Trong cuốn "Việt văn giáo khoa khi giớithiệu 'Truyện Kiều" và tiểu truyện tác giii, Dương Quảng Hàm viết: "Chủ yếu của tác ỉỊÌá lủ CÔI gửi tâm sự minh vào trong cuốn truyện: cụ vốn tự c
Trang 2ụ 9
Trang 3Lời nói đầu
TTruyện Kiều là tác phẩm văn học mà không một người Việt Nam nào, ngay cả những người không biết chữ, là không ưa thích, và không thuộc lòng ít nhiều Người
có học thì đọc Kiều không chỉ để thưởng thức lời hay, ý đẹp, mà còn quan tâm tới tâm
sự của tác giả, và không khỏi tự hỏi: "Tâm
sự bí ẩn của Nguyễn Du là gì, tại sao lại u uất như vậy?" Nhiều nhà nghiên cứu đã cô' gắng đưa ra câu trả lời, nhưng theo Hà Huy Giáp, trong lời: "Giới thiộu về Nguyễn Du và Truyộn Kiều", cùa [1]^'^ thì: "Tâm sự của Nguyễn Du quả là một tâm sự đầy mâu thuẫn, khó hiểu đó là một viộc làm rất công phu, đòi hỏi sự đóng góp của tập thổ"
Các cảu trich dẫn được lấy theo tài liệu Ị1) (xem phẩn Tài liệu tham
Trang 4Tôi không phải là người làm công tác văn học, mà chỉ là mộl người mé Truyện Kiều, như bao người Việt Nam khác Tôi cho ràng, mỗi người đọc "Truyện Kiều", tùy iheo khả năng của mình, đều có thể và phải góp phần làm sáng tỏ bí mật về tâm sự Nguyễn
Du, và càng hiểu rõ tâm sự của tác giả, ta nhận thức càng sâu sắc hơn cái hay, cái đẹp cùa "Truyện Kiéu" Vì vậy không quàn ngại
về sự hiểu biết nông cạn của mình, tôi cũng xin mạnh dạn nêu một vài suy nghĩ về vấn
để trên, từ một góc độ mà các nhà nghiên cứu vãn học có lẽ không nghĩ tới
Những ý kiến này đã được trình bày vắn tắt hơn một chút trong một bài mà tôi đã gửi tòa soạn báo "Văn nghê", năm 1965 nhân
kỷ niệm 200 năm năm sinh cùa Nguyễn Du Nhưng tiếc rằng bài báo này đã bị trả lại Lần này, tôi trình bày cặn kẽ hcm những lý lẽ làm cơ sở cho giả thuyết của tôi, và có sửa một số ý kiến, hoặc bổ sung cho đầy đủ hơn.Đây không phải là một bài nghiên cứu văn học, mà chỉ là một giá thuyết có cơ sở,
có tính chất gợi ý đ ể các nhà nghiên cứii tham khảo. Chấp nhận hay bác bỏ nó là quyền của bạn đọc, chỉ mong các bạn cùng đọc và cùng suy nghĩ, được như thế đã là
Trang 5vinh dự lớn cho tác giả, và tác giả xin chân thành cảin cm bạn đọc.
Tác giả xin chân thành cảm Cfn Nhà xuất bản Giáo dục đã giúp đỡ cho cuốn sách này
ra mắt lần đầu, và Nhà xuất bản khoa học xã hội đã giúp đỡ cho cuốn sách này ra mắt lần thứ hai, xin cảm Cfn nhà giáo nhân dân Ngô Tliúc Lanh, và cố nhà giáo nhân dân Hoàng Thiếu Sơn đã góp nhiều ý kiến quí báu và khích lệ tôi viết cuốn sách này, và cuối cùng, xin cảm ơn ông Lê Ngọc Y, nguyên biên tập viên nhà xuất bản giáo dục, đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn chỉnh bản thảo
TÁC GIẢ
Trang 6Lờỉ tựa lần xuất bản thứ hai
d ^ u ố n sách nhỏ này, sau khi ra mắt, đã được đông đảo độc giả đón nhận, nhiều bạn đọc
đã góp nhiều ý kiến quý báu, nhiều lời khích lệ, khiến chúng tôi rất cảm kích, và chúng tôi xin chân thành cảm tạ
Thể theo đề nghị của một số độc giả, trong lần tái bản này, chúng tôi đã tãng số câu trong các đoạn trích dẫn, để bạn đọc đỡ mất công tìm kiếm trong "Truyện Kiều" mà vẫn hiểu được vân cảnh trong đó có từ ngữ mà tác giả phân tích Chúng tôi còn bổ sung thêm một số lý lẽ, chi tiết, bằng chứng, để bạn đọc dỗ nấm bắt hơn ý kiến của tác già, và để tăng tính thuyết phục của lập luận Chúng tôi cũng thêm một số chi tiết trong tiểu sử một số nhân vật, trong một số điển tích Cuối cùng, chúng tôi cũng đã cố gắng sửa hết các lỗi ấn loát, biên tập, trong hai bản trước, mong rằng bản này sẽ hoàn chỉnh hơn
TÁC GIẢ
Trang 7TẠ I SAO, ĐỂ TÌM m Ể u TÂM S ự N G UYỄN D ư , TA PH ẢI
TÌM TRONG "TRƯYÊN KIỂU"?
Trong cuốn "Việt văn giáo khoa khi giớithiệu 'Truyện Kiều" và tiểu truyện tác giii, Dương Quảng Hàm viết: "Chủ yếu của tác ỉỊÌá lủ CÔI gửi tâm
sự minh vào trong cuốn truyện: cụ vốn tự coi mình như một cựu thần của Nhà Lê, mà gặp lúc quốc biến không thể trọn chữ trung với Lề hoàng, lại phải ra thờ nhà Nguyễn Cành ngộ thật không khác gì Thúy Kiều,
đã đính ước V(ỉi Kim Trọng, mà vì gia biển phải bún mình cho người khác, không giữ dưỢc chữ trinh với tình quân Bởi vậy, cụ mượìx truyện nàng Kiều đ ể bộc hạch tám sự của cụ Trong truyện, cụ lại khéo mô tả thê thái nhản lình, thật là rạch ròi, chí lý".
Việt văn giáo khoa thư, của Dương Quảng Hàm, Nha Học chính
Trang 8Cụ Dưcmg vốn là một nhà nho học, đã từn.g léu chõng đi thi, sau mới chuyển theo Tây học, nèn về thời gian, cũng như về nếp suy nghĩ, cụ gân với Nguyễn Du hcm chúng ta nhiều lắm Vậy, có thể nói rằng ý kiến trên đây của cụ Dương cũng là V kiến chung của các nhà nho học trong thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20 Thật vậy, ông nội lôi, người đã đậu cỉr nhân năm Nhâm Ngọ (1906) tại trường thi hưưng Nam Định, là một nhà nho còn ít chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây hơn cụ Dương nhiéu: tuy ông tôi cũng có đọc sách, báo quốc ngữ, nhưng chủ yếu vẫn nghiên cứu, tham khảo các sách chữ Hán, và làm văn, Ihơ chữ Hán; khi giảng "Kiều" cho anh em chúng tôi, ông tôi cũng nói về lâm sự Nguyễn Du giìn như hoàn toàn giống với ý kiến của Dương Quảng Hàm trên đây.
