- Công trình kiểu trạm bơm di động gồm:

+ Trạm bơm thuyền: Toàn bộ máy bơm và động cơ được đặt trên sông có hệ thống dây cáp, tời neo vào bờ Loại này ít được sử dụng chỉ được sử dụng khi địa hình, địa chất xây dựng trạm bơm cố định phức tạp tốn kém và nguồn nước có mực nước giao động lớn,…

+ Trạm bơm di động trên ray: Trạm bơm di động trên ray thường máy bơm và động cơ đặt chìm dưới nước, có hệ thống trượt trên đường ray Loại này được sử dụng khi địa hình bờ sông tương đối thoải, có địa chất tốt và không bị dòng nước xoáy lở; nguồn nước có mực nước giao động lớn,…

Trang 34

+ Trạm bơm di động trên xe: Máy bơm và động cơ đặt trên xe, có thể dùng động cơ để kéo, cũng đôi khi dùng sức người kéo

1.3.3.3 Đặc điểm của công trình trạm bơm

- Chủ động cho việc xây dựng công trình: Để thực hiện tưới hoặc tiêu cho nông nghiệp thì có nhiều biện pháp công trình thủy lợi, trong đó có trạm bơi Các biện pháp tưới, tiêu úng, cải tạo đất thì biện pháp dùng máy bơm, xây dựng trạm bơm là bắt buộc mà không

có biện pháp nào hiệu quả hơn;

Việc dùng máy bơm cũng như xây dựng trạm bơm có thể thực hiện trong bất kỳ điều kiện nào khi có nguồn nước, còn các trường hợp khác muốn xây dựng công trình đều phải có những điều kiện quyết định đầu tiên như muốn xây hồ chứa phải có điều kiện địa hình, lưu vực, địa chất thuận lợi,…

- Tính linh hoạt cao: Tính linh hoạt của trạm bơm là có thể tưới tiêu kết hợp, có thể di động,… do vậy có thể giải quyết vấn đề một cách triệt để;

- Vốn đầu tư lớn: Kinh phí xây dựng trạm bơm cao vì máy móc thiết bị nhiều, phức tạp, đắt tiền, kỹ thuật xây dựng đòi hỏi cao, vật liệu xây lắp nhiều Do vậy, vốn đầu tư cho việc xây dựng trạm bơm bao giờ cũng cao hơn xây dựng các công trình thủy lợi khác có cùng tiện ích;

- Giá thành cấp nước cao: Giá thành cấp nước cao do phải chi phí năng lượng điện hoặc dầu, chi phí quản lý Do vậy trong quản lý khai thác cần phải phấn đấu giảm nhẹ chi phí

để giảm giá thành cấp nước

1.3.3.4 Quản lý công trình trạm bơm

Nhiệm vụ của việc quản lý, vận hành và khai thác trạm bơm là phải đảm bảo cho công trình và máy móc hoạt động bình thường đạt hiệu quả kinh tế và kỹ thuật Trong quản

lý trạm bơm việc lập kế hoạch cung cấp nước và kế hoạch tu sửa công trình, máy móc

là rất quan trọng

- Lập kế hoạch cung cấp và phân phối nước của trạm bơm theo yêu cầu sản xuất nông nghiệp:

Trang 35

+ Kế hoạch cung cấp và phân phối nước hàng năm phải dựa trên yêu cầu thực tế của sản xuất nông nghiệp để lập kế hoạch;

+ Kế hoạch cung cấp và phân phối nước cần đảm bảo: Cung cấp đủ lưu lượng và tổng cột nước yêu cầu sản xuất theo thời gian; Phối hợp làm việc tốt giữa máy bơm, công trình với nguồn nước sao cho hiệu suất sử dụng máy cao, năng lượng tiêu thụ ít, hiệu quả kinh tế cao; bảo đảm an toàn công trình và thiết bị máy móc, có thời gian tu sửa máy móc và công trình theo định kỳ;

+ Phải lập kế hoạch cho từng đợt;

+ Lập biểu đồ phối hợp làm việc giữa nguồn nước với công trình lấy nước và đặc tính làm việc của máy bơm

- Kế hoạch tu sửa công trình và sửa chữa máy móc Muốn cho trạm bơm khai thác đạt hiệu quả kinh tế cao cần phải làm tốt công tác quản lý, tu sửa và thao tác đúng kỹ thuật: + Kế hoạch tu sửa công trình, sửa chữa và bảo dưỡng máy móc được lập dựa trên cơ sở

kế hoạch cung cấp nước hàng năm;

+ Kế hoạch sửa chữa bao gồm: sửa chữa định kỳ; sửa chữa thường xuyên; cải tiến và trang bị bổ sung

