Mục tiêu Đánh giá tính đa dạng các loài thực vật có chứa tinh dầu và thành phần hóahọc của tinh dầu một số loài trong một số họ thực vật có chứa tinh dầu ở VQG VũQuang, tỉnh Hà Tĩnh.. Ý
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ DUY LINH
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI THỰC VẬT CÓ CHỨA TINH
DẦU Ở VƯỜN QUỐC GIA VŨ QUANG, TỈNH HÀ TĨNH
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Chuyên ngành: Thực vật học
Mã số: 9 42 01 11
VINH, 04/2020
Trang 2Luận án được hoàn thành tại Trường Đại học Vinh
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS TS Phạm Hồng Ban
2 PGS TS Trần Minh Hợi
Người phản biện 1:
Người phản biện 2:
Người phản biện 3:
Luận án được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp Trường, tại Trường Đại học
Vinh vào hồi giờ , ngày tháng năm 2020
Có thể tìm luận án tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện Nguyễn Thúc Hào, Trường Đại học Vinh
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa, Việt Nam được xếp hạng thứ 16 trên thếgiới về sự đa dạng tài nguyên sinh vật Trong “Thực vật chí đại cương ĐôngDương” (Flore Générale de l’Indochine) và các tập bổ sung tiếp theo đã mô tả vàghi nhận có khoảng trên 240 họ với khoảng trên 7.000 loài thực vật bậc cao cómạch Những năm gần đây, nhiều nhà thực vật đã dự đoán con số đó có thể lên tới12.000 loài Hiện nay đã thống kê được khoảng 10.500 loài thực vật bậc cao cómạch, trong đó có khoảng 657 loài thuộc 357 chi và 114 họ chứa tinh dầu (chiếmkhoảng 6,3% tổng số loài; 15,8% tổng số chi và 37,8% số họ)
Xã hội ngày càng phát triển nhu cầu tìm hiểu và sử dụng các hợp chất cónguồn gốc thiên nhiên ngày càng lớn Trong số các nhóm cây tài nguyên thực vậtthì nhóm cây chứa tinh dầu chiếm vị trí quan trọng Đây là nguồn nguyên liệu thiếtyếu của nhiều ngành công nghiệp như mỹ phẩm, thực phẩm và dược phẩm Hầu hếtcác loài cây chứa tinh dầu nằm trong 2 ngành Thông (Pinophyta) và ngành Ngọclan (Magnoliophyta) Các họ có nhiều loài cây chứa tinh dầu gồm: Cúc(Asteraceae), Cam (Rutaceae), Na (Annonaceae), Long não (Lauraceae), Bạc hà(Lamiaceae), Hoa tán (Apiaceae), Hoa hồng (Rosaceae), Dầu (Dipterocarpaceae),Nhài (Oleaceae), Thông (Pinaceae), Hoàng đàn (Cupressaceae),
Ngày nay, tinh dầu được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp,nhất là ngành công nghiệp thực phẩm, dược phẩm và mỹ phẩm Đặc biệt tronglĩnh vực mỹ phẩm, tinh dầu là nguyên liệu không thể thiếu được Mặc dầu ngàycàng có nhiều chất thơm tổng hợp, nhưng không thể thay thế cho tinh dầu tựnhiên, vì không tạo ra được mùi thơm mát và đặc biệt các chất thơm tổng hợpthường quá đắt, lại có độ độc cao
VQG Vũ Quang được thành lập theo Quyết định số 102/2002/QĐ-TTg ngày
30 tháng 7 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ, với tổng diện tích khoảng 54.000
ha, trong đó có 76% diện tích rừng tự nhiên với 5 kiểu rừng chính được phân chiatheo các đai cao khác nhau Nơi đây là nơi sinh trưởng của nhiều loài cây gỗ quý:Cẩm lai, Lát hoa, Lim, Giổi, Trầm hương,…và nhiều cây dược liệu quý Tại VQG
Vũ Quang đã có một số công trình nghiên cứu về Đa dạng thực vật bậc cao có
Trang 4mạch nhưng còn thiếu vắng những nghiên cứu chuyên sâu về tài nguyên thực vật.Trong lúc đó khả năng tiềm tàng của tài nguyên cây có tinh dầu ở VQG Vũ Quang
rất phong phú Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Nghiên cứu thành phần loài thực vật có chứa tinh dầu ở Vườn Quốc gia Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh” làm nội dung
