Tuy nhiên, hiện nay tình trạng khai thác và buôn bán tự phát tại địa phương đã làm suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc, suy giảm tính đa dạng sinh học của các hệ sinh thái vì vậy, việc n
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN TRUNG THÀNH
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI CÂY DƯỢC
LIỆU TẠI VƯỜN QUỐC GIA PHIA OẮC - PHIA ĐÉN,
HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC
Thái Nguyên – 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Thái Nguyên – 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Thái Nguyên, ngày 3 tháng 10 năm 2019
Tác giả
Nguyễn Trung Thành
Trang 4Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô giáo khoa Lâm học, Phòng Đào tạo (bộ phận sau Đại học) trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi có thể học tập và nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể gia đình và bạn bè đã luôn
cổ vũ, động viên tôi trong suốt thời gian qua Trong quá trình thực hiện luận văn do còn nhiều hạn chế về mặt thời gian và kinh phí cũng như trình độ chuyên môn nên không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học, cùng bạn bè, đồng nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 3 tháng 10 năm 2019
Tác giả
Nguyễn Trung Thành
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Tổng quan kết quả nghiên cứu trên thế giới 4
1.2 Tổng quan kết quả nghiên cứu ở Việt Nam 6
1.3 Những nghiên cứu về thảm thực vật, đa dạng thực vật và các loài thực vật làm thuốc ở Cao Bằng và khu vực nghiên cứu 15
1.4 Điều kiện tự nhiên - Kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 17
1.4.1 Vị trí địa lý 17
1.4.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo 18
1.4.3 Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng 19
1.4.4 Đặc điểm khí hậu, thủy văn 20
1.5 Điều kiện kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 21
1.5.1 Dân số, lao động 21
1.5.2 Tình hình phát triển kinh tế 22
Chương 2 24
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
Trang 62.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
2.2 Nội dung nghiên cứu 24
2.3 Phương pháp nghiên cứu 24
2.3.1 Phương pháp kế thừa 24
2.3.2 Liệt kê tự do 25
2.3.3 Điều tra theo tuyến với người cung cấp thông tin quan trọng 26
2.3.4 Điều tra theo Ô tiêu chuẩn (OTC): 29
2.3.5 Phương pháp thu mẫu thực vật 29
2.3.6 Phương pháp phân tích mẫu vật 29
Bản đồ hành chính huyện Nguyên Bình 30
Khu vực 05 xã thuộc Vườn quốc gia Phía Oắc - Phia Đén 30
Chương 3 32
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1 Danh lục các loài thực vật tại Vườn quốc gia Phía Oắc - Phia Đén huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng 32
3.2 Đa dạng thành phần loài cây thuốc tại Vườn quốc gia Phía Oắc - Phia Đén 32
3.2.1 Đa dạng các taxon 32
3.2.2 Đa dạng ở mức độ họ 35
3.2.3 Đa dạng ở mức độ chi 36
3.3 Đa dạng các thành phần loài cây thuốc trong các trạng thái thảm thực vật tại Vườn quốc gia Phía Oắc - Phia Đén 37
3.3.1 Đa dạng các bậc taxon cây thuốc trong các trạng thái thảm thực vật 37
3.3.2 Đa dạng các họ trong từng trạng thái thảm thực vật 39
3.3.3 Thành phần loài cây thuốc trong trạng thái thảm cỏ 42
3.3.4 Thành phần loài cây thuốc trong trạng thái thảm cây bụi 44
3.3.5 Thành phần loài cây thuốc trong rừng trồng Thông 47
3.3.6 Thành phần loài cây thuốc trong rừng thứ sinh 48
3.4 Đa dạng thành phần dạng sống của các loài cây thuốc 50
Trang 73.5 Đa dạng về các bộ phận làm thuốc của các loài cây thuốc 52
3.6 Đa dạng về kiểu dạng cây dùng làm thuốc 55
3.7 Đa dạng về các bệnh chữa trị 56
3.8 Tình hình sử dụng cây thuốc ở địa phương và một số bài thuốc thu thập được 59
3.9 Danh sách các loài cây thuốc quý hiếm ở khu vực nghiên cứu 61
3.10 Một số bài thuốc được đồng bào dân tộc sử dụng 63
3.11 Giải pháp bảo tồn và phát triển một số loài cây thuốc 64
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 68
1 Kết luận 68
2 Đề nghị 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT
DLĐCT Danh lục đỏ cây thuốc
IUCN International Union for Conservation of Nature -Hiệp
hội quốc tế bảo vệ thiên nhiên
WWF Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên
FAO Tổ chức lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc
UNEP Chương trình môi trường Liên hợp quốc
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Diện tích quy hoạch vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén 17
Bảng 1.2 Dân số tại khu vực nghiên cứu 22
Bảng 3.1 Sự phân bố các họ, chi, loài trong các ngành thực vật 32
Bảng 3.2 Thành phần các bậc taxon cây thuốc ở Vườn quốc gia Phía Oắc - Phia Đén 33
Bảng 3.3 Số lượng họ, chi, loài cây thuốc trong ngành Ngọc lan 34
Bảng 3.4 Các họ cây thuốc đa dạng nhất trong khu vực nghiên cứu 35
Bảng 3.5 Thống kê 10 chi đa dạng nhất tại khu vực nghiên cứu 36
Bảng 3.6 Sự phân bố các bậc taxon thực vật làm thuốc trong các trạng thái thảm thực vật ở Vườn quốc gia Phía Oắc - Phia Đén 37
Bảng 3.7 Các họ có số loài cây thuốc nhiều (từ 2 loài trở lên) trong các trạng thái thảm thực vật ở khu vực nghiên cứu 39
Bảng 3.8 Sự phân bố các họ, chi, loài cây thuốc ở trạng thái thảm cỏ ở Vườn quốc gia Phía Oắc - Phia Đén 42
Bảng 3.9 Sự phân bố các họ, chi, loài cây thuốc ở thảm cây bụi tại KVNC 44
Bảng 3.10 Sự phân bố các họ, chi, loài cây thuốc ở rừng trồng thông tại KVNC 47
Bảng 3.11 Sự phân bố các họ, chi, loài cây thuốc ở rừng thứ sinh tại KVNC 49
Bảng 3.12 Sự phân bố các nhóm dạng sống 51
Bảng 3.13 Số lượng các bộ phận của cây thuốc được sử dụng 52
Bảng 3.14 Dạng thân của các loài cây thuốc được đồng bào dân tộc ở Vườn quốc gia Phía Oắc - Phia Đén 55
Bảng 3.15 Sự đa dạng về số loài cây thuốc chữa trị các nhóm bệnh 57
Bảng 3.16 Một số cây thuốc thường dùng và khai thác để bán 60
Bảng 3.17 Các loài cây thuốc quý hiếm ở khu vực nghiên cứu 62
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Phân bố của các bậc taxon cây thuốc tại KVNC 33
Hình 3.2 Phân bố các loài cây thuốc trong các trạng thái thảm thực vật ở KVNC 38
Hình 3.3 Phân bố các loài cây thuốc ở trạng thái thảm cỏ 43
Hình 3.4 Phân bố của các họ, chi, loài cây thuốc ở thảm cây bụi tại KVNC 45
Hình 3.5 Phân bố của các họ, chi, loài cây thuốc ở rừng trồng thông tại KVNC 47
Hình 3.6 Phân bố của các họ, chi, loài cây thuốc ở rừng thứ sinh tại KVNC 49
Hình 3.7 Tỷ lệ dạng sống các loài cây thuốc ở KVNC 51
Hình 3.8 Tỷ lệ bộ phận cây thuốc được sử dụng ở KVNC 53
Hình 3.9 Tỷ lệ kiểu dạng thân cây thuốc được sử dụng ở KVNC 55
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một trong những quốc gia có điều kiện tự nhiên và khí hậu thuận lợi cho sự phát triển của hệ thực vật rừng Với diện tích trải dải trên nhiều vĩ tuyến, phần lớn là diện tích đồi núi cùng với đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa đặc trưng đã tạo cho khu hệ thực vật rừng Việt Nam vô cùng phong phú và đa dạng Theo thống kê, nước ta hiện nay có gần 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc hơn 2.256 chi,
305 họ (chiếm 4% tổng số loài, 15% tổng số chi và 57% tổng số họ thực vật trên thế giới)
Vai trò mà hệ thực vật mang lại được thể hiện ở nhiều khía cạnh như cũng cấp thức ăn, nguyên liệu cho các ngành công nghiệp góp phần phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là cung cấp nguồn dược liệu quý giá cho con người Theo thống kê của Viện dược liệu, các nhà khoa học đã phát hiện được 1.863 loài cây thuốc thuộc 238 họ với nhiều công dụng khác nhau Trong đó, nhiều loài trong số này đã và đang được người dân các vùng miền núi khai thác và sử dụng, đặc biệt là người dân đồng bào dân tộc thiểu số Tuy nhiên, tại nhiều địa phương trên cả nước, việc đánh giá một cách chi tiết tính đa dạng và giá trị của các loài cây dược liệu còn nhiều hạn chế do thiếu các nghiên cứu trong lĩnh vực này Điều này không chỉ gây khó khăn trong công tác đánh giá và còn tạo khó khăn trong công tác quản lý, bảo tồn các loài cây dược liệu
Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén được thành lập theo Quyết định số TTg ngày 11/01/2018 của Thủ tướng Chính phủ Khu bảo tồn thiên nhiên này được chuyển hạng thành lập Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén thuộc địa bàn 5 xã: Thành Công; Quang Thành; Phan Thanh, Hưng Đạo và Thị trấn Tĩnh Túc của huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, có tọa độ địa lý từ 22031’44’’ đến 22039’41’’ vĩ độ Bắc và từ
57/QĐ-105049’53’’ đến 105056’24’’ kinh độ Đông với tổng diện tích quy hoạch 10.593,5ha, trong đó, khu bảo vệ nghiêm ngặt diện tích 4.035,5 ha, phân khu phục hồi sinh thái diện tích 6.417,1 ha Phân khu dịch vụ - Hành chính diện tích 140,9 ha Vùng đệm của Vườn quốc gia diện tích 8.276,1 ha Khu vực Phia oắc - Phia đén như một lòng chảo được tạo nên từ thung lũng hẹp, xung quanh được bao bọc bởi những dãy núi cao, địa hình ở đây bị chia cắt mạnh tạo thành nhiều khe suối và các hợp thủy, nhiệt độ bình quân
