1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của bưởi đỏ tân lạc tại huyện chương mỹ, thành phố hà nội

81 99 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM --- NGUYỄN VĂN HỮU NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA BƯỞI ĐỎ TÂN LẠC TẠI HUYỆ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

NGUYỄN VĂN HỮU

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA BƯỞI ĐỎ TÂN LẠC TẠI HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

THÁI NGUYÊN -2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN VĂN HỮU

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA BƯỞI ĐỎ TÂN LẠC TẠI HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Ngành: Khoa học cây trồng

Mã số ngành: 8.62.01.10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Nguyễn Minh Tuấn

2 TS Hà Duy Trường

Thái Nguyên - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn

là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Hữu

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới:

- TS Nguyễn Minh Tuấn và TS Hà Duy Trường đã tận tình hướng dẫn,

chỉ bảo cặn kẽ cho tác giả trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này

- Ban giám hiệu Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã cho tôi cơ hội tham gia khoá đào tạo thạc sỹ khoá K25C Khoa học cây trồng

- Tập thể các thầy giáo, cô giáo khoa Nông học, phòng quản lý đào tạo sau Đại học, đã trực tiếp đóng góp nhiều ý kiến quý báu về chuyên môn cho tác giả hoàn thành luận văn

- Cám ơn bạn bè và người thân đã động giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, Ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Hữu

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 2

3 Yêu cầu của đề tài 2

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

4.1 Ý nghĩa khoa học 2

4.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 3

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

1.2 Nguồn gốc và phân bố của cây bưởi 6

1.3 Tình hình sản xuất bưởi trên thế giới và trong nước 7

1.3.1 Tổng quan tình hình sản xuất bưởi trên thế giới 7

1.3.2 Tình hình sản xuất bưởi ở Việt Nam 10

1.4 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây bưởi 12

1.4.1 Đặc điểm sinh trưởng thân, cành 12

1.4.2 Đặc tính sinh lý ra hoa đậu quả 13

1.5 Những nghiên cứu về kỹ thuật thâm canh và kỹ thuật bao quả trên cây có múi 17

1.5.1 Những nghiên cứu về dinh dưỡng khoáng trên cây có múi trên thế giới 17

1.5.2 Những nghiên cứu về dinh dưỡng khoáng trên cây có múi ở Việt Nam 20

1.5.3 Những nghiên cứu về phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng trên cây có múi ở Việt Nam 23

1.5.4 Những nghiên cứu về biện pháp bao quả 26

1.5.5 Một số kết luận rút ra từ tổng quan tài liệu 29

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

2.1 Đối tượng và vật liệu, địa điểm nghiên cứu 31

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 31

2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 31

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu 32

2.1.4 Thời gian nghiên cứu 32

2.2 Nội dung và phương pháp nghiêncứu 32

2.2.1 Nội dung nghiên cứu 32

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 33

Trang 6

2.3 Phương pháp xử lý số liệu 37

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38

3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng bưởi Đỏ Tân Lạc tại huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội 38

3.1.1 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến thời gian ra lộc và các đợt lộc của bưởi Đỏ Tân Lạc 38

3.1.2 Ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng lộc của bưởi Đỏ Tân Lạc 41

3.1.3 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến thời gian ra hoa và tỷ lệ đậu quả của bưởi Đỏ Tân Lạc 43

3.1.4 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của bưởi Đỏ Tân Lạc 45

3.1.5 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến đặc điểm quả của bưởi Đỏ Tân Lạc 47

3.1.6 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến chất lượng quả bưởi Đỏ Tân Lạc 49

3.1.7 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến hiệu quả kinh tế của bưởi Đỏ Tân Lạc 50

3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng bưởi Đỏ Tân Lạc tại huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội 51

3.2.1 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến thời gian ra lộc và số lộc/cành của các đợt lộc của bưởi Đỏ Tân Lạc 51

3.2.2 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến động thái tăng trưởng lộc của bưởi Đỏ Tân Lạc 54

3.2.3 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến thời gian ra hoa và tỷ lệ đậu quả của bưởi Đỏ Tân Lạc 55

3.2.4 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của bưởi Đỏ Tân Lạc 58

3.2.5 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến đặc điểm quả của bưởi Đỏ Tân Lạc 59

3.2.6 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến chất lượng quả bưởi Đỏ Tân Lạc 61

3.2.7 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến hiệu quả kinh tế của bưởi Đỏ Tân Lạc 62

3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của túi bao quả đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng bưởi Đỏ Tân Lạc tại huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội 63

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 66

1 Kết luận 66

2 Đề nghị 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng bưởi trên thế giới 7

Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng bưởi ở một số nước trồng bưởi chủ yếu trên thế giới năm 2017 8

Bảng 1.3 Cơ cấu giống bưởi trong sản xuất tại Miền Bắc 11

Bảng 1.4 Thang dinh dưỡng lá của cây bưởi 20

Bảng 1.5 Lượng phân bón cho cây bưởi Diễn giai đoạn kiến thiết cơ bản 21

Bảng 1.6 Lượng phân bón cho cây bưởi Diễn giai đoạn kinh doanh 22

Bảng 3.1: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến thời gian sinh trưởng và các đợt lộc xuân của bưởi Đỏ Tân Lạc 38

Bảng 3.2: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến thời gian sinh trưởng và các đợt lộc hè của bưởi Đỏ Tân Lạc 39

Bảng 3.3: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến thời gian sinh trưởng và các đợt lộc thu của bưởi Đỏ Tân Lạc 40

Bảng 3.4:Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến động thái tăng trưởng lộc của bưởi Đỏ Tân Lạc 42

Bảng 3.5: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến thời gian ra hoa 43

Bảng 3.6: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến tỷ lệ đậu quả 44

Bảng 3.7: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của bưởi Đỏ Tân Lạc 45

Bảng 3.8: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến đặc điểm quả của bưởi Đỏ Tân Lạc 47

Bảng 3.9: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến chất lượng quả bưởi Đỏ Tân Lạc 49

Bảng 3.10: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến hiệu quả kinh tế 50

của bưởi Đỏ Tân Lạc 50

Bảng 3.11:Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến thời gian sinh trưởng và các đợt lộc xuân của bưởi Đỏ ân Lạc 51

Trang 8

Bảng 3.12: Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến thời gian sinh trưởng và các đợt lộc hè của bưởi Đỏ Tân Lạc 52 Bảng 3.13: Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến thời gian sinh trưởng và các đợt lộc thu của bưởi Đỏ Tân Lạc 53 Bảng 3.14: Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến động thái tăng trưởng lộc của bưởi Đỏ Tân Lạc 54 Bảng 3.15: Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến thời gian ra hoa 56 Bảng 3.16: Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến tỷ lệ đậu quả 57 Bảng 3.17: Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của bưởi Đỏ Tân Lạc 58 Bảng 3.18: Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến đặc điểm quả của bưởi

Đỏ Tân Lạc 60 Bảng 3.19:Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến chất lượng quả của bưởi

Đỏ Tân Lạc 62 Bảng 3.20: Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến hiệu quả kinh tế của bưởi

Đỏ Tân Lạc 63 Bảng 3.21: Ảnh hưởng của thời điểm bao quả đến tình hìnhsâu bệnh hại quả 64 Bảng 3.22: Ảnh hưởng của thời điểm bao quả đến một số chỉ tiêu quả 65

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Biều đồ 3.1: Ả nh hưởng của các công thức thí nghiệm phun phân bón lá đến năng suất của cây Bưởi Đỏ Tân Lạc 46 Biều đồ 3.2: Ảnh hưởng của các công thức phun phân bón lá đến chiều cao quả bưởi đỏ Tân Lạc 47 Biều đồ 3.3: Ảnh hưởng của các công thức phun phân bón lá đến đường kính quả bưởi đỏ Tân Lạc 48 Biều đồ 3.4: Ảnh hưởng của các công thức phun chất điều hòa sinh trưởng đến năng suất của cây bưởi Đỏ 59 Biều đồ 4.5: Ảnh hưởng của các công thức thí nghiệm phun chất điều hòa sinh trưởng đến chiều cao quả bưởi đỏ Tân Lạc 60 Biều đồ 4.6: Ảnh hưởng của các công thức thí nghiệm phun chất điều hòa sinh trưởng đến đường kính quả bưởi đỏ Tân Lạc 61

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây Bưởi (Citrus grandis L Osbeck) là cây ăn quả được trồng ở nhiều

vùng trên cả nước và tạo nên loại quả đặc sản cho từng vùng sinh thái riêng như bưởi Diễn, bưởi đỏ Tân Lạc, bưởi Năm Roi, bưởi Đoan Hùng, bưởi Thanh Trà, bưởi Phúc Trạch, Mỗi loại có hương vị đặc trưng của mỗi vùng miền của đất nước Cây bưởi đang trở thành cây ăn quả có ưu thế trong sản xuất nông nghiệp, xuất khẩu bưởi là thế mạnh trong sản xuất quả của mỗi vùng kinh tế

Bưởi Đỏ Tân Lạc là giống bưởi đặc sản của huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình Cây giống bưởi Đỏ Tân Lạc sinh trưởng phát triển khỏe mạnh, ít bị sâu bệnh hại Giống có quả hình tròn, vỏ màu vàng, khi chín chuyển màu vàng, phớt hồng; Phần cùi khi chín có màu hồng đỏ, khối lượng trung bình từ 800 - 1000g

Tỷ lệ phần ăn được từ 55 - 60%, múi và vách múi dễ tách rời nhau Thịt quả màu

đỏ hồng, mọng nước, ăn giòn, ngọt không he đắng Mật độ trồng 400-500 cây/ha, sau thời gian kiến thiết cơ bản từ 3 - 4 năm cây bắt đầu bói quả, từ năm thứ 7 cây

sẽ cho quả ổn định, năng suất bình quân 250 - 300 quả/cây Trong những năm gần đây, để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng, diện tích được chuyển đổi trồng bưởi Đỏ Tân Lạc không ngừng gia tăng, đặc biệt đã được đưa

về trồng tại một số huyện trồng bưởi của thành phố Hà Nội như huyện Ba Vì, Thạch Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ

Tuy nhiên do tính đặc thù của từng vùng trồng bưởi của thành phố Hà Nội cùng với kỹ thuật và kinh nghiệm trồng, chăm sóc không hợp lý, sự phát sinh phát triển của sâu bệnh hại, sự thay đổi về môi trường nên bưởi đỏ Tân Lạc trồng

ở các vùng của Hà Nội nói chung và vùng bưởi trồng trên đất đồi gò hiện nay có năng suất, chất lượng không đồng đều, có chiều hướng giảm, đặc biệt vấn đề chất lượng quả Vì vậy, tuy diện tích sản xuất trên vùng đất đồi gò có tăng nhưng năng suất, chất lượng và giá trị hiệu quả kinh tế lại không tăng và không ổn định, đây chính là vấn đề khó khăn lớn không chỉ với người trồng bưởi đỏ Tân Lạc mà với cả các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương và các nhà

khoa học Từ thực tế nêu trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh

hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của bưởi đỏ Tân Lạc tại huyện Chương Mỹ Thành phố Hà Nội”

Trang 11

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

Xác định được một số biện pháp kỹ thuật phù hợp để nâng cao sinh trưởng

và năng suất, chất lượng bưởi Đỏ Tân Lạc trồng trên đất đồi gò tại huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội

3 Yêu cầu của đề tài

- Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng bưởi Đỏ Tân Lạc tại huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội

- Nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng bưởi Đỏ Tân Lạc tại huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội

- Nghiên cứu ảnh hưởng của túi bao quả đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng bưởi Đỏ Tân Lạc tại huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

4.1 Ý nghĩa khoa học

Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là một tài liệu khoa học về làm cơ

sở cho việc xây dựng biện pháp kỹ thuật thâm canh giống bưởi đỏ Tân Lạc tại huyện Chương Mỹ nói riêng và thành phố Hà Nội nói chung

Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về ảnh hưởng phân bón lá, phân bón tổng hợp và biện pháp bao quả bưởi đến sinh trưởng phát triển, năng suất, chất lượng bưởi đỏ Tân Lạc tại huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Đề xuất biện pháp kỹ thuật, bón phân, sử dụng túi bao quả nhằm nâng cao sinh trưởng và năng suất, chất lượng của giống bưởi đỏ Tân Lạc trong thời gian tới, góp phần giải quyết vấn đề bức xúc của thực tiễn sản xuất giống bưởi đỏ Tân Lạc tại huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội

- Kết luận của đề tài là cơ sở khoa học cho định hướng sử dụng phân bón lá, phân bón tổng hợp và biện pháp bao quả bưởinhằm phát triển sản xuất bưởi đỏ Tân Lạc tại huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nộivà các vùng có điều kiện sinh thái tương đồng

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Bưởi (Citrus grandis L Osbeck) là một trong những loài cây ăn quả có múi

được trồng khá phổ biến ở nước ta như Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Lạng Sơn… là vùng có tiềm năng phát triển cây có múi, đặc biệt có ưu thế về điều kiện khí hậu, khả năng mở rộng diện tích và có tập đoàn giống phong phú, đa dạng Khí hậu ở vùng này ngoài thích hợp với sinh trưởng phát triển bình thường của cây có múi, còn có ưu thế nổi bật so với một số vùng khác trong nước là có mùa đông lạnh, biên độ nhiệt độ ngày đêm và giữa các tháng chênh lệch lớn làm cho quả đẹp, chất lượng tốt, thể hiện đặc trưng của giống

Trải qua lịch sử phát triển lâu dài, cây trồng nói chung và bưởi nói riêng chịu sự tác động của quá trình chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo mà ngày càng trở nên phong phú hơn và có nhiều ưu việt hơn

Bưởi là cây ăn quả lâu năm, quá trình sinh trưởng, ra hoa kết quả chịu ảnh hưởng của nhiều các yếu tố nội tại (di truyền) và các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, ánh sáng, đất đai và chế độ chăm sóc; hay sự biểu hiện của kiểu hình là kết quả của sự tương tác giữa kiểu gen và môi trường

Các giống bưởi được trồng ngày càng nhiều tại các huyện ngoại thành của

Hà Nội Năm 2014 tổng diện tích trồng bưởi (chủ yếu là bưởi Diễn) là hơn 2705

ha và trong đó diện tích cho thu hoạch là hown 2498 ha; năm 2015 diện tích trồng bưởi tăng lên 3112 ha và diện tích cho thu hoạch là 2523 ha, đến năm 2016 tổng diện tích trồng bưởi là lên đến 3806 ha và diện tích cho thu hoạch là 2856

ha Diện tích trồng mới vẫn tiếp tục tăng trong những năm gần đây (Tổng cục thống kê Hà Nội, 2016)

Để có thể phát triển cây bưởi theo hướng sản xuất hàng hoá đòi hỏi sản phẩm không chỉ có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp mà còn phải đa dạng và có mặt thường xuyên trên thị trường Với yêu cầu trên, Trung tâm Nghiên cứu và

Trang 13

Phát triển Cây có múi, Viện Nghiên cứu Rau qủa đã liên tục điều tra, tuyển chọn các giống bưởi theo hướng phục vụ sản xuất hàng hoá với bộ giống rải

vụ thu hoạch đã được tiến hành ở khắp các địa phương trong cả nước, thu thập được tập đoàn các dòng, giống ưu tú khá phong phú và đa dạng trong đó có giống bưởi đỏ Tân Lạc

Cây Bưởi được trồng nhiều ở các vùng sinh thái khác nhau, xong trên thực

tế hiện nay diện tích trồng cây Bưởi manh mún nhỏ lẻ, chủ yếu được trồng theo hướng tự phát, cây giống, độ tuổi, chất lượng giống chưa được đảm bảo nên sản phẩm quả không đồng đều về hình dạng, màu sắc và kích thước Người nông dân chưa áp dụng đúng kỹ thuật về kỹ thuật trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, thu hoạch, sơ chế, bảo quản vì vậy chất lượng quả chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường (Boun Keua Vongsalath, 2005)

Do mỗi vùng trồng có tính chất đất, khí hậu, kỹ thuật canh tác, nhân giống khác nhau có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng vì vậy có ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và thương hiệu quả bưởi Đỏ Vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để cây bưởi Đỏ có năng suất, chất lượng cao và vẫn giữ được thương hiệu loại quả đặc sản Hà Nội do đó vấn đề nghiên cứu hiện trạng và ảnh hưởng của điều kiện trồng trọt cũng như những biện pháp kỹ thuật tác động đến cây là vấn đề được các nhà nông, khoa hoc quan tâm

Trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây Bưởi các yếu tố khí hậu thời tiết trong vườn có ảnh hưởng lớn đến nhịp điệu ra lộc, cành, ra hoa, đậu quả dến khả năng thoát nước, hô hấp không chỉ ở bộ phận trên mặt đất mà còn

cả bộ rễ của cây Những nghiên cứu về tác động của môi trường sống đến cây đã được nghiên cứu một phần song chưa đầy đủ

Sự tham gia của các chất điều hòa sinh trưởng, tùy vào loại đất mà chúng

có thể tham gia vào các hoạt động như: quá trình ra lá, ra hoa, đậu quả, phát chồi, tăng trưởng chiều cao, Nền nông nghiệp hiện đại công nghệ cao đã và đang trở thành xu hướng tích cực sử dụng các chất điều hoà sinh trưởng như một giải pháp nhằm điều tiết quá trình sinh trưởng, phát triển, năng suất và cả chất lượng quả

Trang 14

của cây (Hoàng Minh Tuấn và Nguyễn Quang Thạch, 1993) ; Hoàng Minh Tấn

và cộng sự, 2000)

Trong quá trình sinh trưởng, phát triển và tạo năng suất thì các chất dinh dưỡng có vai trò quan trọng với cây trồng, các chất này có sẵn trong đất và được người trồng cung cấp cho cây qua đất, người trồng cũng có thể cung cấp chất dinh dưỡng trực tiếp cho cây bằng việc phun qua lá Biện pháp này có tác dụng

bổ sung nhanh một vài yếu tố cho cây nhằm hạn chế kịp thời tác động xấu do thiếu chúng gây ra (Lê Văn Tri và cộng sự, 1990)

Chương Mỹ là huyện phía Tây Nam của thủ đô Hà Nội Huyện có 30 xã

và 02 thị trấn, gần 69.500 hộ dân, với trên 33 vạn người, trong đó số hộ nông nghiệp chiếm 32,5% Diện tích đất nông nghiệp trên 14.000ha, trong đó diện tích đất trồng lúa là 9.050ha, diện tích trồng cây hàng năm khác là gần 1.298ha, diện tích cây ăn quả 1.244ha, diện tích nuôi trồng thủy sản trên 1.800ha Tổng giá trị sản xuất của huyện năm 2017 đạt 21.140 tỷ đồng, trong đó giá trị ngành nông nghiệp đạt 4.128 tỷ đồng(Tổng cục thống kê Hà Nội, 2016)

Theo tác giả Nguyễn Thế Đặng và Nguyễn Thị Mão (2010), lượng chất dinh dưỡng cây hút thể hiện yêu cầu chất dinh dưỡng của cây Cây yêu cầu chất dinh dưỡng theo một tỷ lệ cân đối nhất định Lượng dinh dưỡng cây hút thay đổi theo loại cây trồng, năng suất thu hoạch, yêu cầu của người trồng trọt Trong cùng một loại cây trồng thì lượng chất dinh dưỡng do cây hút phụ thuộc vào điều kiện sinh thái (đất đai, thời tiết khí hậu: nhiệt độ và lượng mưa)

Phân bón lá có tác dụng làm tăng năng suất, tăng cường khả năng kháng sâu bệnh cho cây, tính chống hạn và cải thiện năng suất, chất lượng sản phẩm Phân bón lá còn giúp cho cây nhanh chóng phục hồi sau trồng, hoặc sau khi trải qua cá hiện tượng thời tiết bất thuận như nóng nắng, lạnh, khô hạn, úng ngập đã hạn chế được sâu bệnh hại, giảm sử dụng thuốc BVTV do đó làm nâng cao chất lượng, mẫu mã quả

Phân bón lá, đặc biệt là những loại phân có chứa các nguyên tố vi lượng

và chất điều hòa sinh trưởng như GA3 có tác dụng làm tăng khả năng ra hoa, đậu quả, mã quả, phẩm chất và giảm số lượng hạt nếu phun vào những thời kỳ

Trang 15

thích hợp Tuy nhiên, kết quả thu được phụ thuộc vào từng giống cụ thể, cần thử nghiệm trên giống bưởi Đỏ để có những kết luận về sự ảnh hưởng của chúng tới năng suất, phẩm chất quả Ngoài ra, túi bao quả cũng làm tăng mẫu

mã quả, chống sâu bệnh hại

1.2 Nguồn gốc và phân bố của cây bưởi

Hiện nay, cây có múi là một trong những loại cây ăn quả chủ yếu và được trồng ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt tại các nước Đông Nam Á, cây có múi được cho là cây trồng chủ lực (Mung, 2008)

Đông Nam Á là một trung tâm quan trọng hàng đầu về sự đa dạng cây ăn quả Trong số hơn 12.000 loài ở vùng này thì có nhiều loài cho quả ăn được (Wikipedia, 2014)

Về phân loại thực vật: Cây bưởi có tên khoa học là: Citrus grandis (L).Osbeck hoặc Citrus maxima Merr thuộc họ cam: Rustaceae.Họ phụ: Aurantioideae.Chi: Citrus

Theo sơ đồ phân loại cây có múi của Swingle (1948) thì bưởi và bưởi chùm là hai loài khác nhau trong cùng một chi Citrus, tuy vậy bưởi đơn và bưởi chùm có mối quan hệ chặt chẽ Theo Webber, 1967 bưởi chùm xuất hiện ở Barbados (Tây Ấn Độ) Năm 1930, Macfadyen đã phân bưởi chùm thành một

loài mới và lấy tên là Citrus paradisi Macf (Hoàng Thị Sản, 2006), (Wikipedia,

2014a)

Bưởi (Citrus grandis): quả to nhất trong các loài cam quýt, có vị chua

hoặc ngọt, bầu có từ 13- 15 noãn, eo lá khá lớn, hạt nhiều Hiện nay giống bưởi phần lớn thuộc dạng hạt đơn phôi và được trồng chủ yếu ở các nước Nhiệt đới như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam … Việt Nam có rất nhiều giống bưởi ngon nổi tiếng như bưởi Năm Roi, bưởi Da Xanh, bưởi Thanh Trà, bưởi Phúc Trạch, Phú Diễn, bưởi Đoan Hùng …

Bưởi chùm (Citrus paradisi): được đánh giá là dạng con lai tự nhiên của bưởi (Citirus grandis) vì vậy hình thái bưởi chùm khá giống với bưởi nhưng là

nhỏ hơn, eo lá cũng nhỏ hơn, quả nhỏ, cùi mỏng, vỏ mỏng, vị chua nhẹ Bưởi chùm cho những giống ít hạt như Duncan, phần lớn các giống bưởi chùm có hạt

Trang 16

đa phôi nên cũng có thể sử dụng làm gốc ghép Quả bưởi chùm là món ăn tráng miệng được ưa chuộng ở châu Âu, người ta gọt nhẹ lớp vỏ mỏng bên ngoài rồi để cùi cắt thành các lát nhỏ dung sau bữa ăn Bưởi chùm được trồng nhiều ở Mỹ, Brazil, riêng ở bang Florida Mỹ chiếm 70% sản lượng bưởi chùm của cả thế giới (Lang, A., Chailakhyan, M K and Froliva, 1977)

