Là một lãnh đạo chủ chốt của công ty TNHH Nam Long ở khu công nghiệp Phú Lâm của tỉnh Bắc Ninh, đây là công ty được thành lập và phát triển từ xưởng sản sản xuất giấy bìa và giấy bao b
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
––––––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN VĂN KIỀN
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CHO CÔNG TY TNHH NAM LONG Ở KHU CÔNG NGHIỆP PHÚ LÂM,
HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
––––––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN VĂN KIỀN
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CHO CÔNG TY TNHH NAM LONG Ở KHU CÔNG NGHIỆP PHÚ LÂM,
HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH
Ngành: Quản trị Kinh doanh
Mã số: 8340102
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Văn Quyết
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chưa công bố tại bất kỳ nơi nào, mọi số liệu sử dụng trong luận văn này là những thông tin xác thực Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Kiền
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn: PGS.TS Trần Văn Quyết đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Phòng Đào tạo - Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban lãnh đạo, các bạn bè đồng nghiệp, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Do bản thân còn nhiều hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Kiền
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 3
5 Kết cấu luận văn 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CHO DOANH NGHIỆP 4
1.1 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp 4
1.1.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh 4
Quan niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 6
1.1.2 Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp 8
1.1.3 Các mô hình lý thuyết về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 9
1.1.4 Nội dung nâng cao Năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp 12
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 14
1.2 Phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 16
1.2.1 Khả năng duy trì và mở rộng thị phần của doanh nghiệp 16
1.2.2 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm 17
1.2.3 Năng lực duy trì và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 18
1.2.4 Năng suất các yếu tố sản xuất 19
1.2.5 Khả năng thích ứng và đổi mới của doanh nghiệp 19
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
1.2.6 Khả năng thu hút nguồn lực 20
1.2.7 Khả năng liên kết và hợp tác của doanh nghiệp 20
1.3 Kinh nghiệm nâng cao NLCT và bài học kinh nghiệm cho Công ty TNHH Nam Long ở khu công nghiệp Phú Lâm, huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh 20
1.3.1 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp ngành giấy trong nước 21
1.3.2 Bài học Kinh nghiệm với công ty TNHH Nam Long ở KCN Phú Lâm, huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh 22
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 24
2.2 Nguồn số liệu và phương pháp thu thập 24
2.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp 24
2.2.2 Thu thập thông tin sơ cấp 24
2.3 Phương pháp phân tích 25
2.3.1 Phương pháp thống kê mô tả 25
2.3.2 Phương pháp thống kê so sánh 26
2.3.3 Phương pháp chuyên gia 26
2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 29
2.4.1 Các tiêu chí định lượng 29
2.4.2 Các tiêu chí định tính 30
Chương 3: ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TNHH NAM LONG Ở KHU CÔNG NGHIỆP PHÚ LÂM, HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH 34
3.1 Giới thiệu chung về Công ty TNHH Nam Long 34
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 34
3.1.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức 34
3.1.3 Sản phẩm chính của công ty 36
3.1.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty 41
3.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty TNHH Nam Long trong sản xuất và kinh doanh sản phẩm giấy 41
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
3.2.1 Đánh giá thực trạng năng lực tài chính 41
3.2.2 Đánh giá trực trạng năng lực sản xuất kinh doanh sản phẩm giấy 44
3.2.3 Đánh giá thực trạng nguồn lực lao dộng phục vụ hoạt động sản xuất và kinh doanh sản phẩm giấy 45
3.2.4 Chỉ tiêu chất lượng và giá cả 48
3.2.5 Thương hiệu 51
3.2.6 Đánh giá hoạt động MARKETING 52
3.2.7 Đánh giá thị phần thị trường của công ty TNHH Nam Long 53
3.2.8 Xây dựng ma trận hình ảnh cạnh tranh 56
3.2.9 Phân tích môi trường cạnh tranh của công ty TNHH Nam Long 59
3.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới Năng lực cạnh tranh về sản phẩm giấy của công ty TNHH Nam Long 64
3.3.1 Những yếu tố khác quan 64
3.3.2 Những yếu tố chủ quan 69
3.4 Những thành tựu đạt được, những khó khăn và bất cập và nguyên nhân của những khó khăn bất cập ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh công ty TNHH Nam Long 70
3.4.1 Những thành tựu đạt được 70
3.4.2 Những khó khăn, bất cập ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của công ty TNHH Nam Long 71
3.4.3 Những nguyên nhân của khó khăn bất cập ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của công ty TNHH Nam Long 73
Chương 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CHO CÔNG TY TNHH NAM LONG Ở KHU CÔNG NGHIỆP PHÚ LÂM, HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH 75
4.1 Định hướng xây dựng chiến lược cạnh tranh cho công ty 75
4.1.1 Xu hướng và Bối cảnh thị trường cạnh tranh ngành giấy 75
4.1.2 Thị trường giấy năm 2019 và dự báo năm 2020 77
4.1.3 Phương hướng nâng cao năng lực phát triển công ty trong tương lai 87
4.2 Mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh giai đoạn 202 - 2025 88
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
4.3 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty TNHH Nam Long 89
4.3.1 Phát triển các kênh phân phối sản phẩm 89
4.3.2 Nâng cao hoạt động Maketing 90
4.3.3 Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ công nhân viên 90
4.3.4 Quản lý hiệu quả các nguồn tài chính 91
4.3.5 Nâng cấp và hiện đại hóa thiết bị công nghiệp 92
4.4 Kiến nghị thực hiện giải pháp 93
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 100
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt Tên đầy đủ/ý nghĩa/mô tả
VICC Văn phòng thương mại và Công ngiệp Việt Nam
WTO World Trade Organization/ Tổ chức thương mại
quốc tế
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Bảng tổng hợp số phiếu khảo sát khách hàng của Công ty TNHH
Nam Long 25Bảng 2.2 Thang đo và ý nghĩa của điểm đánh giá 28Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hình tài chính của TNHH
Nam Long 43Bảng 3.2 Năng lực sản xuất các sản phẩm của công TNHH Nam Long 44Bảng 3.3 Đặc điểm nguồn nhân lực của công ty 45Bảng 3.4 Đánh giá khả năng cạnh tranh về chất lượng sản phẩm của công ty
TNHH Nam Long với các đối thủ cạnh tranh 49Bảng 3.5 Đánh giá khả năng cạnh tranh về giá bán, chiến lược định giá sản
phẩm của công ty TNHH Nam Long với các đối thủ cạnh tranh 50Bảng 3.6 Đánh giá khả năng cạnh tranh về thương hiệu của công ty TNHH
Nam Long với các đối thủ cạnh tranh 51Bảng 3.7 So sánh số lượng sản phẩm bán ra của công ty TNHH Nam Long và
một số đối thủ cạnh tranh 54Bảng 3.8 Ma trận hình ảnh cạnh tranh của Công ty TNHH Nam Long 58Bảng 3.9 Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE) của Công ty TNHH
Nam Long 60Bảng 3.10 Ma trận đánh giá các yếu tố môi trường bên trong (IFE) của Công
ty TNHH Nam Long 61Bảng 3.11 Ma trận SWOT Công ty TNHH Nam Long 62Bảng 4.1 Tăng trưởng tiêu thụ giấy lớp mặt và lớp sóng theo khu vực 84Bảng 4.2 Tăng trưởng năng lực – sản xuất – tiêu thụ giấy lớp mặt và sóng
trên thị trường Trung Quốc 2019 86
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH
Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức của công ty TNHH Nam Long 35
Hình 3.2 Giấy bao bì Kraft nâu 37
Hình 3.3 Ứng dụng của bao bì giấy kraft 40
Biểu đồ 3.1 So khả năng cạnh tranh về nguồn nhân lực giữa công ty TNHH Nam Long và các đối thủ cạnh tranh 46
Biểu đồ 3.2 So sánh thị phần của công ty TNHH và các đối thủ cạnh tranh trên thị trường giấy bao bì ở tỉnh Bắc Ninh 56
Biểu đồ 4.1 Thị trường giấy Việt Nam năm 2019 (1.000 tấn) 78