Trang 12180c, lượng mưa bình quân 1.592 mm/năm, độ ẩm 84,3% Hàng năm thường xuất hiện gió mùa Đông - Bắc vào tháng 11 và 2 kèm theo sương muối, những ngày ít nắng, trời âm
u, ở những nơi núi cao sương mù bao phủ cả ngày, độ ẩm không khí trong rừng rất lớn Với điều kiện khí hậu như vậy rất phù hợp cho sự sinh trưởng và khả năng tái sinh tự nhiên của cây rừng, thuận lợi cho các loài thực, động vật ở đây phát triển đa dạng và phong phú
Những kết quả điều tra, nghiên cứu ban đầu cho thấy, khu rừng này ngoài tính đa dạng sinh học về thảm thực vật, khu hệ thực vật và động vật, còn có những mẫu rừng tương đối nguyên sinh là kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới tiêu biểu cho vùng Trung tâm ẩm miền Bắc Việt Nam
Nguồn tài nguyên cây thuốc ở rừng đặc dụng Phia oắc - Phia đén, tỉnh Cao Bằng
đã và đang đóng góp vào công tác chăm sóc sức khoẻ và chữa bệnh của các cộng đồng trong khu vực Có rất nhiều ông lang, bà mế đang hành nghề bốc thuốc chữa trị cho dân Với kinh nghiệm từ các đời xưa truyền lại, họ đã sử dụng các cây thuốc để chữa trị rất hiệu quả các bệnh khác nhau Theo danh mục phân loại bệnh học của lương y
Vũ Quốc Trung, được phân chia thành 7 nhóm bệnh, trong đó có 53 bệnh có thể chữa bằng cây thuốc từ người dân tộc Tày và Dao tại Vườn quốc gia Phia oắc - Phia đén, tỉnh Cao Bằng Đặc biệt, 12 bệnh có nhiều cây thuốc chữa nhất là: Bổ gan, Viêm gan
B, Sơ gan; Ho, hen; Bệnh thận; Đau đầu; Tiểu tiện vàng - đỏ; Tê thấp đau nhức; Thấp khớp; Mụn nhọt, mẫn ngứa; Bệnh rắn cắn; Sâu răng; Bồi bổ cơ thể và Thuốc thanh nhiệt
Nguồn tài nguyên cây thuốc chiếm một số lượng không nhỏ, vùng đất Cao Bằng ,
từ xa xưa đã nổi tiếng với nhiều sản vật quý có thể sử dụng làm thuốc chữa bệnh Tuy nhiên, hiện nay tình trạng khai thác và buôn bán tự phát tại địa phương đã làm suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc, suy giảm tính đa dạng sinh học của các hệ sinh thái vì vậy, việc nghiên cứu đa dạng sinh học loài cây dược liệu tại tỉnh Cao Bằng sẽ tạo cơ sở khoa học cho việc quản lý và bảo tồn nguồn tài nguyên quý giá này
Từ thực tiễn nêu trên việc: “Nghiên cứu thành phần loài cây dược liệu tại tại
vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng” là rất cần
thiết Các kết quả đạt được của đề tài sẽ là cơ sở khoa học quan trọng góp phần bổ
Trang 13sung tính đa dạng thực vật, đồng thời phục vụ công tác quản lý cũng như đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn và sử dụng một cách hiệu quả nguồn tài nguyên quan trọng này tại khu vực
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá tính đa dạng của nguồn tài nguyên cây thuốc, thành phần loài cây, các dạng sống, bộ phận dùng làm thuốc Nghiên cứu tri thức bản địa và kinh nghiệm trong việc sử dụng tài nguyên cây thuốc của đồng bào dân tộc
- Tìm hiểu tri thức bản địa của đồng bào dân tộc sử dụng các loài cây thuốc trong các bài thuốc nam tại Phia Oắc - Phia Đén
- Đánh giá những tác động đến tài nguyên cây dược liệu tại khu vực nghiên cứu
- Đề xuất các giải pháp quản lý bảo tồn tài nguyên cây dược liệu tại khu vực nghiên cứu
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Cung cấp cơ sở dữ liệu về tính đa dạng sinh học các loài cây dược liệu, phục vụ công tác nghiên cứu, quản lý bảo tồn và phát triển tại Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đánh gia một cách đầy đủ các đặc điểm của tài nguyên cây dược liệu tại khu vực như thành phần loài, phân bố, giá trị sử dụng làm cơ sở phục vụ công tác quản lý, bảo tồn và khai thác, sử dụng
- Làm cơ sở khoa học để bảo tồn, phát triển các loài cây thuốc tại Vườn Quốc gia Phia Oắc - Phia Đén huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
- Làm cơ sở cho việc xây dựng chiến lược trong các chương trình qui hoạch, quản lý, bảo vệ, phát triển tài nguyên thực vật của Vườn Quốc gia Phia Oắc - Phia Đén huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
Trang 14Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan kết quả nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu đa dạng loài cây dược liệu nhằm mục đích bảo tồn nguồn tài nguyên này trên thế giới để phục vụ cho mục đích chăm sóc bảo vệ sức khỏe con người, cho
sự phát triển của xã hội và để chống lại các bệnh nan y thì sự cần thiết phải kết hợp giữa Đông - Tây y, giữa y học hiện đại với y học cổ truyền của các dân tộc là một vấn
đề cấp thiết Chính từ những kinh nghiệm của y học cổ truyền đã giúp cho nhân loại khám phá ra những loại thuốc có ích trong tương lai Cho nên, việc khai thác kết hợp với bảo tồn các loài cây thuốc là điều hết sức quan trọng Các nước trên thế giới đang hướng về thực hiện chương trình Quốc gia kết hợp sử dụng, bảo tồn và phát triển bền vững cây thuốc
Vấn đề đa dạng sinh học và bảo tồn đã trở thành một vấn đề chiến lược trên toàn thế giới Nhiều tổ chức quốc tế đã ra đời IUCN, Chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP),Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF) để hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức việc đánh giá, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh vật trên toàn thế giới
Năm 1993, Tổ chức Y tế thế giới WHO đã phối hợp với Hiệp hội Bảo tồn thế giới IUCN và Quỹ Thiên nhiên toàn thế giới WWF xuất bản cuốn tài liệu “Hướng dẫn bảo tồn cây thuốc” (Guidelines on The Conservation of Medicinal Plants) để các quốc gia vận dụng vào điều kiện riêng của mình triển khai công tác bảo tồn cây thuốc Hiện nay, ước tính có khoảng 2000 vườn thực vật trên toàn thế giới, phần lớn nằm ở Tây
Âu (500 vườn) và Bắc Mỹ (350 vườn) Châu Á có khoảng 300 vườn thực vật, chủ yếu
ở Trung Quốc có thể khẳng định đây là quốc gia đi đầu trong việc sử dụng cây thuốc
để chữa bệnh Vào thế kỷ XVI, Lý Thời Trân đưa ra “Bản thảo cương mục” sau đó
năm 1955 cuốn bản thảo này được in ấn lại Nội dung cuốn sách đã đưa đến cho con người cách sử dụng các loại cây cỏ để chữa bệnh Năm 1954 tác giả Từ Quốc Hân đã
nghiên cứu thành công công trình “Dược dụng thực vật cấp sinh lý học” cuốn sách này
giới thiệu tới người đọc cách sử dụng từng loại cây thuốc, tác dụng sinh lý, hóa sinh của chúng, công dụng và cách phối họp các loại cây thuốc theo từng địa phương như
Trang 15“Giang Tô tỉnh tực vật dược tài chí”, “Giang Tô trung dược danh thực đồ thảo”
“Quảng Tây trung dược trí” …(Dẫn theo Trần Hồng Hạnh,1996)
Vị thuốc “Đông Trùng Hạ Thảo” của người Trung Quốc có giá tới 2000-5000 USD/
Kg Hoặc ở Triều Tiên, cây Nhân Sâm đã mang lại một nguồn lợi kinh tế khá lớn cho những cơ sở trồng trọt và sản xuất thuốc từ cây này
Năm 1992, J.H.de Beer- một chuyên gia Lâm sản ngoài gỗ của tổ chức Nông lương thế giới khi nghiên cứu về vai trò của thị trường và của lâm sản ngoài gỗ đã nhận thấy giá trị to lớn của Thảo quả đối với việc tăng thu nhập cho người dân sống trong khu vực rừng núi, nơi có phân bố Thảo quả nhằm xóa bỏ đói nghèo, đồng thời là yếu tố thúc đẩy sự
phát triển kinh tế, xã hội vùng núi và bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng (Dẫn theo
Phan Văn Thắng, 2002)
Năm 1996 Tiền Tín Trung, một nhà nghiên cứu về cây thuốc dân tộc tại Viện Vệ
sinh dịch tể công cộng Trung Quốc biên soạn cuốn sách “Bản thảo bức tranh màu
Trung Quốc” Cuốn sách đã mô tả tới hơn 1000 loài cây thuốc với nội dung đề cấp là:
Tên khoa học, một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học cơ bản, công dụng và
thành phần hóa học (Dẫn theo Phan Văn Thắng, 2002)
Năm 1999, trong cuốn “Tài nguyên thực vật của Đông Nam Á” L.s.de Padua, N
Bunyapraphatsara và R.H.M.J.Lemmens đã tổng kết các nghiên cứu về các cây thuộc
chi Amomum trong đó có Thảo quả Ở đây tác giả đề cập đến đặc điểm phân loại của
Thảo quả, công dụng, phân bố, một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của Thảo quả Tác giả cũng trình bày kỹ thuật nhân giống, trồng, chăm sốc bảo vệ, thu hái, chế
biến, tình hình sản xuất và buôn bán Thảo quả trên thế giới (Dẫn theo Phan Văn
Thắng, 2002)
Theo ước tính của quỹ thiên nhiên thế giới (WWF) có khoảng 35.000 – 70.000 loài trong số 250.000 loài cây được sử dụng vào mục đích chữa bệnh trên toàn thế giới Nguồn tài nguyên cây thuốc này là kho tàng vô cùng quý giá của các dân tộc hiện đang khai thác và sử dụng để chăm sóc sức khỏe, phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc của các nền văn hóa Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ngày nay có khoảng 80% dân
Trang 16số các nước đang phát triển có nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu phụ thuộc vào nguồn
