1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền, trách nhiệm của tổ chức công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong doanh nghiệp từ thực tiễn tỉnh quảng nam

109 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trách nhiệm của công đoàn trong việc xử lý kỷ luật lao động:…………..43 Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN, TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN BẢO VỆ QUYỀN LỢI ÍCH CỦA NGƯ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Bích Liên

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Được sự phân công của Khoa Sau đại học, Trường Đại học Mở Hà Nội và

sự đồng ý của giáo viên hướng dẫn TS Vũ Minh Tiến về đề tài luận văn: "Quyền,

trách nhiệm của Tổ chức công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong

doanh nghiệp từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh " Để hoàn thành được luận văn này, tôi

đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, động viên, giúp đỡ của quý thầy, cô giáo trong

trường

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy, cô giáo của Trường Đại

học Mở Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình tôi học tập,

nghiên cứu tại Viện

Chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn khoa học TS Vũ Minh Tiến đã tận

tình hướng dẫn tôi nghiên cứu thực hiện luận văn của mình

Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa đào tạo sau đại

học, Trường Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học

tập Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, cố gắng để thực hiện luận văn một cách hoàn chỉnh

nhất, nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà tự bản thân không

thể tự nhận thấy được Tôi rất mong nhận được sự góp ý của Quý thầy, cô giáo để

luận văn được hoàn chỉnh hơn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn bên tôi, động

viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện luận văn, công trình nghiên cứu

của mình

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Bích Liên

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU……….……….1

Chương 1: kHÁI QUÁT VỀ QUYỀN, TRÁCH NHIỆM CÔNG ĐOÀN BẢO VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP………8

1.1 Các khái niệm cơ bản……….8

1.1.1 Công đoàn Việt Nam……… ……8

1.1.2 Quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn……….10

1.1.3 Quyền, lợi ích của người lao động:……… 12

1.1.4 Công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động:………14

1.2 Ví trí, vai trò và quyền, trách nhiệm chung của công đoàn Việt Nam… …14

1.2.1 Ví trí, vai trò của tổ chức công đoàn Việt Nam:……… 14

1.2.2 Quyền, trách nhiệm của công đoàn Việt Nam……….18

1.3 Nội dung quy định pháp luật về quyền, trách nhiệm của tổ chức công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của nlđ trong doanh nghiệp……….22

1.3.1 Công đoàn thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện thỏa ước lao động tập thể……….22

1.3.2 Công đoàn đối thoại với đơn vị sử dụng lao động tại nơi làm việc……….29

1.3.3 Công đoàn tham gia với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động; khởi kiện tại tòa án và tham gia tố tụng………34

1.3.4 Công đoàn tổ chức và lãnh đạo đình công……… 41

1.3.5 Trách nhiệm của công đoàn trong việc xử lý kỷ luật lao động:………… 43

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN, TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN BẢO VỆ QUYỀN LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP Ở QUẢNG NINH……… 45

Trang 5

2.1 Khái quát tình hình lao động và hoạt động công đoàn trong các doanh nghiệp

ở Quảng Ninh……… … 45

2.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội ở Quảng Ninh……… 45

2.1.2 Tình hình lao động, việc làm, doanh nghiệp trên địa bàn……… 46

2.1.3 Tình hình hoạt động của công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp………49

2.1.4 Tình hình tổ chức cán bộ công đoàn trên địa bàn……… 52

2.2 Thực trạng thực hiện quyền, trách nhiệm của tccđ bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ trong doanh nghiệp ở quảng ninh……….57

2.2.1 Thực trạng công đoàn tham gia thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện thỏa ước lao động tập thể………58

2.2.2 Thực trạng công đoàn đối thoại với đơn vị sử dụng lao động tại nơi làm việc 64

2.2.3 Thực trạng công đoàn tham gia giải quyết tranh chấp lao động; khởi kiện tại tòa án và tham gia tố tụng……….67

2.2.4 Thực trạng công đoàn tổ chức và lãnh đạo đình công………72

2.2.5 Thực trạng về trách nhiệm của công đoàn trong việc xử lý kỷ luật lao động……….75

2.3 Đánh giá thực hiện pháp luật về quyền và trách nhiệm của tccđ bảo vệ quyền, lợi ích của nlđ trong doanh nghiệp………77

2.3.1 Ưu điểm………78

2.3.2 Tồn tại, hạn chế………81

2.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại………83

Chương 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CÔNG ĐOÀN BẢO VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP Ở QUẢNG NINH………85

3.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật:……… 85

3.2 Các nhóm giải pháp………87

3.2.1 Tham gia xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật của nhà nước, cơ chế chính sách của tỉnh liên quan đến quyền, lợi ích của nlđ trong các doanh nghiệp……… 87

Trang 6

3.2.2 Nâng cao vai trò, trách nhiệm của tổ chức công đoàn………89 3.2.3 Xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công đoàn đáp ứng yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ……… 93 3.2.4 Nâng cao nhận thức của các cấp công đoàn của NLĐ của NSDLĐ…… 94

KẾT LUẬN:……… …… 98 TÀI LIỆU THAM KHẢO………100

Trang 7

DANH MỤC BIỂU

Biểu 1: tổng hợp trình độ của cán bộ cđcs doanh nghệp……….53 Biểu 2: kết quả công tác đào tạo, tập huấn cán bộ CĐCS doanh nghiệp……… 55 Biểu 3: người sử dụng lao động đánh giá năng lực cbcđ cơ sở………56

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài:

Nghiên cứu về lịch sử ra đời của giai cấp công nhân (GCCN) và công đoàn, theo học thuyết của Mác - Lê nin thì sự ra đời của tổ chức công đoàn (TCCĐ) là do yêu cầu khách quan của GCCN, Công đoàn là tổ chức cách mạng của GCCN, viên chức và NLĐ Ở Việt Nam, sự hình thành GCCN Việt Nam vào đầu Thế kỷ XX cũng gắn liền với sự ra đời của Công đoàn Việt Nam

Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Điều 10 Chương I

quy định: “Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của GCCN và của

NLĐ, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho NLĐ, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của NLĐ; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của NLĐ; tuyên truyền, vận động NLĐ học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Bộ Luật lao động 2012 được Quốc hội thông qua ngày 18/6/2012, Điều 188 quy

định: “CĐCS thực hiện vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính

đáng của đoàn viên công đoàn, NLĐ; tham gia thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện thỏa ước lao động tập thể, thang lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lượng, quy chế thưởng, nội quy lao động, QCDC ở doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức; tham gia, hỗ trợ giải quyết TCLĐ; đối thoại, hợp tác với người sử dụng lao động xây dựng QHLĐ hài hóa, ổn định, tiến bộ tại doanh nghiệp ”

Luật công đoàn 2012 được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2012 đã quy định

rõ quyền, trách nhiệm của công đoàn trong việc đại diện, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp chính đáng cho NLĐ; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế; kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng, sửa đổi, bổ sung chính sách pháp luật có liên quan đến TCCĐ, quyền, nghĩa vụ của NLĐ; tham dự các cuộc họp, hội

Trang 10

nghị của cơ quan, tổ chức cùng cấp khi bàn và quyết định những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của NLĐ; tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động, giáo dục NLĐ; phát triển đoàn viên, thành lập CĐCS Để TCCĐ thực sự hoạt động có hiệu quả trong các doanh nghiệp, thì TCCĐ phải thực hiện tốt quyền và trách nhiệm của TCCĐ như Luật đã quy định

Trong quá trình hội nhập quốc tế và bản thân nội tại Việt Nam đặt ra yêu cầu thực thi các quy định pháp luật lao động do tính phổ biến trên thế giới, trong đó có việc bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ, thì quyền, trách nhiệm của một tổ chức bảo vệ cho NLĐ đó là một tổ chức đại diện cho người lao động và tổ chức đó gọi là công đoàn Tất cả những điều đó thực sự là một thách thức lý luận và thực tiễn đối với vai trò và vị trí pháp lý của tổ chức đại diện cho NLĐ, hay còn gọi là công đoàn Trong quá trình thực thi pháp luật lao động và công đoàn, tổ chức công đoàn thuộc

hệ thống Tổng LĐLĐ Việt Nam hiện nay đang là một tổ chức có vai trò vị trí pháp

lý trong việc bảo vệ quyền, lợi ích cho NLĐ, nếu TCCD không phát huy hiệu quả thì việc một tổ chức công đoàn khác nằm ngoài hệ thống công đoàn bảo vệ NLĐ

Do vậy, việc nghiên cứu quyền, trách nhiệm của TCCĐ bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ trong các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay nhằm xác định những hạn chế, nguyên nhân và đề xuất các giải pháp hoàn thiện bảo đảm thực thi quyền, trách nhiệm của công đoàn, nhằm nâng cao và phát huy yếu tố quyền con người trong điều kiện hội nhập quốc tế, hoàn thiện các thể chế của kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là hết sức cần thiết

