Khoa Tài chính - Ngân hàng là một trong số các đơn vị mong muốn thực sự được đổi mới phương pháp giảng dạy, ứng dụng các phương pháp giảng dạy đại học hiện nay là tập trung vào kỹ năng t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP VIỆN
ĐỀ TÀI: “ỨNG DỤNG TRIỂN KHAI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY DỰA TRÊN BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀO MỘT SỐ MÔN CHUYÊN NGÀNH TẠI KHOA TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG, VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI”
Mã số: V2014 - 16
Chủ nhiệm đề tài: Bùi Thanh Sơn
Hà Nội, Tháng 12 Năm 2014
Trang 2DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA ĐỀ TÀI
1 Bùi Thanh Sơn Khoa Tài chính - Ngân hàng
2 Nguyễn Thị Hồng Lan Khoa Tài chính - Ngân hàng
Trang 31
MỤC LỤC
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU 3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI 4
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 5
1 Tính cấp thiết của đề tài 5
2 Mục tiêu nghiên cứu 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Kết cấu của đề tài 6
PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 7
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY DỰA TRÊN BẢN ĐỒ TƯ DUY 7
1.1 Cơ sở lý luận 7
1.1.1 Phương pháp giảng dạy truyền thống và yêu cầu đổi mới trong thời kỳ mới 7
1.1.2 Bản đồ tư duy (BĐTD) và phương pháp giảng dạy dựa trên bản đồ tư duy 14
1.1.3 Cơ sở của việc lựa chọn phương pháp giảng dạy dựa trên bản đồ tư duy 18
1.2 Cơ sở thực tiễn 22
1.2.1 Tổng quan chung về Viện Đại học Mở Hà Nội 22
1.2.2 Tổng quan về Khoa Tài chính - Ngân hàng 27
1.2.3 Tổng quan về sinh viên khóa 4(2011-2015) 30
CHƯƠNG II : TRIỂN KHAI ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY DỰA TRÊN BẢN ĐỒ TƯ DUY TẠI KHOA TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG 31
2.1.Lập kế hoạch tổng thể 31
2.2 Chuẩn bị nguồn lực 34
2.2.1 Cơ sở vật chất, trang thiết bị 34
2.2.2 Nhân lực ( Giảng viên và sinh viên) 34
2.3 Lựa chọn môn học, giảng viên, lớp học 35
2.3.1 Lựa chọn môn học chuyên ngành 35
2.3.2 Lựa chọn giảng viên 37
2.3.3 Lựa chọn lớp ứng dụng thử 38
Trang 42
2.4 Cài đặt phần mềm 39
2.5 Tập huấn giảng viên 39
2.5.1.Các bước tổ chức tập huấn 39
2.5.2 Tài liệu tập huấn 40
2.6 Chuẩn bị hồ sơ và tiến hành giảng thử 41
CHƯƠNG III: TỔNG KẾT ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT QUY TRÌNHỨNG DỤNG TRIỂN KHAI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY DỰA TRÊN BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀO MỘT SỐ MÔN CHUYÊN NGÀNH TẠI KHOA TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG 43
3.1.Tổng kết, đánh giá việc ứng dụng triển khai phương pháp giảng dạy dựa trên bản đồ tư duy vào một số môn chuyên ngành tại khoa Tài chính - Ngân hàng 43
3.1.1 Khảo sát và đánh giá trên bảng câu hỏi 43
3.1.2 Phỏng vấn giảng viên, sinh viên 50
3.1.3 Tổng hợp kết quả thi, kiểm tra, đánh giá 51
3.2 Đề xuất quy trình áp dụng phương pháp 52
3.2.1 Quy trình áp dụng 52
3.2.2 Điều kiện cần có để thực hiện quy trình 53
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
PHỤ LỤC 1 55
PHỤ LỤC 2 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Trang 53
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Bảng 1: Bảng Kế hoạch tổng thể 32
Bảng 2: Bảng kết quả điều tra 44
Bảng 3: Bảng tổng hợp tỉ lệ kết quả thi 51
Sơ đồ: Quy trình áp dụng phương pháp giảng dạy dựa trên BĐTD 52
Biểu đồ 1: Mức độ tập trung trong 60 phút học 19
Biểu đồ 2a: Hiệu quả học tập - foundationcoalition 19
Biểu đồ 2b: Hiệu quả học tập - EdgarDale 20
Biểu đồ 2c: Hiệu quả học tập - Daniel Sousa, Stice và một số người khác 20
Biểu đồ 3: Hiệu quả của chương trình đào tạo mang tính tương tác so với chương trình không tương tác - Nacy Tobler 21
Trang 75
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ nhiều năm nay, Việt Nam thường xuyên có những hội thảo về đổi mới phương pháp giảng dạytrong các trường học Một trong số các phương pháp áp dụng vào hệ thống trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông một cách hiệu quả
là phương pháp giảng dạy dựa trên bản đồ tư duy Tuy nhiên, đối với bậc học đại học, phương pháp giảng dạy hiệu quả này chưa thấy được áp dụng rộng rãi
Khoa Tài chính - Ngân hàng là một trong số các đơn vị mong muốn thực sự được đổi mới phương pháp giảng dạy, ứng dụng các phương pháp giảng dạy đại học hiện nay là tập trung vào kỹ năng tư duy phân tích, dạy cho người học cách hiểu các khái niệm, thảo luận theo phương pháp định sẵn, loại bỏ những hướng đi không đúng, tìm
ra câu trả lời đúng nhất Trong các ứng dụng đó, việc ứng dụng phương pháp giảng dạy dựa trên bản đồ tư duy là một trong số các ứng dụng để tăng hiệu quả trong việc giảng dạy của giảng viên và học tập của sinh viên nhằm nâng cao chất lượng đào tạo Phương pháp giảng dạy dựa trên bản đồ tư duy được các nhà nghiên cứu, các giáo viên nghiên cứu,trong đó có tài liệu tập huấn của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các
Sở giáo dục và đào tạo triển khai và áp dụng rộng rãi tại các cấp bậc đào tạo: mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông thông qua các sách dịch: Bản đồ
tư duy trong công việc;lập bản đồ tư duy, qua các phim tài liệu: Bản đồ tư duy - Hành trình kết nối và các tài liệu tập huấn khác
Nhiều công trình nghiên cứu áp dụng phương pháp này ở nhiều lĩnh vực khác nhau từ hoạch định kếhoạch tương lai, quản lý đến việc áp dụng tại các trường học một cách chung nhất về tác dụng và phần mềm sử dụng để tạo ra bản đồ tư duy, các
ấn phẩm sách đọc: Mind maps at work; How to mind map của Tony Buzan, các phần mềm sử dụng để tạo ra bản đồ tư duy: Imindmap, Freemind
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích về phương pháp giảng dạy dựa trên bản đồ tư duy đã đượctrình bày trong đề tài:"Xây dựng phương pháp giảng dạy dựa trên bản đồ tư duy ứng dụng cho một số môn chuyên ngành của khoa Tài chính Ngân hàng, Viện Đại học Mở Hà Nội”, áp dụng thử phương pháp này để có cơ sở đánh giá
Trang 86
hiệu quả về phương pháp đối với việc giảng dạy tại khoa Tài chính - Ngân hàng, đề xuất áp dụng phương pháp này nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
Đề tài nghiên cứu lý luận cơ bản về việc lựa chọn ứng dụng phương pháp giảng dạy dựa trên bản đồ tư duy và thực tế triển khai ứng dụng cho việc giảng dạy một môn chuyên ngành của khoa TCNH, Viện Đại học Mở Hà Nội
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp khảo sát thực tế
- Phương pháp định tính và định lượng
- Phương pháp tiếp cận quy trình, công nghệ
- Phương pháp phân tích tổng hợp thống kê
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 phần:
Chương I: Lý luận cơ bản về việc lựa chọn ứng dụng phương pháp giảng dạy
dựa trên bản đồ tư duy vào thực tế
Chương II: Triển khai áp dụng phương pháp giảng dạy dựa trên bản đồ tư duy
tại khoa Tài chính - Ngân hàng
Chương III: Tổng kết, đánh giá và đề xuất quy trình ứng dụng triển khai phương
pháp giảng dạy dựa trên bản đồ tư duy vào một số môn chuyên ngành tại khoa Tài chính - Ngân hàng.