dược liệu hoặc qua các chất chiết suất từ dược liệu (Dẫn theo Nguyễn Văn Tập, 2006)
Ngay từ những năm 1950 các nhà khoa học nghiên cứu về cây thuốc của Liên
Xô đã có các nghiên cứu về cây thuốc trên quy mô rộng lớn Năm 1952 các tác giả
A.l.Ermakov, V.V Arasimovich… đã nghiên cứu thành công công trình “Phương pháp
nghiên cứu hóa sinh – sinh lý cây thuốc” Công trình này là cơ sở cho việc sử dụng và
chế biến cây thuốc đạt hiệu quả tối ưu nhất, tận dụng tối đa công dụng của các loài cây thuốc Các tác giả A.F.Hammermen, M.D Choupinxkaia và A.A Yatsenko đã đưa ra được giá trị của từng loài cây thuốc (cả về giá trị dược liệu và giá trị kinh tế) trong tập
sách “Giá trị cây thuốc” Năm 1972 tác giả N.G Kovalena đã công bố rộng rãi trên cả
nước Liên Xô (cũ) việc sử dụng cây thuốc vừa mang lại lợi ích cao vừa không gây hại
cho sức khỏe của con người Qua cuốn sách “Chữa bệnh bằng cây thuốc” tác giả
Kovalena đã giúp người đọc tìm được loại cây thuốc và chữa đúng bệnh với liều lượng đã
được định sẵn (Dẫn theo Trần Thị Lan, 2005)
Tiến sĩ James A.Dule – nhà dược lý học người Mỹ đã có nhiều đóng góp cho tổ chức Y tế Thế giới (WHO) trong việc xây dựng danh mục các loài cây thuốc, cách thu
hái, sử dụng, chế biến và một số thận trọng khi sử dụng các loại cây thuốc (Dẫn theo
Trần Thị Lan, 2005)
1.2 Tổng quan kết quả nghiên cứu ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh vật cao với khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao, cũng như sự phong phú về tri thức sử dụng cây cỏ Theo kết quả của viện Dược liệu (Bộ y tế) kết quả điều tra từ năm 1991 đến năm 2004 đã ghi nhận được ở nước ta có 3948 loài cây thuốc thuộc 307 họ của 9 ngành thực vật bậc cao cũng như bậc thấp, trong số 3948 loài cây thuốc này phần lớn được ghi nhận từ kinh nghiệm sử dụng của cộng đồng các dân tộc ở khắp các địa phương
Trong số đó có khoảng 6.000 loài cây có ích, được sử dụng làm thuốc, rau ăn, lấy gỗ, nhuộm, vv Khoảng 3.200 loài cây cỏ và nấm đã được ghi nhận là có giá trị hay tiềm năng làm thuốc Nguồn tài nguyên cây cỏ tập trung chủ yếu ở 6 trung tâm đa dạng sinh vật trong cả nước là (i) Đông Bắc, (ii) Hoàng Liên Sơn, (iii) Cúc Phương, (iv) Bạch Mã, (v) Tây Nguyên, (vi) Cao nguyên Đà Lạt Theo thống kê của ngành
Trang 17Dược, cả nước có khoảng 40 bệnh viện y học cổ truyền và các khoa y học cổ truyền trong các bệnh viện đa khoa Có 5.000 người hành nghề thuốc y học cổ truyền với gần 4.000 cơ sở chuẩn trị đông y Có khoảng 700 loài thường được nhắc đến trong sách đông y, sách về cây thuốc, 150-180 vị thuốc thường được sử dụng ở các bệnh viện y học cổ truyền, lương y, 120 loài thường được nhân dân sử dụng như các cây thuốc thông thường để chữa bệnh trong gia đình, nhu cầu dược liệu cho y học cổ truyền khoảng 30.000 tấn/năm
Việt Nam có một nền y học cổ truyền hết sức đa dạng, đặc sắc với bề dày lịch sử hàng nghìn năm và từ đó hình thành nên nền y học dân tộc không ngừng phát triển qua các thời kỳ lịch sử Trong đó, nhiều cây thuốc, bài thuốc được áp dụng chữa bệnh trong dân gian có hiệu quả cao, các kinh nghiệm dân gian quý báu đó đã dần đúc kết thành những cuốn sách có giá trị và lưu truyền rộng rãi trong nhân dân, nghiên cứu cây dược liệu không chỉ góp phần sử dụng bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc của đất nước, làm phong phú thêm tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc chữa bệnh của cả dân tộc mà còn là cơ sở để sản xuất các loại dược phẩm mới để điều trị các căn bệnh hiểm nghèo Đây thực sự là một hướng nghiên cứu có triển vọng lớn trong tương lai Hiện nay, nhiều loài cây dược liệu quý phân bố chủ yếu ở miền núi, đang có nguy cơ bị tàn phá dẫn đến tuyệt chủng do lạm dụng khai thác quá nhiều Vì vậy cần phải có biện pháp tiến hành điều tra, tư liệu hoá thực trạng sử dụng cây thuốc của các dân tộc và tri thức bản địa về cây cỏ làm thuốc để xây dựng các giải pháp quản lý và sử dụng hiệu quả nhằm góp phần giữ gìn, bảo tồn bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Theo Trung tâm Nghiên cứu và phát triển cây thuốc Dân tộc cổ truyền (CREDEP)
từ trước đến nay nhiều địa phương trong nước đã có truyền thống trồng cây thuốc và có nhiều nghiên cứu về thuốc như: Quế (ở Cao Bằng , Thanh Hóa, Quảng Nam, Quảng Ngãi…), Hồi (ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lai Châu…), Hòe (ở Thái Bình), vv…Có những làng chuyên trồng thuốc như Đại Yên (Hà Nội), Nghĩa Trai (Văn Lâm, Hưng Yên) Gần đây nhiều loài thuốc ngắn ngày cũng được trồng thành công trên quy mô lớn như: Bạc Hà, Ác Ti sô, Cúc Hoa, Địa Liên, Gấc, Hương Nhu, Ích Mẫu, Kim Tiền Thảo, Mã Đề, Sả, Thanh Cao hoa vàng, Ý Dĩ , vv…
Trang 18Từ trước đến nay đã có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu các cây thuốc
và vị thuốc để chữa bệnh như: Gs Đỗ Tất Lợi (1999) trong cuốn “Những cây thuốc và
vị thuốc Việt Nam” giới thiệu 800 cây để làm thuốc; Sách “Cây thuốc Việt Nam” của
lương y Lê Trần Đức (1997) có ghi 830 cây thuốc; Ts Võ Văn Chi có cuốn “Từ Điển
cây thuốc Việt Nam” ghi 3200 cây thuốc trong đó có cả cây thuốc nhập nội… Theo tài
liệu của Viện Dược liệu (2004) thì Việt Nam có đến 3.948 loài cây làm thuốc, thuộc 1.572 chi và 307 họ thực vật (kể cả rêu và nấm) có công dụng làm thuốc Trong số đó
có trên 90% tổng số loài cây thuốc mọc tự nhiên Nhưng qua điều tra thì con số này có thể được nâng lên vì kiến thức sử dụng cây thuốc của một số đồng bào dân tộc thiểu
số chúng ta nghiên cứu chưa được đầy đủ hay còn bỡ ngỡ Trong những năm qua, chỉ riêng ngành Y học dân tộc cổ truyền nước ta đã khai thác một lượng dược liệu khá lớn Theo thống kê chưa đầy đủ thì năm 1995, chỉ riêng ngành Đông dược cổ truyền tư nhân đã sử dụng 20.000 tấn dược liệu khô đã chế biến từ khoảng 200 loài cây Ngoài
ra còn xuất khẩu khoảng trên 10.000 tấn nguyên liệu thô (Viện Dược Liệu, 2002)
Khi phát hiện được tác dụng an thần rất ưu việt của I-tetrahudropalmatin từ rễ, củ của một số loài Bình vôi thì việc khai thác chúng cũng được tiến hành ồ ạt Để tách chiết một loại ancloit I-tetrahudropalmatin làm thuốc ngủ rotundin người ta đã khai thác một hỗn hợp củ của rất nhiều loại Bình vôi mà trong đó có loại không chứa hoặc chỉ chứa hàm lượng I-tetrahydropalmatin không đáng kể Do khai thác bừa bãi để chế biến trong nước hoặc bán nguyên liệu thô qua biên giới sang Trung Quốc mà nhiều loại Bình vôi trở nên rất hiếm Đến năm 1996, tuy mới biết được trên 10 loài thuộc chi Bình vôi
(Stephania) thì đã có 4 loài phải đưa vào sách đỏ việt Nam (Viện Dược Liệu, 2002)
Theo Lê Trần Đức, 1997, Sa nhân là cây thuốc quý trong y học cổ truyền phương
Đông, thuộc chi Sa nhân (Amomum Roxb), họ Gừng (Zingiberaceae) Trên thế giới chi
Amomum roxb có khoảng 250 loài phân bố phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới núi cao
Ở Ấn Độ có 48 loài, Malaysia có 18 loài, Trung Quốc có 24 loài Ở nước ta, Sa nhân phân bố hầu hết các tỉnh vùng núi Bắc và Trung Bộ có khoảng 30 loài trong đó có gần
30 loài mang tên Sa nhân, trong đó 23 loài đã được xác định chắc chắn Ở Viện dược liệu và trường Đại học Dược hiện có 12 mẫu vật chưa đủ tài liệu định tên loài đều mang tên Sa nhân Ở Việt Nam, Sa nhân đã được biết đến từ rất lâu đời là vị thuốc cổ
Trang 19truyền trong y học dân tộc bước đầu đã thống kê được trên 60 đơn vị thuốc có vị Sa nhân dùng trong các trường hợp ăn không tiêu, kiến lỵ, đâu dạ dày, phong tê thấp, sốt rét, đau răng, …Ngoài ra Sa nhân còn dùng trong sản xuất hương liệu để sản xuất xà phòng, nước gội đầu Các tác giả đã nghiên cứu đặc điểm sinh thái học, vòng đời tái
sinh, cấu tạo, nơi phân bố, kỹ thuật, thời gian trồng, thu hoạch của Sa nhân (Lê Trần
Đức, 1997)
Khi nghiên cứu về trồng cây Nông nghiệp, dược liệu và đặc sản dưới tán rừng, Nguyễn Ngọc Bình đã tìm hiểu kỹ thuật gây trồng các loài cây dưới tán rừng để tạo ra sản phẩm, tăng thu nhập cho các họ gia đình nhận khoán, bảo vệ, khoanh nuôi rừng Tác giả chỉ ra giá trị kinh tế, đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, kỹ thuật gây trồng
28 loài lâm sản ngoài gỗ như: Ba kích, Sa nhân, Thảo quả, Trám trắng, Mây nếp,
…(Nguyễn Ngọc Bình, 2000)
Kết quả nghiên cứu của Phạm Thanh Huyền tại xã Địch Quả- huyên Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ về việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn cây thuốc của cộng đồng dân tộc cho thấy kiến thức về việc sử dụng nguồn cây thuốc của đồng bào dân tộc Dao ở đây Với kiến thức đó họ có thể chữa khỏi rất nhiều loại bệnh nan y bằng những bài thuốc cổ truyền Tuy nhiên những kiến thức quý báu này chưa được phát huy và có cách duy trì hiệu quả, có tổ chức Tác giả đã chỉ rõ những loài thực vật rừng được người dân sử dụng làm thuốc, nơi phân bố, công dụng, cách thu hái chúng Thêm vào
