1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận đường lối vấn đề đảm bảo TIẾP cận các DỊCH vụ xã hội cơ bản ở VIỆT NAM HIỆN NAY

25 91 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 135,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dịch vụ xã hội Trước hết, khái niệm “dịch vụ xã hội” được gắn kết bởi hai khái niệm “dịch vụ” và “xã hội”, bao gồm những dịch vụ đáp ứng các nhu cầu cộng đồng và cá nhân nhằm phát triển

Trang 1

I CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1 Quan niệm về an sinh xã hội và đảm bảo an sinh xã hội trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

1.1.1 Quyền an sinh xã hội một trong những quyền cơ bản của con người

Con người cần những nhu cầu thiết yếu để tồn tại và phát triển như có chỗ ở, có cái

ăn, cái mặc Lao động là điều kiện, là phương thức có ý nghĩa quyết định tới sự tồn tại, pháttriển của con người, xã hội Tuy nhiên, có một thực tế là không phải khi nào con người cũng

có thể lao động Bởi lẽ, trong cuộc sống con người luôn phải đối mặt với nhiều khó khăn, rủi

ro và bất hạnh mà con người cần phải vượt qua.Từ xưa, con người đã giúp đỡ, đùm bọc nhautrong khó khăn với tinh thần “tương thân tương ái” Cho đến ngày nay, an sinh xã hội đượcnhìn nhận như một vấn đề thiết yếu cho sự tồn tại và phát triển của con người, xã hội

Bước ngoặt đánh dấu cho sự ra đời chính thức của hệ thống an sinh xã hội là cuộccách mạng công nghiệp diễn ra vào thế kỷ XIX ở các nước châu Âu Để đối phó nhữngnguy cơ xảy ra với người lao động, các nghiệp đoàn đã hình thành những quỹ cứu trợ, nhànước cũng đã tham gia vào việc hình thành và tổ chức hoạt động của các quỹ mang tínhtương trợ Đây có thể xem là cơ sở cho sự hình thành và phát triển của hệ thống an sinh

xã hội

Mô hình an sinh xã hội đầu tiên trên thế giới xuất hiện ở Đức vào năm 1850, sau đólan dần ra châu Âu rồi sang các nước Mỹ Latinh, Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 củathế kỷ XX Sau chiến tranh thế giới thứ hai, an sinh xã hội đã lan rộng sang các nước ở châu

Á, châu Phi Thuật ngữ An sinh xã hội lần lượt được ghi nhận trong nhiều văn bản, đạo luậtkhác nhau Qua các khái niệm, có thể thấy an sinh xã hội có đối tượng áp dụng rộng lớn, baogồm toàn bộ thành viên xã hội Không nên xem an sinh xã hội đơn thuần chỉ là giá trị về tiềnbạc, mà phải xem đó là sự đầu tư cho con người, lấy con người làm trọng tâm, nhằm mục tiêunâng cao sức lao động, hướng tới một nền sản xuất hiệu quả

1

Trang 2

Ngày nay, không một quốc gia nào có thể bác bỏ được chân lý “Quyền đượchưởng an sinh xã hội là một trong những quyền cơ bản của con người” Việc thực hiện ansinh xã hội không bị giới hạn bởi bất kỳ rào cản chính trị hay địa lý nào, và nó được thểhiện rõ nhất qua các hoạt động cứu trợ xã hội, các hiệp định hợp tác về bảo hiểm xã hộigiữa các quốc gia vì một thế giới hòa bình, ổn định và phát triển.

1.1.2 Khái niệm bảo đảm quyền an sinh xã hội trong việc tiếp cận các dịch vụ

xã hội cơ bản

1.1.2.1 Dịch vụ xã hội

Trước hết, khái niệm “dịch vụ xã hội” được gắn kết bởi hai khái niệm “dịch vụ” và

