Mục đích nghiên cứu Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận và các vấn đề của thực tiễn kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá trong đào tạo từ xa, đề tài là
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP VIỆN
NGHIÊN CỨU ĐỔI MỚI QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN Ở KHOA ĐÀO TẠO
TỪ XA VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Mã số: V 2014 – 30
Chủ nhiệm đề tài: ThS.Trần Thị Mai Hanh
Hà Nội, tháng 11/2014
Trang 2DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1 ThS Trần Thị Mai Hanh (Chủ nhiệm đề tài)
7 ThS Lê Hữu Nam
8 Nguyễn Hương Nam
ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH
1 Khoa Đào tạo Từ xa
2 Phòng Đào tạo
3 Phòng Thanh tra, Pháp chế
4 Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng
5 Các Trung tâm liên kết
Trang 3KT ĐG: Kiểm tra, đánh giá
NCKH: Nghiên cứu khoa học
CNTT: Công nghệ thông tin
CSVC: Cơ sở vật chất
Trang 4Bảng 3: Thống kê số lượng tuyển sinh đại học hệ Từ xa
Bảng 4: Thống kê kết quả kiểm tra thông qua bài điều kiện
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 8
2 Mục đích nghiên cứu 9
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Ý nghĩa khoa học của đề tài 10
7 Phạm vi nghiên cứu 10
8 Sản phẩm của đề tài 10
9 Cấu trúc của đề tài 11
Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập đối với đào tạo cử nhân hệ từ xa 12
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 12
1.1.1 Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên ở một số nước trên thế giới 12
1.1.2 Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ đại học từ xa ở Việt Nam 16 1.2 Một số khái niệm cơ bản về quản lý và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 22
1.2.1 Khái niệm Quản lý 22
1.2.2 Khái niệm kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 23
1.2.3 Khái niệm quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 24
1.2.4 Các phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 27
1.2.5 Một số xu hướng phát triển về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong giáo dục đại học 28
1.3 Đặc điểm và vai trò của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong đào tạo từ xa 30
1.3.1 Khái niệm về đào tạo từ xa 30
1.3.2 Đặc điểm của giáo dục đào tạo từ xa 31
1.3.3 Đặc điểm của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ từ xa 34
1.3.4 Vai trò của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong giáo dục, đào tạo từ xa 36
1.4 Mục tiêu của quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong giáo dục, đào tạo từ xa 36
1.4.1 Đảm bảo đúng mục đích, mục tiêu môn học 36
Trang 61.4.2 Đảm bảo sử dụng hợp lý của các phương pháp đánh giá 36
1.4.3 Đảm bảo chất lượng công cụ kiểm tra, đánh giá 37
1.4.3.1 Độ giá trị 37
1.4.3.2 Độ tin cậy 38
1.5 Các cấp quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong giáo dục đại học từ xa 39
Chương 2 Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên ở Khoa Đào tạo Từ xa hiện nay 42
2.1 Quy mô đào tạo đại học từ xa ở Viện Đại học Mở Hà Nội 42
2.2 Tổ chức quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ từ xa tại Viện Đại học Mở Hà Nội 43
2.2.1 Quy định về tổ chức quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ từ xa 43
2.2.2 Một số thống kê kết quả đánh giá kết quả học tập của sinh viên ở Khoa Đào tạo từ xa 47
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên ở Khoa Đào tạo Từ xa 49
2.3.1 Về nhận thức 49
2.3.2 Về đội ngũ những người liên quan đến quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá 51
2.3.3 Về quy trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập 52
2.3.4 Phương pháp và hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 54
2.3.5 Đề thi 55
2.3.6 Coi thi 55
2.3.7 Chấm thi 56
2.3.8 Thông tin phản hồi 56
2.3.9 Đánh giá tổng thể quá trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên ở Khoa Đào tạo Từ xa 57
Chương 3 Các biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên ở Khoa Đào tạo Từ xa 58
3.1 Một số nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá đối với sinh viên hệ từ xa 58
3.1.1 Đảm bảo tính khoa học 58
3.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn 58
Trang 73.1.3 Đảm bảo tính hệ thống 58
3.1.4 Đảm bảo tính kế thừa và tính khả thi 59
3.2 Một số biện pháp nghiên cứu cải tiến quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong đào tạo từ xa 59
3.2.1 Biện pháp 1: Xây dựng cơ chế, quy định về tổ chức quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 59
3.2 2 Biện pháp 2: Nâng cao năng lực, nhận thức, tăng cường bồi dưỡng nâng cao kiến thức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ 60
3.2.3 Biện pháp 3: Quản lí điểm thi và công bố kết quả học tập của sinh viên 63
3.2.4 Biện pháp 4: Đổi mới, thay thế giáo trình, học liệu và cách ra đề thi 64
3.2.5 Biện pháp 5: Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và thông tin phản hồi 64
3.2.6 Biện pháp 6: Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 67
3.2.7 Biện pháp 7: Đầu tư kinh phí hợp lý để đổi mới tăng cường hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên 67
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 69
1 Kết luận 69
2 Khuyến nghị 70
2.1 Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo 70
2.2 Đối với Viện Đại học Mở Hà Nội 71
2.3 Đối với giảng viên, cán bộ quản lý 72
2.4 Đối với sinh viên 72
PHỤ LỤC 81
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI khẳng định "Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ" Đây là một trong những đột phá của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội để đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 và tạo tiền đề vững chắc cho phát triển cao hơn trong giai đoạn sau
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 "về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế chỉ rõ: “Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan” Trong đó tập trung đánh giá kết quả đào tạo đại học theo định hướng phát triển năng lực của người học Để vận dụng nghị quyết của Trung ương, chúng ta cần đánh giá đúng thực trạng việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong đào tạo từ xa hiện nay để định hướng một số giải pháp nhằm đổi mới phương thức kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo theo hướng chú trọng đánh giá năng lực của người học (năng lực phân tích, sáng tạo, tự cập nhật, đổi mới kiến thức; đạo đức nghề nghiệp; năng lực nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ; năng lực thực hành, năng lực tổ chức và thích nghi với môi trường làm việc)
Triển khai Nghị quyết 29 Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI và Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 vào thực tiễn trong quá trình quản lý và đào tạo đại học từ
Trang 9để đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo, đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực có trình độ đại học
Vì vậy, việc lựa chọn đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu đổi mới quản lý hoạt động
kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên ở Khoa Đào tạo Từ xa - Viện Đại học
Mở Hà Nội” là hết sức cần thiết
2 Mục đích nghiên cứu
Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận và các vấn đề của thực tiễn kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá trong đào tạo từ xa, đề tài làm rõ vai trò, vị trí của việc quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá trong đào tạo từ xa tại Viện Đại học Mở Hà Nội; đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá để nâng cao chất lượng đào tạo từ xa nhằm đảm bảo nguồn nhân lực có trình độ đại học, đáp ứng được yêu cầu của xã hội
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về quản lý giáo dục; về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và vận dụng khoa học quản lý vào lĩnh vực này
- Khảo sát tình hình quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên tại Khoa Đào tạo Từ xa - Viện Đại học Mở Hà Nội hiện nay
- Phân tích thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá; đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá để nâng cao chất lượng đào tạo từ xa đảm bảo nguồn nhân lực có trình độ đại học, đáp ứng được yêu cầu của xã hội
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh vên ở Khoa Đào tạo Từ
xa - Viện Đại học Mở Hà Nội
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên
ở Khoa Đào tạo Từ xa - Viện Đại học Mở Hà Nội hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu: Đọc các công trình khoa học để tiếp thu, xác định lịch sử nghiên cứu, nội hàm các khái niệm, công cụ nghiên cứu và các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề nghiên cứu
Trang 10- Phân tích, tổng hợp tài liệu
- Khảo sát bằng hệ thống câu hỏi, phỏng vấn, tọa đàm, điều tra (xã hội học)
- Quan sát thực tế, trắc nghiệm/thử nghiệm (testing)
- Xin ý kiến chuyên gia
- Thống kê toán học, biểu bảng, sơ đồ, xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS nhằm phân tích các số liệu thu thập được từ các phiếu hỏi
6 Ý nghĩa khoa học của đề tài
6.1 Về lý luận
Đề tài làm sáng tỏ cơ sở khoa học của việc quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên ở Khoa Đào tạo Từ xa của Viện Đại học Mở Hà Nội nói riêng và góp phần vào việc nâng cao chất lượng đào tạo nói chung
6.2 Về thực tiễn
Đánh giá thực trạng việc quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên ở Khoa Đào tạo Từ xa -Viện Đại học Mở Hà Nội Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu giúp Khoa Đào tạo Từ xa có phương pháp quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập để nâng cao chất lượng đáp ứng được nhu cầu của xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển nền kinh tế tri thức
7 Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn phạm vi khảo sát: Dự kiến tiến hành khảo sát ở một số Trung tâm đào tạo