Từ những vấn đề nêu trên, Bản thân lựa chọn đề tài “Quyền, trách nhiệm

của TCCĐ bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ trong các doanh nghiệp từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ chuyên ngành luật

học kinh tế của mình

Trang 11

2 Tình hình nghiên cứu:

Thực tế cho thấy các công trình nghiên cứu liên quan đến công đoàn nói chung và pháp luật về công đoàn trong việc bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong các doanh nghiệp nói riêng còn rất khiêm tốn, đặc biệt là ở Việt Nam Một số khái quát về những công trình nghiên cứu chủ yếu của các học giả, tác giả liên quan đến đề tài như sau:

- Đề tài cấp Tổng Liên đoàn (2015): “Những vấn đề bức xúc, cấp bách của

công nhân, lao động trong các khu công nghiệp, khu chế xuất - Thực trạng và giải pháp”, mã số XH/TLĐ.2015.03 do ThS Nguyễn Mạnh Thắng, Viện Công nhân và

Công đoàn làm chủ nhiệm Đề tài đã phân tích, đánh giá thực trạng những khó khăn, bức xúc của công nhân, lao động trong các KCN, KCX tập trung như: nhà ở tại các khu công nghiệp, tiền lương và thu nhập, bảo hiểm xã hội, nơi sinh hoạt văn hoá, cơ sở nuôi dạy trẻ Nghiên cứu đã chỉ ra những hạn chế trong xây dựng và thực hiện chính sách, vai trò của các cấp chính quyền và hoạt động công đoàn Mặc

dù những khó khăn, bức xúc, cấp bách này những năm gần đây đã được quan tâm giải quyết và có nhiều chuyển biến tích cực, song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu

mà Nghị quyết 20/NQ – TW đề ra

- Đề tài cấp Tổng Liên đoàn (2015): “Vai trò của Công đoàn trong việc tham

gia hoàn thiện chính sách tiền lương tối thiểu vùng ở Việt Nam”, mã số

XH/TLĐ.2015.01, do ThS Đặng Quang Hợp, Viện Công nhân và Công đoàn làm chủ nhiệm Đề tài đã đánh giá chính sách tiền lương tối thiểu ở Việt Nam và vai trò của các cấp công đoàn; đề xuất giải pháp nâng cao vai trò của Công đoàn trong tham gia hoàn thiện chính sách tiền lương tối thiểu vùng ở Việt Nam Trong đó xác định: Công đoàn muốn đại diện bảo vệ đoàn viên và NLĐ về tiền lương, lương tối thiểu hiệu quả, thì ngoài việc tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện chưa đủ, mà cần chú trọng tham gia xây dựng có hiệu quả chính sách pháp luật, thúc đẩy và tăng cường kỹ năng thương lượng tập thể

Trang 12

- Đề tài "Công đoàn tổ chức và lãnh đạo đình công" năm 2016 foa Ban Quan

hệ lao động Tổng Liên đoàn chủ trì nghiên cứu sâu phân tích và làm rõ cơ sở lý luận

về đình công và Công đoàn tổ chức, lãnh đạo đình công; bản chất của đình công trong nền kinh tế thị trưởng ở Việt Nam

- Đề tài: "vai trò của tổ chức công đoàn trong bảo vệ vai trò của người lao động ở Việt Nam hiện nay" năm 2014 của khoa luật - Đại học Quốc gia Hà nội do tác giả Vũ Xuân Kiểm làm chủ nhiệm đề tài đi sâu nghiên cứu về vai trò của Công đoàn trong giai đoạn hội nhập quốc tế

- Cuốn sách chuyên khảo “Đối thoại trong doanh nghiệp và vai trò của công

đoàn” (2015) của tác giả Nguyễn Anh Tuấn và Nguyễn Đức Hữu, đã cung cấp một

cách khái lược cơ sở lý luận nghiên cứu về đối thoại tại nơi làm việc (doanh nghiệp)

- một hình thức trong thương lượng tập thể, thông qua đối thoại công đoàn tạo diễn đàn dân chủ, sử dụng sức mạnh tập thể để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và NLĐ Tác giả đã trình bày một cách có hệ thống từ lý luận

về đối thoại trong doanh nghiệp; phân tích thực trạng đối thoại trong doanh nghiệp

và đặc biệt chỉ ra vai trò của công đoàn trong đối thoại tại doanh nghiệp Trên cơ sở

đó đưa ra 06 nhóm giải pháp để tăng cường đối thoại trong doanh nghiệp và vai trò của công đoàn nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của đoàn viên và NLĐ

- Cuốn giáo trình “Quan hệ đối tác xã hội” (2016) của tác giả Phạm Văn Hà,

đã cung cấp một cách khái lược về cơ sở lý luận nghiên cứu về quan hệ đối tác ở Việt Nam Tác giả đã đi sâu trình bày những nhận thức về quan hệ đối tác xã hội hiện nay; xác định chủ thể của quan hệ đối tác xã hội; hệ thống quan hệ đối tác xã hội; thương lượng tập thể và TƯLĐTT; kinh nghiệm quốc tế về phát triển quan hệ đối tác xã hội, đặc biệt đã bước đầu đánh giá thực trạng, nhận định xu thế phát triển quan hệ đối tác xã hội ở Việt Nam

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu và tài liệu trên phần lớn đi sâu đánh giá thực trạng việc thực hiện chế độ, chính sách đối với NLĐ và khẳng định mâu thuẫn trong QHLĐ là phát sinh từ việc thực hiện quyền và lợi ích chưa tốt Các nghiên

Trang 13

cứu cũng đã đề xuất giải pháp, cả giải pháp thuộc về công đoàn, nhưng ít gắn với việc công đoàn bảo vệ quyền và lợi ích đoàn viên, mà chủ yếu là NLĐ Hơn nữa các tài liệu chưa phân tích giới hạn nội hàm về quyền và lợi ích, mối quan hệ biến đổi giữa quyền và lợi ích trong QHLĐ Vai trò công đoàn trong việc bảo vệ các quyền của đoàn viên và NLĐ chưa cụ thể, nhất là làm thế nào đẩy mạnh thương lượng tập thể để đưa một số lợi ích của đoàn viên và NLĐ chuyển sang quyền thông qua các văn bản dưới luật tại nội bộ doanh nghiệp

3 Mục tiêu của đề tài

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là nhằm làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền, trách nhiệm của TCCĐ bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ trong doanh nghiệp từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quyền, trách nhiệm của TCCĐ và hoàn thiện pháp luật liên quan đến quyền, trách nhiệm của TCCĐ bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Để đạt được mục tiêu trên, luận văn cần làm rõ những nhiệm vụ cụ thể:

Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về quyền và trách nhiệm của TCCĐ bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ trong doanh nghiệp như: Khái niệm TCCĐ, tính chất, chức năng, vai trò của TCCĐ; nguyên tắc tổ chức và hệ thống tổ chức của công đoàn Việt Nam

Nghiên cứu và làm rõ về vấn đề lý luận cơ bản nội dung về quyền và trách nhiệm cơ bản của TCCĐ trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ và các yếu tố tác động đến việc thực thi pháp luật

Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật quyền và trách nhiệm của TCCĐ bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ trong doanh nghiệp, đánh giá những kết quả đạt được và những tồn tại hạn chế của pháp luật về quyền và trách nhiệm của TCCĐ bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ

Trang 14

Đánh giá thực trạng việc áp dụng pháp luật về quyền và trách nhiệm của TCCĐ bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ trong các doanh nghiệp tại tỉnh Quảng Ninh

Đề xuất một số các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về lao động và công đoàn, phát huy quyền, trách nhiệm của TCCĐ trong điều kiện hội nhập quốc tế, hoàn thiện các thể chế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu các quan điểm, quy định của pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền và trách nhiệm của TCCĐ trong việc bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ trong doanh nghiệp (trừ các doanh nghiệp Trung ương đóng trên địa bàn, doanh nghiệp ngành than) từ thực tiễn tại tỉnh Quảng Ninh

5 Phương pháp nghiên cứu và tiếp cận của đề tài

Để thực hiện nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng phương pháp luận biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác Lê - nin Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác – Lê nin về GCCN; Nghị quyết số 20-NQ/TW Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X); các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, quy định của Tổng LĐLĐ Việt Nam về hoạt động công đoàn

Trang 15

Các tài liệu nghiên cứu, kinh nghiệm hoạt động công đoàn của các TCCĐ khác

- Khảo sát nắm bắt thực tế, thông qua các cuộc làm việc với CĐCS; đối thoại với NLĐ, đoàn viên công đoàn để thu thập những thông tin cần thiết liên quan đến hoạt động công đoàn trong việc bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Áp dụng công nghệ thông tin trong việc nắm bắt thông tin về hoạt động công đoàn trong tỉnh và ngoài tỉnh