Trước Cách mạng tháng Tám, tổng số các trường Irung học (lức là trường cấp 2, hoặc cấp 2 + cấp 3) cổng lập của cả ba kỳ chỉ xấp xỉ mười trường, đéu dạy
và học bằng tiếng Pháp, còn tiếng Việt bị coi là ngoại ngữ, mồi tuần chỉ học có 3 giờ Trừ một, hai trường lớn - thí dụ trường Bưởi - có giáo sư chuyên về Việt vãn, trong các trường còn lại, môn tiếng Việt lại do các giáo sư Toán hoặc Lý - Hóa kiêm nhiệm V ì vậy, các thày hầu như dựa hoàn toàn vào cuốn "Việt văn giáo khoa thư" nói trên Khi học về "Truyện Kiều", học sinh cấp 2 chúng lôi thời ấy đều gần như thuộc lòng trích đoạn kể trên, và còn được nghe một sô' thày
Trang 9bổ sung thcm ràng: "Truyện Kim Vân Kiều của Thanh Tâm lài nhân vốn không có đoạn tái hổi Kim Trọng, ngưcri ta cho rằng Nguyễn Du đã sáng tác Ihêm đoạn
ấy để tỏ lòng mong mỏi được "tái hợp" với "Vua Lê"
Và vấn đề "Tâm sự Nguyễn Du" tưởng như đã được giải đáp
Tuy nhiên, cũng vào thời đó, lại xuất hiện cuốn
"Nguyễn Du và Truyện Kỉềù' của Hoài Thanh, và cuốn "Nguyễn Du và Trii\ện Kiều” của Nguyễn Bách Khoa (còn có bút danh Trương Tửu) Và vấn đề được đật lại, và thu hút sự quan tâm của nhiều người hơn Tiếc rằng sau cuộc kháng chiến chống Pháp đất nước
bị chia cát, trong văn học và đạc biệt, trong nghiên cứu về Nguyễn Du đã nảy sinh nhiều vấn đề lớn, quan trọng hơn, nên một số nhà nghiên cứu tuy có nói đến tâm sự Nguyẻn Du, nhưng khỏng đi sâu nghiên cứu
nó, và có lúc còn dẫn chứng một số sáng lác khác, ngoài Truyện Kiều, điều này, theo thiển ý, có lẽ không phải dụng ý của Nguyễn Du
Tôi cho rằng, tuy ý kiến trên đây cùa Dưcmg Quảng Hàm không phản ánh đúng tâm sự của Nguyễn
Du, nhưng nếu coi nó là ý kiến chung của đa sô' các nhà nho học trước, thì ý kiến ấy hẳn có phần xác đáng,
mà chúng ta không thể bỏ qua, đó ìầ:"Nguyễn Du sáng tác 'Truyện Kiều" đ ể ký thác tâm sự cùa mình"
Do đó, tôi cho rẳng, để hiểu được tâm sự ấy, chúng ta phải tìm nó trong "Truyện Kiểu", và chỉ tìm trong đó
là đủ, vì nếu tác giả "Truyện Kiều" đã dụng ý ký thác
Trang 10tâm sự mình trong đó, thì không có lý do gì mà cụ không gửi gắm một cách trọn vẹn Đó là điểm xuất phát đầu tiên, ưong cuộc tim tòi của chúng tôi.
Chúng ta chú ý rằng, không chỉ chúng ta ngày nay mới quan tâm tới tâm sự Nguyên Du mà những người cùng thời, bạn bè, thân thuộc của cụ cũng chú ý tới bầu tâm sự u uất của cụ Xin phép trích dẫn hai đoạn sau đây, trong "Liệt truyện Nguyễn Du" [Xem [1], trang 497- 498, chú thích 10]
"Ông là ngưcyi trong lòng tự phụ mà mật ngoài cẩn hậu Mồi khi tiến kiến, lo sợ rụt rè như người không thể nói năng được Tìùig được lời vua dụ ràng:
"Nhà nước dùng người, duy dùng người hiền tài, vốn không phân biệt trong Nam ngoài Bắc.Ngươi cùng Ngô Vị đ ã được tri ngộ, làm quan đến bậc á khanh, nên biết điều gi cứ nói hết, cho đầy đủ chức trách Đâu lại rụt rè e sợ chỉ nhữtĩg váng dạ mà thôi"
"Ông làm quan, thường phải quan trên áp c h ế nên phẫn uất bất đắc chí Đến khi bệnh nặng, ông không chịu uống thuốc, bào người nhà mỏ xem chán tay Họ nói với ông đ ã lạnh rồi, ông nói "được" Nối xong thì mất, không trối lại một điều gì "
Những chi tiết "trong lòng tự phụ, mà mặt ngoài cẩn hậu., " và "lo sợ rụt rè, như người không thể nói năng được " của người chép liột truyện đánh giá thái
độ của cụ, và " đâu lại rụt rè e sợ chỉ những vâng dạ
mà thôi" mà vua Gia Ix)ng quở trách cụ chứng tỏ rằng
Trang 11nhiều ngưcrt trong Triều đình đều thấy rõ thái độ "Từ Thứ qui Tào" của cụ, và đều chờ đợi ở cụ một lời tâm
sự, hoặc một sự bộc lộ kín đáo, vào một lúc nào đó
Và chi tiết "Nói xong thì mất, không trối lại một điều gì" cho thấy rằng, lúc sắp qua đời, cụ hoàn toàn tỉnh táo, xung quanh có nhiều người thân, mong mỏi, chờ đợi cụ lên tiếng, và họ hoàn toàn thất vọng vì cụ không hé lộ điều gì, ngoài một tiếng "được",
Thông thường, những người có một bầu tâm sự u uẩn giữ kín trong lòng suốt cả đời, khi biết mình sắp sang thế giới bên kia, đều thổ lộ với một vài người thân nhất, để lương tâm được thanh thản trước khi nhắm mắt Trong hầu hết các trường hợp ấy, lời trối trăng thường là một câu chuyện xấu, hoặc về tình ái,
về tiền bạc, hoặc thậm chí về hình sự, mà người đó là thủ phạm, đồng thời là người duy nhất còn lại, biết rõ ngọn ngành, và nếu để lộ ra, thì hoặc sẽ bị trừng trị, hoặc bị dư luận lên án Nhưng là người có lương tâm, nên suốt đời day dứt không yên; mật khác, lại không
đù dũng cảm đổ công khai tự nhận lỗi về viộc làm sai trái cùa mình, đến lúc gần đất xa trời mới thú thật với một vài người thân, để được thanh thản lưcmg tâm Còn nếu là những chuyện, như có tài mà không được trọng dụng, hoặc oan ức vì bị gian thần gièm pha, hãm hại, hoặc vô tình làm mếch lòng người trên nên bị thất sủng, hoặc tình duyên trắc trở v.v , thì dầu không kể
lể với mọi người, thì thường người ta cũng không ngần ngại gì mà không thổ lộ trong văn thơ
Trang 12Nguyễn Du, cho đến những giây phút cuối cùng của cuộc đời vẫn giữ kín bầu lâm sự cho riêng mình, chỉ "một mình mình biết, một mình mình hav", và cũng không để lộ rõ trong các tác phẩm văn học của lĩiình.Vậy, chúng ta có thổ đoán rằng, cụ không muốn thổ lộ tâm tư với người đương thời, chẳng phải vì sợ bị trừng phạt, hoặc vì xấu hổ khi phải thú nhận việc làm sai trái nào đó của mình, mà hẳn là cụ cho rằng, người đương thời không ai hiểu được cụ. Do đó, điểm xuấl phát thứ hai của chúng tôi là: "Tâm sự của Nguyền Du không thuộc loại đcm giản, Ihông thường như mọi người, không như theo cách nghĩ của các nhà nho trước kia, chỉ đcm giản là đã "không thể trọn chữ trung với Lẽ hoàng, lại phải ra thờ nhà Nguyễn", mà nảy sinh do mâu thuẫn ngay trong nội tâm cụ".