1.3 Tình hình sản xuất bưởi trên thế giới và trong nước

1.3.1 Tổng quan tình hình sản xuất bưởi trên thế giới

Hàng năm trên thế giới sản xuất khoảng 4 - 5 triệu tấn bưởi cả 2 loại bưởi

chùm (Citrus paradisi) và bưởi (Citrus grandis) chiếm 5,4 - 5,6 % tổng sản

lượng cây có múi, trong đó chủ yếu là bưởi chùm (chiếm 2,8 - 3,5 triệu tấn) còn lại bưởi chiếm một lượng khá khiêm tốn khoảng 1,2 - 1,5 triệu tấn Sản xuất bưởi chùm chủ yếu tập trung ở các nước châu Mỹ, châu Âu dùng cho chế biến nước quả Bưởi chủ yếu được sản xuất ở các nước thuộc châu Á, tập trung nhiều ở một

số nước như Trung Quốc, Ấn độ, Philippines, Thái Lan, Bangladesh, được sử dụng để ăn tươi là chủ yếu (FAOTAST, 2014)

Tính đến năm 2017, diện tích trồng cây bưởi trên thế giới đạt 444,072 ha, năng suất bình quân đạt 180,5 tạ/ha và sản lượng đạt 13,795,429 tấn Trong vòng gần 5 năm từ 2007 - 2012, diện tích trồng Bưởi tăng lên rất nhiều, sản lượng tăng thêm 1,1 triệu tấn, nguyên nhân chủ yếu do năng suất được tăng lên bởi áp dụng các tiến bộ khoa học trong sản xuất bưởi, từ giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2017 diện tích trồng bưởi tăng lên năng suất đã tăng từ 256,302 tạ/ha lên 310,7tạ/ha (FAOTAST, 2019)

Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng bưởi trên thế giới

Diện tích (ha) 305,473 321,528 444,072

Năng suất (tạ/ha) 233,679 256,302 310,7

Sản lượng (tấn) 7,138,247 8,240,840 13,795,429

(Nguồn: FAOSTAT, 2019)

Trang 17

Năm 2017 diện tích bưởi ở Trung Quốc là 95,861 ha, năng suất đạt cao nhất Thế giới (493,8tạ/ha) và đạt sản lượng là 4,733,447 tấn quả Trung Quốc có một số giống bưởi nổi tiếng: Bưởi Văn Đán, Sa Điền, bưởi ngọt Quân Khê,… được Bộ Nông nghiệp Trung Quốc công nhận là hàng nông nghiệp chất lượng cao Năm 2008, riêng bưởi Sa Điền có diện tích đạt tới 30.000 ha, sản lượng 750.000 tấn Ở Phúc Kiến, bưởi Quan Khê cũng đạt tới diện tích 40.000 ha và sản lượng 20.000 tấn (FAOTAST, 2019)

Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng bưởi ở một số nước trồng bưởi

chủ yếu trên thế giới năm 2017

28 triệu đôla Mỹ Đến năm 2007, diện tích bưởi ở Thái lan khoảng 34.354 ha và sản lượng khoảng 197.716 tấn, bao gồm cả bưởi chùm Năm 2017, Thái Lan trồng 25.350 ha và đạt sản lượng 236.510 tấn

Ấn Độ: Bưởi và bưởi chùm trồng trên quy mô thương mại ở một số vùng Bưởi chùm là loại quả được dùng để ăn sáng phổ biến ở nhiều nước, Những vùng khô hạn như Punjab là nơi lý tưởng với bưởi chùm Bưởi có thể trồng được ở những vùng

có lượng mưa lớn và phát triển tốt ở vùng KonKan Năm 2005, Ấn Độ sản xuất được 142.000 tấn bưởi và bưởi chùm Năm 2017, sản lượng bưởi quả đạt 352.000tấn

Mỹ: Là quốc gia có sản lượng bưởi quả đứng thứ 2 Thế giới, trong đó chủ

Trang 18

yếu là sản phẩm bưởi chùm Ở Mỹ, việc chọn tạo giống cam quýt nói chung và giống bưởi nói riêng rất được chú trọng, vì vậy là quốc gia có bộ giống bưởi đưa vào sản xuất tốt nhất Thế giới, với nhiều giống cho quả không hạt (thể bất dục đực, bất dục cái, thể tam bội,…) Năm 2009, sản lượng bưởi quả (chủ yếu là bưởi chùm) của Mỹ đạt 1.182.970 tấn và là quốc gia xuất khẩu bưởi chùm lớn nhất Thế giới Năm 2017, Mỹ trồng 24.440 ha và đạt sản lượng 633.210 tấn

Trên Thế giới hiện nay có 3 vùng trồng cam quýt chủ yếu, riêng với cây bưởi là vùng châu Mỹ, Địa Trung Hải và châu Á Trong đó khu vực Bắc Mỹ là vùng trồng lớn nhất sau đó đến châu Á và Vùng Địa Trung Hải Theo thống kê của FAO, năm 1997 sản lượng bưởi của khu vực Bắc Mỹ là 3,497 triệu tấn chiếm 69,4% sản lượng bưởi của Thế giới, các quốc gia có sản phẩm bưởi quả ngoài khu vực Bắc Mỹ có sản lượng khoảng 1.541 triệu tấn chiếm 30,6%

Châu Á: Là cái nôi của cam quýt và cây bưởi và cũng là khu vực sản xuất bưởi lớn trên Thế giới, năm 2017 với diện tích cho thu hoạch quả là 301.827ha, năng suất 365,9tạ/ha thì sản lượng đạt được là 11.042.350 tấn Một số nước ở châu Á tuy có sản lượng bưởi cao như Trung Quốc, Nhật Bản và Đài Loan, nhưng do hạn chế về trình độ canh tác nên năng suất và chất lượng các giống bưởi ở vùng này còn thấp so với các vùng khác Công tác chọn tạo giống, kỹ thuật canh tác (trừ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan) còn rất nhiều hạn chế so với các vùng trồng bưởi khác trên Thế giới Tuy nhiên nghề trồng cam quýt ở châu Á là sự pha trộn của kỹ thuật hiện đại (Nhật Bản, Đài Loan) và sự canh tác truyền thống như: Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines Ở vùng này hiện nay tình hình sâu bệnh hại trên cây có múi xảy

ra nghiêm trọng

Ở Trung Quốc, bưởi được trồng nhiều ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Tứ Xuyên, Hồ Nam, Chiết Giang, Phúc Kiến và Đài Loan Theo một số tài liệu mới đây cho rằng: các loại cây ăn quả có múi ở Trung Quốc phát triển mạnh hơn so với các lọai cây ăn quả khác Năm 1989, diện tích bưởi ở Trung Quốc là 49.186 ha, sản lượng là 21,8 vạn tấn Tuy nhiên đến năm 2008, riêng bưởi Sa Điền cũng có diện tích tới 30.000 ha, sản lượng 750.000 tấn (Cục Nông nghiệp Quảng Tây, 2008) Ở Phúc Kiến, bưởi Quan Khê cũng đạt tới diện tích 40.000 ha

Trang 19

và sản lượng 20.000 tấn (Cục Nông nghiệp, thành phố Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến, 2009)

Tại Thái Lan bưởi được trồng nhiều ở các tỉnh miền trung, một phần miền bắc

và miền đông Năm 1987 Thái Lan trồng 1.500 ha bưởi cho sản lượng 76.275 tấn với giá trị 28 triệu đôla Mỹ (Trần Thế Tục, 1995) Đến năm 2012, diện tích bưởi ở Thái lan khoảng 99.700 ha và sản lượng khoảng 1.280.000 tấn, bao gồm cả bưởi chùm (Faostat, 2014)

Philippines là một nước sản xuất nhiều bưởi Trong tập đoàn cây có múi, bưởi chiếm tới 33% (quýt chiếm 44% và cam 11%) Năm 2012, Philippines có 20.827 ha Cam quýt, sản lượng 178.507 tấn (Faostat, 2014)

1.3.2 Tình hình sản xuất bưởi ở Việt Nam

Việt Nam có 3 vùng trồng cây ăn quả có múi nói chung và cây bưởi nói riêng chủ yếu (Trần Thế Tục, 1997)

Trong 10 năm từ 2008 đến 2017 diện tích bưởi cả nước nhìn chung liên tục tăng, từ 43,5 nghìn ha lên 74,2 nghìn ha Năm 2018, ước tính diện tích bưởi đạt 85,2 nghìn ha (tăng 11 nghìn ha so với năm 2017)

Năng suất bưởi có sự biến động qua các năm, tuy nhiên không có sự thay đổi lớn, ở mức từ 11,0 - 11,9 tấn/ha

Cùng với gia tăng diện tích và ổn định về năng suất, sản lượng bưởi tăng trưởng khá ổn định hàng năm, từ 362,8 nghìn tấn năm 2008 lên hơn 640 nghìn tấn năm 2018

Diện tích bưởi Miền Bắc hiện có 41,7 nghìn ha, sản lượng 271,5 nghìn tấn, chiếm 10,6% tổng diện tích cây ăn quả toàn miền, 48,9% diện tích và 42,2% sản lượng bưởi cả nước; năng suất ước đạt gần 11,8 tấn/ha, bằng 96,2% so năng suất bưởi bình quân cả nước, bằng 93,4% so năng suất bình quân tại các tỉnh Miền Nam

Các tỉnh sản xuất chủ yếu gồm: Phú Thọ, Bắc Giang, Hòa Bình, Tuyên Quang, Hà Nội, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Thừa Thiên - Huế

Cơ cấugiống:

Trang 20

Bảng 1.3 Cơ cấu giống bưởi trong sản xuất tại Miền Bắc

- Vùng Bắc Trung bộ có hai vùng bưởi đặc sản đó là bưởi Thanh Trà của Huế, bưởi Phúc Trạch của Hương Khê Với ưu việt của mình, diện tích bưởi Phúc Trạch ngày được mở rộng Trong năm 2006, diện tích trồng bưởi Phúc Trạch lên đến 1.600ha, trong đó có khoảng 950ha đã cho quả, sản lượng quả bình quân những năm gần đây đạt 12-15 nghìn tấn/năm

Vùng Trung du và Miền núi phía Bắc: cây có múi ở vùng này được trồng

ở những vùng đất ven sông, suối như sông Hồng, sông Lô, sông Gấm, sông Chảy Hiện chỉ còn một số vùng tương đối tập trung là Bắc Sơn, Bắc Quang (Đỗ Đình Ca, 1995), riêng cây bưởi ở vùng này có 474 ha chiếm 17,5% diện tích cây

có múi với giống bưởi Đoan Hùng ngon nổi tiếng Mặc dù diện tích quả có múi ở nước ta khá lớn, song lại chưa có số liệu thống kê cụ thể nào về diện tích trồng các loại quả có múi, trong đó có bưởi

Bưởi ở Việt Nam chủ yếu để ăn tươi và hiện tại sản xuất Bưởi ở nước ta vẫn chưa đủ cung cấp cho nhu cầu thị trường trong nước Gần đây có một số

Trang 21

công ty như Hoàng Gia, Đông Nam đã có hoạt động như đầu tư sản xuất, áp dụng các biện pháp quản lý theo hướng thực hành nông nghiệp tốt (GAP-Good Agricultural Practices) đăng ký thương hiệu một số giống Bưởi ngon như: Năm roi, Phúc Trạch, Da xanh, với mục đích xuất khẩu ra thị trường nước ngoài

Tóm lại: Cây bưởi là loại cây ăn quả quan trọng không chỉ về giá trị dinh dưỡng mà cả về hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều lần so với cây trồng khác Việc phát triển trồng bưởi ở những vùng có điều kiện phát triển cũng như bảo tồn và phát triển mở rộng hơn nữa ở các vùng bưởi truyền thống là định hướng chiến lược của nhiều địa phương trong cả nước trong đó có vùng trồng bưởi Hà Nội

1.4 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây bưởi

1.4.1 Đặc điểm sinh trưởng thân, cành

Sinh trưởng cành của cây có múi nói chung và bưởi nói riêng phụ thuộc vào tuổi cây, điều kiện môi trường và kỹ thuật chăm sóc Nhìn chung những cây trẻ chưa cho quả sinh trưởng của cành (phát sinh lộc) thường xảy ra quanh năm, nghĩa là một năm thường có nhiều đợt cành xuất hiện Khi cây trưởng thành đã cho quả thì thường chỉ có 4 đợt lộc trong năm, đó là lộc xuân, lộc hè, lộc thu và lộc đông Ở những vùng khô hạn, hoặc rét sớm thì chỉ có 3 đợt lộc xuân, hè và thu, không có lộc đông (Lý Gia Cầu, 1993)

