1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế tổng thể hệ thống CNTT cho viện đại học mở hà nội giai đoạn 2014 2020

86 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 3,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khi đó, các hệ thống nhằm đảm bảo an toàn thông tin của Viện ĐH Mở Hà Nội chưa được triển khai mạnh mẽ, chưa có quy hoạch cụ thể nhằm tăng cường an ninh thông tin cho các đơn vị, p

Trang 2

ĐỀ TÀI KHCN CẤP VIỆN NĂM 2014

THIẾT KẾ TỔNG THỂ HỆ THỐNG CNTT CHO VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2014-2020

Trang 3

3

DANH SÁCH THÀNH VIÊN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

1 TS.Trương Tiến Tùng - Chủ nhiệm đề tài

2 ThS Trần Tiến Dũng - Ủy viên

3 ThS Nguyễn Xuân Dũng - Ủy viên

4 ThS Nguyễn Thành Huy - Ủy viên

Trang 4

4

MỤC LỤC

1 PHẦN I MỞ ĐẦU 10

1 Lý do lựa chọn đề tài 10

2 Mục đích nghiên cứu 11

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 12

4 Phương pháp nghiên cứu 12

5 Ý nghĩa về lý luận và thực tiễn của đề tài 13

6 Cấu trúc đề tài 14

1 CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT 15

1.1 Quan điểm về hệ thống 15

1.2 Hệ thống thông tin quản lý 16

1.3 Các đặc điểm của hệ thống thông tin 17

1.3.1 Những yếu tố cấu thành của hệ thống thông tin quản lý 17

1.3.2 Bản chất của việc xây dựng hệ thống thông tin trong một tổ chức 18

1.3.3 Các giai đoạn phân tích và thiết kế một hệ thống thông tin 19

1.3.4 Quá trình phát triển một hệ thống thông tin 20

1.3.5 Mô hình không gian phát triển hệ thống 24

1.3.6 Ba mô hình phát triển hệ thống thông tin cơ bản nhất 26

1.4 Các nguyên lý tiếp cận hệ thống 29

1.4.1 Nguyên lý 1 29

1.4.2 Nguyên lý 2 – nguyên lý phân cấp 34

1.4.3 Nguyên lý 3- nguyên lý cân bằng nội 35

Trang 5

5

1.4.4 Nguyên lý 4 – nguyên lý bổ sung ngoài 39

1.5 Quan điểm tổ chức và xây dựng hệ thống thông tin 41

1.5.1 Quan điểm vòng đời 41

1.5.2 Nguyên tắc thiết kế theo chu trình 43

1.5.3 Các giai đoạn chính của vòng đời hệ thống (life cycle) 45

2 CHƯƠNG II KHẢO SÁT THỰC TRẠNG CNTT TẠI VIỆN ĐH MỞ HÀ NỘI 46

2.1 Các luồng thông tin trao đổi trong Viện Đại học Mở Hà Nội 46

2.1.1 Sơ đồ phân bố các phòng ban tại Cơ sở 1 Viện ĐH Mở Hà Nội 46

2.1.2 Các luồng thông tin trao đổi 46

2.1.3 Các hệ thống sử dụng: 49

2.2 Thực trạng sử dụng và khai thác nền tảng CNTT tại Khoa CNTT 50

2.2.1 Sơ đồ tổ chức 50

2.2.2 Phân bố tài nguyên 52

2.2.3 Nhu cầu trao đổi thông tin 54

2.2.4 Ưu điểm của các hệ thống CNTT đang được triển khai 60

2.2.5 Những nhược điểm tồn tại ở Khoa CNTT và Viện ĐH Mở 64

2.3 Các vấn đề tồn tại trong quản lý thông tin Đoàn viên 70

2.4 Thực trạng sử dụng và khai thác nền tảng CNTT tại Khoa Sau Đại học 71

2.4.1 Yêu cầu thực tiễn của ứng dụng CNTT 71

2.4.2 Thực trạng ứng dụng CNTT 72

3 CHƯƠNG III ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THIẾT KẾ TỔNG THỂ HỆ HỆ THỐNG CNTT CHO VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2014-2020 76

3.1 Giải pháp quản lý luồng thông tin 76

Trang 6

6

3.2 Tập trung các hệ thống khai thác tài nguyên chung 78

3.3 Xây dựng đội ngũ phát triển ứng dụng riêng 78

3.4 Quy chuẩn hóa tên miền, quy cách đặt tên miền 79

3.5 Xây dựng hệ thống văn bản quy chuẩn về chính sách người dùng CNTT 80

3.6 Xây dựng hệ thống an ninh bảo mật thông tin 80

3.7 Xây dựng hệ thống quản lý lịch làm việc, quản lý văn bản 81

3.8 Xây dựng hệ thống Quản lý đoàn viên 81

3.9 Xây dựng hệ thống diễn đàn chung 82

3.10 Đề xuất mô hình cơ sở hạ tầng 83

4 TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 7

7

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1-1 Các giai đoạn phân tích và thiết kế một hệ thống thông tin 20

Hình 1-2 Mô hình không giam phát triển hệ thống 25

Hình 1-3 Mô hình vòng đời cổ điên 26

Hình 1-5 Trình tự thiết kế hệ thống thông tin 44

Hình 2-2 Luồng thông tin công khai trên Website hou.edu.vn 47

Hình 2-3 Luông thông tin hoạt động nội bộ của các đơn vị 48

Hình 2-4 Thông tin hoạt động nội bộ Viện 49

Hình 2-5 Sơ đồ tổ chức Khoa CNTT 51

Hình 2-6 Sơ dồ hoạt động tại Khoa CNTT 52

Hình 2-8 Sơ đồ phân bố CSHT tại Cơ sở 2 53

Hình 2-9 Sơ đồ ngữ cảnh tổng thể các luồng thông tin 57

Hình 2-10 Sơ đồ luồng dữ liệu nội bộ 58

Hình 2-11 Luồng thông tin trong hệ thống nội bộ 59

Hình 2-12 Luồng thông tin về quản lý đào tạo 60

Hình 2-13 Giao diện Website đầu tiên của Khoa CNTT 61

Hình 2-14 Các sản phẩm được nâng cấp 61

Hình 2-15 Hệ thống trao đổi diễn đàn 62

Hình 2-16 Hệ thống trao đổi tin tức nội bộ 62

Hình 2-17 Hệ thống quản lý học tập CTMS 63

Hình 2-18 Hệ thống thông tin tuyển sinh 64

Hình 3-1 Hệ thống đưa cả tên, tuổi thí sinh lên mạng 77

Hình 3-2 Ghi rõ phân bổ kinh phí cho các đơn vị 77

Hình 3-3 Lịch tuần hiển thi quá chi tiết 78

Hình 3-4 Mô hình cơ sở hạ tầng đề xuất 84

Trang 8

8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2-1 Thống kê tên miền tại Viện ĐH Mở Hà Nội 50Bảng 2-2 Bảng xác định luồng thông tin 56Bảng 2-3 Danh sách tên miền 66

Trang 9

9

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

(Hệ thống quản lý đào tạo Tín chỉ)

Trang 10

sự bất đồng bộ trong nền tảng cơ sở hạ tầng của nước ta từ đó vạch ra các mục tiêu chiến lược trong đào tạo tại các trường Đại học và các Viện nghiên cứu để nâng cao chất lượng đội ngũ Công nghệ thông tin từ đó thay đổi kết cấu cả về chất và lượng cơ sở hạ tầng Công nghệ thông tin ở nước ta nhằm đưa đất nước phát triển theo hướng công nghiệp hiện đại và đích đến là năm 2020

Tại Viện ĐH Mở Hà Nội, do đặc thù riêng nên các Khoa chuyên ngành phân bố rải rác tại các địa điểm khác nhau nên bài toán quản lý thông tin sinh viên, quản lý, nắm bắt

tư tưởng chính trị của sinh viên trong điều kiện không tập trung là bài toán khó khăn và phức tạp

Bên cạnh đó với nhiệm vụ chiến lược được Chính phủ giao phó Viện ĐH Mở Hà Nội chịu trách nhiệm nghiên cứu phát triển các loại hình đào tạo để đáp ứng nhu cầu học tập của mọi người dân trong xã hội, xây dựng xã hội học tập suốt đời, Viện đã thành lập Trung tâm đào tạo E-learning năm 2009 với hình thức đào tạo học viên qua mạng Sau 5 năm thành lập từ những ngày đầu công nghệ hạ tầng Công nghệ thông tin của Trung tâm còn phải nhờ sự hỗ trợ công nghệ của các đối tác doanh nghiệp bên ngoài thì cho đến nay chương trình đào tạo EHOU đã được đưa vào triển khai dựa trên nền tảng Công nghệ thông tin của chính Viện ĐH Mở Hà Nội xây dựng và phát triển Qua 21 năm phát triển, đặc biệt trong những năm gần đây các đơn vị phòng ban, Trung tâm, các Khoa trong Viện