“xã hội”, bao gồm những dịch vụ đáp ứng các nhu cầu cộng đồng và cá nhân nhằm phát triển

xã hội, có vai trò đảm bảo phúc lợi và công bằng xã hội, đề cao giá trị chân lý, nhân văn, vìcon người, là hoạt động mang bản chất kinh tế - xã hội, do nhà nước, thị trường hoặc xã hộidân sự cung ứng, bao gồm các lĩnh vực: giáo dục – đào tạo, y tế, khoa học – công nghệ, vănhóa – thông tin, thể dục - thể thao và các trợ giúp xã hội khác Dịch vụ xã hội bao gồm dịch

vụ y tế, dự phòng y tế, dự phòng tai nạn, dịch vụ đặc biệt đối với người tàn tật, người già yếubảo vệ trẻ em, kế hoạch gia đình Việc đưa những loại dịch vụ này vào hệ thống An sinh xãhội là tuỳ thuộc theo lịch sử phát triển An sinh xã hội, điều kiện kinh tế, chính trị xã hội ởmỗi nước và theo thứ tự ưu tiên trong cơ cấu và phạm vi của các dịch vụ

1.1.2.2 Dịch vụ xã hội cơ bản

Dịch vụ xã hội cơ bản là hệ thống các hoạt động đầu tiên và ở tầng thấp nhất trong hệthống an sinh xã hội, đảm bảo những điều kiện cần thiết tối thiểu nhất cho cuộc sống củangười dân Như vậy, quyền tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản là một bộ phận của quyền ansinh xã hội, là một nhóm quyền con người được pháp luật quốc tế và quốc gia ghi nhận vàđảm bảo thực hiện Khái niệm đảm bảo ở đây được hiểu là việc tạo mọi điều kiện cần thiết,chắc chắn để đạt được mục tiêu Do đó, đảm bảo quyền tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản làviệc nhà nước tạo mọi điều kiện cần thiết để chắc chắn rằng người dân có thể hưởng đầy đủcác dịch vụ xã hội cơ bản Tùy vào điều kiện phát triển kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia và

Trang 3

từng giai đoạn nhất định mà mức độ đảm bảo quyền này có thể khác nhau, nhưng nhìnchung, phạm vi của quyền tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản có thể bao gồm các quyền:Quyền được hưởng giáo dục cơ bản, quyền được chăm sóc y tế cơ bản, quyền có nơi cưtrú, quyền được cung cấp nước sạch và quyền được tiếp cận thông tin.

1.2 Nội dung quyền an sinh xã hội trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

1.2.1 Quyền được hưởng giáo dục cơ bản

Quyền được giáo dục, học tập là một trong những quyền quan trọng nhất của conngười Nhu cầu học tập cơ bản là những kỹ năng học tập cần thiết (biết chữ, biết diễn đạtbằng lời nói, biết đếm số) và những nội dung học tập cơ bản (kiến thức, kỹ năng, thái độ).Giáo dục cung cấp, trang bị kiến thức, kỹ năng cũng như rèn luyện đạo đức, nhân cách vàlối sống cho con người.Thông qua việc trang bị những kiến thức, kỹ năng cho con người,giáo dục giúp con người sống có trách nhiệm hơn với bản thân, gia đình và xã hội

Việc đảm bảo quyền được giáo dục cơ bản phải đáp ứng một số yêu cầu sau:

1 Các chương trình và cơ sở giáo dục phải đảm bảo phải có cơ sở vật chất hoặc những bảo đảm khác liên quan đến các vấn đề như cơ sở vệ sinh, nước sạch,

2 Các cơ sở và chương trình giáo dục phải mở cho sự tiếp cận của tất cả mọi người

mà không có phân biệt đối xử nào

3 Miễn phí và phổ cập giáo dục tiểu học với tất cả mọi người

1.2.2 Quyền chăm sóc y tế cơ bản

Trong đời sống xã hội, sức khỏe giữ vai trò đặc biệt quan trọng, là cơ sở không thểthiếu góp phần tạo nên nền tảng hạnh phúc, sự phát triển của mỗi con người, mỗi gia đình

và xã hội Theo định nghĩa về sức khoẻ của Tổ Chức Y tế Thế Giới (WHO): “Sức khỏe làmột trạng thái hoàn toàn thoải mái cả về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không phải làchỉ là không có bệnh tật hay tàn phế” Khi có sức khỏe tốt, con người có thể thực hiệnmong muốn của bản thân và đóng góp sức lực, trí tuệ cho sự phát triển của đất nước

Trang 4

Những yếu tố cơ bản cấu thành trong việc đảm bảo quyền được chăm sóc sức khỏe cơ bản như sau:

1 Các cơ sở chăm sóc sức khỏe cũng như các chương trình y tế cần phải có các điềukiện cần thiết như nước sạch, vệ sinh, bệnh viện, trạm y tế, cán bộ y tế có trình độchuyên môn đạt yêu cầu, các loại thuốc điều trị thiết yếu,

2 Các cơ sở chăm sóc y tế phải có thể tiếp cận được đối với mọi người mà không có

sự phân biệt đối xử

3 Có thể tiếp cận, tiếp nhận những thông tin và ý tưởng liên quan đến các vấn đề về sức khỏe

4 Tất cả các cơ sở chăm sóc sức khỏe phải tuân theo đạo đức y tế, phù hợp với chuẩnmực văn hóa chung

1.2.3 Quyền có nơi cư trú

Quyền có nơi cư trú là quyền của công dân được sinh sống tại một nơi nào đó dướihình thức thường trú hoặc tạm trú Quyền cư trú gắn liền với quyền tự do đi lại và cácđiều kiện tiêu chuẩn cơ bản duy trì cuộc sống như ăn, mặc, ở, chăm sóc ý tế, Đây là tiền

đề quan trọng cho việc phát triển cá nhân, là bước đệm cho sự phát triển của xã hội

Những yếu tố cơ bản của quyền có nơi cư trú là:

1 Quyền với nhà ở có thể dưới nhiều hình thức khác nhau như nhà thuê, nhà thuộc sởhữu của mình, nhà định cư không chính thức…

2 Một nơi ở thích đáng cần có những bảo đảm cơ bản về y tế, an ninh, có thể tiếp cậnvới các nguồn lực tự nhiên, với các điều kiện về nước sạch, xử lý rác thải, thoátnước,

1.2.4 Quyền được cung cấp nước sạch

Nước có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của con người cũng như bất kỳ sinh vật nào trên trái đất Quyền về nước còn bao gồm việc tự do tiếp cận

Trang 5

với các nguồn cung cấp nước sẵn có, quyền được bảo vệ không bị tùy tiện cắt nước, hoặclàm ô nhiễm nguồn nước, quyền bình đẳng trong việc tiếp cận các hệ thống cung cấpnước Những yếu tố cơ bản của quyền về nước được áp dụng trong mọi trường hợp đó là:

1 Việc cung cấp nước phải liên tục và đầy đủ cho mục đích sử dụng của cá nhân và gia đình

2 Nước phải an toàn, không chứa các chất gây nguy hiểm cho sức khỏe con người

3 Tất cả mọi người, không phân biệt bởi bất cứ yếu tố nào đều có quyền tiếp cận với nước và với các tiện ích dịch vụ về nước

1.2.5 Quyền được tiếp cận thông tin

Quyền được tiếp cận thông tin là quyền cơ bản của con người, được ghi nhận nhưmột bộ phận của quyền tự do ngôn luận Quyền được tiếp cận thông tin là nói về khả năngcủa mọi cá nhân, công dân, tổ chức nhận được thông tin cần thiết qua các kênh thông tincông khai, sẵn có mà không cần phải yêu cầu, nhằm mục đích thực hiện hoặc bảo vệ cácquyền lợi ích hợp pháp của mình Bên cạnh đó, chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin,công khai những thông tin và hoạt động của mình một cách thường xuyên; có trách nhiệmcung cấp thông tin khi có yêu cầu

1.3 Các biện pháp đảm bảo quyền an sinh xã hội trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

Trang 6

là đến từ nguồn thu ngân sách của Nhà nước, bến cạnh các nguồn lực nước ngoài nguồnlực từ các doanh nghiệp, tổ chức, và các nguồn lực trong nhân dân.