Trang 97
PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY DỰA TRÊN BẢN ĐỒ TƯ DUY
1.1 Cơ sở lý luận
Quan niệm “học là quá trình biến đổi mình và làm phong phú mình bằng cách thu nhập và xử lý thông tin lấy từ môi trường xung quanh” Đây là việc giúp cho người học tự mình chiếm lĩnh những kiến thức, kỹ năng và hình thành hoặc biến đổi những tình cảm thái độ” Các quan niệm về dạy và học đó phù hợp với triết lý hướng
về người học của học chế tín chỉ Do đó phương pháp dạy và học phải bảo đảm thực hiện tốt cả phần nổi lẫn phần chìm của khối lượng lao động học tập
Phương pháp giảng dạy (PPGD) truyền thống là phương pháp mà trong đó chủ yếu là thầy nói - trò nghe Ngay tận thập niên 1990, phương pháp này vẫn đang chi phối mạnh ở các trường cao đẳng và đại học, kể cả ở Hoa Kỳ1 Sinh viên thường phải ngồi nghe liên tục trong một khoảng thời gian dài và học tập theo cách mà Freire gọi
là “giáo dục kiểu ngân hàng” 2 Trong phương pháp này, giảng viên dạy và sinh viên được dạy; giảng viên biết mọi thứ và sinh viên không biết gì; giảng viên suy nghĩ và sinh viên buộc phải nghĩ theo cách của giảng viên; giảng viên nói và sinh viên lắng nghe; giảng viên quyết định (chọn lựa) và sinh viên phải làm theo Nhìn chung, giảng viên là chủ thể còn sinh viên là khách thể của quá trình dạy - học Giảng viên quan tâm trước hết đến việc truyền đạt kiến thức, hướng đến mục tiêu làm cho sinh viên hiểu và ghi nhớ kiến thức Phương pháp này ít quan tâm đến việc phát triển tư duy, huấn luyện kỹ năng và rèn luyện thái độ cho người học Nó dẫn đến tình trạng hầu hết sinh viên học tập thụ động, ra trường không đáp ứng tốt yêu cầu công việc
1 Charles C Bonwell and James A Eison – 1991
2 Trong phương pháp “giáo dục kiểu ngân hàng”, thay vì truyền thông thì giảng viên lại đưa
ra những thông cáo và tạo thành những khoản gửi (như một tài khoản séc tại ngân hàng) để rồi sinh viên nhẫn nại tiếp nhận, ghi nhớ, và lập lại – Preire – 1970
Trang 108
Chickering và Gamson (1987) cho rằng để học tốt thì người học cần phải làm nhiều việc hơn là chỉ nghe một cách thụ động, cụ thể là phải đọc, viết, thảo luận, hoặc tham gia giải quyết vấn đề Tương tự như vậy, khi nghiên cứu tất cả các cấp độ học, Freire thấy rằng sinh viên học và giữ lại kiến thức nhiều hơn khi họ đóng vai trò thực sự trong quá trình và có cơ hội để nói, chia sẻ, tương tác, phản hồi,… Theo John Goodland, việc học tập mang tính hàn lâm là quá trừu tượng đối với hầu hết sinh viên, nên muốn học tốt thì sinh viên cần được “thấy, sờ, và ngửi” cái mà họ đọc và viết Còn Victor Weisskop thì cho rằng con người không thể học được bằng cách mang thông tin đẩy vào não họ, do đó chúng ta chỉ có thể dạy bằng cách duy nhất là tạo ra động lực hiểu biết
Những thông tin trên đây một mặt cho thấy sự hạn chế của phương pháp dạy học (PPGD) truyền thống; mặt khác đặt ra nhu cầu bức xúc phải chuyển đổi sang phương pháp mới, lôi cuốn sinh viên gia nhiều hơn trong quá trình dạy-học Những phương pháp mới đó, chúng ta tạm gọi là các PPGD tích cực
Trong giai đoạn đổi mới giáo dục Đại học ở nước ta hiện nay nội dung phương pháp dạy và học có những biến đổi lớn Nội dung bao quát là dạy cách học, phẩm chất cần phát huy mạnh mẽ là tính chủ động của người học, biện pháp cần khai thác triệt để là công nghệ thông tin và truyền thông mới Nói cách khác, PPGD trong thời
kỳ mới phải đáp ứng mục tiêu, nội dung phương pháp dạy và học sau đây:
Về mục tiêu và nội dung dạy và học ở đại học
- Trong thời kỳ đổi mới quá trình đào tạo ở các trường đại học nước ta phải cho ra sản phẩm như thế nào?
Bối cảnh quốc tế đã nêu trên làm cho triết lý về giáo dục cho thế kỷ XXI có những biến đổi sâu sắc, đó là lấy “ học thường xuyên suốt đời” làm nền móng, dựa trên các mục tiêu tổng quát, 4 trụ cột của việc học, là “ học để biết, học để làm, học để cùng sống với nhau và học để làm người”, nhằm hướng tới xây dựng một
“xã hội học tập”
Sản phẩm đào tạo của GDĐH nước ta sẽ hoạt động trong một nền kinh tế thị trường có tính quốc tế, và trong một khung cảnh hội nhập về văn hóa, giáo dục…Đặc điểm quan trọng nhất của nền kinh tế thị trường là cạnh tranh, đó là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển Như vậy sản phẩm đào tạo của GDĐH
Trang 119
nước ta phải vừa biết sống hòa hợp với cộng đồng dân tộc và quốc tế, vừa có năng lực cạnh tranh để tự khẳng định và phát triển Đó là những đòi hỏi quan trọng của thời kỳ mới đối với sản phẩm đào tạo đại học, cũng là những thách thức mới chưa bao giờ thể hiện rõ ở giai đoạn trước đây của GDĐH nước ta
- Trong bối cảnh mới của thời đại và xuất phát từ các triết lý mới về giáo dục, chúng ta hãy xác định mục tiêu đào tạo đối với sinh viên đại học nước ta
Hội nghị GDĐH trong thế kỷ tại Paris tháng 10/1998 đã đề ra những yêu cầu mới về năng lực của sinh viên tốt nghiệp Sau 5 năm triển khai các hoạt động GDĐH trên thế giới theo khuyến cáo của Hội nghị Paris, trong Báo cáo tổng hợp của UNESCO năm 2003 có phân tích rõ những thay đổi mạnh mẽ về bản chất và nhu cầu của thế giới việc làm, và trình bày khái quát các tiềm năng mà trường đại học cần tạo cho sinh viên sao cho họ có thể đương đầu với những đòi hỏi của xã hội tri thức Đó là:
i) Các tiềm năng để học tập, nghiên cứu [academic capacities] (dựa trên việc đào tạo chuyên môn, nhưng còn bao gồm tư duy phê phán, giải quyết vấn đề, có năng lực đổi mới tư duy [un-learn] và học lại [re-learn] trong suốt cuộc đời); ii) Các kỹ năng phát triển cá nhân gắn kết với xã hội (tự tin, quyết tâm cao, tôn trọng các giá trị đạo đức, hiểu biết rộng về xã hội và thế giới );
iii) Các kỹ năng sáng nghiệp [entrepreneurial skill] (các tiềm năng đáp ứng cả việc lãnh đạo và làm việc đồng đội, làm chủ công nghệ thông tin truyền thông và các công nghệ khác v.v )
Trên đây là những tiềm năng cần rèn luyện được để đáp ứng với đòi hỏi của thế giới việc làm trong thời kỳ mới, nhưng chúng không chỉ phản ánh mục tiêu học
để làm trong 4 trụ cột, mà còn phản ánh cả 3 mục tiêu này của việc học.Trên cơ sở các yêu cầu khái quát đối với sản phẩm đào tạo đại học mà UNESCO đã tổng kết, có thể cụ thể hóa mục tiêu đào tạo mới đối với sinh viên đại học nước ta và làm sáng tỏ hơn những khiếm khuyết cả về mặt quan niệm và hành động thực tế của đại học nước ta: Một là, trước hết có thể thấy rằng các trường đại học nước ta vốn thường lưu ý đến việc trang bị nhóm tiềm năng thứ nhất cho sinh viên mà không chú ý đúng mức đến hai nhóm tiềm năng sau Ngay trong nhóm tiềm năng thứ nhất, cách dạy và học hiện tại
ở nước ta thường cũng chỉ mới phát triển được các năng lực nhận thức cấp thấp, nhận
Trang 1210
biết (knowledge) và thông hiểu (comprehention), chưa tập trung đúng mức đến việc phát triển óc phê phán, khả năng giải quyết vấn đề Ngoài ra, sự phát triển thông tin và tri thức cực kỳ nhanh chóng, vòng đời của các loại công nghệ rất ngắn ngủi của thời đại kinh tế tri thức còn đòi hỏi phải nhấn mạnh ở đây khả năng đổi mới tư duy, xóa những nếp nghĩ sai trái đã học được trước đây thay thế bằng những tư duy nới (un-learn ) và luôn luôn bổ sung, cập nhận kiến thức mới (re-learn) Tất cả tiềm năng để học tập đã nêu
mà sinh viên rèn luyện được trong thời gian học đại học sẽ giúp cho việc học tập trong suốt cuộc đời họ, còn tri thức mà họ thu nhận được chỉ có thể sự dụng trong một thời gian ngắn Từ đó có thể thấy rõ cách học quan trong hơn nhiều so với kiến thức Hơn nữa, cần lưu ý thêm là họ biết cách học chưa đủ, mà họ phải tự tạo nên được thói quen và niềm say mê học suốt đời, tức là bản thân nhóm năng thứ nhất liên quan đến
cả tri thức cũng như thái độ mà sinh viên đạt đươc trong quá trình học tập
Hai là, nhóm tiềm năng thứ hai liên quan nhiều đến tính nhân văn của sản phẩm đào tạo; sản phẩm phải là những công dân – tri thức của đất nước, có phẩm chất và trách nhiệm công dân, có hiểu biết và tầm nhìn rộng đối với xã hội và thế giới Ở nước ta trong giai đoạn hiện tại trách nhiệm công dân này biểu hiện ở sự quyết tâm đóng góp vào việc đưa nước ta thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, “ sánh vai cường quốc năm châu” Trong quá trình đổi mới GDĐH ở nước ta từ thập niên 1990
đã có quy định về nội dung đào tạo ở cấp bậc đại học bao gồm hai mảng kiến thức : mảng kiến thức giáo dục đại cương và mảng kiến thức giáo dục chuyên nghiệp
Ba là, nhóm tiềm năng thứ 3 thể hiện rõ yêu cầu đối với một người hoạt động trong một nền kinh tế thị trường, cần các kỹ năng để khẳng định mình, để tồn tại, đồng thời để canh trạnh nhằm phát triển Cần hết sức lưu ý đến kỹ năng làm việc đồng đội và kỹ năng lãnh đạo, tức là khả năng thuyết phục đồng đội làm việc theo đề xuất của mình, khả năng hòa mình với đồng đội trong công việc Với các kỹ năng này sản phẩm đào tạo sẽ có nhiều thuận lợi khi tìm cho mình một việc làm thích hợp, lập nghiệp, cũng như khi tạo ra việc làm mới cho mình và cho nhiều người khác, tức là sáng nghiệp
Trang 1311
Về phương pháp dạy và học ở đại học
- Phù hợp với yêu cầu về mục tiêu và nội dung dạy và học đại học vừa phân tích trên, yêu cầu về phương pháp dạy học (PPGD) trong giai đoạn mới của GDĐH nước ta là gì?