Tuy mang nặng bầu tâm sự u uất, không thổ lộ với người đương thời, nhưng Nguyễn Du lại mong hậu thế có người hiểu được mình Hai câu nổi tiếng trong bài thơ "Độc Tiểu thanh ký" của cụ:
"Bất tri tam bách dư niên hậu Thiên hạ hà nhân khấp TốNhiỉ".
mấy ai không biết? Và điều mong mỏi đó của cụ hẳn không phải là vô căn cứ, tức là ta phải cho rằng Nguyễn Du không mang theo bí mậl về tâm sự của cụ sang thế giới bên kia, mà đã "cất giấu" nó ở đâu đó trong các sáng tác văn chương cùa mình Nguyễn Du
để lại khá nhiều thơ chữ Hán (trong ba bộ: Thanh
ẹ
Trang 13Hiên tlỉ tập, Nam TriinỊỊ tạp ngâm và Bác hành tạp lục) và bốn tác phẩm Nôm là: 'Truyện Kiều" (tức Đoạn trxờng tân thanh), "Văn chiêu hồn" ('hay Văn tế thập lo ậ oỉiúng sinh), 'Thác ỉời trai phườtig nón" và
"Văn ti sống hai cô gái Trườìig Liùt", trong đó
"Truyện Kiều" là lác phẩm lớn nhất, được Nguyễn Du dành nhiều tâm huyết nhất khi sáng tác, và hầu như không raột người Việt Nam nào không thuộc lòng một vài đoạn, mà rất nhiều người còn thuộc làu đến mức
có thể làm một bài tập Kiều, về bất kỳ đề tài nào Vậy, chúng ta có thể tin chắc rằng, để "cất giấu" bầu tầm sự phức tạp của mình, Nguyễn Du đã lựa chọn "Truyện Kiều", nới có thổ giãi bày, đầy đủ, và chi tiết nỗi lòng
u uẩn cùa mình Chỉ có điều là cụ giấu quá kín, không
để bất kỳ ai cũng nhận ra được một cách dễ dàng; nhưng cụ lại vẫn muốn có người "khám phá" được
"nơi cất giấu điều bí mật của cụ", nên cụ phải dụng ý
đổ lại những dấu vếi chỉ dẫn cho ngưòd nào dụng công phát hiện các dấu vết ấy, tìm hiểu ý nghĩa của chúng, mới mong hiểu đúng được lâm sự của cụ.Và điểm xuất phát thứ ba của chúng tôi là: "Phải tìm trong "Truyện Kiéu" những dấu vết mà Nguyễn Du để lại, tìm hiểu dụng ý của tác giả thể hiện trong các dấu vết ấy mới
có thể khám phá được bí mật về tâm sự tác giả"
Trang 14C Ă N C Ứ ĐỂ TIN RẰNG N G U Y ÊN D U
DỤNG Ý đ Ể l ạ i d ấ u VẾT TRONG TRƯ ỶÊN K lỀU
Trong văn học Việt Nam và Trung Hoa, số tác phẩm có chứa đựng tâm sự của tác giả chúng không nhiều Tuy nhiên, phân tích các bài ít ỏi ấy, cũng có thể thấy được một vài qui tắc mà tác giả của chúng đã
áp dụng
Chúng ta hãy xem bài phú "Ngọc tỉnh liên" của Mạc Đĩnh Chi ([5], lập Iỉ,trang 112 đến trang 117) Mạc Đĩnh O ii, lên lự là Tiết Phu, nguyên ngưòri làng Lan Khê, huyên Băng Hà (nay là Thanh Hà, tỉnh Hải Dưcmg), sau dời sang làng Lũng Động, huyện Chí Linh Ông đậu trạng nguyên đời Trần Anh Tòng là người nổi tiếng văn tài mản tiệp Vua quan nhà Nguyên biết tiếng ông, nên khi ông đi sứ, bị vua, quan Tàu thay nhau thừ lài bàng nhicu câu dôi hiém hóc; câu nào ông cũng ứng khẩu clỏ’i lại râl chọi, khiõn mọi
Trang 15người phái phục tài Được mời đọc bài điếu một công chúa chết trẻ, ông mỏ giấy ra, chỉ thấy có bốn chữ
"nhất", biết là họ lại thử tài nên không cần nghĩ lâu, ông đọc ngay:
'Thanh thiên nhất đóa vân
Hồng lô nhất điểm tuyết
Thượng uyển nhất chi hoa
Dao trì* nhất phiến nguyệt
Y! Vân tán, tuyết tiêu, hoa làn, nguyệt khuyết".
Người ta thường kể rằng:"Khi ồng đi thi, văn bài rất xuất sắc đáng đỗ trạng nguyên Nhưng vua Trần Anh Tông thấy tướng mạo ông xấu xí, không muốn lấy đỗ Ông bèn dâng bài phú "Ngọc tỉnh liên" (tức là; hoa sen trong giếng ngọc) để nói lên cái phẩm giá
Trang 16thanh cao của mình Vua xem xong rất cảm phục, bòn cho ông đỗ trạng nguyên" Tuy nhiên, người kể lại không dẫn lời nào của vua giúp ta rõ, vua cảm phục cái "phẩm giá thanh cao" hay cái tài của tác giả, mà trong bài phú, tác giả chỉ kể lại chuyện mình gặp đạo
sĩ, được đạo sĩ cho xem bông hoa sen quí, bèn ngẫu hứng làm bài ca, ca ngợi mà thôi, tuyệt không có mộl câu, một chữ nào liên hệ về mình Và chúng ta cũng không thấy ai coi bài phú này là có chứa đựng tâm sự
gì của "Mạc Đĩnh Chi"
Chúng ta lại xem một bài phú khác, bài "Hàn vương tôn phú"^'^ của Đặng Trần Thường
Đặng Trần Thường người huyện Chương Mỹ tỉnh
Hà Đông (nay thuộc Hà Nội) đỗ sính đồ (tức tú tài) đời Hậu Lê, vốn là bạn học với Ngô Thì Nhậm, nhưng lại trở thành kẻ thù của Ngô Thì Nhậm Khi Ngô Thì Nhậm ra làm quan với Tây Sơn, thì ông trốn vào Nam, phò Nguyễn Ánh, bày tỏ tình thế Bắc Hà, được Nguyên Ánh tin dùng, ông bày mưu lập kế đánh Tây Sơn, lập nhiều công trạng, được phong chức Tán lý đô thống chế Sau khi lên ngôi vua, Gia Long lại phong cho ông chức Binh bộ Bắc thành, rồi lại triệu về kinh làm Binh bộ thượng thư Sau, vì có tội, bị bắt giam trong ngục, làm bài phú này, cùng với bài "Tần cung
nữ oán Bái công văn" Cuối cùng, bị xử giảo
Việt Nam thi văn hợp tuyển, của Dương Quảng Hàm (trang 109
110) Nha Học chính Đông Pháp, xuất bản 1943.
