1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về công ty chứng khoán ở việt nam PGS TS nguyễn thị thu thuỷ

263 120 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 263
Dung lượng 17,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù pháp luật chứng khoán hiện hành ở Việt Nam, đặc biệt là Luật Chứng khoán đã có những quy định túơng đối rõ ràng vê các chê tài áp dụng đôl vối các hành vi vi phạm của CTCK, vê trá

Trang 1

PGS TS LÊ THỊ THU THỦY

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Thị trưòng chứng khoán (TTCK) là nơi diễn ra các hoạt động phát hành, mua, bán chuyển nhượng quyền sở hữu chứng khoán Sự hình thành và phát triển TTCK là một

tấ t yếu của nến kinh tế thị trường Đây là một thể chế tài chính bậc cao, hoạt động trên những nguyên tắc nhất định,

có tác động lớn tới sự phát triển của nền kinh tế Trên th ế giới, TTCK ra đời cách đây nhiều th ế kỷ và hiện đang phát

triển mạnh ỏ một số nước như Mỹ, N hật Bản, Anh, Hàn

Quốc ở Việt Nam, sự ra dòi của TTCK chính thức, công khai được đánh dấu bàng việc thành lập và vận hành Trung tâm giao dịch chứng khoán tại thành phô" Hồ Chí Minh ngày 20/7/2000 Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng đôì v3i nền kinh tế, mở ra một kênh huy động vô"n hữu hiệu clio các doanh nghiệp bên cạnh kênh tín dụng ngân hàng

Nó lè chiếc cầu nối giữa một bên là nhà đầu tư bao gồm các

tổ chức kinh tế, xã hội và đông đảo quần chúng có nguồn vón nhàn rỗi với một bên là các doanh nghiệp cần vôn và Nhà nước cần tiền để thoả mãn các nhu cầu chung của nền kinh tế TTCK ra đời đâ góp phần tích cực vào cổ phần hoá doani nghiệp nhà nước, góp phần thúc đẩy quá trình xă hội hoá vôn đầu tư phát triển

Tuy nhiên, TTCK là một loại thị trường đặc biệt Đối tượnp giao dịch trên thị trường là hàng hoá - chứng khoán,

Trang 4

xác định giá trị, có thể gây ra những rủi ro cho nhà đầu tư khi mua bán loại hàng hoá này Ngoài ra, TTCK có sự tham gia của đa dạng các chủ thể khác nhau, do vậy quyền

và lợi ích hỢp pháp của nhà đầu tư chứng khoán có nguy cơ

bị xâm hại từ nhiều phía (có thể là tổ chức phát hành, các nhà đầu tư khác, các sở giao dịch chứng khoán )- Chính

vì vậy, để hạn chế rủi ro cho nhà đầu tư, bảo đảm các nguyên tắc hoạt động của TTCK nói chung vằ TTCK tập trung nói riêng (như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; công bằng, công khai, minh bạch; nguyên tắc trung gian), công ty chứng khoán (CTCK) đã ra đòi Cùng với sự phát triển của TTCK ở Việt Nam trong những năm qua, CTCK đã có những bưỏc trưởng th àn h cả về lượng và

về chất, dần khẳng định đưỢc vai trò và vị thê của định chế tài chính trung gian trên thị trường, đồng thòi góp phần tạo nên sự vận hành thông suốt của thị trưòng thông qua việc kết nối nhà đầu tư với thị trường Sô' lượng CTCK đã được cấp phép hoạt động tính đến thòi điểm hiện nay là

105 công ty Nhiều công ty đã huy động vốh thông qua TTCK để tăng vốn điều lệ lên hàng nghìn tỷ đồng như CTCK Sài Gòn (3.700 tỷ đong), CTCK Kim Long (2.730 tỷ đồng), CTCK Thăng Long (800 tỷ đồng)"*

Các công ty về cơ bản đã kiện toàn bộ máy nhân sự, nâng cao năng lực quản trị, điều hành Năm 2009, các công

ty đã thực hiện trên 5000 hỢp đồng tư vấn và bảo lãnh phát

Th.s Nguyễn Ngọc Cảnh, “Tác động của các cam kết WTO tới TTCK

Việt N am - N hìn lại sau 3 năm gia nhập WTO”; Tạp chí; “Chửng

Trang 5

hành; tổng giá trị bảo lãnh phát hành là 1275 tỷ đồng; tổng phí môi giới của các CTCK thu được đạt 2236, 508 tỷ đồng, phí tư v ấ n đ ầ u tư chứng kh o án đ ạ t 8,33 tỷ đồng, p h í tư vấn khác của công ty đạt 152,011 tỷ đồng"*.

Năm 2010, các hoạt động nghiệp vụ của CTCK tăng trưởng mạnh với tổng doanh thu hoạt động trên 10.000 tỷ đồng trên cả bôn mảng nghiệp vụ là môi giỏi, tự doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán®

Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đang phải thực hiện các cam kết WTO và trước những biến động của n ề n t à i chính to à n cầu thì CTCK là đôi tưỢng chịu sự tác động rấ t lớn từ quá trình hội nhập Các CTCK chịu áp lực cạnh tranh gay gắt khi nhu cầu thị trường đòi hỏi phải gia tăng chất lượng dịch vụ và tiềm lực tài chính Điều này

đã dẫn tới các CTCK phải “bon chen” nhau để sinh tồn, gây

ra những bất lợi cho thị trường, nhà đầu tư Đặc biệt, do có những lợi th ế nhất định về khả năng tiếp cận thông tin, phân tích thông tin và bản thân CTCK là nhà đầu tư chuyên nghiệp trên TTCK nên nhiều hành vi vi phạm của công ty đã xâm hại tới quyền lợi của nhà đầu tư, gây rủi ro lớn cho họ Trong năm 2009, Uỷ ban chứng khoán Khà

Vụ qu ản lý kinh doanh - UBCKNN “// o ạ í động của các công ty

chứng khoán năm 2009 và giải pháp p h á t triển năm 2 ồ W \ Tạp chí:

“(^hứng k h o á n ” số 1+2, tháng 1+2/2010, tr 21.

Vụ quản lý kinh doanh - UBCKNN, ''Tổng quan hoạt động các công

iy chứ ng khoán - Thực trạng 2010, m ục tiẽu và đ ịn h hướng 201 F \ Tạp

chí: “Chứng kboán” sô' 1+2, tháng 1+2/2011, tr 24.

Trang 6

nước (UBCKNN) đã tăng cưòng công tác giám sát, kiểm tra hoạt động của các CTCK và đã xử phạt 11 CTCK vi phạm quy định vê chứng khoán, TTCK”'.

Nàm 2010, đã xử phạt 27 trưòng hợp vi phạm của các CTCK và người hành nghề, chiếm 11,64% trong tổng só các trường hỢp xử p h ạ t do không thực hiện hay không thiết lậ p

hệ thông kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro, không giám sát, ngăn ngừa xung đột lợi ích trong công ty, cho khách hàng bán chứng khoán trước ngày T+4; chưa thực hiện tách bạch hoàn toàn tiền của CTCK và nhà đầu tư; cho thành viên Hội đồng quản trị, cổ đông nội bộ vay tiền ‘^’

Mặc dù pháp luật chứng khoán hiện hành ở Việt Nam, đặc biệt là Luật Chứng khoán đã có những quy định túơng đối rõ ràng vê các chê tài áp dụng đôl vối các hành vi vi phạm của CTCK, vê trách nhiệm của công ty trong hoạt động kinh doanh chứng khoán, tuy nhiên sau một khoảng thòi gian áp dụng, các văn bản'này đã bộc lộ những bâ't cập, không còn phù hợp với thực tiễn của TTCK, ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của khách hàng, của nhà đầu tư chứng khoán.Thêm vào đó, trong nền kinh tế thị trường, với sự hiộn diện của quv luật cạnh tranh và với mục đích tôi đa hóa lợi

Vụ quán iý kinh doanh - UBCKNN ''Hoạt động của các công ty

chứn^ khoán nãm 2009 và giái pháp phát triển nám 2 0 ỉơ '\ Tạp clìí:

"Chứng khoán" 1+2 tháng 1+2/2010 tr 21.

'■’* Thanh tra • ƯBCKNN "Cổng tác thanh tra uà xử lý vi phạm trộ.n

TTCK • Nhiìi lại năm 2010 và m ục tiêu, nhiệm vụ năm 2 0 ỈV \ Tạp chí:

“Chứng khoán” sỗ* 1+2 tháng 1+2/2011, tr 37.