nghiên cứu của đề tài Luận án
2 Mục tiêu
Đánh giá tính đa dạng các loài thực vật có chứa tinh dầu và thành phần hóahọc của tinh dầu một số loài trong một số họ thực vật có chứa tinh dầu ở VQG VũQuang, tỉnh Hà Tĩnh
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu của đề tài luận án là những dẫn liệu điều tra,nghiên cứu cơ bản về tính đa dạng của các loài thực vật có tinh dầu tại VQG VũQuang Hà Tĩnh, đồng thời cung cấp những dẫn liệu mới về thành phần hoá họctinh dầu của một số loài thuộc một số họ trong hệ thực vật VQG Vũ Quang
4 Điểm mới luận án
- Cung cấp dẫn liệu mới gồm 366 loài thực vật có tinh dầu ở VQG VũQuang; đây là dẫn liệu tương đối đầy đủ và có hệ thống về nguồn tài nguyên thựcvật có tinh dầu ở Vườn Quốc gia Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh
- Lần đầu tiên cung cấp những dẫn liệu về tinh dầu của 9 loài (Bời lời lá
thuôn (Litsea elongata (Wall ex Nees) Hook.f.), Bời lời phiến lá thon (Litsea lancilimba Merr.), Bời lời biến thiên (Litsea variabilis Hemsl.), Kháo vàng thơm (Machilus bonii Lecomte), Kháo nhậm (Machilus odoratissima Nees), Nô vàng(Neolitsea aurata (Hayata) Koidz.), Nô bui san (Neolitsea buisanensis Yam.
& Kam.), Vàng tâm (Manglietia dandyi (Gagnep.) Dandy), Sa nhân lông hung (Amomum velutinum X E Ye, Skprnick & N H Xia)
5 Bố cục luận án
Luận án gồm 128 trang, 30 bảng, 7 hình, 39 ảnh được cấu trúc thành các phầnchính như sau: Mở đầu (3 trang); Chương 1: Tổng quan tài liệu (28 trang); Chương2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu (8 trang); Chương 3: Kết quảnghiên cứu (86 trang); Kết luận và kiến nghị (2 trang); Danh mục công trình công
Trang 5bố liên quan đến luận án (2 trang); Tài liệu tham khảo (14 trang) và phần phụ lục(gồm 3 phụ lục, 114 ảnh).
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số khái niệm về tinh dầu
1.1.1 Khái niệm chung về cây có tinh dầu
Những năm Trước đây chưa có định nghĩa chính xác về cây có tinh dầu Khiphát hiện ra một số hợp chất của tinh dầu có trong cơ thể mọi sinh vật (axít mậtcủa động vật, caroten trong hầu hết thực vật) Như vậy, không có ranh giới rõ rànggiữa cây có tinh dầu và các cây khác Từ quan điểm này, Nicolaev (1968) địnhnghĩa: “Cây có tinh dầu là những cây khác biệt với các cây khác ở chỗ có thể thuđược tinh dầu từ nó”
Sau này, khi nghiên cứu cấu trúc và hoạt động chức năng các cơ quan tiết,người ta đã thấy rõ sự khác biệt về bản chất của cây tinh dầu Từ đó có thể địnhnghĩa Cây tinh dầu là những cây có chứa các cấu trúc chuyên biệt làm nhiệm vụ tiết
và tích luỹ tinh dầu
1.1.2 Khái niệm về tinh dầu
Tiêu chuẩn Pháp (1987), đưa ra định nghĩa về tinh dầu như sau: “Sản phẩmthu được từ nguyên liệu có nguồn gốc thực vật, bằng cách cất kéo hơi nước hoặc
bằng các phương pháp cơ học đối với vỏ trái cây thuộc chi Citrus Tinh dầu được
tách ra khỏi nước bằng các phương pháp vật lý” Định nghĩa này có hạn chế là loạitrừ các sản phẩm thu được bằng cách chiết xuất với dung môi cũng như các sảnphẩm thu được nhờ các phương pháp khác
Tinh dầu được hiểu là những hỗn hợp của hợp chất hữu cơ, có cấu tạo phân tửphức tạp và khác nhau về các đặc tính lý học cũng như hóa học Tinh dầu có một sốđặc tính sau:
- Tất cả tinh dầu đều là hợp chất lỏng, sánh, có hoạt tính quang học, gây hiệntượng quay cực của ánh sáng
Trang 6- Đa số tinh dầu có tỷ trọng nhỏ hơn nước (d<1), một số có tỷ trọng lớn hơnnước (d>1), không tan hoặc rất ít tan trong nước, nhưng lại tan trong các dung môihữu cơ.