Trang 11

hệ thống con xử lý nghiệp vụ độc lập với các đơn vị khác nên dẫn đến vấn đề chồng chéo nghiệp vụ và dư thừa tài nguyên công nghệ Điều này sẽ gây lãng phí và sẽ tiếp tục gây khó khăn cho công tác quản lý tập trung dữ liệu nếu các hệ thống con tiếp tục phát triển độc lập mà không có mối quan hệ chung thống nhất

Trong bối cảnh chung của sự phát triển Internet trên thế giới, vấn đề bảo mật, an toàn, an ninh thông tin ngày càng phức tạp và càng có nhiều hacker thâm nhập các hệ thống an ninh và cả các trường đại học nhằm tìm kiếm, đánh cắp thông tin cá nhân Trong khi đó, các hệ thống nhằm đảm bảo an toàn thông tin của Viện ĐH Mở Hà Nội chưa được triển khai mạnh mẽ, chưa có quy hoạch cụ thể nhằm tăng cường an ninh thông tin cho các đơn vị, phòng ban thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, nhiệm vụ đặc biệt trong Viện Trước những yêu cầu và thách thức cần phải đổi mới toàn diện nền tảng công nghệ thông tin trong giai đoạn mới, xây dựng hệ thống chung,thống nhất, đưa các hệ thống con

về cùng quy chuẩn trong tổng thể kiến trúc công nghệ của Viện ĐH Mở Hà Nội Với khả

năng công nghệ được đào tạo nhóm tác giả đã lựa chọn vấn đề: “Thiết kế tổng thể hệ

thống CNTT cho Viện Đại học Mở Hà Nội giai đoạn 2014-2020”làm đề tài nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Dựa trên nền tảng công nghệ thông tin đang triển khai tại Viện Đại học Mở Hà Nội Ứng dụng lý thuyết về tiếp cận, xây dựng và điều khiển hệ thống nói chung, lý thuyết về quản lý và phát triển hệ thống thông tin nói chung, nhóm nghiên cứu sẽ đánh giá khả năng hoạt động của hệ thống công nghệ thông tin toàn Viện, thu thập các thông tin nghiệp vụ đang sử dụng và các hệ thống đang được triển khai tại Viện Đại học Mở Hà Nội Từ đó

Trang 12

12

nhóm nghiên cứu sẽ chỉ ra những vấn đề tồn tại trong nền tảng hạ tầng Công nghệ thông tin tại Viện Đại học Mở Hà Nội và các vấn đề, yêu cầu cần thiết để xây dựng các hệ thống quản lý thông tin, xử lý nghiệp vụ trong một hệ thống tổng thể thống nhất Qua đề tài này, nhóm nghiên cứu sẽ chỉ ra các vấn đề còn tồn tại trong các hệ thống đang vận hành, một

số hạn chế tiêu biểu của cơ sở hạ tầng tại các đơn vị, những yêu cầu cần thay đổi để quy hoạch các hệ thống con trong Viện vào 1 hệ thống tổng thể chung thống nhất

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích của đề tài, nhóm nghiên cứu phải thực hiện các giai đoạn nghiên cứu cụ thể như sau:

Nghiên cứu tổng quan về cơ sở lý luận: nhóm thực hiện nghiên cứu về cơ sở lý luận

về điều khiển học, lý luận về xây dựng và quản lý hệ thống thông tin Các phương pháp tiếp cận, biểu diễn bài toán dưới dạng mô hình toán học Lựa chọn mô hình, phương pháp luận để thực hiện tiếp cận hệ thống hiện tại của Viện Đại học Mở Hà Nội

Khảo sát thực trạng cơ sở hạ tầng tại Viện Đại học Mở Hà Nội, khảo sát các hệ thống đang hoạt động trong Viện, phân tích nhằm tìm ra các “điểm mất chốt” để có đưa các hệ thống con về chung 1 khối thống nhất trong toàn Viện Đại học Mở Hà Nội

Phân tích nhược điểm của cơ sở hạ tầng, phân tích dữ liệu xử lý của các đơn vị từ

đó đề xuất các giải pháp để: xây dựng hệ thống, cập nhật hệ thống đang sử dụng tại Viện Đại học Mở Hà Nội nhằm tiến tới tạo ra hệ thống khai thác dữ liệu trên cùng nguồn dữ liệu chung

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu nhóm đề tài đã áp dụng một số phương pháp nghiên cứu tiếp cận hệ thống thông tin như:

Sử dụng các kinh nghiệm điều hành nhiệm vụ hỗ trợ thiết kế hệ thống: dựa vào năng lực và kinh nghiệm quản lý, kinh nghiệm tích lũy khi làm việc với các hệ thống khác nhau

Trang 13

13

trong Viện Đại học Mở Hà Nội của TS Trương Tiến Tùng (Chủ nhiệm đề tài) để mô phỏng lại nghiệp vụ, giám sát và xác định các luồng thông tin đang tồn tại trong Viện Đại học Mở Hà Nội, các chính sách bảo mật, công cụ bảo vệ an toàn các luồng thông tin đó

Từ đó lập ra kế hoạch xác định các nhiệm vụ khảo sát cho các thành viên trong nhóm nghiên cứu thực hiện khảo sát và thu thập dữu liệu

Phân tích các yêu cầu thông tin: Dựa trên các thông tin được khảo sát từ các thành viên trong nhóm nghiên cứu Các yêu cầu về thông tin sẽ được phân tích kỹ lưỡng nhằm đưa về các hệ thống có thể dùng chung, tái sử dụng luồng thông tin này trong hệ thống quản lý chung của toàn Viện

Tổng quát hóa và đưa ra thách thức: Kết thúc giai đoạn phân tích yêu cầu thông tin, nhóm nghiên cứu sẽ đưa ra thiết kế tổng quan về hệ thống CNTT tại Viện Đại học Mở Hà Nội Đồng thời nhóm nghiên cứu cũng đưa ra các thách thức, các vấn đề cần phải giải quyết trong tương lại để xây dựng hệ thống CNTT chung cho toàn Viện Đại học Mở Hà Nội đến toàn bộ các đơn vị phòng ban chức năng có thể đăng ký thực hiện

5 Ý nghĩa về lý luận và thực tiễn của đề tài

Đề tài có ý nghĩa về mặt lý luận đóng góp cho chính sách, chiến lược phát triển nền tảng Công nghệ thông tin thống nhất của Viện Đại học Mở Hà Nội trong giai đoạn tới

Về ý nghĩa thực tiễn đề tài sẽ chỉ ra các vấn đề tồn tại trong các hệ thống công nghệ đang sử dụng hoặc các lỗi xảy ra trong quá trình vận hành mà có thể ảnh hưởng đến thông tin của Viện Đại học Mở Hà Nội hoặc ảnh hưởng đến an ninh thông tin của các đơn vị, phòng ban chức năng trong Viện Đại học Mở Hà Nội

Bên cạnh đó, đề tài cũng sẽ mở ra các cơ hội phát triển hoặc nâng cấp các hệ thống con trong Viện Đại học Mở Hà Nội để tạo thành hệ thống phát triển chung Vấn đề phát triển các hệ thống CNTT có thể được thực hiện bởi các đơn vị có đủ tiềm lực về công nghệ trong toàn Viện ĐH Mở Hà Nội

Trang 14

14

6 Cấu trúc đề tài

Đề tài được phân chia làm 2 phần:

• Phần mở đầu: phần này trình bày lý do lựa chọn đề tài, mục đích, nhiệm vụ,

phương pháp nghiên cứu Ngoài ra, cũng đề cập đến ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài

• Phần nội dung nghiên cứu: phần này được chia làm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý thuyết

Chương 2:Khảo sát thực trạng CNTT tại Viện Đại học Mở Hà Nội

Chương 3: Đề xuất giải pháp thiết kế tổng thể hệ thống CNTT cho Viện Đại học Mở Hà Nội giai đoạn 2014-2020

• Kết luận

• Tài liệu tham khảo

Trang 15

sẽ đưa ta một vài ví dụ để thấy rõ điều đó Trước hết ta hãy xét một hệ thống nhân tạo, nghĩa là một hệ thống do con người thiết kế và chế tạo ra, chẳng hạn một chiếc đồng hồ, một chiếc xe máy, 1 chiếc ti vi, thì định nghĩa về hệ thống sau đây là hoàn toàn thích hợp:

“Hệ thống là tập hợp nhưng phần tử liên kết với nhau một cách rất chặt chẽ thành một nhất thể, nhằm thực hiện được một số chức năng nhất định”

Trong quá trình tìm hiểu về hệ thống nói chung, có những điều cần lưu ý sau đây: Khi xác định một hệ thống, điều quan trọng đầu tiên là khi đưa ra một đối tượng thì

ta phải khẳng định được đối tượng ấy có thuộc vào hệ thống hay không, nghĩa là nó có phải là phần tử của hệ thống hay không Đối với chiếc đồng hồ nói riêng và hệ thống máy móc nhân tạo nói chung, điều này rất rõ ràng, rõ ràng đến mức không cần quan tâm và bàn cãi; ai cũng rễ ràng chấp nhận mỗi chi tiết máy là 1 phần tử, nhưng như sẽ thấy sau này, có rất nhiều hệ thống, việc phân định đối tượng nào thuộc hệ thống và đối tượng nào không thuộc hệ thống cũng như việc xác định cái gì là phần tử của hệ thống, cái gì không phải là phần tử của hệ thống, lại là những vấn đề vô cùng phức tạp, không rễ ràng nhận ra, cũng không rễ ràng thống nhất ý kiến

Điều quan trọng tiếp theo là phải chỉ rõ những liên kết giữa các phần tử của hệ thống Đối với hệ thống máy móc nhân tạo, các liên kết này là rõ ràng, vừa là liên kết định vị, vừa là liên kết chức năng nghĩa là chi tiết nào lắp đặt ở đâu và móc nối với các chi tiết khác như thế nào Những liên kết này do các nhà thiết kế hoạch định thông qua

Trang 16

16

một sơ đồ được hình thành từ những nguyên lý khoa học rất chặt chẽ về cơ học, vật lý, hóa học, thủy động học, khí động học, sóng điện từ … Chính nhờ những liên kết này mà

từ những phần tử (chi tiết hoặc linh kiện) rời rạc đã tạo nên một nhất thể (tức là hệ thống)

có thể thực hiện được những chức năng nhất định Sự liên kết này chặt chẽ đến mức nếu

ta bỏ đi một phần tử nào đó, chẳng hạn bỏ đi chiếc bugi của xe máy thì máy không nổ được, xe không chạy được, hệ thống không còn là xe máy nữa, khi ấy ta nói rằng “hệ thống tan rã” theo nghĩa không thể thực hiện được chức năng của nó nữa Tuy nhiên trong thực tế có rất nhiều hệ thống mà giữa các phần tử của chúng có nhiều loại liên kết khác nhau, thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và với nhiều mức độ chặt chẽ khác nhau nên việc lựa chọn những liên kết để đưa vào hệ thống không phải là một vấn đề đơn giản Hãy xét một xí nghiệp, ông Giám đốc là người quan trọng nhất vì ông ta có mối quan hệ mật thiết với mọi người trong xí nghiệp, nhưng ông ta có thể vắng mặt 1 tuần lễ mà xí nghiệp vẫn hoạt động bình thường Điều đó chứng tỏ mối liên kết giữa những người trong một xí nghiệp khác rất xa với mối liên kết giữa các chi tiết máy của 1 chiếc đồng hồ

Mỗi hệ thống thực hiện một số chức năng nhất định Đối với hệ thống máy móc thì

các chức năng này do con người đề ra và từ đó người ta tìm cách thiết kế và chế tạo ra hệ thống có khả năng thực hiện được những chức năng đó Tuy nhiên đối với những hệ thống tự nhiên (được hình thành một cách tự nhiên ngoài ý muốn của con người) thì chức năng của chứng cũng được hình thành một cách tự nhiên.Việc nghiên cứu để biết được tất

cả các chức năng của một hệ thống để sử dụng và điều khiển nó theo những mục tiêu của con người là những vấn đề có nội dung rất phong phú và phức tạp

1.2 Hệ thống thông tin quản lý

Trước hết nói về hệ thống thông tin Trong hệ thống kinh tế xã hội nếu chỉ xét về hoạt động kinh tế thì mối liên kết giữa các phần tử hay giữa các hệ thống con là một liên kết kinh tế Đó là dòng sản phẩm và dịch vụ đi theo một chiều và dòng phương tiện tài chính đi theo chiều ngược lại; các dòng này phải tương thích với nhau Các số liệu về các dòng sản phẩm, dịch vụ, và phương tiện tài chính được ghi lại dưới một dạng nào đó và

Trang 17

17

gọi là thông tin kinh tế Như vậy hệ thống thông tin được định nghĩa như là một hệ thống

mà mối liên kết giữa các phần tử thuộc hệ đó cũng như liên kết của hệ đó với môi trường đều là các liên kết thông tin Hệ thống thông tin phục vụ cho công tác quản lý gọi là hệ thống thông tin quản lý

Ta có định nghĩa: hệ thống thông tin quản lý là hệ thống thông tin được phát triển

và sử dụng có hiệu quả trong một tổ chức Một hệ thống thông tin được xem là hiệu quả

nếu nó hoàn thành được các mục tiêu của những con người hay tổ chức sử dụng nó

1.3 Các đặc điểm của hệ thống thông tin

1.3.1 Những yếu tố cấu thành của hệ thống thông tin quản lý

Việc mô tả hệ thống thông tin quản lý một cách tường minh theo quan điểm hệ thống (gồm các phần tử, cac mối quan hệ) là không thể , do sự đa dạng của các quan hệ được thiết lập trong mỗi hệ thống thông tin cụ thể, vì sự không nhìn thấy của nhiều mối quan hệ trong hệ thống vốn chỉ hình thành khi nó hoạt động Cho nên, người ta chỉ có thể nêu ra các yếu tố cấu thành của nó

Năm yếu tố cấu thành của hệ thống thông tin quản lý xét ở trạng thái tĩnh là: các

thiết bị tin học như máy tính, các thiết bị ngoại vi như mạng, các đường truyền, (phần cứng), các chương trình, dữ liệu (phần mềm), thủ tục – quy trình và con người

Việc liên kết giữa các thiết bị trong hệ thống thông tin bằng các dây dẫn là các mối liên hệ của hệ thống đó có thể nhìn thấy được Ngược lại, các mối liên kết giữa các thành phần lớn các yếu tố nêu trên lại không thể nhìn thấy được, vì chúng chỉ được hình thành và diễn ra khi hệ thống hoạt động Chẳng hạn như việc lấy dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu vào máy để xử lý, việc truyền dự liệu đi xa hàng trăm cây số, việc lưu trữ dữ liệu lên các thiết bị từ…

Sơ đồ này cho đến nay chủ yếu mang ý nghĩa triết học sâu sắc: Lực lượng lao

động bao gồm con người cùng với kỹ năng, kiến thức được tổ chức thông qua các quy tắc, thủ tục của quản lý, tổ chức khi kết hợp với công cụ lao động là các thiết bị công nghệ

Trang 18

18

thông tin tác động lên đối tượng lao động là các dữ liệu sẽ cho ra các sản phẩm thông tin- đó chính là sản phẩm của hệ thống. Nếu con người và các thiết bị là nhân tố có trước, thì công việc xây dựng hệ thống thông tin chính là tạo ra các phần mềm, là tổ chức các dữ liệu và xây dựng các thiết chế hoạt động của tổ chức biểu hiện qua các thủ tục và quy tắc

về tổ chức và quản lý

Thành phần các thủ tục, các quy trình quản lý liên quan chặt chẽ đến các quy

trình xử lý, lưu truyền va biểu diễn thông tin Trong nhiều trường hợp chúng đã bao hàm trong nội dung làm việc của các chương trình, hoặc trong hoạt động cụ thể của con người trong khi làm việc của hệ thống Ngày nay, người ta quan điểm cơ sở dữ liệu thuộc phần mềm Tuy nhiên việc tách riêng một cách hình thức như các thành phần là hoàn toàn cần thiết xét về mặt cấu trúc

Trên quan điểm xây dựng hệ thống sự mô tả trên đây là cần thiết Nó giúp cho việc định hướng quá trình phân tích, thiết kế hệ thống Tuy nhiên, sự mô tả này là chưa

đủ Cần đi sâu phân tích hệ thống cụ thể mới có được sự hiểu biết đầy đủ về hệ thống thực

và cho phép xây dựng cơ sở dữ liệu, các chương trình và việc bố trí các thành phần kế trên trong hệ thống thông tin Điều đó nói lên rằng, hệ thống thông tin trong tương lai của một tổ chức còn chưa được định hướng, chừng nào đó nó còn chưa được thiết kế