Biểu đồ 4.2.Trị giá xuất khẩu - nhập khẩu giấy và thành phẩm giấy thị trường Việt Nam năm 2018 (1.000 USD) 78
Biểu đồ 4.3 Thị trường giấy làm bao bì Việt Nam năm (1.000 tấn) 79
Biểu đồ 4.4 Cơ cấu thị trường giấy làm bao bì Việt Nam năm 2018 (%) 80
Biểu đồ 4.5 Sản lượng bột giấy nhập khẩu về Việt Nam năm 2018 (Đvt: tấn) 81
Biểu đồ 4.6 Lượng nhập khẩu giấy phế liệu về Việt Nam năm 2018 83
Biểu đồ 4.7 Tỷ trọng giấy thu hồi nhập khẩu theo chủng loại năm 2018 83
Biểu đồ 4.8.Tăng trưởng năng lực sản xuất và tiêu thụ tại Châu Á 85
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới hiện nay, đặc biệt khi Việt Nam đã là thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO (World Trade Organization), điều này đã mở ra nhiều cơ hội và cũng đem lại không ít khó khăn thách thức với doanh nghiệp Việt Nam nói chung và Công ty TNHH Nam Long chuyên về sản xuất sản phẩm giấy nói riêng Vì thế để tồn tại và phát triển trong giai đoạn cạnh tranh khốc liệt hiện nay, các doanh nghiệp cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh cho mình Hiện nay, các doanh nghiệp đang xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược phù hợp để giành được các lợi thế cạnh tranh và vững bước đi lên Tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi nhằm thúc đẩy lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm của doanh nghiệp mình [17], [5]
Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Điều này đã mở ra cho các doanh nghiệp Việt Nam những cơ hội lớn để phát triển, song cũng đặt tổng công ty giấy Việt Nam trước những và thách thức lớn của sân chơi toàn cầu Ngay sau khi lộ trình gia nhập AFTA được thực hiện kể từ ngày 1/7/2003 với việc thuế nhập khẩu giảm từ 40% xuống còn 20%, sản xuất giấy trong nước gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt của giấy ngoại nhập khẩu từ Thái Lan, Indonesia, Trung Quốc… ngay trên thị trường nội địa Thách thức ngày càng lớn hơn khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO vào ngày 7/11/2006 làm mức thuế nhập khẩu các loại giấy giảm xuống chỉ còn 20-25% Để tồn tại và phát triển ngành giấy Việt Nam không còn con đường nào khác là phải chủ động nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường [5], [4]
Tỉnh Bắc Ninh, là nơi có nhiều doanh nghiệp giấy phát triển từ quy mô sản xuất hộ gia đình, DN tư nhân, cơ sở sản xuất nhỏ với năng lực sản xuất từ 300 đến 10.000 tấn/năm, công nghệ truyền thống, thiếu tổ chức sản xuất theo quy mô doanh nghiệp hiện đại Phần lớn các DN sản xuất giấy ở Bắc Ninh đang áp dụng công nghệ xeo giấy truyền thống, quy trình sản xuất sản phẩm bị cắt giảm, thiết bị không đồng bộ, một số thiết bị đã được cải tiến nhưng về công nghệ không thay đổi, khả năng tận thu nguồn nguyện liệu còn hạn chế Như vậy, với những yêu cầu về phát triển bền vững với công nghệ xanh đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất giấy phải đầu
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
tư thay đổi công nghệ, tổ chức lại sản xuất mới đứng vững được trên thị trường cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh trong ngành giấy
Là một lãnh đạo chủ chốt của công ty TNHH Nam Long ở khu công nghiệp Phú Lâm của tỉnh Bắc Ninh, đây là công ty được thành lập và phát triển từ xưởng sản sản xuất giấy bìa và giấy bao bì của gia đình, qua thời gian học tập tại trường Đại học Kinh tế và QTKD, với những kiến thức được học tôi nhận thấy việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết Xuất
phát từ những lý do trên tôi quyết định chọn đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh
tranh cho công ty TNHH Nam Long ở KCN Phú Lâm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh” đề nghiên cứu và viết luận văn tốt nghiệp chuyên ngành quản trị Kinh doanh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Nam Long ở khu công nghiệp Phú Lâm, huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh và những nhân tố ảnh hưởng đến sức cạnh tranh sản phẩm giấy của công ty
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu tại Công ty TNHH Nam Long ở khu
công nghiệp Phú Lâm, huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh và một số cửa hàng tiêu thụ sản phẩm giấy của công ty ở thành phố Hà Nội và Hải Phòng
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Phạm vi về thời gian: luận văn sử dụng số liệu thứ cấp của các năm từ 2016
tới 2018 Số liệu sơ cấp được thực hiện khảo sát trong tháng 6 năm 2018
- Phạm vi về nội dung nghiên cứu: để đánh giá năng lực cạnh tranh của công
ty TNHH Nam Long Trong đó nghiên cứu đi so sánh năng lực cạnh tranh của công
ty TNHH Nam Long với Xí nghiệp giấy Quang Huy ở khu công nghiệp Phong Khê,
xã Phong Khê thành phố Bắc Ninh và Công ty TNHH sản xuất giấy và bao bì Việt Thắng ở Xã Phú Lâm, huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh
4 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về lý luận: Góp phần hệ thống cơ sở khoa học về nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty giấy trong giai đoạn hội nhập và cạnh tranh quốc tế sâu rộng
- Về thực tiễn: Báo cáo phân tích đánh giá về thực trạng sản xuất và kinh doanh của công ty TNHH Nam Long, thực trạng năng lực cạnh tranh của sản phẩm giấy trên thị trường là cơ sở, là các gợi ý tốt cho Công ty trong xây dựng chiến lược sản xuất, mở rộng thị trường, đây cũng là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học và cho các công trình nghiên cứu liên quan
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao năng lực cạnh tranh cho
doanh nghiệp
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty TNHH Nam Long ở
khu công nghiệp Phú Lâm, huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh
Chương 4: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty TNHH Nam
Long ở khu công nghiệp Phú Lâm, huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CHO DOANH NGHIỆP
1.1 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh
Đối với một doanh nghiệp bất kỳ khi kinh doanh trên thị trường đều phải trả lời các câu hỏi: Ai là người tạo ra thị trường? và thị trường cần ai? Khi doanh nghiệp huy động được tất cả các nguồn lực của mình để đáp ứng được cái mà thị trường cần nhiều hơn các đối thủ cạnh tranh nghĩa là doanh nghiệp đã có khả năng cạnh tranh trên thị trường Trong nền kinh tế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, thì năng lực cạnh tranh là một khái niệm quan trọng để chỉ khả năng tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế hay doanh nghiệp trên thị trường trong và ngoài nước Hiện nay có rất nhiều khái niệm về năng lực cạnh tranh nhưng dưới đây là một khái niệm cơ bản:
Tại Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã định nghĩa về năng lực cạnh tranh cho cả doanh nghiệp, ngành và quốc gia như sau: “Năng lực cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế” [23] Theo diễn đàn này, năng lực cạnh tranh có thể được phân biệt thành ba cấp độ: (1) Năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia, (2) Năng lực cạnh tranh cấp độ ngành/sản phẩm, (3) Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Ba cấp độ này có mối liên quan mật thiết với nhau, phụ thuộc lẫn nhau Do đó, khi xem xét, đánh giá và đề ra giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung, của doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng cần thiết phải đặt vấn đề này trong mối tương quan chung giữa các cấp độ năng lực cạnh tranh nêu trên
Đối với Năng lực cạnh tranh của quốc gia, theo định nghĩa của Diễn đàn kinh
tế thế giới (WEF-World Economic Forum) thì năng lực cạnh tranh của một quốc gia
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
là khả năng đạt được và duy trì mức tăng trưởng nền kinh tế cao trên cơ sở các chính sách, thể chế tương đối bền vững và các đặc trong kinh tế khác [25] Nó được xác định bởi các nhóm nhân tố sau: Mức độ mở của nền kinh tế (bao gồm mở cửa thương mại và đầu tư); Vai trò và năng lực của Chính phủ; Tài chính tín dụng; Khoa học và công nghệ; Cơ sở hạ tầng; Quản lý kinh doanh; Lao động; Thể chế…Khái niệm này cho thấy năng lực cạnh tranh của quốc gia được xác định trước hết bằng mức độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân và sự có mặt hay thiếu vắng của các yếu tố quy định khả năng tăng trưởng kinh tế dài hạn trong các chính sách kinh tế