- Lộc xuân: xuất hiện từ tháng 2 đến tháng 4 hàng năm Số lượng cành xuân thường nhiều, chiều dài cành tương đối ngắn Thường cành xuân là cành ra hoa và cho quả nên gọi là cành quả (Ngô Hồng Bình, 2004)

- Lộc hè: xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 7 hàng năm, thường xuất hiên không tập trung, sinh trưởng không đều, cành thường to, dài, đốt thưa Cành hè là cành sinh dưỡng có nhiệm vụ cung cấp dinh dưỡng cho cành quả và là cành mẹ của cành thu Tuy nhiên nếu cành mùa hè nhiều sẽ dẫn tới sự cạnh tranh dinh dưỡng đối với quả và có thể gây rụng quả nghiêm trọng, do vậy cần phải cắt tỉa

để lại một số lượng cành thích hợp (Ngô Hồng Bình, 2004)

- Lộc thu: xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 10 hàng năm, mọc đều và nhiều hơn cành mùa hạ Cành thu thường mọc từ cành mùa xuân không mang quả và phần lớn từ cành mùa hè, có vai trò quan trọng trong việc mở rộng tán, tăng

Trang 22

cường khả năng quang hợp của cây và là cành mẹ của cành xuân, do vậy số lượng và chất lượng của cành thu có ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng và chất lượng cành xuân, cành mang quả của năm sau (Ngô Hồng Bình, 2004)

- Lộc đông: xuất hiện vào tháng 11 và tháng 12 hàng năm, đợt cành này ít, cành ngắn, lá vàng xanh Nếu xuất hiện nhiều sẽ làm tiêu hao dinh dưỡng, ảnh hưởng đến sự phân hoá mầm hoa của cành quả (Ngô Hồng Bình, 2004)

1.4.2 Đặc tính sinh lý ra hoa đậu quả

Hoa bưởi là hoa chùm hoặc tự bông Nụ, hoa bưởi to hơn so với cam quýt Tràng hoa có từ 3 - 5 cánh tách biệt, cánh hoa có từ 3 - 6 cánh, dầy có mầu trắng Nhị đực có từ 22 - 47 cái, nhụy cái có một do các bộ phận đầu nhụy, vòi nhụy và bầu nhụy cấu tạo thành Đầu nhụy thường to, cao hơn bao phấn Với cấu tạo này bưởi được coi là cây thụ phấn, khai hoa dễ dàng Hoa bưởi từ khi nở đến khi tàn khoảng hơn một tháng, khả năng ra hoa của bưởi rất cao, tuy nhiên tỷ lệ đậu quả lại thấp (1-2%) Thời điểm ra hoa của mỗi giống là khác nhau và phụ thuộc vào thời tiết của từng năm (Lý Gia Cầu, 1993) Quá trình ra hoa của bưởi trải qua các giai đoạn:

1.4.2.1 Cảm ứng và phân hoá hoa

Ở một số cây trồng, một quang chu kỳ tới hạn hoặc xử lý xuân hoá hoặc là

cả hai điều kiện trên sẽ tạo ra một chất kích thích ra hoa giả định nào đó Chất này gây ra sự biến đổi một chiều trong tế bào của mô phân sinh đỉnh từ việc quyết định cho quá trình hình thành và phát triển về cấu trúc của lá cũng như quy định cấu trúc của hoa Cảm ứng ra hoa của phần lớn thực vật liên quan đến sự cảm nhận của một số cơ quan đối với những tín hiệu từ môi trường: độ dài ngày, khủng hoảng nước, nhiệt độ xuân hoá Những điều kiện này giúp cây sản sinh ra một chất kích thích ra hoa giả định nào đó hoặc làm tăng tỷ lệ chất kích thích ra hoa/chất kìm hãm ra hoa Những sản phẩm có tính kích thích ra hoa này sau khi được tạo ra sẽ chuyển đến tế bào đích trong các đốt của mô phân sinh đỉnh (Bernier, 1993) Tuy nhiên một hợp chất chính xác có vai trò như một chất kích thích ra hoa vẫn chưa được xác định rõ ràng (Lang, 1977)

Cảm ứng ra hoa có thể bị chi phối bởi nhiều yếu tố như: sự có mặt của

Trang 23

một số chất kích thích ra hoa, sự tích luỹ sản phẩm quang hợp (Bernier, 1993)

Có thể ở từng loài thực vật, quá trình ra hoa được kích thích bởi một yếu tố cảm ứng ra hoa khác nhau Với cây bưởi quá trình hình thành hoa diễn ra khi xuất hiện yếu tố hoạt hoá cho sự sinh trưởng của chồi đỉnh và sự có mặt của yếu tố cảm ứng hình thành hoa

Cảm ứng ra hoa bắt đầu với sự ngừng sinh trưởng sinh dưỡng trong mùa đông - thời kỳ sinh trưởng không rõ ràng ở vùng á nhiệt đới hoặc thời kỳ khô ở vùng nhiệt đới (Domingo J Iglesias và cs, 2007) Nhìn chung trên cây trưởng thành, sự sinh trưởng chồi ngừng lại và tốc độ sinh trưởng rễ giảm khi nhiệt độ giảm vào mùa đông mặc dù nhiệt độ không dưới 12,50C Trong thời kỳ này các lộc sinh dưỡng phát triển khả năng ra hoa Vì thế, sự cảm ứng liên quan đến việc định hướng chuyển từ sinh trưởng sinh dưỡng sang tạo các chùm hoa Stress do lạnh và nước là những nhân tố cảm ứng chính, với độ lạnh là nhân tố chính ở vùng

có khí hậu á nhiệt đới và nước ở vùng có khí hậu nhiệt đới Nhiệt độ dưới 250C trong nhiều tuần là cần để cảm ứng lộc hoa với số lượng đáng kể Trên đồng ruộng, cần có thời kỳ khô hạn kéo dài hơn 30 ngày để một số lượng lộc hoa có cảm ứng ra hoa đáng kể (Frederick và cs, 1998) Hiện nay việc gây hạn nhân tạo

đã được sử dụng như là một phương tiện để xúc tiến sự cảm ứng ra hoa ở cây có múi nói chung và bưởi nói riêng, ngay ở nước ta vùng đồng bằng Sông Cửu Long nông dân trồng cây ăn quả cũng thường sử dụng biện pháp xiết nước để kích thích cho cây ra hoa theo ý muốn

1.4.2.2 Sự ra hoa

Sự ra hoa xảy ra sau khi cảm ứng và phân hoá hoa khi có nhiệt độ và độ

ẩm đất thích hợp Nhiệt độ ngưỡng tối thiểu cho ra hoa là 9,40C hoặc thấp hơn đáng kể nhiệt độ tối thiểu cho sinh trưởng sinh dưỡng Trên cây có múi thường

có 5 loại cành hoa: (i) cành hoa không có lá mọc từ chồi sinh trưởng từ vụ trước; (ii) cành hỗn hợp có một vài hoa và lá; (iii) cành hỗn hợp có nhiều hoa và một vài lá; (iv) cành hỗn hợp có một vài hoa và nhiều lá; và (v) chồi sinh dưỡng chỉ

có lá Những cành có tỷ lệ hoa, lá cao như loại (iv) có tỷ lệ đậu quả và giữ được

tỷ lệ quả đến thu hoạch cao nhất Tuy nhiên, lá mới hình thành 4-6 tuần sau ra

Trang 24

hoa có thể làm giảm sự đậu quả (Domingo J Iglesias và cs, 2007)

Hoa bưởi mọc thành chùm kiểu xim, thường các hoa ở phía gốc chùm nở trước sau đó lần lượt đến các hoa ở giữa và đỉnh chùm nở sau, hoa đỉnh chùm sẽ nở cuối cùng Lord và Eckert (1985) đã quan sát thấy rằng kích thước hoa nhìn chung giảm từ hoa nở đầu tiên đến hoa cuối cùng Do vậy hoa thứ hai tính từ đỉnh chùm hoa thường nhỏ nhất nhưng lại có tỷ lệ đậu quả cao nhất trên chùm hoa Hoa nở muộn sinh trưởng nhanh hơn và bền hơn hoa nở sớm(Domingo J Iglesias và cs, 2007)

Nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để xác định các yếu tố sinh lý nào điều khiển sự ra hoa ở cây bưởi và đã được Davenport tổng hợp chi tiết (1990) Các yếu tố có liên quan nhất đến sự nở hoa là hydrat cacbon, hormon, nhiệt độ, nước và dinh dưỡng Cơ sở của hydrat cacbon có tác động đến sự nở hoa là khi khoanh vỏ làm tăng cảm ứng ra hoa, tăng khả năng đậu quả Sự ảnh hưởng của hormon tới ra hoa bưởi cũng đã được nghiên cứu sâu trong nhiều năm (Davenport, 1990) Một số nghiên cứu sử dụng hormon nội sinh với chồi cây bưởi và được đánh giá bằng mức độ ra hoa Dinh dưỡng của cây liên quan trực tiếp và gián tiếp đến sự ra hoa của cây bưởi Hàm lượng N trong lá cao, đặc biệt đối với cây non gây ra sự sinh trưởng sinh dưỡng mạnh và ức chế sự ra hoa Ngược lại, hàm lượng N trong lá thấp kích thích ra hoa sớm Tuy nhiên cây thiếu

N nghiêm trọng thì ra ít hoa Người ta đã nghiên cứu thấy rằng nên duy trì hàm lượng N trong lá ở mức tối ưu khoảng 2,5 - 2,7% sẽ tạo ra số hoa vừa phải và cho

tỷ lệ đậu quả và năng suất cao nhất Nitơ ở dạng amôn có thể trực tiếp ảnh hưởng đến ra hoa thông qua điều khiển hàm lượng amôn và polyamine trong nụ hoa Stress nước và nhiệt độ thấp làm tăng hàm lượng amôn trong lá và sự ra hoa (Frederick và cs, 1998)

1.4.2.3 Quá trình thụ phấn và đậu quả

Hầu hết các loài cây có múi thương mại không cần thụ phấn chéo Tuy nhiên một số loài lấy hạt hoặc để kích thích sinh trưởng của bầu nhuỵ đối với những giống quả không hạt (quả điếc - parthenocarpic) thì cần có sự thụ phấn

bổ sung

Nhiệt độ có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả thụ phấn do trực tiếp ảnh

Trang 25

hưởng đến tốc độ sinh trưởng của ống phấn Tốc độ nảy mầm và sinh trưởng của ống phấn để chui vào vòi nhuỵ đưa tinh tử vào thụ tinh cho tế bào trứng rất thích hợp trong khoảng nhiệt độ từ 25 - 300C và bị giảm xuống hoặc ức chế hoàn toàn

ở nhiệt độ thấp < 200C (Frederick và cs, 1998)

Sự đậu quả, rụng quả và cuối cùng là năng suất quả bị ảnh hưởng bởi một

số yếu tố sinh lý và môi trường Các giống cây có múi nói chung và bưởi nói riêng ra rất nhiều hoa khoảng 100.000 - 200.000 hoa trên một cây trưởng thành, tuy nhiên chỉ 1-2% số hoa đậu quả cho thu hoạch số còn lại bị rụng đi (Domingo J Iglesiasvà cs, 2007) Ngoài những hoa, quả rụng do không được thụ phấn, thụ tinh thì rất nhiều quả non khác phải rụng bớt đi, người ta gọi là rụng quả sinh lý Thường có 2 lần rụng quả sinh lý: lần rụng đầu tiên xảy ra từ khi nở hoa cho đến 3