Để trả lời câu hỏi này, cần phân tích sâu thêm về điều kiện công nghệ và phương tiện dạy học hiện nay Nhân loại đã từng sử dụng công nghệ và phương tiện vào việc dạy và học từ xa xưa, nhưng chưa bao giờ khoa học và công nghệ có những bước tiến phi thường như ngày nay Ở đây chỉ giới hạn nói về lĩnh vực công nghệ thông tin truyền thông, đặc biệt là công nghệ thông tin truyền thông mới ( gọi công nghệ thông tin truyền thông khi có tính đến mạng Internet), công nghệ phát triển nhanh nhất, tạo nên những thành tựu bất ngờ nhất, và trực tiếp khai sinh nền kinh tế tri thức.Với công nghệ thông tin truyền thông mới, một cuộc cách mạng giáo dục thật sự đang và sẽ xảy ra đối với nhân loại
Người ta thường nêu ra 3 định luật mô tả tốc độ phát triển và hiệu quả của công nghệ thông tin truyền thông mới: định luật Moore phát biểu rằng công suất của máy tính điện tử cứ tăng gấp đôi trong khoảng 18 tháng; định luật về dải truyền (bandwidth)khẳng định rằng dung năng truyền thông (bandwidth communication capacity) tăng gấp đôi trong vòng cỡ 12 tháng; định luật Metcalf cho biết giá trị của một máy tính tăng tỉ lệ với bình phương số máy tính đươc nối trong mạng Chính do đặc điểm của công nghệ thông tin truyền thông mới và tốc độ tăng trưởng của nó mà công nghệ đó tác động to lớn và toàn diện đến xã hội loài người, và hiển nhiên cũng tác động mạnh mẽ trưc tiếp đến giáo dục Trong tình huống đó, không có cách nào khác là chỉ trang bị kiến thức nền tảng, kỹ năng cơ bản và dạy cách học cho sinh viên, tạo cho họ khả năng, thói quen
và niềm say mê học tập suốt đời
- Với yêu cầu vừa nêu trên về nội dung và phương pháp dạy và học ở đại học nước
ta ngày nay, cần lựa chọn phương pháp nào để dạy và học?
Phương pháp dạy và học thường có rất nhiều và rất đa dạng Tuy nhiên, PPGD được coi là tích cực hiện nay phải hướng đến 3 tiêu chí sau đây:
Trang 1412
Một là, trước hết cần quan niệm việc DẠY CÁCH HỌC, HỌC CÁCH HỌC để tạo thói quen, niềm say mê và khả năng học suốt đời là tiêu chí bao quát nhất của việc dạy và học ở đại học Mọi phương pháp dạy, phương pháp học, nội dung cần dạy, nội dung cần học đều phải xuất phát từ đó
Hai là, tính CHỦ ĐỘNG CỦA NGƯỜI HỌC là tiêu chí về phẩm chất quan trọng cần tập trung phát huy khi dạy và học ở đại học Trong những năm gần đây các nhà sư phạm trên thế giới và ở nước ta thường bàn đến các quan điểm sư phạm các cách tiếp cận trong việc dạy và học Cách tiếp cận lấy người học làm trung tâm hoặc hướng vào người học được nhiều người tán thưởng Khi nói đến quan điểm lấy người học làm trung tâm nguyên tắc quan trọng nhất là phát huy tính chủ động của người học.Người thầy trong quan niệm này ở vị trí ẩn, tác động bằng cách giúp người học chọn nhập và xử lý thông tin
Khi nói về phương pháp sư phạm tương tác, người ta thường nêu 3 tác nhân mà phương pháp đó quan tâm: người học, người dạy và môi trường Họ nhấn mạnh: người học là người đi học chứ không phải là người được dạy (tính tự nguyện và chủ động), nhiệm vụ của người dạy là giúp đỡ người học, phục vụ người học để làm nảy sinh tri thức ở người học, còn môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh
và bên trong người học là tác nhân quan trọng ảnh hưởng đến việc dạy và học Ngoài ra, so với cách tiếp cận thông tin đã nêu trên, môi trường ở đây chính là nơi chứa thông tin Với cách hiểu như vậy quan niệm sư phạm tương tác không mâu thuẫn với các quan niệm lấy người học làm trung tâm, mà chỉ nhấn mạnh hơn vai trò của tương tác, tức là cho thấy rõ tính chất động của quá trình dạy và học Trong quá trình giảng dạy, bản thân việc tăng sự tương tác cũng thúc đẩy tính chủ động của người học
Với các quan niệm dạy và học vừa nêu, có thể mô tả bằng sơ đồ dưới đây mối quan hệ giữa các yếu tố quan trọng nhất trong quá trình dạy và học: mục tiêu, nội dung, phương pháp Nếu coi 3 yếu tố Mục tiêu (MT), Nội dung (ND), Phương pháp (PP) là 3 đỉnh của một tam giac thì cả ba yếu tố đó có tương quan với nhau và đều hướng vào cái mục đích chung là người học, “ lấy người học làm trung tâm ” : Qua những lý giải trên đây, chúng ta có thể thấy sự vận động của nhân tố người học là rất quan trọng nhất để làm cho hoạt động HỌC thật sự được diễn ra và nâng
Trang 1513
cao hiệu quả của quá trình dạy và học Đó là lý do vì sao chúng tôi muốn nêu việc phát huy tính CHỦ ĐỘNG của người học là nguyên tắc quan trọng nhất của quá trình dạy và học ở đại học
Ba là, trong thờiđại hiện nay CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG MỚI là tiêu chí về công cụ quan trọng cần triệt để khai thác khi dạy và học ở đại học
Sử dụng công nghệ trong dạy và học là chuyện bình thường trước đây, vậy tại sao ngày nay người ta lại rất nhấn mạnh đến việc sử dụng công nghệ mới? Trước hết, như đã nêu trước đây, chúng ta đang sống trong thời đại mà khối lượng thông tin và tri thức tăng nhanh theo hàm mũ, đó là hệ quả của sự tiến bộ nhảy vọt của công nghệ thông tin truyền thông mới Trong khung cảnh đó, cũng chính công nghệ thông tin truyền thông mới có thể giúp con người chọn nhập và xử lý thông tin nhanh chóng để biến thành tri thức Ngoài ra, công nghệ mới là một khía cạnh văn hóa của thế giới mới, và như mọi thứ văn hóa, nó sẽ được tiếp nhận tốt nhất ở tuổi trẻ, nó giúp cho người học định hướng tư duy và thái độ của mình trong thời
kỳ mới Từ đó cần qua dạy và học làm cho thế hệ trẻ nhanh chóng làm quen và sử dụng công nghệ mới một cách đúng đắn, để hình thành phong cách văn hóa mới
Bản chất của phương pháp giảng dạy tích cực
Thực ra, xét đến cùng thì tất cả các PPGD đều có thể ẩn chứa những hoạt động mang tính tích cực của nó Tuy nhiên, để trở thành một phương pháp mà yếu tố tích cực trở thành nét đặc trưng thì hầu hết các nhà nghiên cứu đều đề cập đến mức độ tham gia của sinh viên trong quá trình học tập 3 Phải thực sự xem người học là trung tâm, là chủ thể của hoạt động “học” Muốn vậy cần phải:
- Đa dạng hóa các PPGD
- Giảm thời lượng thuyết giảng và tăng thời lượng hoạt động của người học
- Tạo sự tương tác cao giữa người dạy và người học, giữa người học với nhau
- Khuyến khích tư duy độc lập và sáng tạo, xóa bỏ lối áp đặt kiến thức theo kiểu giáo điều
3 Fern et al 1993; McKinney – 2007; Brody – 2009; Charles C Bonwell and James A 199i; Bonwell, C., and Eison, J., – 1991
Trang 16a Khái niệm Bản đồ tư duy
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Bản đồ tư duy (Mindmap) là phương pháp được đưa ra như là một phương tiện mạnh để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp, hay để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh Khác với máy tính, ngoài khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính (ghi nhớ theo 1 trình tự nhất định chẳng hạn như trình tự biến cố xuất hiện của 1 câu truyện) thì não bộ còn có khả năng liên lạc, liên hệ các dữ kiện với nhau Phương pháp này khai thác cả hai khả năng này của
bộ não”
Phương pháp này có lẽ đã được nhiều người Việt biết đến nhưng nó chưa được
hệ thống hóa và được nghiên cứu kĩ lưỡng và phổ biến chính thức trong nước mà chỉ được dùng tản mạn trong giới sinh viên học sinh trước các mùa thi
Đây là một kĩ thuật để nâng cao cách ghi chép Bằng cách dùng giản đồ ý, tổng thể của vấn đề được chỉ ra dưới dạng một hình trong đó các đối tượng thì liên hệ với nhau bằng các đường nối Với cách thức đó, các dữ liệu được ghi nhớ và nhìn nhận dễ dàng và nhanh chóng hơn
Thay vì dùng chữ viết để miêu tả một chiều biểu thị toàn bộ cấu trúc chi tiết của một đối tượng bằng hình ảnh hai chiều Nó chỉ ra dạng thức của đối tượng, sự quan hệ hỗ tương giữa các khái niệm (hay ý) có liên quan và cách liên hệ giữa chúng với nhau bên trong của một vấn đề lớn
4 Theo Bloom, có 6 mức độ nhận thức từ thấp đến cao: biết (knowledge), hiểu (comprehension),
áp dụng (application), phân tích (analysis), tổng hợp (synthesis), đánh giá (evaluation) Trong đó, phân tích, tổng hợp và đánh giá được xem là nhận thức bậc cao.