- Đề tài sử dụng các báo cáo hoạt động công đoàn hàng năm từ các LĐLĐ cấp huyện, Công đoàn ngành; báo cáo kết quả hàng năm của các Sở, ban ngành của tỉnh: Sở Lao động - Thương binh & Xã hội, Bảo hiểm xã hội tỉnh

- Đề tài sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp; phân tích; phương pháp chuyên gia để nghiên cứu đánh giá, phân tích các dữ liệu

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Khái quát về quyền, trách nhiệm công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích

của người lao động trong doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về quyền, trách nhiệm của tổ chức

công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong các doanh nghiệp ở Quảng Ninh

Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả

của công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong doanh nghiệp ở Quảng Ninh

Trang 16

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN, TRÁCH NHIỆM CÔNG ĐOÀN BẢO

VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG

DOANH NGHIỆP

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Công đoàn Việt nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiếp thu, vận dụng sáng tạo các luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin về công đoàn vào thực tiễn Việt Nam

để xác định đối tượng, xây dựng tổ chức, chỉ rõ chức năng, nhiệm vụ, phương pháp hoạt động công đoàn và đào tạo CBCĐ

Trong cuốn: "Bản án chế độ thực dân Pháp" xuất bản năm 1925, Người đã chỉ rõ: "Việc cần thiết hiện nay là phát động một cuộc tuyên truyền lớn để thành lập các

tổ chức Công đoàn ở các nước thuộc địa, nửa thuộc địa và phát triển các Công đoàn hiện có dưới hình thức phôi thai"

"Tổ chức công hội trước là để công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình, hai

là để nghiên cứu với nhau, ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ, bốn là để giữ gìn quyền lợi cho công nhân, năm là để giúp cho quốc dân, giúp cho thế giới"

Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của Công đoàn Việt Nam là: "Công đoàn phải thực sự trở thành trường học quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế và văn hóa của GCCN"

Do đó, Công đoàn phải vận động quần chúng tham gia ngày càng rộng rãi vào toàn bộ sự nghiệp xây dựng nền kinh tế quốc dân, vào các kế hoạch kinh tế, sản xuất, phân phối

Về nhiệm vụ của Công đoàn, Người nêu tóm tắt: "Nhiệm vụ của công nhân và

Trang 17

giáo dục, lãnh đạo công nhân đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch của Đảng và Nhà nước đề ra"

Từ nhiệm vụ chung đó, Người chỉ rõ nhiệm vụ cụ thể cho Công đoàn Đó là:

- Về công tác giáo dục chính trị - tư tưởng: Công đoàn phải tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng, vì là Đảng của GCCN: "Công nhân không có sự lãnh đạo của Đảng thì không làm cách mạng thành công được, không thắng lợi được” Do đó, mọi đường lối, chính sách của Đảng phải được công nhân quán triệt

và thực hiện, thông qua tổ chức Công đoàn Công đoàn phải giáo dục cho công nhân

về đạo đức vô sản, đạo đức cách mạng

- Về lề lối làm việc của Công đoàn, Người căn dặn các cấp Công đoàn cần đổi mới cách thức làm sao cho mọi hoạt động của Công đoàn đi vào chiều sâu và có hiệu quả thiết thực Người chỉ rõ: "Công đoàn các cấp cần cải tiến lề lối làm việc, cần đi sát quần chúng, tăng cường đôn đốc, kiểm tra Cần bớt giấy tờ từng đống và hội họp lu bù Cán bộ cấp trên cần thường xuyên đi đến cơ sở để giúp đỡ họ một cách thiết thực hơn"

Công đoàn phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của NLĐ, thường xuyên quan tâm đến lợi ích vật chất và tinh thần của NLĐ Hồ Chí Minh căn dặn Công đoàn phải bảo vệ cho công nhân lao động có quyền thực sự trong xí nghiệp, có quyền phê bình tất cả mọi việc và mọi người trong xí nghiệp, trong sản xuất và đời sống

Người khuyên CBCĐ phải cùng công nhân đồng cam cộng khổ, hòa mình với công nhân thành một khối và phải gương mẫu CBCĐ trước hết phải phấn đấu thành người xã hội chủ nghĩa Bác nói: "Muốn xây dựng CNXH, phải có con người

xã hội chủ nghĩa Công nhân phải thành người xã hội chủ nghĩa"

CBCĐ cần tích cực để không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt, Người nói:

"Kinh tế của ta ngày càng phát triển, hàng ngũ công nhân ngày càng thêm đông Muốn làm tròn nhiệm vụ của mình thì CBCĐ phải cố gắng học tập vươn lên để

Trang 18

không ngừng tiến bộ Có học tập mới hiểu biết được khoa học, có hiểu biết được khoa học mới tổ chức được phong trào"

Hồ Chí Minh căn dặn CBCĐ phải đoàn kết Người nói: "Muốn giáo dục tốt công nhân, trước hết đội ngũ CBCĐ phải đoàn kết nhất trí… "

CBCĐ phải đặc biệt chú ý bồi dưỡng cho công nhân trẻ về mọi mặt để trở thành những người có giác ngộ giai cấp, có trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật cao Người nói: "Công nhân trẻ tốt lắm Họ nghe và làm theo Đảng, Công đoàn và Đoàn thanh niên Nhưng chúng ta phải tôn trọng họ, tin vào họ, bồi dưỡng cho họ về phẩm chất, đạo đức cách mạng, về chủ nghĩa anh hùng và cách mạng của GCCN

- Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công đoàn:

Đường lối phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã khơi dậy tiền năng của đất nước, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Tuy nhiên mặt trái của nền kinh tế thị trường đã tạo ra nhiều mâu thuẫn so với bản chất của xã hội xã hội chủ nghĩa Đó là xu thế phân hóa giầu nghèo, tâm lý sùng bái đồng tiền, sự cạnh tranh sống còn giữa các doanh nghiệp; cơ chế thị trường cũng là mảnh đất nảy sinh chủ nghĩa cá nhân, tạo cơ hội cho một bộ phận bất chấp lợi ích tập thể, lợi ích cộng đồng, tìm mọi cách mưu lợi cho bản thân, điều nay dẫn đến quyền và lợi ích của người lao động luôn bị đe dọa, xâm hại Vì thế, Đảng và Nhà nước đã có nhiều quy định thành lập nhiều cơ quan, tổ chức có thẩm quyền để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, trong đó công đoàn là một tổ chức có mối quan

hệ gần gũi và có những hoạt động thiết thực, có hiệu quả để bảo vệ người lao động

1.1.2 Quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn

1.1.2.1 Quyền của TCCĐ:

Quyền: là “Điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng,

được làm, được đòi hỏi, hoặc những điều do địa vị hay chức vụ mà được làm”1 Quyền con người, quyền công dân được Hiến pháp của các quốc gia trên thế giới

Trang 19

quy định, bao gồm rất nhiều quyền: Quyền được sống, quyền làm việc, quyền sở hữu, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc Khoản 1 Điều 14, Hiến pháp Việt

Nam năm 2013 ghi rõ: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền

con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”.Như vậy quyền của

con người được pháp luật tôn trọng, bảo đảm và ghi nhận bằng các quy định của pháp luật Xã hội càng phát triển thì quyền cơ bản của con người cũng được ghi nhận, cập nhật đưa vào các văn bản pháp luật Thực hiện quyền công dân, quyền con người là bắt buộc đối với mọi hệ thống pháp luật các tổ chức, cá nhân phải chấp hành để bảo đảm các quyền này

1.1.2.2 Trách nhiệm:

Theo Từ điển tiếng Việt là “Điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy

về mình”; hay “được hiểu là sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm làm đúng đắn, nếu sai trái thì phải chịu phần hậu quả”; hoặc “là phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả” Và “trách nhiệm là phải bảo đảm làm tròn những

sự việc được giao cho Nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu hậu quả”

Quyền và trách nhiệm của của TCCĐ là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của công đoàn được pháp luật ghi nhận có thể được thực hiện hoặc phải được thực hiện một cách độc lập với tư cách là một chủ thể trong giới hạn nhất định

Theo tính chất: Quyền và trách nhiệm của TCCĐ chia thàng 3 loại: Thẩm quyền tham gia; thầm quyền chung và thẩm quyền độc lập Tuy theo từng thẩm quyền mà mực độ biểu hiện quyền lực của công đoàn cũng không giống nhau, và vì vậy hiệu quả của việc thực hiện các quyền cũng không đồng đều

Quyền và trách nhiệm của TCCĐ bao gồm:

Thứ nhất: Không phải do Công đoàn sáng tạo ra mà có nguồn gốc từ ý chí

của Nhà nước

Trang 20

Thứ hai: Mặc dù chịu sự điều chỉnh của pháp luật song giới hạn của thẩm quyền

không chỉ ở pháp luật của TCCĐ, hơn nữa nó còn bị chi phối bởi pháp luật quốc tế

Thứ ba: Về mặt hình thức, quyền và trách nhiệm của TCCĐ trong mối quan

hệ với người sử dụng lao động là các quyền của công đoàn trong phạm vi pháp luật ghi nhận Hay nói cách khác, đó chỉ là quyền hạn của TCCĐ mà không gồm các nghĩa vụ hợp thành Chính vì vậy, theo cách hiểu khác thường chỉ quan tâm đến các quyền mà không đề cập đến hệ thống các nghĩa vụ, bởi nó đã được bao gồm về mặt pháp lý trong việc thực hiện các quyền do pháp luật quy định

Các quyền cơ bản của TCCĐ về phương diện lao động được đề cập chủ yếu

là các quyền của chủ thể trong quan hệ pháp lý giữa một bên là người sử dụng lao động Quan hệ này là quan hệ trực tiếp, song phương và biểu hiện là một loại tương quan pháp lý, chứ tuyệt nhiện không phải là quyền của một chủ thể thứ ba trong QHLĐ Một mặt công đoàn nhân danh mình, mặt khác có quyền thay mặt cho tập thể lao động thực hiện hành vi cần thiết để đảm bảo cho môi trường lao động luôn luôn được hài hòa, ổn định Nhà nước đã tạo ra khả năng này cho TCCĐ bằng cách xác lập lên hệ thống các quyền năng để việc hoạt động của công đoàn có cơ sở vững chắc và thuận lợi

1.1.3 Quyền, lợi ích của người lao động:

1.1.3.1 Quyền của NLĐ:

Quyền và nghĩa vụ của NLĐ được quy định tại Khoản 1, Điều 5, BLLĐ năm 2012; “Quyền của đoàn viên công đoàn” được quy định tại Điều 18, Luật Công đoàn năm 2012

Các quyền cơ bản của NLĐ: Quyền của NLĐ trong thành lập và tổ chức mà không bị phân biệt; (2) Quyền của NLĐ thành lập tổ chức mà không cần xin phép trước; (3) Quyền của NLĐ thành lập và tham gia các tổ chức theo lựa chọn riêng của mình; (4) Quyền xây dựng nội quy, quy tắc riêng của tổ chức; (5) Quyền của tổ chức trong bầu đại diện của mình; (6) Quyền quản lý của tổ chức; (7) Quyền tổ chức hoạt động và xây dựng chương trình của tổ chức; (8) Quyền đình công; (9) Quyền tổ chức,

Trang 21

thành lập các liên đoàn, liên minh và liên kết quốc tế của NLĐ; (10) Chống phân biệt đối xử, chống lại hành vi can thiệp; và (11) Quyền thương lượng tập thể

Quyền công đoàn được hiểu: Quyền công đoàn của NLĐ là những nhu cầu được liên kết lại với nhau để hình thành tổ chức để bảo vệ những lợi ích trong quá trình làm việc và những quyền của tổ chức, của NLĐ được ghi nhận trong luật pháp của từng quốc gia, phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế.2

Lợi ích của đoàn viên và NLĐ không quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật gồm những gì, mức độ bao nhiêu, song những nhu cầu mong muốn của NLĐ phải “chính đáng” Tức là phải được đặt trong hoàn cảnh cụ thể, không trái quy định của pháp luật, phù hợp với đóng góp của NLĐ, khả năng chi trả và điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Lợi ích của đoàn viên và NLĐ được thể hiện ở hai khía cạnh là lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần Đó là làm việc trong môi trường

an toàn, thân thiện; tiền lương phúc lợi tốt hơn; được hỗ trợ tham quan du lịch, tham gia sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể thao; học tập nâng cao trình độ Các lợi ích chỉ được thực hiện (bảo vệ) tốt khi NSDLĐ thực sự quan tâm đến NLĐ và Công đoàn hoạt động hiệu quả

2 Luận văn Tiến sỹ của Vũ Anh Đức

3 Hoàng Phê, Từ Điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2008, tr 587

Trang 22

1.1.4 Công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động:

Bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ được coi là chức năng số một của TCCĐ

Có thể coi đây là chức năng "bẩm sinh" vốn có Điều 10 Hiến pháp, Điều 1 Luật Công đoàn và lời nói đầu của Điều lệ Công đoàn Việt Nam ghi nhận

Công đoàn đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ

Bộ luật Lao động 2012 quy định CĐCS thực hiện vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên công đoàn, NLĐ; tham gia, thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện thỏa ước lao động tập thể, thang lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao động, QCDC ở doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức; tham gia, hỗ trợ giải quyết TCLĐ; đối thoại, hợp tác với người sử dụng lao động xây dựng QHLĐ hài hoà, ổn định, tiến bộ tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức.Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở

có trách nhiệm hỗ trợ CĐCS thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theo quy định; tuyên truyền giáo dục, nâng cao hiểu biết về pháp luật về lao động, pháp luật về công đoàn cho NLĐ

1.2 Ví trí, vai trò và quyền, trách nhiệm chung của Công đoàn Việt Nam

1.2.1 Ví trí, vai trò của tổ chức Công đoàn Việt Nam:

1.2.1.1 Vị trí của công đoàn Việt Nam:

Trong môi trường lao động, sự hiện diện của công đoàn có một tầm quan trọng đặc biệt Là một tổ chức xã hội sinh ra trong quá trình phát triển công nghiệp của xã hội Công đoàn là sản phẩm tự nhiên của công nhân lao động, Tổ chức công đoàn ban đầu đơn giản chỉ là một tổ chức được lập ra nhằm đấu tranh và hạn chế sự bóc lột của giới chủ, chứ thực ra chưa phải là một tổ chức có nhiều quyền năng như ngày nay Cùng với sự phát triển của quá trình lao động và sinh hoạt xã hội, công đoàn dần chiếm được vị trí quan trọng trong hệ thống các tổ chức xã hội, cũng như trong đời sống của người lao động

Trang 23

Từ chỗ chỉ được thừa nhận ở một phạm vi hẹp, ngày nay công đoàn được thừa nhận trên phạm vi toàn xã hội

Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Điều 10Chương Iquy định: “Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của GCCN và của NLĐ, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho NLĐ, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của NLĐ; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của NLĐ; tuyên truyền, vận động NLĐ học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Công đoàn Việt Nam vừa là tổ chức quần chúng, vừa là một tổ chức chính trị Công đoàn là một trong số những tổ chức xã hội tồn tại trong sự thống nhất được mâu thuẫn giữa lợi ích tập thể của người lao động và lợi ích của toàn xã hội Chính điều đóa nói lên khía cạnh dân chủ của hoạt động công đoàn

Như vậy, sự thừa nhận của xã hội, của nhà nước trên những phương diện khác nhau đã khẳng định vị trí của tổ chức công đoàn nó vừa là một tổ chức xã hội, vừa

là một thực thể pháp lý Nó cho ta thấy tầm quan trọng của công đoàn đối với phong trào của giai cấp công nhân và những người lao động; đối với tổ chức khác và đối với Nhà nước Đồng thời, vị trí đó tạo ra những điều kiện pháp lý-xã hội cho toàn

bộ hoạt động của công đoàn mà không phải bất cứ tổ chức xã hội nào cũng có được những điều kiện như vậy

1.2.1.2 Vai trò của Công đoàn Việt Nam

Nói vai trò của tổ chức là nói đến sự tác động của tổ chức đó đến tiến trình phát triển của lịch sử và cách mạng, được phản ánh trên lĩnh vực kinh tế, chính trị,

xã hội và tư tưởng mà tổ chức đó tồn tại và phát triển

Khi chưa giành được chính quyền: Công đoàn có vai trò là trường học đấu tranh giai cấp, Công đoàn vận động, tổ chức công nhân, lao động đấu tranh chống lại giai cấp tư sản, bảo vệ quyền, lợi của công nhân, lao động Cuộc đấu tranh của

Trang 24

Công đoàn ngày càng phát triển, từ đấu tranh kinh tế sang đấu tranh chính trị với mục đích lật đổ giai cấp thống trị xoá bỏ chế độ người bóc lột người, giành chính quyền về tay GCCN

Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò của Công đoàn Việt Nam ngày càng khẳng định tại Điều 10 Hiến pháp nước Cộng hoà xă hội chủ nghĩa Việt Nam (2013); Luật Công đoàn năm 2013 đă khẳng định: “Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của GCCN và NLĐ Việt Nam tự nguyện lập ra dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, là trường học chủ nghĩa xã hội của NLĐ”