- Có mùi thơm do thành phần tinh dầu có các cấu tử dạng tự do
- Tinh dầu có khả năng bay hơi
Căn cứ vào cấu tạo phân tử hóa học của tinh dầu được sắp xếp vào 4 nhómchủ yếu sau:
- Các hợp chất aliphatic
- Các terpen và những dẫn xuất của chúng
- Các dẫn xuất benzen
- Các thành phần khác
1.2 Nghiên cứu về các loài thực vật có tinh dầu
1.2.1 Nghiên cứu về các loài thực vật có tinh dầu trên thế giới
Cho tới nay chưa có đủ tài liệu để hình dung ra lịch sử của lĩnh vực nghiên cứucây tinh dầu thế giới Tài liệu sớm nhất hiện có được là cuốn “Những cây làmthuốc” được tìm thấy ở Nhật Bản, viết năm 890 Trong tài liệu này đã thống kê gần
100 loài cây tinh dầu, đồng thời mô tả phương thức chế biến và sử dụng chúng.Tuy nhiên, nghiên cứu cây tinh dầu và tinh dầu đặc biệt thu hút các nhànghiên cứu từ đầu thế kỷ XX Những công trình đáng lưu ý hơn cả là tài liệu doCharabot và các học trò của ông công bố vào năm 1903, 1904, 1907 Vào thời giansau này các công trình nghiên cứu tăng lên rất nhanh và thuộc nhiều lĩnh vực
Theo Brian M Lawrence trong công trình “Progress in essential oils” 1994) và “Essential oils” (1995-2005) tác giả đã thống kê khoảng 1.000 loài thựcvật chứa tinh dầu đã được phân tích thành phần hoá học trên thế giới Theo L.P.A.Oyen và Nguyễn Xuân Dũng (1999) trong công trình “Essential oil plants inSouth-East Asia” thì ở các nước Đông Nam Á với trên 70 loài thực vật có tinh dầu
(1992-đã được phân tích về thành phần hoá học, trong đó khoảng 30 loài được nghiêncứu khá toàn diện từ đặc điểm sinh học, sinh thái, phân bố, khả năng gây trồng,phát triển, sử dụng, sâu bệnh, sản lượng và buôn bán đến thành phần hoá học
1.2.2 Nghiên cứu về các loài thực vật có tinh dầu ở Việt Nam
Trang 7Các công trình nghiên cứu về cây tinh dầu ở Việt Nam thực sự bắt đầu từ saunăm 1956 Trong thời gian này hàng loạt các công trình nghiên cứu về tinh dầuBạc hà, Sả, Màng tang,… được công bố Theo Lã Đình Mỡi và Lưu Đàm Cư(2001) thì đến nay chúng ta mới khai thác tự nhiên và đưa vào trồng được khoảnghơn 20 loài cây có tinh dầu trong khoảng hơn 600 loài đã biết (chỉ chiếm 3% sốloài cây có tinh dầu đã biết) Những loài nói trên thường là những loài được trồngkhá phổ biến như Sả, Bạc hà, Hương nhu, Long não, Tràm, Quế, Húng Quế, Hồi,Hoắc hương
1.3 Nghiên cứu về thành phần hóa học tinh dầu trên thế giới và ở Việt Nam 1.3.1 Nghiên cứu về thành phần hóa học tinh dầu trên thế giới
1.3.1.1 Họ Long não (Lauraceae)
Nghiên cứu về tinh dầu trong họ Long não (Lauraceae) có các công trìnhđiển hình X D Ji và cộng sự (1991), L Zhu và cộng sự (1993), Choudhury, S N
và cs (1995), Sriramavaratharajan, V và cs (2019),…
1.3.1.2 Họ Ngọc lan (Magnoliaceae)
Nhiều công trình khoa học công bố thành phần hóa học tinh dầu của các loài
trong chi Magnolia như: Theo Oyen L.P.A., Nguyen Xuan Dung (1999),Grag,
S.N & Sushil Kumar (1999);Zheng et al (2015), Scharf et al (2016),
1.3.1.3 Họ Gừng (Zingiberaceae)
Trong họ Gừng (Zingiberaceae) thì nghiên cứu về thành phần hóa học tinh
dầu được tập trung ở trong các chi chính như Nghệ (Curcuma), Riềng (Alpinia),Gừng (Zingiber), Sa nhân (Amomum) K C Wong và cs (2005), B.