Trang 1715
Theo Tony Buzan, người đầu tiên tìm hiểu và sáng tạo ra BĐTD thì: “BĐTD
là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Ở giữa bản đồ là một ý tưởng hay một hình ảnh trung tâm Ý tưởng hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho các ý chính và đều được nối với các ý trung tâm Với phương thức tiến dần từ trung tâm ra xung quanh, BĐTD khiến tư duy con người cũng phải hoạt động tương tự Từ đó các ý tưởng của con người sẽ phát triển”
Như vậy, có thể đi đến một khái niệm chung nhất về BĐTD là: “BĐTD (MindMap) là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức,… bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực Đặc biệt đây
là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể “thể hiện”
nó dưới dạng BĐTD theo một cách riêng Do đó, việc lập BĐTD phát huy được tối
đa khả năng sáng tạo của mỗi người”
b Phương pháp giảng dạy dựa trên BĐTD
BĐTD được nghiên cứu ở nhiều nước và được triển khai ở nhiều nước trên thế giới Ở Việt Nam, PPGD bằng BĐTD do nhóm tác giả TS Trần Đình Châu và Nhà giáo Ưu tú-TS Đặng Thị Thu Thủy nghiên cứu trên cơ sở tiếp thu phát triển ý tưởng tiên tiến của quốc tế và kinh nghiệm giáo dục trong nước
Với đề xuất có cơ sở khoa học của nhóm tác giả trên, phương pháp giáo dục bằng BĐTD đã từng bước được triển khai, mở rộng tập huấn áp dụng rộng rãi, linh hoạt trong vài năm gần đây cùng với các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực khác ở hệ thống gần 10.000 trường THCS trong cả nước và sau đó áp dụng vào bậc học THCS ở 64 vùng miền Nhiều Sở, Phòng giáo dục đã có văn bản chỉ đạo chọn BĐTD là bước “đột phá” về tổ chức hoạt động dạy học, đổi mới công tác quản lý nhà trường bởi phương pháp này dễ triển khai, rất tiết kiệm mà hiệu quả Người học học bài, tự học, ôn tập, hoạt động nhóm sẽ rất hấp dẫn, góp phần giáo dục toàn diện, phát triển “đa trí tuệ” cho người học Tuy nhiên, PPGD dựa trên BĐTD chưa được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi ở bậc đại học
Trang 1816
Trong tài liệu tập huấn của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai tập huấn PPGD dựa trên BĐTD thông qua các hoạt động dạy và học như sau:
- Để hỗ trợ giảng dạy kiến thức mới:
+ Hoạt động 1: Giáo viên giao nhiệm vụ, gợi ý; người học vẽ BĐTD mô tả kiến thức
+ Hoạt động 2: Người học báo cáo, thuyết minh sản phẩm;
+ Hoạt động 3: Thảo luận, chỉnh sửa, bổ sung; dẫn dắt kiến thức mới
+ Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng 1 BĐTD hoàn chỉnh, hấp dẫn
Sản phẩm: “kiếnthức + hội họa” là thành quả lao động của người học => Tạo hứng thú học tập
- Để củng cố kiến thức sau tiết học:
+ Hoạt động 1: Giáo viên giao nhiệm vụ, gợi ý; người học vẽ BĐTD với “từ khóa
+ Hoạt động 2: Người học báo cáo, thuyết minh sản phẩm;
+ Hoạt động 3: Thảo luận, chỉnh sửa, bổ sung; chốt lại
+ Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng 1 BĐTD hoàn chỉnh, hấp dẫn
- Ôn tập, hệ thống hóa kiến thức chương:
+ Hoạt động 1: GV giao nhiệm vụ, gợi ý; người học vẽ BĐTD với “từ khóa chính
+ Hoạt động 2: Người học báo cáo, thuyết minh sản phẩm;
+ Hoạt động 3: Thảo luận, chỉnh sửa, bổ sung; chốt lại
+ Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng 1 BĐTD hoàn chỉnh, hấp dẫn
Với PPGD dựa trên BĐTD, điều quan trọng nhất là người thầy chỉ ra con đường mà sinh viên sẽ đi, cách đi trên con đường đó, còn người sinh viên có thể đi trên con đường đó hoặc tìm ra con đường mới trong suốt quá trình học một học phần Người thầy đi sâu vào bản chất của các khái niệm ban đầu của từng chương, từng bài, nhắc lại những kiến thức là nền tảng để hình thành nên những khái niệm đó Điều này
sẽ làm cho sinh viên định hướng được cái phải phát triển từ những cái đã biết Người thầy giúp cho sinh viên hình dung ra những khái niệm ban đầu là gì? Sau đó, chỉ ra cái đích phải đi tới, cũng như cách đi thông qua những kiến thức cũ và cuối cùng, tự tìm, tự học để hiểu được vấn đề cốt lõi của học phần
Trang 1917
PPGD dựa trên BĐTD có thể trình bày kiểu nêu vấn đề, thuật chuyện, mô tả phân tích, Trong qúa trình trình bày bài giảng, giảng viên có thể diễn đạt vấn đề dưới dạng nghi vấn, gợi mở để gây tình huống lôi cuốn sự chú ý của người học thông qua một tình huống có vấn đề từ một nhánh bất kỳ hoặc là một chủ đề lớn bất kỳ được xây dựng trên BĐTD Giảng viên có thể dẫn dắt vấn đề để sinh viên phát huy trí tưởng tượng của mình, tổng hợp trí tuệ để hiểu hoặc giải quyết tình huống có vấn
đề đó
Giảng viên có thể thông qua những sự kiện kinh tế - xã hội, những câu chuyện hoặc tác phẩm văn học, phim ảnh… từ một nhánh của BĐTD hoặc từ một từ khóa chính trong BĐTD làm tư liệu để phân tích, minh họa, khái quát và rút ra nhận xét, kết luận nhằm xây dựng biểu tượng, khắc sâu nội dung kiến thức của bài học
Có thể dùng công thức, sơ đồ, biểu mẫu…làm từ khóa chính để mô tả phân tích nhằm chỉ ra những đặc điểm, khía cạnh của từng nội dung Trên cơ sở đó đưa ra những chứng cứ lôgíc, lập luận chặt chẽ để làm rõ bản chất của vấn đề
Với BĐTD, giảng viên có thể đưa ra 2 hình ảnh hoặc 2 đồ vật hay 2 tình huống có vấn đề nào chứa đựng những mặt tương phản, sau đó so sánh, tổng hợp, để
so sánh từng mặt, thuộc tính hoặc quan hệ giữa hai đối tượng đối lập nhau nhằm rút
ra kết luận cho từng tiêu chí so sánh Với 2 nhánh tương phản trên BĐTD cũng góp phần làm tăng tính chính xác, rõ ràng và tính thuyết phục của vấn đề
Hiện nay, bài giảng hiện đại đang có khuynh hướng sử dụng ngày càng nhiều các phương tiện công nghệ thông tin, làm tăng sức hấp dẫn và hiệu quả Trước đây,
để minh họa nội dung bài giảng, giảng viên chỉ có thể sử dụng lời nói giàu hình tượng và gợi cảm kèm theo những cử chỉ, điệu bộ diễn tả nội tâm hoặc có thêm bộ tranh giáo khoa hỗ trợ Ngày nay có cả một loạt phương tiện để giảngviên lựa chọn
sử dụng như: máy chiếu, băng ghi âm, băng ghi hình, đĩa CD, phần mềm máy vi tính Tiến tới mọi giảng viên phải có khả năng soạn bài giảng trên máy vi tính được nối mạng, biết sử dụng đầu máy đa năng để thực hiện bài giảng của mình một cách sinh động, hiệu qủa, phát huy cao nhất tính tích cực học tập của người học PPGDdựa trên BĐTD giảng viên cũng có thể dùng máy tính để soạn bài giảng và đưa vào đó audio, video, hình ảnh, nội dung chữ của một tình huống có vấn đề nào đó để dẫn dắt sinh viên đến với mức độ tư duy cao hơn hoặc để chứng minh, làm sáng tỏ hoặc
Trang 2018