Trước đây, người ta cho rằng hệ thống thông tin mang ý nghĩa chung, chưa quan tâm đến công cụ xử lý (bằng tay hay bằng máy) Vì vậy khi hiểu tin học là tập hợp các ngành khoa học, ký thuật, kinh tế xã hội vào việc xử lý thông tin và tự động hóa nó thì hệ thống tin học chính là hệ thống có mục đích xử lý thông tin và có sự tham gia của máy tính

1.3.2 Bản chất của việc xây dựng hệ thống thông tin trong một tổ chức

- Xây dựng hệ thống thông tin là một giải pháp cho những vấn đề mà tổ chức đang gặp phải Những vấn đề có thể là những cản trở hoặc hạn chế không cho phép tổ chức thực hiện thành công những điều mong đợi hiện nay Nó cũng có thể là những công việc

Trang 19

19

mà tổ chức cần tiến hành để tạo ra những ưu thế mới, nhờ nó mà tổ chức có thể đạt được những mục tiêu mong muốn trước những cơ hội lớn, Điều đó cũng có nghĩa là không phải lúc nào việc xây dựng hệ thống thông tin cũng được chấp nhận để giải quyết những vấn

đề đặt ra cho một tổ chức

Theo cách tiếp cận tổng hợp, hệ thống thông tin của tổ chức là một thực thể xã hội –

kỹ thuật (Social – technical) Việc đưa một hệ thống thông tin vào một tổ chức không chỉ đơn thuần đưa vào phần cứng, phần mềm mà là sự thay đổi trong công việc, trong thói quen, ký năng, quản lý và cả về tổ chức nữa Thiết kế một hệ thống tin mới thực chất là thiết kế lại hệ thống Cho nên, việc xây dựng hệ thống thông tin phải là một bộ phận chủ yếu trong quá trình lập kế hoạch của tổ chức Kế hoạch phát triển hệ thống thông tin phải hướng vào mục tiêu chiến lược của tổ chức, phải nằm trong khuôn khổ của kế hoạch chiến lược, phải tính đến thực trạng, đến chiến lược quản lý, đến kế hoạch ứng dụng và khả năng ngân sách của tổ chức Kế hoạch phát triển hệ thống cần chỉ ra được công nghệ thông tin sẽ hỗ trợ để đạt được mục tiêu của tổ chức như thế nào

- Một bộ phận quan trọng của hệ thống thông tin là xây dựng chiến lược quản lý để chuyển dịch tổ chức từ hiện trạng đến tương lai Những thay đổi tổ chức cần được mô tả bao gồm những yêu cầu về quản lý, về đào tạo người sử dụng, về tăng cường các nỗ lực

và thay đổi trong lãnh đạo, trong cơ cấu và thực tiễn quản lý

1.3.3 Các giai đoạn phân tích và thiết kế một hệ thống thông tin

Các giai đoạn phân tích và thiết kế một hệ thống thông tin được đặc tả bởi sơ đồ theo trình tự thực tế I, II, III, IV trên cơ sở 2 mức mô hình sau:

Trang 20

Hình 1-1 Các gi 1.3.4 Quá trình phát triển m

Phát triển hệ thống thông tin là tích h

thông tin

Có nhiểu phương pháp khác nhau

bước đề xuất của các phương pháp c

các công đoạn sau: lập kế ho

phần mềm và thử nghiệm, Cài

trên đây thường được thực hi

thể quay lại từ đầu Tùy thu

bước có thể dài ngắn khác nhau và s

20

Các giai đoạn phân tích và thiết kế một hệ thống thông tin

n một hệ thống thông tin

ng thông tin là tích hợp các hoạt động tạo sản ph

ng pháp khác nhau để phát triển hệ thống thông tin Theương pháp cũng khác nhau Về cơ bản, quá trình phát tri

hoạch dự án, Phân tích hệ thống, Thiết kế h

m, Cài đặt và chuyển đổi hệ thống, Vận hành và b

c hiện lần lượt, nhưng ở một vài bước có thể

u Tùy thuộc vào mỗi phương pháp sử dụng, thởi gian th

n khác nhau và sự gối đầu hay lặp lại cũng giống nhau

Trang 21

21

1 Lập kế hoạch dự án

- Ý nghĩa:

Quyết định việc có xây dựng hệ thống thông tin hay không

Là một yêu cầu bắt buộc để tiến hành những bước sau: không có dự án thì cũng không có việc xây dựng hệ thống thông tin

- Mục tiêu:

Trình được dự thảo xây dựng hệ thống thông tin khả thi lên nhất lên lãnh đạo

- Nội dung: bao gồm các công việc phải được thực hiện sau:

• Xác định mục tiêu ( mục tiêu chiến lược và trước mắt)

• Xác định các nhân tố quyết định thành công

• Phân tích phạm vi, ràng buộc

• Xác định các vấn đề có tác động và ảnh hưởng đến các yếu tố đạt mục tiêu,

Phân tích hệ thống là việc sử dụng các phương pháp và công cụ để nhận thức

và hiểu biết được hệ thống, tìm các giải pháp giải quyết các vấn đề phức tạp nảy sinh trong hệ thống đang được nghiên cứu

- Ý nghĩa của giai đoạn phân tích hệ thống là công việc trung tâm khi xây dựng

hệ thống thông tin: đi sâu vào bản chất và chi tiết của hệ thống

- Mục tiêu:

Xác định nhu cầu thông tin( cho dữ liệu và xử lý trong tương lai)

- Nội dung: bao gồm các giai đoạn phân tích:

• Nghiên cứu hiện trạng

Trang 22

22

Nhằm hiểu rõ tình trạng hoạt động của hệ thống cũ

• Xây dựng mô hình hệ thống

Dựa vào kết quả điều tra để lên một mô hình nghiệp vụ( vật lý) của hệ thống,

từ đó làm rõ mô hình thông tin(khái niệm) và mô hình hoạt động của hệ thống Đây là giai đoạn quan trọng nhất

• Nghiên cứu khả thi

Có tầm quan terongj đặc biệt vì nó liên quan đến việc lựa chọn giải pháp vì thực chất là tìm ra một điểm cân bằng giữa nhu cầu và khả năng giải quyết vấn đề Việc phân tích tính khả thi của dự án được tiến hành trên ba mặt:

+ Khả năng kỹ thuật: Xem xét khả năng kỹ thuật hiện có đủ đảm bảo thực hiện giải pháp của công nghệ sẽ được áp dụng trong điều kiện có thể

+ Khả thi kinh tế:

Khả năng tài chính của tổ chức có đủ thực hiện giải pháp này?

Lợi ích mà dự án phát triển hệ thống thông tin mang lại đủ bù đắp chi phí phải bỏ ra xây dựng nó

Tổ chức chấp nhận những chi phí thường xuyên khi hệ thống hoạt động? + Khả thi hoạt động: hệ thống có thể vận hành trôi chảy trong môi trường quản lý

Trang 23

23

Cũng là giai đoạn trung tâm cho một phương án cụ thể hay một mô hình đầy

đủ về hệ thống thông tin tương lai

Mục đích: đạt được các đặc tả về hình thức và cấu trúc hệ thống, môi trường

mà trong đó hệ thống hoạt động, nhằm hiện thực hóa các kết quả phân tích và đưa

ra quyết định về việc cài đặt hệ thống như thế nào?