1.3.3.5 Thực trạng quản lý công trình thủy lợi (thủy nông)

Hệ thống thủy lợi của Việt Nam, thông thường hoạt động dựa trên kế hoạch hàng năm

mà không thay đổi một cách kịp thời theo tình hình nhu cầu tại từng thời điểm và khả năng cung cấp nguồn nước Hoạt động này dẫn đến phân phối nước không hiệu quả, và suy giảm nghiêm trọng diện tích tưới tiêu Trình độ quản lý của công ty khai thác công trình thủy lợi còn yếu kém và lạc hậu về trình độ chuyên môn và thể chế quản lý

Hệ thống tổ chức quản lý phổ biến ở nước ta là xí nghiệp thủy nông (là một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc công ty KTCTTL) quản lý công trình đầu mối, hệ thống kênh chính

và kênh cấp 1, trong khi đó hệ thống kênh cấp 2 đến mặt ruộng do các tổ chức thuỷ nông

cơ sở (là các tổ chức dùng nước của người dân) quản lý

Trang 36

Riêng vùng đồng bằng sông Cửu Long với các tỉnh Long An, Cà Mau và Kiên Giang, Công ty KTCTTL và Chi cục thủy lợi quản lý các công trình đầu mối như kênh trục, kênh cấp 1, cống điều tiết nước có khẩu độ lớn hơn 3,0m, đê sông, đê biển, kè sông, kè biển, trạm bơm; UBND các huyện, phòng NN&PTNT và các Trạm Thủy nông quản lý

hệ thống kênh cấp 2 nội huyện, kênh cấp 3 liên xã, cống ngầm có quy mô lớn hơn Ø100

cm và cống hở do nguồn vốn ngân sách nhà nước hỗ trợ hoặc do nhân dân đóng góp; UBND xã quản lý hệ thống kênh cấp 3 nội xã, kênh nội đồng, cống điều tiết nước có đường kính < Ø100 cm

Tuy nhiên, hiệu quả quản lý khai thác công trình thủy lợi còn thấp, công trình thủy lợi xuống cấp, không đủ năng lực cấp nước theo thiết kế Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiệu quả tưới còn thấp, trong đó nguyên nhân chủ yếu cần quan tâm là thực trạng hoạt động của các tổ chức thủy nông cơ sở ở hệ thống này Loại hình tổ chức thủy nông cơ

sở là hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp (HTXNN) Các HTXNN là tổ chức tập thể của người dân thực hiện kinh doanh nhiều dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp, trong đó

có dịch vụ tưới tiêu, riêng dịch vụ tưới tiêu có tính chất hoạt động công ích là chủ yếu, không có lãi

Ở nhiều hệ thống tuy đã thực hiện phân cấp quản lý, nhưng chưa quy định cụ thể về quy

mô cống đầu kênh và phân định trách nhiệm quản lý vận hành giữa Xí nghiệp thủy nông

và các HTXNN, chưa có sự ràng buộc về trách nhiệm của các tổ chức quản lý, nhất là đối với các tuyến kênh cấp 2 liên thôn, liên xã Việc phân phối nước và bảo dưỡng các tuyến kênh liên thôn, liên xã chưa hiệu quả Các HTXNN ở đầu kênh, thuận lợi về nước nên ít quan tâm đến nạo vét, duy tu bảo dưỡng công trình, trong khi đó các HTXNN cuối kênh thường bị thiếu nước, phải huy động nguồn lực để nạo vét kênh và thậm chí còn cử người canh các công lấy nước dọc theo tuyến kênh cấp 2 để dẫn nước về khu tưới cuối kênh Điều này đã dẫn đến sự bất hợp lý là các HTXNN cuối kênh phái chi phí cho công tác vận hành phân phối nước cao hơn các HTXNN ở đầu kênh, trong khi lại thường xuyên bị thiếu nước tưới

Các HTXNN chủ yếu là quy mô thôn nên 1 xã có nhiều HTXNN sinh ra nhiều bộ máy quản lý dẫn đến chi phí cho quản lý lớn Thu nhập từ nguồn thủy lợi phí nội đồng chủ

Trang 37

dưỡng công trình thấp Ý thức tham gia quản lý công trình thủy lợi chưa cao, còn tình trạng người dân không tuân thủ lịch tưới luân phiên, tự lấy nước bằng cách đục lỗ trên trên kênh cấp 2 làm cho hiệu quả sử dụng nước thấp, việc sử dụng nước còn lãng phí.[6]

1.3.3.6 Những tồn tại và bất cập trong công tác quản lý khai thác vận hành công trình thủy lợi

- Hiệu quả quản lý khai thác công trình thủy lợi còn yếu kém:

Mặc dù được đầu tư lớn nhưng công tác quản lý, vận hành hệ thống công trình thủy lợi còn bộc lộ nhiều hạn chế, như: Hiệu quả quản lý thấp; bộ máy tổ chức cồng kềnh; đội ngũ cán bộ, nhân viên có xu hướng tăng; năng suất lao động thấp, chất lượng quản trị không cao, công trình xuống cấp nhanh, vi phạm công trình thủy lợi tăng và chưa được giải quyết; sử dụng nước lãng phí

Cơ sở hạ tầng chậm được củng cố, tỷ lệ diện tích có tưới đạt 80%, tỷ lệ cung cấp nước cho các dịch vụ khác ít được quan tâm và phát huy hiệu quả; hạ tầng thủy lợi nội đồng chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất nông nghiệp theo quy trình tiên tiến hoặc khó chuyển đổi khi thay đổi cơ cấu cây trồng

Cơ chế vận hành mang nặng tính bao cấp, thiếu động lực để nâng cao năng suất lao động, đảm bảo chất lượng, đổi mới hệ thống quản trị của Công ty quản lý khai thác công trình thủy lợi

Hệ thống tài chính yếu kém, chủ yếu dựa vào nguồn thu từ ngân sách nhà nước, phương thức cấp phát và nghiệm thu không dựa vào chất lượng dịch vụ, các dịch vụ khai thác tổng hợp không được phát huy để tăng nguồn thu

Tổ chức thủy nông cơ sở thiếu bền vững; năng lực của cán bộ quản lý yếu cả về tổ chức quản lý và kỹ thuật; tài chính của tổ chức thủy nông cơ sở rất khó khăn, theo báo cáo của địa phương, trên 52% tổ chức có nguồn thu chỉ đáp ứng 64-70% yêu cầu chi, thiếu kinh phí duy tu, sửa chữa nạo vét kênh mương, dẫn đến công trình thủy lợi nội đồng cho Công ty khai thác công trình thủy lợi quản lý, tiếp tục làm tăng gánh nặng đến ngân sách nhà nước

Trang 38

Quản lý an toàn hồ đập chưa được coi trọng đúng mức, nhiều hồ đập bị xuống cấp có nguy cơ mất an toàn, tổ chức quản lý hồ đập (đặc biệt là hồ đập nhỏ) chưa đáp ứng yêu cầu; năng lực cảnh báo, dự báo sớm phục vụ chỉ đạo điều hành và vận hành hồ chứa còn yếu

- Thủy lợi chưa đáp ứng được yêu cầu của nền nông nghiệp đa dạng và hiện đại

Hệ thống công trình thủy lợi chủ yếu tập trung cung cấp nước cho cây lúa, phần lớn các cây trồng cạn chưa có tưới hoặc tưới bằng biện pháp lạc hậu và lãng phí nước Theo thống kê năm 2012, diện tích gieo trồng chè đạt 129 nghìn ha, cà phê 622,1 nghìn ha, cao su 910,5 nghìn ha, hồ tiêu 58,9 nghìn ha, điều 235,9 nghìn ha, cây ăn quả 675,9ha, mía 297,9 nghìn ha, cây rau, đậu 1.004,9 nghìn ha (chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030) nhưng diện tích được

áp dụng các giải pháp tưới tiên tiến, tiết kiệm nước còn hạn chế.[2]

Đầu tư hạ tầng thủy lợi cho phục vụ nuôi trồng thủy sản rất thấp, hệ thống thủy lợi chưa đáp ứng yêu cầu nuôi

1.2.3.7 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý khai thác vận hành công trình thủy lợi

1 Nguyên nhân khách quan

Ảnh hưởng của biến đối khí hậu, tác động bất lợi của quá trình phát triển kinh tế - xã hội gây ra (suy giảm chất lượng rừng, phát triển hồ chứa thượng nguồn, khai thác cát và lún ở các vùng hạ du; phát triển cơ sở hạ tầng đô thị, công nghiệp, giao thong cản trở thoát lũ ) tác động bất lợi cho hệ thống công trình thủy lợi, đặc biệt hệ thống lấy nước dọc các sông lớn trên toàn quốc, hệ thống thủy lợi đồng bằng sông Cửu Long

Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đòi hỏi yêu cầu cao hơn về thủy lợi; yêu cầu tiêu, thoát nước của nhiều khu vực tăng lên nhiều so với trước đây, nhu cầu nước sinh hoạt, công nghiệp từ hệ thống công trình thủy lợi tăng, mức đảm bảo an toàn tăng Tổ chức sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún, hiệu quả sản xuất thấp khiến nông dân chưa quan tâm nhiều đến thủy lợi

2 Nguyên nhân chủ quan

Trang 39

- Chậm đổi mới theo cơ chế thị trường, duy trì quá lâu cơ chế bao cấp trong quản lý khai thác công trình thủy lợi