Trang 7

nhuận thì sự phá sản các CTCK có thể diễn ra bất cứ lúc nào, nhưng dưòng như vấn đê này chưa được quan tâm đúng mức bởi các nhà làm luậl Cliính vì vậy, việc nghiên cứu các vấn đề về công ty chứng khoán ở Việt Nam một cách đầy đủ

và hộ thông, đặc biệt là nghiên cứu dưới khía cạnh pháp lý

là rấl cần thiết, nhằm làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn cho việc thành lập và hoạt động của CTCK

Có thể nói, cho đến thòi điểm hiện nay ở nước ngoài cũng như ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu

về CTCK Tuy nhiên, các công trình nêu trên chủ yêu nghiôn cứu CTCK dưới góc độ nghiệp vụ, không đi sâu phân tích dưỏi góc độ pháp luật các vấn đề liên quan đến

tổ chức này Dưới giác độ luật học cho đến nay chưa có cuốn sách chuyên khảo nào nghiên cứu một cách đồng bộ và toàn diện về pháp luật CTCK, đặc biệt là ván đề thành lập

và kinh doanh chứng khoán của CTCK Cuôn sách "P háp

lu ã t v ề công ty c h ứ n g k h o á n ở V iêt N a m ” do PGS.TS

Lô Tliị Tliu Thủy chủ biên được xuất bản với mong muôVi giới th iộ u n h ữ n g nội dun g ch ủ yếu c ủ a p h á p lu ậ t vả thực tiễn vc CTCK ỏ Việt Nam Bôn cạnh đó, những quy định

của pháp luật về CTCK ở một số nước ti’ên thê" giới như Mỹ,

Trung Quôc, Nhật Bản cũng dược phân tích so sánh với pháp luật ở Việt Nam Trên cơ sớ đó, tác giả nêu ra những vân để cẩn tham khảo kinh nghiệm nước ngoài vê CTCK

và dồ xuíVt định hưóng và những kiên nghị nhằm hoàn

th iệ n p h á p l u ậ t vổ công ty chứng k h o á n nói riêng và về chứng khoán, TTCK nói chung ở Việt Nam, tạo cơ sở pháp

lý cho TTCK hoạt động minh bạch, công khai và xác lập

Trang 8

m ột cơ c h ế bảo vệ n h à đ ầ u tư m ột cách hỢp lý, p h ù hợp vói

th ô n g lệ quốc tế.

Đặc biệt, cuốh sách cung cấp cho các nhà làm luật Việt Nam kinh nghiệm lập pháp trong lĩnh vực TTCK, (tồng thời là nguồn tài liệu quý báu cho giảng viên, sinh viên trong việc nghiên cứu và giảng dạy môn: “Pháp luật chứng khoán” tại các trưòng đại học

Hà Nội, tháng 9 năm 2011

NHÀ XUẤT BẢN T ư PHÁP

Trang 9

Chương I

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

VỂ CÔNG TY CHứNG KHÒÁN

VÀ PHÁP LUẬT VỂ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN

1 Khái niệm, đặc điểm công ty chứng khoán

Để hình thành và phát triển TTCK có hiệu quả, một yếu tô" không thế thiếu là các chủ thể tham gia kinh doanh trên TTCK Mục tiêu của việc hình th àn h TTCK là thu hút vô"n đầu tư trung, dài hạn cho sự phát triển kinh tế và tạo

ra tính thanh khoản cho thị trường Do vậy để thúc đẩy TTCK hoạt động một cách có trật tự, công bằng và hiệu quả cần phải có sự ra đòi và hoạt động của các CTCK Lịch sử hình thành và phát triển của TTCK trên th ế giói cho thấy thời tiền sử của TTCK, các nhà môi giới hoạt động cá nhân, độc lập với nhau Sau này, cùng vỏi sự phát triển của TTCK, chức năng và quy mô giao dịch của các nhà môi giói tăng lên đòi hỏi sự ra đời của các CTCK là sự tập hợp có tổ chức của các nhà môi giối riêng lẻ

Hơn t h ế một doanh nghiệp muôn mở rộng sản xuấ^t

Trang 10

kinh doanh, muốn đầu tư thêm dây chuyền, đầu tư thêm trang thiết bị cần thiết cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh mở rộng thị trường, mở I'ộng loại hình kinh doanh doanh nghiệp có thể huy động vốn bằng nliiều hình thức khác nhau Chẳng hạn huy động vôn qua các cổ đông doanh nghiệp (cách này xem ra hiệu quả nhưng lượng vốn huy động không đủ lỏn để đầu tư); huy dộng vốn qua bạn bè ngưòi thân (cách này chĩ cần thiết và hiệu quả khi vốn cần không lâu dài và phải trả lãi theo thỏa thuận do đó phần nào ảnh hưởng tới kinh doanh và sản xuất); huy động bằng nguồn vôVi vay ngân hàng, tuy nhiên với lăi suất liên tục thay đổi và thưòng phải có tài sản bảo đảm, làm cho các doanh nghiệp nhiều khi cũng rơi vào tình th ế khó khăn Tại nhiều quôc gia có nền kinh tế thị trường phát triển, các doanh nghiệp khi cần vô"n thường huy động bằng cách phát hành chứng khoán Cách huy động này mang lại hiệu quả cao bởi tính ưu việt

về thời gian sử dụng vôn, doanh nghiệp yên tâm sản xuấ'! kinh doanh, bỏi qua hình thức này từ việc vay vôn đã trở thành chung vôn và cùng chia sẻ thắng bại với doanh nghiệp Do đó, việc huy động bằng cách này đem lại hiệu quả cao cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp Song một doanh nghiệp muốn huy động vôn bằng cách phát

hành chứng khoán, họ thường không tự mình đi bán số

chứng khoán mà họ phát hành Công việc này không phải

là chuyên môn của họ mà của một giới chuyên môn khác,

đó chính là đội ngũ các nhà bảo lãnh phát hành chuyên

Pháp luật về côns ty chứng khoán ở Việt Nam

Trang 11

n g h iệp đ ả m bảo việc p h á t h à n h s u ô n sẻ vối sô" lượng chứng khoán phát hành được bán hết.

Đôi với những người cần mua chứng khoán (nhà đầu tư), nhiều khi họ không dám tự mua, tự bán chứng khoán trên TTCK tự do hoặc không đến sở giao dịch nơi mua bán

và trao đổi chứng khoán để tự mua các chứng khoán cho mình vì thiếu chuyên môn, thiếu hiểu biết vê thông tin và cách phân tích các thông tin tài chính của doanh nghiệp phát hành chứng khoán Ngoài ra, họ còn không thông hiểu các quy tắc nghề nghiệp trong giao dịch mua, bán chứng khoán Vì vậy, một nguyên tắc của bất cứ TTCK tập trung nào trên thế giối đó là nguyên tắc trung gian Nghĩa

à, tất cả các giao dịch mua, bán chứng khoán trên TTCK tập trung của các nhà đầu tư bắt buộc phải được giao dịch tập trung và phải được thực hiện thông qua các CTCK CTC'K là chủ thể giúp nhà đầu tư thực hiện các giao dịch một cách nhanh chóng, an toàn hỢp pháp Nguyên tắc bất

di b.TÍt dịch này nhằm bảo vệ tôl đa quyền lợi của nhà đầu

tư, hạn chế các rủi ro họ có thế gặp phải

Do đó một tổ chức hành nghê chuyên môn với nghiệp vụ chuyên sâu về phân tích và t ư vấn về đầu t ư chứng khoán, vói k in h ng h iệm n g h ề nghiệp, có bộ m áy thích hỢp làmnhiệm vụ cầu nôi giữa nhà pliáL hành V(3i nhà dầu tư đưực

Trang 12

Theo Luật Chứng khoán ở Thái Lan thì “CTCK là công

ty trách nhiệm hữu hạn, công ty trách nhiệm hữu hạn đại chúng hoặc tổ chức tài chính được cấp giấy phép hoạt động kinh doanh chứng khoán” Theo Luật Chứng khoán ở Nhật Bản th ì “CTCK là b ấ t kỳ công ty cổ p h ầ n nào đó đưỢc Bộ trưỏng Bộ Tài chính cấp giấy phép kinh doanh chứng khoán” Hoặc theo Luật Chứng khoán ở Trung Quốc thì

“CTCK là công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần làm nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán, iược quy định trong luật công ty và quy định của Điều 117 Luật Chứng khoán”'*’

Luật Chứng khoán của Liên minh châu Âu (EU) quy định: “CTCK là pháp nhân hoặc không phải là pháp nhân thực hiện các dịch vụ đầu tư kinh doanh chứng khoán cho bên thứ ba như là nghiệp vụ của chính mình”; Luật Chứng khoán ở Mỹ cho phép CTCK được thành lập dưới C ĩ ba hình thức pháp lý; công ty cổ phần, công ty trách nhiệm

lữ u h ạ n , công ty hỢp danh.

Theo Luật Chứng khoán Việt Nam (khoản 1 Điều 59), CTCK đưỢc h iểu là doan?! n g hiệp th à n h lập theo quy định

p h á p lu ậ t dưới h ìn h th ứ c công ty cổ p h ầ n hoặc công ty

Pháp luật về công ty chứng khoán ở Việt Nam

Diều 117 L uậl Cliứng khoán Truiiíỉ Quốc quy dịnli: "Việc Ihành lỘỊ)

C TC K p h ả i được cơ quan giám quản chứng khoán của Quốc V ụ viện ihẩm tra ph ê chuẩn N ếu chưa được cơ quan giám quản chứng khoán của Quô'c Vụ viện phê chuẩn th ì không được k ín h doanh nghiệp vụ chứng khoán”.