Trang 17Hàn Tín là người huyện Hoài Âm, có tài trí, nhưng nhà nghèo, ban đầu theo Sở bá vưcmg Hạng Võ, không được trọng dụng, bèn bỏ theo Hán vương Lưu Bang, nhờ có Tiêu Hà hết lòng tiến cử, nên được Lưu Bang phong làm Đại tướng Hàn Tín giúp Lưu Bang lập nhiều chiến công, cuối cùng đã đại thắng Hạng Võ trong trận Cai Hạ, khiến Võ phải tự đâm cổ chết Lên ngôi vua, Hán cao tổ phong cho Hàn Tín tước Hoài
Âm hầu, sau vu cho Tín làm phản, bắt trói Tín đưa về Lạc Dương, tha cho Tín, rổi ít lâu sau lại mượn tay Lữ Hậu bắt Tín và tru di tam tộc
Hàn Tín cùng với Trương Lưcmg và Tiêu Hà là ba đại công thần của nhà Hán, được Lưu Bang suy tôn là tam kiột Sau khi bình định giang scm, Hán cao tổ bắt giam Tiôu Hà, tru di Hàn Tín, Bành Viột, chỉ trừ Trương Lưcmg không làm quan mà theo đạo lu tiên nên mới thoát chết
Đặng Trần Thường cùng với Tả quân Lê Văn Duyệt, Tiền quân Nguyễn Văn Thành, hậu quân Lê Văn Qiất cũng là công thần, đã có công giúp Nguyễn Ánh diệt Tây Sơn, lôn ngôi Hoàng đế Nguyễn Vân Thành thì vì một bài thơ của con trai, mà bị kết tội phản nghịch, bị bắt giam rồi uống thuốc độc tự tử, Đặng Trần Thường, được thăng đến Binh bộ thượng Ihư, đối với Gia Long cũng có công trạng gần như Hàn Tín đối với Hán cao tổ, và cũng bị bất giam, không khác gì Hàn Tín Vì vậy, trong cuốn Việt Nam sử
Trang 18lược'^^^ Trần Trọng Kim đá viết: 'Tươìỉg truyền rằng Đặng Trần Thường ở trong ngục có làm hài "Hàn vương tôn phú" bằng quốc âm đ ể ví mình như Hàn Tín đời Hán".
Thật ra các nhà sưu tầm và nghiên cứu văn học khi giới ihiệu hoặc irích dẫn bài phú này, không ai nói là Đặng Trần Thường có ý ví minh như Hàn Tín, hoặc có gửi gắm tâm sự gì trong bài ấy Vì trong cả bài, tác giả chỉ kể lại những bước gian truân của Hàn Tín và ca tụng tấm lòng ưung hậu của Tín "ơn nho nhỏ cũng lấy vàng mà báo đáp, oán rành rành cồn lấy tước phẩm đ ể ban cho", và kể lại sự việc Tín bị bắt chứ trong bài không có một câu, một chữ nào tác giả liên hệ về mình
Ngay cả câu kết:
'T a nay: xem pho cựi( sử, đọc truyện nhân thần, thấy câu:"Hán đắc thiên hạ, đại đ ể giai Tín chi công" chưa từng thán tích Hàn vương tôn chi anh tài, mà thám trách Hán cao hoàng chi sai kỵ ", vẫn có thể coi
là của bất kỳ ngưồã nào, có gặp cảnh ngộ như Hàn Tín hay không
Do trong toàn bài phú không có câu, chữ nào lạc
ra ngoài đầu đề "Hàn vưcmg tôn", nên ngay cả vua Minh Mạng, ngưòd đã hạ lộnh xử giảo Đặng Trần
Nhà xuất bản vàn hóa thông tin ấn hành, năm 2002, trang 451
Trang 19Thường, cũng chỉ "cho là Đặng có ý oán hận' chứ không thể công khai kết tội ông về bài phú đó Và chúng ta cũng không thể từ bài phú ấy mà rút ra được kết luận gì chắc chắn về tâm sự tác giả.
Qiúng ta lại xem bài "Ngọa long cương vãn" của Đào Duy Từ ([5], tập II, trang 618 - 622)
Đào Duy Từ (xem Binh thư yếu lược, của ƯBKHXH do NXB Khoa học xã hội phát hành, năm 1977) sinh vào khoảng năm 1572 ở xã Hoa Trai, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa ngày nay, ông thông minh, học rộng, nhưng vì là con nhà phường chèo, nén không được đi thi ô n g căm phẫn trốn vào Nam Đầu tiên, ông đi ở chăn trâu cho một phú ông ở
xã Tùng Châu, huyện Hoài Nhơn Tương truyền, một hôm đi chăn trâu về thấy trong nhà có nhiểu khách cùng chủ nhà bàn luận thế sự, ông vẫn tay cầm roi, tay giữ thừng trâu chắp sau lưng đứng ngoài thềm sang sảng nghị luận rất xác đáng, khiến mọi người rất khâm phục Phú ông liền tiến cử ông với khám lý Hoài Nhom là Trần Đức Hòa, Duy Từ liền dâng bài
"Ngọa long cưcmg vãn" Đức Hòa lại đem bài đó cho chúa Nguyễn Phúc Nguyên xem, chúa mừng lắm, bèn mời Duy Từ đến hỏi chuyện và ngay sau đó trao cho ông chức Nha úy nội tán, tước Lộc khê hầu, trông coi việc quân cơ
Đào Duy Từ giúp chúa Nguyễn làm nên nhiều việc lớn, giúp chúa xây lũy Trường Dục và lũy Đổng
Trang 20Hới (thường gọi là lũy Thày, vì mọi người đều tôn ông
là bậc thày), nhờ đó chúa Nguyễn đã ngăn chặn được các cuộc tiến công của chúa Trịnh, rồi xưng vương ở phía Nam
Đào Duy Từ được coi là Đệ nhất khai quốc công thần của nhà Nguyễn
Đọc bài "Ngọa long cưoíng vãn", khám lý Trần Đức Hòa nói: "Đào Duy Từ là Ngọa Long'” đời nay chăng?", còn chúa Nguyễn thường nói với mọi ngưcri:
"Đào Duy Từ thật là Tử Phòng (tức là Trưcfng Lưcmg)
và Khổng Minh (Gia Cát Lượng) ngày nay" Tác giả biên soạn tài liộu [5] cũng nói: "Tác giả viết bài này
có ỷ ví mình như Khổng Minh và hy vọng chúa Nguyễn biết dùng tài minh''. Các ông sở đĩ khẳng định dứt khoát được như vậy, vì sau cả 130 câu chỉ kể vé các chiến công của Khổng Minh, bài vãn được kết thúc bằng bốn câu:
"Chốn này thiên hạ đời dùng
Ất là cũng có Ngọa Long ra đời
Chúa nay dùng đặng tôi tài Mừng xem bốn b ể dưới trời đêu yên".
Đào Duy Từ nói không úp mở, rằng "Ngọa Long cũng đã ra đời ở nơi này, và nếu chúa dùng được tài
Ngọa Long Cương là tèn vùng đất què hương của Khổng Minh, và Khổng Minh cũng lấy tèn hiệu là Ngọa Long (nghĩa là: rồng nằm).
Trang 21của tỏi thì bốn bể đều yên" thì khác gì tự nhận mình
là Ngọa Long thời nay?
Qua mấy thí dụ trên, chúng ta có thể thấy rằng các nhà văn, nhà thơ trước kia thường không mấy khi nói thẳng ý kiến hoặc tâm tư của mình, mà thường mượn một nhân vật lịch sử, hoặc một nhân vật do mình tưởng tượng, hoặc một sự vật vô tri được nhăn cách hóa nói thay cho mình Khi mượn lời nhân vật hoặc sự vật bao giờ các cụ cũng rất rạch ròi, minh bạch Trong tác phẩm, các tác giả đều phân biệt rõ ràng, rành mạch, phần nào nói về nhân vật, còn phần nào là liên hệ về mình Có thể là do giữa nhân vật và tác giả chỉ có sự tương đồng ở một sô' điểm, một số mặt, một số chỗ, chứ không thể có sự tương đồng hoàn toàn, nên để người đọc khỏi suy diễn lung tung, rồi gán cho tác giả ià có ý ám chỉ không tốt, để qui tội cho tác giả - như chuyên Nguyễn Văn Thành, chỉ vì một câu, trong một bài thơ của con trai là Nguyễn Văn Thuyên bị cho là "lời thơ hơi có ý tứ ngỗ nghịch" mà phải đưa ra xét xử, đến phải uống thuốc độc tự tử, chẳng hạn,- tác giả phải có những câu, chữ để lưu ý độc giả chỉ nẽn quan tâm đến những chỗ tưcmg đồng
đó mà thôi Nếu trong bài văn không có câu, chữ nào liên quan đến tác giả, như trong hai bài "Ngọc tỉnh liên" và "Hàn vương tôn phú" trên đây, thì chúng ta không thể coi bài đó là lời tâm sự của tác giả
Không riêng gì các nhà văn, nhà thơ Viột Nam,
mà cả các danh sĩ Trung Hoa cũng tuân theo thông lệ
Trang 22này, Ta hãy xét bài thơ dài: "Tỳ bà hành" nổi tiếng trong vãn học Trung Hoa và Việt Nam, đặc biệt là trong giód "nghiền" ca trù.