Sabulal và cs (2006), Zhenyang Chenvà cs (2019), Marliani L và cs (2016), S.Thubthimthed và cs (2005), Wang và cs (2015),…
1.3.2 Ngiên cứu về thành phần hóa học tinh dầu ở Việt Nam
1.3.2.1 Nghiên cứu thành phần hóa học tinh dầu họ Long não ( Lauraceae)
Nghiên cứu về tinh dầu họ Long não (Lauraceae) tập trung chủ yếu trong các
chi Cinnamomum, Litsea, Machilus, Phoebe, Các công trình điển hình như
Nguyễn Xuân Dũng (1996), Trần Đình Thắng và cộng sự (2005), Lê Công Sơn(2013), Đỗ Ngọc Đài và cs (2019,
Trang 81.3.2.2 Nghiên cứu thành phần hóa học tinh dầu họ Ngọc lan (Magnoliaceae)
Các công trình nghiên cứu về tinh dầu họ Ngọc lan có Do et al (1997),Lesueur et al (2007), Do et al (2016a), Bùi Văn Hướng và cộng sự (2014), Do et
al (2016b),
1.3.2.3 Nghiên cứu thành phần hóa học tinh dầu họ Gừng (Zingiberaceae)
Ở Việt Nam thì nghiên cứu về thành phần hóa học tinh dầu của họ Gừng(Zingberaceae) điển hình là các công trình của Nguyễn Xuân Dũng và cs(1996),Nguyễn Xuân Dũng và cs(2005), Phan Minh Giang và cs (2007), Lê Thị
Mỹ Châu và cs (2015), Lê Thị Hương (2016), Lê Thị Hương và cs (2019),Nguyễn Danh Hùng và cs (2018),…
1.4 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở VQG Vũ Quang
Phần này nêu lên vị trí địa lý, địa hình, địa mạo, đặc điểm khí hậu, đặc điểmkinh tế xã hội, đặc điểm hệ thực vật của khu vực nghiên cứu
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu
Đối tượng là các loài thực vật có tinh dầu phân bố ở VQG Vũ Quang, tỉnhHàTĩnh
2.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ năm 2015 đến năm 2019
Mỗi năm đã triển khai 2 đợt thu mẫu , mỗi đợt 7-10 ngày
Nghiên cứu được thực hiện tại VQG Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh
Tổng số mẫu thu được là 1.200 mẫu Xác định được 1061 mẫu tiêu bản vàđược lưu trữ tại Phòng mẫu Thực vật, Trung tâm Thực hành thí nghiệm, TrườngĐại học Vinh
Thành phần hóa học tinh dầu được phân tích tại Viện Hóa học các Hợp chấtThiên nhiên, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2.3 Nội dung nghiên cứu
Trang 9- Xác định thành phần loài thực vật có tinh dầu.