từ xa với số lượng sinh viên lớn như: Hà Tây, Bắc Giang, Bắc Ninh, Nghệ An…
- Giới hạn đối tượng và thời gian khảo sát: Đối tượng được lựa chọn để khảo sát là giảng viên, cán bộ quản lý và sinh viên; do điều kiện và khả năng có hạn, đề tài chỉ nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên từ năm học 2008-2009 đến năm học 2013-2014
Trang 11- Báo cáo đầy đủ về thực trạng việc quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên ở Khoa Đào tạo Từ xa nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
- Xây dựng được các giải pháp quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá trong đào tạo từ xa tại Viện Đại học Mở Hà Nội
9 Cấu trúc của đề tài
Đề tài ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập đối với đào tạo cử nhân hệ từ xa
Chương 2. Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên ở Khoa Đào tạo Từ xa hiện nay
Chương 3 Các biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên ở Khoa Đào tạo Từ xa
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT
QUẢ HỌC TẬP ĐỐI VỚI ĐÀO TẠO CỬ NHÂN HỆ TỪ XA
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên ở một số nước trên thế giới
Giáo dục mở và từ xa ra đời khá muộn so với giáo dục truyền thống, nhưng giữ một vai trò quan trọng trong việc nâng cao dân trí và đào tạo nhân lực cho xã hội Giáo dục Mở và Từ xa qua các thế hệ phát triển: giáo dục bằng phương thức gửi thư, bằng truyền thông đa phương tiện, trực tuyến đang từng bước được khẳng định Ngày nay, nhiều cơ sở giáo dục truyền thống có uy tín (ví dụ Đại học Melbourne ở Australia), cũng bắt đầu sử dụng các phương thức đào tạo từ xa để cung cấp các hoạt động giáo dục chính quy qua mạng, qua đó đòi hỏi người học phải có khả năng làm việc độc lập, biết làm chủ thời gian Theo Salmi (2007) đến năm 2020 thì hầu hết các sinh viên trong các trường Đại học sẽ học qua mạng bằng các máy tính nối mạng, thời lượng đến trường rất ít, nhờ đó các trường Đại học có thể mở rộng quy mô mà không sợ bị quá tải Tuy nhiên vấn đề chất lượng giáo dục mở và từ xa vẫn còn là vấn đề tranh cãi, được xã hội quan tâm Điều đó đã thúc đẩy nhiều nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu các vấn đề bảo đảm và quản lý chất lượng giáo dục mở và từ xa từ nhiều thập kỷ qua Để chất lượng giáo dục đại học nói chung và giáo dục đại học từ xa nói riêng được nâng cao thì cần phải chú trọng việc đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên Đây chính là tiền đề để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng được sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên ở các trường đại học là vấn đề được các quốc gia cũng như các trường đại học trên thế giới rất quan tâm Những nỗ lực của họ chủ yếu tập trung vào 3 nội dung như: Xác lập các tiêu trí đánh giá quá trình kiểm tra, đánh giá và quản lý quá trình này; nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý và triển khai một mô hình phù hợp với mục tiêu đề ra Ở hầu hết các nước đều có cơ quan kiểm định chất lượng giáo dục đại học, nhất là ở các nước có nền giáo dục đại học phát triển như Anh, Mỹ, Úc, Ở các nước này, cơ quan kiểm định chất
Trang 13lượng giáo dục được thành lập từ rất sớm với những tiêu trí kiểm định rõ ràng, cụ thể cho từng lĩnh vực khác nhau của giáo dục đại học
Trong thời gian qua có rất nhiều công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của sinh viên trong giáo dục đại học cụ thể:
Ở Anh, Cơ quan đảm bảo chất lượng (QAA) xuất bản 10 Bộ Tiêu chuẩn thực hiện trong đó nội dung liên quan đến đào tạo từ xa (2004)
Ở Australia, xây dựng Bộ chỉ số đánh giá quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của trường đại học gồm 16 chỉ số
Ở Hoa Kỳ, tám cơ quan kiểm định chất lượng khu vực của Hoa Kỳ đã cùng áp dụng “Thông lệ tốt nhất cho các khóa học trên mạng và chương trình cấp chứng chỉ“ (2001)
Hội đồng giáo dục từ xa của Ấn Độ (Distance Education Council) được thành lập năm 1991 đã xuất bản cuốn “Sổ tay đánh giá và kiểm định các cơ sở giáo dục mở
và từ xa“, trong đó có đưa ra quy trình kiểm tra, đánh giá trong đào tạo từ xa
Hiệp hội các trường đại học Mở Châu Á (AAOU) xây dựng bộ tiêu chí gồm 107 tiêu chí để kiểm định, đánh giá chương trình giáo dục mở và từ xa thuộc 9 tiêu chuẩn trong đó có 15 tiêu chí đánh giá kết quả học tập của sinh viên từ xa
* Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên từ xa ở Đại học Mở Inđônêxia
KTĐG có thể đo được kiến thức, năng lực học tập, và khả năng ứng dụng thực tiễn của sinh viên (Gomez et al ,1998) Nó có thể được sử dụng để đo mức độ hoàn thành các mục tiêu trong quá trình học tập (đánh giá quá trình) hoặc sau đó (đánh giá kết thúc) Các phương pháp đánh giá phải được thiết kế sao cho các thế mạnh và điểm yếu của sinh viên được bộc lộ rõ ràng Kết quả của việc đánh giá cũng có thể giúp người thầy xác định được mức độ hiệu quả giảng dạy của họ Hầu hết các dạng bài tập
sử dụng trong giáo dục mặt – giáp mặt có thể sử dụng được trong GDTX Tuy nhiên việc lựa chọn phương pháp ra bài tập cần được tính toán kỹ vì khả năng tiếp cận của phương tiện và mức độ sẵn có về nguồn học liệu, và thời gian của sinh viên Trong GDTX đánh giá quá trình được tiến hành dưới hình thức các bài kiểm tra giữa kỳ, tự đánh giá và các câu hỏi trắc nghiệm trên trang web Giảng viên có thể sử dụng phương pháp hỏi - đáp trực tuyến để trao đổi với sinh viên về sự tiến bộ của họ trong quá trình học tập hoặc về những phần trong học liệu mà sinh viên cho là dễ dàng hoặc khó khăn
Trang 14Kiểm tra đánh giá cuối kì có thể được tiến hành dưới hình thức tiểu luận, thi hết môn hoặc công việc thực hành
Điều quan trọng là cần phải phổ biến trước cho sinh viên về quy trình kiểm tra – đánh giá, để đảm bảo rằng họ hiểu được các yêu cầu cho việc hoàn thành môn học Thông tin phải được cung cấp để giúp sinh viên lập kế hoạch cho các việc liên quan đến:
- Thể loại bài được giao
- Mục đích của kiểm tra
- Tính chất và phạm vi các chủ đề;
- Độ dài (Số lượng từ hoặc trang);
- Phong cách và tham khảo
- Tiêu chí trình bày, các tiêu chuẩn
- Thời hạn nộp bài
- Hình phạt nếu nộp muộn;
- Cách thức nhận được sự hướng dẫn và các thông tin phản hồi
Số lượng các bài tập trong mỗi môn học phụ thuộc vào các chủ đề và lịch học tập Đánh giá sinh viên tại đại học Mở Inđônexia (UT) bao gồm đánh giá trong quá trình và đánh giá khi kết thúc môn học Đánh giá trong quá trình được tiến hành qua các bài kiểm tra dưới các dạng văn bản về tất cả các phần trong học liệu Ngoài ra sinh viên được cung cấp các bài kiểm tra trực tuyến và được hồi âm về kết quả bài làm Họ phải hoàn thành tất cả các bài kiểm tra trực tuyến trước khi được dự kỳ thi hết môn; do đó, sinh viên có thể tự mình quyết định cách thức học tập qua học liệu môn học Thi kết thúc thực hiện ở hai cấp độ:
- Cấp độ chương trình, sinh viên phải trải qua một kì thi toàn diện để được cấp bằng tốt nghiệp;
- Cấp độ môn học, trong đó, điểm thi hết môn được tính theo kết quả điểm các bài tập của thầy hướng dẫn giao cho, các báo cáo, điểm thực hành, và điểm thi hết môn Hiệu trưởng quy định tỷ lệ các điểm thành phần như sau:
- Bài tập do thầy hướng dẫn giao/thực hành (nếu có): 25%
- Bài tập kiểm tra trực tuyến (nếu áp dụng): 25%, và
- Thi hết môn: 50%
Trang 15Vì phụ đạo trực tiếp là không bắt buộc, điểm môn học của sinh viên có thể chỉ là kết quả của điểm thi hết môn Kỳ thi hết môn nhằm đo lường mức độ sinh viên đạt được về nội dung đã được nêu trong mục tiêu của các môn học Kỳ thi hết môn được tiến hành giám sát hai kỳ trong một năm, diễn ra đồng thời trên khắp Inđônêxia vào cuối mỗi học kỳ Chúng bao gồm các bài thi viết dưới dạng tự luận hoặc bài thi trắc nghiệm (lựa chọn đa phương án), và một số môn học về ngôn ngữ có bài kiểm tra vấn đáp Ngoài ra có các bài thi trên máy tính dành cho các sinh viên, với nhiều lý do khác nhau, không thể dự thi theo lịch
Các câu hỏi thi – kiểm tra được chọn từ ngân hàng câu hỏi theo các tiêu chí cụ thể Ngân hàng câu hỏi do các Khoa chuyên ngành xây dựng và phát triển, hoặc xây dựng bằng cách thuê chuyên gia từ các trường đại học khác, và được lưu giữ trong ngân hàng câu hỏi của UT, phân loại theo mục tiêu hướng dẫn đề ra Đề thi do trung tâm Khảo thí tại trụ sở chính xây dựng, lựa chọn từ các mục cho mục tiêu môn học Sau đó chúng được nhân viên an ninh của UT đưa đến các địa phương một cách an toàn hoặc gửi qua bưu điện bằng thư bảo đảm, phong bì được niêm phong và chỉ được
mở tại phòng thi trước sự chứng kiến của sinh viên Bài thi được trung tâm địa phương đóng gói và gửi về trung tâm khảo thí xử lý cho quy trình chấm điểm
Hệ thống ngân hàng đề thi cũng cho phép UT tiến hành thi trực tuyến an toàn Các đề thi được chuẩn bị tại trụ sở chính của UT, và các quản trị viên được chỉ định của Trung tâm địa phương tải xuống qua mạng Internet một ngày trước ngày thi Sinh viên được tiến hành thi thực tuyến thông qua trang web của UT, và khi được chấp thuận sẽ nhận được mật khẩu qua e-mail để họ có thể truy cập vào bài thi Điểm tri trực tuyến được trung tâm khảo thí xử lý Khi một học viên dự các kỳ thi trực tuyến khác nhau, hai điểm cao nhất được ghi lại Điểm tổng kết được đưa lên trang web để sinh viên tra cứu, đồng thời được gửi đến các trung tâm địa phương qua thư điện tử, sau đó in ra thông báo cho sinh viên
* Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên từ xa ở
Đại học phát thanh Truyền hình Trung Quốc (CRTVU)
Để giảng viên và sinh viên có thể đánh giá sự tiến bộ học tập, các phương pháp đánh giá quá trình và đánh giá tổng kết được sử dụng Đánh giá trong quá trình là một phương tiện quan trọng để tăng cường sự hướng dẫn và quản lý quá trình học tập Thông qua hệ thống đánh giá những kết quả của sinh viên bằng cách phản hồi cho