Trang 13

trách nhiệm hủu hạn Ngoài ra, Quyết định số 27/2007/QĐ

- BTC ngày 24 tháng 04 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của CTCK (sau đây gọi tắ t là Quyết định sô" 27/2007/QĐ - BTC)

có đưa ra định nghĩa rất chi tiết: “CTCK là tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một sô"hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giói chứng khoán (MGCK), tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát

h à n h ch ứ n g khoán, tư v ấ n đầu tư ch ứ n g k h o á n ”.

Như vậy, có thể thấy pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài có nhiều nét tương đồng nhau trong việc quy định về CTCK: CTCK là một thực thể kinh doanh, là trung gian tài chính -thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán, có thể được thành lập dưới các hình thức pháp lý khác nhau, nhưng chủ yếu là hình thức công ty cổ phần và công t}' trách nhiệm hữu hạn Điều này cũng dễ hiểu bởi hai loại hình công ty nói trên có nhiều lợi thế trong kinh doanh thương mại như khả năng huy động vốn trên thị trương, khả năng quản trị rủi ro tôt, có thể giảm thiểu rủi ro cho nhà đáu

tư và chỉ đòi hỏi trách nhiệm của các th à n h viên giới hạn

trong số vốn góp Ngoài ra, CTCK có thể thực hiện một loại

nghiệp vụ hoặc nhiều hoặc tất cả các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán mà pháp luật cho phép Quy định linh hoạt này của pháp luật gắn với cu,-''ồn tự do kinh doanh của doanh nghiệp và tạo điều kiện cho CTCK có thể phát huy hết khả năng của mình trong giới hạn có thể Tuy nhiên,

Chương I Nhũmg vấn để lý luận về công ty chứng khoán

Trang 14

CTCK theo pháp luật Việt Nam (cũng giống như ò Mỹ,

Nhật, Canada, Trung Quốc ) là mô hình công ty chuyên doanh - chỉ chuyên trong lĩnh vực chứng khoán, khôrg được thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng, bảo hiểm Các ngân hàng thương mại muốn hoạt động kinh doanh chứng khoán phải thành lập CTCK trực thuộc ngân hàng“’

Điều này hạn chê rủi ro cho hệ thông ngân hàng, đồng thòi tạo điều kiện cho TTCK phát triển có tính chuyón môn hóa cao Bên cạnh đó, mô hình CTCK đa năng hoàn toàn cũng được phép th à n h lập theo p h á p lu ậ t củ a một số nước châu Âu lục địa (điển hình là ỏ Đức) Mô hình này có ưu điểm nổi trội th ể hiện ở sự phôi hỢp c h ặ t chẽ giữa cếc h o ạ t động kinh doanh chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm Các

n g ân h à n g thương m ại có th ể kết hđp n h iều lĩnh vực kinh

d o an h cùng một lúc, vì vậy lợi n h u ậ n th u đưỢc lón, tậ n

d ụ n g được th ê m ạn h về vốn để k in h doanh chứng khoán,

k h á c h h à n g có th ể sử dụng được n h iề u dịch vụ đa dang và

âu năm của ngân hàng Tuy nhiên, bên cạnh nhũng ưu điểm, mô h ìn h này bộc lộ một số^ h ạ n c h ế n h ư tâ m lý bảo

t h ủ củ a các cán bộ n g ân h à n g th ích h o ạ t động tín dụng truyền thông hdn là bảo lãnh phát hành chứng khoán Hơn nữa, những biến động trên TTCK sẽ tác động mạ.ih tói

h o ạ t động kinh doanh liền tệ, gây p h ả n ứng dây chuyền dôi

Pháp luật về còng ty chứng khoán ở Việt Nam

Điều 133 Luật Chứng khoán Trung Quốc quy định: Cấm ngân hàng lưu thông trái phép tiền cùa mình vào TTCK.

Trang 15

Chương I Những vấn dề Iv luận về cóng ty chứng khoán

với các loại thị trường tài chính, dễ dần đên khủng hoảng tài chính - Iigân hàng trong nền kinh tế Đây là nguyên nhân trước khủng hoảng kinh t ế th ế giới năm 1933, rất nhiều nước (trong đó có Mỹ) đã áp dụng mô hình này, nhưng sau đó đã chuyển sang mô hình CTCK chuyên doanh Có thể nói, trưốc năm 1933, CTCK ở Mỹ được coi như những “ông chủ của vũ trụ”, nơi quy tụ những tài năng tinh hoa trên Phô"Wall Nhiều ngân hàng lớn tại New York hoạt động chứng khoán đồng thời với hoạt động ngân hàng Trong thời gian diễn ra đại khủng hoảng, khoảng 10.000 ngân hàng ở Mỹ bị phá sản (chiếm khoảng 40% tổng sô" ngân hàng thương mại) Đây chính là tiền đề cho sự ra đòi của Luật Glass-Steagall, tách hoạt động của ngân hàng thưdng mại ra khỏi hoạt động chứng khoán Theo Luật này, các ngán hàng thương mại không được giao dịch chứng khoán cho cả chính khách hàng của mình Điều này nhằm hạn chê rủi ro xuất phát từ hoạt động kinh doanh chứng khoán cho ngân hàng thương mại Nếu kinh doanh chứng khoán có rủi ro thì sẽ không bị ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động ngân hàng Luật Glass-Steagall ban hành là

cơ sở cho nhiều CTCK mối được thành lập, kinh doanh chỉ trong lĩnh vực chứng khoán (bảo lãnh phát hành, môi giới,

tự doanh) Tuy nhiên, từ những năm 80 của th ế kỷ XX trô lại đáy, xu hướng ngân hàng thương mại thâu tóm các CTCK và hiện tượng sáp nhập ngân hàng xảy ra ngày càng nhiều Ngược lại, việc Merril Lynch phát minh ra loại tài khoán quản Iv tiền mặt đã tạo ra lợi th ế cạnh tranh đáng

Trang 16

Pháp luật về công ty chứng khoán ử Việt Nam

kể của CTCK đối vói Ngân hàng thương mại CTCK hiện tại có thể vừa kinh doanh chứng khoán, vừa thực hiện hoạt động cho vay, phát hành thẻ tín dụng, ATM thậm chi còn

có thể bán một số loại bảo hiểm Đặc biệt, sự ra đòi của tập

đoàn Citigroup gồm Citibank, công ty bảo hiểm Travclors

và CTCK Salomon Smith Barney năm 1998 và sau đó là việc ban hành Luật Gramm-Leach-Bliley năm 1999 đã đưa

mô hình cung cấp dịch vụ tài chính ở Mỹ bước sang một trang mới, thể hiện sự phối hỢp nhịp nhàng trong việc thực hiện các hoạt động ngân hàng, chứng khoán, bảo hiêm“* CTCK là một doanh nghiệp đặc biệt trong nền kinh tế, vì vậy nó cũng có nhiều điểm tương đồng với các công ty khác như CTCK hoạt động luôn vì mục tiêu lợi nhuận, có tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, kinh doanh ngành nghề nhất định được nhà nước cho phép Ngoài ra, CTCK là trung gian tài chính trên TTCK nên còn có các điểm khác biệt so vói các loại hình công ty khác:

- Về hình thức pháp lý: pháp luật Việt Nam chỉ cho phép CTCK được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần Sự góp vốh để thành lập các CTCK có thể được thực hiện bởi các cá nhân, tổ chức trong nước cũng như nưốc ngoài Luật Chứng khoán năm

Ban phát triển TTCK - UBCKNN, “Hoạt động đầu tư của các tổ chức

tài chính trên TTC K - Thực tiễn tại một sô quốc gia và bài học kinh nghiệm cho Việt N am ", Tạp chí Chứng khoán sô' 12, th á n g 12/2005,

tr 39.