Theo tài liệu [5], trang 464 - 468, thì: 'T ỳ hà hành
là một bài thơ dài, của Bạch Cư DỊ, đời Đường" Bạch
Cư Dị, tự Lạc Thiên là một nhà thơ lớn thời Trung Đường Vốn là người trung trực, đương làm quan ờ kinh, ông bị bọn nịnh thần gièm pha, phải biến ra đất Giang Qiâu Nhân đêm khuya gặp người kỹ nữ vể già ở bến Tầm Dương gảy đàn tỳ bà và kể thân thế cho nghe, tiếng đàn não nuột, thân ứiế lại có chỗ giống mình, ông cảm khái viết nên bài Tỳ bà hành.
Phan Huy Vịnh, người làng Thụy Khê, huyện Yên Sơn, tỉnh Scm Tây (nay Ihuộc Hà Nồi) đõ cử nhân dưới triều Minh Mạng, làm quan trải ba triều Minh Mạng, Thiêu Trị và Tự Đức là người dịch Tỳ b à hành
ra tiếng Việt thành công hơn cả Bản dịch của Phan Huy VỊrưi^'^ còn là một trong những áng văn dịch hay nhấl trong văn học ta, rất phổ cập và được coi trọng không khác gì một tác phẩm xuất sắc trong nước
Một nữ sĩ (hay là công chúa, tôi tiếc không nhớ
chính xác) đọc Tỳ bà hành đã than rằng: "Đọc Tỳ hà
hành càng cảm thươtìg chàng Giang Châu Tư mã"
Một nhà văn Trung Hoa nghe câu than đó, đã nức nở khen: "Đọc như thế mới là hiểu Tỳ bà hành". Qiúng ta
Nay nhiều người cho là của Phan Huy Thực, bố của Phan Huy Vịnh.
Trang 23có thê dễ dàng hiểu tại sao, hai danh sĩ, hoàn toàn không quen biết nhau, thuộc hai dân tộc khác nhau, ở hai đấi nước khác nhau, lại có cùng một mối đồng cảm với lác giả "Tỳ bà hành" Đó là vì, sau 62 câu dành cho tiếng đàn và thân thế người kỹ nữ, Bạch Cư
Dị đã thốt lèn những lời cảm khái về thân phận mình: (xem [5], trang 466)
"Nghe đàn, ta đ ã chạnh buồn Lại rầu thêm nỗi nì non mấy lài Cùng một lứa bên trời lận đận Găp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau
Từ xa kinh khuyết bấy lâu Tầm Dươììg đất trích gối sầu hôm mai
Chốn cùng tịch lấy ơi vui thích Tai chẳng nghe đàn địch suốt năm Sóng Bồn gần chốn cát lầm Lau vàng, trúc võ, nảy mẩm quanh hiên
Tiếng chi dó nghe liền sớm tối Cuốc kêu sấu, vượn hót véo von Hoa xuân nở, nguyệt thu tròn Lần lán tay chuốc, chén son riêng ngừìig
Há chẳng có ca rừỉĩg địch nội Giọng líu lo buồn nỗi khó nghe "
Qua những lời tự sự này, tác giả chỉ nói đến nỗi buồn của riêng mình, không một lời oán trách nhà vua Do đã phân biệt rạch ròi, lời nào là của người kỹ
Trang 24nữ, lời nào là của tác giả nên không ai nói rằng, tác giả mượn lời người kỹ nữ oán trách chồng mình:
Khách trọng lợi khinh dường ly cách
Mái huân chè sớm têclĩ nguồn khơi
để kín đáo tỏ ý oán hận nhà vua, mà người đọc "Tỳ bà hành" chỉ có thể "cảm thương chàng Giang Châu Tư mã" chứ không thể chia sẻ với chàng lòng oán hận ai
Đến đây, chúng ta có thể kết luận rằng, có một ước lệ không thành văn của các nho sĩ trước kia, là khi mượn lời một nhân vật, hoặc một sự vật nào để kín đáo giãi bày tâm sự của mình bằng một tác phẩm văn học, tác giả luôn luôn rạch ròi, minh bạch: họ dùng một vài câu, chữ thích hợp, để báo cho người đọc, đây mới là lời tâm sự của tác giả, còn lời lẽ của nhân vật,
dù phát biểu trong một hoàn cảnh hoàn toàn giống như cảnh ngộ của tác giả, - như lời oán hận của ngưcri kỹ
nữ trên đây - vẫn chỉ là lời bộc lộ tình cảm cùa nhân vật, chớ không phải của tác giả
Nguyễn Du, khi ký thác tâm sự mình vào
"Tniyộn Kiéu" lất cũng phải theo thông lộ này Trong cuộc đời đầy gian truân của mình, kể từ lúc gặp Kim Trọng lần đầu, tới lúc tái hợp với chàng, Thúy Kiều đã trải qua nhiều cảnh ngộ rất khác nhau Đâu phải tất cả các cảnh ngộ đó đéu giống cảnh ngộ của Nguyễn Du?
Mà dù cho cảnh ngộ giống nhau thì tinh cảm, tư tưởng của nàng Kiều đâu đã chắc là giống như tình cảm, tư
Trang 25tưởng của tác già? Nguyễn Du xây dựng "Truyện
Kiều" trong đó mỗi nhân vật có một tính cách hoàn
toàn xác định; do đó, hành động, tư iưởng, tình cảm của nhàn vật trong mỗi hoàn cảnh đều phải phù hợp với tính cách mà tác giả đã định trước cho nhân vật, không Ihể tùy tiện uốn nấn theo ý thích riêng của mình Nói một cách khác, không thể cho ràng cả 3254 câu Kiểu đều chứa đựng tâm sự của tác giả, muốn trích dần câu nào cũng có thể minh chứng rằng đó là thái độ hoặc tư tưởng, lâm sự Nguyễn Du Thí dụ, lời Kiều khuyên Từ Hải:
2495 Làm chi d ể tiếng về sau
có người cho rằng Kiều không coi Từ Hải là anh hùng nữa, mà coi Từ Hải cũng chỉ là một tướng giặc như Hoàng Sào (dưcri đây, tôi sẽ còn trở lại chi tiết này), và như thế là Nguyễn Du, cuối cùng, cũng coi Quang Trung là giặc Theo ý tôi, ta không có căn cứ nào để coi lời đánh giá trên của Kiều, về Từ Hải, cũng đồng thời là lời đánh giá của Nguyễn Du, về vua Quang Trung Theo logic của truyện, thì Kiều chỉ nhầm một mục đích là thuyết phục Từ ra hàng,
mà Từ vốn là người kiêu căng, tự phụ, nên Kiéu đưa
ra lời đánh giá đó để đánh đúng vào nhược điểm đó của Từ Vả chăng lời của Kiều cũng có một phần đúng, mà Từ có lẽ cũng tự thấy là Từ không đủ sức chống đỡ lâu dài với quân triều đình, cuối cùng sẽ
Trang 26thua, mà "được làm vua" thì "thua" hẳn là phải "làrr giặc" rồi Vậy câu nói của Kiều là do iogiic của truyện đòi hỏi, không thể cho là tác giả muốn mượn lời Kiều để đánh giá vua Quang Trung.