đó họ còn đưa ra một cách rất chi tiết về mục đích, thời vụ, và các điều kiêng kị khi thu hái cây thuốc; Đánh giá mức độ tác động của người dân địa phương, nguyên nhân
làm suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc (Phạm Thanh Huyền, 2000)
Trước yêu cầu bảo tồn và trồng thêm Ba kích để làm thuốc, từ 1994 -2002, Viện dược liệu đã phối hợp với một số hộ nông dân ở huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xây dựng thành công một số mô hình trồng cây Ba kích trong đó có mô hình Ba kích trồng xen ở vườn gia đình và vườn trang trại, mô hình trồng Ba kích ở đồi và đất nương rẫy
cũ Bước đầu các mô hình này đã đem lại những hiệu quả đáng kể
Trong công trình cây thuốc – nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ đang có nguy
cơ cạn kiệt, Trần Khắc Bảo đã đưa ra một số nguyên nhân làm cạn kiệt nguồn tài nguyên cây thuốc như: diện tích rừng bị thu hẹp, chất lượng rừng suy thoái hay quản
Trang 20lý rừng còn nhiều bất cập, trồng chéo kém hiệu quả Từ đó tác giả cho rằng chiến lược bảo tồn tài nguyên cây thuốc là bảo tồn các hệ sinh thái, sự đa dạng các loài (trước hết
là các loài có giá trị Y học và kinh tế, quý hiếm, đặc hữu, có nguy cơ tuyệt chủng) và
sự đa dạng di truyền Bảo tồn cây thuốc phải gắn liền với bảo tồn và phát huy trí thức
Y học cổ truyền và Y học dân gian gắn với sử dụng bền vững và phát triển cây thuốc
(Trần Khắc Bảo, 2003)
Khi nghiên cứu các biện pháp phát triển bền vững nguồn tài nguyên thực vật phi
gỗ tại vườn quốc gia Hoàng Liên, Ninh Khắc Bản đã thống kê được 29 loài cây dùng làm thuốc và cây cho tinh dầu Trong đó tác giả đã lựa chọn được một số loại cây triển
vọng để đưa vào phát triển như: Thảo quả, Thiên niên kiện,…
Theo Ninh Khắc Bản khi điều tra về nguồn thực vật phi gỗ tại Hương Sơn – Hà Tĩnh bước đầu đã xác định được khoảng 300 loài cây có thể sử dụng để làm thuốc Tuy nhiên trong quá trình điều tra thấy có khoảng 25 loài cây được sử dụng làm thuốc
chữa bệnh như: Hà thủ ô, Thiên niên kiện, Thạch xương bồ, Ngũ gia bì, Sa nhân, …
Nguyễn Văn Thành khi nghiên cứu một số bài thuốc, cây thuốc dân gian của cộng đồng dân tộc thiểu số tại buôn Đrăng-Phốk vùng lõi vườn Quốc gia Yok Đôn, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăc Lắc đã chỉ ra các bài thuốc, cây thuốc dân gian dùng để trị các loại bệnh thường gặp trong cuộc sống từ đó lựa chọn các bài thuốc, cây thuốc hay, quan trọng để bảo tồn và phát triển, nhân rộng dựa trên cơ sở sự lựa chọn có sự tham gia của người dân Đề tài đã ghi nhận được 46 bài thuốc với tổng cộng 69 loài cây làm thuốc mà người dân tại cộng đồng đã sử dụng để điều trị từ các bệnh thông thường đến các bệnh có thể gọi là nan y và đã sắp xếp thành 9 nhóm các bài thuốc theo nhóm bệnh
(Nguyễn Văn Thành, 2004)
Trong 2 năm 2004-2005 Lê Qúy Công đã tiến hành điều tra việc khai thác, sử dụng cây thuốc Nam tại vùng đệm của Vườn quốc gia Tam Đảo, nghiên cứu kỹ thuật nhân giống, gây trồng một số loài cây thuốc quý nhằm bảo tồn và phát triển cho mục đích gây trồng thương mại Đề tài được Quỹ nghiên cứu của Dự án hỗ trợ chuyên ngành Lâm sản ngoài gỗ tại Việt Nam – pha II tài trợ, nghiên cứu chỉ rõ phương pháp thu hái cũng là vấn
đề cần quan tâm, việc thu hái bằng cách đào cả cây do bộ phận dùng chủ yếu là rễ, củ làm cho số lượng loài suy giảm nhanh chóng và đây cũng là nguy cơ dẫn đến sự khan hiếm,
Trang 21thậm chí là sự tuyệt chủng của một số lớn các cây thuốc Vì vậy việc nhân giống nhằm mục đích hỗ trợ cây giống cho người dân có thể trồng tại vườn nhà cũng như xây dựng các vườn cây thuốc tại địa phương đều giảm áp lực thu hái cây thuốc trong rừng tự nhiên
là việc làm rất cần thiết và đưa ra những giải pháp và đề xuất hợp lý để bảo tồn và phát
triển (Ngô Quý Công, 2005)
Theo Nguyễn Văn Tập, để bảo tồn cây thuốc có hiệu quả cần phải tiến hành công tác điều tra quy hoạch, bảo vệ và khai thác bền vững, tăng cường cây thuốc trong hệ thống các khu rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, bảo tồn chuyển vị kết hợp với nghiên cứu gieo trồng tại chỗ, có như vậy các loại cây thuốc quý hiếm mới thoát khỏi nguy cơ
bị tuyệt chủng Đồng thời lại tạo ra thêm nguyên liệu để làm thuốc ngay tại các vùng
phân bố vốn có của chúng (Nguyễn Văn Tâp, 2005)
Cũng trong thời gian này tác giả Nguyễn Tập và cộng sự đã điều tra đánh giá hiện trạng và tiềm năng về y học cổ truyền trong cộng đồng các dân tộc tỉnh Bắc Kạn, kết quả đã thu thập được nhiều cây thuốc, bài thuốc các thời gian trong cộng đồng
thường sử dụng, nhằm kế thừa và quảng bá rộng rãi những tri thức bản địa này
(Nguyễn Tập, 2005)
Năm 2006 nhóm tác giả thuộc Trung tâm nghiên cứu Lâm đặc sản – Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam phối hợp với Viện Dược liệu đã tổ chức điều tra nguồn tài nguyên cây thuốc tại xã Đồng Lâm - Hoàng Bồ - Quảng Ninh và ghi nhận được 288 loài thuộc 233 chi, 107 họ và 6 ngành thực vật, tất cả đều là cây thuốc mọc hoang dại trong các quần xã rừng thứ sinh và đồi cây bụi Trong đó có
8 loài được coi là mới chưa có tên trong danh lục cây thuốc Việt Nam (Nguyễn
Văn Tập, 2006)
Năm 2006, Lê Thị Diên và cộng sự nghiên cứu kỹ thuật gây trồng một số loài cây thuốc Nam dưới tán rừng tự nhiên trong bối cảnh nguồn tài nguyên dược liệu thiên nhiên dang bị khai thác cạn kiệt cần thiết phải có các hoạt động bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây dược liệu do chính người dân sống gần rừng thực hiện, nhằm sử dụng nguồn tài nguyên này trong tương lai Kỹ thuật tạo cây con và gây trồng các loài cây Bách bệnh, Bình vôi, Bồng bồng, lá Khôi, Vằng đắng, đã được người dân tại thôn
Hà An áp dụng rộng rãi Các cây thuốc Nam được gây trồng có tỷ lệ sống cao, sức
Trang 22sinh trưởng tốt, hứa hẹn sẽ đóng góp đáng kể vào nguồn thu nhập cho các hộ gia đình tham gia gây trồng Công trình nghiên cứu này nhằm cung cấp kỹ thuật gây trồng một
số loài cây thuốc Nam được người dân sử dụng nhiều dựa trên kinh nghiệm của họ kết hợp với những thử nghiệm từ đề tài để phát triển cây thuốc Nam tại thôn Hà An
Cho đến nay Lâm sản ngoài gỗ vẫn là nguồn dược liệu chủ yếu và là nguồn thu nhập của người dân ở những vùng rừng mưa thường xanh ở miền Bắc và miền Trung, điển hình là ở Đông Bắc, Bắc Bộ và Tây Nguyên Nhiều dược liệu quý dùng trong nước và xuất khẩu đều có nguồn gốc từ Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn… như Sâm Ngọc Linh, Hoàng Đằng ( để sản xuất Becberin) ở Tây Nguyên rất nổi tiếng Ngày nay nhiều hộ gia đình đã trồng các loài cây dược liệu trong vườn nhà với nguồn giống lấy từ rừng, như trồng quế đã thành phổ biến ở các tỉnh Đông Bắc, Bắc Bộ và Trà Bồng, Trà My (Quảng Nam); Ba kích , Hà thủ ô, Hòe…trồng rất phổ biến ở nhiều nơi Dược liệu đã trở thành nguồn thu nhập quan trọng của nhiều vùng, người dân thu hái dược liệu chỉ để sử dụng một phần rất nhỏ còn lại đem bán ra ngoài thị trường và từ đó xuất khẩu sang các nước khác Những người sống ở gần biên giới phía Bắc thường bán các dược liệu thu hái được qua biên giới bằng con đường trực tiếp hoặc thông qua người buôn Nhiều loại dược liệu có nguồn gốc từ Việt Nam xuất khẩu sang các nước khác, qua chế biến và quay trở lại Việt Nam với thương hiệu nước ngoài trong tỉnh
Đỗ Hoàng Sơn và cộng sự đã tiến hành đánh giá thực trạng khai thác, sử dụng và tiềm năng gây trồng cây thuốc tại Vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm Qua điều tra
họ thống kê được tại Vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm có 459 loài cây thuốc
thuộc 346 chi và 119 họ trong 4 ngành thực vật là: Equisetophyta, Polypodiophyta,
Pinophyta và Magnoliophyta Người dân thuộc vùng đệm ở đây chủ yếu là cộng đồng
dân tộc và Sán Dìu sử dụng cây thuốc để chữa 16 nhóm bệnh khác nhau Trong đó trên 90% số loài được sử dụng trong rừng tự nhiên Mỗi năm có khoảng hơn 700 tấn thuốc tươi từ Vườn quốc gia Tam Đảo được thu hái để buôn bán Nguồn tài nguyên cây thuốc ở đây đang bị suy giảm khoảng 40% so với 5 năm trước đây Trên cơ sở các
nghiên cứu các tác giả đã đề xuất 26 loài cây thuốc cần được ưu tiên và bảo tồn (Đỗ
Hoàng Sơn, 2008)
Trang 23Từ nhiều năm qua, Viện Dược liệu đã thu thập được 500 loài cây thuốc đem về trồng, nhân giống ở các vườn cây thuốc 65 loài có nguy cơ cao đã được trồng ở Trạm nghiên cứu trồng cây thuốc (Lào Cai), Vườn trạm nghiên cứu trồng cây thuốc Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Vườn Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến thuốc Thanh Trì (Hà Nội), Vườn Trung tâm nghiên cứu dược liệu Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa) và Vườn bảo tồn cây thuốc vùng cao Phó Bảng (Đồng Văn – Hà Giang) Các vườn thuốc này có đủ điều kiện sống như điều kiện sống của chúng và lý lich thu thập, ngày trồng, tình hình sinh trưởng phát triển, ra hoa-quả… được ghi lại để đánh giá khả năng bảo tồn