Trang 17

2006 đã cho phép CTCK có vốn đầu tư nước ngoài tại Viột Nam được thành lập dưới hình thức liên doanh, góp vôn cổ phần, công ty 100% vô"n nưốc ngoài do UBCKNN cấp giấy phép thành lập và hoạt động, cho phép thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện CTCK tại Việt Nam Tuy nhiên, theo biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam khi gia nhập WTO và tlieo Quyết định sô" 55/2009/QĐ - TTg ngày 15/4/2009 của Thủ tướng Cịiính phủ về tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài trên TTCK Việt Nam thì chỉ có tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài mối được tham gia thành lập CTCK tại Việt Nam Tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài tôl đa là 49% vốn điều lệ của công ty Sau 5 năm

kể từ ngày gia nhập WTO (vào năm 2012), cho phép thành lập CTCK 100% vô"n nước ngoài tại Việt Nam Sự hiện diện của các CTCK có vốh đầu tư nước ngoài trên TTCK là yếu

tố tích cực, góp phần thúc đẩy TTCK Việt Nam phát triển Việc quy định CTCK nưốc ngoài muôn kinh doanh chứng khoán tại Việt Nam hiện nay phải thành lập các CTCK liên doanh, chi nhánh CTCK là hoàn toàn phù hợp, nhằm bảo vộ các nhà kinh doanh chứng khoán Việt Nam chưa có nhiều kinh nghiệm thực t ế và kiến thức về chứng khoán và TTCK Quy định này phù hỢp với chủ trương “mở cửa từng bước, hỢp lý, vững ch ắc” tro n g lĩnh vực chứ ng khoán Và đ đây chúng ta cầii nhận thức rằng, khu vực có vôn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán là nguồn lực kinh lê quan trọng Mọi hoạt động kinh tế cho dù do các nguon lực bên trong hay bên ngoài đầu tư tuân thủ theo

ChưoTig I Những ván đề lý luận về cóng ty chứng khoán

Trang 18

Pháp luật về cóng ty chứng khoán ờ Việt Niun

í:ủnfV pháp luật đều được coi là những bộ phận cấu thành

trọng của nền kinh tê thị trường định hưỏng xă hội chủ nghĩa"’

Các nước trên thế giới, khi xây dựng và phát triển 'r i’CK đều rất chú trọng đến hình thức pháp lý, tổ chức và hoạt động của CTCK Có nhiều nước quy định bắt buộc các tổ chức, cá nhân khi muốn tham gia kinh doanh chứng khoán thì phải thành lập CTCK vói những điều kiện tương đôl khắt khe, chặt chẽ Thông thường CTCK phải được thành lạp dưới hình thửc là công ty cổ phần hoặc /và công ty trách nhiệm hữu hạn Quy định này xuât phát từ tầm quan trọng của CTCK đốỉ với TTCK và yêu cầu quản lý, giám sát chặt chẽ hoạt động của CTCK so vối các loại hình doanh nghiộp khác Đối vối công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, pháp luật về doanh nghiệp quy định tương đối cụ thể và chặt chẽ về điều kiện thành lập, cơ cấu sỏ hữu vốn, quản trị công

ty, các vấn để về đăng ký, công bô"công khai tài chính, kiểm toán,w Ngoài sự quản lý, giám sát của nhà nước, hoạt động của các công ty này còn được đặt dưới cơ chế quản lý, giám sát của các cổ đông hoặc thành viên công ty

- Về hoạt động kinh doanh: hoạt động chủ yếu và thường xuyên của CTCK là kinh doanh chứng khoán dưới

C hinh sách p h á t triển kinh t ế ■ Kinh nghiệm r à bài học của Trung Quốc - Tập Ị ■ Viện Nghiên cứu quản lý k ỉn h tế T ru n g ương, NXB Giiio

thông vận tải, H 2003, tr 261.

Trang 19

Chương I Nhũmg vấn đổ Iv luận vc công ty chứng khoán

một trong các hình thức: môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán và các nghiệp vụ chứng khoán khác được nhà nước cho phép Điếu này cho thấy tính chuyên nghiệp trong hoạt động của CTCK Công ty kinh doanh một mặt hàng rất đặc thù, mặt hàng tiềm ẩn rủi ro lớn - đó là chứng khoán Ngoài ra, hoạt động này

“động chạm” tới rất nhiều chủ thể trong nền kinh tế (nhà

đ au tư, n h à phát hành, các cơ q u a n q u ả n lý TTCK, các trung gian tài chính khác) và đặc biệt các chủ thể này đa sô" vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận Thêm vào đó, hoạt động này quyết định tới sự tồn tại, phát triển cũng như giải thể, phá sản công ty Vì tầm quan trọng và yếu tô" rủi ro tiềm tàng lớn trong loại hình kinh doanh này mà hiện nay pháp uật các quôc gia đều có những quy định rất chặt chẽ về điền kiện, trình tự, thủ tục thành lập CTCK

- Vê pháp luật điều chỉnh và quản lý nhà nước đôi với

th à n h lập, tổ chức, hoạt động của CTCK: CTCK là thành vión của TTCK, đóng vai trò trung tâm trên TTCK tập trung, đồng thòi là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp trôn thị trường Hơn nữa, CTCK (tùy theo pháp luật của mỗi nước) được thự c hiện đồng thời cùng một lúc h o ạ t động môi giới và hoạt động tự doanh, do vậy có thể xảy ra tình trạng xung dột vê lợi ích giữa nhà đầu tư và CTCK‘"

Lviậl Chứnií khoáii Trung Quô’c, i)icu 130 quy định: Công ty môi

giới r h ứ n g khoán chì được phép chuyên thực hiện nghiệp vụ môi giỏi chứng khoán.

Trang 20

Pháp luật về cõng ty chứng khoán ở Việt Nam

Ngoài ra, tình trạng thông tin bất cân xứng giữa CTCK

và nhà đầu tư thưòng xuyên xảy ra trên thị trường, có thể dẫn đến những vi phạm pháp luật của CTCK đôl với nhà đầu tư như: các nhân viên của CTCK vi phạm đạo đức nghề nghiệp, không ưu tiên lệnh khách hàng trước lệnh của nhà đầu tư trong hoạt động môi giói chứng khoán, lạm dụng tiền và tài sản của khách hàng khi chưa được sự đồng ý của khách hàng Xuất phát từ vai trò, vị trí của CTCK và để đảm bảo cho công ty hoạt động hiệu quả, bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư cũng như chủ thể khác trên TTCK, các nưốc đều có quy định một chương riêng trong Luật Chứng khoán vê' CTCK, theo đó các vấn đề như thành lập, tổ chức, quyền

và nghĩa vụ, nguyên tắc hoạt động của CTCK, các hoạt

động nghiệp vụ chứng khoán được thể hiện rất rõ nét Đôl

với các nước luật pháp cho phép CTCK vừa thực hiện môi giối và các loại nghiệp vụ chứng khoán khác (như ỏ Việt Nam hiện nay) thì một yêu cầu bắt buộc là CTCK phải tuân thủ quy trình về kiểm soát nội bộ trong suô”t quá trình hoạt động kinh doanh, phải tách bạch tiền và tài sản của khách hàng với tiên và tài sản của CTCK, phải công khai thông tin đầy đủ, kịp thòi, chính xác cho khách hàng biêt, đặc biệt khi CTCK là một bên giao dịch vỏi khách hàng Ngoài ra, quản lý nhà nước đôl với CTCK nói riêng và dối vói TTCK nói chung được thực hiện bởi cơ quan chuyên ngành trong lĩnh vực chứng khoán, TTCK vối những tên gọi khác nhau theo pháp luật từng nước (ở Việt Nam là ú y ban Chứng khoán nhà nước, ở Mỹ là ủ y ban chứng khoán

Trang 21

- SE(], ở Trung Quốc là ủ y ban giám quản chứng khoán .) hoặc Bộ Tài chính và kinh tế (ví dụ ở Hàn Quốc ), Bộ Tài chính (ở Nhật Bản) Cơ quan quản lý nhà nưốc về TTCK thường là ử y ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đóng Víii trò là người giám sát hoạt động của thị trường thông qua việc duy trì chê độ câp phép, đăng ký, thực hiện các chương trình kiểm tra, thanh tra và cưỡng chế thực thi pháp luật về TTCK Ngoài ra, UBCK có quyền tham gia vào các quy trình tố tụng dân sự, hình sự, phôi hợp với các C(< quan chức năng, Có thế nói, cấp phép, thanh tra, giám sát và thực thi luật pháp vối việc tăng cường kỷ luật thị trường là các chức năng cơ bản của cơ quan quản lý TTCK Các tổ chức tự quản được sử dụng hỢp lý trong hệ thống quan lý, được pháp luật công nhận và được cơ quan quản

lý phân chia nhiệm vụ, quyển hạn cụ thể trong việc quản

lý TTCK Tổ chức tự quản giữ vai trò quản lý ngưòi hành nghê trên TTCK, quản lý thành viên của mình thông qua các quy chế, quy định, quy tắc nghề nghiệp và đạo đức kinh doanh Ví dụ, Sở Giao dịch Chứng khoán Thái Lan (SET)

là một tổ chức tự quản, thành lập năm 197Õ, có mô hình sở hữu thành viên (bao gồm 39 CTCK thành viên) Trách nhiệm của SET là bắt buộc các thành viên phải tuân thủ CIIC quy c h ế (quy chê niêm yết, quy c h ế th à n h viên và quy chô giao dịch), duy trì một thị trưòng có trật tự thông qua việc quy định các tiêu chuẩn và quy trình giao dịch, cấp đăng ký cho người giao dịch, hưóng dẫn về quản lý rủi ro

và kiểm soát đốỉ với hoạt động thanh toán, bù trừ, kiểm tra

Chirong I Những vấn dề lý luận vé công ty chứng khoán

Trang 22

tại chỗ đốì với các CTCK thành viên Bên cạnh SET, Hiệp hội các CTCK Thái Lan (ASCO) là tổ chức tự quản được pháp luật công nhận, hoạt động chủ yếu là đào tạo cấp chứng chỉ hành nghề Nhân viên môi giới muốn được UBCK câp phép thì phải qua đào tạo và đưỢc cấp chứng chỉ bởi Hiệp hội Hiệp hội được tổ chức dưới hình thức các nhóm hoạt động theo mô hình câu lạc bộ: câu lạc bộ ngân hàng đầu tư, câu lạc bộ IT, câu lạc bộ CTCK, câu lạc bộ hỗ trợ (back-office operation) Dưới Hiệp hội có Viện đào tạo chứng khoán

Cơ chế kiểm soát việc tham gia thị trường của CTCK nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu rủi ro xảy ra cho nhà đầu tư

và đảm bảo sự an toàn trong kinh doanh chứng khoán

2 Chức năng của công ty chứng khoán

CTCK là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của TTCK CTCK có những chức năng đặc trưng sau đáy:

Một là, tạo ra cơ chế huy động vốn

Như đã phân tích trong phần khái niệm CTCK, trên TTCK, muôn huy động vốn một cách tiết kiệm dài lâu để kinh doanh, mở rộng sản xuất, doanh nghiệp thực hiện việc phát hành chứng khoán Tuv nhiên ban thân doanh nghiệp

Xem Luậl CK của Thái Lan và Bài báo của Nguyễn Thị T hu Hiển

"Hoạt động quản lý TTC K của một s ổ quốc gici’\ Tạp chí “Chứng

khoán”, sô' 4, th á n g 4 năm 2007, tr.4‘2,43,44.