- 4 tuần sau nở hoa; lần hai xảy ra vào tháng 5 khi quả có đường kính từ 0,5 – 2,0

cm (Domingo J Iglesias và cs, 2007).Rụng quả sinh lý là sự rối loạn liên quan đến

sự cạnh tranh hydrat cacbon, nước, hormon và các chất trao đổi chất khác giữa các quả non, tuy nhiên vấn đề này rõ nhất lại là do tác động của các stress, đặc biệt là nhiệt độ cao và thiếu nước (Davies, 1968; Lovatt và cs, 1984) và người ta đã chứng minh được rằng khi nhiệt độ không khí trên 400C và ẩm độ giảm xuống dưới 40% có thể gây rụng quả hàng loạt (Domingo J Iglesias và cs, 2007)

Từ năm 1989-1990 tác giả Trần Đăng Thổ và Lý Gia Cầu đã tiến hành quan sát sơ bộ quy luật ra hoa, quả của bưởi Sa Điền ghép trên gốc bưởi chua có tuổi từ 9 đến 10 tuổi Theo các tác giả thì số nụ rụng chiếm 21,6% tổng số hoa, số hoa rụng chiếm 78,6% tổng số hoa Thời gian rụng hoa tương đối ngắn, tập trung trong giai đoạn từ khi hoa nở đến 13 ngày sau Giai đoạn rụng quả sinh lý kéo tương đối dài Thời kì rụng quả sinh lý lần thứ nhất bắt đầu từ ngày 10-14 sau khi hoa nở rộ Thời kì này, quả rụng mang theo cuống, đường kính cắt ngang của quả nhỏ hơn 1cm Thời gian tuy ngắn song ở thời kì này số quả rụng lại rất lớn, ước tính khoảng 72% tổng số quả non rụng Rụng quả sinh lý lần 2 bắt đầu sau rụng quả lần thứ nhất đến 60 ngày sau khi hoa nở rộ Quả rụng lần này không mang cuống Tỷ lệ rụng ước đạt 16,9% tổng số quả rụng, trong đó 9% quả có đường kính dưới 1cm rụng vào giai đoạn từ ngày thứ 14-20 sau khi nở rộ, 5,2% số quả

Trang 26

có đường kính từ 1-3cm rụng vào giai đoạn từ ngày 21 đến ngay 25 sau hoa nở

rộ 2,7% số quả có đường kính từ 3-5cm rụng vào giai đoạn từ ngày 30-60 ngày sau nở rộ Từ nghiên cứu trên cho thấy: 81% quả non rụng lúc đường kính quả chưa đạt 1cm, vì vậy tác giả cho rằng để giữ quả thì vấn đề then chốt là tác động vào giai đoạn rụng quả sinh lý lần thứ nhất Giữ được quả đạt tới đường kính 5cm là có thể yên tâm (Lương Thi Kim Oanh, 2011)

Những nghiên cứu cho thấy rằng thời gian nở hoa cũng có liên quan tới tỷ

lệ đậu quả Hoa nở sớm có tỷ lệ đậu quả thấp hơn nhiều so với hoa nở muộn Nở hoa vào nhiệt độ thấp đầu mùa sẽ làm giảm sinh trưởng của ống phấn nên tỷ lệ đậu quả thấp Ngoài ra, quả sinh ra trên những cành hoa không lá hoặc có lá chét thì tỷ lệ đậu cũng kém và nhiệt độ quá cao > 400C gây ra sự rụng quả (Domingo

J Iglesiasvà cs , 2007)

Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng: khả năng đậu quả của các giống khác nhau là khác nhau, có giống chỉ có thể đậu quả khi có sự thụ phấn chéo (bưởi Pyriform và bưởi chùm Yubileinyi), có giống có khả năng tự thụ phấn Hoàng Bích Liễu – Trạm nghiên cứu cây ăn quả Quảng Đông Trung Quốc chứng minh rằng: Khi bưởi Sa Diền giao phấn với bưởi chua thì tỷ lệ đậu quả nâng từ 1,99% lên 25% (Lương Thi Kim Oanh, 2011) Nghiên cứu sự đậu quả của bưởi ở Thái Lan các tác giả thấy rằng: tỷ lệ đậu quả khi tự thụ phấn rất thấp (từ 0-2,8%) nhưng khi giao phấn giữa các giống thì tỷ lệ đậu quả tăng từ 9-24%

Vị trí kết quả cũng được các tác giả theo dõi Đối với cây trẻ, đại đa số quả thường ở dưới tán cây, và ở bên trong tán trên các cành quả mùa xuân khi cây dần lớn tuổi vị trí này được chuyển lên phía trên và ra ngoài tán Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong kĩ thuật cắt tỉa cho cây bưởi

1.5 Những nghiên cứu về kỹ thuật thâm canh và kỹ thuật bao quả trên cây có múi

1.5.1 Những nghiên cứu về dinh dưỡng khoáng trên cây có múi trên thế giới

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về dinh dưỡng khoáng cho cây có múi nói chung và bưởi nói riêng ở các quốc gia trên thế giới Nhìn chung các vấn

đề về dinh dưỡng cho cây được đề cập một cách khá toàn diện, trong đó những vấn đề về vai trò của các nguyên tố dinh dưỡng, ảnh hưởng và mối quan hệ của

Trang 27

chúng tới từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây cũng như năng suất, chất lượng sản phẩm

Đối với cây bưởi cần có ít nhất 12 nguyên tố dinh dưỡng quan trọng cần được bón, đó là: đạm, lân, kali, magiê, canxi, lưu huỳnh, đồng, kẽm, mangan, bo, sắt và molipden (Harold Hum, 1957)

Cameron và cộng sự (1952) nghiên cứu thấy rằng trong thời kỳ ra hoa cây huy động nhiều đạm từ lá về hoa Cùng với kết luận trên, Reuther và Smith (1954) cũng xác định cây hút dinh dưỡng quanh năm nhưng hút mạnh vào thời

kỳ nở hoa cũng như khi cây ra đọt mới (tương ứng vào tháng 3-4 và tháng 7-9 (The Citrus Industry, 1973)

Hume (1957) thấy rằng số lượng đạm và kali trong quả không ngừng tăng lên đến khi quả lớn và chín, còn lân và magiê cũng tăng nhưng chỉ tăng đến khi quả lớn bằng nửa (1/2) mức lớn nhất sau đó không đổi, canxi tăng đến 1/3 giai đoạn đầu tiên Tỷ lệ: đạm, lân, kali ở nhiều loại quả có múi thay đổi ít, thường là N: P2O5: K2O = 3: 1: 4 (H Harold Hum, 1957)

Thiếu đạm lá bị mất diệp lục và bị vàng đều, thiếu nghiêm trọng cành bị ngắn lại, mảnh, lá vàng, nhỏ dễ bị rụng, quả ít Tuy nhiên theo Bryan O.C (1950) thiếu đạm chỉ ảnh hưởng đến độ lớn của quả chứ không ảnh hưởng đến đặc điểm quyết định phẩm chất quả, chỉ có chất khô hoà tan bị giảm đôi chút Dạng đạm phổ biến dùng là amôn sunfat Tuy nhiên đối với đất kiềm hoặc chua nhiều tốt nhất nên dùng các loại phân có gốc nitrat, như vậy sẽ ít bị mất đạm và tránh ảnh hưởng chua của gốc sunfat và nitrat còn thúc đẩy sự hút magiê ở đất thiếu magiê (Rene Rafael C Espino, 1990)

Hiếm khi thấy tình trạng thừa lân ở đất nặng vì đất này có khả năng giữ lân mạnh, chỉ ở đất nhẹ nếu bón lân liên tục sẽ gây hiện tượng thừa lân (West E.S 1938) Thừa lân gây tình trạng thiếu kẽm (hiện tượng gân xanh lá vàng) một bệnh sinh lý khá phổ biến ở cam quýt (Brian Beattie and Lou Revelant, 1992)

Trường hợp thiếu kali sẽ làm quả nhỏ nhưng lá vẫn không có triệu chứng

gì, thiếu trong thời gian dài, lá mới bị dày và nhăn nheo, vùng giữa các gân lá bị mất diệp lục và sau đó có các vết chết khô, khi thiếu trầm trọng đầu đọt bị rụng,

Trang 28

lá bị chết khô, cây thường bị chảy gôm, quả thô, phẩm chất kém Bón kali sunfat thích hợp hơn kali clorua vì phần lớn các giống đều mẫn cảm với clorua quá cao Kali-magiê sunfat (Patenk kali) rất thích hợp vì có 10% MgO cùng với 30% K2O

Theo một số tác giả nghiên cứu tại Pháp với năng suất 20 tấn quả/ha cam quýt lấy từ đất 50 kgN, 15kgP2O5 và 50kg K2O Theo Chapman (1968) thì trong

18 tấn quả cam quýt đã lấy từ đất 21kgN, 5kg phosphorus, 41kg Kali, 19kg Calcium, 3,5kg Mg, 2,3kg Sulfua, 45g B, 50g Fe, 90g Cu, 13g Mn và 13g Zn Theo Tandon (1987) cũng báo cáo rằng trong 30 tấn quả có: 100kg N, 60kg P2O5

350kg K2O, 40kg MgO và 30kg S (Vũ Công Hậu, 1996)

Bổ sung dinh dưỡng cho cây có thể dựa vào nhiều căn cứ, tuy nhiên thông thường hiện nay người ta dựa vào 3 căn cứ chính: chuẩn đoán dinh dưỡng lá, phân tích đất và dựa vào năng suất

Bón phân theo chuẩn đoán dinh dưỡng lá được thiết lập trên 4 nguyên tắc

cơ bản là: chức năng của lá, quy luật bù hoàn giảm dần, chức năng của các nguyên tố dinh dưỡng và sự đối kháng ion Dựa trên 4 nguyên tắc này Reuther và Smith đã xây dựng được tiêu chuẩn về thành phần dinh dưỡng của lá gồm 5 cấp: thiếu, thấp, tối thích, cao và thừa Dựa vào thang chuẩn này người ta thường xuyên phân tích lá để biết được có cần hay không cần phải bón phân (Hoàng Minh Tấn và Nguyễn Quang Thạch, 1993)

Ở Brazin tỷ lệ bón N:P:K = 1:0,5:1 hoặc N:P:K = 1:0,3:1; ở Aghentina, liều lượng bón phân cho cam Valencia được khuyến cáo là N:P2O5:K2O:MgO theo tỷ lệ 2:1:1:0,5 với 400g N/cây/năm (Vũ Công Hậu, 1996)

Reuther and Smith (1954) đã xây dựng được tiêu chuẩn về thành phần dinh dưỡng của lá gồm 5 cấp: thiếu, thấp, tối thích, cao và thừa Dựa vào thang chuẩn này người ta thường xuyên phân tích lá để biết được có cần hay không cần phải bón phân (dẫn theo Đỗ Ngọc Anh và cs., 2001)

Trang 29

Bảng 1.4 Thang dinh dưỡng lá của cây bưởi

Nitrogen (%)  2,2 2,2 – 2,4 2,5 – 2,7 2,8 – 3,0  3,0 Phosphorus (%)  0,09 0,09 – 0,11 0,12 – 0,16 0,17 – 0,30  3,0 Potassium (%)  0,7 0,7 – 1,1 1,2 – 1,7 1,8 – 2,4  2,4 Calcium (%)  1,5 1,5 – 2,9 3.,0 – 4,9 5,0 – 7,0  7,0 Magnesium (%)  0,2 0,20 – 0,29 0,30 – 0,49 0,50 – 0,70  0,7 Chlorine (%)  0,2 0,20 – 0,70  0,7 Sodium(%) 0,15 – 0,25  0,25 Manganese (ppm)  17 18 – 24 25 – 100 101 – 300  300 Zinc (ppm)  17 18 – 24 25 – 100 101 – 300  300 Copper (ppm)  3 3 – 4 5 – 16 17 – 20  20 Iron (ppm)  35 35 – 59 60 – 120 121 – 200  200 Boron (ppm)  20 20 – 35 36 – 100 101 – 200  200 Molybden (ppm)  0,05 0,06 – 0,09 0,1 – 1,0 2,0 – 5,0  5,0