đã thực hiện Tuy nhiên, khái niệm này không bao hàm được tất cả các khía cạnh về giá trị gia tăng, không phản ánh được nguyên nhân tạo ra sức cạnh tranh và kết quả của cạnh tranh
Một số nhà kinh tế khác lại đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của quốc gia dựa trên năng suất lao động (M Porter), ông cho rằng "Khái niệm có ý nghĩa nhất
về năng lực cạnh tranh ở cấp quốc gia là năng suất lao động" [32], hay là dựa trên tỷ
lệ tăng trưởng thu nhập thực tế
Như vậy, đa số các khái niệm đều chấp nhận năng lực cạnh tranh ở tầm quốc gia phụ thuộc vào khả năng khai thác cơ hội trên thị trường Do đó có thể hiểu, năng lực cạnh tranh của quốc gia là năng lực của một nền kinh tế có thể tạo ra tăng trưởng bền vững trong môi trường kinh tế đầy biến động của thị trường thế giới
Về quan niệm năng lực cạnh tranh của sản phẩm, theo quan điểm quản trị chiến lược của Michael Porter [11]: “Năng lực cạnh tranh có thể hiểu là khả năng chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ các sản phẩm cùng loại hay sản phẩm thay thế” Khái niệm về năng lực cạnh tranh của sản phẩm được xem xét thông qua lợi thế so sánh
về chi phí sản xuất và năng suất của doanh nghiệp này so với doanh nghiệp khác, của quốc gia này so với quốc gia khác Với tư cách tiếp cận của mỗi quốc gia dù lớn hay nhỏ khả năng cạnh tranh của hàng hóa được quyết định bởi yếu tố sau:
- Yếu tố liên quan đến nguyên, nhiên liệu
- Yếu tố khoa học kỹ thuật
- Giá thành sản phẩm
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Chất lượng sản phẩm
- Năng suất lao động
Như vậy, khả năng cạnh tranh của sản phẩm là khả năng tạo nên sản phẩm đó
để khi đưa ra thị trường nó có thể chiếm ưu thế hơn so với các sản phẩm khác (có khả năng cạnh tranh) hoặc bị các sản phẩm cùng loại khác đánh gục từ đó hàng hóa không tiêu thụ được (sản phẩm không có khả năng cạnh tranh hay khả năng cạnh tranh kém), một sản phẩm được tạo ra khi đưa ra thị trường mà nó đáp ứng được đủ các đặc tính, công dụng,… sẵn có và được nhiều người tiêu dùng có nhu cầu
Có thể thấy hàng hóa gắn liền với các hoạt động của doanh nghiệp và uy tín của mỗi quốc gia, như khi mà hàng hóa được thị trường chấp nhận tức là hàng hóa
đó tồn tại trên thị trường từ đó nó sẽ giúp cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, nếu hàng hóa không được thị trường chấp nhận tức là hàng hóa đó đã bị bão hòa trên thị trường hay thị trường đã phế thải vì thế mà hoạt động của doanh nghiệp gặp khó khăn [9], [10], [12]
Đối với các quốc gia, hàng hóa sẽ tạo uy tín cho quốc gia đó trên thị trường,
cụ thể khi nói đến xuất khẩu gạo thì người ta nghĩ ngay đến Thái Lan, Việt Nam,… còn nói đến cà phê là Braxin, dầu mỏ là Irắc,…[8] Vì vậy, muốn tạo được khả năng cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường thì buộc chúng ta phải nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm nhằm:
+ Giúp doanh nghiệp tồn tại và đứng vững trên thị trường
+ Giúp cho doanh nghiệp thực hiện mục tiêu phát triển
+ Giúp quốc gia tạo dựng môi trường kinh tế chung ổn định và công bằng
Quan niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Khái niệm NLCT (NLCT) được đề cập đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm
1980 Theo Aldington Report (1985), “Doanh nghiệp có khả năng caṇh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế Khả năg cạnh tranh đồng nghĩa với việc đaṭ được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp” [23]
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Theo Tổ chức hợp tác và phát triển (OECD), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng có hiệu quả các đầu vào sản xuất để cho doanh nghiệp có thể phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh
Theo Buckley (1988), NLCT của DN cần được gắn kết với việc thực hiện mục tiêu của DN với 3 yếu tố: các giá trị chủ yếu của DN, mục đích chính của DN
và các mục tiêu giúp các DN thực hiện chức năng của mình [8], [2]
Theo Lê Đăng Doanh (2015), Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận cho doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước [2]
Những định nghĩa trên cho thấy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ khả năng, thực lực của doanh nghiệp Một doanh nghiệp được coi là có NLCT khi doanh nghiệp đó dám chấp nhận việc giành những điều kiện thuận tiện có lợi cho chính doanh nghiệp Doanh nghiệp cần phải có tiềm lực
đủ mạnh để đảm bảo đứng vững trong cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên nhiều yếu tố như: giá trị sử dụng và chất lượng sản phẩm cao, điều kiện sản xuất ổn định do sản xuất dựa chủ yếu trên cơ sở kỹ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến, quy mô sản xuất lớn và nhờ đó giá thành và giá cả sản phẩm hạ Các yếu tố xã hội như giữ được tín nhiệm (chữ tín) trên thị trường, việc tuyên truyền, hướng dẫn tiêu dùng, quảng cáo cũng có ảnh hưởng quan trọng hiện nay các nhà sản xuất còn sử dụng một
số hình thức như bán hàng trả tiền dần (trả góp) để kích thích tiêu dùng, trên cơ
sở đó tăng năng lực cạnh tranh
Tuy nhiên, để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thì không chỉ đơn thuần đánh giá các yếu tố thuộc bản thân doanh nghiệp mà điều quan trọng là phải đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối thủ cạnh tranh
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng chịu ảnh hưởng bởi yếu tố môi trường kinh doanh và sự biến động khôn lường của nó, cùng một sự thay đổi của môi trường kinh doanh có thể là cơ hội phát triển cho doanh nghiệp này cũng có thể
là nguy cơ phá sản các doanh nghiệp khác
Doanh nghiệp xuất nhập khẩu hoạt động kinh doanh trong một phạm vi rộng lớn hơn các doanh nghiệp chỉ kinh doanh trong nước, chịu ảnh hưởng của rất nhiều quy định của các thị trường khác nhau Nhờ có được khả năng vượt trội so với các doanh nghiệp khác trong việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp mình phục vụ nhu cầu tiêu thụ tại thị trường nước ngoài hoặc cho khách hàng nước ngoài tại nước mình (xuất khẩu tại chỗ) mà doanh nghiệp xuất khẩu dành được thị phần tiêu thụ ngày một lớn, tăng thu nguồn thu ngoại tệ
Tóm lại, một khái niệm NLCT của DN phù hợp nhất trong bối cảnh hiện tại có thể là khả năng duy trì và nâng cao LTCT trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững Quan trọng là, NLCT không phải là chỉ tiêu đơn nhất
mà mang tính tổng hợp, gồm nhiều chỉ tiêu cấu thành và có thể xác định được cho nhóm DN (ngành) và từng DN
Trong nghiên cứu này, tác giả sẽ sử dụng quan niệm về Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp Đây là quan niệm khá phổ biến hiện nay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ so với đối thủ và khả năng “thu lợi” của doanh nghiệp Đặc biệt khi tiếp cận năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, cần chú ý tới các vấn đề cơ bản sau: Một là, trong điều kiện kinh tế thị trường, phải lấy yêu cầu của khách hàng là chuẩn mực đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Hai là, yếu tố cơ bản tạo nên sức mạnh trong việc lôi kéo khách hàng phải là thực lực của doanh nghiệp
1.1.2 Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang thúc đẩy mạnh mẽ, sâu sắc quá trình chuyên môn hóa và hợp tác quốc tế, nhất là giai đoạn cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đã nổ ra, lực lượng sản xuất lớn mạnh, được quốc tế hóa Công nghệ thông
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
tin, số hóa, rô bốt, trí tuệ nhân tạo ra đời làm cho nền kinh tế thế giới gắn bó, đa cực, ràng buộc lẫn nhau dẫn tới không một quốc gia nào, một nền kinh tế nào muốn phát triển mà có thể tách rời khỏi hệ thống kinh tế thế giới, không hòa nhập vào sự vận động chung của nền kinh tế thế giới Trong quá trình hội nhập, các nước tham gia đều phải tuân theo những luật chơi chung khá phức tạp được thể hiện trong nhiều điều ước quốc tế [2]:
Một là, thương mại gồm các hàng hóa và dịch vụ thông thường, lĩnh vực đầu
tư bản quyền, tư vấn, sở hữu trí tuệ…nói cách khác hàng hóa là đa dạng, cả phần cứng và phần mềm
Hai là, khi gia nhập các tổ chức kinh tế thế giới, các quốc gia đều phải giảm thiểu, thậm chí xóa bỏ các hàng rào thuế quan