Thứ hai, hỗ trợ học nghề, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, nângcao nền tảng kinh tế của cá nhân và hộ gia đình.Đối với những người có khả năng tiếp cậncác cấp giáo dục chuyên nghiệp hay học nghề, thì Nhà nước hỗ trợ tạo điều kiện, trang bịkiến thức văn hóa và nghề nghiệp, để có thể ứng dụng vào quá trình làm việc, đảm bảothu nhập đồng thời, có thể tự chủ động trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

Thứ hai, thường xuyên xây dựng các chương trình, triển khai các dự án nhằm đảmbảo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân.Triển khai các dự án: xây dựng nhà

ở cho người có hoàn cảnh khó khăn, người có thu nhập thấp, Chương trình gây quỹ ủng

hộ trẻ em nghèo, tuyên truyền vận động những học sinh nghèo có hoàn cảnh khó khăn trởlại trường lớp; Các hoạt động chăm sóc sức khỏe trẻ vị thành niên, thanh niên; Hướng dẫndạy nghề, nâng cao chất lượng cho người lao động,

Trang 7

động đến nhiều yếu tố khác nhau Song song với việc tiến hành xây dựng văn bản luật,cần phải tiến hành rà soát lại, để sửa đổi và bổ sung cho phù hợp.

Thứ hai, áp dụng chế tài xử phạt đối với hành vi vi phạm quyền tiếp cận dịch vụ xãhội cơ bản.Mặc dù đã có hệ thống pháp luật tương đối đầy đủ và hợp lý, tuy nhiên trongquá trình thực hiện, nhiều đối tượng không chấp hành nghiêm túc, làm xâm phạm đếnquyền lợi của những đối tượng khác

Thứ ba, áp dụng cơ chế thanh tra kiểm tra chặt chẽ, thường xuyên việc thực hiệnquyền tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản.Việc thực hiện quyền tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bảnđạt hiệu quả cao nhất, các công tác thanh tra kiểm cần được ưu tiên quan trọng

II THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO TIẾP CẬN CÁC DỊCH VỤ XÃ HỘI CƠ BẢN

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Chủ trương của Đảng về an sinh xã hội

Đảng coi việc đảm bảo an sinh xã hội là một nhiệm vụ quan trọng trong công cuộc đổimới Thực hiện an sinh xã hội tạo tiền đề cho sự phát triển của đất nước, đưa đất nước chuyểndần sang một thời kì phát triển mới, thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Mục tiêu thực hiện an sinh xã hội được mở rộng thêm một bước mới, khi mà tại Đạihội VII, Đảng ta xác định phải “đáp ứng tốt hơn các nhu cầu thiết yếu và ngày càng đa dạngcủa các tầng lớp dân cư ” Đảng và Nhà nước phải quan tâm thỏa mãn những nhu cầu thiếtyếu nhất cho nhân dân, như bảo đảm vững chắc nhu cầu lương thực, khắc phục tình trạngthiếu đói thường xuyên và nạn đói giáp hạt, nâng mức cung ứng và tiêu dùng thực phẩm, tăngthêm chất dinh dưỡng bữa ăn, cải thiện nhà ở, tăng tiền lương và thu nhập, quan tâm chămsóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và những người có công với cách mạng, giúp đỡngười già cô đơn và trẻ mồ côi, những người cơ nhỡ, bất hạnh trong cuộc sống, phấn đấu đếnnăm 2000 phải giải quyết văn bản những nhu cầu bức xúc của nhân dân: “xóa nạn đói, giảm

số người nghèo khổ, giải quyết vấn đề việc làm, bảo đảm các nhu cầu cơ bản, cải thiện đờisống vật chất, văn hoá và tinh thần của nhân dân”

Trang 8

Trong các kỳ Đại hội VIII và IX của Đảng, nhận thức mới về mục tiêu đảm bảo ansinh xã hội được Đảng xác định là nâng cao "chất lượng cuộc sống vật chất, tinh thần và thểlực của dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và hội nhập vào cộng đồng quốctế” Trong đó, nhiệm vụ trọng tâm là tiếp tục ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, giảiquyết có hiệu quả những vấn đề bức xúc của xã hội; tạo nhiều việc làm, giảm tỷ lệ thấtnghiệp ở cả thành thị và nông thôn; cải cách cơ bản chế độ tiền lương; cơ bản xoá đói, giảmnhanh tỷ lệ hộ nghèo; chăm sóc tốt người có công; nâng cao mức sống vật chất và tinh thầncủa nhân dân Đến Đại hội X, khi tiếp tục đưa chủ trương đảm bảo an sinh xã hội thành địnhhướng phát triển bền vững đất nước, Đảng ta đã khẳng định: “Thực hiện tiến bộ và công bằng

xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển”, “càng đi vào phát triển kinh tế thịtrường, càng phải chăm lo tốt hơn phúc lợi xã hội, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo,phát triển giáo dục văn hóa, chăm sóc sức khỏe nhân dân”