Trang 16việc hiểu và học tập độc lập được tăng lên Đánh giá trong quá trình và đánh giá tổng kết cũng là cách làm hiệu quả để kiểm tra chất lượng nội dung và giảng dạy các môn học để cải tiến trong tương lai Để ghi nhận kết quả học tập của sinh viên, nhiều bước chứng thực khác nhau được phát triển, VD: văn bằng tốt nghiệp, giấy chứng nhận văn bằng, chứng chỉ và giấy chứng nhận hoàn thành các môn học riêng lẻ
* Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên từ xa ở Đại học Mở Sukhothai Thammathirat (STOU), Thái Lan
- Trung tâm thi: Để tạo điều kiện thuận lợi và giảm chi phí cho sinh viên, STOU
có ít nhất một trung tâm thi tại mỗi tỉnh trên khắp đất nước Trung tâm thi thường ở các trường Đại học khu vực và trường phổ thông của tỉnh, nơi phục vụ như trung tâm học tập của STOU ở địa phương Sinh viên có thể dự thi tại các trung tâm địa phương nơi họ sinh sống hoặc đang tạm trú Tù nhân ở các trại, những người có hành vi tốt được cục cải huấn cấp phép đăng ký là sinh viên, có thể dự thi tại các điểm thi tổ chức ngay trong trại Nhà trường cũng tạo điều kiện cho sinh viên của STOU cư trú ở nước ngoài dự thi tại đại sứ quán Hoàng gia Thái Lan hoặc Lãnh sự quán của họ
- Lịch thi: Nhà trường không muốn những học viên phải bỏ công việc của họ hoặc rời khỏi nhiệm vụ chính của mình để dự thi; do đó các kỳ thi được tổ chức vào các ngày cuối tuần để họ có thể hoàn thành trong hai ngày
- Giám sát thi: Trong việc tổ chức giám sát thi, STOU tận dụng tối đa các nguồn lực sẵn có tại địa phương Cán bộ tại các trung tâm học tập địa phương, những người không phải là sinh viên của STOU có thể tham gia giám sát tại các trung tâm thi – kiểm tra cùng với các quan chức và giảng viên của STOU
- Hệ thống KTĐG: Nhà trường tổ chức đào tạo theo hệ thống hai học kỳ Kỳ thi được tổ chức hai lần mỗi học kỳ: kỳ thi cuối kỳ và kỳ thi lại cho sinh viên nào bị trượt hoặc bị nhỡ kỳ thi cuối STOU cũng tổ chức một học kỳ đặc biệt để sinh viên có thể tùy chọn đăng ký cho một môn học
- Thông báo kết quả thi: Trong vòng 30-45 ngày kể từ ngày thi, Phòng đào tạo
và Kiểm tra đánh giá thông báo kết quả thi của sinh viên qua thư
1.1.2 Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ đại học từ xa ở Việt Nam
Với sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và của Bộ GDĐT, nhiều trường
ĐH trong nước đã có những việc làm tích cực để nâng cao chất lượng hoạt động
Trang 17KTĐG Nhiều hội thảo đã được tổ chức trên quy mô toàn quốc về vấn đề này như Hội thảo Nâng cao chất lượng ĐT lần thứ I và III được tổ chức tại ĐH Quốc gia Hà Nội năm 2000, 2002; Hội thảo ĐT nguồn nhân lực đo lường - KTĐG do Trung tâm Đảm bảo chất lượng ĐT và Phát triển GD, ĐH Quốc gia Hà Nội tổ chức năm 2003; Hội thảo Nâng cao chất lượng ĐT lần thứ IV tại ĐH Sư phạm Hà Nội năm 2003; Hội thảo Đổi mới phương pháp dạy học và Phương pháp đánh giá đối với GD phổ thông, CĐ và
ĐH sư phạm do Trường ĐH Sư phạm Hà Nội tổ chức năm 2006; Hội thảo Kiểm định, đánh giá và quản lý chất lượng ĐT ĐH được tổ chức ở Trường ĐH Khoa học XH và Nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội năm 2008… Các đại biểu đã nhận thức rõ yếu kém, bất cập của hoạt động KTĐG trong GDĐH và có những đề xuất cải tiến Tuy nhiên, mỗi báo cáo tham luận đề cập đến một hoặc một số khía cạnh của vấn đề: cải tiến cách
ra đề thi, đổi mới phương pháp, hình thức KTĐG, xây dựng đội ngũ cán bộ, … và cũng có những đại biểu đề cập đến những kinh nghiệm cải tiến công tác KTĐG ở một trường ĐH cụ thể Bên cạnh đó, liên quan đến hoạt động KTĐG trong GDĐH cũng có một số đề tài triển khai nghiên cứu như: Đề tài cấp ĐH Quốc gia Hà Nội “Xây dựng quy trình, nội dung và hình thức KTĐG kiến thức, kỹ năng của SV ĐH Sư phạm” do
GS Phạm Hữu Tòng chủ trì (năm 1998), Đề tài “Tiếp tục đổi mới KTĐG trong dạy - học” do nhóm các GV của Khoa Sư phạm, ĐH Quốc gia Hà Nội thực hiện năm 2008 Mặc dù có nhiều đề tài nghiên cứu về kiểm tra đánh giá nhưng chủ yếu là nghiên cứu dành cho sinh viên hệ chính quy, còn đối với sinh viên hệ từ xa hầu như chưa có công
trình nghiên cứu nào đề cập đến
Dưới đây, Đề tài giới thiệu kinh nghiệm quản lý của một số trường ĐH trong nước có đào tạo đại học từ xa nhằm cải tiến hoạt động KTĐG
* Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên ở trường Đại học Sư Phạm Hà Nội
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, với đặc điểm riêng biệt của đối tượng đào tạo hệ
từ xa là những người đang làm thầy nên các kiến thức sinh viên thu nhận được trong quá trình học sẽ phục vụ trực tiếp cho sự nghiệp trồng người Vì thế, chất lượng đào tạo càng phải được thể hiện chính xác qua quá trình kiểm tra, đánh giá Trong những năm vừa qua, đặc biệt là việc hưởng ứng chủ trương: “Nói không với tiêu cực trong thi
cử và bệnh thành tích trong giáo dục”, trường ĐHSP Hà Nội đã phối hợp triệt để hơn với các địa phương để làm tốt công tác kiểm tra, đánh giá
Trang 18Bên cạnh đó với tư cách là đơn vị chịu trách nhiệm chính trong đào tạo, cấp bằng, trường ĐHSP Hà Nội đã có những thay đổi trong phương thức kiểm tra đánh giá Để việc đánh giá ngày càng thực chất và khách quan, đồng thời giúp sinh viên nâng cao năng lực ứng dụng, thực hành, Trường đã tiến hành đổi mới khâu ra đề thi và
tổ chức thi theo bộ đề thi mở Sau khi tiến hành thử nghiệm, Trường đã tập hợp ý kiến phản hồi từ các địa phương để điều chỉnh dần cho phù hợp Đến nay, Trường đã xây dựng được gần 300 bộ đề thi mở cho các ngành đào tạo, đặc biệt là các khoa có số lượng sinh viên đông Điều đó càng thể hiện việc học từ xa là quá trình tác động hai chiều, bổ sung và hoàn thiện giữa giảng dạy, quản lý giảng dạy và học tập
Trong thời gian qua, trường ĐHSP Hà Nội đã có ít nhất 3 lần đổi mới hệ thống
đề thi kiểm tra, đánh giá
Giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2000
Mỗi đề thi bao gồm cả lý thuyết và bài tập, bao quát toàn bộ chương trình của học phần, thời lượng mỗi đề thi là 30 phút Hai sinh viên ngồi cạnh nhau có đề thi khác nhau Ưu điểm của kiểu đề thi này là kiểm tra, đánh giá được đầy đủ nội dung của một học phần Nhưng thời gian 30 phút của một đề thi đã bộc lộ các nhược điểm:
- Nội dung kiểm tra đánh giá trong một đề thi không hàm chứa trọn vẹn được vấn đề cơ bản nào đó của học phần
- Sinh viên không đủ thời gian để thể hiện sự hiểu biết về kiến thức, kỹ năng, trình độ tư duy, năng lực giải quyết một vấn đề Đặc biệt là với các học phần thuộc lĩnh vực xã hội và nhân văn
Giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2004
Hệ thống đề thi được xây dựng đáp ứng các yêu cầu sau:
- Ngân hàng đề thi bao quát được toàn bộ nội dung cơ bản của học phần, chủ yếu đánh giá kiến thức, kỹ năng và năng lực ứng dụng thực hành của học viên
- Thời lượng của một đề thi là 60 phút (lý thuyết và bài tập)
- Hai sinh viên ngồi cạnh nhau có đề thi khác nhau
- Sinhc viên không được sử dụng tài liệu khi làm bài
Bộ đề thi với thời gian làm bài 60 phút đã bước đầu khắc phục một số hạn chế:
- Sinh viên có thời gian suy nghĩ và lựa chọn các phương án trình bày
- Sinh viên có thể lựa chọn nội dung phù hợp của đề thi để làm trước
Trang 19Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu đổi mới giáo dục, đặc biệt là với giáo dục không chính quy khi mà xã hội còn nhiều băn khoăn, công tác kiểm tra đánh giá cần được xem là khâu then chốt Nhận thức được tầm quan trọng đó, lãnh đạo trường ĐHSP Hà Nội đã đầu tư nhiều nguồn lực cho công tác kiểm định chất lượng đào tạo Từ việc hình thành các ý tưởng đến tổ chức đào tạo cán bộ, xây dựng bộ máy, nâng cấp trang thiết bị kiểm tra, thực hiện thí điểm tất cả đều khẩn trương nhưng thận trọng Hoạt động kiểm định chất lượng đào tạo được tiến hành toàn diện ở cả hệ chính quy và không chính quy, cho mọi bậc đào tạo từ cử nhân, thạc sỹ, tiến sỹ Đối với hệ ĐTTX, điều này lại càng quan trọng vì hệ này không thi đầu vào mà chỉ xét tuyển Do đó, lãnh đạo Nhà trường quyết định tiếp tục giữ vững chất lượng đào tạo của một trường ĐHSP trọng điểm - không hạ thấp yêu cầu đối với hệ từ xa Để làm được việc đó phải tạo ra các điều kiện thuận lợi cho mỗi học viên, giúp họ luôn cảm nhận được sự quan tâm, sự tôn trọng trong quá trình học tập
Giai đoạn từ tháng 10 năm 2004 đến nay
Với những ý tưởng đó, Nhà trường đã nghiên cứu thiết kế các bộ đề thi mới đáp ứng các tiêu chí sau:
- Nội dung đề thi phải thể hiện được toàn bộ yêu cầu cơ bản của chương trình từ kiến thức, kỹ năng, khả năng tư duy đến năng lực giải quyết các vấn đề đặt ra trong thực tiễn giảng dạy và thái độ ứng xử
- Nội dung đề thi phải phù hợp với đối tượng sinh viên là người vừa công tác vừa đi học Đó là những người có kỹ năng và kinh nghiệm thực tiễn
- Nội dung và cấu trúc đề thi phải có nhiều mức độ từ nắm kiến thức, hiểu kiến thức đến năng lực vận dụng kiến thức
- Đề thi phải thể hiện được sự công khai và khách quan hơn trong quá trình kiểm tra và đánh giá kết quả đào tạo
Từ những tiêu chí trên, Trường đã thiết kế các bộ đề thi theo cấu trúc:
Mỗi đề thi có thời lượng 60 phút hoặc 90 phút tuỳ theo nội dung và tính chất của mỗi học phần
Mỗi đề thi có 4 câu:
- Câu 1: Kiểm tra đánh giá việc đọc tài liệu của sinh viên Câu này chỉ yêu cầu tái hiện chính xác nội dung tài liệu đã học
Trang 20- Câu 2: Kiểm tra đánh giá việc nghiên cứu tài liệu trên cơ sở sinh viên phải biết tổng hợp, khái quát nội dung tài liệu đã học (có cách nhìn của riêng mình về một nội dung nào đó của tài liệu)
- Câu 3: Kiểm tra đánh giá sự vận dụng các kiến thức, kỹ năng đã học của sinh viên (chỉ đòi hỏi khả năng vận dụng một cách trực tiếp các kiến thức đã học như tái tạo kiến thức, giải bài tập )
- Câu 4: Kiểm tra đánh giá sự vận dụng một cách sáng tạo các kiến thức, kỹ năng đã học của sinh viên vào thực tiễn giảng dạy (đòi hỏi sự vận dụng có biến đổi trong các tình huống khác nhau)
Phân bố điểm cho 2 câu đầu là 5/10 [2 - 3 hoặc 3 - 2]
Phân bố điểm cho 2 câu sau là 5/10 [2 - 3 hoặc 3 - 2]
Sử dụng đề thi: Sinh viên được sử dụng tài liệu khi làm bài