Vai trò của Công đoàn Việt Nam ngày nay càng được mở rộng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Sự mở rộng vai trò Công đoàn là phù hợp với tính tất yếu, khách quan, tính qui luật vận động và phát triển của tổ chức Công đoàn, nó phù hợp với qui luật chung của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội

Thực tế, trong chặng đường lịch sử của đất nước những năm qua, Công đoàn Việt Nam đã trưởng thành nhanh chóng, thể hiện được vai trò của mình đối với xã hội, Công đoàn đã thu hút, vận động giáo dục, tổ chức công nhân, viên chức và lao động tham gia tích cực vào công cuộc cách mạng Trong các lĩnh vực của đời sống

xã hội (kinh tế, chính trị, xă hội, văn hoá và tư tưởng), Công đoàn đã sự tham gia tích cực, tác động mạnh mẽ thông qua hệ thống tổ chức từ trung ương đến địa phương, ngành, cơ sở, thông qua lực lượng đoàn viên, Công nhân, viên chức và lao động đã đạt được những thành tựu to lớn góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng

Vai trò của Công đoàn Việt Nam thể hiện trong các lĩnh vực:

Trong lĩnh vực chính trị: Công đoàn có vai trò to lớn trong việc góp phần xây

dựng và nâng cao hiệu quả của hệ thống chính trị - xã hội xã hội chủ nghĩa Tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân, bảođảm và phát huy quyền làm

Trang 25

đảm thực thi pháp luật và để Nhà nước thực sự là Nhà nước của dân, do dân và vì dân Để đảm bảo sự ổn định về chính trị

Trong lĩnh vực kinh tế: Công đoàn tham gia xây dựng hoàn thiện cơ chế quản

lý kinh tế nhằm xoá bỏ quan liêu, bao cấp, củng cố nguyên tắc tập trung trên cơ sở

mở rộng dân chủ Góp phần củng cố những thành tựu kinh tế văn hoá và khoa học kỹ thuật đã đạt được trong những năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả hoạt động của các thành phần kinh tế trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, liên kết và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển có lợi cho quốc kế dân sinh Đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, từng bước đưa kinh tế tri thức vào Việt Nam, góp phần nhanh chóng hội nhập với khu vực và thế giới Đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, việc đẩy mạnh hoạt động của các thành phần kinh tế vẫn đảm bảo cho kinh tế quốc doanh giữ vị trí then chốt, đóng vai trò chủ đạo

Trong lĩnh vực văn hoá - tư tưởng: Trong nền kinh tế nhiều thành phần Công

đoàn phát huy vai trò của mình trong việc giáo dục công nhân, viên chức và lao động nâng cao lập trường giai cấp, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động, phát huy những giá trị cao đẹp, truyền thống văn hoá dân tộc và tiếp thu những thành tựu tiên tiến của văn minh nhân loại góp phần xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam

Trong lĩnh vực xã hội: Công đoàn có vai trò trong tham gia xây dựng GCCN

vững mạnh cả về số lượng và chất lượng, không ngừng nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, tính tổ chức kỷ luật, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật, có nhn quan chính trị, thực sự là lực lượng ṇng cốt của khối liên minh công - nông - trí thức, làm nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân, là cơ sở vững chắc đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng và tăng cường sức mạnh của Nhà nước

Trang 26

1.2.2 Quyền, trách nhiệm của Công đoàn Việt Nam

Thực hiện tốt chức năng chăm lo đời sống, đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và NLĐ là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của tổ chức Công đoàn

Điều 10 Luật Công đoàn và Nghị định số 43/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Điều 10 của Luật Công đoàn về quyền, trách nhiệm của Công đoàn trong việc đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ thì CĐCS tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức sử dụng lao động làm việc theo hợp đồng lao động có quyền, đồng thời có trách nhiệm:

1.2.2.1 Hướng dẫn, tư vấn cho NLĐ về quyền, nghĩa vụ của NLĐ khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc với đơn vị sử dụng lao động:

- Hình thức, nguyên tắc, loại hợp đồng, nội dung hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên về cung cấp thông tin, thời gian thử việc, thời gian tập sự và những vấn

đề liên quan khi giao kết hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc;

- Nghĩa vụ thực hiện công việc theo hợp đồng, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của các bên trong trường hợp chuyển NLĐ làm công việc khác, các trường hợp tạm hoãn, nhận lại NLĐ hết thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc;

- Trình tự, thủ tục và các chế độ, chính sách đối với NLĐ khi phát sinh sửa đổi, bổ sung, chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc

1.2.2.2 Đại diện cho tập thể NLD thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện thỏa ước lao động tập thể:

- Thu thập thông tin, tập hợp kiến nghị, đề xuất nội dung có liên quan đến lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ; yêu cầu người sử dụng lao động thương lượng tập thể trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức;

- Đại diện tập thể NLĐ thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể; sửa đổi, bổ sung, kéo dài thời hạn của thỏa ước lao động tập thể theo quy định của pháp

Trang 27

- Phổ biến thỏa ước lao động tập thể đến NLĐ; giám sát thực hiện thỏa ước lao động tập thể trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức; yêu cầu người sử dụng lao động thi hành đúng thỏa ước lao động tập thể; yêu cầu giải quyết TCLĐ tập thể khi người sử dụng lao động thực hiện không đầy đủ hoặc vi phạm thỏa ước lao động tập thể theo quy định của pháp luật về lao động

1.2.2.3 Tham gia với đơn vị sử dụng lao động xây dựng và giám sát việc thực hiện thang lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao động:

- Tổ chức lấy ý kiến, tổng hợp ý kiến của NLĐ, tham gia bằng văn bản với người sử dụng lao động trong việc xây dựng, ban hành, sửa đổi, bổ sung thang lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao động theo quy định của pháp luật về lao động;

- Tổ chức giám sát việc thực hiện thang lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao động; kiến nghị với người sử dụng lao động nội dung sửa đổi, bổ sung thang lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao động

1.2.2.4 Đối thoại với đơn vị sử dụng lao động để giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của NLĐ:

- Thu thập thông tin, tập hợp kiến nghị, đề xuất nội dung có liên quan đến lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ; yêu cầu người sử dụng lao động tổ chức ĐTTNLV theo quy định của pháp luật về lao động;

- Tiến hành đối thoại định kỳ hoặc đột xuất với người sử dụng lao động; phối hợp cùng người sử dụng lao động tổ chức hội nghị NLĐ, hội nghị cán bộ công chức theo quy định của pháp luật;

- Giám sát việc thực hiện Nghị quyết hội nghị NLĐ, Nghị quyết hội nghị cán

bộ công chức, các thỏa thuận đạt được qua ĐTTNLV và QCDC ở cơ sở theo quy định của pháp luật

1.2.2.5 Tổ chức hoạt động tư vấn pháp luật cho NLĐ:

Trang 28

- Tư vấn cho NLĐ các nội dung quy định của pháp luật về lao động, pháp luật về công chức, viên chức, BHXH, BHYT, công đoàn;

- Tư vấn cho NLĐ các nội dung quy định của pháp luật khác có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ

1.2.2.6 Tham gia với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết TCLĐ:

- Yêu cầu bằng văn bản đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết TCLĐ bảo đảm đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật

- Hướng dẫn, hỗ trợ NLĐ giải quyết TCLĐ cá nhân khi NLĐ yêu cầu; đại diện cho NLĐ tham gia quá trình giải quyết TCLĐ cá nhân khi được NLĐ ủy quyền;

- Tham gia phiên họp giải quyết TCLĐ cá nhân của hòa giải viên lao động theo yêu cầu

1.2.2.7 Kiến nghị với tổ chức, cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, giải quyết khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể lao động hoặc của NLĐ bị xâm phạm:

- Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và công đoàn cấp trên xem xét, giải quyết khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể lao động hoặc của NLĐ bị xâm phạm;

- Tiến hành thương lượng với người sử dụng lao động để giải quyết khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể lao động bị xâm phạm theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và công đoàn cấp trên; thực hiện giải quyết TCLĐ tập thể theo quy định của pháp luật về lao động

1.2.2.8 Đại diện cho tập thể NLĐ khởi kiện tại Tòa án khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể lao động bị xâm phạm; đại diện cho NLĐ khởi kiện tại Tòa án khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ bị xâm phạm và được NLĐ ủy quyền:

- Đại diện cho tập thể NLĐ khởi kiện tại Tòa án khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể lao động bị xâm phạm theo quy định của pháp luật;

- Đại diện cho NLĐ khởi kiện ra Tòa án nếu được NLĐ ủy quyền để giải quyết TCLĐ cá nhân theo quy định của pháp luật

Trang 29

1.2.2.9 Đại diện cho tập thể NLĐ và NLĐ tham gia tố tụng trong các vụ án lao động, hành chính, phá sản doanh nghiệp:

Đại diện cho tập thể NLĐ tham gia tố tụng trong các vụ án lao động, hành chính, phá sản doanh nghiệp theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể NLĐ;

- Đại diện cho NLĐ tham gia tố tụng nếu được NLĐ ủy quyền để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ trong các vụ án lao động, hành chính, phá sản theo quy định của pháp luật

1.2.2.10 Tổ chức và lãnh đạo đình công:

- Lấy ý kiến của tập thể lao động để đình công theo quy định của pháp luật

về lao động;

- Ra quyết định đình công và thông báo thời điểm bắt đầu đình công;

- Rút quyết định đình công nếu chưa đình công;

- Tiến hành đình công theo quy định của pháp luật về lao động;

- Thực hiện quy định về không được đình công, hoãn, ngừng đình công theo quy định của pháp luật về lao động;

- Yêu cầu Tòa án tuyên bố cuộc đình công là hợp pháp theo quy định của pháp luật

- Đại diện cho tập thể NLĐ thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện thoả ước lao động tập thể

- Đối thoại với đơn vị sử dụng lao động để giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của NLĐ

- Tham gia với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết TCLĐ

- Đại diện cho tập thể NLĐ khởi kiện tại Toà án khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể NLĐ bị xâm phạm; đại diện cho NLĐ khởi kiện tại Toà án khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ bị xâm phạm và được NLĐ uỷ quyền

- Đại diện cho tập thể NLĐ tham gia tố tụng trong vụ án lao động, hành chính, phá sản doanh nghiệp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể NLĐ và NLĐ

Trang 30

- Tổ chức và lãnh đạo đình công theo quy định của pháp luật

1.3 Nội dung quy định pháp luật về quyền, trách nhiệm của tổ chức công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ trong doanh nghiệp

1.3.1 Công đoàn thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện thỏa ước lao động tập thể

Thương lượng tập thể là một hình thức ĐTTNLV Đó là việc đại diện tập thể

lao động thảo luận, đàm phán với người sử dụng lao động hoặc đại diện người sử dụng lao động nhằm mục đích:

- Xây dựng QHLĐ hài hòa, ổn định và tiến bộ;

- Xác lập các điều kiện lao động mới làm căn cứ để tiến hành ký kết thỏa ước lao động tập thể (cấp doanh nghiệp, cấp ngành, v.v );

- Giải quyết những vướng mắc, khó khăn trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong QHLĐ

Chủ thể thương lượng tập thể

Theo quy định Điều 69 Bộ luật Lao động năm 2012 thì đại diện thương lượng tập thể là:

- Bên tập thể lao động: Thương lượng tập thể phạm vi doanh nghiệp là tổ

chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở; Thương lượng tập thể phạm vi ngành là đại diện ban chấp hành công đoàn ngành

Lưu ý là, ở doanh nghiệp đã thành lập tổ chức CĐCS thì tổ chức đại diện tập

thể lao động là CĐCS; ở doanh nghiệp chưa thành lập tổ chức CĐCS thì tổ chức đại diện tập thể lao động là công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở (Điều 17 Luật Công đoàn năm 2012 và Điều 191 Bộ luật Lao động năm 2012)

- Bên người sử dụng lao động: Thương lượng tập thể phạm vi doanh nghiệp

là người sử dụng lao động hoặc người đại diện cho người sử dụng lao động;

Trang 31

Thương lượng tập thể phạm vi ngành là đại diện của tổ chức đại diện người

- Phù hợp với phong tục tập quán địa phương nơi doanh nghiệp đặt trụ sở;

- Phù hợp với luật pháp quốc gia (thực hiện theo nguyên tắc các bên được làm tất cả những gì pháp luật không cấm);

- Nội dung, hình thức thỏa ước lao động tập thể phải trong khuôn khổ luật pháp quốc gia; phù hợp với văn hóa doanh nghiệp và tương quan với thực tế của doanh nghiệp cùng ngành nghề, cùng địa bàn, cùng khu công nghiệp, khu chế xuất;

- Thương lượng về quyền và lợi ích của hai bên trên tinh thần bảo vệ quyền

và lợi ích quốc gia, tôn trọng luật pháp

* Tiếp cận tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế

- Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, thương lượng tập thể cần bảo đảm cả những tiêu chuẩn quốc tế và những thông lệ được chấp nhận rộng rãi

- Các vấn đề về lao động không chỉ là vấn đề của doanh nghiệp mà còn là mối quan tâm của quốc gia, quốc tế Do đó, quá trình thương lượng cần có nguyên tắc trong từng trường hợp cụ thể

Nội dung ưu tiên trong thương lượng tập thể

- Thu nhập: Tiền lương, tiền công, chế độ tăng lương; tiền thưởng, phụ cấp,

trợ cấp khó khăn; tiền công làm thêm giờ; tiền bồi thường, các khoản thu nhập khác

Trang 32

- Điều kiện làm việc; làm thêm giờ, thời giờ nghỉ ngơi, nghỉ phép; vệ sinh an toàn tại nơi làm việc và bảo đảm sức khỏe, nhân phẩm NLĐ;

- Bảo đảm việc làm và đào tạo nghề, nâng cao trình độ cho NLĐ

- Các loại hình bảo hiểm cho NLĐ

- Chế độ phúc lợi; chế độ ăn giữa ca, bồi dưỡng ca đêm; nghỉ mát; tiền hoặc quà hiểu hỷ; hỗ trợ đi lại, nhà ở; hỗ trợ nuôi con nhỏ; khen thưởng cho con em của NLĐ; nhà ở tập thể, nhà trẻ, công trình phúc lợi, thể dục, thể thao

- Cơ chế đối thoại giữa NLĐ và lãnh đạo, cán bộ quản lý doanh nghiệp; đối thoại giữa CĐCS với người sử dụng lao động và cán bộ quản lý doanh nghiệp; sự tham gia của NLĐ trong quá trình ra các quyết định của doanh nghiệp; thực hiện QCDC cơ sở

- Cơ chế giải quyết mâu thuẫn nội bộ doanh nghiệp; giải quyết TCLĐ

- Bảo vệ và bảo đảm cho CBCĐ trong hoạt động công đoàn

Thỏa ước lao động tập thể là văn bản thỏa thuận giữa tập thể lao động và

người sử dụng lao động về các điều kiện lao động mà hai bên đã đạt được thông qua thương lượng tập thể

Thỏa ước lao động tập thể gồm: thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp,

thỏa ước lao động tập thể ngành và các hình thức, cấp độ thỏa ước lao động tập thể khác khác như cấp vùng, khu vực, toàn quốc, nhóm doanh nghiệp

Nội dung thỏa ước lao động tập thể không được trái với các quy định của

pháp luật lao động và quy định khác của pháp luật có liên quan

- Thỏa ước lao động tập thể là văn bản cụ thể hóa, chi tiết hóa các quy định của pháp luật phù hợp với tính chất, đặc điểm của doanh nghiệp, làm cơ sở pháp lý

để người sử dụng lao động thực hiện giao kết hợp đồng lao động với NLĐ

Tạo nên mối quan hệ bình đẳng về trách nhiệm của hai bên trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ phát sinh trên cơ sở pháp luật lao động

Trang 33

- Là cơ sở pháp luật quan trọng bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các bên trong QHLĐ, trên cơ sở xây dựng được mối QHLĐ hài hòa, ổn định, tiến bộ trong doanh nghiệp, tạo động lực để phát triển doanh nghiệp

- Qua xây dựng, thương lượng, ký kết, giám sát thực hiện thỏa ước lao động tập thể, vị thế, vai trò của tổ chức công đoàn được nâng cao, nhắc nhở người sử dụng lao động tôn trọng pháp luật, tôn trọng công đoàn và NLĐ; qua đó cũng góp phần làm cho NLĐ hiểu và tin cậy tổ chức công đoàn hơn

Đại diện ký kết thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp

Đại diện ký kết thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, theo quy định Điều

83 Bộ luật Lao động năm 2012, bao gồm:

- Bên tập thể lao động: đại diện tập thể lao động tại cơ sở: doanh nghiệp đã thành lập tổ chức CĐCS thì tổ chức đại diện tập thể lao động là CĐCS; doanh nghiệp chưa thành lập tổ chức CĐCS thì tổ chức đại diện tập thể lao động là công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở (Điều 17 Luật Công đoàn năm 2012 và Điều 191 Bộ luật Lao động năm 2012)

- Bên người sử dụng lao động: người sử dụng lao động hoặc người đại diện của người sử dụng lao động

Thời hạn của thỏa ước lao động tập thể

Thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp có thời hạn từ 01 năm đến 03 năm Đối với doanh nghiệp lần đầu tiên ký kết thỏa ước lao động tập thể, thì có thể ký kết với thời hạn dưới 01 năm (Điều 85 Bộ luật Lao động năm 2012)