Đảng chủ trương “xây dựng chính sách an sinh xã hội đa dạng; chú trọng chăm sócsức khỏe của toàn dân, tập trung nâng cao chất lượng phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm

xã hội, bảo hiểm y tế, tiến tới bảo hiểm toàn dân Mở rộng sự tham gia của người dân vàobảo hiểm y tế (hoàn thiện chế độ đóng, chế độ hưởng và điều kiện hưởng bảo hiểm y tế);

mở rộng đối tượng được Nhà nước bảo hộ một phần và toàn phần để tham gia bảo hiểm ytế; mở rộng diện tham gia BHXH bắt buộc đối với người lao động làm việc có hợp đồng từ

1 tháng trở lên; hoàn thiện chế độ BHXH tự nguyện theo hướng linh hoạt và phù hợp vớiđiều kiện về việc làm và thu nhập của lao động trong khu vực phi chính thức; hiện đại hóacông tác quản lý đối tượng tham gia BHXH Đa dạng hoá các loại hình cứu trợ xã hội, tạoviệc làm ” nhằm đạt được mục tiêu cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần

của nhân dân tiếp tục được nêu ra tại Đại hội X của Đảng Hiến pháp năm 2013 lần đầu

tiên khẳng định quyền ASXH cơ bản cho người dân: “Công dân có quyền được bảo đảm

an sinh xã hội” (Điều 34); “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúclợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội” (Điều 59) Phấn đấu đến năm 2020, cơ bảnhình thành hệ thống ASXH bao phủ toàn dân với các yêu cầu: bảo đảm cho người dân cóviệc làm, thu nhập tối thiểu; tham gia BHXH; bảo đảm hỗ trợ những người có hoàn

Trang 9

cảnh đặc biệt khó khăn; bảo đảm cho người dân tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản ởmức tối thiểu (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, thông tin), góp phần từng bước nâng caothu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân.

2.2 Thực trạng

2.2.1 Thành tựu

2.2.1.1 Thành tựu trong đảm bảo quyền giáo dục cơ bản

Sau một thời gian thực hiện chính sách đảm bảo giáo dục tối thiểu, có thể nói,mạng lưới giáo dục ở Việt Nam đã được tăng cường Theo số liệu thống kê của Bộ Giáodục và Đào tạo, năm học 2017-2018 cả nước có 15.256 trường mầm non, 14.937 trườngtiểu học, 10.939 trường trung học cơ sở, 2.834 trường trung học phổ thông Ngoài ra còn

có 315 trường Phổ thông dân tộc nội trú và 1.013 trường Phổ thông dân tộc bán trú.Đếnnay, tất cả 63 tỉnh, thành phố trên cả nước đều đạt phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5tuổi và phổ cập tiểu học Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2019, tỷ lệ đi họcchung của cấp tiểu học là 101,0%, cấp trung học cơ sở (THCS) là 92,8% và trung học phổthông (THPT) là 72,3% Tỷ lệ đi học đúng tuổi các cấp này lần lượt là 98,0%, 89,2% và68,3% Năm 2018, tỷ lệ người biết chữ độ tuổi từ 15-60 là 97,65%, đến nay cơ bản đạtđược mục tiêu (mục tiêu Đề án xóa mù chữ đến năm 2020 đạt 98%) Trong đó, số ngườibiết chữ trong độ tuổi 15-35 chiếm tỉ lệ 97,92%; số người biết chữ trong độ tuổi từ 36-60chiếm tỷ lệ 96,35% Công bằng xã hội trong giáo dục đã được cải thiện, đặc biệt tăng cơhội học tập cho trẻ em gái, trẻ em dân tộc thiểu số, con em gia đình nghèo và trẻ emkhuyết tật Giáo dục ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa có tiến bộ rõrệt.Có thể thấy, đây là một kết quả đáng ghi nhận của Chính phủ Việt Nam trong nỗ lựcđảm bảo quyền được giáo dục cơ bản cho mọi công dân