Nội dung:

- Thiết kế logic: Gồm các thành phần của hệ thống và liên kết giữa chúng (cơ sở

dữ liệu, các xử lý, các giao diện… ) Các đối tượng và quan hệ được mô tả là những khái niệm, không phải các thực thể vật lý Kết quả: thu được các mô hình khái niệm dữ liệu và xử lý

- Thiết kế vật lý: Là quá trình chuyển mô hình logic trừu tượng thành thiết kế kỹ thuật của hệ thống: hệ thống các thiết bị và các chức năng của người mà máy tính trên hệ thống Kết quả là tạo ra các đặc tả cụ thể về thiết bị phần cứng, phần mềm … và sự sắp đặt các thành phần vật lý trên trong không gian, thời gian

Yêu cầu: Đảm bảo hệ thống thỏa mãn những yêu cầu đã phân tích và dung hòa với khả năng thực tế

- Chọn các đặc tả thiết kế thành các phần mềm cho máy tính

- Kiểm tra, thử nghiệm các modul chức năng, hệ thống con, cả hệ thống

Yêu cầu:

Trang 24

24

- Chuyển tải mọi kết quả phân tích thiết kế hệ thống trên giấy thành phần mềm chạy được trên máy tính

- Cho sản phảm đúng và đúng sản phẩm

5 Cài đặt và chuyển đổi hệ thống

Ý nghĩa: Làm thay đổi và nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức

Mục tiêu: Chuyển đổi toàn bộ hoạt động của tổ chức từ cũ sang mới

Nội dung: Chuyển đổi dữ liệu, đào tạo và sắp xếp đội ngũ cán bộ làm việc trên hệ thống mới

Yêu cầu: hệ thống mối hoạt động tốt và mang lại hiệu quả cao hơn hệ thống cũ

6. Vận hành và bảo trì

• Ý nghĩa: Chứng tỏ sức sống của sản phẩm

• Mục tiêu: Đáp ứng các mục tiêu đặt ra ban đầu

• Nội dung:

• Đề xuất những sửa đổi, cải tiến, bổ sung

• Tiến hành những sửa đổi, bổ sung về phần cứng, phần mềm

• Kiểm tra tính đáp ứng được những yêu cầu vốn có và yêu cầu mới hoặc cải tiến Hiệu quả xử lý của hệ thống

Yêu cầu: hệ thống luôn sẵn sàng, các hoạt dộng không bị gián đoạn

1.3.5 Mô hình không gian phát triển hệ thống

Có thể coi mỗi bước trong phân tích và thiết kế là một điểm trong không gian ba chiều: Chiều thành phần của hệ thống thông tin, chiều mức bất kiến và chiều các giai đoạn phát triển Việc nghiên cứu, phân tích và thiết kế hệ thống thông tin cần phải tiến hành theo mỗi chiều của không gian

Trang 25

Hình 1-2 Mô hình không giam phát triển hệ thống

Z Liên quan đến cách tiếp cận, phương pháp luận, xác đ

t buộc dẫn đến một lời giải có thể hoàn hả

X Cho phép xác định thành phần cơ bản của một hệ thống thông tin: d

ảo chưa nhưng khả

ng thông tin: dữ liệu,

n trình khái niệm hóa

Trang 26

Y liên quan đế

quyết định, phụ thuộ

phẩm

Các mô hình được chia thành 4 m

theo thứ tự mữa trừu tượng th

1.3.6 Ba mô hình phát triển h

a Mô hình vòng đời cổ đ

Kỹ nghệ phần mềm đư

cổ điển còn được gọi là mô hình thác n

thống, tuần tự tới việc phát tri

phân tích, thiết kế, mã hóa, ki

hoạt động trong mô hình thác n

26

ến khái niệm “ mức bất tiến”, cho phép nhóm các thông s

ộc vào chu kỳ sống, sự lựa chọn công cụ

c chia thành 4 mức trừu tượng khác nha Đó là 4 m

ng thấp dần: Mức quan niệm, mức tổ chức, mứ

ển hệ thống thông tin cơ bản nhất

điển

m được minh họa theo khung vòng đời cổ điển Mô hình vòng

i là mô hình thác nước Khung vòng đời yêu cầu tiế

c phát triển phần mềm, bắt đầu ở mức hệ thống và ti, mã hóa, kiểm thử và bảo trì Như vậy, khung vòng

ng trong mô hình thác nước

Hình 1-3 Mô hình vòng đời cổ điên

Trang 27

27

b Mô hình làm bản mẫu

Cách tiếp cận làm bản mẫu cho kỹ nghệ phần mềm là cách tốt nhất khi:

- Khách hàng xác định được mục tiêu tổng quát cho phần mềm, nhưng chưa xác định được input và output

- Người phát triển không chắc về hiệu quả của thuật toán, về thích nghi hệ điều hành hay giao diện người máy cần có

- Làm bản mẫu là 1 tiến trình giúp người phát triển có khả năng tạo ra một mô hình cho phần mềm cần xây dựng

Mô hình có thể lấy một trong ba dạng:

- Bản mẫu trên giấy hoặc trên máy mô tả giao diện người – máy dưới dạng làm cho người dùng hiểu được cách các tương tác xuất hiện

- Bản mẫu làm việc: cài đặt một tập con chức năng phần mềm mong muốn

- Một chương trình chỉ cần thực hiện nét cơ bản của tất cả các chức năng mong muốn nhưng cần cải tiến thêm các tính năng khác tùy theo khả năng phát triển Người phát triển và khách hàng gặp nhau và xác định mục tiêu tổng thể cho phần mềm, xác định các yêu cầu nào đã biết, miền nào cần khảo sát thêm Rồi đến việc thiết kế nhanh Thiết kế nhanh tập trung vào việc biểu diễn các khía cạnh của phần mềm thấy được đối với người dùng Thiết kế nhanh xây dựng một bản mẫu

 người dùng đánh giá  làm mịn các yêu cầu cho phần mềm Tiến trình lặp đi lặp lại, xảy ra để cho bản mẫu được “ vi chỉnh” thỏa mãn yêu cầu của khách đồng thời giúp người phát triển hiểu kỹ hơn về việc cần phải thực hiện nhu cầu nào

c Mô hình xoắn ốc

Mô hình xoắn ốc bao gồm các tính năng tốt nhất của cả vòng đời cổ điện và làm bản mẫu cộng thêm phần phân tích rủi ro

Trang 28

28

Mô hình các định 4 hoạt động chính:

+ Lập kế hoach: Xác định mục tiêu, giải pháp, ràng buộc

+ Phân tích rủi ro: Phân tích các phương án và xác định, giải quyết rủi ro + Kỹ nghệ: Phát triển sản phẩm” mức tiếp theo”

+ Đánh giá của khách hàng: Khẳng định kết quả của kỹ nghệ

Với mỗi lần lặp xung quang xoắn ốc, xác định thêm các phiên bản được hoàn thiện dần Nếu phân tích ruit ro chỉ ra rằng không chắc chắn cho các yêu cầu thì việc làm bản mẫu có thể được sử dụng trong góc phần tư kỹ nghệ, các

mô hình và các mô phỏng khác cũng được dùng để làm rõ hơn vẫn đề và làm mịn yêu cầu

Khách đưa ra những gợi ý thay đổi  vòng xoáy mới tại mỗi vòng xung quanh xoắn ốc, cao điểm của việc phân tích rủi ro là quyết định “tiến hành hay không tiến hành” Nếu rủi ro quá lớn thì có thể đình chỉ dự án

Mọi mạch đi xung quanh xoắn ốc đều đòi hỏi kỹ nghệ có thể được thực hiện bằng cách tiếp cận vòng đời và làm bản mẫu Tất nhiên số các hoạt động phát triển phải tăng lên khi hoặt động chuyển xa hơn ra khỏi trung tâm vòng xoắn ốc

• Ưu điểm:

Khung mô hình xoắn ốc với kỹ nghệ phàn mềm hiện tại là cách tiếp cận thực tế nhất đến việc phát triển các hệ thống và phần mềm quy mô lớn Trong đó người ta dùng cách làm bản mẫu như một cơ chế làm giảm bớt rủi ro

Mô hình đã được tổng hợp các tính ưu việt của các mô hình trước

Mô hình có đưa vào các yếu tố phân tích rủi ro- yếu tố vô cùng quan trọng đảm bảo cho tính khả thi của bài toán

Nhược điểm:

Trang 29

Quy trình tiếp cận hệ thống cần tiến hành theo những bước sau đây:

Xác định mục tiêu, lựa chọn nội dung và mức độ đáp ứng được mục tiêu, lựa chọn phương pháp (hoặc mô hình, phù hợp với nội dung và mức độ ), nghĩa là phải đảm bảo sự tương họp giũa mục tiêu, nội d ung, mức độ và phương pháp trong một quy trình chặt chẽ

Ta hãy lấy ví dụ sau:

Mục tiêu của ta là nắm được những thông tin cơ bản về kinh tế quốc dân để phục

vụ cho việc lập kế hoạch phát triển nền kinh tế quốc dân trong một thời kỳ nào đó (chẳng hạn 5 năm) Vậy mục tiêu ở đây là nhằ điều khiển nền kinh tế quốc dân Trong điều khiển học thì điều khiển ( hay quản lý) nền kinh tế quốc dân thực chất là điều khiển hành vi của nó; do đó nội dung cần làm đầu tiên là tiếp cận hành vi của hệ ở mức tổng thể và sau đó mới tiếp cận cấu trúc của nó ở mức chi tiết hóa Tiếp cận hành vi trước., cấu trúc của hệ thì ta cũng có thể dụ đoán được phần nào cấu trúc của hệ, điều này rất có lợi cho việc chỉ đạo quá trình tiếp cận cấu trúc ở các bước sau Còn nếu ta tiếp cận cấu trúc trước thì những kiến thức thu nhập được ở một bộ phận nào đó, ta không thể nêu nên một nhận định gì về hành vi tổng thể của hệ thống