Pháp luật vc công fv chứnp khoán ở Việt Nain

Trang 23

Chương I Những vấn dề Iv luận về công ty chứng khoán

phát hành thưòng không tự mình bán sô"chứng khoán phát hành cho nhà dầu tư mà thông qua tổ chức bảo lãnh phát hành đó là CTCK Ti’ong khi đó, người đầu tư muôn mua chứng khoán, nhiều khi họ cũng không muôn hoặc không thể tự mình mua mà phải thông qua tổ chức trung gian có nghiệp vụ là các CTCK Vì thê các CTCK là những chủ thể

àm nhiệm vụ cầu nôl giữa bôn phát hành chứng khoán và bên có nhu cầu chứng khoán, cầu nôl giữa một bên có nhu cầu về vôn (doanh nghiệp huy động vổn) và bên kia là các nhà dầu tư có nhu cầu đầu tư các khoản tiền nhàn rỗi của mình để kiếm lợi nhuận Các CTCK đảm nhiệm chức năng này qua các hoạt động bảo lãnh phát hành chửng khoán và hoạt động môi giói chứng khoán (MGCK)

Có thể nói, tạo ra cơ chế huy động vôVi là chức năng chủ yếu của CTCK bởi khi thực hiện chức năng này, CTCK đã giúj) tổ chức phát hành chứng khoán huy động một cách tôt nhất vôVi cần cho hoạt động kinh doanh và đầu tư sản xuất, đồng thòi cũng tạo cho bên thừa vô"n tìm được đôl tác đầu

tư (lem lại hiệu quá tốt nhất

Hai là, cung cấp cơ chế giá cho các khoản đầu tư

Nhằm giúp cho các nhà đầu tư có một sự đánh giá đúng đắn cho cấc quyết định đầu tư, CTCK thông qua hoạt động môi giới và tư vân dầu tư trên thị trường thứ cấp đã cung cấp cơ chê giá cho hoạt động của thị trưòng Tại TTCK thứ cáp theo nguyên tắc của TTCK, toàn bộ các lệnh mua bán của thị trường dểu tập trung tại các thị trường giao dịch tập

Trang 24

Pháp luật về còng ty chứng khoán ở Việt Nam

trung thông qua các CTCK, trên cđ sở đó, giá chứng khoán

sẽ được xác định theo giá trị cung cầu do đó giúp các nhà đầu

tư đánh giá và đưa ra những quyết định đầu tư đúng đắn qua hoạt động tư vấn đầu tư và MGCK Tại TTCK sơ cấp, khi thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán, CTCK thực hiện vai trò tạo cơ chế giá chứng khoán thông qua việc xác định và tư vấn cho tổ chức phát hành mức giá phát hành hợp lý trên cơ sở thực hiện chức năng là vai trò trung gian làm cầu nôl giữa nhà phát hành vối nhà đầ\i tư qua việc làm trung gian tiếp xúc, tìm hiểu, thỏa thuận giá giữa các nhà đầu tư tiềm năng với tổ chức phát hành

Ba là, chức năng chuyển các chứng khoán ra tiền mặt

uà ngược lại

Các nhà đầu tư muốn chuyến chứng khoán ra tiền mặt hoặc ngược lại trong một môi trường đầu tư ổn định thì thông qua các CTCK là phương thức hữu hiệu nhất để giảm thiểu rủi ro và giảm thiểu thiệt hại trong quá trình đầu tư CTCK đảm nhận nghiệp vụ này qua cơ chế KÌao dịch của thị trường Cho dù có nhân tô" nào bên ngoài có thể ảnh hưởng tối giá của chứng khoán thì giá trị của các khoản đầu tư nói chung tại thồi điểm đó không giảm, do đó người đầu tư không phải chịu thiệt hại đáng kê đối V Ớ I giá trị các khoản đầu tư của mình

3 Vai trò của công ty chứng khoán

Vai trò của CTCK được thể hiện qua các nghiệp vụ của

Trang 25

CTCK Thông qua các hoạt động này, CTCK đã thực sự tạo ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của TTCK nói riêng

và của cả nền kinh tế nói chung

- Vai trò làm cầu nôi giữa cung - cầu chứng khoán

CTCK là một định chế tài chính trung gian tham gia hầu hết vào quá trình luân chuyển của chứng khoán: Từ kháu phát hành trên thị trương sđ cấp đến khâu giao dịch mua bán trên thị trường thứ cấp

Trên thị trường sơ cấp: CTCK là cầu nõì giữa nhà phát

hành và nhà đầu tư, giúp các tổ chức phát hành huy động vôn một cách nhanh chóng thông qua nghiệp vụ bảo lãnh phát hành Các tổ chức trung gian tài chính như ngân liàng, CTCK vói nghiệp vụ chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp và bộ máy tổ chức thích hợp, họ thực hiện tốt vai trò trung gian môi giới mua bán, phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư và thực hiện một sổ" dịch vụ khác cho cả người đầu tư và ngưòi phát hành Với nghiệp vụ này, CTCK thực hiện vai trò làm cầu nối và là kênh dẫn vôVi từ nơi thừa đến nơi thiếu vốn

Trên thị trường thứ cấp: CTCK là cầu nốì giữa các nhà

đầu tư , là trung gian chuyển các khoản đầu t ư thành tiền

và ngược lại Trong môi trướng đầu tư ổn định, các nhà đầu

tư luôn ưa những chứng khoán có tính thanh khoản cao, vì

họ luôn có nhu cầu chuyển đổi sô^ vốn tạm thòi nhàn rỗi thành các khoản đầu tư và ngược lại CTCK với nghiệp vụ

Chương I Những vấn đề lý luận về công ty chứng khoán

Trang 26

Pháp Iiiạt vể công tv chứng khoán ở Việt Nam

môi giới, tư vấn đầu tư đảm nhận tô"t vai trò chuyển đổi này, giúp cho các nhà đầu tư giảm thiểu thiệt hại về giá trị khoản đầu tư của mình

- Vai trò góp phần điều tiết uà bình ẩn giá trên thị trường

Từ sau cuộc khủng hoảng TTCK t h ế giới ngày 28/10/1929, Chính phủ các nước đã ban hành những luật

lệ bổ sung cho hoạt động của TTCK, trong đó đòi hỏi một

sự phối hợp giữa Nhà nước với các thành viên tham gia SGDCK nhằm ngăn chặn những cơn khủng hoảng giá chứng khoán có thể xảy ra trên thị trường, vì nếu TTCK

bị khủng hoảng thì không những nền kinh tế bị íính hưởng mà ngay cả quyền lợi nhà đầu tư, các CTCK cũng

bị ảnh hưởng

Theo quy định của luật chứng khoán các nước, các CTCK có nghiệp vụ tự doanh phải dành ra một tỷ lệ vôn nhất định để mua chứng khoán vào khi giá giảm và bán chứng khoán dự trữ ra khi giá lên quá cao nhằm góp })hần điều tiết và bình ổn giá trên thị trường Tuy nhiên, tại Việt Nam chưa có quy định này

Dĩ nhiên, sự can thiệp của các CTCK chỉ có hạn, phụ thuộc vào nguồn vôn tự doanh và quỹ dự trữ rhứng khoán Tuy vậy, nó vẫn có ý nghĩa ỏ mức độ nào đó, có thể tác động đến tâm lý của các nhà đầu tư trên thị trưòng Với vai trò này, các CTCK góp phần tích cực vào sự duy trì và phát triển bển vững của TTCK