để sinh viên tận mắt thấy hình ảnh của một vấn đề nào đó giảng viên cần trình bày.PPGD dựa trên BĐTD sẽ giúp người học sử dụng sức mạnh của não bộ để tư duy, ghi nhớ Đặc biệt, khi chúng ta đã tự thiết kế, tự ghi chép bằng giấy và bút màu thì hiểu sâu hơn vì đã biết chuyển kiến thức từ giáo trình thành cách hiểu của riêng mình
Có thể đưa ra 4 lý do chính để lựa chọn PPGD dựa trên BĐTD trong rất nhiều các PPGD tích cực hiện nay như sau:
Một là,PPGD dựa trên BĐTDsẽ tạo điều kiện và lôi cuốn người học chủ động trong học tập Tính chủ động cao là tiền đề cho sự hình thành khả năng tư duy độc lập Tư duy độc lập là mầm móng của sáng tạo
Hai là,PPGD dựa trênBĐTDgiúp nâng cao hiệu quả học tập nhờ vào việc giảm thời lượng thuyết giảng
Thực vậy, công trình nghiên cứu của Russell, Hendricson và Herbert (1984) chỉ ra rằng: sinh viên học và lưu lại thông tin bài giảng tốt hơn khi mật độ thông tin cung cấp ở mức thấp (so với mức trung bình và mức cao trong thí nghiệm) Hàm ý
ở đây là lượng thông tin mới mà sinh viên có thể học được trong một khoảng thời gian là có giới hạn, và chính giảng viên phá vỡ mục đích của mình khi vượt quá giới hạn đó
Tiếp theo là công trình nghiên cứu nổi tiếng của Ruhl, Hughes, và Schloss
(1987) đã đi đến một kết luận bất ngờ: nếu giảng viên nói ít thì sinh viên có thể học
viên khi cho rằng việc học của sinh viên sẽ tốt hơn nếu giảng viên nói nhiều và cung cấp nhiều thông tin hơn
Trang 2119
Biểu đồ 1: Mức độ tập trung trong 60
phút học
Biểu đồ 2a: Hiệu quả học tập - foundationcoalition
Nếu xét về mức độ tập trung chú ý của sinh viên, công trình nghiên cứu của Wilbert Mc Keachie cho thấy: giảng dạy theo phương pháp tích cực thì độ tập trung chú ý giữ ở mức cao (75%) suốt 60 phút Trong khi đó, giảng dạy theo phương pháp thuyết giảng kiểu truyền thống thì độ tập trung chỉ đạt mức cao (75%) trong vòng 20 phút, sau đó sẽ giảm dần một cách nhanh chóng (biểu đồ 1) Như vậy, với lối giảng dạy truyền thống, chúng ta đang đi ngược lại mục tiêu của chính mình bởi lẽ giảng viên nói quá nhiều làm cho sinh viên học được quá ít Trong những lớp học đông sinh viên, theo kết quả nghiên cứu của Lewis và Woodward (1984) thì giảng viên nói đến hơn 88% thời gian trên lớp, sự im lặng chiếm hơn 6%, và thời gian dành cho sinh viên nói chỉ chiếm hơn 5% Điều này thuyết phục chúng ta cần phải nhanh chóng thực hiện PPGD tích cực: giảng viên nói ít hơn và sinh viên làm nhiều hơn
Ba là,PPGD dựa trên BĐTDsẽ giúp nâng cao hiệu quả tiếp thu kiến thức nhờ vào sự tương tác và đa dạng hóa các loại hình hoạt động
- Lưu giữ kiến thức là yếu tố quan trọng của việc học tập Một số công trình nghiên cứu 5 về tỷ lệ lưu giữ kiến thức từ các phương pháp học tập đã thu được những kết quả hết sức ấn tượng về hiệu quả của PPGD tích cực (xem các biểu đồ 2a, 2b, 2c)
5 Foundationcoalition; Edgar Dale, Daniel Sousa, Stice và một số người khác
Trang 2220
DanielSousa, Stice và một số người khác
Mặc dù kết quả đưa ra trong 3 biểu đồ có khác biệt chút ít, nhưng ý tưởng chung mà ta có thể dễ dàng nhận thấy là:
- Với lối học thụ động (nghe giảng, đọc, nhìn), sinh viên học được nhiều nhất là 50% lượng kiến thức Trong đó, nếu chỉ có lý thuyết giảng suông thì mức độ tiếp thu kiến thức hết sức thấp Điều này phần nào giải thích được vì sao PPGD truyền thống không mang lại hiệu quả cao
Với PPGD dựa trên BĐTD, nhấn mạnh sự tham gia của sinh viên vào quá trình dưới nhiều hình thức, lôi cuốn sinh viên chủ động trong học tập, thì kết quả khác biệt hết sức rõ ràng: có thể đạt được mức độ tiếp thu kiến thức lên đến 90% Bốn là,PPGD dựa trên BĐTD giúp xây dựng thái độ và phát triển tốt kỹ năng, nhất là kỹ năng mềm
Càng ngày người ta càng nhận ra tầm quan trọng của thái độ và kỹ năng đối với công việc cũng như đối với sự thành công của mỗi cá nhân, nhất là trong xu thế phát triển mới của thế kỷ XXI Theo nhận định của Đại học Michigan, đa số sinh viên có khuynh hướng nghĩ rằng một mức điểm trung bình cao và một mảnh bằng trong tay sẽ bảo đảm sự thành công trong nghề nghiệp, nhưng thực tế thì bất cứ ai trong thế giới công việc đều biết rằng chỉ có kỹ năng và tính cách mới bảo đảm sự thành công6
6 USA Today 10/6/2004
Trang 23tế không có lối thoát trong dài hạn” 8
Trong khi đó, PPGD truyền thống chỉ cung cấp được kỹ năng cứng, hoàn toàn không quan tâm đến kỹ năng mềm Ngược lại, trong PPGD dựa trên BĐTD, nhờ vào các hoạt động mà sinh viên được tham gia, có thể phát triển rất tốt thái độ cũng như kỹ năng mềm Biểu đồ 3 là kết quả khảo sát của Nacy Tobler, cho thấy hiệu quả của các chương trình đào tạo mang tính tương tác cao (PPGD tích cực): cả kiến thức, tư duy và thái độ trong những chương trình tương tác đều có sự thay đổi mạnh mẽ so với chương trình không tương tác, nhất là về kỹ năng Tóm lạiPPGD dựa trên BĐTD là một trong các PPGD tích cực mang lại hiệu quả học tập cao hơn rất nhiều so với phương pháp thuyết giảng truyền thống Giảng viên nói ít lại, dành nhiều thời gian cho việc lôi cuốn sinh viên vào các hoạt động đa dạng trong lớp cũng như ngoài lớp học Về phía sinh viên, chỉ trên cơ sở tham gia, trải nghiệm, họ mới có thể thực sự thấu hiểu và tạo dựng nhận thức cho chính mình
Có lẽ vì vậy mà Howard Hendricks đã khẳng định: “tối đa hóa việc học tập luôn luôn
là kết quả của việc tối đa hóa sự lôi cuốn” 9
7 Theo Jessica Holbrook – 2009, kỹ năng mềm (soft skills) là thuật ngữ dùng để chỉ tính cách
và các kỹ năng của con người mà không dễ đo lường hay lượng hóa được Các nhà nghiên cứu đã liệt kê rất nhiều kỹ năng dạng này, chẳng hạn như: làm việc nhóm, truyền thông (nói
và viết), giao tiếp cá nhân, tư duy phản biện, giải quyết vấn đề, và nhiều kỹ năng khác nữa
8 Teaching the New Basic Skills from Harvard’s Graduate School of Education
9 The 7 laws of the teacher
Biểu đồ 5: Hiệu quả của chương trình
đào tạo mang tính tương tác so với
chương trình không tương tác - Nacy
Tobler
Trang 2422
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tổng quan chung về Viện Đại học Mở Hà Nội
a Khái quát về Viện Đại học Mở Hà Nội
Viện Đại học Mở Hà Nội được thành lập ngày 03/11/1993 theo Quyết định số 535/TTg của Thủ tướng Chính phủ, là một trong những trường đại học công lập hoạt động trong hệ thống các trường đại học quốc gia do Bộ giáo dục và Đào tạo trực tiếp quản lý Viện Đại học Mở Hà Nội là cơ sở đào tạo đại học và nghiên cứu với các loại hình đào tạo từ xa, đào tạo tại chỗ nhằm đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của xã hội, góp phần tăng tiềm lực cán bộ khoa học , kỹ thuật cho đất nước Trường là đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng
Nhiệm vụ của trường là đào tạo cán bộ có trình độ đại học và sau đại học
phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực và đất nước Triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học (NCKH), ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên và xã hội phục vụ cho sự phát triển kinh tế -
xã hội của khu vực và đất nước Trường thực hiện nhiệm vụ quản lý đào tạo, NCKH, tổ chức cán bộ, cơ sở vật chất và các mặt công tác khác của trường theo quy định của Nhà nước, Bộ GD&ĐT và sự phân cấp của Viện Đại học Mở Hà Nội; Là đơn vị tự chủ về mặt tài chính
Sau hơn 20 năm xây dựng và phát triển, hiện nay Viện Đại học Mở Hà Nội đang đào tạo các loại hình cấp bậc sau:
- Đào tạo thạc sỹ 7 chuyên ngành: Kỹ thuật điện tử, Quản trị kinh doanh, Ngôn ngữ Anh, Công nghệ sinh học, Luật kinh tế, Công nghệ thông tin, Kỹ thuật viễn thông
- Đạo tạo ĐH chính quy 12 ngành: Quản trị kinh doanh (3 chuyên ngành): QTKD; QTKD DL; KS; HD DL, Kế toán, Ngôn ngữ Anh, Ngôn ngữ Trung Quốc, Công nghệ thông tin, Tin học ứng dụng, Công nghệ sinh học, Công nghệ Kỹ thuật Điện tử-Truyền thông, Kiến trúc, Thiết kế công nghiệp (3 chuyên ngành): Đồ họa; Nội thất; Thời trang, Tài chính-Ngân hàng, Luật Kinh tế, Luật Quốc tế
- Đào tạo Đại học từ xa 7 ngành: Quản trị kinh doanh, Kế toán, Ngôn ngữ Anh, Công nghệ thông tin, Công nghệ Kỹ thuật Điện tử-Truyền thông, Tài chính-Ngân hàng, Luật Kinh tế
Trang 2523
- Đào tạo trực tuyến (E-learning) 5 ngành: QTKD, Kế toán, CNTT; TC-NH và Luật kinh tế
- Đào tạo Bằng đại học thứ 2 (3 ngành): Luật Kinh tế, Ngôn ngữ Anh, Kế toán
- Hệ VLVH 10 chuyên ngành: Quản trị kinh doanh, Kế toán, Ngôn ngữ Anh, Công nghệ thông tin, Điện tử viễn thông, Quản trị Du lịch-khách sạn, Thiết kế Nội thất, Thiết kế Thời trang, Thiết kế Đồ họa, Luật Kinh tế
- Đào tạo Liên thông và Hoàn chỉnh kiến thức 6 ngành: Quản trị kinh doanh, Kế toán, Công nghệ thông tin, Điện tử viễn thông, Ngôn ngữ Anh, Công nghệ sinh học
- Đào tạo song bằng (3 ngành): Quản trị kinh doanh, Kế toán, Ngôn ngữ Anh
- Đào tạo cấp chứng chỉ hướng dẫn viên Du lịch, Kế toán trưởng…
Trong những giai đoạn tiếp theo Viện Đại học Mở Hà Nội vẫn tiếp tục thực hiện loại hình đào tạo đa dạng, tăng cao quy mô loại hình đào tạo từ xa, mở thêm các ngành học theo yêu cầu của xã hội Chú trọng chất lượng đào tạo song song với việc
mở rộng quy mô, thực hiện nghiêm túc các quy chế, chủ trương của Bộ giáo dục và Đào tạo về đào tạo Cải tiến nội dung chương trình đào tạo, công nghệ đào tạo, đặc biệt là đào tạo từ xa nhằm đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của xã hội Đổi mới công nghệ đào tạo theo hướng ứng dụng công nghệ truyền thông- tin học cho tất cả các loại hình đào tạo Phát triển đào tạo từ xa, công nghệ đào tạo từ xa tạo ra nét đặc thù của Viện Đại học Mở Hà Nội Mở rộng hợp tác với các trường đại học trong khu vực và quốc
tế thực hiện các Chương trình Hợp tác Đào tạo Quốc tế nhằm đẩy mạnh giao lưu, tiếp thu và nâng cao chất lượng đào tạo, nâng cao vị thế của Đại học Mở Hà Nội Phát triển mối quan hệ truyền thống với các trường Đại học Mở trong khu vực với nhiều hình thức hợp tác: trao đổi thông tin, nghiên cứu khoa học, tổ chức seminar, hội nghị, hội thảo, dự án,… Phát huy vai trò của Đại học Mở Hà Nội trong Hiệp hội các trường Đại học Mở châu Á(AAOU)
Viện Đại học Mở Hà Nội hiện nay đã đổi mới phương pháp giảng dạy đó là chuyển sang đào tạo theo học chế tín chỉ Việc đổi mới này không phải do yêu cầu của học chế tín chỉ mà xuất phát từ triết lý, chuẩn mực mới của nền giáo dục hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội là “Đào tạo ra người lao động chất lượng cao, có tính
tự chủ, năng động và tinh thần sáng tạo” Năm 2011, Viện đã chọn hai khoa (Công nghệ thông tin và Du lịch) làm thí điểm trước khi đào tạo theo học chế tín chỉ áp
Trang 2624
dụng cho toàn bộ các đơn vị đào tạo trong Viện như hiện nay Đến nay, Viện Đại học
Mở Hà Nội đã thực hiện các phương pháp giảng dạy mới, tuy nhiên cần lưu ý thêm:
- Mục tiêu dạy học tập trung vào tính chủ động của người học trong đào tạo tín chỉ, tác động của giảng viên với sinh viên không chỉ qua phương pháp thuyết giảng tri thứcmà cần được thể hiện qua hệ thống các phương pháp dạy học đa dạng, khuyến khích sinh viên tự học, tự nghiên cứu
- Giảng viên cần chú trọng đến thực hành, phương pháp giải quyết vấn đề, làm việc theo nhóm, nghiên cứu khoa học giúp cho sinh viên có được phương pháp học tập
và năng lực cần thiết cho công việc tương lai
b Cơ sở vật chất và trang thiết bị của nhà trường
Viện có trụ sở làm việc tại Nhà B 101, Nguyễn Hiền, Bách Khoa, Hai Bà Trưng, Hà Nội với diện tích đất Viện được cấp còn ở mức hết sức khiêm tốn: 1962m2, nên Viện chỉ đặt các phòng ban để làm việc Các Khoa phải đi thuê địa điểm làm cơ sở đào tạo rải rác nhiều nơi trong nội thành Hà Nội để làm cơ sở học tập cho sinh viên Để phục vụ tốt công tác dạy và học, Viện không ngừng cải thiện môi trường học đường, nâng cấp trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập cho sinh viên, đầu tư hàng ngàn máy vi tính nối mạng, thư viện điện tử, máy chiếu, băng tiếng, băng hình, học liệu cần thiết khác cung cấp cho sinh viên học tập Với mục tiêu mở rộng và phát triển, Viện đã xây dựng Phương hướng và lộ trình đầu tư xây dựng cơ
sở vật chất Viện đã lập kế hoạch trình UBND tỉnh Vĩnh Phúc cho tổ chức khảo sát, lập Đề án xây dựng Viện Đại học Mở Hà Nội giai đoạn I Làm thủ tục xin và đã được
Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh phúc đồng ý cấp đất xây dựng Viện Đại học Mở Hà Nội tại khu quy hoạch các trường Đại học tại tỉnh Vĩnh phúc Viện đang tích cực xúc tiến
để Đề án sớm trở thànhhiện thực
Về tài chính, Viện Đại học Mở Hà Nội là đơn vị được Bộ giao quyền tự chủ
do vậy nguồn kinh phí chủ yếu dựa vào nguồn thu từ học phí và lệ phí Trong những năm qua, mặc dù có những khó khăn nhưng Viện đã thực hiện các hoạt động có hiệu quả, chấp hành nghiêm chỉnh các quy định tài chính của Nhà nước, thực hiện tài chính lành mạnh và đã có những tích lũy để phát triển Viện
Trong năm học qua, Viện đã sử dụng 21.000m2 diện tích phòng học phục vụ cho đào tạo, bình quân diện tích phòng học là 1,5m2/1SV chính quy Số phòng thí
Trang 2725
nghiệm và phòng máy thực hành là 29 phòng (1638 m2) Hệ thống thư viện có 24.464 đầu sách, 46.761 bản (sách bản cứng) Thư viện số có 6.642 bản Diện tích 1600m2bao gồm thư viện của trường, thư viện chuyên ngành của các Khoa và thư viện tại 14