Gần 300 bộ đề thi trong ngân hàng đề thi đã được cấu trúc theo hướng này Qua thực tiễn kiểm tra đánh giá, bộ đề thi này có những ưu, nhược điểm sau:
+ Ưu điểm:
- Đây là dạng đề thi mở nên tạo ra tâm lý dễ chịu, tự tin cho sinh viên
- Đề thi vừa có phần ghi nhớ kiến thức, khái niệm, vừa có phần vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn Từ đó tạo ra một chuỗi các yêu cầu có mức độ phát triển hợp lý Đặc điểm này sẽ đặt học viên trước một tình huống có vấn đề nhưng lại gần gũi với quá trình học tập và công tác Do đó, việc làm bài thi là việc sinh viên giải quyết được một vấn đề mang tính độc lập, chủ động và sáng tạo
- Thực tế các đợt thi cho thấy mỗi sinh viên đều rất tích cực, tự giác và khẩn trương lựa chọn tài liệu, xử lý thông tin và vận dụng kiến thức theo cách của mình Trong một khoảng thời gian có hạn, mỗi sinh viên phải tập trung cao độ để hoàn thành bài thi Điều đó cũng góp phần hạn chế các tiêu cực khi làm bài
- Nội dung đề thi có nhiều mức độ nên mỗi sinh viên có thể lựa chọn câu làm trước, câu làm sau một cách thích hợp
- Số điểm của mỗi câu được công khai nên sinh viên có thể chủ động và phấn đấu cao để đạt kết quả mong muốn
- Việc coi thi và chấm thi cũng thuận tiện và chính xác hơn Giám thị không phải bắt tài liệu, chỉ giám sát các sinh viên không được hỏi bài hoặc xem bài làm của nhau
Trang 21+ Nhược điểm: Tuy nhiên cái mới nào cũng sẽ còn những hạn chế nhất định và việc thích ứng cho mỗi cá nhân còn đòi hỏi thời gian Điều này thể hiện ở chỗ:
- Làm thay đổi một thói quen đã có từ nhiều năm của sinh viên, chuyển từ việc
xử lý các tài liệu trước khi vào phòng thi sang việc giải quyết hàng loạt vấn đề ngay trong phòng thi một cách độc lập, chủ động Như vậy, đây là sự thay đổi về tâm lý và nhận thức
- Xem xét lại nội dung đề thi để cân đối với thời gian làm bài
- Tùy theo đặc điểm của mỗi ngành học để cấu trúc nội dung, kiến thức và thời gian làm bài phù hợp
Những nhược điểm trên đã và đang được khắc phục để hoàn thiện việc tổ chức kiểm định chất lượng đào tạo từ xa
* Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên ở trường Đại học Huế
Trung tâm đánh giá kết quả học tập của sinh viên gồm các hình thức sau:
- Điểm quá trình bao gồm tính chuyên cần trong các đợt học tập trung, bài thu hoạch ở nhà, kiểm tra tại lớp Điểm quá trình làm điều kiện để sinh viên được dự thi kết thúc học phần, sinh viên nào có điểm quá trình của học phần đạt điểm 5 trở lên mới
đủ điều kiện dự thi kết thúc học phần học phần đó
- Điểm cuối cùng để đánh giá kết quả học tập một phần là kết quả điểm thi kết thúc học phần Đối với các học phần có thực hành tính kết quả thi kết thúc học phần và điểm thực hành Điểm thi kết thúc học phần tính theo thang điểm 10, chỉ lấy số nguyên
- Hình thức đánh giá từng môn học (từ khâu ra đề, kế hoạch tổ chức thi: thành lập Hội đồng thi kết thúc học phần hoặc tốt nghiệp, thành lập ban đề thi, ban thanh tra thi, ban coi thi, ban chấm thi (1 phòng thi có 25 – 30 sinh viên, có 2 cán bộ coi thi, cán
bộ thanh tra, giám sát cụm thi bằng quyết định cấp Giám đốc Trung tâm với thi kết thúc học phần, cấp Giám đốc Đại học Huế đối với thi tốt nghiệp) Cán bộ tham gia phải đảm bảo các tiêu chuẩn theo quy định của Đại học Huế
- Việc lựa chọn đề thi bằng hình thức bốc thăm (thi tốt nghiệp), xáo trộn và sắp xếp đề thi theo chương trình của máy tính (đối với thi kết thúc học phần) Việc tổ chức chấm thi: bài thi được cắt phách, cán bộ chấm độc lập giữa người ra đề thi và người dạy Kết quả chấm được báo điểm qua mạng thông tin (Website) và bằng văn bản cho người
Trang 22học và cho cơ sở tiếp nhận chương trình đào tạo từ xa Biên bản chấm và bài thi được lưu giữ theo quy định của Đại học Huế
- Công tác ra đề thi: đối với đề thi tốt nghiệp, Đại học Huế thành lập Hội đồng ra
đề thi Đề thi tốt nghiệp được làm theo phần, có nội dung nằm trong chương trình học tập theo từng môn Đối với đề thi kết thúc học phần do Trung tâm thành lập Hội đồng ra
đề thi, đề thi kết thúc học phần là tập hợp các câu hỏi, bài tập nằm trong phạm vi từng học phần Đề thi tốt nghiệp và kết thúc học phần được thẩm định, kiểm định về độ tin cậy, mức độ khó dễ, Giám đốc Trung tâm duyệt và đưa vào ngân hàng đề thi kèm theo đầy đủ đáp án, thang điểm và được lưu giữ đảm bảo an toàn, bí mật tuyệt đối
- Công tác chấm thi: đối với kỳ thi tốt nghiệp do Đại học Huế thành lập Hội đồng chấm thi, Hội đồng chấm phúc khảo, Đoàn thanh tra thi và chấm thi, ký duyệt kết quả chấm thi Đối với kỳ thi kết thúc học phần do Giám đốc Trung tâm thành lập Hội đồng coi thi, Ban đề thi, Ban chấm thi, Đoàn thanh tra thi, bài thi đều được 2 giảng viên chấm độc lập, ký thống nhất điểm trên bài thi và biên bản chấm thi và được trưởng ban chấm thi ký Hồ sơ chấm thi được lưu trữ đúng theo quy định
1.2 Một số khái niệm cơ bản về quản lý và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
1.2.1 Khái niệm Quản lý
Quản lý là một khái niệm rộng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, vì vậy khái niệm QL khi được đưa ra luôn được gắn với các loại hình QL cụ thể
+ Taylor F.W (người Mỹ) cho rằng “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt và rẻ nhất” “Làm QL là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm việc gì và hãy chú
ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm”
+ Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu QL là một hệ thống là một quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người QL mong muốn”
Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về QL Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về QL, nhưng tự chung lại, có thể nói QL là một quá trình tác động có tổ chức, có mục đích, có định hướng của chủ thể QL lên đối tượng QL nhằm sử
Trang 23dụng hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường, của hoàn cảnh Quản lý là sự điều khiển có tổ chức và thỏa mãn yêu cầu, mục tiêu đã đề ra, chứ không mang tính áp đặt, cai trị Tùy theo những trường hợp cụ thể mà có những chính sách, biện pháp QL cứng rắn hay mềm mỏng phù hợp nhất để luôn đạt được kết quả như mong muốn đồng thời phải làm cho tổ chức ngày càng phát triển
1.2.2 Khái niệm kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
Đánh giá là hoạt động rất quan trọng không thể tách rời quá trình GD và ĐT Có rất nhiều khái niệm khác nhau về đánh giá trong lĩnh vực GD, mỗi khái niệm nhấn mạnh đến một khía cạnh cần đánh giá (đối tượng của đánh giá) Tất cả những người tham gia vào quá trình GD, tất cả các bộ phận cấu thành của quá trình GD đều là đối tượng để đánh giá Mỗi đối tượng được xem xét theo những tiêu chuẩn, tiêu chí riêng phù hợp Trong GD, người ta thường tiến hành nhiều đánh giá khác nhau như đánh giá hệ thống
GD, đánh giá nhà trường, đánh giá hoạt động dạy học của người dạy, đánh giá hoạt động học tập của người học, đánh giá chương trình GD, đánh giá chất lượng GD, đánh giá mục tiêu GD, Một cách khái quát, đánh giá là quá trình tiến hành có hệ thống để xác định mức độ mà đối tượng đạt được các mục tiêu giáo dục nhất định
Trong các đánh giá GD, đánh giá kết quả học tập của người học là quan trọng nhất bởi vì chất lượng hoạt động học tập của người học thể hiện chất lượng của hoạt động dạy học, một chức năng cơ bản của nhà trường Khi nói đến đánh giá kết quả học tập của người học, người ta thường nghĩ ngay đến kiểm tra vì kiểm tra được coi như là một phương tiện để đánh giá Trong từ điển GD học, kiểm tra và đánh giá được giải thích như sau:
Kiểm tra là bộ phận hợp thành của quá trình dạy - học nhằm nắm được thông tin về tình trạng và kết quả học tập của học sinh, về những nguyên nhân cơ bản của thực trạng đó để tìm những biện pháp khắc phục những lỗ hổng, đồng thời củng cố và tiếp tục nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy - học
Đánh giá kết quả học tập xác định mức độ nắm được kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh so với yêu cầu của chương trình đề ra
Kiểm tra thu thập thông tin về việc học của người học, còn đánh giá xác định mức độ của các thông tin thu được ấy so với mục tiêu của chương trình Qua đây, ta thấy rõ mối liên quan chặt chẽ giữa kiểm tra và đánh giá: Trước khi đánh giá thì phải
Trang 24kiểm tra và một khi kiểm tra được thực hiện thì đánh giá cũng phải được tiến hành Kiểm tra có thể coi là công cụ đo để cung cấp thông tin cho đánh giá; còn đánh giá có thể coi là phép đo dựa trên những thông tin thu được từ kiểm tra nhằm xác định mức
độ nắm vững từng nội dung học tập của người học, cho điểm và xếp hạng người học sau khi hoàn thành một môn học, một khoá học, nhằm đưa ra những phản hồi, kết luận
về thành tích, khả năng của người học Vì vậy, đề tài dùng cụm từ “Kiểm tra, đánh giá” để đặt tên cho hoạt động bao gồm trong đó cả kiểm tra và đánh giá Do mối liên
hệ không thể tách rời giữa kiểm tra và đánh giá nên trong nhiều trường hợp khó có thể phân biệt rõ ràng được đâu là kiểm tra, đâu là đánh giá mà chúng ta cần hiểu khái niệm kiểm tra và khái niệm đánh giá theo nghĩa rộng hơn: nói đến kiểm tra tức là trong đó
có đánh giá hay nói đến đánh giá là phải có kiểm tra Với ý nghĩa đó, trong đề tài này,
để chỉ hoạt động KTĐG tác giả có thể dùng cụm từ “kiểm tra, đánh giá” nói chung hoặc dùng từ “kiểm tra” hay “đánh giá” nói riêng tuỳ từng ngữ cảnh cụ thể nhưng đều
có ý nghĩa như nhau
Từ “KTĐG” với ý nghĩa như đã đề cập ở trên tương đương với từ “Assessment” trong tiếng Anh và có nhiều khái niệm khác nhau cho hoạt động này Theo Woodhouse, kiểm tra, đánh giá là sự lượng giá (evaluation) mà kết quả là điểm, có thể cho điểm bằng
số (phần trăm hoặc một thang điểm ngắn hơn từ 1 đến 4), bằng chữ (từ A đến F) hay là sự miêu tả (xuất sắc, giỏi, đạt, không đạt) Điểm cũng có thể chỉ là “Qua” (“Pass”) hay
“Trượt” (“Fail”) Câu hỏi kiểm tra, đánh giá “Kết quả của bạn như thế nào?” Kết quả của kiểm tra, đánh giá là điểm