Nguồn: Cây ăn quả nhiệt đới - II - Cam, Quýt, Chanh, Bưởi

1.5.2 Những nghiên cứu về dinh dưỡng khoáng trên cây có múi ở Việt Nam

Ở Việt Nam, dinh dưỡng cây bưởi hiện nay người ta dựa vào 3 căn cứ chính: chuẩn đoán dinh dưỡng lá, phân tích đất và năng suất

Tuỳ theo từng loại đất đai, giống, tình hình sinh trưởng của cây mà quyết định số lượng phân bón cho thích hợp Về cơ bản các loại phân N, P và K cần được cung cấp cho cây đầy đủ, bên cạnh đó phân hữu cơ và các loại vi lượng cũng cần được bổ sung để đạt được năng suất cao

Cây bưởi ở thời kỳ kinh doanh, phân hữu cơ năm thứ 4 – 6 bón với lượng

30 – 50 Kg/cây, năm thứ 6 trở đi bón 60 – 70 kg/cây Phân vô cơ, năm thứ 4 – 6 bón đạm là 0,7 – 0,9 kg/cây, lân 0,5 – 0,6 kg/cây, kali 0,3 – 0,4 kg/cây; năm thứ

6 trở đi bón đạm là 1,0 – 1,5 kg/cây, lân 0,8 – 1,6 kg/cây, kali 0,6 – 0,7 kg/cây Thời kỳ bón thúc hoa vào tháng 1-2 bón 40% đạm và 40% kali, bón thúc quả vào tháng 4-5 bón 20% đạm và 20% kali, sau khi thu hoạch bón 100% phân hữu cơ,

Trang 30

100% lân, 40% đạm và 40% kali (Đoàn Doãn Tuấn và Trần Việt Dũng, 2011)

Liều lượng bón kali trong giới hạn từ 0,6 - 1,8kg K2O/cây, không ảnh hưởng đến các chỉ tiêu cơ giới quả của bưởi diễn Khi bón 1,5 kg K2O/cây thì hàm lượng đường tổng số trong quả bưởi Diễn 10,45 %, hàm lượng chất khô 14,21%, Vitamin C là 51,72%, axit tổng số 0,094 và độ Brix là 14,53% (Trần Văn Ngòi và Nguyễn Quốc Hùng, 2016)

Mặt khác, bón phân cho bưởi Diễn tuỳ thuộc vào tuổi cây và sản lượng hàng năm, nền đất cụ thể

Cây từ 1- 3 năm sau khi trồng (cây chưa có quả - giai đoạn kiến thiết cơ bản) Mỗi năm bón 4 lần vào tháng 2, tháng 5 tháng 8 và tháng 11 Lượng phân bón ở mỗi lần như sau (VASS, 2011)

+ Đợt bón tháng 2: Bón 100% phân hữu cơ + 40% đạm + 40% kali

+ Đợt bón tháng 5: 30% đạm + 30% kali

+ Đợt bón tháng 8: 30% đạm + 30% kali

+ Đợt bón tháng 11: 100% lân + 100% vôi

Bảng 1.5 Lượng phân bón cho cây bưởi Diễn giai đoạn kiến thiết cơ bản

cơ (kg)

Đạm urê (gam/cây)

Lân supe (gam)

Kaliclo rua (gam)

Vôi bột (kg)

Năm thứ 3 50 860 1.200 460 1

Trong thời kỳ cho quả, lượng phân bón được thiết lập dựa trên năng suất của vụ trước Có thể tham khảo bảng hướng dẫn sau:

Trang 31

Bảng 1.6 Lượng phân bón cho cây bưởi Diễn giai đoạn kinh doanh

Năng suất thu

Lân Supe (g/cây)

Kaliclorua (g/cây)

Lần 1: Bón thúc hoa: (tháng 2): 40% đạm urê + 30% kaliclorua

Lần 2: Bón thúc quả: (tháng 4 - 5): 20% đạm urê + 30% kaliclorua

Lần 3: Bón sau thu hoạch: (tháng 11 - 12): 100% phân hữu cơ + 100% phân lân + 40% đạm urê, 40% kaliclorua

Cách bón:

Bón phân hữu cơ: đào rãnh xung quanh cây theo hình chiếu của tán với bề mặt rãnh rộng 30 - 40 cm, sâu 20 - 25 cm, rải phân, lấp đất và tưới nước giữ ẩm Hoặc có thể đào 3 rãnh theo hình vành khăn xung quanh tán để bón, năm sau bón tiếp phần còn lại

Bón phân vô cơ: khi đất ẩm chỉ cần rải phân lên mặt đất theo hình chiếu của tán cách xa gốc 20 - 30 cm, sau đó tưới nước để hoà tan phân Khi trời khô hạn cần hoà tan phân trong nước để tưới hoặc rải phân theo hình chiếu của tán, xới nhẹ đất và tưới nước

Theo Nguyễn Quốc Hùng và Đào Quang Nghị (2015), bón 1.200g ure +

750 gam Kaliclorua trên nền phân bón 5kg hữu cơ vi sinh vật chức năng + 50 kg trấu lót trại gà đã được ủ hoai + 1400 gam lân đã làm cho cây bưởi Diễn 8 năm tuôi có khả năng sinh trưởng, ra hoa và đậu quả cao Năng suất thu được cao nhất 30,9 kg/cây tương đương với 93,5 kg/cây

Trang 32

Các nghiên cứu cũng cho thấy việc bón phân hữu cơ, nhất là phân chuồng rất quan trọng trong canh tác cây có múi, vì góp phần làm tơi xốp đất, giữ được dinh dưỡng lâu hơn và hạn chế những bệnh ở rễ (Đỗ Đình Ca, Vũ Việt Hưng và cs, 2008)

1.5.3 Những nghiên cứu về phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng trên cây

có múi ở Việt Nam

Phân bón lá thường gồm 3 thành phần chính: các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng, ngoài ra còn có một số chất kích thích sinh trưởng Vai trò của phân bón lá đối với cây trồng là tác động tổng hợp của từng nhóm các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng, chúng có vai trò quan trọng trong đời sống cây trồng

Trong cây trồng luôn tồn tại các cơ chế điều chỉnh các quá trình sinh trưởng

và phát triển nhằm thích ứng với các điều kiện ngoại cảnh, duy trì sự sống Việc

áp dụng biện pháp kỹ thuật bón phân trong từng giai đoạn là rất cần thiết vì cây trồng hấp thu dinh dưỡng nuôi cây phần lớn qua bộ rễ, tuy nhiên hàm lượng dinh dưỡng trong đất là không đủ, đặc biệt là các yếu tố vi lượng Chính vì thế, việc phun phân bón lá nhằm bổ sung dinh dưỡng cho cây là rất cần thiết Nghiên cứu cải tiến các phương pháp phun bón phân cho cây trồng đã được thực hiện nhiều năm trên nhiều loại cây trồng Phân bón qua lá cung cấp nhanh, kịp thời các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng cần thiết cho quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây, đặc biệt là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh, cần tập trung dinh dưỡng để tạo hoa, nuôi quả

Hiện nay việc kết hợp giữa bón phân gốc, phun phân qua lá, phân vi lượng, chất điều hòa sinh trưởng đã mang lại hiệu quả rất cao trong sản xuất cây ăn quả nói chung và cây có múi nói riêng Phân bón lá, đặc biệt là những loại phân có chứa các nguyên tố vi lượng và chất điều hòa sinh trưởng như GA3 có tác dụng làm tăng khả năng ra hoa, đậu quả, mã quả, chất lượng và giảm số lượng hạt nếu

phun vào những thời kỳ thích hợp

Cơ sở của việc sử dụng phân bón lá theo Hoàng Minh Tấn và Nguyễn Quang Thạch (1993), thì trong thế giới thực vật nói chung và cây có múi nói riêng, lá cây ngoài chức năng là thoát hơi nước, quang hợp còn có vai trò quan

Trang 33

trọng trong việc hấp thu các chất dinh dưỡng cho cây Sự hấp thụ này được thực hiện qua lỗ khí khổng và qua các khoảng gian bào, các chất dinh dưỡng được di chuyển theo hướng từ trên xuống dưới và nó di chuyển một cách tự do trong cây

Các kết quả chỉ ra rằng khi bón phân qua lá dạng hoà tan thì lá cây sẽ hấp thu hết 95% lượng phân Vì vậy việc cung cấp các chất dinh dưỡng dạng vi lượng cho cây thông qua lá là việc làm đem lại hiệu quả cao, có thể nói cao gấp 8-10 lần so với cung cấp vào đất Ngoài tác dụng bổ sung dinh dưỡng kịp thời cho cây, phân bón lá còn tăng cường khả năng chông chịu sâu bệnh và các điều kiện ngoại cảnh bất lợi Tuy nhiên hiệu quả của phân bón lá còn phụ thuộc vào các giống cây trồng, các giai đoạn sinh trưởng của cây và phụ thuộc vào loại phân, nồng đô, liều lượng, thời gian sử dụng Các phân bón lá được sử dụng rộng rãi hiện nay là Komix, yogen, grown, con cò, HP, đầu trâu

Tài liệu của các tác giả Nguyễn Danh Vàn và Nguyễn Thế Đặng đồng nhất quan điểm rằng phân hữu cơ là loại phân rất tốt cho nhóm cây có múi, mỗi năm nên bón cho cây khoảng từ 20 - 50kg phân hữu cơ đã hoai mục vào lúc sau khi thu hoạch (Nguyễn Danh Vàn ,2008), Nguyễn Thế Đặng và cs, 2010)

Phân hữu cơ khi bón vào đất sẽ có tác dụng tổng hợp đối với đất Ngoài khía cạnh dinh dưỡng nó còn có tác dụng làm tăng khả năng hấp phụ, tăng tính đệm của đất, làm cho đất dự trữ dinh dưỡng, nước được tốt hơn và phản ứng môi trường đất ít biến đổi hơn Về mặt lý học, phân hữu cơ làm tăng kết cấu đất nhất

là số lượng kết cấu viên, làm cải thiện thành phần cơ giới đất và cải thiện tính chất vật lý nước của đất Về mặt sinh tính, phân hữu cơ làm tăng số lượng sinh vật đất, nhất là vi sinh vật Khi bón đầy đủ phân hữu cơ, hệ sinh vật đất sẽ phát triển mạnh và theo đúng quy luật tự nhiên, góp phần làm cho đất có sức sống tốt

Đối với cây trồng, phân hữu cơ không chỉ cung cấp chất dinh dưỡng cho cây mà còn có tác dụng hoạt hoá các quá trình chuyển hoá dinh dưỡng trong đất

để cung cấp cho cây

Như vậy, phân hữu cơ có tác dụng khá toàn diện đối với cây trồng, đất đai, môi trường… Tuy nhiên, đối với trình độ phát triển của nước ta nói riêng và nên nông nghiệp của thế giới hiện nay nói chung thì phân hữu cơ đóng vai trò là điều

Trang 34

kiện đủ Phân hóa học mới là yếu tố đóng vai trò điều kiện cần Trong nền nông nghiệp hiện này, việc ra đời của phân hóa học đã làm tăng rất nhanh năng suất cây trồng Thực tế đã chứng minh rằng, mức tăng năng suất cây trồng ở trong mối liên hệ chặt chẽ với số lượng phân bón được sử dụng

Đối với Việt Nam hiện nay đang ở giai đoạn quá độ nền kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn, tiềm năng thâm canh cây trồng còn lớn, hệ số sử dụng đất và phân bón còn thấp Nước ta đang cần một lượng lương thực thực phẩm lớn để giải quyết vấn đề lương thực trong nước và xuất khẩu Vì vậy, Đảng và nhà nước

ta đã chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá - hoá học hoá nông nghiệp nông thôn, đẩy mạnh sản xuất và sử dụng phân hóa học để tăng năng suất và sản lượng cây trồng Tuy nhiên về vấn đề kỹ thuật, chúng ta phải quan tâm khuyến cáo việc

sử dụng phân bón cân đối giữa vô cơ - hữu cơ, cân đối NPK, bón phân hợp lý theo nhu cầu của cây và tính chất đất để vừa đảm bảo năngsuất vừa tiết kiệm phânbón