Ba là, nhà nước không được bao cấp cho doanh nghiệp, chỉ đối với nông sản thì được phép bao cấp ở một số khâu hỗ trợ sản xuất
Năm là, việc mở cửa thị trường cho các doanh nghiệp nước ngoài đến đầu tư và kinh doanh là bắt buộc Không phân biệt doanh nghiệp trong nước hay ngoài nước
Vì vậy, việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp và sự phát triển của doanh nghiệp có sự tương hỗ lẫn nhau Thực vậy, khi năng lực cạnh tranh được nâng lên thì doanh nghiệp có cơ hội canh tranh với các doanh nghiệp khác, thúc đẩy nhanh quá trình hội nhập của doanh nghiệp Ngược lại khi doanh nghiệp
đã hội nhập vững chắc, vị thế đó cũng sẽ giúp cho doanh nghiệp có thêm sức mạnh cạnh tranh Trong giai đoạn hiện nay, hội nhập là tất yếu, là cơ hội cũng là thách thức lớn đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh của mình
1.1.3 Các mô hình lý thuyết về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.1.3.1 Lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT
Có nhiều khung lý thuyết dùng để nghiên cứu và phân tích NLCT ở cấp độ
DN Trong đó, lý thuyết nguồn lực cạnh tranh đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như tại Việt Nam sử dụng, để phân tích các yếu tố góp phần tạo nên NLCT của DN trong môi trường kinh doanh có nhiều thay đổi [1], [5] Lý thuyết
về nguồn lực của DN tập trung phân tích cạnh tranh dựa vào các yếu tố bên trong được thể hiện ở nhiều dạng khác nhau Grant (1991) chia chúng ra thành hai nhóm:
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
hữu hình và vô hình, trong đó, nguồn lực hữu hình bao gồm nguồn lực về tài chính như vốn tự có và khả năng vay vốn của DN; nguồn vật chất hữu hình bao gồm những tài sản sản xuất hữu hình của DN có thể đem lại lợi thế về chi phí sản xuất như qui mô, vị trí, tinh vi về kỹ thuật, tính linh hoạt của nhà máy sản xuất, của trang thiết bị, nguyên vật liệu đầu vào,… Nguồn lực vô hình bao gồm công nghệ, danh tiếng, và nhân lực của DN Nguồn lực về công nghệ bao gồm sở hữu trí tuệ, bằng phát minh, sáng chế,… Nguồn lực về danh tiếng bao gồm việc sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng về dịch vụ, chất lượng, độ tin cậy, thiết lập được mối quan hệ tốt với khách hàng, nhà cung cấp, ngân hàng, chính quyền,… Nguồn lực về nhân sự bao gồm kiến thức, kỹ năng của nhân viên, khả năng thích hợp của nhân viên với tính linh hoạt trong chiến lược, lòng trung thành của nhân viên,…Lý thuyết nguồn lực liên tục được phát triển và được mở rộng trong thị trường động và hình thành nên
lý thuyết năng lực động Eisenhardt & Martin (2000) đã chỉ ra rằng nguồn lực có thể trở thành năng lực động là những nguồn lực thỏa mãn bốn đặc điểm, đó là: có giá trị, hiếm, khó thay thế, và khó bị bắt chước, thường gọi tắt là VRIN (Valuable, Rare, Inimitable, Nonsubstitutable) [26] Có rất nhiều nghiên cứu về các yếu tố có khả năng tạo nên nguồn năng lực động của DN và ảnh hưởng đến NLCT, như:
định hướng thị trường và định hướng học hỏi của DN (Celuch, 2002); năng lực sáng
tạo (Hult, 2004) [27]; chất lượng mối quan hệ, nguồn nhân lực, nguồn lực vật chất (Nguyễn Thị Mai Trang, 2004) [29]; định hướng toàn cầu, hợp tác quốc tế, tri thức
về thị trường quốc tế, khả năng phản ứng với thị trường quốc tế (Yeniyurt, Cavusgil & Hult, 2005) [33] Tại Việt Nam, đã có một số nghiên cứu về mức độ ảnh hưởng của nguồn năng lực động đến NLCT của các DN Cụ thể, Hồ Trung Thành (2012) đã đề xuất các tiêu chí đánh giá NLCT động của các DN ngành Công thương gồm: năng lực sáng tạo, định hướng học hỏi, sự hội nhập toàn diện, năng lực marketing, định hướng kinh doanh và kết quả kinh doanh [16] Trong nghiên cứu của Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2009) về năng lực động đã cho thấy các nhân tố định hướng kinh doanh, năng lực marketing, kết quả kinh doanh, năng lực sáng tạo, định hướng học hỏi, kỳ vọng cơ hội WTO, nguồn lực tài chính, năng lực nghiên cứu và phát triển có ảnh hưởng đến NLCT của các DN trên địa bàn
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
TP Hồ Chí Minh [18] Huỳnh Thị Thúy Hoa (2009) thực hiện nghiên cứu về mô hình NLCT động của DN Siemens Việt Nam đã chứng minh năm nhân tố là năng lực marketing, định hướng kinh doanh, năng lực sáng tạo, năng lực tổ chức dịch vụ
và danh tiếng DN có ảnh hưởng đến NLCT động của DN này [6] Tóm lại, có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến NLCT của DN, trong đó các nhân tố: (1) mối quan hệ, (2) năng lực marketing, (3) danh tiếng doanh nghiệp, (4) năng lực nghiên cứu và phát triển, (5) nguồn nhân lực, (6) các nguồn lực vật chất, (7) năng lực điều hành quản
lý, và (8) năng lực tài chính đã được chứng minh là có ảnh hưởng quan trọng đến NLCT của các DN Việt Nam Vì thế, trong nghiên cứu này 8 nhân tố trên được tác giả đưa vào mô hình phân tích để đánh giá NLCT theo các yếu tố thành phần của
các Công ty giấy Nam Long tại tỉnh Bắn Ninh
1.1.3.2 Các yếu tố so sánh khả năng cạnh tranh so với đối thủ chính
Bên cạnh việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT của các DN KTTN
tại Cần Thơ, nghiên cứu còn đánh giá khả năng cạnh tranh của các DN này so với đối thủ cạnh tranh chính Một phương pháp có thể sử dụng để đánh giá khả năng cạnh tranh của các DN là đồ thị đa giác cạnh tranh Đa giác này mô tả khả năng của DN theo các yếu tố trong mối quan hệ so sánh với các đối thủ cạnh tranh, hoặc một tập hợp các đối thủ cạnh tranh để xây dựng một phân tích về khả năng cạnh tranh của DN Khi chồng sơ đồ này lên nhau ta có thể thu được nhanh chóng những
ưu thế tương đối của DN so với đối thủ của mình Micheal E Porter (1990) cho rằng, DN có NLCT cao thì có thể có những ưu thế sau so với các DN cùng ngành khác, như [11]:
(1) Thị phần: được tính bằng giá trị hay số lượng Các DN dẫn đầu thường có mức doanh thu và thị phần cao
(2) Quy mô hoạt động: được đo lường thường xuyên để đánh giá mức độ tăng trưởng hay suy giảm của DN trên thị trường
(3) Uy tín, hình ảnh doanh nghiệp: được đo lường bằng độ nhận biết cũng như độ trung thành thương hiệu
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
(4) Chất lượng sản phẩm: tính năng sản phẩm vượt trội, tốt hơn, đáng tin cậy, vận hành tốt hơn,
(5) Đáp ứng yêu cầu khách hàng: dịch vụ hỗ trợ bán hàng tốt hơn, cách xử lý
sự cố hay than phiền từ khách hàng…
(6) Giá thành sản phẩm: chi phí sản xuất sản phẩm thấp hơn, cạnh tranh hơn các DN cùng ngành
(7) Hiệu quả mạng lưới bán hàng: tạo ra nhóm khách hàng và nguồn thông tin
mà có thể trực tiếp làm tăng chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ của DN
(8) Đầu tư cho chiêu thị: là một chuỗi các hoạt động với mục đích làm cho khách hàng nhớ đến thương hiệu, sản phẩm, làm cho khách hàng yêu thích và sử dụng sản phẩm của DN, do đó làm tăng khả năng cạnh tranh của DN so với các đối thủ
(9) Năng lực nghiên cứu và phát triển: để nhanh chóng đáp ứng nhu cầu thị trường và sở thích của người tiêu dùng, đồng thời có thể nhanh chóng sửa đổi cải tiến sản phẩm theo phản ứng của khách hàng, không những giảm giá thành, mà còn đem đến cho người tiêu dùng những sản phẩm tốt hơn
(10) Năng lực quản lý và điều hành: để đề ra những chiến lược hiệu quả đáp ứng
sự thay đổi của môi trường kinh doanh Tóm lại, có thể xem 10 yếu tố trên thể hiện rõ nét những ưu thế của DN trong cùng ngành, nên nghiên cứu này sử dụng để đánh giá khả năng cạnh trạnh của công ty giấy Nam Long so với các đối thủ chính
1.1.4 Nội dung nâng cao Năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp
1.1.4.1 Nâng cao khả năng cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm là công cụ cạnh tranh quan trọng của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Người tiêu dùng chủ yếu quan tâm đến chất lượng khi lựa chọn một sản phẩm nào đó, họ sẵn sàng trả giá cao hơn để mua những sản phẩm
có chất lượng tốt hơn Chất lượng sản phẩm càng cao thì mức độ thoả mãn nhu cầu càng tăng và sản lượng tiêu thụ tăng Do đó, khả năng cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp càng tăng lên, đồng thời chất lượng sản phẩm sẽ nâng cao uy tín cho doanh nghiệp trên thị trường Để sản phẩm của công ty luôn là sự lựa chọn cho khách hàng ở hiện tại và trong tương lai thì nâng cao chất lượng sản phẩm là điều