Trang 27

Chưưnịỉ I Những vãn đề lý luận về công ty chứng khoán

- Vai trò cung cấp các dịch vụ cho TTCK

CTCK với các chức năng và nghiệp vụ của mình cung cấp các dịch vụ cần thiết góp phần cho TTCK hoạt động ổn định, cụ thể: Thực hiện tư vân đầu tư, góp phần ^ ả m chi phí giao dịch cho nhà đầu tư; TTCK cũng tương tự như tất

cả các thị trường khác, để tiến hành giao dịch, người mua, người bán phải có cơ hội gặp nhau, thẩm định chất lượng hàng hóa và thỏa thuận giá cả Tuy nhiên, TTCK vói những đặc trưng riêng của nó như người mua, người bán có thể ở rất xa nhau, hàng hóa là “vô hình”, vì vậy để cung cầu gặp nhau, thẩm định chất lượng, xác định giá cả thì phải mất rất nhiều thòi gian, công sức, tiền bạc cho một giao dịch để phục vụ cho việc thu thập, phân tích, xử lý thông tin CTCK vỏi lợi th ế chuyên môn hóa, trình độ kinh nghiệm nghề nghiệp sẽ thực hiện tốt vai trò trung gian

m u a b á n ch ứ n g khoán, giúp các n h à d ầ u tư giảm đưỢc chi phí trong từng giao dịch Cung cấp cơ chế xác định giá cho các khoản đầu tư: CTCK thông qua sở giao dịch và thị trường OTC - TTCK qua quầy cung cấp một cơ chế xác định giá nhằm giúp các nhà đầu tư đánh giá đúng thực tế và chính xác các khoản đầu tư của mình Khi thực hiện nghiệp vụ bảo Lãnh phát hành chứng khoán, các CTCK thực hiện vai trò tạo cơ chế giá chứng khoán thông qua việc xác định và tư vấ’n cho các tổ chức phát hành mức giá phát

h à n h hỢp lý vỏi n h ữ n g lợi th ê c ủ a m ình, CTCK tư v ân cho các doanh nghiệp khi phát hành lần đầu (IPO), phát hành

Trang 28

Pháp luật về công tv chứng khoán ở Việt Nam

tăng vổin., mua cổ phiếu quỹ Ngoài ra, CTCK còn là tổ chức tham mưu cho tổ chức phát hành trong việc niêm yết chứng khoán trên Sở giao dịch chứng khoán, trong việc định giá chứng khoán khi phát hành nhằm đảm bảo tính thanh khoản của chứng khoán Trên thị trường thứ câ"p;

tấ t cả các lệnh mua bán thông qua các CTCK được tập trung tại thị trường giao dịch và trên cơ sỏ đó, giá chứng

k h o á n đưỢc xác đ ịn h theo quy l u ậ t c u n g cầu.

Ngoài ra, CTCK còn cung cấp nhiều dịch vụ khác hỗ trỢ giao dịch chứng khoán (ứng trưốc tiền cho nhà đầu tư khi tiền thanh toán từ giao dịch bán chưa về tài khoản của nhà đầu tư, hoạt động cho vay cầm cô" chứng khoán, hoạt động bảo quản và quản lý các công cụ tài chính ), thể hiện sự đa dạng hóa hoạt động kinh doanh và nâng cao hiệu quả đầu tư cho nhà đầu tư Theo Luật Chứng khoán Hàn Quốc, Điều 49 “Mở rộng tín dụng” có quy định: “Bất

kỳ công ty chứng khoán nào cũng có thể mở rộng tín dụng cho các giao dịch chứng khoán như là cho khách hàng vay tiền hoặc chứng khoán Trong trường hỢp một công ty chứng k h o á n b á n n h ữ n g ch ứ n g k h o á n theo hỢp đồng bảo

lã n h p h á t h à n h , công ty c hứ ng k h o á n đó sẽ không đưỢc cho vay tiền để mua những chứng khoán đó, cấp tín dụng mua chứng khoán đó cho tới khi hết thời hạn 3 tháng kể từ ngày bảo lãnh phát hành những chứng khoán đó” Hoặc Luật Chứng khoán Thái Lan có các quy định rất chặt chẽ về hoạt động khác của CTCK Theo khoản 8 Điều 101, Điều

Trang 29

102 Luật Chứng khoán Thái Lan có quy định: nghiêm cấm CTCK tham gia hoạt động kinh doanh khác, không thuộc oại được cấp giấy phép hoạt động kinh doanh chứng khoán, trừ trường hợp được phép của UBCK Hoạt động khác nêu trên không bao gồm hoạt động cho vay để mua, bán hay giao dịch chứng khoán nằm trong quá trình hoạt động môi giới chứng khoán hoặc giao dịch ngoài sở giao dịch chứng khoán và Trung tâm giao dịch OTC của CTCK

có giấy phép giao dịch ngoài sỏ giao dịch chứng khoán Việc cho vay tiền để mua, bán hoặc giao dịch chứng khoán

do CTCK tiến hành phải thực hiện theo các quy tắc, điều kiện và thủ tục do UBCK quy định theo đề nghị của Ngân hàng trung ương Thái Lan

Với các nghiệp vụ đa dạng của mình, CTCK giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển của TTCK, là chất “xúc tác”, không thể thiếu cho hoạt động của TTCK

4 K hái niệm , đ ặc điểm , n g u y ê n tắ c h o ạ t động

Trang 30

Pháp luật về công ty chứng khoán ở Việt Nam

từng nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán hoặc quy định về hình thức pháp lý của chủ thể thực hiện hoạt động này Ví

dụ, Luật Chứng khoán của Trung Quốc (Điều 129) quy định: “CTCK đa năng có thể kinh doanh các nghiệp vụ chứng khoán sau; nghiệp vụ môi giới, nghiệp vụ tự doanh, nghiệp vụ bảo lãnh chứng khoán, các nghiệp vụ chứng khoán khác được cơ quan giám quản chứng khoán của Quốc Vụ viện phê chuẩn” Luật Chứng khoán của Thái Lan (Điều 90) ghi nhận: Hoạt động kinh doanh chứng khoán chỉ được tiến hành bằng việc thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty trách nhiệm hữu hạn đại chúng hoặc bởi

tổ chức tài chính được thành lập theo các luật khác và sau khi đã nhận được giấy phép hoạt động của Bộ trưởng theo

đề nghị của Úy ban chứng khoán

Theo Luật Chứng khoán Việt Nam, kinh doanh chứng khoán là việc thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu ký chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán Tuy nhiên, CTCK chỉ được thực hiện một số hoạt động nêu trên, bao gồm môi giổi, tự doanh, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu ký chứng khoán, nhận ủy thác quản lý tài khoản giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân, cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính và các dịch vụ tài chính khác theo quy định của Bộ Tài chính Một CTCK có thể thực hiện cùng một lúc

Trang 31

nhiều hoạt động kinh doanh khác nhau: hoạt động kinh doanh chính (môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấn đ ầu tư) và h o ạ t động k in h d o a n h p h ụ trỢ (hoạt động gắn liền với hoạt động kinh doanh chính và thường không phải xin cấp phép bởi cơ quan quản lý nhà nưóc) Hai nhóm hoạt động kinh doanh này có mổì liên hệ mật thiết vói nhau, hỗ trỢ nhau Ví dụ, hoạt động ứng trước tiền của CTCK gắn liền vói hoạt động môi giói chứng khoán Nhờ có hoạt động môi giới mà CTCK được phép thực hiện hoạt động này, ngược lại hoạt động ứng trước tiền của CTCK tạo

sự linh hoạt trong việc thực hiện hoạt động môi giới chứng khoán, đảm bảo nhu cầu về vô"n kịp thòi cho nhà đầu tư.Ngoài ra, hoạt động kinh doanh của CTCK có đôi tượng kinh doanh là tiền và chứng khoán (một loại hàng hóa đặc biệt) Theo quy định của Luật Chứng khoán ở Việt Nam,

ch ứ n g k h o á n là b ằ n g chứng xác n h ậ n q uyền và lợi ích hỢp pháp của người sở hữu đổi với tài sản hoặc phần vốh của tổ chức phát hành Chứng khoán được thể hiện dưối hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử Khác với các loại hàng hóa thông thưòng, chứng khoán có tính siiih lợi, tính rủi ro và tính thanh khoản Tính sinh lợi của chứng khoán cho phép nhà đầu tư có thể nhận được một khoản lợi nhuận nhất định từ việc mua, bán, chuyển nhượng chứng khoán hoặc nhận cổ tức, lãi suất trái phiếu sau một khoảng thời gian đầu tư nhâ^t định Tính rủi ro của chứng khoán tạo nguy cơ cho nhà đầu tư có thể mất toàn

Chương I Những vấn đề lý luận về cõng ty chứng khoán

Trang 32

bộ hoặc một phần vô"n đầu tư do giá trị của chứng khoán dao động theo quy luật cung cầu hoặc do những thay đổi trong hoạt động, quản trị, điều hành của tổ chức phát hành Tính thanh khoản của chứng khoán tạo khả năng chuyển đổi dễ dàng từ chứng khoán sang tiền mặt Mỗi loại chứng khoán có tính thanh khoản khác nhau.