Theo Walvoord và Anderson, kiểm tra, đánh giá là việc tập hợp, phân tích thông tin một cách hệ thống để hoàn thiện việc học tập của sinh
Theo T Dary Erwin (1991), kiểm tra, đánh giá là cơ sở để xem xét việc học tập và tiến bộ của sinh viên Cụ thể hơn, đánh giá là quá trình xác định, lựa chọn, thiết kế, thu thập, phân tích, giải thích và sử dụng thông tin để nâng cao việc học tập của sinh viên
Từ các phân tích đã trình bày ở trên, nhóm nghiên cứu đề tài đưa ra khái niệm về KTĐG kết quả học tập như sau: Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập
và xử lý thông tin từ hoạt động học tập của người học, so sánh với mục tiêu đã đề ra nhằm xác nhận kết quả học tập của người học sau một thời gian học tập và cung cấp thông tin phản hồi giúp cải thiện việc dạy và học để đạt kết quả tốt hơn
1.2.3 Khái niệm quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
Trang 25Như đã biết, mọi hoạt động trong mọi lĩnh vực của cuộc sống đều phải được quản lý Hơn nữa, KTĐG kết quả học tập là một trong những hoạt động quan trọng của trường ĐH, có vai trò quan trọng trong việc xác nhận kết quả học tập của người học cũng như giúp người học nâng cao chất lượng học tập, nâng cao chất lượng ĐT của nhà trường Do đó, quản lý hoạt động KTĐG kết quả học tập trong GDĐH nói chung và trong trường ĐH nói riêng là tất yếu và đây được coi là chức năng quản lý cơ bản của trường ĐH Trên cơ sở lý luận về quản lý kết hợp với lý luận về KTĐG, ta có thể đưa ra khái niệm về quản lý hoạt động KTĐG kết quả học tập như sau: Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra quá trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập nhằm thực hiện tốt nhất những mục tiêu kiểm tra, đánh giá đã đề ra Nói cách khác, quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập là tổng thể các công việc của cán bộ quản lý, giảng viên và người học, bao gồm việc đề ra cơ chế, chính sách, đề ra các giải pháp thực hiện, phân bổ nguồn lực, tổ chức thực hiện, thanh tra, kiểm tra để thực hiện một cách tốt nhất tất cả các khâu trong quá trình kiểm tra, đánh giá nhằm đánh giá chính xác kết quả học tập của người học và giúp cải thiện việc dạy và học
Có thể nói, quản lý hoạt động KTĐG kết quả học tập có vai trò quan trọng và không thể thiếu trong quản lý hệ thống GDĐH cũng như quản lý một trường ĐH KTĐG được quản lý tốt sẽ góp phần nâng cao chất lượng ĐT bởi vì mục tiêu của quản
lý hoạt động KTĐG là đánh giá chính xác kết quả học tập của người học, cung cấp thông tin phản hồi giúp cho người học điều chỉnh hoạt động học, không những thế thông tin phản hồi còn giúp GV điều chỉnh hoạt động dạy, giúp nhà quản lý đánh giá chất lượng chương trình ĐT để có những điều chỉnh hợp lý Có thể mô tả các yếu tố của quản lý hoạt động KTĐG như sau:
- Yếu tố trung tâm của quản lý hoạt động KTĐG kết quả học tập là quá trình KTĐG được tiến hành theo một quy trình từ xác định mục tiêu học tập hay chuẩn đầu
ra, xác định phương pháp KTĐG, sử dụng các phương pháp KTĐG để thu thập và xử
lý thông tin về việc học của người học đến thông báo kết quả và cung cấp thông tin phản hồi để cải tiến việc dạy và học Quản lý hoạt động KTĐG phải theo sát toàn bộ các khâu trong quy trình KTĐG Mỗi khâu được quản lý tốt thì cả quá trình mới đạt được kết quả tốt
Trang 26- Chủ thể quản lý là người lãnh đạo (người đề ra cơ chế, phê duyệt chính sách, quy chế, quy định về KTĐG, quyết định phân bổ nguồn lực phục vụ KTĐG, chỉ đạo tổ chức thực hiện và thanh tra, kiểm tra) và CBQL chuyên trách (vừa quản lý công việc của CBQL cấp dưới, của GV, của người học thông qua việc chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện, thanh tra, kiểm tra nhưng cũng vừa thực hiện trực tiếp những công việc do người lãnh đạo phân công); Đối tượng bị quản lý (những người tham gia thực hiện những công việc liên quan đến KTĐG bao gồm CBQL chuyên trách với các công việc như soạn thảo văn bản, lập danh sách SV dự thi, xếp lịch thi, xếp phòng thi, sao
đề thi, tổ chức coi thi, tổ chức chấm thi, nhập điểm, quản lý điểm, thông báo điểm,…;
GV với các công việc chủ yếu là xác định mục tiêu môn học, lựa chọn phương pháp KTĐG, ra đề, chấm thi, cung cấp thông tin phản hồi cho người học và người học là đối tượng bị đánh giá) Mỗi người tham gia vào quản lý hoạt động KTĐG có một chức năng, nhiệm vụ cụ thể phù hợp với năng lực và vị trí của họ Lưu ý rằng, mặc dù, người học vừa là đối tượng bị quản lý vừa là đối tượng bị đánh giá nhưng theo xu hướng hiện nay, người học cũng cần được xem là chủ thể đánh giá đối với kiến thức,
kỹ năng của chính mình cũng như của người học khác Vì vậy, người học cần được trang bị kỹ năng đánh giá và tự đánh giá, người quản lý cần quan tâm tạo điều kiện giúp người học chủ động chứ không bị động trong KTĐG
- Môi trường và điều kiện của quản lý hoạt động KTĐG, đó là XH, hệ thống GDĐH, trường ĐH, trang thiết bị, thời gian, không gian, kinh phí, Quản lý hoạt động KTĐG cần thiết phải có trang thiết bị, thời gian, cơ sở vật chất, kinh phí,… và cần thiết phải xem xét quản lý hoạt động KTĐG trong bối cảnh của XH nói chung và của hệ thống GDĐH nói riêng
Nhưng quản lý hoạt động KTĐG chỉ có thể thực hiện được vai trò của mình trong mối quan hệ ràng buộc với các chức năng quản lý khác như: quản lý chương trình ĐT, quản lý hoạt động dạy - học, quản lý nhân sự, quản lý tài chính, Chương trình ĐT đề ra mục tiêu và nội dung cho KTĐG; hoạt động dạy - học và quá trình KTĐG phải cùng dựa trên mục tiêu và nội dung của chương trình ĐT hay nói cách khác chương trình ĐT là cơ sở để dạy - học và KTĐG; Trong giảng dạy, GV sử dụng phương pháp KTĐG như là một phương pháp giảng dạy hiệu quả, KTĐG cung cấp thông tin phản hồi để giúp điều chỉnh quá trình dạy và học; một yếu tố rất quan trọng
để thực hiện tốt quá trình KTĐG đó là nguồn nhân lực: cán bộ phải được phân công
Trang 27công việc hợp lý phù hợp năng lực và chức năng, được ĐT, bồi dưỡng về nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của KTĐG; tài chính cũng cần thiết để động viên, khuyến khích cán
bộ và đầu tư trang thiết bị cho KTĐG
1.2.4 Các phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
Thông thường, KTĐG được thực hiện gián tiếp thông qua các bài kiểm tra với các phương pháp truyền thống rất quen thuộc trong nhà trường bao gồm kiểm tra viết (tự luận và trắc nghiệm khách quan), kiểm tra vấn đáp, kiểm tra thực hành KTĐG truyền thống chủ yếu đánh giá nhận thức và kỹ năng cứng, đó là những kỹ năng tối thiểu cần thiết đối với người học để họ có khả năng đảm nhiệm một công việc như kỹ năng vận hành máy móc, sử dụng máy tính, khả năng tính toán, sử dụng phần mềm, xây dựng phần mềm, sử dụng ngoại ngữ, Thời điểm tiến hành kiểm tra thường là sau khi kết thúc việc giảng dạy (kết thúc một bài học, môn học, năm học hay khoá học) Sử dụng các phương pháp KTĐG truyền thống, công việc của GV bao gồm: thiết
kế bài kiểm tra hay còn gọi là ra đề, giám sát người học thực hiện bài kiểm tra, chấm điểm đối với bài làm của người học; công việc của người học là thực hiện bài kiểm tra Với bài kiểm tra truyền thống, nội dung kiểm tra bị hạn chế và khó KTĐG được đầy
đủ mục tiêu đề ra
Khác với các bậc học khác, ở bậc ĐH, người học nắm vững kiến thức chuyên môn và thành thạo các kỹ năng liên quan đến ngành học, môn học vẫn chưa đủ mà họ còn phải được trang bị kiến thức, kỹ năng để sẵn sàng tham gia vào các hoạt động XH
và công việc chuyên môn sau khi tốt nghiệp Các phương pháp KTĐG truyền thống, không cho phép đánh giá được đầy đủ những kiến thức và kỹ năng cần thiết đối với người học, vì vậy, mới đây, trong GDĐH, các nhà GD học đã giới thiệu một số phương pháp KTĐG mới gọi là KTĐG thực (Authentic Assessment) Khác với các phương pháp KTĐG truyền thống, KTĐG thực là hình thức KTĐG trực tiếp trong đó người học được yêu cầu thực hiện những nhiệm vụ thực sự diễn ra trong cuộc sống, đòi hỏi phải vận dụng một cách tích hợp kiến thức với kỹ năng cứng và kỹ năng mềm KTĐG thực không chỉ quan tâm đến đánh giá kỹ năng cứng mà còn quan tâm đến đánh giá kỹ năng mềm nhằm giúp người học phát triển các kỹ năng liên quan đến nghề nghiệp trong tương lai Kỹ năng mềm không bó hẹp trong lĩnh vực chuyên môn như kỹ năng cứng mà chúng cần cho cuộc sống cũng như công việc hàng ngày Các kỹ năng mềm gồm kỹ năng cá nhân (ý thức trách nhiệm, lòng tự trọng, sự thân thiện, hoà đồng, sự chân thành,
Trang 28khả năng làm chủ bản thân, ) và kỹ năng tương tác với cá nhân khác (kỹ năng hoà nhập, kỹ năng truyền đạt kiến thức cho người khác, kỹ năng phục vụ và làm thoả mãn khách hàng, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng phản hồi, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giải quyết xung đột, kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng thuyết phục, kỹ năng làm việc trong các môi trường khác nhau, ) KTĐG thực bao gồm 5 loại: KTĐG trình diễn (Performance Assessment), tìm kiếm nhanh (Short Investigations), câu hỏi mở (Open- Response Questions), hồ sơ học tập (Portfolios) và tự đánh giá (Self- Assessment) Với các phương pháp này, KTĐG thực góp phần đánh giá mức độ đạt được chuẩn đầu ra của người học chính xác hơn Khác với các phương pháp truyền thống ở trên thường được thực hiện khi kết thúc quá trình dạy - học, thời điểm quá muộn để điều chỉnh hoạt động học cũng như hoạt động dạy, KTĐG thực được người dạy và người học cùng nhau thực hiện thường xuyên, liên tục trong quá trình dạy - học theo một chu trình: đưa ra vấn đề, giải quyết vấn đề, nhận xét đưa ra phản hồi, tranh luận và chỉnh sửa Bằng các phương pháp KTĐG truyền thống, chúng ta chỉ biết được khả năng thực tiễn có thể của người học một cách gián tiếp thông qua kết quả bài kiểm tra, song KTĐG thực yêu cầu người học giải quyết những vấn đề thực sự diễn ra trong thực tiễn nên KTĐG thực cho ta những minh chứng trực tiếp về kết quả mà người học đạt được Do đó, với KTĐG thực, người ta hy vọng rút ngắn được khoảng cách giữa lý thuyết với thực hành và người học sau khi tốt nghiệp sẽ nhanh chóng hoà nhập với yêu cầu cao của thực tiễn công việc trong một XH ngày càng phát triển Do những ưu điểm nổi trội, KTĐG thực đang được thí điểm áp dụng trong tiếp cận phát triển chương trình CDIO