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
cần thiết Vì thế, doanh nghiệp chỉ lo nâng cao chất lượng sản phẩm mà không tính đến nhu cầu mới của khách hàng thì chẳng bao giờ vượt qua được những mục tiêu
mà doanh nghiệp đề ra cho hoạt động kinh doanh Do đó, cần tạo ra năng lực cạnh tranh bằng cách cải tiến tính năng hình dáng sản phẩm yếu tố đầu tiên tác động đến tâm lý người tiêu dùng [14], [13]
1.1.4.2 Nâng cao khả năng cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm
Giá cả là số tiền mà khách hàng phải bỏ ra để có được sản phẩm Giá cả sản phẩm là một trong những yếu tố cơ bản quyết định sự lựa chọn của người mua Từ lâu, nó đã trở thành một biến số mà các doanh nghiệp cũng như các quốc gia làm chiến thuật phục vụ cho mục đích kinh doanh (tăng doanh số, thị phần, tối đa hóa lợi nhuận và đảm bảo sự tồn tại của doanh nghiệp) Nhiều doanh nghiệp thành công trong việc chiếm lĩnh thị trường nhờ sử dụng khéo léo, tài tình chiến thuật giá cả Việc định giá cho sản phẩm phụ thuộc vào lượng cầu đối với sản phẩm và chi phí
để sản xuất ra sản phẩm đó Nếu giá cả vượt quá lượng giá trị thì người tiêu dùng sẽ
không mua sản phẩm và ngược lại [16]
1.1.4.3 Nâng cao khả năng cạnh tranh trên cơ sở chiến lược, chiến thuật và các chiêu thức khác để tiêu thụ sản phẩm
Đối với mỗi doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường, sản xuất tốt chỉ mới là điều kiện cần chứ chưa đủ để khẳng định khả năng tồn tại và phát triển của mình, mà còn phải biết tổ chức các kênh phân phối, đó là những hoạt động khác nhau của doanh nghiệp nhằm đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng mà Doanh nghiệp đang muốn hướng đến Mỗi Doanh Nghiệp đều phải xác định những phương án phân phối để hướng tới thị trường Trong phân phối hàng hóa vấn đề vận tải, kho bãi, lưu kho, nhập và xuất hàng cũng cần được chú ý Và có thể nói rằng nhiệm vụ chung của phân phối là cung cấp đúng mặt hàng, đúng nơi, đúng lúc và chi phí thấp nhất [16], [15] Thông thường sản phẩm của doanh nghiệp được tiêu
thụ thông qua các các phương thức phân phối như sau:
- Phân phối sản phẩm rộng khắp
- Phân phối sản phẩm chọn lọc
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Phân phối sản phẩm tập trung vào thị trường mục tiêu và truyền thống
1.1.4.4 Nâng cao năng lực cạnh tranh bằng dịch vụ bán hàng (tiếp thị, cổ động)
Là các hoạt động bao gồm quảng cáo, khuyến mãi, chào hàng và tuyên truyền nhằm cung cấp những thông tin có sức thuyết phục và mục đích kích thích các khách hàng mục tiêu mua sản phẩm của doanh nghiệp Hoạt động chiêu thị, cổ động phải làm cho khách hàng “Biết, Hiểu, Thích, Chuộng, Tin, Mua” Trong thực tế hoạt động kinh doanh, dịch vụ hỗ trợ sản phẩm đang trở thành chiến trường chính giành giật ưu thế cạnh tranh
1.1.4.5 Nâng cao hình ảnh Doanh nghiệp
Hình ảnh doanh nghiệp là cách nhận thức tổng quát về doanh nghiệp của công chúng Tạo một hình ảnh tốt đẹp và sâu sắc trong nhận thức giúp họ đánh giá cao về sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp hơn các đối thủ cạnh tranh Một hình ảnh có tính đặc trưng nhất định, phải truyền đạt những thông tin độc đáo, nêu lên những nét chính của sản phẩm, phải có sức truyền cảm đi sâu vào tâm trí của người mua
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Mô hình Kim cương của M Porter [11] chỉ ra rằng có ít nhất 6 nhóm yếu tố tác động tới NLCT của DN: (1) “ngữ cảnh” của DN, (2) điều kiện cầu (thị trường), (3) điều kiện yếu tố (nguồn lực đầu vào), (4) các ngành cung ứng và liên quan (cạnh tranh ngành), (5) các yếu tố ngẫu nhiên và (6) yếu tố nhà nước Tuy nhiên, các yếu
tố trên cũng có thể được chia thành hai nhóm: (1) các yếu tố bên trong DN và (2) các yếu tố bên ngoài DN
1.1.5.1 Các yếu tố bên trong DN
Một là, trình độ và năng lực tổ chức quản lý của DN: Trình độ và năng lực tổ
chức quản lý của DN thể hiện ở: (1) áp dụng phù hợp phương pháp quản lý hiện đại; (2) trình độ chuyên môn cũng như những kiến thức của đội ngũ cán bộ quản lý của DN; (3) trình độ tổ chức quản lý DN, thể hiện ở việc phân công nhiệm vụ, sắp xếp bố trí nhân sự cho phù hợp với công việc
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Hai là, trình độ thiết bị, công nghệ: Nếu DN ứng dụng thiết bị, công nghệ phù
hợp sẽ cho phép rút ngắn thời gian sản xuất, tăng năng suất lao động, hạ giá thành nhưng vẫn nâng cao chất lượng sản phẩm Ngoài ra, công nghệ mới và phù hợp còn giúp DN nâng cao trình độ cơ khí hóa, tự động hóa của DN
Ba là, trình độ lao động trong DN: Lao động là lực lượng sử dụng công nghệ,
điều khiển các thiết bị để sản xuất ra sản phẩm hàng hóa Thêm vào đó, lao động còn là lực lượng tham gia vào việc cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa quá trình sản xuất
và đôi khi còn là lực lượng tạo ra cái mới…
Bốn là, năng lực tài chính của DN: Năng lực tài chính của DN thể hiện ở quy
mô vốn, khả năng huy động và sử dụng hiệu quả nguồn vốn huy động… Việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn sẽ giúp DN tiết kiệm chi phí sử dụng vốn Ngoài ra, năng lực tài chính thể hiện ở “vốn” của DN còn thể hiện sức mạnh kinh tế của DN, thể hiện chỗ đứng của DN trên thương trường
Năm là, khả năng liên kết và hợp tác với DN khác và hội nhập kinh tế quốc tế:
Khả năng liên kết và hợp tác của DN thể hiện ở việc nhận biết các cơ hội KD mới, chọn đúng đối tác để liên minh và vận hành hoạt động của liên minh một cách hiệu quả, đạt được mục tiêu đặt ra Nếu DN không thể hoặc ít có khả năng liên minh hợp tác với các đối tác khác thì không những bỏ lỡ nhiều cơ hội KD mà còn có mối đe dọa nếu đối thủ cạnh tranh nắm bắt cơ hội ấy
Sáu là, trình độ năng lực marketing: Năng lực marketing thể hiện ở khả năng
nắm bắt nhu cầu thị trường, khả năng thực hiện năng lực 4P (Product, Place, Prize, Promotion) trong hoạt động marketing, năng lực của nguồn nhân lực marketing Nó giúp khách hàng tiếp cận sản phẩm của DN, tác động tới khả năng tiêu thụ sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng, từ đó góp phần làm tăng doanh thu, tăng thị phần của DN và tăng vị thế của DN trên thị trường trong nước và quốc tế
Bảy là, trình độ nghiên cứu phát triển của DN: Đây là yếu tố đóng vai trò quan
trọng trong việc cải tiến kỹ thuật, cải tiến mẫu mã và chất lượng sản phẩm, nâng cao năng suất và hợp lý hóa sản xuất Trong điều kiện hiện nay, khi mà khoa học công nghệ phát triển nhanh như vũ bão thì yếu tố này lại càng tác động mạnh mẽ đến
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
NLCT của DN, bởi vì nếu không chịu đổi mới thì sản phẩm của DN chắc chắn sẽ trở nên lỗi thời, không thể cạnh tranh cùng các sản phẩm cùng loại trên thị trường
1.1.5.2 Các yếu tố bên ngoài DN
Một là, thị trường: Đây chính là môi trường KD của DN Thị trường chính là
nơi tiêu thụ sản phẩm, đồng thời cũng là nơi để DN tìm kiếm các yếu tố đầu vào Ngoài ra, thị trường còn là công cụ định hướng giúp DN đưa ra các chiến lược KD
Hai là, thể chế- chính sách: Thể chế - chính sách là nền tảng cho sự chấp hành
chính sách pháp luật của DN Nội dung của thể chế - chính sách bao gồm từ các quy định về pháp luật, chính sách về đầu tư, tài chính, đất đai, công nghệ, thị trường…, đến các hàng hóa, dịch vụ, địa bàn… được khuyến khích hay bị hạn chế đầu tư KD Tóm lại, đó là tất cả các biện pháp điều tiết cả đầu vào lẫn đầu ra cũng như toàn bộ quá trình hoạt động của DN
Ba là, kết cấu hạ tầng: Kết cấu hạ tầng bao gồm cả hạ tầng vật chất – kỹ thuật
lẫn hạ tầng xã hội như hệ thống giao thông, mạng lưới điện, hệ thống thông tin, hệ thống giáo dục đào tạo… Đây là tiền đề quan trọng, tác động mạnh tới hoạt động của DN, ảnh hưởng đến giá cả của sản phẩm dịch vụ
Bốn là, các ngành công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ Khi trình độ sản xuất càng hiện
đại thì sự phụ thuộc lẫn nhau càng nhiều Chẳng hạn, các chi tiết và các bộ phận của một chiếc máy bay Boing được sản xuất ở nhiều nước khác nhau Các ngành công nghiệp hỗ trợ không những tác động đến thời gian, năng suất mà còn tác động đến giá cả của sản phẩm
1.2 Phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2.1 Khả năng duy trì và mở rộng thị phần của doanh nghiệp