Khi tiếp cận hệ tổng thể hành vi của hệ thống, mô hình hóa toán học là một phương pháp có nhiều lợi thế Vì cấu trúc của hệ chưa biết nên ta coi nó như là một phương pháp có nhiều lợi thế Vì các cấu trúc của hệ chưa biết nên ta coi nó như là một

hộ đen và nghiên cứu hành vi của hệ dưới dạng một vài chỉ tiêu chủ yếu nhất ; do đó người ta cũng gọi đây là mô hình chiếc hộp đen và có dạng như : mô hình input – output

Trang 30

30

Ta giới thiệu sơ lược một vài mô hình dạng này mà trong toán kinh tế thường gọi là các macromodels ( mô hình gộp lớn )

a Mô hình Harrod – Domar

Mô hình này được Harrod ( nhà kinh tế học người Anh ) đề xuất và Domar ( nhà kinh tế học người Mỹ ) hoàn chỉnh Cấu trúc của hệ được coi là môt hộp đen S; có 2 input

là K (vốn ) và L (sức lao động); có 1 output Y là thu nhập quốc dân (hay sản phầm cuối cùng ) Mô hình được nghiên cứu theo thời gian rời rạc và có dạng dưới đây:

Các hệ thức của mô hình:

Yt = 

 Kt = 

 Lt Kt+1 – Kt = It

It = sYt

Lt+1 – Lt = nLt

Trong đó :

V là tần suất vốn: số vốn cần thiết để tạo ra 1 đơn vị thu nhập quốc dân

U là suất lao động: số lao động cần thiết để tao ra 1 đơn vị thu nhập quốc dân

S là tỉ trong tích lũy

It là vốn đầu tư

N là nhịp tăng suất lao động hành năm

Trang 31

b Mô hình tân cổ điển ( neoclassique)

Nếu trong mô hình Harrod – Domar ta thấy sản suất Yt bởi hàm Cobb – Doughlas thì được mô hình tân cổ điển:

Yt = F(Kt , Lt) = .Ktα Ltβ

Trong đó:

>0 , α ≥ 0 , β ≥ 0, và α + β = 1

Kt+1 – Kt = It = s.It và Lt+1 – Lt = nLt

Trang 32

32

Trong mô hình này giữa vốn và sức lao động có thể thay thế cho nhau Có thể dùng

số vốn ít hơn và số lao động nhiều hơn ( hoặc ngược lại) để tạo ra cùng một mức thu nhập quốc dân; tất nhiên sự thay thế đó chỉ được thực hiện được trong 1 phạm vi rất hẹp

Sau quá trình tiếp cận hành vi sẽ là quá trình tiếp cận cấu trúc Ở gai đoạn này cấu trúc không còn là một hộp đen mà là một cấu trúc gồm ít nhất 2 phần tử cùng với mối liên kết giữa các phần từ đó Ở mức tổng thể toàn bộ nền kinh tế quốc dân , người ta chỉ xét trường hợp cấu trúc có 2 phần tử: phần tử a1 đại diên cho khu vực sản suất ra tư liệu sản xuất, còn phần tử a2 đại diện cho khu vực sản xuất ra tư liệu tiêu dùng vì thế người ta gọi đây là mô hình 2 khu vực

c Mô hình 2 khu vực

Trong mô hình này input của hệ vẫn là K và L nhưng tách ra thành 2 phần (K1, L1)

và (K2,L2) tương ứng với input của khu vực 1 và khu vực 2 Output của hệ vẫn là sản phẩm cuối cùng Y được tạo nên từ output y1, y2 của hai khu vực

Để làm rõ cấu trúc của hệ thống , chúng ta cần phải làm rõ mối liên kết giữ hai phần

tử a1 và a2 này Trong kinh tế thì mối liên kết quan trọng nhất là mối quan hệ cung ứng và tiêu thụ sản phần của nhau

Trong quá trình sản xuất, khu vực một tiêu thụ sản phầm của chính mình ( tức là tư liệu sản xuất) theo hệ số tỉ lệ a11 và tiêu thụ sản phẩm của khu vực hai ( tức là tư liệu tiêu dùng) theo tỉ lệ a21 Tương tự, khu vực hai cũng tiêu thụ sản phầm của chính mình ( tức là

tư liệu sản xuất) theo hệ số tỉ lệ a22 và tiêu thụ sản phẩm của khu vực hai ( tức là tư liệu tiêu dùng) theo tỉ lệ a12

Ý nghĩa các ký hiệu:

x1, x2 là sản phầm thô của khu vực 1 và 2

y1,y2 là sản phầm cuối cùng của khu vực 1 và 2

Trang 33

33

a11x1, a12x2 là hao phí tư liệu sản xuất của khu vực 1 và 2

a21x1, a22x2 là hao phí tư liệu tiêu dùng của khu vực 1 và 2

Liên kết giữa hai khu vực

x1 = a11x1 + a12x2 +y1 x2 = a21x1 + a22x2 +y2

Trong quá trình sản xuất mỗi ngành đều cung cấp và tiêu thụ sản phẩm của ngành kia, đồng thời cũng cùng tiêu thụ sản phẩm của mình (liên kết ngược) Sơ đồ trên chính là

sơ đồ cấu trúc của hệ thống tương ứng: gồm 2 liên kết song song, 2 liên kết ngược Nên

ký hiệu:

2); A= (aij) (i,j = 1,2) thì hệ thức có dạng: x= Ax+yhay

y = (E2 – A )x với E2 = (1

0

0

1 )

Trang 34

34

nghĩa là có thể tính được sản phẩm cuối cùng theo quy mô sản xuất x

Điều kiện tái sản xuất mở rộng:

∆K1 + ∆K1 = y1 – 1K1 – 2K2 > 0

Từ đây suy ra y1 >1K1 + 2K2 nghĩa là sản phẩm cuối cùng của khu vực 1 phải lớn hơn khấu hao vốn của cả 2 khu vực; trong đó 12 là tỷ lệ khấu hao vốn của khu vực 1 và 2.Quỹ tiêu dùng C, với Y2 = C

Toàn bộ sản phẩm cuối cùng của khu vực hai dành cho tiêu dùng

Nếu ta chia nền kinh tế quốc dân thành n ngành sản xuất (n phần tử) thì với n > 2 ta có các mô hình chi tiết hóa.Khi tiếp cận cấu trúc của một hệ thống kinh tế xã hội, cần quan trọng tâm đến ba loại hình cơ cấu sau đây:

• Cơ cấu dân số

• Cơ cấu kinh tế

• Cơ cấu kinh tế liên ngành

• Cơ cấu kinh tế liên vùng lãnh thổ

Ở đây ta sẽ giới thiệu sơ lược mô hình tiếp cận cơ cấu dân số, đó là mô hình tổng thể, giữ một vai trò quan trọng trong quá trình lập kế hoạch cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân vì cơ cấu dân số là điều xuất phát để tính cơ cấu nguồn lao động và nhu cầu mọi mặt của đời sống xã hội như ăn, mặc , ở , đi lại, bệnh viện, trường học, trường dạy nghề và các nhu cầu khác v.v…

1.4.2 Nguyên lý 2 – nguyên lý phân cấp

Khi nghiên cứu cấu trúc của hệ thống phân cấp, bắt buộc phải tiếp cận các cấp theo thứ tự từ trên xuống dưới Hệ thống con ở cấp cao thường là hệ thống của các hệ thống con ở cấp thấp hơn Hệ phức tạp thường là hệ lớn, mà đối với hệ thống lớn bao giờ cũng

Trang 35

35

phải ưu tiên tiếp cận tổng thể trước, bởi vì những hiểu biết về tổng thế sẽ giúp chúng ta định hướng và lựa chọn mục tiêu tốt hơn trong quá trình tiếp cận chi tiết Còn nếu tiếp cận chi tiết trước (tiếp cận cấp dưới trước) thì những hiểu biết về chi tiết, tức là những hiểu biết về những cấp thấp không thể giúp chúng ta định hướng cho cả một hệ thống lớn; nếu

có ý định tiếp cận tất cả các cấp thấp trước để từ đó suy ra tổng thể thì điều này không bao giờ làm được đối với một hệ thống lớn Hơn nữa xét về mặt nguyên tắc của công tác kế hoạch hóa vá quản lý thì các nhiệm vụ và chỉ tiêu kế hoạch của cấp cao hơn bao giờ cũng

là những định hướng để cụ thể hóa những nhiệm vụ và chi tiết kế hoạch của cấp thấp hơn