- Phân tích tính đa dạng các loài cây có tinh dầu về các mặt:
+ Đa dạng về ngành, họ, chi, loài;
+ Đa dạng về dạng thân;
+ Đa dạng về giá trị sử dụng của các loài cây có tinh dầu;
+ Đa dạng về các yếu tố địa lí thực vật của các loài cây có tinh dầu;
+ Đa dạng nguồn gen quý hiếm và tình trạng bảo tồn
- Phân tích thành phần hóa học của tinh dầu một số loài quan trọng của một
số họ thực vật
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
Các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở khu vực nghiên cứu, cácmẫu thực vật lưu ở bảo tàng trong nước và nước ngoài, các công trình công bố liênquan đến đề tài
2.4.2 Phương pháp điều tra thực địa
Dựa theo bản đồ chọn các tuyến điều tra chính để nghiên cứu: Quá trìnhnghiên cứu đã chọn được 5 tuyến chính đặc trưng cho các sinh cảnh rừng ở VQG
Vũ Quang Tuyến 1 Trung tâm Vườn đi Trạm Sao La - đường lên Pơ mu Tuyến 2Trung Tâm Vườn - trạm Cò - Thành Cụ Phan - Dốc dẻ Tuyến 3 Sơn Kim I Tuyến
4 Sơn Kim II Tuyến 5 Hương Khê Quá trình, điều tra nghiên cứu thực địa áp
dụng theo phương pháp được Nguyễn Nghĩa Thìn giới thiệu trong “Các phương pháp nghiên cứu thực vật” (2007).
Để xác định các loài thực vật có tinh dầu thì thường tra cứu các tài liệu đãcông bố về thành phần hóa học tinh dầu và dựa vào cảm quang (dùng mũi ngửixem có mùi thơm hay không) trong quá trình điều tra thực địa
2.4.3 Phương pháp thu mẫu và định loại
Thu mẫu: Mỗi cây thường thu từ 1-3 mẫu tiêu bản ở cùng 1 địa điểm Sau
khi thu mẫu đánh số hiệu vào mẫu Khi thu mẫu thì ghi chép đặc điểm dễ bị mấtkhi mẫu khô hoặc ngâm trong cồn, phóc môn như: màu sắc, nhựa mủ, đặc điểmcủa hoa, quả, lá Ngoài ra còn chụp ảnh của cây bằng máy ảnh kĩ thuật số Canon
Trang 10Định loại: Phương pháp nghiên cứu dùng để định loại là phương pháp hình
thái so sánh Đây là phương pháp nghiên cứu truyền thống nhưng thông dụng được
sử dụng hiện nay Phương pháp này dựa trên các đặc điểm của cơ quan sinh dưỡng
và cơ quan sinh sản để nghiên cứu, trong đó chủ yếu dựa vào cơ quan sinh sản như
vị trí cụm hoa, cấu tạo của hoa (đặc điểm của lá bắc, đài hoa, tràng hoa, bộ nhị, bộnhụy, quả, hạt, )
Trong quá trinh xác định tên khoa học của các loài thì dựa vào khóa định loại cây
cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ, 1999 - 2000);
Ngoài ra còn có sử dụng các tài liệu sau:Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họthực vật hạt kín ở Việt Nam (Nguyễn Tiến Bân, 1997);Cây gỗ rừng Việt Nam(Viện Điều tra Quy hoạch rừng, Bộ Lâm nghiệp (1971-1989);Thực vật chí Đạicương Đông Dương (1907);Thực vật chí Trung Quốc (1994-2002);Cây cỏ thườngthấy ở Việt Nam; Thực vật chí Việt Nam: họ Na (Annonaceae), Họ Bạc hà(Lamiaceae), Họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae), Họ Gừng (Zingiberaceae), họ Long não(Lauraceae)], Họ Cúc (Asteraceae) và một số tài liệu chuyên ngành khác
Chỉnh lý tên khoa học và xây dựng danh lục: Chỉnh lý tên khoa học theo
Danh lục các loài thực vật Việt Nam, R K Brummitt (1992) vàhttp://www.theplantlist.org