Bên cạnh đặc thù ở đôl tượng kinh doanh, hoạt động của CTCK được thực hiện với các khách hàng rấ t khác nhau Khách hàng ở đây có thể là cá nhân, tô chức, nhà đầu tư chuyên nghiệp, không chuyên nghiệp, nhà đầu tư trong nưóc, nưóc ngoài Quan hệ giữa CTCK và khách

h à n g là q u a n hệ song vụ, đưỢc k h ẳ n g đ ịn h th ô n g q u a các hỢp đồng b ằ n g v ă n bản Tu}' n h iê n , x u â t p h á t t ừ đặc điổm của CTCK cũng là nhà đầu tư trên TTCK nên vân đề xung đột lợi ích giữa CTCK và các nhà đầu tư khác là điểu khó tránh khỏi Vì vậy, pháp luật quy định rítt cu thể về các nghla vụ, irách nhiệm cứa CTCK khi :nục h:ịr r.-: nghiệp vụ kinh doanh chứr,^ khoán Đặc biệt, hoạt

kinh doanh chính của CTCK phải đưộc UBCKXN -ụ phép khi thỏa ir.ãn những aiểu kiận V3 vc’n, :;hãn òự : :i

X:

^ ' J r - K ■ ■

.Miu ạ y , LU ÚOI luọàig k i i i h LU.uiii ■■<» ú i i a I liLi.-i.

(7fCK cho thấy hoạt dộng kinh doanh của chu Lhe nay rat phức tạp, tiềm ẩn rủi ro lớn, có chế gây thiộl hại chc nhà đầu tư, tác động tới sự phát triển TTCK Do đó, hoạt dộng này phải được thực hiện dựa trên các nguyên tắc nhất định

Pháp luật vc công ty chứng khoán ở Việt Nam

Trang 33

4.2 N g u yên tắ c h o a t đ ô n g k in h d o a n h c h ứ n g

k h o á n củ a công ty c h ứ n g k h o á n

Pháp luật Việt Nam hiện hành không có những quy định cụ thể về nguyên tắc hoạt động của CTCK, nhưng dựa vào những nguyên tắc hoạt động của TTCK Việt Nam và những đặc thù trong hoạt động của các CTCK chúng ta có thể thấy những nguyên tắc hoạt động của CTCK như sau:

- N g u y ên tắ c công k h a i, c ô n g b ằn g , m in h b ậ c h và

vì lợi ích k h á c h h à n g

Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng trong hoạt động của các CTCK, nhà đầu tư dù lớn hay nhỏ, đều

có quyền bình đẳng với nhau mở tài khoản tại các CTCK

do mình lựa chọn đế thực hiện các giao dịch mua, bán chứng khoán trên TTCK, quyền được cung cấp thông tin cân xứng, đầy đủ chính xác, nhanh chóng, kịp thòi Có thể nói TTCK là thị trưòng của r.h.ững thông tin Khác với thị triíòng hùng hũa laông tnúòng, giá của các loại cổ phiếu trôn TTCK không phụ chuộc vào giá do ngúòi bán đưa ra

c h ú yếvj p h ụ ihuộc ^‘r O ci^ông t i n r h ứ n g k hoán

", :.ìi :-h.: h > :'ỈI :ù .-rnà :'Ằu tư cóI- ' ^ ! • ị-;, "'.i, chung icnoan K h á c nhau,

uự.; vau iuyu ụiia hoạt ciụiig Kiiih doanh của doanh nghiệp mém yét Vi vạy, nêu thông tin dược cung cấp không đầy

đủ, chính xác và kịp thời thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các quyết định của nhà đầu tư, gây ra những thiệt hại khôn liíờng cho nhà dầu tư Những thông tin mà CTCK cung cấp

ChưoTig I Những vấn đc lý luân về công ty chứng khoán

Trang 34

cho nhà đầu tư phải thỏa mãn các tiêu chí nhâ't định như thông tin chính xác (có nghĩa là thông tin công bô" phải đúng sự thật, phản ánh đúng các sự kiện trên thực tế diỗn

ra Mọi hành vi cắt xén, thêm bớt, làm sai lệch thông tin đều không đưỢc p h á p l u ậ t cho phép); th ô n g t i n p h ả i n h a n h chóng, kịp thòi, t r á n h tìn h t r ạ n g th ô n g tin đ ến đưỢc với nhà đầu tư trở thành thông tin “đã chết” Đặc biệt, thông tin phải đầy đủ và cân xứng (thông tin bình đẳng) Nhà đầu tư có quyền tiếp cận đầy đủ thông tin để đánh giá được tình hình hoạt động của TTCK, tình hình hoạt động của từng doanh nghiệp như thông tin về giá chứng khoán, giá trị giao dịch, các chính sách vĩ mô về TTCK, về nhân sự, tài chính, bộ máy quản trị, điều hành, phương án hoạt động kinh doanh, kế hoạch phát triển v.v của doanh nghiệp Quyền tiếp cận thông tin cân xứng thể hiện sự bình đăng của mọi nhà đầu tư trong việc tiếp cận thông tin và không

ai có quyền sử dụng lợi th ế của mình để tiếp cận thông tin trưóc khi công bố rộng rãi ra công chúng

Ngoài ra, giữa CTCK và nhà đầu tư, các tổ chức phát hành, niêm yết nguy cơ xảy ra xung đột lợi ích là rấ t cao,

do vậy pháp luật các nước thường có quy định để hạn chế

sự xung đột này như; CTCK phải ưu tiên lệnh của khách hàng trước lệnh của mình khi CTCK và khách hàng cùng đặt lệnh mua một loại chứng khoán tại một thòi điêm, giá

cả như nhau, sô' lượng như nhau; CTCK phải tách bạch tiền của nhà đầu tư với tài khoản của CTCK CTCK đã thực hiện hoạt động bảo lãnh phát hành và (hoặc) thực

Pháp luật về còng ty chứng khoán ở Việt Nam

Trang 35

Chương I Những vấn đề lý luận về công ty chứng khoán

hiện hoạt động tư vân niêm yết thì không được tham gia vào quá trình xác định giá chứng khoán Nhân viên hành nghê chỉ được mở một tài khoản tại chính CTCK nơi mà chính ngưòi đó hành nghề Luật Chứng khoán Thái Lan quy định tại Điều 98; Nghiêm cấm các CTCK tiến hành hoạt động khiến cho khách hàng của mình hoặc công chúng hiểu lầm về giá cả, giá trị và bản chất của chứng khoán liên quan, tiến hành các hoạt động có thể gây thiệt hại hoặc ra ưu th ế không công bằng cho khách hàng hoặc những người liên quan khác theo quy định của ƯBCK; Luật Chứng khoán Bulgari, khoản 1 Điều 70 quy định: Cùnẹ vói việc kinh doanh vì lợi ích của công ty, tổ chức trung gian đầu t ư chứng khoán phải đặt quyền lợi của khách hàng lên hàng đầu và phải thông báo cho khách hàng biết các rủi ro trong quá trình giao dịch chứng khoán.Trong thực tê, nguyên tắc trên rất khó đưỢc thực hiện, nhiều CTCK vi phạm quyền tham gia thị trường, thực hiện giao dịch ch ứ n g k h o á n của n h à đ ầ u tư khi đ ặ t lện h giao dịch tại công ty Các thông tin nhà đầu tư cập nhật được

nh iều khi là th ô n g tin kh ông c h ín h xác, không kịp thòi, gây rủi ro cho nhà đầu tư (ví dụ thông tin về Công ty c ổ phần Bỗng Bạch Tuyết kinh doanh thua lỗ từ năm 2005 nhưng đcVi năm 2008 thông tin này mới được công khai) Ngoài ra,

lượng nhà đầu tư đến mở tài khoản tại các CTCK quá đông, nhu cầu nhà đầu tư tăng nhanh vượt xa khả năng đáp ứng

Trang 36

của hệ thống hạ tầng công nghệ và nguồn nhân lực của các CTCK, nhiều CTCK có thể nhận lệnh của các n h à đầu tư nhưng không thể nạp đưỢc hết các lệnh vào hệ thông của các Sở giao dịch chứng khoán Do đó, có một sô" CTCK đã

tự đặt ra các quy định nhằm hạn chế mỏ tài khoản của cãc nhà đầu tư nhỏ tại công ty mình Ví dụ, CTCK SSI đã có quy định “khi mở tài khoản, khách hàng phải ký quỹ bắt buộc tối thiểu là 100 triệu đồng”, v ề vấn đề này, có ý kiến cho rằng việc các CTCK ra chính sách để “th a n h lọc” nhà

đ ầ u t ư là hỢp lý, bởi vì n ế u CTCK cứ n h ậ n mở t à i k h o ả n mới thì cũng không thể nhập hết lệnh vào sàn giao dịch ở các Sở giao dịch chứng khoán Cũng có ý kiến khác cho rằng hiện tượng trên là phân biệt, đối xử bất công vói khách hàng, là hành vi vi phạm hợp đồng của các CTCK đối với nhà đầu tư, điều này sẽ khiến các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư mới tham gia thị trường, khách hàng cần được đối xử bình đẳng, công bằng Theo L uật Chứng khoán, đ ã là n h à đ ầ u tư thì mọi ngưòi đ ều b ìn h đ ẳ n g n h ư nhau Như vậy có thể nói việc quy định nhà đầu tư phải có