Đây là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh NLCT theo kết quả đầu ra của doanh nghiệp, cho đù đó là cạnh tranh trong nước hay cạnh tranh quốc tế Tiêu chí này gồm hai tiêu chí thành phần là thị phần và tốc độ tăng thị phần của doanh nghiệp Thị phần là tiêu chí thể hiện vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp
có thị phần lớn hơn các doanh nghiệp khác thì có nghĩa là năng lực cạnh tranh của doanh nó lớn hơn Tiêu chí này thường được đo bằng tỷ lệ doanh thu hay số lượng
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
sản phẩm tiêu thụ của doanh nghiệp trong một giai đoạn nhất định so với tổng số doanh thu hay sản lượng tiêu thụ trên thị trường
1.2.2 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Là chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động của DN Do nhiệm vụ cơ bản của DN
là sản xuất - kinh doanh nên nếu sản phẩm của DN có sức cạnh tranh thấp thì sức cạnh tranh của DN không thể cao được Năng lực cạnh tranh của sản phẩm DN dựa trên các yếu tố cơ bản như: chất lượng sản phẩm cao, giá cả hợp lí, mẫu mã hợp thời, đáp ứng nhu cầu khác hàng
- Chất lượng sản phẩm là một chỉ tiêu tổng hợp gồm các nhóm chỉ tiêu thành phần: các chỉ tiêu kinh tế (chi phí sản xuất, chi phí đảm bảo chất lượng, chi sử dụng, chi phí môi trường) và các chỉ tiêu kỹ thuật (công dụng, thẩm mỹ, an toàn - vệ sinh, tiện dụng) Phần lớn các chỉ tiêu này được so sánh với tiêu chuẩn của ngành, của quốc gia và quốc tế Các chĩ tiêu kỹ thuật cụ thể rất khác nhau đối với các hàng hoá khác nhau Chẳng hạn, các tiêu chuẩn kỹ thuật của máy thu hình là độ nhạy của các kênh, độ sáng và mức độ trung thực của màu, độ ồn, mức độ chống nhiều trong khi tiêu chuẩn này đối với máy cắt gọt kim loại là độ chính xác gia công, độ an toàn
sử dụng, độ cứng vững Một số chỉ tiêu như tiêu về thẩm mỹ, tiên dụng thường được xác định thông qua điều tra khách hàng
- Giá cả sản phẩm: cho đến nay, đây vẫn là yếu tố rất quan trọng cấu thành năng lực cạnh tranh của sản phẩm Nếu có cùng chất lượng như nhau thì hàng hoá
có giá cả thấp hơn sẽ có lợi thế cạnh tranh lớn hơn Điều này không chỉ có ở các nước đang phát triển mà cả ở những nước phát triển Giá cả hàng hoá là chỉ tiêu tổng hợp Để sản xuất hàng hoá ở mức giá thấp, cần có một số điều kiện như: có lợi thế về nguồn lực hoặc/ và sử dụng nguồn lực có hiệu quả, trình độ công nghệ phù hợp, tổ chức sản xuất tốt, tiết kiệm chi phí, khai thác tối đa thiết bị, công nghệ Chỉ tiêu này được xác định trèn cơ sở so sánh giá giữa các hàng hoá cùng loại hoạc lương đương Khi có sự khác biệt về chất lượng thì giá cả luôn được đặt trong sự so sánh với ích lợi do hàng hoá mang lại, độ bền, thẩm mỹ [8], [14]
- Mức độ đáp ứng nhu cầu của khách hàng là chỉ tiêu thể hiện việc cung cấp cho khách hàng đúng hàng hoá, đúng thời điểm với giá cả hợp lí Để đây là một chỉ
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
tiêu định tính, phản ánh khả năng kinh doanh, uy tín của doanh nghiệp Để cung cấp
"đúng" đồi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức tốt, bảo đảm các nguồn lực (như nguyên nhiên liệu, thiết bị) ổn định, kiểm soát chất lượng tốt Chỉ tiêu này được xác định thông qua điều tra khách hàng
- Dịch vụ đi kèm: bao gồm việc hướng dẫn sử dụng, theo dõi sử dụng, bảo trì, bảo hành Dịch vụ sau bán hàng là một yếu tố quan trọng tạo niềm tin cho khách hàng, củng cố và phát triển quan hệ với khách hàng, nhờ đó để nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá
1.2.3 Năng lực duy trì và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Tiêu chí này thể hiện qua một số chỉ tiêu như: tỷ suất lợi nhuận, chi phí trên đơn vị sản phẩm v.v
- Tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp là một chỉ tiêu tổng hợp, được tính bằng trị số tuyệt đối (chẳng hạn, bao nhiêu đồng lợi nhuận trên một đơn vị đầu vào) hoặc
số tương đối (tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp so với tỷ suất lợi nhuận trung bình của ngành hoặc thị trường) Đối với doanh nghiệp, lợi nhuận không chỉ là mục tiêu chủ yếu, mà còn là tiền đề cho sự tồn tại và phát triển Do vậy, đây là tiêu chí thể hiện mức độ đạt được mục tiêu hoạt động, phản ánh mặt chất lượng của năng lực cạnh tranh [14], [18]
Ngoài ra, để đánh giá đúng khả năng duy trì hiệu quả kinh doanh, người ta thường tính thêm chỉ số biến động tỷ suất lợi nhuận qua một số năm
- Chi phí đơn vị sản phẩm: chỉ tiêu này phản ánh lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp Chi phí đơn vị sản phẩm thấp hơn phản ánh năng lực cạnh b anh của doanh nghiệp cao hơn
- Chỉ số hiệu quả kỹ thuật: là chỉ số đo mức độ sử dụng, khai thác các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp Chỉ tiêu này được đo bằng tỷ lệ sản lượng thực tế của doanh nghiệp so với sản lượng tiềm năng hay sản lượng tối đa khi doanh nghiệp sử dụng hết các yếu tố đầu vào Việc đo lường chỉ tiêu này có thể dựa trên mô hình của Farrel (1957) [16] như công thức
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Doanh nghiệp có hệ số kỹ thuật (TE) cao hơn sẽ có năng lực cạnh tranh cao hơn, tức là thể hiện năng lực sử dụng các yếu tố đầu vào (kỹ thuật) tốt hơn, hiệu quả hơn
1.2.4 Năng suất các yếu tố sản xuất
Các chỉ tiêu năng suất thường được sử dụng bao gồm năng suất lao động, hiệu suất sử dụng vốn, năng suất yếu tố tổng hợp, Năng suất phản ánh lượng sản phẩm đầu ra so với đơn vị yếu tố đầu vào, là chỉ tiêu phản ánh năng lực khai thác,
sử dụng các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp Đồng thời, chỉ tiêu này còn phản ánh năng lực đáp ứng nhu cầu cua khách hàng, chi phí trên đơn vị sản phẩm và đơn vị thời gian [2] Do đó, năng suất phản ánh mặt lượng của năng lực cạnh tranh doanh nghiệp Năng suất các yếu tố được thể hiên bằng các chỉ tiêu cụ thể sau:
- Năng suất lao động: chí tiêu tổng hợp phản ánh trình độ tổ chức sản xuất - kinh doanh, năng lực sử dụng các yếu tố sản xuất, trình độ công nghệ Năng suất lao động được đo bằng tỷ số giữa doanh thu thuần và số lao động trung bình trong kỳ.; Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng lực cạnh tranh, chỉ tiêu này càng cao thể hiện năng lực tranh càng cao
- Hiệu suất sử dụng vốn là tỷ lệ giữa doanh thu thuần trên vốn kinh doanh (hoặc vốn cố định và đầu dài hạn) của doanh nghiệp
- Năng suất sử dụng toàn bộ tài sản là tỷ số giữa doanh thu thần trên tổng tài sản hay tổng vốn đầu tư của doanh nghiệp
- Năng suất yếu tố tổng hợp (TFP): là năng suất của các yếu tố ngoài vốn và lao động, thường được hiểu là năng suất của yếu tố khoa học, công nghệ Chỉ số này phản ánh trình độ công nghệ, hàm lượng chất xám trong sản phẩm của doanh nghiệp Trong nền kinh tế hiện đại, đây là chỉ tiêu rất quan trọng của năng lực cạnh tranh doanh nghiệp
1.2.5 Khả năng thích ứng và đổi mới của doanh nghiệp
Kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường theo xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế với nhiều biến động đòi hỏi doanh nghiệp có khả năng thích ứng cao và đổi mới nhanh chóng Đây là một chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh "động" của doanh nghiệp Doanh nghiệp phải thích ứng với sự thay đổi của thị trường trong nước và quốc tế (sở thích, nhu cầu, giá cả, chất lượng, mẫu mã ) và
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
sự thay đổi trong môi trường kinh doanh như chính sách của nhà nước, sự thay đổi của các đối tác kinh doanh, đối thủ cạnh tranh Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải phản ứng linh hoạt, điều chỉnh linh hoạt và hiệu quả Đây được coi là tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, do đó đây cũng là một trong những chí tiêu quan trọng nhất tạo ra lợi thế cạnh tranh và phản ánh năng lực cạnh của doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay Chỉ tiêu này được xác định bởi một số chỉ tiêu thành phần như: số lượng cải tiến, sáng tạo sản phẩm, cải tiến quy trình sản xuất, tái
cơ cấu doanh nghiệp, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật
1.2.6 Khả năng thu hút nguồn lực