Danh sách một số loài cây dược liệu có giá trị cao trên thị trường được người dân bán tại chợ Sapa do tổ chức y tế Thế giới (WHO) và Viện Đông y thống kê như sau: Bạch chỉ, Bạch thược, Bạch truật, Cam thảo, Đại táo, Đẳng sâm, Đỗ trọng, Đương quy, Hà thủ
ô dổ, Hà thủ ô trắng, Liên nhục, Hoài sơn, Hoàng kỳ, Huyền sâm, Mạch ngôn, Ngũ gia bì chân chim, Ngũ gia bì gai, Ngu tất, Sâm nam, Thổ phục linh, Thục địa Trong số dược liệu này chỉ có một số rất nhỏ có nguồn gốc Trung Hoa như: Đương quy, Đại táo, số còn
lại là sản phẩm có nguồn gốc từ rừng của miền Nam
Thuần hóa Lâm sản ngoài gỗ thành công rõ rệt nhất là với những loài cây dược liệu Trong vòng 50 năm trở lại đây, ở Việt Nam đã có hơn 30 loài cây thuốc vốn c tự nhiên ở rừng đã được thuần hóa đưa vào trồng ở các quy mô khác nhau, trong số đó có
4 loài là Ích mẫu, Củ cọc, Kim tiền thảo, Nhân trần đã được trồng tương đối ổn định; 10 loài đang được nghiên cứu thuần hóa, đó là những loài quý hiếm như: Ba kích, Cốt khí
củ, Đẳng sâm, Hà thủ ô đỏ, Ngũ gia bì gai, Sâm ngọc linh, Sâm vũ điệp, Sì to, Tam thất hoang và Tục đoạn Vấn đề khó khăn là thiếu nguồn giống, quy trình kỹ thuật nhân giống và trồng cũng là những khâu quan trọng cần được nghiên cứu
Khi nghiên cứu kiến thức bản địa trong bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc tại xã San Thành- Thị xã Lai Châu, Lê Sỹ Trung và công sự đã thống kê được
51 loài cây thuốc dang được khai thác và sử dụng Xác định các loài cây thuốc được đưa vào bảo tồn và phát triển Thực trạng quản lý, bảo vệ, nguyên nhân làm suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc tại địa phương và đề xuất một số giải pháp chủ yếu cho
việc quản lý, bảo vệ và phát triển
Vừa qua Viện Dược liệu và Bộ môn Dược liệu - Trường Đại học Dược Hà Nội đã tiến hành nghiên cứu định tính và định lượng một số nhóm chất trong cây Chè đắng
Trang 24mọc tại Cao Bằng Kết quả nghiên cứu cho thấy trong lá Chè đắng có 5 nhóm chất: saponin tổng, flavonoid tổng, polysaccharid tổng, calotennoid và axit hữu cơ Đây là những nhóm chất có nhiều tác dụng sinh học quan trọng và từ lâu đã thu hút sự chú ý
của các nhà nghiên cứu (Dẫn theo Nguyễn Thị Thoa, 2006)
Trong nghiên cứu “Dược thảo trong rừng mưa nhiệt đới” Phạm Minh Toại và
cộng sự đã chỉ ra: với mức độ mất rừng như hiện nay thì hệ thực vật và động vật giàu
có ở vùng nhiệt đới, bao gồm cả các loài dược thảo đã biết hoặc ở dạng tiềm năng sẽ
bị hủy diệt và các kiến thức bản địa liên quan ít có cơ hội tồn tại Việc mất rừng nhiệt đới rỗ ràng đang đe dọa sự an toàn của loài người thông qua các tác động cùng tăng lẫn nhau như: trượt lở đất, lũ lụt và hoang mạc hóa, xói mòn đất và sự lây nhiễm một
số bệnh tật tuy nhiên sự tuyệt chủng của những loài dược thảo và sự mất đi của những thầy thuốc nam giỏi ở địa phương (thầy lang) còn là một nguy cơ lớn hơn nhiều đối
với sức khỏa con người ở cả các nước đang phát triển và các nước phát triển (Phạm
Minh Toại, 2005)
Theo Nguyễn Văn Tập trong nguồn Lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam, cây thuốc chiếm một vị trí quan trọng về thành phần loài cũng như về giá trị sử dụng và kinh tế Theo điều tra cơ bản của Viện Dược liệu (Bộ Y tế) và một số báo cáo khoa học đến năm 2004 đã phát hiện được ở nước ta có 3.948 loài thuộc 1.572 chi và 307 họ thực vật (kể cả Rêu và Nấm) có công dụng làm thuốc Trong số đó trên 90% tổng số loài là cây thuốc mọc tự nhiên chủ yếu trong các quần thể rừng Rừng cũng là nơi tập hợp hầu hết cây thuốc quý
có giá trị sử dụng và kinh tế cao Tuy nhiên, do khai thác không chú ý đến tái sinh trong nhiều năm qua cùng với nhiều nguyên nhân khác, nguồn cây thuốc mọc tự nhiên ở Việt Nam đã bị giảm sút nghiêm trọng, biểu hiện qua các thực tế sau:
- Vùng phân bố tự nhiên của cây thuốc bị thu hẹp: Nạn phá rừng làm nương rẫy, nhất là việc mở rộng diện tích trồng Cà phê, Cao su ở các tỉnh phía Nam đã làm mất đi những vùng rừng rộng lớn vốn có nhiều cây thuốc mọc tự nhiên chưa kịp khai thác
- Hầu hết các cây thuốc có giá trị sử dụng và kinh tế cao, mặc dù có vùng phân
bố rộng lớn, trữ lượng tự nhiên tới hàng ngàn tấn, như Vằng đắng (Coscinium
fenestratum); Các loài Bình vôi (Stephania Spp)… hoặc hàng trăm tấn như Hoằng
đắng (Fidraurea timctoria)… nhưng do khai thác quá mức, không chú ý bảo vệ tái
sinh, dẫn đến tình trạng mất khả năng khai thác Một số loài thuộc nhóm này như Ba
Trang 25kích (Morinda offcinalis); Đẳng sâm (Codonopsis javanica)… đã phải đưa vào Sách
đỏ Việt Nam (1996) và Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam (1996, 2001, 2004) nhằm khuyến cáo bảo vệ
- Đặc biệt đối với một số loài cây thuốc như Ba kích, Tam thất và Sâm mọc tự
nhiên, Hoàng liên, Lan một lá,…đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng cao (Nguyễn
Văn Tập, 2005)
Cao Bằng là tỉnh có nhiều đồng bào dân tộc cùng sinh sống với những kinh nghiệm dân gian độc đáo trong việc sử dụng cây cỏ hoang dại để làm thuốc chữa bệnh Tuy nhiên, những nghiên cứu về cây thuốc ở Cao Bằng còn ít, chưa đi sâu tìm hiểu một cách đầy đủ và hệ thống về vốn tri thức bản địa của cộng đồng các dân tộc sinh sống trong tỉnh Việc tiến hành điều tra, nghiên cứu tổng thể nguồn cây dược liệu trên phạm vi toàn tỉnh sẽ góp phần bổ sung những tư liệu quý vào kho tàng y học cổ truyền Việt Nam và thế giới nhằm phục vụ công tác bảo tồn và nghiên cứu khoa học
1.3 Những nghiên cứu về thảm thực vật, đa dạng thực vật và các loài thực vật làm thuốc ở Cao Bằng và khu vực nghiên cứu
Những nghiên cứu về thảm thực vật, đa dạng thực vật và các loài thực vật làm thuốc ở tỉnh Cao Bằng còn ít, chỉ có một số công trình nghiên cứu đó là:
Lê Vũ Khôi (2003) khi nghiên cứu đa dạng sinh học vùng núi đá vôi Thang Hen, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng đã xác định được 340 loài, thuộc 233 chi, 84
họ của 4 ngành thực vật bậc cao có mạch là Thông đất, Dương xỉ, Hạt trần và Hạt kín Một số loài điển hình ở khu vực nghiên cứu là Thiết sam giả lá ngắn
(Pseudotsuga brevifolia), Thông pà cò (Pinus kwangtungensis var varifolia), đặc
biệt là các loài trong họ Phong lan Orchidaceae
Nguyễn Hữu Tứ và cộng sự (2009) khi nghiên cứu hệ thực vật ở Khu bảo tồn loài Vượn Cao vít, Trùng Khánh, Cao Bằng đã xác định được ở khu vực nghiên cứu có 6 kiểu thảm chính gồm: rừng á nhiệt đới thường xanh cây lá rộng ở thung lũng, rừng tre nứa ở thung lũng, rừng á nhiệt đới thường xanh cây lá rộng ở sườn núi, rừng á nhiệt đới thường xanh hỗn giao cây lá rộng và hạt trần ở khu vực đỉnh, trảng bụi nhiệt đới thường xanh thứ sinh và trảng cỏ nhiệt đới thường xanh thứ sinh
Hệ thực vật đã thống kê được 960 loai, 541 chi, 144 ho, thuộc 4 ngành thực vật bậc
Trang 26cao có mạch (Thông đất, Dương xỉ, Hạt trần và Hạt kín) Đã xây dựng được phổ dạng sống là SB = 76,4 Ph + 8,9Ch + 4,4 Hm + 3,6 Cr + 6,7 Th Các yếu tố địa lý thực vật có số loài nhiều nhất gồm Ấn Độ, Nam Trung Hoa, Châu Á nhiệt đới và Đông Dương Đã thống kê được 10 nhom công dụng (làm thuốc; lượng thực, thực phẩm; cho gỗ, củi; làm cảnh; dầu béo; sợi; tinh dầu; tanin; thuốc nhuộm; thức ăn cho vật nuôi; vật liệu xây dựng và nhựa) và 34 loài quý hiếm theo Sách Đỏ Việt Nam (2007)
Trần Công Khánh (2012) đã chỉ ra rằng, trong giai đoạn từ 1969-1973 toàn tỉnh Cao Bằng có 617 loài cây thuốc phân bố tại tất cả 13 huyện, thị trong tỉnh và đội ngũ 800 lương y có nhiều bài thuốc dân gian, nhiều kinh nghiệm quý trong chăm sóc sức khỏe và chữa bệnh Nhiều loài thuốc quý phân bố các địa phương như
ở Huyện Bảo Lạc: Hà thủ ô đỏ, Hoàng tinh Các huyện Thông Nông, Nguyên Bình, Hà Quảng: Ô đầu, Củ mật gấu, Chè dây, Ba kích, Bình vôi, Hoàng đằng, Bảy lá một hoa, Thanh thiên quỳ, Kê huyết đằng, Thầu dầu tía, Sa nhân, Kim tuyến Các huyện Thạch An, Hoà An: Cốt toái bổ, Củ bình vôi, Sói rừng, Chè đắng, Sâm cau Các huyện Trùng Khánh, Trà Lĩnh, Hạ Lang, Quảng Uyên: Giảo cổ lam, Kim ngân,
Đỗ trọng nam, Kim anh, Cẩu tích, vv Tác giả cũng đưa ra một số đề xuất để bảo tồn
và phát triển các loài cây thuốc quý tại địa phương
Trần Thị Thu Thủy, La Quang Độ, Nguyễn Quang Hùng (2014) khi nghiên cứu khu hệ thực vật ở Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén đã xác định được thành phần loài thực vật quý hiếm và nguy cấp tại KBTTN gồm 33 loài thuộc 27 chi,
20 họ thuộc 3 ngành thực vật khác nhau Trong đó có 8 loài ở cấp độ thế giới (IUCN, 2011), 16 loài (7 loài thuộc nhóm IA và 9 loài thuộc nhóm IIA) được ghi trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP Dạng sống của thực vật quý hiếm tại khu vực nghiên cứu có 3 dạng sống chính là cây chồi trên mặt đất, cây chồi sát mặt đất và nhóm chồi