2.2.1.2 Thành tựu trong đảm bảo quyền chăm sóc y tế cơ bản

Trang 10

Phó Vụ trưởng BHYT (Bộ Y tế) Phan Văn Toàn cho biết, năm 2019, toàn quốcước có khoảng 85,2 triệu người tham gia BHYT, đạt tỷ lệ bao phủ BHYT là 89,8% dân

số, vượt chỉ tiêu Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số 1167/QÐ-TTg là 1,7%(vượt chỉ tiêu Nghị quyết số 68/2013/QH13 giao) Người dân được tuyên truyền về chínhsách BHYT ngày càng thấy được lợi ích của việc tham gia BHYT

Về việc thực hiện mục tiêu "đến năm 2020, hoàn thiện việc đầu tư trạm y tế xã ởvùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn", trong thời gian vừaqua, nhiều địa phương đã ưu tiên sử dụng ngân sách địa phương, nguồn xổ số kiến thiết

để đầu tư xây dựng, nâng cấp các trạm y tế xã, như: TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Long An,Lâm Ðồng, Vĩnh Phúc, Hà Nội…; phần lớn các địa phương dành một phần vốn và đưatrạm y tế xã là đối tượng được đầu tư từ Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nôngthôn mới, huy động các nguồn lực ngoài ngân sách, như vận động các tổ chức, cá nhânđầu tư trạm y tế xã Một số địa phương cũng đã vận động và được Tổ chức phi Chính phủAtlantic Philanthropies (AP) - Mỹ hỗ trợ, đầu tư khoảng 940 trạm y tế xã Bên cạnh đó,một số dự án ODA của Chính phủ đã được triển khai hỗ trợ đầu tư cho các trạm y tế xãvùng khó khăn, đặc biệt khó khăn, cụ thể: 58 trạm y tế xã đã được sửa chữa cho ba tỉnhTây Nguyên (Gia Lai, Ðắk Nông, Kon Tum) nhờ Dự án chăm sóc sức khỏe nhân dân cáctỉnh Tây Nguyên giai đoạn 2; các trạm y tế xã 15 tỉnh miền núi phía bắc, tỉnh nghèo, tỉnh

có tỷ lệ mắc lao, HIV/AIDS cao đã được đầu tư trang thiết bị trong Dự án hỗ trợ hệ thống

y tế do Quỹ toàn cầu viện trợ không hoàn lại; 395 trạm y tế xã vùng khó khăn, đặc biệtkhó khăn đã được xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp bằng một phần ngân sách của Chươngtrình hỗ trợ ngân sách ngành do Liên hiệp châu Âu (EU) viện trợ không hoàn lại Chấtlượng khám chữa bệnh tại các trạm y tế xã cũng đang ngày càng được nâng lên

2.2.1.3 Thành tựu trong đảm bảo quyền có nơi cư trú

Trong các quyết định và chính sách của Chính phủ về việc đảm bảo quyền có nơi cưtrú, các đối tượng được Nhà nước hỗ trợ chủ yếu bao gồm các đối tượng chính sách, hộ giađình nghèo, người có thu nhập thấp trong việc mua nhà, sinh viên các trường đại học, cao

Trang 11

đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề Kết quả thực hiện cho thấy con số người dân,

hộ gia đình nghèo, thu nhập thấp được hỗ trợ về nhà ở là đáng kể, và không ngừng tănglên qua các thời kỳ Năm 2019, tổng số hộ dân cư trên cả nước là 26.870.079 hộ dân cư,tăng 4,4 triệu hộ so với cùng thời điểm năm 2009 Bình quân mỗi hộ có 3,6 người/hộ,thấp hơn 0,2 người/hộ so với năm 2009 Trong giai đoạn 2009 - 2019, tỷ lệ tăng bìnhquân số hộ dân cư là 1,8%/năm, thấp hơn 1,2 điểm phần trăm so với giai đoạn 1999 -

2009 và là giai đoạn có tỷ lệ tăng số hộ dân cư thấp nhất trong vòng 40 năm qua

2.2.1.4 Thành tựu trong đảm bảo quyền được cung cấp nước sạch

Thực hiện quyết định số 104/2000/QĐTTg về Chiến lược Quốc gia về nước sạch

và vệ sinh môi trường nông thôn đến năm 2020, kết quả đến nay cho thấy, năm 2018, tỷ

lệ hộ gia đình sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 95,6% Vùng có tỷ lệ hộ gia đình sử dụngnước hợp vệ sinh cao nhất là Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ (98%), thấp nhất làTrung du miền núi phía Bắc (90%) Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước sạch đáp ứng quychuẩn quốc gia từ các công trình cấp nước nhỏ lẻ quy mô hộ gia đình (không áp dụng chỉtiêu clo dư) là 59,3%