Như vậy, để người đọc hiểu đúng được t.âm sụ của mình, tác giả phải "đánh dấu" những chổ lĩĩà cụ muốn ta hiéu, rằng đó không phải là lời nói, hoặc ý nghĩ của cô Kiều, mà chính là lời nói, ý nghĩa làm nên bầu tâm sự của cụ.Và muốn hiéu đúng được tâm sụ của cụ, chúng ta nhất thiết phải tìm cho ra những chỗ
"đánh'dấu ấy"
Trang 27C Ă N C Ứ ĐỂ N H Ậ N DẠNG CÁC D Ấ U VỂT DO N G Ư ỶỄN DU
DƯNG Ý Đ Ể LAI TRONG "TRUYÊN KIỂU"
Đào Duy Từ trước khi trốn vào Nam, đã có lần nói với bạn: "Tôi nghe chúa Nguyễn hùng cứ đất Thuận Quảng, làm nhiều việc ân đức, lại có lòng yêu
kẻ sĩ, trọng người hỉền Nếu ta theo vào giúp thì chẳng khác gì Trương Lươiig về Hán, Ngũ Viên sang Ngô, có thể làm tỏ rạng thanh danh, ta không đến nổi phải nát cùng cày cỏ, uổng phí một dời" (xem trang 8), Vì vây, khi sáng lác "Ngọa long cương vãn" để bày tỏ nguyên vọng của minh, Đào Duy Từ không những không giấu giếm, hoặc nói xa xôi, kín đáo, mà nói thẳng thừng:
"Cỉiúa nay dùng đặng tôi tài Mừng cho bốn b ể dưới trời đều yên".
Nỗi buồn của Bạch Cư Dị, khi bị biếm chức ra tận Giang Châu, phải "xa kinh khuyết" cũng là điều chẳng
Trang 28có gì đáng phải xấu hổ hoặc sợ hãi, nên ông cũng không ngần ngại nói trắng ngay ra, không úp mớ:
'Từ xa kinh khuyết bấy láu Tẩm Dương đất trích gối sầu hôm mai "
Tâm sự các tác giả của "Ngọa Long cương vãn"
và "Tỳ bà hành" không có gì là phức tạp, Đào Duy Từ thì mong cho nhiều người, nhất là chúa Nguyễn, biết đến tài mình, Bạch Cư Dị lại mong được mọi người cảm thương, nên không cần rào trước, đón sau, hoặc
xa xôi, bóng gió, mà bộc bạch ngay nỗi lòng mình Nguyễn Du lại khác Như trên đã nhận xét, cụ giữ kín bầu tâm sự của mình suốt cả cuộc đời, vì cụ cho rằng không ai hiểu cụ Khi sáng tác "Truyện K iều", chắc cụ cũng cho rằng, chỉ một số ít người có thể hiểu và cảm thông với cụ, nên cụ không muốn nói trắng ra cho mọi người biết, mà cụ giấu rải rác ở một số chỗ trong tác phẩm Và các chỗ ấy được cụ "đánh dấu" một cách rất kín đáo hẳn là đổ buộc người nào thật sự quan tâm tới bầu tâm sự của cụ, thì phải động não, dụng tâm tìm tòi, mới mong phát hiện được các dấu vết ấy, mà từ đó suy đoán ra nỗi niém u uẩn của cụ
Để bạn đọc thấy rõ hơn, ta phải dựa vào dâu đ ể tìm ra dược các dấu vế! ấy, tôi xin phân tích thêm một tác phẩm nữa Đó là bài Ihơ tứ tuyệt, nhan đề: "Trời mắng" của Nguyễn Khuyến:
"Cao cao muôn trượììg ấy là tao
Dẫu pháo thăng thiên chẳng tới nào
Trang 29k o tao nguyên vần màu xanh ngắt
Chỉ tại cJì Oa vá vút vào".
Một số tác già cho rằng nhan đề bài thơ này là
"Thiên hà ngôn tai" (nghĩa là: trời có nói đâu nào)
Khi còn học ở trường phổ thông, tôi được ông nội tôi giảng cho nghe như sau: "Tên bài thơ không phải
"Thiên hà ngôn tai" mà là "Trời mắng"*” Nhiều người không hiểu thâm ý cụ Yên Đổ nên mới nhầm thế! Cháu đọc lại câu thứ ba mà xem Tại sao cụ lại nói:
"áo", xira nay có ai nói "áo trời" đâu? Người ta chỉ nói
"da trời" thôi chứ! Nguyên là, dưới triều Nguyễn cụ làm đến Tham tri bộ Lễ, đến khi Tây sang, đo bị Hoàng Cao Khải ép, cụ mới miễn cưỡng ra làm quan,
và Tây thãng cho cụ làm Tổng đốc ba tỉnh Sơn - Hưng
- Tuyên Theo qui định ngày trước, thì phẩm phục của Tham tri là áo thụng lam, còn của Tổng đốc, chức quan cao hcm, là áo gấm Chữ "áo" cụ đặt vào câu đó chính là để trỏ vé cụ Với câu "áo tao nguyên vẫn màu xanh ngắt", cụ muốn nói "Tao trước sau vẫn chỉ là Tham tri mà thôi, còn chức Tổng đốc là do chúng mày (dì Oa) cưỡng ép tao phải nhận, chứ bàn tâm tao không muốn" (Trong "Bài di chúc" [5] tập 4, trang
333 Nguyễn Khuyến cũng dặn con:
Đê vào mấy chữ trong bia Râng: "Quan nhà Nguyễn cáo vê đ ã lâu".
Trong cuốn Việt văn giảo khoB thư{xeĩĩ\ chủ thích trang 1) Dương
Quảng Hàm cũng ghi nhan đề bài thơ là "Trời mắng".
Trang 30tức là cụ chỉ lự nhận mình là "Quan nhà Nguyên" chú không thừa nhận chức tước của "Tảy").
Ông tôi lại nói thêm: "Bìnỉi ihường ra thì chữ
"áo" phải sổ toẹt, vì không phù hợp \'oi đáu đé bài thơ,
là "Trời", vì trời có mặc áo bao giờ Nhưng đặt vào đó
để kín đáo bày tỏ tâm sự mình thì lại rất hay, vì vẫn giữ được ý "màu xanh ngắt" đúng với đầu đề, mà lại ngụ được ý riêng của tác giả Phải có chữ "áo" ấy, thì người ta mói hiểu được thâm ý của tác giả, chứ nếu sửa lại là "Da tao nguyên vẫn màu xanh ngắt" thì cả
28 chữ của bài thơ đều hợp với đầu đề "Trời", nhưng bài thơ không còn gì đáng chú ý nữa, và cũng chỉ bình thường như các bài thơ khác mà thôi"
Ông tôi còn đưa ra một vài bài thơ hay, nổi tiếng, thí dụ, bài thơ "Rắn đầu biếng học" của Lê Quý Đòn,
và bài thơ "Vấn nguyột" của Hồ Xuân Hưcmg,để chỉ cho tôi Ihấy, trong hai bài đó, không một câu, một chữ nào lạc ra ngoài đầu đẻ; thậm chí, hai tác giả còn tài tình ở chỗ, trong bài "Rắn đầu biếng học", ưong mỏi câu thơ lại có tên một con rắn, và trong bài "Vấn nguyệt" thì cả tám câu đều là tám câu hỏi cả
Gia đình tôi vốn ở Nam Định, cụ tôi và ông lôi đều là nhà nho - cả hai đều đỗ cử nhân Hán học - có giao du với các bậc danh nho thời ấy, như Nguyễn Khuyến, Nguyễn Thượng Hiền (từng làm Đốc học Nam Định, Ninh Bình), Trần T ế Xương v.v và hiổu
họ khá rõ Tôi tin là cách giải thích của ồng tôi vể bài thơ trên là đúng với ngụ ý của tác giả, hơn nữa, Iheo
Trang 31sự phán đoán của mình, tôi thấy điều ông tôi giảng là rất có lý.