ẩn Tỷ lệ nhóm các dạng sống có khác nhau, nhóm có tỷ lệ cao nhất là nhóm chồi trên mặt đất (Ph) chiếm 78,79%, dạng sống ít nhất nhóm chồi ẩn (Cr) 3,03%
Ngày 30/12/2014, Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng đã phê duyệt quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Cao Bằng đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 Trong đó, chuyển hạng khu Bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén thành Vườn
Trang 27Quốc gia Phia Oắc - Phia Đén nhằm bảo vệ nguyên vẹn các hệ sinh thái rừng; nguồn gen động thực vật rừng quý, hiếm (gồm 47 loài thực vật và 66 loài động vật); cảnh quan thiên nhiên, diện tích tự nhiên 11.960 ha, thuộc huyện Nguyên Bình, trên địa phận của các xã Ca Thành, Mai Long, Phan Thanh, Quang Thành, Thành Công và một phần nhỏ của thị trấn Tĩnh Túc và xã Vũ Nông
1.4 Điều kiện tự nhiên - Kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu
1.4.1 Vị trí địa lý
Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén có tổng diện tích tự nhiên 10.593,5 ha trong
đó có 8.146,6 ha rừng tự nhiên thuộc địa bàn 5 xã của huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng là: Thành Công, Quang Thành, Phan Thanh, Hưng Đạo và thị trấn Tĩnh Túc Toàn bộ diện tích của vườn quốc gia nằm trong Công viên địa chất Non Nước Cao Bằng được UNESCO công nhận là Công viên địa chất toàn cầu vào ngày 12 tháng 4 năm 2018 Nằm cách thủ đô Hà Nội 240 km theo tỉnh lộ 212, cách thành phố Bắc Kạn
76 km theo tỉnh lộ 212 và quốc lộ 3, cách thành phố Cao Bằng 73 km theo tỉnh lộ 212
và quốc lộ 34, và cách thị trấn Nguyên Bình 30 km theo tỉnh lộ 212 Có vị trí địa lý như sau:
- Từ 105049’53’’ đến 105056’24’’ kinh độ Đông
- Từ 22031’44’’ đến 22039’41’’ vĩ độ Bắc
+ Phía Bắc giáp huyện Thông Nông và huyện Bảo Lạc tỉnh Cao Bằng
+ Phía Đông giáp huyện Hòa An tỉnh Cao Bằng
+ Phía Nam giáp với tỉnh Bắc Kạn
+ Phía Tây giáp với tỉnh Bắc Kạn
Tổng diện tích tự nhiên khu vực 5 xã là 10.593,5 ha, chiếm 12,64% tổng diện tích (20 xã) toàn huyện
Bảng 1.1: Diện tích quy hoạch vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén
Tổng diện tích (ha)
Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt (ha)
Phân khu phục hồi sinh thái (ha)
Phân khu dịch vụ hành chính (ha)
Ghi chú
Trang 28Vườn QG Phía Oắc - Phia Đén 10.593,5 4.035,5 6.417,1 140,9
Vườn quốc gia được chia thành 3 phân khu chính là phân khu bảo vệ nghiêm ngặt; phân khu phục hồi sinh thái; phân khu dịch vụ hành chính Trong đó, phân khu bảo vệ nghiêm ngặt có diện tích 4.035,5 ha, tại tiểu khu 338, 352 xã Thành Công; tiểu khu 333, 334 xã Quang Thành; tiểu khu 327, 337 xã Phan Thanh; và tiểu khu 321, 322 thị trấn Tĩnh Túc Tại đây, có hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và á nhiệt đới núi trung bình; hệ sinh thái rừng lùn hay còn gọi là “rừng rêu”, một kiểu rừng của khí hậu ôn đới đặc trưng của miền Bắc Việt Nam cùng với rất nhiều các loài động thực vật đặc hữu, nguy cấp, quý hiếm Ngoài ra, vùng đệm có diện tích 8.276,1
ha nằm trên địa bàn 6 xã và 1 thị trấn
Đỉnh núi cao nhất khu bảo tồn thiên nhiên là đỉnh Phia Oắc cao 1931 m, cũng là
đỉnh núi cao nhất thuộc cánh cung Ngân Sơn-Yên Lạc
1.4.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo
Địa hình tại vườn quốc gia phức tạp, với chủ yếu là núi cao, thung lũng nhỏ hẹp,
độ dốc lớn, nhiều nơi dốc đứng Có nhiều đỉnh núi cao trên 1.000m đến gần 2.000m so với mực nước biển, như Phia Oắc (1.935 mét), là đỉnh núi cao thứ hai ở Cao Bằng; Niot Ti (1.574 mét); Tam Loang (1.446 mét); Phia Đén (1.391 mét); Ki Doan (1.165 mét)… Về địa chất, nơi đây có sự đan xen giữa các loại đá lục nguyên, đá vôi và đá xâm nhập granit, tạo nên các dãy núi đất xen với núi đá Sự đa dạng về địa hình, địa mạo, địa chất, cộng với điều kiện khí hậu đặc trưng đã tạo nên các hệ sinh thái đặc thù của vùng núi cao Phia Oắc, đồng thời cũng là nền tảng cấu thành tính đa dạng sinh học của khu vực này
Vườn quốc gia có nhiệm vụ bảo vệ diện tích rừng hiện có, đồng thời phục hồi, làm giàu rừng tự nhiên, gây ươm các giống cây bản địa quý hiếm để trồng mới nâng cao diện tích phủ xanh Cùng với đó là bảo vệ hệ động thực vật tự nhiên và tính đa dạng sinh học, khai thác các tiềm năng cảnh quan và dịch vụ môi trường để tăng nguồn thu, góp phần phát triển kinh tế xã hội địa phương
Đây là nhà của nhiều loài động thực vật hoang dã, đặc biệt là 90 loài thực vật
và 58 loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng cao.[6] Một số loài thực vật đáng chú ý gồm thiết sam giả, thiết sam núi đá, thông pà cò, vù hương (một loài đặc hữu), lát
Trang 29hoa, sến mật, nghiến, dẻ tùng Về động vật, có khoảng 80 loài động vật có vú, hàng trăm loài chim, bò sát và lưỡng cư, hàng vạn loài côn trùng Một số loài quý hiếm bao gồm Hươu xạ, sơn dương, cu li lớn, cu ly nhỏ, vượn đen Đông Bắc, khỉ cộc, gấu ngựa, cầy sao, cầy hương, mèo rừng, sóc bay đuôi trắng
Do kiến tạo địa chất, địa hình huyện Nguyên Bình hình thành 2 vùng rõ rệt: vùng núi đá và vùng núi đất Độ cao trung bình từ 800m đến 1.100m, thấp dần từ tây sang đông Vùng núi đá chạy dài theo hướng Tây - Tây Bắc bao quanh núi đất, nối tiếp nhau thấp dần về phía Đông Bắc Từ xã Thành Công, Mai Long, Ca Thành, Yên Lạc, Triệu Nguyên, Minh Thanh, Bắc Hợp nối liền dãy núi đá Lam Sơn, Minh Tâm, có nhiều ngọn núi cao trên 1000m Dãy Toong Tinh (xã Phan Thanh) cao 1120m, núi Tam Luông (xã Thành Công) cao 1.300m, núi Phia Oắc (xã Phan Thanh) cao 1.931m, quanh năm mây bao phủ Vùng núi đất bao gồm những dãy núi ở phía Đông và phía Đông Nam nối tiếp nhau gợn sóng gối vào thềm núi đá tạo thành thế trụ vững chắc, bức tường ngàn đời che chắn nạn ngoại xâm Những dãy núi này kéo dài
từ xã Hoa Thám, Tam Kim, Lang Môn đến Quang Thành, Thành Công, Thể Dục
Xen giữa những dãy núi đá, núi đất là những khu đồi đất nhấp nhô, độ cao 500m, có những đồng cỏ xanh như Phia Đén (Thành Công), Nà Nu (Lang Môn) Núi đồi đồng cỏ, khoáng sản là những tiềm năng kinh tế của nhân dân các dân tộc
huyện Nguyên Bình
Vườn Quốc gia Phia Oắc - Phia Đén có địa hình đồi núi phức tạp, độ dốc cao, đường đi lại khó khăn; gây khó khăn cho phát triển kinh tế, ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt hàng ngày cũng như trao đổi hàng hóa của bà con nhân dân
Trên địa bàn xã Thành Công là trung tâm của khu vực nghiên cứu có một số ngọn núi như Phia Chao, Phia Thán, Phia Đén Các dòng nước trên địa bàn gồm suối Bản Đổng, suối Bản Sẻ, suối Nặm Dân, suối Khau Cảng, nậm Pác Khuổi Lò, nậm Tòng Tỉnh lộ 212 đi từ phía Bắc xuống phía Tây Nam của xã và nối sang tỉnh Bắc Kạn
1.4.3 Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng
Theo tài liệu thổ nhưỡng của huyện, trên địa bàn có những loại đất chính sau:
Trang 30- Đất Feralit mầu đỏ nâu trên núi đá vôi: Phân bố tập trung ở độ cao từ 700m -1700m so với mặt nước biển
- Đất Feralít mầu vàng nhạt núi cao: Loại đất này có quá trình Feralít yếu,
quá trình mùn hoá tương đối mạnh, thích hợp với một số loài cây trồng: Thông, Sa mộc, Tông dù, Lát hoa, Dẻ đỏ, Trẩu, Sở và một số loài cây đặc sản, cây thuốc, cây
ăn quả khác
- Đất Feralít mầu đỏ vàng núi thấp: Phân bố ở độ cao từ 300 - 700m, hình
thành trên các loại đá mẹ mácma axít, trung tính kiềm, đá sạn kết, đá vôi Đất chứa ít khoáng nguyên sinh, phản ứng chua, loại đất này thích hợp với một số loài cây trồng: Thông, Sa mộc, Tông dù, Kháo vàng, Cáng lò, Lát hoa, Keo, Dẻ đỏ, Trẩu, Sở, Hồi, Quế, Chè đắng và một số loài cây thuốc, cây ăn quả khác
- Đất bồn địa và thung lũng: Bao gồm đất phù sa mới, cũ, sản phẩm đất dốc
tụ, sản phẩm hỗn hợp, loại đất này được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp
1.4.4 Đặc điểm khí hậu, thủy văn
* Khí hậu
Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng khí hậu miền núi nhiệt đới gió mùa, nhiệt
độ trung bình là 20ºC, nhiệt độ cao nhất là 36,8ºC và thấp nhất là 0,6ºC Lượng mưa trung bình hằng năm là 1.670 mm (mức cao nhất 2.049 mm và thấp nhất 1.252mm)
Độ ẩm không khí bình quân 82% Khí hậu cận nhiệt đới, vùng thấp chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa; một năm có 2 mùa rõ rệt, đó là:
- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm 85,4% tổng lượng mưa cả năm, tập trung vào các tháng 7, 8 Lượng mưa bình quân năm 1.592 mm; năm cao nhất 1.736 mm; năm thấp nhất 1466 mm
- Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau; thường chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, nhiệt độ xuống thấp, lượng mưa ít, có nhiều sương mù
- Nhiệt độ trung bình cả năm 180C; nhiệt độ cao nhất từ tháng 5 đến tháng 9, trong khoảng 24,50 - 26,90 C, đặc biệt có khi lên tới 340 C; nhiệt độ thấp nhất từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau, có khi xuống tới - 20C - 50C