2.4.4 Phương pháp đánh giá tính đa dạng của hệ thực vật
- Đa dạng về các taxon của hệ thực vật: Theo “Cẩm nang nghiên cứu đa
dạng sinh vật” của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997):
- Đa dạng về dạng thân: Dựa vào ghi chép quá trình điều tra thực địa cũng
như các tài liệu liên quan (Tên cây rừng Việt Nam để thống kê và đánh giá về cácdạng thân của cây chứa tinh dầu
- Đa dạng về giá trị sử dụng của hệ thực vật: Giá trị sử dụng của các loài
thực vật có tinh dầu được tìm hiểu từ các tài liệu như: “Từ điển cây thuốc ViệtNam” (Võ Văn Chi, 2012),“1900 loài cây có ích ở Việt Nam” (Trần Đình Lý và
cs, 1993),“Danh lục các loài thực vật Việt Nam”(Nguyễn Tiến Bân (Chủ biên) và
cs, 2003, 2005),“Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam”(Triệu Văn Hùng và cs,2007),“Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” (Đỗ Tất Lợi, 2003), “Cây thuốc
Trang 11Việt Nam, trồng, hái, chế biến, trị bệnh ban đầu” (Lê Trần Đức, 1997), “Cây thuốc
và động vật làm thuốc ở Việt Nam” (Đỗ Huy Bích và nnk, 2004),
- Đa dạng về yếu tố địa lý
Việc thiết lập phổ các yếu tố địa lý, áp dụng sự phân chia của các tác giả PócsTamás (1965), Lê Trần Chấn (1999) và Nguyễn Nghĩa Thìn (2007)
- Đa dạng các loài thực vật quý hiếm và vấn đề bảo tồn: Căn cứ vào Sách Đỏ
Việt Nam (2007), bao gồm: loài tuyệt chủng (EX), loài tuyệt chủng ngoài thiên nhiên(EW), loài rất nguy cấp (CR), loài nguy cấp (EN), loài sẽ nguy cấp (VU), loài ít nguycấp (LR)
2.4.5 Thu mẫu và chưng cất tinh dầu
Mẫu để chưng cất tinh dầu là các bộ phận riêng biệt của cây (lá, cành, vỏ,thân giả, thân rễ, hoa, quả) Mỗi mẫu thu từ 0,5-3 kg tươi Mẫu được ghi số hiệu(số hiệu này trùng với số hiệu mẫu để định loại) và thời gian thu Sau khi thu hái,mẫu được cắt nhỏ và chưng cất bằng phương pháp lôi cuốn hơi nước có hồi lưutrong thiết bị Clevengertrong thời gian 2-4 giờ ở áp suất thường theo tiêu chuẩnDược điển Việt Nam IV (2009)
2.4.6 Phương pháp định lượng tinh dầu
Tinh dầu của các bộ phận khác nhau được định lượng theo phương pháp Icủa Dược điển Việt Nam II (2002) Hàm lượng tinh dầu tươi được tính theocông thức
Hoặc theo công thứcX(%) = (khi d>1)
Trong đó: a là thể tích của tinh dầu tính bằng ml
b là khối lượng của mẫu tính bằng gam
Tinh dầu được làm khô bằng Na2SO4 khan, đựng trong các lọ tiêu chuẩn đậykín, bảo quản ở 0-5oC trước khi đem phân tích
a x 0.9
b x 100%
a
b x 100%
Trang 122.4.7 Phương pháp phân tích thành phần hoá học tinh dầu
Chuẩn bị mẫu phân tích cho sắc ký khí: Hoà tan 1,5 mg tinh dầu đã được làmkhô bằng Na2SO4 khan trong 1ml hexan tinh khiết loại dùng cho phân tích sắc ký
+ Sắc ký khí (GC) với đầu dò FID: Được thực hiện trên máy Agilent
Technologies HP 7890A Plus với detectơ FID, cột mao quản HP-5MS chiều dài 30
m, đường kính trong (ID) = 0,25 mm, lớp phim mỏng 0,25m với khí mang là hydro.Nhiệt độ buồng bơm mẫu là 250oC Nhiệt độ detectơ là 260oC Chương trình nhiệt độ
60oC (2 min), tăng 4oC/phút cho đến 220oC, dừng ở nhiệt độ này trong 10 phút