Tuy nhiên, lưu ý là, theo quy định Điều 81 Bộ luật Lao động năm 2012 thì: + Trong thời hạn 3 tháng trước ngày thỏa ước lao động tập thể hết hạn, hai bên có thể thương lượng để kéo dài thời hạn của thỏa ước lao động tập thể hoặc ký kết thỏa ước lao động tập thể mới

Trang 34

+ Khi thỏa ước lao động tập thể hết hạn mà hai bên vẫn tiếp tục thương lượng, thì thỏa ước lao động tập thể cũ vẫn được tiếp tục thực hiện trong thời gian không quá 60 ngày

Lưu ý là, quá những thời hạn nêu trên mà hai bên vẫn đang tiến hành thương lượng để sửa đổi, bổ sung và/hoặc chưa ký được thỏa ước lao động tập thể mới thì quyền lợi của NLĐ được thực hiện theo các quy định của pháp luật chứ không còn theo thỏa ước lao động tập thể nữa (Điều 77 Bộ luật Lao động năm 2012)

Thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Theo quy định Điều 78, Điều 79, Điều 80 Bộ luật Lao động năm 2012 về thỏa ước lao động vô hiệu thì:

- Thỏa ước lao động tập thể vô hiệu từng phần khi một hoặc một số điều khoản trong thỏa ước trái với quy định pháp luật

- Thỏa ước lao động tập thể vô hiệu toàn bộ thuộc một trong các trường hợp sau: + Có toàn bộ nội dung trái pháp luật

+ Người ký kết không đúng thẩm quyền

+ Việc ký kết không đúng quy trình thương lượng

- Thẩm quyền tuyên bố thỏa ước lao động tập thể vô hiệu: TAND

- Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên ghi trong thỏa ước tương ứng với toàn bộ hoặc phần bị tuyên bố vô hiệu được giải quyết theo quy định của pháp luật

và các thỏa thuận hợp pháp trong hợp đồng lao động

Sửa đổi, bổ sung thỏa ước lao động tập thể

Theo quy định Điều 77 Bộ luật Lao động năm 2012 thì:

- Sau 03 tháng thực hiện đối với thỏa ước lao động tập thể có thời hạn dưới

01 năm và sau 06 tháng thực hiện đối với thỏa ước lao động tập thể có thời hạn từ

01 năm đến 03 năm: các bên mới có quyền yêu cầu sửa đổi, bổ sung thỏa ước lao

Trang 35

- Trong trường hợp quy định của pháp luật thay đổi mà dẫn đến thỏa ước lao động tập thể không còn phù hợp với quy định của pháp luật, thì hai bên phải tiến hành sửa đổi, bổ sung thỏa ước lao động tập thể trong vòng 15 ngày, kể từ ngày quy định của pháp luật có hiệu lực

- Việc sửa đổi, bổ sung được tiến hành theo trình tự như ký kết thỏa ước lao động tập thể

Qúa trình thương lượng tập thể:

Đối với CĐCS

Trước yêu cầu đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của NLĐ, các CĐCS đang khắc phục khó khăn về kỹ năng thương lượng, đàm phán để ký kết TƯLĐTT Tuy vậy, không ít CĐCS chưa tích cực, chủ động trong việc đưa ra yêu cầu và nội dung thương lượng tập thể với NSDLĐ để ký kết TƯLĐTT Khi có sự đôn đốc, "giao kế hoạch" của công đoàn cấp trên thì ở các CĐCS này có tích cực hơn nhưng đa số đối phó, chiếu lệ nên chất lượng thương lượng tập thể không tốt, thậm chí không có thương lượng mà đưa ra một dự thảo về TƯLĐTT với nội dung

sơ sài, chủ yếu sao chép lại luật, không có những thỏa thuận sát với khả năng thực

tế của hai bên

Nguyên nhân của việc thiếu chủ động của cán bộ CĐCS trong việc đưa ra yêu cầu và nội dung thương lượng chủ yếu do thiếu điều kiện, thời gian, kinh nghiệm, kỹ năng về TƯLĐTT, thậm chí thiếu chỗ dựa nên dẫn đến thiếu bản lĩnh, thiếu tự tin

Đối với một số CBCĐ cơ sở (Chủ tịch, Phó Chủ tịch) đồng thời là Phó giám đốc hay Trưởng phòng nhân sự thì họ có điều kiện để chủ động hơn, thuận lợi hơn trong việc thu thập thông tin và trình độ, kỹ năng thương lượng nhưng do sự phụ thuộc vào người sử dụng lao động, nhất là ở những doanh nghiệp mà người sử dụng lao động không tạo điều kiện cho công đoàn hoạt động và thiếu quan tâm đến đời sống NLĐ thì họ khó có thể làm tốt vai trò đại diện và bảo vệ quyền lợi NLĐ

Trang 36

Cán bộ không chuyên trách thường ít có thời gian nên không chuyên tâm cho hoạt động công đoàn Trình độ của họ cũng vì thế mà hạn chế, chưa nắm vững đầy

đủ những quy định của pháp luật liên quan về TƯLĐTT, không đáp ứng được yêu cầu về kỹ năng thương lượng, đó cũng là nguyên nhân giảm sút tinh thần đấu tranh

vì lợi ích NLĐ Họ là người ký hợp đồng lao động với chủ doanh nghiệp, nên họ phải lo giữ việc làm và thu nhập hàng ngày cũng như những quyền lợi khác của bản thân họ có được từ chủ doanh nghiệp Họ là người phụ thuộc và thậm chí có người chịu ơn chủ doanh nghiệp Nếu họ đứng ra chăm lo, bảo vệ quyền lợi NLĐ, phải đấu tranh thì sẽ làm "mất lòng ông chủ" Khi đó không những chủ doanh nghiệp không ưu ái họ, quyền lợi của họ bị giảm mà còn bị chủ trù dập, thậm chí bị chuyển việc, mất việc làm, họ cũng không tự bảo vệ được chính mình nữa, tổ chức công đoàn cũng chưa có cơ chế, chính sách hữu hiệu để bảo vệ họ Như vậy, CBCĐ cơ sở

- người đại diện tập thể lao động để thương lượng, ký kết TƯLĐTT với người sử dụng lao động rất khó phát huy tinh thần đấu tranh vì lợi ích NLĐ Mặt khác, CBCĐ cơ sở thường xuyên biến động, dễ thay đổi, thậm chí không gắn bó lâu dài với doanh nghiệp như CBCĐ khu vực doanh nghiệp nhà nước và CBCĐ chuyên trách Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến hạn chế sự chủ động, tích cực và hiệu quả trong việc thương lượng, ký kết TƯLĐTT của CBCĐ cơ sở

Đối với Công đoàn cấp trên cơ sở

Công đoàn cấp trên cơ sở hiện nay ngày càng tích cực, chủ động hơn trong việc đôn đốc, chỉ đạo CĐCS thương lượng ký kết TƯLĐTT cấp doanh nghiệp Tuy nhiên, chưa có sự hỗ trợ, giúp đỡ hiệu quả CĐCS trong việc đưa ra yêu cầu và nội dung thương lượng, nhất là hỗ trợ trong quá trình thương lượng, đàm phán

Có thể nói, TƯLĐTT là công cụ pháp lý mà công đoàn sử dụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể lao động Thông qua những nội dung quy định trong TƯLĐTT, NSDLĐ và NLĐ trong các doanh nghiệp có cơ sở tôn trọng quyền lợi của nhau, có tác dụng khuyến khích và phát huy tính dân chủ trong các đơn vị sản xuất kinh doanh, tạo nền tảng pháp lý bảo vệ người lao động

Trang 37

1.3.2 Công đoàn đối thoại với đơn vị sử dụng lao động tại nơi làm việc

Đối thoại tại nơi làm việc (ĐTTNLV) là nội dung mới được quy định trong

Bộ luật lao động năm 2012 ĐTTNLV được thực hiện thông qua trao đổi trực tiếp giữa NLĐ và NSDLĐ hoặc giữa đại diện tập thể lao động với NSDLĐ nhằm chia sẻ thông tin, phát huy tinh thần lao động sáng tạo của NLĐ, tạo sự tin tưởng và hợp tác NLĐ với NSDLĐ

Mục tiêu của ĐTTNLV là nhằm trao đổi thông tin, thông báo kế hoạch, kết quả SXKD, nắm bắt nhu cầu, nguyện vọng của NLĐ, tuyên truyền luật pháp, chế độ chính sách mới; bởi vậy ĐTTNLV không chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu xem NLĐ hay đại diện NLĐ và NSDLĐ có giao tiếp với nhau hay không Lợi ích lâu dài của việc duy trì tốt ĐTTNLV ở chỗ nó tác động đến mọi mặt hoạt động của doanh nghiệp, từ chất lượng sản phẩm, năng suất lao động đến giảm tranh chấp, giảm tỷ lệ

bỏ việc trong doanh nghiệp bởi tại các buổi đối thoại này, công đoàn và người SDLĐ có cơ hội tìm hiểu, thảo luận và giải quyết các vấn đề phát sinh ngoài TƯLĐTT hay HĐLĐ