Khả năng thu hút nguồn lực không chỉ nhằm bảo đảm điều kiện cho hoạt động sản xuất - kinh doanh được tiến hành bình thường, mà còn thể hiện năng lực canh tranh thu hút đầu vào của doanh nghiệp Nhờ việc thu hút các đầu vào có chất lượng cao như nguồn nhân lực có trình độ, tay nghề cao, công nghệ hiện đại, vật tư
- nguyên liệu, nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể nâng cao chất lượng, năng suất
và hiệu quả sản xuất - kinh doanh Đây là một tiền để nhằm bảo đảm nâng cao năng lực cạnh tranh trong dài hạn
1.2.7 Khả năng liên kết và hợp tác của doanh nghiệp
Cạnh tranh trong điều kiện hiện nay không hoàn toàn đồng nghĩa với tiêu diệt lẫn nhau mà đặt trong sự liên kết và hợp tác để cạnh tranh cao hơn Do vậy, khả năng liên kết, hợp tác được coi là tiền đề cho hoạt động kinh doanh hiệu quả, đồng thời đây cũng là một tiêu chí định tính của năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Trong điều kiện của Việt Nam, các doanh nghiệp chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ thì việc liên kết, hợp tác có ý nghĩa lớn để tồn tại và phát triển kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Tiêu chí này thể hiện qua số lượng và chất lượng các mối quan hệ với các đối tác, các liên doanh, hệ thống mạng lưới kinh doanh theo lãnh thổ
1.3 Kinh nghiệm nâng cao NLCT và bài học kinh nghiệm cho Công ty TNHH Nam Long ở khu công nghiệp Phú Lâm, huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
1.3.1 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp ngành giấy trong nước
1.3.1.1 Kinh nghiệm của Công ty giấy Bãi Bằng
Để cạnh tranh với các đối thủ trong và ngoài nước, gần nhất là các nước trong khối ASEAN, công ty giấy Bãi Bằng luôn quan tâm tới chất lượng sản phẩm Họ coi chất lượng sản phẩm luôn là thước đo quan trọng nhất Và hiện nay họ đã áp dụng bộ tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng ISO 9002 trong sản xuất và nó đảm bảo cạnh tranh hơn các công ty trong nước như Tân Mai, Việt Trì, Đồng Nai…Bên cạnh việt nâng cao chất lượng sản phẩm giấy, công ty giấy Bãi Bằng đã chú ý tới chiến lược truyền thông, đảm bảo hệ thống kênh phân phối rộng khắp, nhiều cấp, có đặt đại lý ở các vùng trong cả nước Một kinh nghiệm của công ty này đã chỉ ra là lấy tiêu chí chất lượng sản phẩm để giảm chi phí marketing [9]
1.3.1.2 Kinh nghiệm của Công ty Cổ phần Tập Đoàn Tân Mai trong việc nâng cao năng lực trạnh tranh trên thị trường nội địa
Luôn ý thức được cần đáp ứng nhu cầu của thị trường một cách nhanh nhất, công ty chủ động nghiên cứu thị trường, mở rộng nhà xưởng, đầu tư máy móc để nâng công suất, chất lượng, giảm giá thành đối với các sản phẩm chủ lực giấy báo in
Bên cạnh đó công ty cũng liên kết với các ngân hàng nhằm hỗ trợ khách hàng trong thanh toán nhằm đảm bảo sự linh hoạt, tiện lợi, tiết kiệm chi phí cho khách hàng
Mở rộng mối quan hệ với các tổ chức ngân hàng trong và ngoài nước nhằm tìm kiếm được nguồn vốn đầu tư cho các dự án mở rộng Đồng thời huy động nguồn vốn nội bộ trong đơn vị theo cơ chế góp vốn cùng chia sẻ lợi ích
Công ty cũng quan tâm tới chất lượng lao động bằng việc mở các lớp đào tạo ngánh hạn, đưa nhân viên đi tu nghiệp, tập huấn trong và ngoài nước Riêng với đội ngũ lao động trực tiếp, tập huấn trang bị những kiến thức mới về xử lý nguyên liệu cũng như sản phẩm mới dưới sự hướng dẫn của các kĩ thuật viên, chuyên gia trong nước cũng như nước ngoài
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Có kế hoạch ổn định nguồn cung cấp nguyên liệu thông qua kí hợp đồng với các lâm trường, hợp tác xã lâm nghiệp
1.3.1.3 Kinh nghiệm của công ty Hồng Hà
Nhắc đến văn phòng phẩm Hồng Hà, nhiều thế hệ người Việt đều nhớ đến những sản phẩm đã ăn sâu trong tiềm thức như mực Cửu Long, Hà Nội; bút Trường Sơn, Hoàn Kiếm… Trải qua chặng đường gần 60 năm, thương hiệu Hồng Hà đã khẳng định vị thế hàng đầu trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh văn phòng phẩm tại Việt Nam và ngày càng gắn bó thân thiết với người tiêu dùng Để làm được những điều này, công ty đã:
Mạnh dạn đầu tư hàng chục tỷ đồng đổi mới trang thiết bị Hiệu quả của việc
áp dụng khoa học công nghệ đã giúp doanh nghiệp rút ngắn thời gian hoàn thành sản phẩm, giảm hao phí lao động, tiết kiệm nguyên vật liệu
Bên cạnh đó, chất lượng sản phẩm làm ra ổn định, tăng tính thẩm mỹ và giá thành hợp lý các sản phẩm của Hồng Hà không chỉ bảo đảm tiêu chí bền, đẹp, chất lượng, mà còn luôn hướng tới bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng và thân thiện với môi trường Có thể kể đến như vở sử dụng giấy có độ trắng tự nhiên không gây lóa, mỏi mắt, chống cận thị; cặp siêu nhẹ giúp học sinh không ảnh hưởng tới cột sống; bìa vở phủ UV gốc nước thân thiện với môi trường…
1.3.2 Bài học Kinh nghiệm với công ty TNHH Nam Long ở KCN Phú Lâm, huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh
Một là, phát huy tính năng động, tự chủ, dám nghĩ, dám làm; tận dụng tối đa các nguồn lực có sẵn để phát triển sản xuất kinh doanh
Hai là, huy động mọi nguồn lực bằng hình thức liên kết, liên doanh để thực hiện các dự án phát triển mở rộng sản xuất, đại lý phân phối, nâng cao chất lượng sản phẩm
Ba là, không ngừng cải tiến công nghệ, ứng dụng công nghệ mới; áp dụng bộ tiêu chuẩn ISO mới trong sản xuất
Bốn là, coi trọng yếu tố con người, nâng cao trình độ quản lý, trình độ tay nghề cho công nhân; tạo môi trường làm việc an toàn, xây dựng văn hóa doanh nghiệp chuyên nghiệp
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Những tồn tại hạn chế gặp phải trong chiến lược cạnh tranh của công ty TNHH Nam Long ở KCN Phú Lâm, huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh
- Những yếu tố nào ảnh hưởng tới nâng cao NLCT của công ty TNHH Nam Long ở KCN Phú Lâm, huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh
- Những giải pháp nào phù hợp có thể giải quyết những tồn tại hạn chế gặp phải trong nâng cao NLCT cho công ty TNHH Nam Long ở KCN Phú Lâm
2.2 Nguồn số liệu và phương pháp thu thập
2.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp
Thông tin lấy từ sách, báo, các công trình nghiên cứu liên quan đã công bố nhằm cung cấp những lý luận có liên quan tới nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty
Tài liệu của Sở Công thương, Sở Kế hoạch đầu tư tỉnh Bắc Ninh gồm: Báo cáo xuất nhập khẩu, KHCN, quy mô vốn, lao động của các doanh nghiệp giấy trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Báo cáo của KCN Phú Lâm, của phòng Kinh tế hạ tầng huyện Tiên Du
Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty TNHH Nam Long Thu thập từ những cơ quan Nhà nước về chủ trương chính sách liên quan tới hoạt động sản xuất và kinh doanh giấy ở Việt Nam
2.2.2 Thu thập thông tin sơ cấp
Thông tin sơ cấp thu thập phục vụ nghiên cứu của luận văn được thu thập từ
02 đối tượng là cán bộ quản lý, nhân viên của Công ty TNHH Nam Long và các khách hàng của công ty
Đối với đối tượng là cán bộ quản lý, nhân viên của Công ty TNHH Nam Long: tính đến thời điểm hiện tại toàn Công ty có 205 CBNV, tuy nhiên tác giả chỉ lựa chọn phỏng vấn 14 người là Giám đốc, Phó giám đốc, phụ trách kinh doanh,
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
nhân viên kinh doanh, phụ trách kỹ thuật…
Đối với đối tượng là khách hàng của Công ty: tính đến ngày 31/12/2018 Công
ty có 13 đối tác khách hàng, mỗi khách hàng tùy thuộc vào quy mô, cơ cấu tổ chức khách nhau tác giả sẽ lựa chọn đối tượng và số mẫu khác nhau, các đối tượng được khảo sát là thành viên Ban giám đốc, cán bộ quản lý, nhân viên kinh doanh… Cụ thể số mẫu khảo sát khách hàng như sau:
Bảng 2.1 Bảng tổng hợp số phiếu khảo sát khách hàng
của Công ty TNHH Nam Long
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Như vậy, tổng số mẫu khảo sát phục vụ nghiên cứu luận văn là: 205, trong đó CBNV của Công ty TNHH Nam Long là 14 người, các khách hàng là đối tác của Công ty là 191 người
2.3 Phương pháp phân tích
2.3.1 Phương pháp thống kê mô tả
Thống kê mô tả (Descriptive statistics): là các phương pháp liên quan đến việc thu thập số liệu, tóm tắt, trình bày, tính toán và mô tả các đặc trưng khác nhau để phản ánh một cách tổng quát đối tượng nghiên cứu
Sau khi thu thập thông tin và số liệu, bao gồm cả số liệu thứ cấp và sơ cấp sẽ
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