cơ sở liên kết Viện đã có thư viện điện tử, có phòng máy sử dụng internet miễn phí phục vụ sinh viên Tổng số máy tính toàn Viện là 673, trong đó dùng cho hệ thống văn phòng làm việc là 154, dùng cho sinh viên học tập là 519 Viện đã hỗ trợ cho 14 đơn vị liên kết (có lượng học viên quy mô trên 1000) máy tính, sách, ấn phẩm… để xây dựng thư viện phục vụ học viên hệ Từ xa của Viện tại các trung tâm: Ninh Bình, Thái Bình, Nghệ An, Bắc Ninh 1,2, Đông Anh, Nam Định, Hải Phòng, Quảng Ninh…Thiết bị phục vụ đào tạo khác được đầu tư đúng mức, đáp ứng được nhu cầu giảng dạy và học tập Trụ sở chính của Viện được nâng cấp và đảm bảo điều kiện làm việc của khối văn phòng Công tác tin học hoá quản lý, hệ thống thông tin được triển khai hoạt động hiệu quả tốt
Một trong những khó khăn lớn nhất từ khi thành lập đến nay của Viện là chưa
có cơ sở đào tạo tập trung và ổn định Các khoa phải đi thuê địa điểm để tổ chức học tập và làm việc nên môi trường học đường chưa đạt chuẩn, kinh phí thuê hàng năm khoảng 15 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn so với nguồn thu học phí
Để đảm bảo quy định về diện tích phòng học và nâng cao chất lượng đào tạo, năm học mới Viện cần tăng thuê thêm diện tích để các khoa có thêm giảng đường phục vụ đào tạo theo hệ thống tín chỉ; đầu tư thêm trang thiết bị giảng dạy và học tập; tìm kiếm địa điểm có diện tích tương đối lớn để có thể tập trung được nhiều khoa, nhằm khai thác hiệu quả cơ sở vật chất phục vụ công tác đào tạo và thuận tiện cho công tác kiểm tra giám sát
c Đội ngũ cán bộ giảng viên và sinh viên của nhà trường
* Đội ngũ cán bộ giảng viên
Bộ máy tổ chức của Viện có: 7 phòng chức năng, 12 Khoa chuyên môn và 10 Trung tâm, Bộ môn trực thuộc Để đáp ứng được nhu cầu phát triển, Viện luôn quan tâm đến việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên từng bước trẻ hóa đội ngũ Số cán bộ có trình độ Thạc sĩ, Tiến sĩ ngày càng đông Đội ngũ viên chức của Viện diện cơ hữu: 342 người, giảng viên 213 người (chiếm 61,7%), 120 chuyên viên (chiếm 34,7%), 12 nhân viên phục vụ Đội ngũ giảng viên có: 02 PGS
Trang 2826
TS; 29 Tiến sĩ (chiếm 8,4%), 176 Thạc sĩ ( chiếm 51,7%), 128 Đại học (chiếm 37,8%) Viện tăng cường đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý, đội ngũ giảng viên đủ năng lực, đáp ứng chất lượng đào tạo; khuyến khích và có chính sách hỗ trợ cho các giảng viên cơ hữu nâng cao trình độ Hiện có có 29, cán bộ đang được cử đi Nghiên cứu sinh trong nước và nước ngoài, có 50 cán bộ khác đang theo học các chuyên ngành thạc sĩ Chế độ chính sách đối với cán bộ được thực hiện một cách nghiêm túc, kịp thời Viện tiếp tục mời các giảng viên có uy tín và năng lực chuyên môn thuộc các trường đại học, Viện nghiên cứu, học viện trong và ngoài nước tham gia giảng dạy tại Viện Đến nay, tổng số cán bộ, giảng viên tham gia giảng dạy, nghiên cứu của Viện gần 1800 người Lãnh đạo Viện chủ trương chuẩn hóa và xây dựng đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao
Để công tác tổ chức cán bộ hoàn thiện hơn, các đơn vị thực hiện đánh giá công chức hàng năm theo Quyết định số 11/1998/TCCP-CCVC của Bộ Nội vụ Trên cơ sở công tác bình xét danh hiệu thi đua cuối năm 2013, khẩn trương tăng cường đội ngũ giáo viên để đảm bảo quy định số lượng giảng viên/sinh viên, là cơ sở để định chỉ tiêu tuyển sinh hệ chính quy hàng năm Động viên khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Ưu tiên tuyển chọn các sinh viên tốt nghiệp loại giỏi để bồi dưỡng bổ sung cho đội ngũ cán bộ giảng dạy Thực hiện tốt chính sách cán bộ và công tác luân chuyển cán bộ theo quy định
* Sinh viên nhà trường
Hiện nay, Viện Đại học Mở Hà Nội đang đào tạo nhiều loại hình với quy mô như sau: Đại học 10824 sinh viên; Cao đẳng: 475 sinh viên; thạc sỹ: 1029 học viên
Từ năm học 2012 – 2013 Viện Đại học Mở Hà Nội thực hiện đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở tất cả các ngành – một phương thức giúp làm tăng tính chủ động của người học, tự tìm tòi, nghiên cứu kiến thức, phân tích và giải quyết vấn đề Điều này giúp sinh viên nhà trường nâng cao được tính chủ động, từ đó nâng cao được chất lượng đào tạo của nhà trường Trong những năm qua kết quả học tập của sinh viên đã được cải thiện đáng kể, thể hiện cụ thể trong kết quả học tập của sinh viên không ngừng được nâng cao Tuy nhiên số lượng sinh viên học lực trung bình và yếu vẫn tăng lên Điều này cho thấy chất lượng đào tạo của nhà trường còn nhiều hạn chế
Trang 2927
Nguyên nhân đầu vào tuyển sinh không cao, nhiều bộ phận sinh viên chưa thích ứng được với hình thức đào tạo theo tín chỉ, thiếu tính chủ động trong việc học tập và nghiên cứu
1.2.2 Tổng quan về Khoa Tài chính - Ngân hàng
Khoa Tài chính - Ngân hàng (TCNH) được thành lập năm 2008, từ khi thành lập đến nay Khoa đã thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao, đảm bảo tốt chất lượng đào tạo đáp ứng được nhu cầu học tập ngày càng cao của sinh viên Hiện nay khoa đang đào tạo hơn 1300 sinh viên chính quy hệ đại học, cao đẳng Hiện khoa có 07 phòng học, 1 phòng máy tính và các trang thiết bị dạy học hiện đại đủ điều kiện để có thể đáp ứng nhu cầu dạy- học lý thuyết và thực hành với quy mô sinh viên hiện tại
Trong quá trình đào tạo, hàng năm khoa tổ chức các buổi họp, thảo luận về PPGD nhằm nâng cao chất lượng Thông qua đó, với các phương pháp giảng dạy truyền thống thì giảng viên tổ chức, dẫn dắt để sinh viên khám phá bản chấtvấn đề Sinh viên ghi nhớ vững chắc và lâu dài những tri thức cơ bản đó là những tưtưởng chủ đạo, những luận điểm, những nguyên lý chủ yếu của khoa học chứ không phải là những chi tiết vụn vặt Thông qua quá trình nắm vững hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo giúp sinh viên có khả năng “cơ động”, có năng lực thích ứng cao trong quá trình lĩnh hội và vận dụng tri thức trong các tình huống quen thuộc mà còn vào các tình huống mới muôn màu muôn vẻ trong thực tiễn nghề nghiệp tương lai và khoa chú trọng thêm một số nội dung khác để hỗ trợ công tác giảng dạy được tốt hơn:
- Ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy để nâng cao hiệu quả bài giảng, tạo hứng thú học tập cho sinh viên
Trang 3028
- Thành lập và duy trì hoạt động các câu lạc bộ Tiếng Anh, Tin học để bổ sung thời lượng thực hành cho môn Tiếng Anh, Tin học nên thành lập Câu lạc bộ Tiếng Anh và Tin học để các em vừa nâng cao kỹ năng nghe, nói phục vụ nhu cầu học tập, phục vụ nhu cầu giải lao, giải trí, giao lưu giữa Thầy với sinh viên, giữa sinh viên với sinh viên, giữa nhà trường với doanh nghiệp