Kết quả thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trườngnông thôn giai đoạn 3 (2012-2015) cho thấy, đến năm 2015, 65% số hộ gia đình nông thôn cónhà tiêu hợp vệ sinh (đáp ứng mục tiêu đề ra); 96% các trạm y tế xã nông thôn đủ nhà tiêuhợp vệ sinh, được quản lý và sử dụng tốt (mục tiêu đề ra là 100%); 93% Trường học mầmnon, trường học phổ thông có đủ nước sạch, nhà tiêu hợp vệ sinh, được quản lý và sử dụngtốt (mục tiêu đề ra là 100%); 46% dân số nông thôn sử dụng nước đạt Quy chuẩn kỹ thuậtquốc gia về chất lượng nước sinh hoạt (QC 02/2009/BYT) (mục tiêu đề ra là 45%), số lượng

ít nhất là 60 lít/người/ngày Có thể thấy những nỗ lực của Chính phủ đã mang lại những hiệuquả to lớn về kinh tế và xã hội, mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc, góp phần nâng cao sứckhoẻ của người dân, giảm nhiều công việc nặng nhọc liên quan đến nước sạch và vệ sinh, cảithiện điều kiện vật chất, cải thiện điều kiện sống, nâng cao nhận thức của

Trang 12

người dân nông thôn, góp phần phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là đối với người nghèo,đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa.

2.2.1.5 Thành tựu trong đảm bảo quyền được tiếp cận thông tin

Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là trong lĩnh vực truyềnthông – thông tin, người dân ngày càng có điều kiện thuận lợi hơn trong việc tiếp cậnthông tin Theo báo cáo tại Hội nghị báo chí toàn quốc tổng kết công tác năm 2019, triểnkhai nhiệm vụ năm 2020 diễn ra vào ngày 28/12/2019, cả nước có 850 cơ quan báo in,báo điện tử, 72 cơ quan có giấy phép hoạt động phát thanh-truyền hình với 2 đài quốc gia,

64 đài địa phương, 5 kênh truyền hình, với tổng số 87 kênh phát thanh và 193 kênh truyềnhình (tăng thêm 2 kênh truyền hình so với năm 2018)

Bên cạnh đó, Nhà nước cũng dành rất nhiều sự quan tâm đến quyền được tiếp cậnthông tin của người khuyết tật khi thực hiện chương trình truyền hình, bản tin thời sự đã

có kèm theo hình ảnh mô tả thông tin dưới hình thức ngôn ngữ ký hiệu giúp cho ngườikhiếm thính có thể hiểu được Đồng thời, người dùng khiếm thính cũng có thể tiếp cận vớitin tức dưới dạng video có khả năng tự động tạo phụ đề thông qua Internet Có thể thấy,người dân ngày càng dễ dàng hơn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của mình,như theo dõi các thông tin trong lĩnh vực quản lý hành chính được công bố công khai trêncác trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước, đảm bảo sự thuận lợi, nhanh chóngtrong việc thực hiện thủ tục hành chính Các dự luật trước khi được chính thức ban hànhcũng được đăng tải tương đối đầy đủ, được tham vấn ý kiến công chúng rộng rãi để ngườidân tham gia góp ý kiến Người dân cũng có thể xem truyền hình trực tiếp các phiên chấtvấn tại các kỳ họp Quốc hội, nghe Quốc hội thảo luận tập thể, công khai những vấn đềquan trọng của đất nước Nói cách khác, tất cả người dân, kể cả nhóm người khuyết tật bịhạn chế bởi những khiếm khuyết nhất định hoàn toàn có thể tiếp cận được các thông tin từcác cơ quan chính phủ, Quốc hội qua các phương tiện thông tin đại chúng này

2.2.2 Hạn chế, nguyên nhân

Ngày đăng: 05/05/2020, 16:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w