Từ đó, tôi suy đoán rằng; "Luật thơ, phú của các
cụ ta xua kia thật là hết sức ngặt nghèo Trong một bài văn, bài thơ hay, tất cả mọi chữ ưong bài đều phải phù hợp với đầu đề Một bài thơ dù hay đến mấy, mà còn để sót một chữ lạc để, dù là tác giả do bí vần mà không thay bằng chữ thích hợp hơn được, thì vẫn bị chê là dở, vẫn bị "sổ toẹt" Điều này buộc các nhà văn, nhà thơ, khi sáng tác không được phép cẩu thả, tùy tiện, mà phải cân nhắc thận trọng từng câu, từng chữ, để không có chữ nào lạc đề Căn cứ vào tiêu chuẩn này, đôi khi, ta cũng dễ dàng loại trừ các chữ dị bản, mà lựa ra chữ do tác giả dùng Ta hãy xét bài thơ sau đây của Bà huyện Thanh Quan, mà đầu đề, theo nhiều tác giả là "Thãng Long hoài cổ" ([5], tập ni, ưang 470)"
Tạo hóa gây chi cuộc hý trường
Đến nay thấm thoát mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa hổn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước cồn cau mặt với tang thương
Ngàn nám gương cũ soi kim c ổ
Cảnh đấy, người đáy, luông đoạn trường.
Ông tôi giảng rằng: Đầu để bài thơ không phải là
"Thăng Long hoài cổ", vì hoài cổ sao lại đoạn trườngđược? "Đoạn trường" nghĩa là "đứt ruột", tức là "đau
Trang 32đớn vô cùng" mà người ta chỉ có thể "đoạn trường trước một cảnh có liên quan trực tiếp với mình, m thôi Đầu đề bài thơ này đúng ra là "Quá có' phu 1 sở", nghĩa là "Nhiộm sở của người chồng quá cố Qiổng mất rồi, nén khi thấy nơi ông làm việc trưó đây, thì bà mới "đoạn trường" nhất là, chồng bà lại l mất chức tri huyện vì lỗi của bà" (Có một người đà
bà, tên là Nguyễn Thị Đào, làm đcfn kiện chổng, V
xin ly hôn, bà phê vào đom cho phép về lấy chổní Chồng Thị Đào kiộn lên quan trên, và ông huyện t cách chức) Vấn đề đầu đề bài thơ, thực hư thế nàc xin dành để các bậc cao minh phán xét, riêng tôi, tê chỉ tâm đắc một điều, là theo các cụ ta xưa kia, th ưong một bài thơ hay, không được phép có một chi nào lạc đề, dù chữ đó chỉ liên quan đến một chi tiê không đáng kể
Mặt ưái của qui tắc này, là nó lại bị các cụ lọ dụng để phục vụ một ý đồ riêng: mỗi khi muôn kíi đáo bày tỏ ý kiến của mình về một vấn đề gì đó, cá(
cụ chỉ cần tìm một chỗ nào đó Ihích hợp ưong bài vàn bài thơ cùa mình, rồi đặt vào đó một chữ, hoặc vài chi
"trái cựa" tức là lạc rõ rệt ra ngoài đầu đé bài vân, bà thơ, khiến người đọc phải sửng sốt, mà tìm hiều dụnị
ý của tác giả Idii dùng chữ éo le như vậy, do đó, lần r; được thâm ý của tác giả
Nguyễn Khuyến, tuy sinh sau Nguyễn Du và chục năm, tuy có tiếp xúc chút ít với Tây học, nhưní căn bản vẫn là một vị thâm nho, tức là được đào tạc
Trang 33theo cùng một khuôn mẫu như Nguyễn Du Tài văn chưcmg, cả về quốc âm lẫn Hán văn của hai cụ cOng lại tương đương với nhau, hẳn là, để kín đáo bày tỏ tâm sự của mình, hai cụ tất sẽ dùng cùng một phương pháp "ẩn dụ" E)ể khẳng định mình trước sau vẫn chỉ là
"Quan nhà Nguyễn", Nguyễn Khuyến đã thay chữ
"da" bàng chữ "áo" trái cựa trong bài thơ "Trcri mắng" Vậy, ichi ký thác tâm sự mình trong "Truyện Kiều" Nguyễn Du tất cũng làm như thế, tức là, đáng lẽ phải dùng chữ này mới thích hợp với diễn biến logic của truyện, cụ lại thay bằng một chữ "trái cựa", tức là một chữ rõ ràng lạc hẳn ra ngoài logic của truyện, để người đọc chúng ta phải sửng sốt mà tìm hiểu dụng ý của tác giả, rồi suy đoán ra tâm sự tác giả Nói một cách khác, những chỗ "trái cựa" ấy chính là những dấu vết do Nguyễn Du dụng ý đặt rải rác trong truyện để dẫn dắt người đọc chúng ta tới tâm sự u uất của cụ
Như vậy, bước tiếp theo - bước thứ tư, cũng là bước quan trọng nhất, bước quyết định - trong cuộc tìm tòi của chúng tôi là:
"Để hiểu đúng và đầy đủ tâm sự của Nguyễn Du qua "Truyện Kiều", cần tìm cho ra mọi câu chữ, mọi điển tích, tình tiết không thích hợp với nhân vật hoặc khổng phù hợp với diẻn biến logic của truyện, tóm lại,
là tìm những câu, chữ "đáng phải sổ toẹt" theo cách nói của các cụ ta xưa kia, coi chúng chính là nhữtìg
"dấu vết" mà tác già dụng ỷ đặt vào, rồi tìm hiểu ỷ nghĩa của chúng, mà từ đó, suy ra tám sự cùa tác giả.
Trang 34Và chỉ nên suy luận trên cơ sở các chi tiết ấy mà thỏ nghĩa là những chi tiết nào, câu chữ nào phù hợp V(
logic của truyện sẽ không được coi là có chứa ẩn ý ị
của lác giả, để tránh không gán cho ông những ý kiếi
mà có lẽ ông không hề nghĩ đến
Dưới đây, tôi xin lần lượt trình bày các "dấ vết" mà tôi đã phát hiện được, nêu lên ý nghĩa củ chúng cùng những suy đoán chủ quan của tôi, từ cá dấu vết ấy
Trang 35"KIM TRỌNG TH ựC" VÀ "KIM TRỌNG H Ư ',
"THÚY KIỂU THỨC" VÀ "THÚY lÕỀU H ư '
Q iúìg ta hãy xem đoạn nói về việc Kim Trọng thành hìn với Thúy Vân:
2837 Xuân huyên lo sợ xiết bao
Quá ra khi đến th ế nào mà hay!
Vội vàng săm sửa chọn ngày
Người yểu điệu, kẻ văn chươỉìg Trai tài, gái sắc xuân đươĩỉg vừa thì Tuy rằng vui chữ vu quy
Vui này đ ã cất sầu kia dược tiào Khi ăn ỏ, lúc ra vào
2846 Càng âu duyên mới, càng dào tỉnh xưa"
Trang 36về hai chữ "vu quy", Lê Văn Hòc [2] đã chú giả
như sau:
"Vu quy mượtì chữ trong thơ Đào Yêu kinh Thi
nói người con gái vê nhà chồng.
Đáy tác giả dùng đ ể nói sự vui mừng về việc cướ
vợ của Kim Trọng thì không hợp Kim Trọng c ó ỉàn
dâu đáu mà vu quy".
Còn Nguyễn Thạch Giang [ 1 ] thì giảng:
"Vu quy đây chỉ việc ông bà viên ngoại ch o con
gái về nhà chồng".