Hiện nay, hầu hết doanh nghiệp khai thác công trình thủy lợi hoạt động trên cả nước hoạt động theo phương thức giao kế hoạch công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi Cơ chế này một mặt thiếu công cụ giám sát cho cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành, mặt khác hạn chế quyền tự chủ của doanh nghiệp Đây là nguyên nhân dẫn tới chất lượng quản quản trị của doanh nghiệp yếu kém, bộ máy cồng kềnh, năng suất lao động thấp, số lượng cán bộ công nhân viên có xu thế ngày càng tăng; hệ thống công trình thủy lợi bị xuống cấp nhanh; chất lượng cung cấp dịch vụ thấp; thiếu cơ chế để phát huy tiềm năng, lợi thế về đất đai, nước, cơ sở hạ tầng và các nguồn lực khác của tổ chức quản lý khai thác để tăng nguồn thu Nhiều hệ thống công trình thủy lợi có tiềm năng khai thác để cấp nước sạch nông thôn, cấp và tiêu thoát nước đô thị, công nghiệp, dịch vụ cũng như cho nông nghiệp, công nghiệp công nghệ cao…nhưng đã không được tận dụng triệt để Phương thức hoạt động như vậy dẫn tới cơ chế tài chính thiếu bền vững, chủ yếu phụ thuộc vào ngân sách nhà nước Đồng thời, cơ chế bao cấp đã hạn chế thu hút đầu tư từ khu vực tư nhân, hạn chế cơ chế cạnh tranh cho đầu tư xây dựng, quản

Chưa làm rõ chủ trương miễn, giảm thủy lợi phí của nhà nước làm cho một bộ phận cán

bộ, người dân coi công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi là nhiệm vụ của nhà nước dẫn tới tư tưởng trông chờ ỷ lại vào nhà nước, sử dụng nước lãng phí

Việc hỗ trợ người dân thông qua chính sách miễn, giảm thủy lợi phí là cần thiết nhưng phương thức chi trả theo hình thức gián tiếp (phần lớn cấp bù qua doanh nghiệp), nên chưa ngắn kết được trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ với người hưởng

Trang 40

lợi, giảm tiếng nói, vai trò giám sát của người dân trong dịch vụ cấp nước đồng thời tạo tâm lý sử dụng nước lãng phí

Mô hình tổ chức và cơ chế quản lý bất cập hiện nay đã hạn chế sự tham gia của các thành phần kinh tế và người hưởng lợi trong quản lý khai thác công trình thủy lợi Các

tổ chức thuộc các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là người dân chưa được tạo điều kiện, cơ chế để tham gia

Chính quyền cấp xã và các tổ chức đoàn thể cơ sở chưa quan tâm đến quản lý công trình thủy lợi, mà coi đó là trách nhiệm của nhà nước, của các doanh nghiệp khai thác công trình thủy lợi trên địa bàn Nhiều công trình thủy lợi bị phân cấp cho xã quản lý nhưng không có chủ quản thực sự

- Khoa học công nghệ chưa bám sát yêu cầu sản xuất, thiếu động lực áp dụng khao học công nghệ vào sản xuất, nguồn nhân lực còn hạn chế

Khoa học công nghệ mặc dù được quan tâm đầu tư rất nhiều bằng nguồn lực trong nước

và quốc tế nhưng việc áp dụng hiệu quả hạn chế: khoa học công nghệ chưa bám sát hoặc

dự báo đúng yếu cầu thực tế, chậm áp dụng công nghệ tiên tiến trong dự báo hạn, úng, xâm nhập mặn, hỗ trợ ra quyết định trong phòng chống thiên tai; nguồn lực phân tán, dàn trải, năng lực công nghệ không được nâng cao, không được đơn vị sản xuất chấp nhận Số lượng đề tài khoa học công nghệ có kết quả ứng dụng vào sản xuất rất thấp (20-30)%, hoặc chỉ được áp dụng trong phạm vi hẹp, không có tác động lớn cho phát triển thủy lợi; còn nặng về công nghệ, xem nhẹ nghiên cứu nâng cao năng lực thể chế, làm luận cứ cho xây dựng cơ chế, chính sách Hiệu quả hợp tác quốc tế trong việc ứng dụng, học tập kinh nghiệm quốc tế về quản lý khai thác công trình thủy lợi còn thấp

Cơ chế quản lý không tạo được động lực và nhiều lúc còn là rào cản cho việc áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, đặc biệt là các dự án đầu tư công Việc nghiên cứu cơ chế, chính sách tạo động lực, đổi mới công tác quản lý khai thác, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật trong quản lý, vận hành công trình thủy lợi chưa được quan tâm đúng mức, nhất là kỹ thuật sử dụng nước tiết kiệm

Ngày đăng: 06/05/2020, 16:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w