+ Sắc ký khí khối phổ (GC/MS): Được thực hiện trên hệ thống thiết bị sắc ký
khí khối phổ liên hợp Agilent Technologies HP 7890A/ HP 5973 MSD với cột tách
và các điều kiện vận hành sắc ký như nêu ở trên và với heli làm khí mang
2.4.8 Phương pháp xử lí số liệu
Số liệu được xử lí trên phần mềm Microsoft Office Excel 2007
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đa dạng các loài thực vật có tinh dầu ở VQG Vũ Quang
3.1.1 Đa dạng về bậc ngành và lớp
Kết quả điều tra, định loại các loài thực vật có chứa tinh dầu ở VQG VũQuang, Hà Tĩnh đã xác định được 366 loài, 145 chi và 45 họ của 2 ngành thực vậtbậc cao có mạch (bảng 3.1)
Bảng 3.1 Phân bố các taxon có tinh dầu trong các ngành của hệ thực vật VQG Vũ
Trang 13Khi phân tích về các taxon của 2 lớp trong ngành Ngọc lan (Magnoliophyta)(bảng 3.2) thì cũng có sự khác nhau, Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) có số lượngcác taxon chiếm ưu thế trên 80% tổng số họ, số chi và số loài của ngành; lớp Hành(Liliopsida) chiếm tỷ lệ thấp với 7 họ (chiếm 16,67%); 19 chi (chiếm 13,67%) và 55loài (chiếm 15,32%)
Bảng 3.2 Tỷ lệ của hai lớp trong ngành Ngọc lan (Magnoliophyta)
14 loài, với tổng số loài 51 loài chiếm 13,93% Có 4 họ có từ 21 loài trở lên với 206loài, chiếm 56,28%
3.1.3 Đa dạng về bậc chi
Trang 14Các loài cây cho tinh dầu ở VQG Vũ Quang thuộc 145 chi Trong đó số lượngcác loài phân bố ở các chi là không đồng đều nhau Có 17 chi chiếm 11,72% tổng sốchi nhưng có số lượng loài tới 164 loài chiếm tới 44,81% tổng số loài Số chi có sốlượng loài ít hơn 5 loài là 128 chi (chiếm 88,28%), với tổng số loài là 202 loài chiếm
55,19% Các chi có số lượng loài cho tinh dầu nhiều hơn là Litsea với 25 loài, Cinnamomum với 21 loài, tiếp đến là Alpinia - 13 loài, Piper và Fissistigma có11 loài và Syzygium – 10 loài Các chi còn lại có số lượng loài từ 5-9 loài.
Phân tích Các chi có nhiều loài cây cho tinh dầu ở VQG Vũ Quang chothấy: 17 chi có số lượng loài nhiều hơn 5 loài thuộc 7 họ: Long não (Lauraceae),Gừng (Zingiberaceae), Na (Annonaceae), Hồ Tiêu (Piperaceae), Sim (Myrtaceae),Ngọc lan (Magnoliaceae), Thầu dầu (Euphorbiaceae) Trong đó họ Long não có tới
7 chi (chiếm 41,17% ) với số lượng loài là 81 loài chiếm 49,39% Với kết quảphân tích này cho thấy VQG Vũ Quang họ Long não rất đa đạng và phong phú.Điều này cũng hoàn toàn hợp lí, bởi các loài cây họ Long não thích nghi với điềukiện khí hậu,… trong khi đó VQG Vũ Quang là nơi có điều kiện khí hậu nhiệt đớigió mùa, có cả đai thấp và đai cao, do đó rất thuận lợi cho các loài cây Long não
sinh trưởng và phát triển Họ Gừng có 3 chi: Alpinia với 13 loài, Amomum với 8 loài, Zingiber với 7 loài Tổng số loài của 3 chi nhiều loài của họ Gừng là 28 loài
chiếm 17,07% tổng số loài Họ Na cũng có 3 chi: Fissistigma với 11 loài, Desmos
và Uvaria cùng có 5 loài Với tổng số loài của 3 chi nhiều loài là 21 loàichiếm
Bảng 3.5 So sánh các loài thực vật có tinh dầu ở Vũ Quangvới Pù Mát
Ngành
Quang so với
Số loài
Tỷ lệ (%)
Số loài
Tỷ lệ (%)