- Độ ẩm bình quân cả năm là 84,3%, tháng có độ ẩm cao nhất vào tháng 7, 8
là trên 87%, thấp nhất vào tháng 12 là 80,5%
- Ngoài ra, còn có hiện tượng sương mù xuất hiện vào sáng sớm, chiều tối và
Trang 31đêm của tất cả các tháng trong năm; điểm sương mù nặng nhất là đỉnh đèo Colea Đặc biệt, khi nhiệt độ xuống thấp đã xuất hiện hiện tượng mưa tuyết ở khu vực đỉnh Phia Oắc và đèo Colea Khu vực nghiên cứu có thời tiết khí hậu diễn biến phúc tạp, rét đậm rét hại kéo dài quanh năm
* Thủy văn:
Hệ thống sông, suối Nguyên Bình gồm 3 con sông lớn: Sông Nguyên Bình là một nhánh thượng nguồn của sông Bằng bắt nguồn từ Tĩnh Túc chảy qua các xã Thể Dục, thị trấn Nguyên Bình, Minh Thanh, Bắc Hợp ra xã Trương Lương (huyện Hòa An) Sông có dòng chảy lớn, nơi có độ dốc cao như đạp Tà Sa, Nà Ngàn xây dựng được 2 trạm thủy điện nhỏ có công suất 850kW giờ cung cấp cho mỏ thiếc Tĩnh Túc Sông Nhiên bắt nguồn từ núi Phia Oắc, xã Thành Công chảy qua các xã Hưng Đạo, Tam Kim, Hoa Thám, Bạch Đằng (Hòa An) là thượng nguồn sông Hiến đến thị
xã Cao Bằng hợp lưu với sông Bằng Sông Năng bắt nguồn từ huyện Bảo Lạc qua
xã Bằng Thành (Pắc Nặm, Bắc Kạn) chảy qua địa phận xã Mai Long, Phan Thanh, Bành Trạch (Ba Bể, Bắc Kạn) Dọc theo các con sông là những cánh đồng nhỏ hẹp của các xã Thể Dục, Minh Thanh, Bắc Hợp, Tam Kim Ngoài ra còn có các khu ruộng bậc thang bên đồi núi ở các xã Thành Công, Quang Thành, Thể Dục, những nơi phát triển lúa nương như xã Hoa Thám, Thịnh Vượng
1.5 Điều kiện kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu
1.5.1 Dân số, lao động
Vườn quốc gia Phía Oắc - Phia Đén nằm trên địa phận hành chính của 05 xã, thị trấn là xã Thành Công, Quang Thành, Phan Thanh, Hưng Đạo và thị trấn Tĩnh Túc Với tổng diện tích là 10.593,5 ha, chiếm 12,64% tổng diện tích (20 xã) toàn huyện
Theo số liệu của Phòng Thống kê huyện Nguyên Bình, tính đến ngày 31/12/2018 thì tổng số dân 05 xã, thị trấn của Vườn quốc gia Phía Oắc - Phia Đén là 13.872 người, 3.247hộ Mật độ dân số toàn vùng 71,2 người/km2
Trang 32Bảng 1.2 Dân số tại khu vực nghiên cứu
TT Đơn vị hành chính Dân số
(người)
Mật độ dân số (người/km 2 )
( Nguồn : Niêm giám thống kê tỉnh Cao Bằng 2017)
Dân số vùng đệm là 7.800 nhân khẩu, trong đó, người Dao và người H Mông, Nùng chiếm đa số Mật độ dân cư tương đối thấp, chỉ khoảng 71,2 người/km2 Tuy vậy, tỷ lệ tăng dân số hơi cao, trung bình là 0,7%
1.5.2 Tình hình phát triển kinh tế
Dân sống trong Vườn quốc gia Phía Oắc - Phia Đén chủ yếu là người Dao, Nùng và H’Mông Họ sinh sống ở đây từ lâu đời với tập quán phát rừng làm nương rẫy, săn bắt muông thú, chăn thả gia súc và chặt phá rừng Sản xuất nông nghiệp vẫn
là nghề chủ yếu của bà con nơi đây và do năng suất thấp và thiếu đất canh tác, bình quân lương thực đầu người quy ra thóc cho toàn khu vực 650 kg/người, chỉ đủ lương thực trong vòng 10 tháng Thu nhập của người dân trong vùng những năm gần đây 9,5 triệu đồng/năm Hoạt động chặt phá rừng làm nương rẫy, làm nhà do tách hộ đã ảnh hưởng không nhỏ đến thảm thực vật rừng Diện tích rừng nguyên sinh không còn nhiều và thay vào đó là rừng thứ sinh phục hồi, trảng cỏ, trảng cây bụi, cây gỗ rải rác và rừng tre nứa kém giá trị Song song với việc phát rừng làm rẫy, người dân địa phương còn tiến hành khai thác gỗ để xây dựng nhà cửa, khai thác dược liệu bán cho thương nhân Trung quốc Sự khai thác ở đây tuy không lớn nhưng lại tập trung vào một số loài quý hiếm ảnh hưởng đến cấu trúc của rừng cũng như sự tồn vong của các loài này
* Đánh Giá tiềm năng của xã:
Trang 33- Thuận lợi: Vườn quốc gia Phía Oắc - Phia Đén có diện tích đất đồi núi rộng, phù hợp trồng các loại cây nông, lâm nghiệp, có điều kiện để phát triển chăn nuôi đàn gia súc, gia cầm.Khí hậu mát mẻ phù hợp với một số loại cây trồng và dược liệu có giá trị kinh tế cao.Tình hình an ninh, chính trị trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã được giữ vững từ đó tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chính quyền địa phương
- Khó khăn: Đời sống và mức thu nhập nhân dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao (chiếm 64,7%) Trình độ dân trí không đồng đều, chưa mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi Tỷ lệ sử dụng giống cây trồng mới có năng suất cao và
áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất của người dân còn hạn chế Một
số ít hộ dân còn sử dụng các loại giống cây trồng địa phương năng suất, sản lượng thấp Ngoài ra, giá các loại phân bón, giống các loại cây trồng không ổn định và tăng cao nên người dân còn hạn chế sử dụng
Trang 34Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các loài thực vật bậc cao có mạch được sử dụng làm thuốc tại Vườn Quốc gia Phia Oắc - Phia Đén huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng Thời gian thực hiện: Từ tháng 8 năm 2018 đến tháng 8 năm 2019
Địa điểm nghiên cứu: Vườn Quốc gia Phia Oắc - Phia Đén huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng (05 xã của huyện Nguyên Bình)
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Xây dựng danh lục các loài cây thuốc tại khu vực nghiên cứu
- Đánh giá tính đa dạng của các thành phần loài cây dược liệu
- Tài liệu hóa tri thức bản địa về khai thác và sử dụng các bài thuốc nam của đồng bào dân tộc địa phương
- Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển một số loài có ý nghĩa và triển vọng
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp kế thừa
Dựa trên các công trình nghiên cứu đã được thực hiện và công bố trước đây về thành phần thực vật các loài cây dược liệu, tài nguyên thực vật tại Vườn Quốc gia Phia Oắc - Phia Đén cũng như một số tài liệu có liên quan sau:
Bản đồ các loại: Bản đồ địa hình, bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng mới nhất, bản đồ lập địa…
Kế thừa các kết quả của các nghiên cứu khoa học, các công trình nghiên cứu, bài báo, các thông tin có liên quan tới các loài cây dùng làm thuốc nói chung và các loài thực vật chữa được bệnh phân bố tại Khu vực nghiên cứu
Danh mục thực vật mới nhất đang được sử dụng tại Vườn Quốc gia Phia Oắc - Phia Đén
Thu thập các tài liệu nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan đến Vườn Quốc gia Phia Oắc - Phia Đén
Trang 35Sau khi thu thập đầy đủ các tài liệu liên quan, chúng tôi tiến hành thống kê, kiểm tra và hiệu chỉnh lại toàn bộ thông tin một cách chính xác trên cơ sở các tại liệu tham khảo chuyên ngành từ đó xác định giá trị thông tin kế thừa
2.3.2 Liệt kê tự do
Dùng phương pháp này để nghiên cứu các nội dung như: Xác định thành phần loài cây dược liệu tại khu vực nghiên cứu; Đặc điểm phân bố các loài cây dược liệu tại khu vực nghiên cứu; xác định các tác động đến các loài cây dược liệu tại khu vực nghiên cứu
Liệt kê tự do là kỹ thuật thường được áp dụng trong nghiên cứu xã hội Áp dụng trong điều tra cây thuốc, liệt kê tự do cần được thực hiện qua hai giai đoạn: (1) liệt kê
tự do và (2) xác định cây thuốc
(1) Liệt kê tự do
Liệt kê tự do là việc hỏi/ phỏng vấn một tập hợp người cung cấp tin, đề nghị họ cho tên tất cả các phần tử (tên của cây thuốc) thuộc lĩnh vực cần nghiên cứu (cây thuốc) Mục tiêu của liệt kê tự do là để thu thập một tập hợp tên (theo tiếng địa phương) các loài mà người dân ở khu vực điều tra sử dụng làm thuốc Các bước thực hiện bao gồm:
- Chọn mẫu
Người cung cấp tin có thể được chọn (i) ngẫu nhiên (như dựa vào danh sách hộ gia đình, tung đồng xu, v.v…), (ii) ngẫu nhiên - phân tầng (người cung cấp tin được phân thành một số tầng (nhóm người) nhất định như dân tộc, mức thu nhập, giới tính…, sau đó được lấy ngẫu nhiên từ các nhóm này)
Độ lớn của người cung cấp thông tin tùy thuộc vào phạm vi nghiên cứu và điều kiện khác như nhân lực, kinh phí, thời gian, v.v… Tuy nhiên, độ lớn mẫu có thể được quyết định căn cứ vào “đường cong loài” được biểu diễn bằng đồ thị trục tung là số tên cây thuốc được người cung cấp tin nhắc đến và trục hoành là số người cung cấp tin
đã điều tra Khi tăng số lượng người cung cấp tin mà số loài tăng không đáng kể - đường cong có xu hướng giảm dần, thì có thể kết thúc phỏng vấn
- Phỏng vấn
Phương pháp phỏng vấn nhằm cung cấp các thông tin cơ bản liên quan đến các nội dung nghiên cứu của đề tài Các thông tin này sẽ đặc biệt có ý nghĩa nếu quá trình
Trang 36điều tra thực địa không ghi nhận được Ngoài ra, phỏng vấn là phương pháp hiệu quả
để tìm hiểu các tri thức bản địa trong việc sử dụng cây thuốc của người dân địa phương
Phỏng vấn tập trung vào 3 nhóm đối tượng sau:
+ Người dân địa phương 50 người (5 xã): Những người được lựa chọn phỏng vấn là những người thường xuyên đi rừng hoặc những người có kinh nghiệm sử dụng cây thuốc Đây là những người có thể cung cấp những thông tin đáng tin cậy như thành phần loài cây thuốc, phân bố, các kiến thức bản địa trong thu hái và sử dụng… + Cán bộ quản lý VQG và Cán bộ chính quyền các xã xung quanh VQG, KBT (20 người): Đây là đối tượng có thể giúp đánh giá một cách tổng quát hiện trạng và những tác động đến loài cây bản địa tại khu vực Trên cơ sở đó để đề xuất các giải pháp bảo tồn
Sử dụng một câu hỏi duy nhất cho tất cả người cung cấp tin, ví dụ: “Xin Bác (Anh/ Chị/ Ông/ Bà) kể tên tất cả các cây có thể làm thuốc mà Bác (Anh/ Chị/ Ông/ Bà) biết” Tên cây thuốc ở được thể hiện bằng tiếng địa phương nhằm tránh sự nhầm lẫn tên loài giữa các ngôn ngữ, văn hóa khác nhau
(2) Xác định cây thuốc
Sau khi xử lí số liệu và loại bỏ tên đồng nghĩa, điều tra viên sẽ có một danh mục tên các cây được cộng đồng sử dụng làm thuốc Tuy nhiên đây chỉ là danh lục bằng tiếng địa phương, chưa rõ tên nào thuộc loài nào Do đó cần phải thu mẫu mẫu tiêu bản của tất cả các loài đã được nêu ra trong danh mục, xử lí và định danh Cần lưu ý là một tên địa phương có thể chỉ nhiều loài khác nhau, thường là các loài trong cùng một chi, có đặc điểm hình thái giống nhau hay các loài có cùng công dụng
2.3.3 Điều tra theo tuyến với người cung cấp thông tin quan trọng
Điều tra tình hình sử dụng cây thuốc và một số bài thuốc theo phương pháp nghiên cứu thực vật dân tộc học của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007)
Phương pháp này thường được áp dụng để xác định thành phần loài cây dược liệu tại khu vực nghiên cứu; Đặc điểm phân bố các loài cây dược liệu tại khu vực nghiên cứu;
Trong điều tra tài nguyên cây thuốc hiện nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới Người cung cấp tin thường là những người am hiểu về cây thuốc trong khu vực (thầy
Trang 37lang, người thu hái cây thuốc, v.v…) Mục tiêu điều tra là xác định thành phần loài, cách sử dụng cây thuốc trong khu vực Các bước thực hiện bao gồm:
- Xác định tuyến điều tra
Tuyến điều tra được xác định dựa trên thực trạng thực vật, địa hình và phân bố cây thuốc trong khu vực Để bảo đảm tính khách quan trong quá trình điều tra, tuyến điều tra nên đi qua các địa hình và thảm thực vật khác nhau Trong điều tra tại cộng đồng, người ta lấy trung tâm cộng đồng làm tâm và đi theo bốn hướng khác nhau Số lượng tuyến phụ thuộc vào thời gian và nhân lực Đề tài xây dựng 04 tuyến điều tra tại khu vực nghiên cứu Tuyến Đông Bắc xã Quang Thanh; Tuyến Đông Nam xã Hưng Đạo; Tuyến Tây Bắc xã Phan Thanh và Thị trấn Tĩnh Túc; Tuyến Tây Nam xã Thành Công
2 Người cung cấp tin thường là những người am hiểu về cây thuốc trong khu vực (thầy lang, ông lang, bà mế, người thường thu hái cây thuốc, v.v…) Mục tiêu điều tra là xác định thành phần loài, cách sử dụng cây thuốc trong khu vực Người cung cấp tin và điều tra viên là em cùng đi theo tuyến và phỏng vấn đối với bất kì cây nào gặp trên đường đi hay khi có sự thay đổi về thảm thực vật và phỏng vấn đối với tất cả các loài cây cỏ xuất hiện trong khu vực đó (4 người 4 tuyến)
Thông tin cần phỏng vấn: tên cây (tên địa phương), bộ phận dùng, cách
sử dụng, v.v… Các thông tin khác có thể được thu thập phụ thuộc vào thời gian
có trong quá trình điều tra Để tiết kiệm thời gian có thể in sẵn một sổ thu mẫu
có các nội dung điều tra đã định trước và đánh dấu tại các nội dung phù hợp trong quá trình điều tra Bất kì cây nào được người cung cấp tin xác định là cây thuốc đều được thu thập để xác định tên khoa học
- Thu thập thông tin tại thực địa
Người cung cấp tin và điều tra viên cùng đi theo tuyến và phỏng vấn đối với bất
kì cây nào gặp trên đường đi hay khi có sự thay đổi về thảm thực vật và phỏng vấn đối với tất cả các loài cây cỏ xuất hiện trong khu vực đó (4 người) Thông tin cần phỏng vấn: tên cây (tên địa phương), bộ phận dùng, cách sử dụng, v.v… Các thông tin khác
có thể được thu thập phụ thuộc vào thời gian có trong quá trình điều tra Để tiết kiệm thời gian có thể in sẵn một sổ thu mẫu có các nội dung điều tra đã định trước và đánh dấu tại các nội dung phù hợp trong quá trình điều tra Bất kì cây nào được người cung cấp tin xác định là cây thuốc đều được thu thập để xác định tên khoa học
Trang 38- Xử lí thông tin
Thông tin thu thập được theo phương pháp này thường có tính chất định tính, bao gồm: danh mục loài (tên địa phương, tên khoa học, bộ phận dùng, công dụng, v.v ), ước lượng tần số xuất hiện trong tuyến điều tra
- Thu mẫu tiêu bản
Mỗi loài cây thuốc cần thu từ ba đến năm mẫu và được gắn nhãn ghi rõ các thông tin về kí hiệu mẫu, thời gian, địa điểm thu mẫu và người thu mẫu Trong một vài trường hợp cần thiết cho việc định danh chính xác loài thì cần thu cây con hay thân ngầm dạng củ để làm mẫu tiêu bản sống Trong quá trình thu mẫu, chụp hình các bộ phận của cây, sinh cảnh, bộ phận làm dược liệu Sử dụng máy định vị GPS đánh dấu tọa độ điểm thu mẫu để ghi nhận nơi phân bố của cây thuốc trong vùng
có thể dao động tuỳ thuộc mức độ điều tra, có thể chỉ là những người cung cấp tin quan trọng, hay là các đối tượng xã hội khác nhau, như giới (phụ nữ, đàn ông), lứa tuổi (già, trung niên, trẻ, v.v…), giàu nghèo, v.v…
- Định danh thực vật
Mỗi loài thực vật được người cung cấp tin đề cập được định danh ngay tại thực địa nếu có mang cơ quan sinh sản (hoa, trái) Sau khi về phòng thí nghiệm, tên khoa học của loài sẽ được kiểm tra bằng cách đối chiếu, so sánh với các tài liệu mô tả thực vật, từ điển cây thuốc dựa trên các đặc điểm hình thái cơ quan sinh sản (hoa, quả, hạt),
cơ quan sinh dưỡng (thân, lá, …) và môi trường sống kết hợp với tên địa phương cũng như so mẫu chuẩn ở phòng tiêu bản (nếu có)
Sử dụng khóa phân loại, tra cứu sách “ Cây cỏ VN” của Phạm Hoàng Hộ, Thực vật chí Việt Nam, Thực vật chí Đông Dương, Từ điển cây thuốc của Võ Văn Chi để định danh cây thuốc Định danh làm theo các bước sau: Định danh tại thực địa, sau đó các chuyên gia về thực vật khác giám định lại Các ông lang, bà mế các dược sỹ đông
Trang 39y
2.3.4 Điều tra theo Ô tiêu chuẩn (OTC):
Phương pháp ô tiêu chuẩn và tuyến điều tra được sử dụng trong đề tài theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) và Hoàng Chung (2008) Số OTC lập là 4 ô
- Áp dụng phương pháp lập OTC điển hình thường được sử dụng trong điều tra thực vật rừng nói chung và cây dược liệu nói riêng
Tại mỗi trạng thái rừng khác nhau, dùng máy GPS Motola 650 khoanh ít nhất 01 OTC có diện tích 1000m2(40mx25m) Tổng cộng tác giả lập 04 OTC Trong mỗi OTC tiến hành lập 05 ô dạng bản cấp 1, mối ô có diện tích 25m2(5mx5m), gồm 4 ô ở 4 góc và
01 ô ở chính giữa của OTC Tổng cộng tác giả lập 20 ô dạng bản
- Tại mỗi ô dạng bản tiến hành điều tra thành phần loài cây dược liệu Kết quả điều tra ghi vào mẫu biểu 01:
Mẫu biểu 01 Kết quả điều tra thành phần loài cây dược liệu trong ODB
1
2
2.3.5 Phương pháp thu mẫu thực vật
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi áp dụng các phương pháp thu mẫu thực vật sau:
- Đối với tuyến điều tra, tiến hành ghi chép các thông tin về từng loài cây bắt gặp trên tuyến như: tên Việt Nam (hoặc tên Latinh), dạng sống Những loài cây chưa xác định được tên thì thu thập mẫu về phân loại sau
- Đối với ô tiêu chuẩn, tiến hành thu thập mẫu trong các ô nhỏ (ô dạng bản), cách thu mẫu cũng giống như ở tuyến điều tra
2.3.6 Phương pháp phân tích mẫu vật
- Xác định tên các loài cây (tên khoa học và tên Việt Nam) theo các tài liệu: Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ (1999) , Cây gỗ rừng Việt Nam, Danh lục
Trang 40các loài thực vật Việt Nam của Nguyễn Tiến Bân (2003, 2005), Thực vật chí Việt Nam để chỉnh lý và lập danh lục các loài thực vật nói chung tại vùng nghiên cứu
- Xác định các loài thực vật làm thuốc theo các tài liệu: Cây thuốc Việt Nam (Lê Trần Đức, 1995), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, 2004), Từ điển cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi, 2012), Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam (Viện dược liệu, 2004) , Danh lục các loài thực vật Việt Nam (Nguyễn Tiến Bân)
- Xác định hệ thống các yếu tố địa lý thực vật của các loài cây thuốc tại khu vực nghiên cứu theo “Các phương pháp nghiên cứu thực vật” của Nguyễn Nghĩa Thìn 2007
- Xử lí số liệu Dữ liệu điều tra được xử lí bằng tay hay bằng các phần mềm tin học, bao gồm: (i) liệt kê tất cả các tên cây thuốc được người cung cấp tin nhắc đến, (ii) đếm số lần tên cây thuốc n được nhắc đến (tần số được nhắc đến), và (iii) xếp danh mục các tên (phần tử) theo thứ tự tăng hay giảm dần hay theo nhóm các loài được dùng làm thuốc tiêu biểu,v.v…
Bản đồ hành chính huyện Nguyên Bình Khu vực 05 xã thuộc Vườn quốc gia Phía Oắc - Phia Đén