Nguyễn Thế Đặng đã đưa ra khái niệm về quy trình bón phân hợp lý rằng: Quy trình phân bón cho cây là toàn bộ các quy định hợp lý về loại, dạng, lượng phân, thời kỳ bón và cách bón cho một cây trồng cụ thể Quy trình bón phân hợp

lý là quy trình bón phân vừa đáp ứng đầy đủ và kịp thời yêu cầu của cây, vừa góp phần cải tạo đất và đem lại lợi nhuận tối đa cho nông dân Do vậy muốn giải quyết tốt chế độ phân bón cho cây phải dựa vào đất đai, căn cứ vào yêu cầu của cây, xem xét điều kiện thời tiết, khí hậu Ngoài ra còn phải xem xét đến hệ thống luân canh, chế độ canh tác, hệ thống nông nghiệp và ngay cả loại phân đem bón nữa (Nguyễn Thế Đặng và cs, 2010)

Ảnh hưởng của việc phun GA3 đến sinh trưởng và phát triển của cây bưởi Diễn phun ở các giai đoạn trước khi hoa nở 10 ngày, khi hoa nở rộ, sau khi hoa

nở 10 ngày và rụng quả sinh lý lần 1 ở nồng độ 50ppm sẽ cho tỷ lệ đậu quả cao nhất (Nguyễn Hữu Thọ, 2015)

Khi sử dụng phân bón lá Super Grow phun cho cây bưởi Diễn có số quả/cây là 37,8 quả và trọng lượng quả là 860,5g; khi phun Botrac có số quả/cây

là 37,5 quả và trọng lượng quả là 832,3g (Nguyễn Quốc Hùng và Cao Văn Chí, 2015)

Trang 35

Theo Pham Ngọc Lin và cs (2015), khi bón phân bón lá Đầu Trâu 502 cho cây bưởi Diễn đạt năng suất 63,64 kg/cây năm 2009, 67,00 kg/cây năm 2010

và 80,54 kg/cây Phân bón Komix cho cây bưởi Diễn đạt năng suất 52,57 kg/cây năm 2009, 58,95 kg/cây năm 2010 và 70,36 kg/cây Và khi bón phân bón lá Grow ba lá xanh cho cây bưởi Diễn đạt năng suất 59,70 kg/cây năm 2009, 62,04 kg/cây năm 2010 và 75,85 kg/cây

Bộ môn Sinh lý thực vật - Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội đã nghiên cứu và tạo được chế phẩm đậu hoa, đậu quả cho nhiều loại cây trồng và sử dụng

có hiệu quả trong sản xuất Chế phẩm dạng bột gồm α-NAA dưới dạng hoà tan trong nước là nguồn auxin bổ xung cho nguồn nội sinh, một số nguyên tố vi lượng cần thiết như B, Cu và còn có thêm một lượng nhỏ nguyên tố đa lượng N,

P, K Phun chế phẩm này đã làm tăng quá trình đậu quả, hiệu quả này được tăng lên khi cung cấp đủ nước và các chất dinh dưỡng cho cây trồng

Cây có múi muốn sinh trưởng và phát triển tốt cần phải cung cấp đầy đủ

và cân đối các chất vi lượng cũng như đa lượng

Đỗ Đình Ca, Vũ Việt Hưng nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón, tưới nước đến khả năng ra hoa, đậu quả của bưởi Phúc Trạch từ 2003 - 2004 cho thấy bón 800g N: 400g P2O5 : 600g K2O + phun phân bón lá Grown ba lá xanh cho năng suất cao nhất, song về hiệu quả kinh tế thì công thức bón 500g N + 250g P205

+ 375g K20 + phun phân bón lá cho hiệu quả cao hơn Kết quả này cũng được ghi nhận khi tiến hành thí nghiệm đối với bưởi Thanh Trà tại Hương Vân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm 2006 – 2008 (Đỗ Đình Ca, Vũ Việt Hưng và cs, 2008)

Tất cả các nghiên cứu trên là những cơ sở cho việc bón phân và sử dụng phân bón một cách hợp lý đối với cây có múi Tuy nhiên trên thực tế việc ứng dụng các nghiên cứu có kết quả còn phụ thuộc rất nhiều vào các yêú tố khác nhau, trong đó giống và điều kiện thời tiết, khí hậu từng vùng có vai trò rất quan trọng và do vậy việc thí nghiệm để tìm ra các công thức bón thích hợp với từng đối tượng, từng vùng sinh thái trồng trọt vẫn cần phải được tiến hành thường xuyên

1.5.4 Những nghiên cứu về biện pháp bao quả

Trang 36

Sâu bệnh hại Cam quýt là một trong những nguyên nhân chính làm giảm năng suất, chất lượng sản phẩm quả, giảm hiệu quả kinh tế Vì vậy, công tác bảo

vệ thực vật cần được tiến hành thường xuyên, kịp thời, hiệu quả Với xu thế sản xuất cây ăn quả theo tiêu chuẩn GAP thì việc lựa chọn một hệ thống canh tác phòng trừ dịch hại là hết sức quan trọng Trong đó quản lý dịch hại tổng hợp IPM

là một giải pháp tốt hiện nay

Một số nước có kỹ thuật sản xuất cây ăn quả có múi tiên tiến như úc, Hàn Quốc, đã áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hại trên cây có múi trên cơ sở sử dụng dầu khoáng PSO (để phòng trừ tập đoàn chích hút, sâu vẽ bùa ) nhằm bảo vệ tập đoàn ký sinh, thiên địch trên các vườn quả, hạn chế ô nhiễm môi trường

Trong đó biện pháp bao quả là một biện pháp kỹ thuật được áp dụng phổ biến đối với tất cả các loại cây ăn quả, là một giải pháp kỹ thuật trong hệ thống phòng trừ sâu, bệnh tổng hợp IPM, ngăn ngừa sâu bệnh tấn công, hạn chế được việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và làm đẹp mã quả Đối với cây có múi nói chung và bưởi nói riêng, bao quả có những lợi ích trực tiếp như sau:

- Bao quả chống được sâu, ruồi đục quả, ngài chích hút và bệnh hại quả, nhờ đó hạn chế dùng thuốc sâu, bệnh

- Bao quả giúp hình thức bên ngoài bóng đẹp, đồng đều, ít bị rám bởi nắng, không bị trầy xước do gió bão hay một số nguyên nhân khác

- Do bao quả hạn chế sâu bệnh, ít dùng thuốc bảo vệ thực vật nên đây là một trong nhưng kỹ thuật để sản xuất quả có múi an toàn theo GAP Đồng thời có thể

áp dụng tốt cho những vườn du lịch sinh thái, nuôi trồng thuỷ sản dưới mương

Người ta khuyến cáo rằng: trước khi bao quả phải tỉa bỏ quả nhỏ, kém phát triển bên cạnh, những cành lá cản trở quanh cuống quả, phun thuốc trừ sâu, nấm bệnh trên quả sau một ngày mới tiến hành bao quả Khi bao quả phải buộc chặt miệng bao Thường bao quả vào thời điểm sau khi quả rụng sinh lý, khoảng

45 ngày sau khi đậu quả và nên tháo túi trước khi thu khoảng 15 – 20 ngày để cho quả lên mã trở lại trạng thái tự nhiên Tuy nhiên, hiệu quả của việc bao quả phụ thuộc vào từng loại quả, thời điểm bao và vật liệu bao, đặc biệt là thời điểm

Trang 37

bao vì liên quan đến sự phát sinh phát triển của sâu, bệnh hại, sự sinh trưởng và phát triển của quả Bao sớm quả còn non có thể làm rụng quả và ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của quả, ngược lại bao muộn, sâu, bệnh đã đẻ trứng hoặc nhiễm vào quả sẽ không có tác dụng, do vậy việc bao quả phải căn cứ vào điều kiện sinh thái khí hậu cụ thể của từng địa phương để xác định thời điểm bao quả thích hợp Theo Phạm Hồng Sơn bao quả bằng các vật liệu giấy báo và bao xi măng đều cho kết quả tốt, tỷ lệ sâu bệnh trên quả giảm rõ rệt (Phạm Hồng Sơn, 2006) Hiện trên thị trường có nhiều loại túi bao được sản xuất từ nhiều loại chất liệu khác nhau như: túi xốp sử dụng cho bao trái ổi, túi bao chuyên dùng sử dụng trên cây xoài, túi lưới dùng để bao nhãn, Các sản phẩm túi này được nhập khẩu và sản xuất trong nước Tùy vào túi tiền và đặc tính sinh trưởng của loại cây trồng

mà nông dân có thể chọn loại bao thích hợp, tránh tình trạng loại túi chuyên dụng cho loại cây ăn quả này nông dân lại sử dụng cho loại cây ăn quả khác

Theo Thạc sĩ Nguyễn Phước Tuyên - Trưởng Phòng Nghiên cứu khoa học

và thông tin Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đồng Tháp: “Đối với từng loại trái cây, các nhà khoa học sẽ nghiên cứu từng loại túi bao chuyên dụng riêng biệt Trên cây xoài, các nhà khoa học cũng nhận thấy đối với từng loại giống sẽ có những loại túi bao khác nhau Ví dụ: đối với loại bao màu vàng, phía trong màu đen thì thích hợp cho xoài cát chu, cát hòa lộc, thanh ca Đối với túi bao màu đục hoặc túi bao màu trong thì thích hợp cho xoài Úc, xoài Đài Loan Ngoài tác dụng giảm thiệt hại do sâu bệnh, một số túi bao còn giúp tăng khả năng quang hợp, chuyển đổi sắc tố của trái cây, từ đó giúp tăng trọng lượng, làm cho trái có màu sắc đẹp Theo nghiên cứu, giữa xoài bao trái và không bao, không khác biệt lớn về chất lượng, điểm khác biệt lớn nhất là khi bao trái sẽ giúp tăng thời gian bảo quản khoảng 5 ngày so với không bao trái”

Khi sử dụng túi bao trái trên xoài sẽ giúp nhà vườn hạn chế thiệt hại tối đa

do côn trùng và sâu, bệnh tấn công gây ra các loại bệnh như: bệnh thán thư, ruồi đục trái, sâu đục hạt quả; bệnh đốm trái do vi khuẩn tấn công, bệnh xì mủ trái Tuy nhiên, khi sử dụng túi bao trái, ngoài việc chọn lựa túi bao trái chuyên dụng, phù hợp giống cây trồng đang canh tác, nhà vườn cần tham khảo ý kiến các nhà

Trang 38

khoa học về kỹ thuật bao trái cũng như giai đoạn thích hợp để sử dụng nhằm đạt hiệu quả tối ưu nhất

Theo khảo sát của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Đồng Tháp, hiện nay phần lớn nhà vườn ở Đồng Tháp ý thức hơn trong việc sử dụng túi bao trái trên xoài và nhiều loại cây ăn quả khác Hiện tại, ở huyện Cao Lãnh

có trên 80% diện tích xoài được nhà vườn ứng dụng kỹ thuật trên và ở TP.Cao Lãnh đã phát triển trên 40% diện tích xoài và đang tiếp tục được mở rộng Một số cây ăn quả khác, nông dân cũng bắt đầu sử dụng bao trái phổ biến hơn như: mận,

ổi, bưởi

Ngoài sử dụng các túi bao trái thông thường, nhiều nhà vườn còn sử dụng túi bao chuyên dụng có khả năng chuyển đổi sắc tố trên trái cây, làm cho trái cây

có màu sắc lạ mắt và hấp dẫn người tiêu dùng hơn.( Báo Đồng Tháp.vn, 2014)

1.5.5 Một số kết luận rút ra từ tổng quan tài liệu

Bưởi được sản xuất chủ yếu ở các nước thuộc châu Á, tập trung nhiều ở Trung Quốc, Philippines, Thái Lan và Việt Nam Tập đoàn bưởi ở nước ta rất đa dạng với nhiều giống bưởi chất lượng cao, có triển vọng xuất khẩu lớn cũng như nội tiêu: Bưởi Năm Roi, bưởi Da Xanh và đặc biệt là giống bưởi Diễn và bưởi đỏ Tân Lạc Do nhiều nguyên nhân khác nhau một số giống bưởi đặc sản đang bị suy giảm năng suất, phẩm chất Cần có những nghiên cứu nhằm phát hiện các yếu tố hạn chế và biện pháp khắc phục