Đối thoại định kỳ tại nơi làm việc tạo ra sự hài hoà những mong muốn của NLĐ, NSDLĐ đồng thời tạo ra sự minh bạch, giảm sự hiểu lầm và xây dựng lòng tin giữa NLĐ và NSDLĐ Nếu doanh nghiệp tổ chức đối thoại tốt còn tạo động lực, khuyến khích NLĐ đem kiến thức của mình đóng góp cho nhà sản xuất, do đó làm tăng năng suất lao động và đem lại hiệu quả cao trong sản xuất, giúp NLĐ yên tâm làm việc và gắn bó với doanh nghiệp hơn bởi một khi NLĐ cảm thấy được tôn trọng

và họ biết rằng doanh nghiệp luôn quan tâm đến đời sống của họ thì họ sẽ có động lực lớn để làm việc và làm việc với năng suất cao hơn

Để thực hiện ĐTTNLV tốt cần có sự nỗ lực và bình đẳng của cả công đoàn , NSDLĐ và NLĐ

- Thiện chí nhìn nhận các vấn đề có thể tồn tại trong doanh nghiệp

- Mong muốn cải thiện tốt hơn

- Cam kết dành thời gian và công sức để giải quyết

Trang 38

- Kỳ vọng hợp lý (không đặt ra những mục tiêu quá cao)

Đối thoại tại nơi làm việc không thể giải quyết được tất cả các vấn đề bởi những vấn đề tồn tại lâu ngày thường không thể giải quyết được một cách dễ dàng

và nhanh chóng Tuy nhiên các cuộc đối thoại định kỳ là những diễn đàn để các bên

có cơ hội cùng giải quyết vấn đề

Tuỳ tính chất của cuộc đối thoại, số lượng thành viên đại diện cho mỗi bên

có thể khác nhau Được quy định tại Điều 11 Nghị định 60/2013/NĐ-CP, ngoài ra

có thể thêm các thành viên khác nếu cần Sau đó, trong từng giai đoạn, các bên có thể cử các thành viên khác của mình luân phiên tham gia vào các cuộc đối thoại định kỳ Như vậy, sẽ tạo điều kiện để nhiều thành viên có thể tham gia và có những đóng góp, sáng kiến mới để giải quyết các vấn đề Bên cạnh đó cũng tạo ra cơ hội cho những người có nhiều bức xúc có cơ hội tham gia vào các cuộc đối thoại bởi nhiều khi chính những người trực tiếp này có thể đóng góp những phương án giải quyết vấn đề một cách tốt nhất

Nội dung ĐTTNLV: Đánh giá tình hình SXKD của NSDLĐ; Việc thực hiện HĐLĐ, TƯLĐTT, nội quy, quy chế và cam kết, thoả thuận khác tại nơi làm việc; Điều kiện làm việc; Yêu cầu của NLĐ, tập thể lao động đối với NSDLĐ và các nội dung khác mà hai bên quan tâm

Trước khi tổ chức ĐTTNLV cần thu thập một số thông tin: Thu thập những thắc mắc, những vấn đề mà NLĐ quan tâm bằng cách thu thập thông qua phản ánh trực tiếp của NLĐ, các tổ công đoàn, công đoàn bộ phận, thông qua thư từ, kiến nghị, khiếu nại của NLĐ Tổng hợp phân loại các ý kiến: Mỗi vấn đề, mỗi nội dung thường sẽ được nhiều người quan tâm và đặt những câu hỏi, phân loại các ý kiến nhằm tránh cuộc đối thoại bị trùng lặp hoặc các ý thảo luận không tuân theo trình tự lôgic.Chuyển các ý kiến được tập hợp tới ban lãnh đạo doanh nghiệp hoặc các cá nhân có trách nhiệm trực tiếp hoặc liên quan để chuẩn bị các nội dung đối thoại

Trang 39

Người đối thoại trả lời những thắc mắc, câu hỏi của NLĐ hoặc tập thể lao động (những vấn đề đã được chuyển đến trước và những câu hỏi trực tiếp tại cuộc đối thoại) Người đối thoại cần làm rõ 3 vấn đề sau:

+ Những vấn đề (kiến nghị) mà cá nhân hay tập thể NLĐ nêu ra đúng hay sai, hợp lý hay chưa (không) hợp lý?

+ Nguyên nhân sự việc

+ Hướng giải quyết sự việc như thế nào, phương án nào là hợp lý nhất? Người tổ chức đối thoại lên cảm ơn người đối thoại và tổng kết những vấn đề

đã được giải quyết Những vấn đề chưa thoả đáng đề nghị người đối thoại tiếp tục nghiên cứu và trả lời sau

- Trong quá trình tiến hành đối thoại, vai trò người nói và người nghe trong mỗi người luôn có sự hoán đổi, một người tham dự có thể đặt câu hỏi nhưng cũng

có thể là người trả lời những câu hỏi nếu có điều kiện

Sau khi đối thoại, lập biên bản cuộc đối thoại, biên bản cuộc đối thoại ghi rõ những nội dung đã thống nhất và các biện pháp tổ chức thực hiện; những nội dung chưa thống nhất và thời gian tiến hành đối thoại những nội dung chưa thống nhất hoặc mỗi bên tiến hành thủ tục giải quyết tranh chấp LĐ theo quy định của pháp luật LĐ

Trả lời bằng văn bản cho NLĐ, bộ phận nêu kiến nghị về nội dung đã được NSDLĐ ghi nhận, hứa trả lời sau khi đã kiểm tra, xác minh Người SDLĐ có trách nhiệm niêm yết công khai biên bản cuộc đối thoại định kỳ tại nơi làm việc tại DN, phòng, ban, phân xưởng, tổ, đội sản xuất và đăng tải trên hệ thống truyền thanh, thông tin nội bộ hoặc trang thông tin điện tử của doanh nghiệp

Trình cơ quan cấp trên giải quyết các vấn đề vượt quá thẩm quyền đã được nêu ra và ghi nhận tại cuộc đối thoại; đề xuất, kiến nghị với các cơ quan cấp trên về sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế chính sách cho phù hợp với thực tiễn

Trang 40

Chuyển bộ phận có thẩm quyền giải quyết đối với các kiến nghị thuộc trách nhiệm của bộ phận đó theo chức năng, nhiệm vụ được phân công, đồng thời thông báo cho NLĐ, bộ phận nêu kiến nghị biết

Xây dựng chương trình, kế hoạch, biện pháp sửa đổi, hoàn thiện hoặc ban hành các quy trình, thủ tục quản lý

Để cụ thể hóa các quy định của pháp luật về ĐTTNLV, Ngày 19/6/2013 Chính phủ ban hành Nghị định 60/2013/NĐ-CP quy định chi tiết khoản 3 điều 63 của BLLĐ về thực hiện QCDC ở cơ sở tại nơi làm việc áp dụng chung đối với các loại hình doanh nghiệp

Ngày 07/11/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 149/2018/NĐ-CP quy định chi tiết khoản 3 Điều 63 của Bộ luật lao động về thực hiện QCDC ở cơ sở tại nơi làm việc Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019 và thay thế Nghị định số 60/2013/NĐ-CP ngày 19/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết khoản 3 Điều 63 của Bộ luật lao động về thực hiện QCDC ở cơ sở tại nơi làm việc

Về cơ bản, quy định tại Nghị định số 149/2018/NĐ-CP về các nội dung người sử dụng lao động phải công khai, nội dung NLĐ được tham gia ý kiến, quyết định, kiểm tra, giám sát không có nhiều thay đổi so với Nghị định số 60/2013/NĐ-

CP ngày 19/6/2013

Tuy nhiên, một trong những điểm mới nổi bật của Nghị định số

149/2018/NĐ-CP chính là sự cụ thể hóa các nguyên tắc thực hiện dân chủ cơ sở tại nơi làm việc, thể hiện sự bình đẳng giữa người sử dụng lao động và NLĐ trong thực hiện dân chủ, buộc các chủ thế phải tuân thủ 03 nguyên tắc cơ bản: Một là, thiện chí, hợp tác, trung thực, bình đẳng, công khai và minh bạch; Hai là, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động và NLĐ; Ba là, thực hiện dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc nhưng không được trái pháp luật và đạo đức xã hội

Mặt khác, Nghị định số 149/2018/NĐ-CP còn quy định rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động phải ban hành Quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc,

Ngày đăng: 05/05/2020, 23:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w