Bên cạnh hoạt động giảng dạy, hoạt động nghiên cứu khoa học cũng được khoa chú trọng quan tâm Hàng năm, có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học của cán bộ, sinh viên được triển khai và nghiệm thu đạt kết quả cao Nhiều đề tài trong số đó đã trở thành nguồn học liệu quan trọng cho cán bộ, giảng viên của ngành trong quá trình giảng dạy và nghiên cứu
Theo chủ trương của nhà trường, năm học 2012 - 2013 khoa Tài chính Ngân hàng đã thực hiện việcđào tạo theo học chế tín chỉ cho các lớp đại học chính quy khóa 5, và từ đó đến nay, khoa đã đang và sẽ thực hiện theo học chế này Trong lộ trình chuyển đổi sang học chế tín chỉ,khoa chú trọng khắc phục những hạn chế, bất cập, đồng thời tiếp tục thay đổi và hoàn thiện những khâu then chốt trong hoạt động đào tạo, để học chế tín chỉ phát huy những ưu điểm và giá trị đó là:
- Rà soát cấu trúc lại chương trình đào tạo theo hướng giảm khối lượng tín chỉ trong toàn khóa (120-140 tín chỉ) và tăng thời gian tự học
- Hoàn thiện cơ sở vật chất
- Tiếp tục đổi mới, đa dạng hóa phương pháp giảng dạy
Trong đó, việc đổi mới PPGD là rất cần thiết
Khi chuyển sang học chế tín chỉ, thời gian lên lớp của sinh viên ít.Vì vậy, việc thay đổi PPGD để làm sao vẫn đảm bảo được khối lượng kiến thức tới sinh viên, đồng thời nâng cao khả năng ghi chép, tiếp nhận và biến kiến thức đã học thành kiến thức của bản thân, phát huy tính linh hoạt, sáng tạo, nâng cao khả năng tự học trong sinh viên là rất cần thiết
* Thực tập, thực tế
Theo học ngành Tài chính Ngân hàng, sinh viên còn có nhiều điều kiện, cơ hội thâm nhập, tìm hiểu thực tiễn tại các Ngân hàng, doanh nghiệp … Đây là dịp để sinh
Trang 31* Cơ hội việc làm
Sau khi tốt nghiệp, cử nhân Tài chính Ngân hàng có thể làm việc ở các vị trí:
- Chuyên viên tín dụng, chuyên viên thẩm định dự án, chuyên viên quản lý và thu hồi vốn, chuyên viên thanh toán quốc tế, chuyên viên quản lý tài chính, chuyên viên phân tích tài chính, chuyên viên tư vấn tài chính, chuyên viên hoạch định tài chính, chuyên viên quản trị rủi ro
- Giao dịch viên
- Kiểm soát viên
- Kế toán ngân hàng
* Nghiên cứu khoa học
Từ khi thành lập đến nay, Khoa TCNH luôn chú trọng vào công tác NCKH và xem đây là nhiệm vụ then chốt của giảng viên, sinh viên Nhận thức rõ việc giảng dạy bậc đại học không thể tách rời hoạt động nghiên cứu khoa học, Khoa TCNH đã liên tục động viên, tạo điều kiện cho các giảng viên, sinh viên công bố kết quả bảo vệ công trình khoa học, phục vụ công việc nghiên cứu và giảng dạy ở tất cả các hệ đào tạo
Trang 3230
1.2.3 Tổng quan về sinh viên khóa 4(2011-2015)
Là một trong những khóa hiện nay khoa đang đào tạo, khóa 4 hiện có 438 sinh viên, thuộc 26 tỉnh thành trong đó nhiều nhất là sinh viên thuộc Hà Nội với 139 sinh viên Còn lại là sinh viên thuộc các tỉnh lân cận: Quảng Ninh 32 sinh viên, Nam Định 32 sinh viên, Hưng Yên 31 sinh viên, Hải Dương 29 sinh viên, Thanh Hóa 28 sinh viên, Thái Bình 21 sinh viên, Bắc Ninh 16 sinh viên, Hà Nam 16 sinh viên, Bắc Giang 13 sinh viên, Hải Phòng 13 sinh viên, Lào Cai 9 sinh viên, Phú Thọ 8 sinh viên, Yên Bái 7 sinh viên, Ninh Bình 7 sinh viên, Vĩnh Phúc 6 sinh viên, Sơn La 5 sinh viên, Hòa Bình 5 sinh viên, Lạng Sơn 3 sinh viên, Nghệ An 3 sinh viên, Tuyên Quang 3 sinh viên ngoài ra còn
có sinh viên thuộc Hà Giang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Hà Tĩnh, ĐăcLắk…là khóa với
số lượng sinh viên cao nhất trong tất cả các khóa đào tạo của khoa TCNH
Trong năm học đầu tiên, đa số các em còn bỡ ngỡ trong việc tiếp cận theo cách học tập mới so với học phổ thông , mặt khác các em còn đang hân hoan với niềm vui đỗ vào đại học, nên kết quả học tập nhìn chung là không được tốt thể hiện qua ý thức học tập chưa chuyên cần, chăm chỉ, chưa xác định cho bản thân mục tiêu học tập và kết quả học tập chưa cao
Tuy nhiên, qua năm thứ 2, thứ 3 và hiện nay là năm học cuối cùng thì cùng với việc học tập qua các bài giảng của giảng viên, sự trợ giúp, uốn nắn của đội ngũ giáo viên chủ nhiệm và các cán bộ giáo vụ, sự quan tâm của Ban chủ nhiệm khoa TCNH, sinh viên các lớp đại học chính quy khóa 4 đã dần dần ý thức được việc học tập Kết quả là đi học chuyên cần hơn, chú ý nghe giảng hơn, thường xuyên phát biểu ý kiến xây dựng bài,
tự xây dựng cho mình mục tiêu học tập và phấn đấu rèn luyện, tham gia các hoạt động nhóm sôi nổi, các kỹ năng mềm được phát huy, tăng khả năng linh hoạt, sáng tạo trong sinh viên, kết quả học tập tốt hơn, số lượng sinh viên đạt điểm khá giỏi nhiều hơn Khi chất lượng đào tạo ngày một tốt hơn thì đòi hỏi cần phải có phương pháp giảng dạy và phương pháp hướng dẫn học cho sinh viên cũng phải tốt hơn, đa dạng hơn Sinh viên khóa 4 mong muốn được học những phương pháp mới, những phương pháp tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng học tập, nâng cao khả năng tiếp thụ kiến thức và khả năng tự học trong sinh viên
Trang 3331
CHƯƠNG II : TRIỂN KHAI ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY DỰA TRÊN BẢN ĐỒ TƯ DUY TẠI KHOA TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
2.1.Lập kế hoạch tổng thể
Lập kế hoạch hay lên kế hoạch, xây dựng kế hoạch, viết một bản kế hoạch thể
là khâu đầu tiên Đề tài sử dụng phương pháp 5W1H2C5M để lập kế hoạch Phương pháp này bao gồm các yếu tố sau:
bạn sẽ luôn hướng trọng tâm các công việc vào mục tiêu và đánh giá hiệu quả cuối cùng
thực hiện công việc đó Cốt lõi của nội dung công việc là tác động vào đối tượng như thế nào thông qua việc xác định 3W (where, when, who) Trong đó có địa điểm, không gian thực hiện kế hoạch, nơi bố trí, tập kết nguồn lực thực hiện kế hoạch
điều chỉnh thực hiện kế hoạch Cần xác định được mức độ khẩn cấp và mức độ quan trọng của từng công việc như công việc quan trọng và khẩn cấp, công việc không quan trọng nhưng khẩn cấp, công việc quan trọng nhưng không khẩn cấp, công việc không quan trọng và không khẩn cấp
thể phối hợp, hỗ trợ thực hiện kế hoạch, chủ thể kiểm tra, giám sát, báo cáo thực hiện
kế hoạch và chủ thể chịu trách nhiệm cho kế hoạch Cùng với việc lập kế hoạch, thì cần phải theo dõi kế hoạch đã đặt ra nhất là đối với kế hoạch có sự tham gia của nhiều người, nhiều bộ phận thì phải có người theo dõi và kết nối từng đơn vị lại với nhau
hướng dẫn, chỉ dẫn thực hiện cho từng công việc, từng bước Tiêu chuẩn của công việc, cách thức vận hành máy móc Điều quan trọng là phải có dữ liệu, thông tin để xây dựng kế hoạch Có thể là:
Các công việc trong kế hoạch dài hạn trước đó
Các công việc còn tồn đọng cần phải giải quyết