Các yếu tố môi trường, đặc biệt là phân bón lá và chất điều tiết sinh trường đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết thời gian nở hoa, khả năng thụ phấn, thụ tinh, đậu quả của cây có múi và cây bưởi Điều này gợi ý cho việc triển khai những nghiên cứu nhằm tăng cường khả năng sinh trưởng, điều chỉnh thời gian nở hoa, nâng cao khả năng thụ phấn, thụ tinh để hạn chế ảnh hưởng của điều kiện bất thuận đối với giống bưởi diễn tại Thái Nguyên

Biện pháp bón phân có tác dụng làm cân đối các quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây, hạn chế sâu bệnh hại, nâng cao năng suất, mẫu mã quả, quản lý được kích thước cây

Phun phân bón là và chất điều hòa sinh trưởng thực chất là quá trình

Trang 39

điều chỉnh tỷ lệ C/N có tác dụng khá rõ trong việc thúc đẩy quá trình ra hoa, nâng cao tỷ lệ đậu quả cho các đối tượng áp dụng, đã được chứng minh có tác dụng tốt trong việc nâng cao tỷ lệ đậu quả ở với một số giống bưởi nổi tiếng của Trung Quốc như Quan Khê, Sa điền Do vậy, thử nghiệm phun phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng trên giống bưởi đỏ Tân Lạc là cần thiết để có những đánh giá về mức độ tác động của biện pháp kỹ thuật này đối với việc nâng cao tỷ lệ đậu quả

Biện pháp bao quả là một biện pháp kỹ thuật được áp dụng phổ biến đối với tất cả các loại cây ăn quả, là một giải pháp kỹ thuật trong hệ thống phòng trừ sâu, bệnh tổng hợp IPM, ngăn ngừa sâu bệnh tấn công, hạn chế được việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và làm đẹp mã quả

Để có những kết luận chính xác cho giống bưởi đỏ Tân Lạc tại Chương

Mỹ cần nghiên cứu một cách toàn diện Trên cơ sở những nghiên cứu đơn lẻ, cần

có nghiên cứu ứng dụng tổng hợp các biện pháp kỹ thuật để có những điều chỉnh cần thiết cũng như đề xuất quy trình kỹ thuật

Trang 40

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và vật liệu, địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là giống bưởi đỏ Tân Lạc được nhân giống bằng phương pháp ghép mắt, cây 7 năm tuổi được trồng tại Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội

2.1.2 Vật liệu nghiên cứu

- Chất điều hòa sinh trưởng (GA3): Thành phần gồm Naphthalene Acetic Acid; 0,5(%W/W) Beta-Naphtoxy Acetic Acid; 0,1 (%W/W) Gibberellic Acid GA3, được sản xuất bởi công ty cổ phần Vicowin

2(%W/W)Alpha Kích thích sinh trưởng cây trồng Atonik 1.8 SL: Thành phần gồm: Sodium – 5

– Nitrogualacolate 0,03%, Sodium – O – Nitrophenolate 0,06%, Sodium – P – Nitrophenolate 0,09%, do hãng hóa chất ASAHI Nhật Bản sản xuất

- Kích phát tố hoa trái Thiên Nông: Thành phần gồm Alpha-Naphthalene Acetic Acid 2%, Beta-Naphtoxy Acetic Acid 0.5%, Gibberrellic Acid GA-3 0.1%, được sản xuất bởi công ty cổ phần Thiên Nông Thanh Hóa

- Phân bón lá

+ Phân bón lá VS - 21 Dạng bột; xuất xứ: Nhập khẩu trực tiếp từ Isarel, do Công ty Cổ phần giồng Nông nghiệp Hà Nội đóng gói Thành phần chính gồm: Đạm (N): 11%; Lân (P2O5): 0%; Kali (K2O): 40%; MgO: 4%

+ Phân bón lá Đầu trâu 902 Dạng hạt, do Công ty Cổ phần Bình Điền sản xuất Thành phần chính gồm: Đạm (N): 17%; Lân (P2O5): 21%; Kali (K2O): 10%; Canxi (Ca): 0,03%; Magie (Mg): 0,03%; Kẽm (Zn): 0,05%; Đồng (Cu): 0,05%; Bo (B): 0,03%; Sắt (Fe): 0,01%; Manggan (Mn): 0,01%; Molipđen (Mo): 0,001%; Pennac: 0,002%; GA3; α NAA; β NOA, được sản xuất bởi công ty cổ phần phân bón Bình Điền

+ Phân bón lá Trimix DT 02 Dạng nước, do Công ty Cổ phần Điền Trang sản xuất

Ngày đăng: 06/05/2020, 11:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ngô Hồng Bình (2004), “Nghiên cứu đặc điểm và mối liên hệ sinh trưởng giữa các đợt lộc trên cây bưởi”, Tạp chí Nông nghiệp và Pháttriển Nông thôn, sô 3/2004, trang 21 - 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm và mối liên hệ sinh trưởng giữa các đợt lộc trên cây bưởi”, "Tạp chí Nông nghiệp và Pháttriển Nông thôn
Tác giả: Ngô Hồng Bình
Năm: 2004
3. Boun Keua Vongsalath (2005), Nghiên cứu tình hình sản xuất cây cómúi các huyện ngoại thành Hà Nội và một số biện pháp kỹ thuật nhămnâng cao năng suât bưởi và quýt, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp,Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình sản xuất cây cómúi các huyện ngoại thành Hà Nội và một số biện pháp kỹ thuật nhămnâng cao năng suât bưởi và quýt
Tác giả: Boun Keua Vongsalath
Năm: 2005
9. Nguyễn Thế Đặng, Nguyễn Thị Mão (2010), Bài giảng Nông Nghiệp Hữu Cơ, Trường ĐH Nông lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Nông Nghiệp Hữu Cơ
Tác giả: Nguyễn Thế Đặng, Nguyễn Thị Mão
Năm: 2010
13. Phạm Thị Hương (2007), “Ảnh hưởng của phân bón lá Pomior và biện pháp bao quả đến sinh trưởng và năng suât của bưởi Diễn trông tại Gia Lâm, Hà Nội”, Tạp chí Nông nghiệp và PTNT, tháng 2/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của phân bón lá Pomior và biện pháp bao quả đến sinh trưởng và năng suât của bưởi Diễn trông tại Gia Lâm, Hà Nội”, "Tạp chí Nông nghiệp và PTNT
Tác giả: Phạm Thị Hương
Năm: 2007
21. Phạm Hồng Sơn (2006), “Đặc điểm sinh trưởng , ra hoa đậu quả ở bưởi Diễn và bưởi Nhật, đồng thơi nghiên cứu một số biện pháp kỵ thuật thâm canh bưởi Diễn”, luận văn tốt nghiệp đại học,Trường Đại học Nông Nghiệp,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đặc điểm sinh trưởng , ra hoa đậu quả ở bưởi Diễn và bưởi Nhật, đồng thơi nghiên cứu một số biện pháp kỵ thuật thâm canh bưởi Diễn
Tác giả: Phạm Hồng Sơn
Năm: 2006
24. Hoàng Minh Tấn và Nguyễn Quang Thạch (1993), Chất điều hòa sinh trưởng đối với cây trồng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất điều hòa sinh trưởng đối với cây trồng
Tác giả: Hoàng Minh Tấn và Nguyễn Quang Thạch
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1993
25. Hoàng Minh Tuấn, Nguyễn Quang Thạch và cs (2000) Giáo trình sinh lý thực vật, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh lý thực vật
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
27. Lê Văn Tri, Lý Kim Bảng, Đặng Quang Vinh, Lê Văn Chính (1990), Sổ tay sử dụng các chế phẩm điều hòa sinh trưởng cho cây trồng, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay sử dụng các chế phẩm điều hòa sinh trưởng cho cây trồng
Tác giả: Lê Văn Tri, Lý Kim Bảng, Đặng Quang Vinh, Lê Văn Chính
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật
Năm: 1990
29. Trần Thế Tục (1995), "Cây bưởi và triển vọng phát triển tại Việt Nam – Sản xuất và thị trường quả có múi”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật, số 10/1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây bưởi và triển vọng phát triển tại Việt Nam – Sản xuất và thị trường quả có múi
Tác giả: Trần Thế Tục
Năm: 1995
30. Trần Thế Tục (1997), “Kết quả nghiên cứu bước đầu về bưởi (Citrus grandis Osbeck) ở một số tỉnh ”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp, số 4/1997, trang 67 - 74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu bước đầu về bưởi ("Citrus grandis "Osbeck) ở một số tỉnh ”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp
Tác giả: Trần Thế Tục
Năm: 1997
34. Nguyễn Danh Vàn (2008), Kỹ thuật canh tác cây ăn trái – cây bưởi, nhà xuất bản Tổng thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật canh tác cây ăn trái – cây bưởi
Tác giả: Nguyễn Danh Vàn
Nhà XB: nhà xuất bản Tổng thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2008
36. Bernier, G., Kinet, J. M. and Sachs, R. M. (1993), The physiology of flowering. CRC Dress, Boca Raton, 1981.27. Bernier, G., Havelange, A., Houssa, C., Petijean, A. and Legeune. Physiological signals that induce flowering. Plant cell 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The physiology of flowering". CRC Dress, Boca Raton, 1981.27. Bernier, G., Havelange, A., Houssa, C., Petijean, A. and Legeune. "Physiological signals that induce flowering
Tác giả: Bernier, G., Kinet, J. M. and Sachs, R. M
Năm: 1993
38. Frederick. S. Davies, L. Gene Albrigo (1998). Environmental constraints on growth, development and physiology of citrus. Crop production science in horticulture Sách, tạp chí
Tiêu đề: Environmental constraints on growth, development and physiology of citrus
Tác giả: Frederick. S. Davies, L. Gene Albrigo
Năm: 1998
39. Brian Beattie and Lou Revelant (1992). “Guide to quality managerment in citrus industry”, Australian Horticultural Corporation NSW Agriculture Sách, tạp chí
Tiêu đề: Guide to quality managerment in citrus industry
Tác giả: Brian Beattie and Lou Revelant
Năm: 1992
41. L.W. Timmer and Larry W. Duncan (1999). CTRUS Health Management, APS PRESS the American Phytopathological Society Sách, tạp chí
Tiêu đề: CTRUS Health Management
Tác giả: L.W. Timmer and Larry W. Duncan
Năm: 1999
42. Rene Rafael C. Espino (1990). Citrus Production and Management, Technology and livelihood resource Center Sách, tạp chí
Tiêu đề: Citrus Production and Management
Tác giả: Rene Rafael C. Espino
Năm: 1990
44. Mung H.T. (2008), Citrus production in Asia, Cheju Citrus Research Institute, Korea, Asian Studies on the Pacific Coast,Http://www.agnet.org/library/article/ac1996c.html; Ngày truy cap 12/08/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Citrus production in Asia
Tác giả: Mung H.T
Năm: 2008
45. Lang, A., Chailakhyan, M. K. and Froliva, I. A., Promotion and inhibition of flower formation in a day neutral plant in grafts with a short day plant and along day plant. Proceeding of the National Academy of science, USA, 1977, http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC432182/ Link
1. Đỗ Ngọc Anh, Huỳnh Lý, Ngô Bích Nga và Nguyễn Văn Trung (2001). Cam quýt chanh bưởi. Cây ăn quả nhiệt đới tập II, NXB khoa học kỹ thuật, T400 – 434 Khác
4. Cục Nông nghiệp thành phố Phúc Châu, Phúc Kiến (2009), Tình hình sản xuất và kỹ thuật trồng bưởi tại tỉnh Phúc Kiến, Tài liệu hướng dẫn kỹ thuật Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w