được tập hợp lại thành bảng biểu, sau đó dùng các công cụ như excel, spss, stata,…để làm rõ tính chất của các dạng số liệu, cụ thể hóa thước đo số liệu nhằm
mô tả cho đối tượng nghiên cứu Trong phương pháp thống kê mô tả, tác giả sử dụng chủ yếu các tiêu chí về thống kê về tổng số lượng, giá trị trung bình, độ lệch, biểu đồ tỷ lệ phần trăm phân tích xu hướng,…
Tuy nhiên trong nghiên cứu này, tác giả tập trung chủ yếu xem xét các giá trị trung bình dựa vào tổng điểm số cho điểm của các ý kiến, sau khi có điểm trung bình tác giả sẽ xem xét mức độ quan trọng của các yếu tố cũng như điểm trung bình chung mức độ phản ứng với các yếu tố của đối tượng nghiên cứu
2.3.2 Phương pháp thống kê so sánh
So sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích để xác định xu hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích Vì vậy để tiến hành so sánh phải giải quyết những vấn đề cơ bản, cần phải đảm bảo các điều kiện đồng bộ để có thể
so sánh được các chỉ tiêu tài chính Như sự thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán
Trong luận văn sử dụng phương pháp này dùng để so sánh các chỉ tiêu nghiên cứu qua các năm và so sánh về năng lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành kinh doanh
2.3.3 Phương pháp chuyên gia
Phương pháp chuyên gia là phương pháp điều tra qua đánh giá của các chuyên gia về vấn đề, một sự kiện khoa học nào đó Thực chất đây là phương pháp sử dụng trí tuệ, khai thác ý kiến đánh giá của các chuyên gia có trình độ cao để xem xét, nhận định một vấn đề, một sự kiện khoa học để tìm ra giải pháp tối ưu cho vấn đề,
sự kiện đó Trong nghiên cứu này, tác giả sẽ kết hợp phương pháp chuyên gia cùng với việc trả lời bảng hỏi để mang lại kết quả đánh giá khách quan nhất
Tác giả tiến hành thu thập và chọn lọc ý kiến đánh giá của những người đại diện trong từng lĩnh vực như: Cán bộ lãnh đạo Công ty, các chuyên gia, các cán bộ
có trình độ, chuyên môn trong Công ty Nam Long về chất lượng sản phẩm, giá cả sản phẩm, thương hiệu uy tín của Nam Long, trình độ công nghệ sản xuất, các chỉ tiêu kinh tế, trình độ nhân lực, mạng lưới các kênh phân phối,…
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Ngoài việc phân tích thực trạng kinh doanh của Công ty TNHH Nam Long dựa vào các dữ liệu thứ cấp, tác giả đã sử dụng phương pháp chuyên gia: kết hợp phỏng vấn và điều tra theo bản câu hỏi và thảo luận nhóm để thu thập ý kiến đánh giá của chuyên gia Thông qua phương pháp chuyên gia chọn ra các điểm mạnh điểm yếu, cơ hội, thách thức, phân loại và cho điểm mức độ quan trọng để lập ma trận IFE, EFE [11], [4]
(i) Xác định ma trận các yếu tố bên ngoài (EFE), các chuyên gia cho điểm từ
1 đến 4 cho từng yếu tố, trọng số của mỗi yếu tố tùy thuộc vào mức độ phản ứng của mỗi công ty với yếu tố, trong đó 4 là phản ứng tốt nhất, 3 là phản ứng trên trung bình, 2 là phản ứng trung bình, 1 là phản ứng yếu Phân loại tầm quan trọng theo thang điểm từ 0,0 (Không quan trọng) đến 1.0 (Rất quan trọng) cho từng yếu tố [16], [15] Tầm quan trọng của mỗi yếu tố tùy thuộc vào mức độ ảnh hưởng của yếu
tố đó tới sự cạnh tranh của các DN sản xuất giấy và sản phẩm giấy bao bì ở tỉnh Bắc Ninh Tổng số điểm của ma trận không phụ thuộc vào số lượng các yếu tố có trong
ma trận, cao nhất là điểm 4 và thấp nhất là điểm 1
Nếu tổng số điểm nằm trong khoảng từ 3 tới 4, thì DN đang phản ứng tốt với những cơ hội và nguy cơ;
Nếu tổng số điểm từ 2 tới dưới 3, DN đang phản ứng trung bình với những
cơ hội và nguy cơ;
Nếu tổng số điểm dưới 2, DN đang phản ứng yếu kém với những cơ hội và nguy cơ
(ii) Xác định ma trận các yếu tố bên trong (IFE), các chuyên gia cho điểm
xác định trọng số cho từng yếu tố theo thành điểm từ 1 tới 4, trong đó 4 là rất mạnh,
3 điểm là khá mạnh, 2 điểm là khá yếu, 1 điểm là rất yếu Phân loại tầm quan trọng
từ 0,0 (không quan trọng) đến 1,0 (rất quan trọng) cho từng yếu tố [16], [10] Tầm quan trọng của những yếu tố này phụ thuộc vào mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tới sự thành công của doanh nghiệp trong ngành giấy
Tổng số điểm của ma trận nằm trong khoảng từ diểm 1 đến diểm 4, kết quả đánh giá về điểm manh/ điểm yếu được phân loại như sau:
- Nếu tổng số điểm dưới 2,5 điểm, DN yếu về những yếu tố nội bộ
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Nếu tổng số diểm trên 2,5 điểm DN mạnh về các yếu tố nội bộ
(iii) Xây dựng ma trận hình ảnh cạnh tranh (CPM) cho các DN giấy bao bì
Sau khi xác định khoảng 10 yếu tố chính có ảnh hưởng quan trọng đến khả năng cạnh tranh của DN trong ngành sẽ tiến hành pân loại tầm quan trọng từ 0,0 (Không quan trọng) đến 1,0 (Rất quan trọng) cho từng yếu tố Tầm quan trọng của mỗi yếu tố tùy thuộc vào mức độ ảnh hưởng của yếu tố đến khả năng cạnh tranh của
DN trong ngành Các chuyên gia xác định trọng số từ 1 đến 4 cho từng yếu tố, trọng
số của mỗi yếu tố tùy thuộc vào khả năng của công ty với yếu tố, trong đó 4 là tốt, 3
là trên trung bình, 2 là trung bình, 1 là yếu Sau khi xác định được tổng điểm của ma trận, chúng ta sẽ tiến hành so sánh năng lực cạnh tranh của các DN trên thị trường Hiện tại tỉnh Bắc Ninh có khoảng hơn 53 Công ty hoạt động trong lĩnh vực sản xuất giấy và bao bì giấy Tuy nhiên, tác giả chỉ chọn ra 2 Công ty có quy mô khá tương đồng với Công ty TNHH Nam Long để so sánh trong ma trận hình ảnh cạnh tranh, đó là Xí nghiệp giấy Quang Huy ở khu công nghiệp Phong Khê, xã Phong Khê thành phố Bắc Ninh và Công ty TNHH sản xuất giấy và bao bì Việt Thắng ở
Xã Phú Lâm, huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh (gọi ngắn gọn là Công ty Việt Thắng);
và sử dụng ma trận SWOT nhằm đưa ra các giải pháp nâng cao năng lực canh tranh phối hợp để lựa chọn thực hiện [3]
* Các thước đo và thang đo được sử dụng:
Để đo lường mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố, nghiên cứu sử dụng thang đo Likert 5 cấp độ, từ 1 đến 5 với quy ước: 1 – hoàn toàn không đồng ý; 2 – không đồng ý; 3 – không ý kiến; 4 – đồng ý; 5 – hoàn toàn đồng ý
Kết quả điểm số trung bình của các đối tượng được phỏng vấn theo từng biến quan sát sẽ phản ánh mức độ cảm nhận đối năng lực cạnh tranh; mức độ cảm nhận này theo quy ước và có ý nghĩa như sau:
Bảng 2.2 Thang đo và ý nghĩa của điểm đánh giá Điểm
PO
3 Không ý 2,60 - 3,39 Gần 60% đối tượng khảo sát AV
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
kiến đánh giá năng lực cạnh tranh
của công ty là tốt
4 Đồng ý 3,40 - 4,19
Gần 80% đối tượng khảo sát đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty là tốt
EX
2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
2.4.1 Các tiêu chí định lượng
Doanh thu là số tiền mà doanh nghiệp thu được khi bán hàng hoá hoặc dịch
vụ Bởi vậy mà doanh thu có thể được coi là một chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh Hơn khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và tăng thêm lợi nhuận Căn cứ vào chỉ tiêu doanh thu qua từng thời kỳ hoặc qua các năm ta có thể đánh giá được kết quả hoạt động kinh doanh là tăng hay giảm, theo chiều hướng tốt hay xấu Nhưng để đánh giá được hoạt động kinh doanh đó có mang lại được hiệu quả hay không ta phải xét đến những chi phí đã hình thành nên doanh thu đó Nếu doanh thu và chi phí của doanh nghiệp đều tăng lên qua các năm nhưng tốc độ tăng của doanh thu lớn hơn tốc độ tăng của chi phí thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá là tốt, doanh nghiệp đã biết phân bổ và sử dụng hợp lý yếu tố chi phí, bởi một phần chi phí tăng thêm đó được doanh nghiệp mở rộng quy
mô kinh doanh, đầu tư mua sắm trang thiết bị và xây dựng cơ sở hạ tầng v.v
Thị phần của doanh nghiệp
Trên thực tế có rất nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác, trong đó thị phần là một chỉ tiêu thường hay được sử dụng Thị phần được hiểu là phần thị trường mà doanh nghiệp chiếm giữ trong tổng dung lượng thị trường Do đó thị phần của doanh nghiệp được xác định:
Chỉ tiêu này càng lớn nói lên sự chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp càng rộng Thông qua sự biến động của chỉ tiêu này ta có thể đánh giá mức động hoạt động của doanh nghiệp có hiệu quả hay không bởi nếu doanh nghiệp có một mảng thị trường lớn thì chỉ số trên đạt mức cao nhất và ấn định cho doanh nghiệp một vị