1.2.5 Một số xu hướng phát triển về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong giáo dục đại học
Để có được những quan niệm tiến bộ như hiện nay, KTĐG đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài Đầu thế kỷ 19, trong giáo dục học và tâm lý học tồn tại quan điểm cho rằng trí thông minh của con người là cố hữu và những người thuộc tầng lớp thấp kém được cho là hạn chế khả năng đào tạo được Do đó, chức năng của KTĐG trong thời kỳ này chỉ tập trung vào việc cho điểm số, dự đoán và xếp hạng Đến cuối thế kỷ 20, các nhà giáo dục học nói riêng và xã hội nói chung bắt đầu đưa ra quan điểm rằng trí thông minh cũng như năng lực của con người có thể thay đổi được nhờ giáo dục Quan điểm này đã làm cho KTĐG thay đổi Ngoài những chức năng vốn có, một số nhà giáo dục học và tâm lý học đã khẳng định rằng KTĐG còn là phương tiện
Trang 29chủ yếu để nâng cao chất lượng của quá trình dạy - học Mặc dù, hiện nay các chức năng cho điểm, xếp hạng vẫn chiếm ưu thế nhưng các nhà giáo dục học vẫn tin tưởng rằng KTĐG trong tương lai sẽ ngày càng phát triển theo hướng hỗ trợ cho việc cải thiện quá trình dạy - học và đây sẽ là chức năng chính của KTĐG
Có thể tổng kết thành 5 xu hướng phát triển của KTĐG như sau:
- Chuyển từ việc tập trung nhiều đến KTĐG cuối môn học, khoá học sang việc sử dụng ngày càng nhiều các KTĐG định kỳ sau từng phần, từng chương Việc thay đổi này nhằm giúp đánh giá được toàn diện hơn, đầy đủ hơn việc tiếp thu kiến thức của người học Mặt khác, cách làm này tạo cơ hội cho người học được cải thiện kết quả học tập của mình Thất bại một lần, người học còn có cơ hội ở những lần KTĐG sau Như vậy, người học cũng phần nào giảm bớt sự căng thẳng do sức ép lớn trong KTĐG
- Chuyển từ việc chỉ quan tâm đến đánh giá nhận thức sang quan tâm đến đánh giá kỹ năng, năng lực của người học Nhận thức cũng như kỹ năng của người học được xác định và phân định từng mức độ rõ ràng bởi các mục tiêu học tập, chuẩn đầu ra làm
cơ sở cho KTĐG Hơn nữa, người ta ngày càng quan tâm đến việc đánh giá nhận thức,
kỹ năng bậc cao chứ không đơn thuần chỉ đánh giá người học ở mức độ nhớ thông tin một cách máy móc Hiện nay, người ta có xu hướng nhấn mạnh hơn nữa đến đánh giá các kỹ năng mềm
- Chuyển từ KTĐG một hoặc hai chiều sang KTĐG đa chiều Theo truyền thống, giáo viên, giảng viên là chủ thể đánh giá và có thể có thêm một hội đồng nhà trường hoặc bên ngoài Xu hướng hiện nay nhấn mạnh đến việc kết hợp nhiều chủ thể đánh giá Người ta đòi hỏi người học tự đánh giá, người học đánh giá lẫn nhau để có thêm nhiều thông tin phản hồi, đồng thời giúp người học phát triển kỹ năng đánh giá
và tự đánh giá Những hình thái KTĐG mới tạo cơ hội có nhiều câu trả lời đúng thay
vì chỉ có một câu trả lời đúng duy nhất và KTĐG được dựa trên đa nguồn thông tin
- Chuyển từ KTĐG là hoạt động độc lập với quá trình dạy - học sang KTĐG là một bộ phận tích hợp của quá trình dạy - học Người ta đã sử dụng khái niệm “KTĐG quá trình” và “KTĐG tổng kết” để phân biệt hai loại KTĐG KTĐG quá trình được tiến hành liên tục trong quá trình dạy - học nhằm giúp GV có những thông tin về hoạt động dạy và học tại mọi thời điểm Những KTĐG này yêu cầu người học phải tích cực chứ không thụ động trong học tập
Trang 30- Kỹ thuật công nghệ ngày càng phát triển và trở thành một công cụ trợ giúp hiệu quả cho KTĐG Internet là một phương tiện truyền thông trong giáo dục cũng như KTĐG cho phép đăng ký KTĐG trực tuyến, KTĐG trực tuyến và thậm chí cấp chứng nhận trực tuyến; nó đánh dấu một sự thay đổi lớn trong cách thức xây dựng và thực hiện bài kiểm tra: kiểm tra trắc nghiệm khách quan thông thường dùng giấy và bút chì đã được chuyển sang thực hiện bằng máy tính và sau đó là thực hiện trực tuyến; kỹ thuật mô phỏng câu trả lời cho một câu hỏi kiểm tra đã được giới thiệu góp phần thúc đẩy xu hướng chuyển từ đánh giá nhận thức sang đánh giá kỹ năng; KTĐG đang ngày càng quan tâm đến loại câu hỏi mở, với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thì vấn đề này cũng sẽ được công nghệ quan tâm trợ giúp Ngoài ra, trong KTĐG, máy tính không thể thiếu đối với việc quản lý số liệu Hiện nay, những phần mềm tạo và định cỡ bài kiểm tra, tự động phát sinh đề bài từ ngân hàng câu hỏi đã trở nên phổ biến và có những thành tựu nhất định Mới đây, ở ETS (Education Testing Service) của Mỹ, hệ thống máy tính thông minh cùng với trí tuệ nhân tạo đã được thí điểm triển khai trong xu hướng KTĐG tích hợp, kết hợp KTĐG quá trình với KTĐG tổng kết Trong quá trình thực hiện bài kiểm tra, người học nhận được ngay lập tức những phản hồi đối với câu trả lời của mình và có cơ hội sửa chữa những sai sót Máy tính có thể hiểu được câu trả lời của người học bằng ngôn ngữ thông thường Phản hồi không đơn giản chỉ là đúng hay sai mà còn là gợi ý để người học trả lời lại Máy tính
sẽ chấm điểm câu trả lời căn cứ trên kết quả cuối cùng kết hợp với cả quá trình người học tương tác với máy tính Với cách làm này thì giảng viên không thể đảm nhiệm được, giảng viên sẽ đóng vai trò thiết kế các công cụ KTĐG
Kiểm tra, đánh giá như vậy có tác dụng lôi cuốn người học vào học tập và đòi hỏi người học phải có những kỹ năng tư duy và do vậy, chúng nhất quán với những luận thuyết học tập nhận thức, động cơ cũng như đáp ứng nhu cầu XH nhằm chuẩn bị cho người học có thể đảm nhận được những công việc ngày càng phức tạp trong tương lai Hiện nay, người ta vẫn tiếp tục nghiên cứu phát triển KTĐG theo các xu hướng nói trên
1.3 Đặc điểm và vai trò của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong đào tạo từ xa
1.3.1 Khái niệm về đào tạo từ xa
Hiện nay, có nhiều thuật ngữ được sử dụng để mô tả khái niệm giáo dục - đào tạo từ xa, chẳng hạn như Giáo dục mở, Giáo dục từ xa, Dạy từ xa, Học từ xa, Đào tạo
Trang 31từ xa hoặc giáo dục ở xa Cho dù với khái niệm nào thì bản chất quá trình dạy và học phải bao hàm yếu tố có sự tách biệt, ngăn cách về mặt không gian hoặc/và thời gian
Theo nhiều học giả trên thế giới thì “Giáo dục từ xa là một quá trình giáo dục - đào tạo mà trong đó phần lớn hoặc toàn bộ quá trình giáo dục - đào tạo có sự tách biệt giữa người dạy và người học về mặt không gian hoặc/và thời gian”
Không có một định nghĩa chính xác về giáo dục từ xa (GDTX) Tuy nhiên một cách tổng quát, GDTX là hoạt động dạy học diễn ra một cách gián tiếp theo phương pháp dạy học từ xa GDTX được hiểu bao hàm các yếu tố dưới đây:
1 Giảng viên và sinh viên ở một khoảng cách xa (tức là có sự ngăn cách về mặt không gian: khoảng cách này là tương đối, có thể là cùng trường học nhưng khác phòng học hoặc khác nhau về vị trí địa lý, có thể vài kilomet hoặc hàng ngàn kilomet)
2 Nội dung dạy học trong quá trình dạy học được truyền thụ, phân phối tới cho sinh viên chủ yếu thông qua các hình thức thể hiện gián tiếp như văn bản in, âm thanh, hình ảnh hoặc số liệu máy tính
3 Sự liên hệ, tương tác giữa giảng viên và sinh viên (nếu có) trong quá trình dạy học có thể được thực hiện tức thời hoặc trễ sau một khoảng thời gian nào đó (có sự ngăn cách về mặt thời gian)
ĐTĐHTX là một quá trình giáo dục, trong đó phần lớn có sự gián cách giữa người dạy và người học về mặt không gian và thời gian Người học theo hình thức giáo dục từ
xa chủ yếu tự học qua học liệu như giáo trình, băng hình, băng tiếng, đĩa CD-ROM, phần mềm vi tính, bằng việc sử dụng các phương tiện nghe - nhìn cá nhân, phát thanh, truyền hình, các tổ hợp truyền thông đa phương tiện, mạng Internet dưới sự tổ chức, trợ giúp của nhà trường
1.3.2 Đặc điểm của giáo dục đào tạo từ xa
- Trong giáo dục từ xa, người dạy và người học ở cách xa nhau Khoảng cách địa lý ngăn cách người dạy và người học là đặc điểm đầu tiên để phân biệt giáo dục từ
xa với các phương thức giáo dục truyền thống khác Giáo dục từ xa không chỉ khắc phục khoảng cách về địa lí mà còn có thể phải khắc phục khoảng cách tâm lí Có nhiều yếu tố góp phần ngăn cách con người thuộc các giới khác nhau với các nhà trường truyền thống, đó là tuổi tác, hoàn cảnh làm việc, không muốn đi lại thường xuyên,
Trang 32hoàn cảnh của môi trường đào tạo Như vậy giáo dục từ xa phải khắc phục được mọi trở ngại về khoảng cách địa lí và tâm lí
- Trong giáo dục từ xa, người học tự học là chủ yếu Vắng mặt giáo viên ở nơi học tập, cách biệt với các sinh viên khác, ở xa cơ sở đào tạo, sinh viên học từ xa thường chủ yếu là tự học Việc tự tiến hành chủ yếu trên tài liệu học tập và tài liệu hướng dẫn
Đó là các ấn phẩm và các phương tiện thông tin Để giúp sinh viên tự học tốt, họ cần được khuyến khích động viên và được nhận thức rằng học có thể nâng cao vốn kiến thức của mình khi có ý chí và quyết tâm học tập, biết phát huy năng lực tự học của mình, đồng thời có nghị lực vượt qua mọi khó khăn trong học tập Giải pháp này dựa trên cơ
sở tâm lí sư phạm, trong đó điều quan trọng là chỉ ra cho người học cách tự học có hiệu quả để sự thành công trong học tập ngày càng củng cố và nâng cao lòng tự tin của họ Như vậy trước hết phải tạo ra môi trường học tập trong đó người học được rèn luyện thói quen thường xuyên học tập, dần dần trở thành người biết tự học Bên cạnh đó cũng đòi hỏi ở các nhà sư phạm, các chuyên gia kỹ thuật … phải có sự đóng góp tích cực cho các sinh viên tự học Điều đó phải được thực hiện ở tất cả các khâu trong quá trình dạy học như: xây dựng chương trình, tổ chức hoạt động, lựa chọn thiết kế, sản xuất và vận hành sử dụng các phương tiện, học liệu… Mặt khác, để khắc phục việc học một cách đơn điệu, người học có thể kết hợp với nhau thành các nhóm học tập Trong các nhóm này, họ phải tự học, nhưng có thể trao đổi và giúp đỡ lẫn nhau Đó là cách thể hiện mối quan hệ trò-trò trong dạy học từ xa nhằm phát huy tác dụng đối thoại trong học tập Tuy nhiên không được tuyệt đối hóa vai trò của học nhóm, càng không lấy học nhóm thay thế cho tự học Tự học, học nhóm có quan hệ tương hỗ Chúng là bản chất của dạy học