Chúng ta thấy rõ là cách chú giải của Nguyễn
Thạch Giang không làm chúng ta thỏa mãn Người lấy
vợ thì phải vui vể việc mình cưới vợ, chứ sao lại vui vì
việc "bố mẹ vợ cho con gái về nhà chồng", dẫu là vé
nhà anh ta? Ta cũng không thể nói là tác giả "Truyện
Kiều" muốn nói: "Tuy Thúy Vân vui chữ vu quy", vì
Vân chỉ có "vui này", chứ làm gì có "sầu kia", chỉ có
"duyên mới" chứ làm gì có "tình xưa"? Người "vu
quy" dứt khoát phải là Kim Trọng Do đó, cách chú
giải của Lê Văn Hòe là hợp lý hơn, và thắc mắc của
ông rất đúng, đổng thời cũng là thắc mắc cùa nhiều
người khác, tuy họ chỉ nói, mà không viết ra mà thôi,
ơiúng ta hãy thử xét mọi khả năng lý giải, tại sao
Nguyễn Du lại dùng hai chữ "vu quy" ở đây
1 Khả năng thứ nhất là cụ "nhầm" Khả năng này
có thể hoàn toàn loại trừ, chảng những vì chỉ mới nghĩ
Trang 37thế thổi cũng đã là xúc phạm người học vấn uyên
thâm, có vốn từ vựng phong phú, lại dùng chữ một
cách thần tình, ai cũng phải khâm phục như cụ, mà
còn vì một lẽ hiển nhiên hơn, là ở nhiều chỗ khác
trong "Truyện Kiều" Nguyễn Du đã sử dụng hai chữ
"vu quy" theo đúng nghĩa của chúng Thí dụ:
65ì "Định ngày nạp thái vu quy
Tiền lưiig dã sẵn, việc gì chẳng xong "
hoặc
Rằng "Vâng lệnh chỉ rước chầu vu quy "
Vậy, ta có thổ tin chắc trăm phần trăm là không
có chuyện Nguyễn Du dùng nhầm chữ, và ta có thể
hoàn loàn loại trừ khả năng này
2 Khả năng Ihứ hai là do bí vần, nên nhà thơ phải ùng chữ đó, dẫu biết là sai Ai cũng biết "thơ" lục bát
là cực kỳ khó làm Riêng một quy luật chì được dùng
vẩn bằng đã hạn chế rất nhiều số vần được gieo, lại
còn thêm qui luật: "trong hai chữ sáu, tám của câu
tám, thì một chữ phải có dấu huyền (trầm bình thanh),
chữ kia phải không dấu (phù bình thanh)" đã khiến
không ít nhà thơ điêu đứng; để câu thơ không thất vận,
lắm khi họ đành dùng những chữ không sát nghĩa lắm,
[hậm chí, có khi còn mâu thuẫn nữa, thí dụ: bốn câu
trích trong truyện "Nhị độ mai":
Trang 38Ong trong tay áo cố người Giao thông giặc Thát toan bài nọ kia
Tâu lời, e cũng ngô nghé Một tờ đoán biểu tức thì giỏ ra
Một đại thần thân cận, hầu như ngày nào cũní được vua vời, khi thì để bàn việc, lúc thì để đánh cc giải khuây, mà lại sợ rằng lời nói của mình ngô nghé nên phải dâng sớ, thì rõ ràng là không thích hợp Nhưng tác giả buộc lòng dùng chữ ấy, cho bắt vầr được với hai chữ "kia" và "thì"
Hoặc bốn câu trích trong truyện "Lục Vân Tiên' sau đây:
Chi bằng kiếm chốn lân gia Trước là tìm bạn, sau là nghỉ chán
Việc chi than khóc tưnỊỉ bừng Đều đem nhau chạy vào rừng, lên non
Có lẽ giữa hai câu trên và hai câu dưới còn có một vài câu nữa để chuyển qua chuyện Vân Tiên đang vòra đi vừa nghĩ ngợi, thì gặp một đám người vừa kêu khóc vừa chạy tan tác Nhưng dù sao, thì than khóc cũng không thể "tưng bừng" được, dù khóc
vì bất cứ lý do gì Nhưng tác giả Lục Vân Tiên, dẫu biết là sai mà vẫn phải dùng, cho bắt vần được với chứ "rừng" ở câu sau, (và có lẽ với một chữ nào đó ở câu trước, bị thất lạc)
Trang 39Giỏi tìm vần thơ như Nguyên Du, mà cũng có lần phải làm như hai tác giả trên Hãy xem bốn câu:
3 lố ì Chrnrinh còn một chút này
Chẳng cầm cho vững, lại giầy cho tan Còn nhiều ân ái chan chan
3164 Hay gì vầy cánh hoa tàn mà chơi
Về vấn đề "ân ái chan chan", Lê Văn Hòe bình luân:
"Còn nhiều án ái chan chan Cồn nhiều ỏ đáu? Ấn
ái là gì?Dám chắc rằng hỏi như vậy, Thúy Kiều dù có sổng lại cũng không đáp nổi".
Nguyễn Thạch Giang thì chỉ giảng "chan chan:
tràn trê, đấy rẫy'\ mà không bình luận gì thêm.
Theo tôi, Lê Văn Hòe đã hiểu sai lời nói của Kiều Kiều đâu có hứa hẹn với Kim, là còn nhiều ân ái, hoặc bảo Kim là " anh còn nhiều ân ái (với Thúy Vân), vậy, việc gì phải vầy cánh hoa tàn này?" Tôi cho rằng, coi
ba câu 3161, 3162, và 3163 liền với nhau, thì nghĩa cùa Icri Thúy Kiều sẽ trở thành rõ ràng hcm và hợp lý hơn, cụ thể là: "chữ trinh còn một chút này (tức là khước từ chuyện chản gối, để giữ cho mối tinh của hai người được thuần khiết), thế mà anh đã chẳng cầm cho vững, lại còn giầy cho tan, lại còn đòi nhiều ân ái chan chan" Rồi từ ý này, Kiều mới kết luận; "Hay hớm gì (mà cứ đòi) vầy cánh hoa tàn", hoặc: "hay hớm gì cái chuyện vầy cánh hoa tàn (mà cứ nài), mới là logic Nhưng dù hiểu theo cách nào, thì hai chữ "chan chan"
Trang 40vẫn cứ buộc ta phải nghĩ là Nguyễn Du do bí ván, nên
đã phải dùng một chữ mà có lẽ cụ cũng không hài lòng lắm
Do qui định ngặt nghèo về vần, điệu trong thể văn lục bát, nên ngoài biện pháp dùng chữ gần đúng, hoặc hoàn toàn không thích hợp hoăc ép vần, tác giả các tác phẩm viết theo thể lục bát còn hay dùng những chữ đưa đẩy, tức là những chữ chỉ để thêm vào câu thơ cho đủ số, chứ không nhằm đưa thêm thông tin gì Phổ biến nhất là hai chữ "một khi", thí dụ:
hai câu trích trong truyện "Thạch Sanh"
Thạch Sanh hóa phép tức thì Búa rìu liền phóng một khi yêu xà
hoặc hai câu trích trong ưtiyện "Phạm Công, Cúc Hoa"
Lấy giấy phủ mặt xưa kia Làm thư đ ể Ịại một khi trách chồng
và khá nhiều câu tương tự trong các truyện khuyết
danh khác Tài tình như Nguyễn Du mà cũng phải một
lần dùng biộn pháp bất đắc đĩ này;
Bộ hành một lũ, theo liền một khi.
Hai thí dụ "chan chan" và "một khi" này cho thấy Nguyễn Du cũng có lúc bí vần, phải làm theo một sô' nhà văn tầm thường khác, tuy câu của cụ không quá