Vì vậy bắt cuộc phải tiếp cận hệ thống từ trên xuống dưới

Đối với hệ thống kinh tế quốc dân, hệ thống con cấp cao hơn được phân định theo hai cách khách nhau

Phân chi nền kinh tế quốc dân thành n ngành sản xuất, mỗi bộ quản lý một ngành Theo cách này ta có bộ kinh tế liên ngành, tương ứng với nó là mô hình kinh tế liên ngàng của Leontief

Phân chia hệ thống kinh tế quốc dân theo vùng lãnh thổ, mỗi tỉnh hoặc thành phố là

1 vùng do UBND vùng đó quản lý, tương ứng với nó là mô hình kinh tế liên vùng

1.4.3 Nguyên lý 3- nguyên lý cân bằng nội

Đây là nguyên lý quan trọng nhấy trong các nguyên lý tiếp cận và điều khiển hệ thống Phát biểu nguyên lý thì ngắn gọn, nhưng nội dung rất phức tạp và đa dạng, điều này đòi hỏi các nhà nghiên cứ và quản lý đặc biệt quan tâm Đó là: “ Khi tiếp cần động thái các hệ thống phức tạp phải đặc biệt quan tâm đến các trạng thái cân bằng nội của hệ thống đó”

Thế nào là trạng thái cân bằng nội dung của hệ thống? Con người nói riêng hoặc hệ thống sinh học nói chung luôn tồn tại trong trạng thái mà các phần tử và các hệ thống con của nó giữ đươc mối quan hệ liên kết hài hòa, chẳng hạn: thân nhiệt, nhịp tim, lượng

Trang 36

36

đường huyết, số hồng cầu, bạch cầu trong máu hệ thống kinh tế xã hội (hoặc một hệ thống phúc tạp nào đó khác) cũng luôn tồn tại trong trạng thái mà giữa các ngành sản xuất với nhau, giữa lĩnh vực sản xuất và tiêu dùng, giữa tiền lương và giá cả sinh hoạt giữ được mối quan hệ tỷ lệ hài hòa Các quan hệ tỷ lệ hài hòa đó xảy ra và được duy trì bên trong hệ thống đó được gọi là “Các trạng thái cân bằng nội” Khi trạng thái của hệ thống thuộc vào tập các trạng thái cân bằng nội thi ta nói hệ thống là ổn định Khi có một vài phần tử hoặc hệ thống con vượt ra ngoài tập các trạng thái cân bằng nội thì ta nói hệ “mất cân bằng”; khi có nhiều hệ con mất cân bằng hoặc có phân tử vượt quá tập các trạng thái cần bằng, ta nói hệ bị rối loạn hoặc lâm vào tình trạng nguy hiểm Nếu sự rối loạn vượt quá mức giới hạn nào đó hệ có thể lâm vào khủng hoản hoặc có nguy cơ tan rã (nếu là hệ thống kinh tế xã hội) hoặc bị hủy diệt (nếu là hệ sinh học) Ví dụ như do thiên tai bão lụt, động đất, mất mùa, nền kinh tế xã hội bị tổn thất lớn nên hệ thống mất cân bằng (gặp khó khăn) Nếu thiên tai lại xảy ra trên một diện lớn và xảy ra nhiều năm liên tiêp thì hệ kinh

tế xã hội gặp khó khăn lớn lâm vào tình trạng nguy hiểm Nếu trong tình huống đó, cơ quan nhà nước lại không có giải pháp thích hợp và để xảy ra tham nhũng lớn, bè phái tranh giành quyền lực gây mất lòng tin và rối loạn tâm lý xã hội thì hệ có nguy cơ lâm vào khủng hoảng và có thể tan rã

Tiếp cận động thái của hệ bao gồm việc tiếp cận hiện trạng và sau đó là khuynh hướng diễn biến của trạng thái của hệ trong tương lai Điều quan trọng là hiện trạng cũng như động thái của hệ trong tương lai có thuộc vào miền ổn định không? Có phần tử nào phá vỡ sự cân bằng nội không? nếu có thì ở mức nào? Tất cả những thông tin này giữ một vai trò quan trọng trong việc lựa chọn những quyết định điều khiển hoặc quản lý hệ thống Khi nghiên cứu về cân bằng nội của hệ thống kinh tế quốc dân cần quan tâm đến một số vấn đề quan trọng sau đây:

a) Trạng thái cân bằng động:

Giả sử hiện trạng của nền kinh tế đang ở trạng thái a0 Nếu trong công tác quản lý ta buộc giữ cho nền kinh tế giao động rất ít xung quanh a0 thì tạo được sự cân bằng ổn định

Trang 37

37

cho hệ thống; nhưng sự ổn định này là sự ổn định trì trệ, nếu kéo dài sẽ tụt hậu Đó không phải là mong muốn của các nhà quản lý Mong muốn của chúng ta là phát triển kinh tế Vì vốn đầu tư có hạn nên chỉ có thể đầu tư vào một số lĩnh vực hoặc một số công trình nào

đó Nhưng một lĩnh vực kinh tế nào đó phát triển, đòi hỏi các lĩnh vực liên quan cũng phải

có sự thay đổi tương ứng, nếu không đáp ứng được yêu cầu đó, nền kinh tế sẽ mất cân bằng Ví dụ như hàng năm, ta vẫn sản xuất khoảng 30 triệu tấn thóc; do đầu tư vốn vào giống lúa, phân bón, thuốc trừ sâu và kỹ thuật canh tác, ta đưa sản lượng thóc lên 35 triệu tấn Rất có thể đối với 5 trệu tấn thóc tăng thêm này ta chưa đủ phương tiện phơi, xấy; chưa đủ kho cất giữ; chưa đủ phương tiện xay xát, chưa đủ bao bì đóng gói Nghĩa là không đủ các điều kiện về cơ sở hạ tầng; đó là sự mất cân bằng do sự phát triển gây ra Nếu ta mau chóng khắc phục sự mất cân bằng do sự phát triển gây ra này thì nền kinh tế

sẽ trở lại cân vằng với trạng thái mới a1 tốt hơn a0 Và cứ như thế chúng ta có một dãy trạng thái cân bằng a0,a1,a2 an Ta gọi dãy các trạng thái cân bằng động Nếu trong quá trình quản lý nền kinh tế quốc dân cúng ta chủ động phá vỡ sự cân bằng, sau đó mau chóng khắc phục sự mất cân bằng đó và tạo ra trạng thái cân bằng mới tốt hơn trạng thái cân bằng cũ thì ta có được một quá trình kinh tế (ổn định) Như vậy quá trình phát triển kinh tế thực chất là quá trình chủ động phá vỡ cân bằng và lập lại cân bằng một cách có tính toán Đôi khi nền kinh tế có thể đi thẳng từ trạng thái ổn định này sang trạng thái ổn định khác tốt hhơn mà không qua giai đoạn mất cân bằng; đó là trường hợp mà các nhà quản lý có đủ tài năng, đủ thông tin, đủ điều kiện và phương tiện, vật chất để làm việc đó Cũng có thể do điều kiện khắc nghiệt của thiên tai mà nên kinh tế mất cần bằng và trở thành suy thoái, các nhà quản lý cố gắng khắc phục sự mất cân bằng và tạo ra trạng thái cân bằng mới Tất nhiên tốt hơn trạng thái cân bằng cũ Trong trường hợp này ta có một quá trình suy thoái Nếu xét động thái của nền kinh tế trong đó có giai đoạn phát triển nhanh, có giai đoạn phát triển chậm, có giai đoạn trì trệ và cũng có giai đoạn suy thoái Lịch sử phát triển kinh tế cả tất cả các nước đều như thế Luận điểm cho rằng có thể tạo ra một nền kinh tế luôn luôn phát triển với tốc độ ngày càng cao là một luận điểm thiếu căn

cứ khoa học

Trang 38

38

Tuy nhiên trạng thái cân bằng động trong một hệ sinh thái lại có một lược đồ khác Chẳng hạn như một con người có đời sống hữu hạn hgồm hai giai đoạn Từ lúc sinh ra đến tuổi nào đó(nói chung khoảng 40 tuổi) là giai đoạn phát triển, mọi chỉ số về cơ thể ngày càng hoàn thiện; sau đó là giai đoạn suy thoái, các chỉ số ngày càng tồi hơn cho đến khi bị hủy diệt Kết luận này có nghĩa trong nghiên cứu sinh học và y học Cách chữa bệnh cho một người đang trong giai đoạn suy thoái rất khác với cách chữa bệnh đó trong một ngừoi đang trong trạng thái phát triển

b) “Cân bằng nội chủ yếu” hoặc “Cân bằng nội đối ngẫu”