từ xa, nhưng tự học vẫn là bản chất nổi trội Vì đặc điểm này của dạy học từ xa nên tài liệu in viết cho người học phải khác tài liệu giáo khoa dùng trong dạy học truyền thống
Đó là các tài liệu tự học mà nếu được viết tốt sẽ không những có ích cho người học từ xa
mà còn có ích cho người học trong dạy học truyền thống
- Trong giáo dục từ xa người ta thường phải sử dụng các phương tiện công nghiệp hoặc cận công nghiệp Đây chính là các phương tiện làm cầu nối giữa giáo viên
và sinh viên trong khi giữa họ có khoảng cách Chính nhờ các phương tiện này mà bài học được truyền tải đến sinh viên một cách gián tiếp, nó thể hiện mối liên hệ thầy trò trong dạy học từ xa Tùy theo phương tiện khác nhau mà mối liên hệ này được thực hiện qua kênh chữ hay kênh lời nói Chẳng hạn như trong lớp hàm thụ dùng thư có
Trang 33mối liên hệ bằng chữ, trong các lớp học có băng hình, băng tiếng có mối liên hệ bằng lời Cũng tùy theo phương tiện khác nhau và cách thức tổ chức khác nhau, mối liên hệ này là một chiều hay hai chiều Chẳng hạn như học hàm thụ bằng thư tác động qua thầy và trò là ít còn học từ xa theo phương tiện radio hai chiều thì đối thoại giữa thầy
và trò tích cực hơn
Dưới đây giới thiệu một số phương tiện dạy học từ xa đã được tổng kết ở Úc Đó là các phương tiện: ấn phẩm, Fax, băng tiếng, đài phát thanh, băng hình, truyền hình, hệ thống vi tính truyền thông đa dạng, đàm thoại có hình, cầu truyền thanh, cầu truyền hình, hòm thư điện tử Mỗi loại này có ưu điểm và nhược điểm của nó Ví dụ, ấn phẩm là phương tiện quen thuộc, tham khảo nhanh và dễ sửa đổi nhưng nó không có tác động qua lại và có thể tốn kém khi cần cập nhât Phương tiện băng tiếng thì rẻ, sẵn có, dễ phân phát, lưu trữ được sự kiện nhưng lại không có hình và không có sự tác động qua lại Đài phát thanh thì rẻ, sẵn có, phát triển kỹ năng hình tượng nhưng tác động qua lại hạn chế Băng hình và truyền hình có đặc điểm là hình động, lưu trữ được sự kiện nhưng lại không có tác động qua lại Truyền thông đa phương tiện có ưu điểm là đào tạo có kết quả, tác động qua lại cao nhưng giá thành cao và trang bị tốn kém Cầu truyền hình giống như mặt đối mặt,
có tác động qua lại cao nhưng giá thành cao và thiết bị phức tạp,…
Qua đây chúng ta thấy các phương tiện khác nhau có khả năng khác nhau Vì vậy nên phối hợp các phương tiện trong dạy học từ xa Về sử dụng phương tiện, có nhóm tác giả đã nêu lên mệnh đề: một chương trình dạy học từ xa có nhiều phương tiện truyền thông thì sẽ thực sự có hiệu quả hơn chương trình chỉ dùng một phương tiện, vì người học sẽ hứng thú và học có hiệu quả hơn; các phương tiện khác nhau có thể hỗ trợ lẫn nhau, đối với từng cá nhân có người học phương tiện này hiệu quả hơn phương tiện khác Ở Anh có công trình nghiên cứu tỉ lệ số người học các khóa học và kết luận: ưu điểm thuộc về các khóa học dùng nhiều phương tiện truyền thông hơn
Vì các thiết bị truyền thông đắt tiền nên việc vốn đầu tư các thiết bị ban đầu cho dạy học từ xa thường tốn kém hơn dạy học truyền thống
- Trong giáo dục từ xa mỗi khóa học không hạn định số lượng người học Đặc tính này không thể có trong dạy học truyền thống vì thông thường ở mỗi lớp học truyền thống số học sinh phụ thuộc vào chỗ ngồi trong lớp Khác với dạy học truyền thống, dạy học từ xa nhận sinh viên theo số lượng bất kỳ ở các trung tâm đào tạo từ xa
Có thể nói rằng không bao giờ có sự quá tải đối với dạy học từ xa, vì không bị hạn chế
Trang 34ở không gian hạn hẹp của một lớp học thông thường mà hoàn toàn có thể tự học ở nhà một mình Tuy nhiên số lượng sinh viên không nên quá ít vì với chi phí ban đầu có giáo dục từ xa tương đối lớn mà chỉ có ít người học thì chi phí chia cho đầu người sẽ cao Do đó, giáo dục từ xa sẽ thật có ý nghĩa kinh tế hay có lãi khi có càng nhiều sinh viên học từ xa
Dạy học từ xa có hai hoạt động dạy và hoạt động học không trực tiếp, không trong một không gian và không trong một thời gian như dạy học truyền thống Ngoài
sự khác nhau giữa giáo dục từ xa và giáo dục truyền thống, các hoạt động dạy và học của hai hệ thống giáo dục này có sự khác nhau Sau đây là hai bảng so sánh:
Bảng 1: So sánh việc dạy:
- GV sử dụng phương tiện truyền thông
- GV hướng dẫn và giải đáp thắc mắc
-Tính đối thoại giữa thầy và trò thực hiện
tùy thuộc vào khả năng của phương tiện
- Tự học theo cá nhân hoặc nhóm
- Tự chọn thời gian và môn học
- Dễ gian lận trong kiểm tra và thi cử
- Học tập trung đông trên lớp
- Học trong một khoảng thời gian xác định và học theo đúng thời khóa biểu
- Kiểm tra thi cử nghiêm túc và chất lượng cao
1.3.3 Đặc điểm của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ từ xa
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong giáo dục từ xa chịu sự quy định của quy luật giáo dục từ xa Vì giáo dục từ xa có rất nhiều đặc điểm khác với giáo dục nhà trường truyền thống, do đó kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong giáo dục từ xa cũng có rất nhiều điểm khác biệt so với kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong giáo dục truyền thống
- Đặc điểm kiểm tra, kiểm tra đánh giá được mang lại do tính mở cửa trong công tác tổ chức đào tạo và tính từ xa của công tác quản lý và dạy học Đặc điểm quan
Trang 35trọng của giáo dục từ xa là phá vỡ sự hạn chế về không gian và thời gian của giáo dục nhà trường truyền thống, hướng vào xã hội thực hiện giáo dục trên phạm vi rộng Đặc điểm quan trọng này đã quyết định khu vực phân bố sinh viên của giáo dục từ xa là rất rộng, công tác giảng dạy và quản lý đều mang đặc tính từ xa
Căn cứ vào đặc điểm này của giáo dục từ xa, trong quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập phải thật chú ý đến tính thích nghi của đối tượng kiểm tra, đánh giá đối với giáo dục từ xa
Tóm lại, do giáo dục từ xa mang tính mở cửa và tính từ xa trong công tác dạy
và học, khiến cho kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong giáo dục từ xa khi so sánh với kiểm tra, đánh giá kết quả học tập thông thường, thì bất luận là kiểm tra, đánh giá về mặt nội dung hay phạm vi đều có rất nhiều điểm độc đáo Nếu xem nhẹ những đặc điểm này sẽ làm mất đi tính khách quan và tính khoa học của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong giáo dục từ xa
- Đặc điểm kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong giáo dục từ xa được mang lại do tính chỉnh thể của hệ thống tổ chức đào tạo và tính liên quan tương hỗ giữa cấp trên với cấp dưới của hệ thống
Trong giáo dục từ xa, hệ thống của nhà trường được hình thành chính là một chỉnh thể thực thi giáo dục, các hạng mục số học và công tác quản lý trong hệ thống đều đã chuyển tải qua từng cấp mới được phép thực thi, do đó giữa cấp trên và cấp dưới trong hệ thống luôn tồn tại tính tương quan mật thiết Các ngành cấp trên trong hệ thống bất luận là trên phương diện nắm vững phương hướng tổ chức đào tạo hay là trạng thái công tác giảng dạy ,quản lý đều gây ảnh hưởng đến công việc của các cấp dưới Mà tư tưởng tổ chức đào tạo và tình trạng công việc của cấp dưới lại ảnh hưởng đến việc thực hiện quán triệt ý định của cấp trên, đồng thời cũng sẽ ảnh hưởng đến kết quả công tác cuối cùng của toàn hệ thống hoặc bộ phận khu vực
Do đặc điểm trên mà kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong giáo dục từ xa phải chú ý: Khi tiến hành kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong giáo dục từ xa toàn bộ công việc của một cấp trong hệ thống hay một số phương diện trong đó cần suy nghĩ về ảnh hưởng lẫn nhau của các cấp trong hệ thống, đặc biệt là khi làm đánh giá định lượng, phải xác định chính xác quan hệ chức năng về sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các cấp
- Đặc điểm đánh giá được mang lại bởi tính thích nghi xã hội của hệ thống tổ chức đào tạo và tính linh hoạt của cơ chế tổ chức đào tạo
Trang 361.3.4 Vai trò của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong giáo dục, đào tạo từ xa
Kiểm tra đánh giá sinh viên là một trong những hoạt động cơ bản trong giáo dục từ xa Kiểm tra, đánh giá không chỉ cung cấp thông tin về mặt tiến bộ của sinh viên mà còn về hiệu quả của các chương trình đào tạo, học liệu, phương tiện và phương pháp Đánh giá sinh viên đại học từ xa hơi khác với sinh viên đại học truyền thống mặt – giáp – mặt do có sự khác nhau về tương tác giữa thầy và trò trong môi trường GDTX Trong đào tạo truyền thống thì gảng viên có nhiều chỉ số để đánh giá
sự học tập của sinh viên ngoài những bài kiểm tra trên giấy Sự chuyên cần nghe giảng
và chất lượng các câu hỏi có thể quan sát được, cũng như ngôn ngữ cử chỉ khi thấy một cái nhìn lúng túng hoặc tạm dừng bút để nghi chép Trong GDTX, cơ chế kiểm tra, đánh giá chính thức thông qua các bài tập và bài kiểm tra bằng văn bản thường được áp dụng để đánh giá chất lượng sinh viên
1.4 Mục tiêu của quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong giáo dục, đào tạo từ xa
1.4.1 Đảm bảo đúng mục đích, mục tiêu môn học
Xác định rõ và hiểu rõ mục đích tức là phải trả lời được câu hỏi tại sao phải KTĐG, thông tin thu được sẽ giúp gì cho GV và nhà quản lý trong việc ra quyết định Ngoài mục đích xác định kiến thức của người học và xếp loại người học, thông qua KTĐG, chúng ta phải trả lời được một số câu hỏi như: KTĐG có nhằm cung cấp thông tin phản hồi cho người học không? Có giúp đánh giá được sự tiến bộ của người học không? KTĐG có khích lệ, động viên được người học không? KTĐG có cung cấp cho người học những kỳ vọng của GV đối với họ không? KTĐG có phản ánh đúng những gì người học có thể thực hiện được không?