đủ sô' tiền ký quỹ mói được mở tài khoản của một sô" CTCK

có điểm hợp lý ở chỗ giúp cho việc nhập lệnh của nhà đầu

tư nhanh hơn và hạn chê dược tình trạng “m ất cẮp” xảy ra Tuy nhiên, cũng có điểm chưa hỢp lý là sẽ gây khó khăn cho các nhà đầu tư nhỏ muốh tham gia thị trưòng TTCK

rấ t cần những nhà đầu tư lốn nhưng cũng không th ể thiếu

Pháp luật về công ty chứng khoán Việt Nam

Trang 37

vắng nhừng nhà đầu tư nhỏ Vì vậy, pháp luật cần có quy định việc các CTCK phải công khai chiến lược hoạt động của mình, công khai các tiêu chuẩn cụ thể như sô" dư tài khoản, giá trị đặt lệnh, đóng góp cho công ty để trở thành khách hàng VIP và chế độ đi kèm Khi công khai như vậy, nhà đầu tư sẽ không cảm thấy bức xúc vì bị phân biệt đối

xử Trong bối cảnh hiện nay sổ’ lượng CTCK ngày càng tăng, nhà đầu tư sẽ có đủ khả năng và hiểu biết để lựa chọnCTCK phù hợp

ở Việt Nam, để đảm bảo lợi ích của nhà đầu tư, ƯBCKNN ban hành Công văn sô" 617/ƯBCK-GS của UBCKNN ngày 13 tháng 4 năm 2008 về việc tuân th ủ quy định của pháp luật về hoạt động giao dịch chứng khoán của các CTCK Qua đó, UBCKNN yêu cầu các CTCK kiểm soát hoạt động của nhân viên, đặc biệt cấm việc chèn lệnh của khách hàng và vi phạm quy định ký quỹ giao dịch Theo đó, quá trình nhập lệnh của khách hàng, nhân viên công ty và lệnh tự doanh vào hệ thốhg giao dịch của SGDCK phải theo đúng thứ tự và thòi gian nhận lệnh, cũng như quy trình giao dịch của công ty Các phiếu lệnh (nhận lệnh trực tiếp, qua điện thoại, fax, hay Internet) đều phải có thông tin đầy đủ, gồm sô" thứ tự, thòi gian nhận lệnh, chữ ký của khách hàng Nhân viên cũng phái lập, sử dụng và lưu trữ lệnh giao dịch chứng khoán theo đúng quy định đốì vối chứng từ kê toán

ƯBCK cũng yêu cầu các CTCK tăng cường kiểm soát

ChưoTig I Những vấn đề lý luận về công ty chứng khoán

Trang 38

nội bộ để hạn chế thiếu sót và ngăn ngừa vi phạm, xung đột lợi ích giữa CTCK, nhân viên công ty với nhà đầu tư.

Hiện nay, trước tình trạng sụt giảm của TTCK, các CTCK cũng phải tăng cưòng chấ’t lượng phục vụ nhằm lôi kéo các nhà đầu tư

- Nguyên tắc bảo m ậ t th ô n g tin và bảo vệ tài sản

c ủ a k h á c h h à n g

Nguyên tắc này yêu cầu các CTCK tuân thủ nghiêm ngặt nhằm đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư chứng

khoán Các thông tin về tài khoản, số dư tài khoản, các

giao dịch của khách hàng trên tài khoản phải được giữ kín Tuy nhiên, trong trường hỢp nhất định, theo quyết định của cđ quan nhà nưốc có thẩm quyển yêu cầu thanh tra, làm rõ vụ việc về vi phạm pháp luật của nhà đầu tư hoặc những vi phạm khác có liên quan đến quyền lợi của nhà đầu tư thì bắt buộc CTCK phải có nghĩa vụ công bố thông tin theo quy định của pháp luật Theo Điều 38 Luật Chứng khoán của Trung Quốc quy định: SGDCK, CTCK, tổ chức đăng ký, thanh toán chứng khoán phải bảo mật thông tin cho tài khoản của khách hàng đã mở theo pháp luật Pháp luật Việt Nam về nguyên tắc này không có quy định cụ thể.Tài sản đầu tư của khách hàng là tài sản (gồm tiền và chứng khoán) mà nhà đầu tư sử dụng để đầu tư chứng khoán trên TTCK Đốì với các tài sản khác, quyền sỏ hữu

có t h ể bị xâm p h ạ m dưới h ìn h thức vi p h ạ m quyền chiếm

Pháp luật vé cóng ty chứng khoán ở Việt Nam

Trang 39

hữu, sử dụng, định đoạt Tuy nhiên, đối với tài sản là chứng khoán, tài sản này có thể bị xâm hại bằng cách làm giảm giá trị của chứng khoán (ví dụ như hiện tượng pha loãng cổ phiếu, làm giảm giá trị cổ phiếu đã phát hành do công ty cổ phần tự ý tăng vôn điều lệ mà không có sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông) Thông qua các hợp đồng

ủy thác, hỢp đồng mở tài khoản giao dịch tài s ả n đ ầ u tư đưỢc n h à đ ầ u t ư tra o cho CTCK, các tổ chức hỗ trỢ cho các giao dịch chứng khoán như SGDCK, Trung tâ m lưu ký chứng khoán quản lý vì vậy vấn đề kiểm soát tài sản này trên thực tế rấ t khó Tài sản này có thể dễ dàng bị chiếm hữu, sử dụng và định đoạt khi không được sự đồng ý của chủ sở hữu Tùy từng luật pháp của mỗi quốc gia mà sô" tiền gửi đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư có thể được lưu ký cùng với chứng khoán trong cùng một tài khoản giao dịch chứng khoán mở tại CTCK hoặc lưu ký trong một tài khoản chuyên dùng cho đầu tư chứng khoán (mở tại

n g â n h à n g th ư ơ n g mại), hoặc có thể được t h ể h iện k ế t hỢp trong chính tài khoản tiền gửi thông thường Chứng khoán

có thể đưỢc lưu ký một cấp hoặc hai cấp Khi chứng khoán được lưu ký một cấp thì chứng khoán được lưu giữ tại thành vièn lưu ký Kiii chứng khoán được lưu ký hai cấp thì chứng khoán được lưu ký tại thành viên lưu ký, sau đó thành viên lưu ký tái lưu ký số" chứng khoán đó tại Trung

tâ m lư u ký Vậy chứng khoán của n h à đ ầ u tư có t h ể đưỢc mua, bán bởi thành viên lưu ký (nhân viên quản lý tài khoán của khách hàng) Khi TTCK phát triển, giá chứng

Chưorng I Những vấn đề lý luận về còng ty chứng khoán

Trang 40

khoán tăng, họ sẽ đặt lệnh bán chứng khoán, sau một thòi gian khi giá chứng khoán giảm, họ đặt lệnh mua chứng khoán Thông qua việc mua bán chứng khoán của nhà đầu

tư, nhân viên của CTCK được hưởng sô" tiền chênh lệch nhất đỊnh Tài sản của nhà đầu tư nhiều khi còn bị xâm phạm do số dư tiền hoặc chứng khoán trong tài khoản bị phong tỏa không theo lệnh của nhà đầu tư, do vậy nhà đầu

tư không thể đặt lệnh mua, bán chứng khoán Vậy bảo vệ tài sản đầu tư là một vấn đề rấ t quan trọng trong việc bảo

vệ quyền lợi của nhà đầu tư chứng khoán, trên cơ sở đó tạo dựng n iềm tin cho n h à đ ầ u tư, đảm bảo sự p h á t triể n TTCK Để bảo vệ tài sản đầu tư của khách hàng, pháp luật các nưóc thường có quy định về nghĩa vụ của CTCK tham gia bảo hiểm trá c h n h iệ m n g h ề n g h iệp để bồi th ư ờ n g th iệ t hại cho những sai sót do nhân viên hành nghề của CTCK gây ra cho nhà đầu tư Điều này được thể hiện trong khoản

7 Điều 71 Luật Chứng khoán Việt Nam: CTCK có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán tại công ty hoặc trích lập quỹ bảo

vệ nhà đầu tư để bồi thường thiệt hại cho nhà đầu tư do sự cô" kỹ th u ậ t và sơ suất của nhân viên trong công ty Hoặc, theo Luật Chứng khoán của Trưng Quốc, Điều 128 quy định: CTCK hàng năm phải trích ra một khoản từ lợi nhuận sau thuê th àn h lập quỹ phòng ngừa rủi ro giao dịch dùng để bù vào các tổn th ất giao dịch chứng khoán Tỷ lệ trích cụ thể do cơ quan giám quản chứng khoán của Quốc

Vụ viện (Chính phủ) quy định

Pháp luật về còng ty chứng khoán ở Việl Nam

Ngày đăng: 05/05/2020, 23:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w