Trạng thái cân băng nội của một hệ thống nào đó được tạo ra từ những mối quan hệ hài hoài giữa các bộ phận hay các hệ thống con của hệ thống đó Tuy nhiên vai trò của hệ thống con trong việc duy trì trạng thái cân bằng không giống nhau, nói cách khác có một

số hệ thống con nào đó giữu vai trò chủ yếu trong việc duy trì trạng thái cân bằng nội dung cho toàn hệ thống Như vậy ta không dàn trải đều sự quan tâm của chúng ta mà tập trung sự chú ý vào sự cân bằng giữa các bộ phận chủ yếu hoặc các lĩnh vực chủ yếu và ta gọi đó là cân bằng nội - chủ yếu Ví du như đồng đô – la Mỹ, đồng Euro, đồng bảng Anh

và đồng yên tiền tệ trên thế giới Trong trường hợp đặc biệt, sự cân bằng chủ yếu chỉ dựa bào hai nhóm hoặc hai lĩnh vực, vừa có tác dụng thúc đẩy nhau phát triển lại vừa có tác dụng kiềm chế lẫn nhau Khi ấy ta có trạng thái cân bằng nội đối ngẫu Đây là điều phát hiện rất quan trọng trong lý thuyết hệ thống Lý thuyết đối ngẫu tối ưu hóa nghiên cứu mối quan hệ ràng buộc giữa quy mô sản xuất và hệ thống giá cả và khẳng định rằng trạng thái tối ưu của nền kinh tế chính là điểm cân bằng giữa quy mô sản xuất x € Rn và hệ thống y

€ Rm Nhà kinh tế học người Pháp L.Walras, được coi là người mở đường cho việc sử dụng công cụ toán học và nghiên cứu kinh tế, đã nghiên cức hệ kinh tế có cạnh tranh(còn gọi là hệ thống kinh tế phi tập trung) trong đó hành vi của 2 lớp người cơ bản: lớp người sản xuất và lớp người tiêu thu, chính là 2 yếu tố dối ngẫu tạo nên trạng thái cân bằng động của hệ thống

Trang 39

39

Kết quả khái quát có thể rút ra từ công trình laoi này là cơ chế sản xuất và cơ chế thì trường là hai cơ chế đối ngẫu vừa kiềm chế, vừa thúc đẩy nhau phát triển tạo nên sự phát triển cân bằng của hệ thống Không có một nền kinh tế nào, càng không có một địa phương nào có thể sản xuất ra dù chủng loại và đủ số lượng sản phẩm còn thiếu hoặc không sản xuất được, để đáp ứng các nhu cầu của xã hội hoặc của một địa phương Phủ định cơ chế thị trường là một luận điểm phi khoa học Vấn đề cùng đặt ra tương tự là sự kết hợp hiwũa hai hình thức sở hữu: sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân Kinh tế nhà nước giữ vai trò định hướng và giải quyết những vẫn đề kinh tế lớn phù hợp với trình độ khoa học và công nghệ hiện đại; đồng thời tạo ra dự trữ lớn đảm bảo cho nền kinh tế quốc dân giữ được ổn định khi có những sự cố về thiên tai và mất mùa Tuy nhiên kinh tế tư nhân lại tạo ra sự năng động và linh hoạt vô cùng quan trọng trong động lực phát triển kinh tế Phủ định hình thức sở hữu tư nhân thực chất cũng là một luận điểm sai lầm Mức

độ thành công khác nhau trong quá trình “đổi mới” hiện nay ở các nước phụ thuộc vào cách thức và trình độ giải quyết những vấn đề nêu trên cùng một số vấn đề liên quan khác nhau trên cơ sở nguyên lý “cân bằng đối ngẫu” như thế nào

1.4.4 Nguyên lý 4 – nguyên lý bổ sung ngoài

Ý tưởng của nguyên lý bổ sung ngoài tất nhiên là xuất phát từ những vấn đề thực tế

mà chúng ta gặp phải trong quá trình quản lý những hệ thống phức tạp nhưng nguồn gốc

lý luận thực sự của nó lại được suy ra từ một định lý toán học thuần túy Đó là định lý Godel về tính không đầy đủ của một hệ thống toán học hình thức hóa

Định lý Godel (Dưới dạng Rosser)

“Nếu lý thuyết hình thức S phi mâu thuẫn thì nó không đầy đủ, nghĩa là trong S không suy diễn được cả hai công thức () và ¬( )”

Ở đây S có thể được coi là một “hệ thống toán học”, nêu lên đối tượng mà ta muốn nghiên cứu , nếu đối tượng ấy là các con số (chẳng hạn ký hiệu là x) thì ta có một hệ thống số học hình thức Khi đó hệ S bao gồm các ký hiệu sau đây:

Trang 40

40

Một ký hiệu là 0

Một ký hiệu là hàm 1 ngôi f(x)

Hai ký hiệu hàm hai ngôi f(x,y) ký hiệu x+y tương ứng với phép tính cộng ;

f(x,y) ký hiệu là x.y tương ứng với phép tính nhân (thông thường)

Một lý hiệu tân từ hai ngôi E(x,y) ký hiệu là x = y

Như vậy có thể phát biểu định lý Godel dưới một dạng khác dễ hiểu hơn , đồng thời cũng giúp chúng ta diễn giải dễ dàng hơn về nguyên ký bổ sung trong tiếp cận hệ thống

Đó là trong hệ thống toán học hình thức phi mâu thuẫn , luôn có những mệnh đề mà ta không thể chứng minh nó là đúng, nhưng cũng không thể chứng minh nó là sai Ta gọi đó

là các mệnh đề bất khả quyết Muốn giải quyết vấn đề này thì phải đặt S trong một hệ

“siêu toán” (metamathematics), tức là một “siêu lý thuyết” nằm trong các lý thuyết hình thức nói trên Từ đây người ta nêu lên nguyên lý bổ sung ngoài như sau:

Nguyên lý bổ sung ngoài Trong quá trình tiếp cận và quản lý các hệ thống phức tạp,

ta thường gặp phải những vấn đề “bất khả quyết”, đó là những vấn đề mà từ những góc độ bên trong của hệ thống đó chúng ta không thể coi đó là đúng nhưng cũng không thể coi

đó là sai Giải quyết theo hướng nào cũng có những điều không thỏa đáng Khi đó ta phải tìm cách lý giải hoặc giải pháp cho vấn đề từ bên ngoài hệ thống hoặc “bổ sung” một cái

gì đó vào hệ thống (một bộ phận nào đó hoặc một quy định gì đó) tức là xét vấn đề trong một hệ thống lớn hơn (một siêu hệ thống : metasystem)

Theo định lý Godel có vấn đề “bất khả quyết” đồng nghĩa với hệ thống S không đầy

đủ Theo nguyên lý bổ sung ngoài nên “bổ sung” thêm một quy định nào đó thì sẽ hòa giải được các vấn đề bất khả quyết

Ngày đăng: 05/05/2020, 23:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Lý thuyết Hệ thống và điều khiển học, PSG.TS. Nguyễn Địch, PSG.TSKH.Bùi Công Cường, TS.Lê Văn Phùng, PGS.TS.Thái Thanh Sơn, NXB Thông tin và truyền thông, 2009 Khác
[2]. Kỹ thuật phân tích và thiết kế hệ thống thông tin hướng cấu trúc, TS. Lê Văn Phùng, NXB Thông tin và Truyền thông, 2014 Khác
[4]. Phân tích và thiết kế hệ thống thông tin, GS. TS. Nguyễn Văn Ba, NXB ĐH Quốc Gia Hà Nội, 2003 Khác
[5]. Information Systems Theoretical Foundations, Z. PawLak, Inform System, Vol 6, No.3 pp. 205-218, 1981 Khác
[6]. Information System Foundations Theory, Representation and Reality, Dennis N. Hart and Shirley D.Gregors, Australian National University Express, 2007 Khác
[7]. Theories and Practice of Design for Information Systems: Eight Design Perspective in Ten Shor Weeks, David G. Hendry and Batya Friedman, Pulished by ACM 2008 Khác
[8]. Advanced Information System Design: Technical Basis and Humand Factors Review Guidance, John M. O’Hara and James C. Higgins, Brookhaven National Laboratory, 2014 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w