1.4.2 Đảm bảo sử dụng hợp lý của các phương pháp đánh giá
Sự phù hợp giữa mục tiêu môn học hay chuẩn đầu ra và phương pháp KTĐG là một nguyên tắc rất quan trọng Mặc dù, cùng một mục tiêu hay chuẩn đầu ra, GV có thể sử dụng các phương pháp KTĐG khác nhau, song thực tế giảng dạy cho thấy có những phương pháp KTĐG dùng cho một số mục tiêu hay chuẩn đầu ra sẽ hữu hiệu hơn khi dùng các phương pháp khác Điều này có nghĩa là với một số mục tiêu môn học hay chuẩn đầu ra thì chỉ có một số phương pháp nhất định phù hợp mà thôi Vì vậy, khi xác định mục tiêu hay chuẩn đầu ra thì cũng phải xác định phương pháp KTĐG phù hợp
Trang 371.4.3 Đảm bảo chất lượng công cụ kiểm tra, đánh giá
1.4.3.1 Độ giá trị
Trong đánh giá kết quả học tập, độ tin cậy giải quyết những câu hỏi như thế nào chắc chắn tôi là ai? Làm thế nào tôi tự tin rằng quá trình kiểm tra đánh giá này cung cấp đủ thông tin nhất quán và ổn định để cho phép tôi thực hiện báo cáo về việc học tập của sinh viên một cách chắc chắn?
Khi giảng viên viên lập báo cáo về việc học tập của sinh viên, họ đang suy luận
về những gì sinh viên biết và có thể làm từ các bằng chứng có sẵn thông qua đánh giá Nếu quá trình đánh giá là đáng tin cậy, những kết luận về việc học tập của sinh viên sẽ tương tự như khi chúng được thực hiện bởi các giảng viên khác nhau, khi học được đo bằng phương pháp khác nhau, hoặc khi học sinh thể hiện việc học của mình tại thời điểm khác nhau Nếu giảng viên không chắc chắn về việc liệu các kết luận sẽ phù hợp theo tất cả các điều kiện, có một câu hỏi về độ tin cậy Khi có bất kỳ nghi ngờ gì nữa,
có lẽ chưa đủ thông tin để thực hiện một tuyên bố đáng tin cậy
Có rất nhiều cách để thúc đẩy độ tin cậy:
• Giảng viên có thể sử dụng một loạt các nhiệm vụ đánh giá để cung cấp thông tin Các thông tin thu thập được, rõ ràng hơn là hình ảnh của hồ sơ học tập của sinh viên
• Sinh viên có thể thể hiện việc học của mình theo nhiều cách khác nhau Nếu giảng viên có một hiểu biết tốt về học tập một cá nhân sinh viên, họ cần phải cho phép sinh viên đó chứng minh năng lực của mình một cách phù hợp với điểm mạnh cá nhân Ví
dụ, một sinh viên có thể chọn để làm một bài thuyết trình để chứng minh sự hiểu biết về một khái niệm, trong khi người khác có thể chọn để hoàn thành một khái niệm bằng văn bản Giảng viên có thể sử dụng nhiều hệ thống các quy trình, ví dụ, ghi phím, chữ đỏ, quy
mô đánh giá để lập báo cáo về công việc của sinh viên liên quan đến việc học tập
• Giảng viên có thể làm việc với các giảng viên khác để xem xét việc học của sinh viên Bằng cách làm việc cùng nhau, họ thiết lập thỏa thuận với nhau về những gì được mong đợi và những gì có thể học được từ một đánh giá cụ thể Mang lại một cái nhìn sâu sắc, tổng thể về những gì được dự kiến kết quả thực hiện trong nhiều quyết định đáng tin cậy về những hiểu biết của sinh viên
Trang 38có thể được xem như là một số đo về sự sai khác giữa kết quả biểu kiến (điểm số mà người học trên thực tế đạt được) và kết quả thực (điểm số mà người học thực có nếu không có những sai số trong đo lường) Theo định nghĩa thì: Điểm số biểu kiến = điểm
Người ta có nhiều cách để ước lượng độ tin cậy thông qua các phương pháp thống kê toán Độ tin cậy càng cao thì kết quả của KTĐG càng chính xác Độ tin cậy cần ở mức độ nào phụ thuộc vào loại quyết định sẽ được đưa ra Độ tin cậy cần ở mức cao hơn khi ta dùng kết quả KTĐG để đưa ra những quyết định quan trọng, có tác động lâu dài đối với người học (như xếp hạng học tập), nhưng với những quyết định ít quan trọng (như để chẩn đoán mức độ tiếp thu kiến thức của người học) thì độ tin cậy không cần thiết phải lớn Người tham gia công tác tổ chức KTĐG có thể thực hiện theo một số gợi ý sau đây để nâng cao độ tin cậy:
- Hạn chế các yếu tố chủ quan của người đánh giá
- Sử dụng số câu hỏi đủ lớn hoặc đủ số bài kiểm tra (cùng một vấn đề, bài kiểm tra dài hơn đáng tin cậy hơn)
- Cần GD cho người học ý thức, động cơ đúng đắn đối với KTĐG
- Đảm bảo quy trình tổ chức KTĐG và chấm điểm thật khách quan
- Hạn chế tối đa ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài
- Hình thành cho người học kỹ năng tự đánh giá
Trang 39bộ phận trong và ngoài trường ĐH như người học, GV, nhà quản lý, người lãnh đạo, người làm chính sách, nhân viên, bộ phận quản lý chương trình ĐT, quản lý tài chính, quản lý cán bộ,… Quản lý hoạt động KTĐG tạo nên một bức tranh trong đó liên kết chặt chẽ các hoạt động, các bộ phận, các cá nhân nhằm tác động đến hoạt động học tập của người học
Quản lý hoạt động KTĐG kết quả học tập trong ĐTTX thông thường gồm 4 cấp như mô hình dưới đây Theo thứ tự từ dưới lên, cấp 1, 2 và 3 là các cấp quản lý thuộc trường ĐH chịu trách nhiệm quản lý hoạt động KTĐG trong phạm vi nhà trường và cấp 4
là cấp quản lý nhà nước, thông thường là Bộ GD và ĐT, chịu trách nhiệm quản lý ở tầm vĩ
mô trong phạm vi toàn bộ hệ thống GDĐH Cấp 1 là những hoạt động chủ yếu của GV và
SV, họ là những người thực hiện trực tiếp nhưng cũng đồng thời là người quản lý chính công việc của mình Từ cấp 2 trở lên, vai trò phối hợp, chỉ đạo, điều hành, kiểm tra thuộc
về những CBQL và họ thực hiện các chức năng quản lý theo thứ bậc
Công nhận và khen thưởng Nguồn lực
Thiết kế chương trình Đổi mới & phát triển Các thủ tục
Văn hóa khoa/bộ môn
Phát triển
cán bộ
SV
GV Chính sách
Quy trình KT, ĐG kết quả học tập
Trang 40Cấp 1 với các hoạt động cụ thể, là nơi hoạt động KTĐG thực sự diễn ra Ở cấp này, các công việc hết sức cụ thể do GV và SV thực hiện nhằm mục đích đo lường kết quả học tập của SV và giúp SV nâng cao chất lượng hoạt động học tập Mục tiêu học tập và phương pháp KTĐG ở mức độ chương trình được thiết kế và quy định thống nhất, còn mục tiêu học tập và phương pháp KTĐG ở mức độ môn học phải do GV hoặc một nhóm GV xác định đảm bảo tính thống nhất giữa các GV cùng giảng dạy môn học, đảm bảo độ tin cậy, độ giá trị và tính công bằng của KTĐG Đối với KTĐG tổng kết, trên cơ sở mục tiêu, phương pháp KTĐG đã xác định, GV và SV cùng thực hiện các bước tiếp theo để hoàn thiện một quy trình KTĐG Công việc của GV là đưa ra vấn đề hay còn gọi là ra đề, yêu cầu và hướng dẫn SV thực hiện, chấm điểm và cung cấp thông tin phản hồi cho SV; công việc của
SV là thực hiện bài kiểm tra Đối với KTĐG quá trình, trên cơ sở mục tiêu của môn học, của chương trình, GV cùng SV thực hiện toàn bộ quy trình KTĐG với các mục tiêu trung gian và các phương pháp KTĐG phù hợp do GV xác định tuỳ theo mục đích KTĐG và phù hợp với các thiết kế chung ở mức độ môn học cũng như chương trình ĐT Để thực hiện những công việc này, GV và SV phải tuân thủ nghiêm ngặt những quy định, quy chế do các cấp có thẩm quyền ban hành
Theo thứ tự từ dưới lên, cấp 1, 2 và 3 là các cấp quản lý thuộc trường ĐH chịu trách nhiệm quản lý KTĐG trong phạm vi nhà trường và cấp 4 là cấp quản lý nhà nước, thông thường là Bộ GD và ĐT, chịu trách nhiệm quản lý ở tầm vĩ mô trong phạm vi toàn bộ hệ thống GDĐH Cấp 1 là những hoạt động chủ yếu của
GV và SV, họ là những người thực hiện trực tiếp nhưng cũng đồng thời là người quản lý chính công việc của mình Từ cấp 2 trở lên, vai trò phối hợp, chỉ đạo, điều hành, kiểm tra thuộc về những CBQL và họ thực hiện các chức năng quản lý theo thứ bậc
Hình 1.5.2 Quy trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
Xác định mục tiêu học tập/chuẩn đầu
TT
Lựa chọn phương pháp KTĐG