Về du lịch và kinh tế hải đảo, với bờ biển dài 3260 km Việt Nam có điều kiện vô cùng thuận lợi để phát triển du lịch biển, đảo, trong đó có những bãi, biển, vịnh đẹp nổi tiếng thế giới n
Trang 1I Một số vấn đề về biển đảo Việt Nam và đặc điểm của nền kinh tế biển:
1 Khái quát về tình hình biển, đảo Việt Nam:
Việt Nam là quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của Biển Đông, có địa chính trị
và địa kinh tế rất quan trọng không phải bất kỳ quốc gia nào cũng có
Theo Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 thì nước ta có diệntích biển khoảng trên 1 triệu km², gấp 3 lần diện tích đất liền, chiếm gần 30% diện tíchBiển Đông (cả Biển Đông gần 3,5 triệu km²), bờ biển dài trên 3.260 km trải dài từ Bắcxuống Nam, đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, các quốc đảo và các lãnh thổtrên thế giới Dọc bờ biển có hơn 100 cảng biển, 48 vụng, vịnh và trên 112 cửa sông,cửa lạch đổ ra biển Vùng biển Việt Nam có hơn 3.000 đảo lớn, nhỏ với diện tích phầnđất nổi khoảng 1.636 km2, được phân bố chủ yếu ở vùng biển Đông Bắc và Tây Namvới những đảo nổi tiếng giàu, đẹp và vị trí chiến lược như Bạch Long Vĩ, Phú quốc,Thổ Chu, Côn Sơn, Cồn Cỏ, Phú Quý, Cát Bà, Hoàng Sa, Trường Sa Ở Việt Namtrong 63 tỉnh, thành phố của cả nước thì 28 tỉnh, thành phố có biển và gần một nửa dân
số sinh sống tại các tỉnh, thành ven biển
2 Đặc điểm của nền kinh tế biển Việt Nam:
Báo cáo của Tổng cục Thống kê cho biết, giai đoạn 2007 - 2017,đóng góp của 28 tỉnh, thành phố ven biển trong tổng sản phẩm quốcnội (GDP) luôn đạt trên 60%, trong đó đặc biệt nổi bật là vai trò củacác khu kinh tế, khu công nghiệp, các cơ sở công nghiệp quan trọngven biển và cho thấy sự đa dạng của nền kinh tế biển Việt Nam
Tiềm năng nổi bật của kinh tế biển Việt Nam là nguồn tàinguyên dầu khí, trữ lượng ước tính khoảng 3,0-4,5 tỷ m3 quy dầu quyđổi, chủ yếu là khí (chiếm trên 50%) và tập trung chủ yếu ở thềm lụcđịa
Không chỉ sở hữu trữ lượng dầu phong phú, Việt Nam còn cótiềm năng lớn về giao thông thủy
Trang 2Về nguồn lợi hải sản, Việt Nam có mặt trong danh sách 10 trungtâm đa dạng sinh học biển và danh sách 20 vùng biển có lợi ích kinh
tế lớn nhất toàn cầu do hải sản đem lại
Về du lịch và kinh tế hải đảo, với bờ biển dài 3260 km Việt Nam
có điều kiện vô cùng thuận lợi để phát triển du lịch biển, đảo, trong
đó có những bãi, biển, vịnh đẹp nổi tiếng thế giới như Hạ Long, NhaTrang, Đà Nẵng được Tạp chí Forbes bầu chọn là một trong 6 bãi tắmquyến rũ nhất hành tinh… Ngoài ra, còn nhiều khu vực biển có tiềmnăng lớn đã và đang được đầu tư ở trên khắp cả nước Đặc biệt, ViệtNam sở hữu nhiều khu vực ven biển có rừng ngập mặn (rừng ngậpmặn Cà Mau, rừng ngập mặn cần Giờ…) cùng nhiều làng nghề, lễ hộiđộc đáo nên tạo điều kiện rất tốt cho phát triển du lịch
Hệ thống đảo Việt Nam có vai trò to lớn trong sự nghiệp pháttriển kinh tế – xã hội cả nước nói chung và phát triển kinh tế biển nóiriêng Với vị trí phân bố đặc thù, hệ thống đảo có lợi thế rất lớn vềphát triển kinh tế biển, đảo Đây được coi là ưu thế nổi bật, đặc thùcủa hệ thống đảo mà các vùng khác không có
mã lực và 2700 chiếc đóng mới trong năm 1994 ,tàu đánh bắt xa bờ
100 chiếc với tổng công suất 50000 mã lực, 31500 tàu đánh bắt thủ
Trang 3công Từ năm 1994 đến nay đội ngũ tàu thuyền đánh bắt đã cónhững điều chỉnh và cải biến rõ rệt, chủ yếu tập trung đẩy mạnh pháttriển đội tàu có khả năng đánh bắt xa bờ, hạn chế việc đóng tàu cócông suất nhỏ nhằm bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản venbiển, tổ chức lại hệ thống khai thác hải sản trong cả nước Đánh bắt
xa bờ là xu thế phát triển của thuỷ sản để tăng nhanh sản lượng ,đâycũng là chiến lược của ngành nhằm nâng cao khả năng tận dụng triệt
để ưu thế về chủng loại
* Đặc điểm nguồn lợi hải sản:
Biển Việt Nam có trên 2.000 loài cá, trong đó khoảng 130 loài
cá có giá trị kinh tế Theo những đánh giá mới nhất, trữ lượng cá biểntrong toàn vùng biển là 4,2 triệu tấn, trong đó sản lượng cho phépkhai thác là 1,7 triệu tấn/năm, bao gồm 850 nghìn cá đáy, 700 nghìntấn cá nổi nhỏ, 120 nghìn tấn cá nổi đại dương
Bên cạnh cá biển còn nhiều nguồn lợi tự nhiên như trên 1.600loài giáp xác, sản lượng cho phép khai thác 50 - 60 nghìn tấn/năm, cógiá trị cao là tôm biển, tôm hùm và tôm mũ ni, cua, ghẹ; khoảng2.500 loài động vật thân mềm, trong đó có ý nghĩa kinh tế cao nhất
là mực và bạch tuộc (cho phép khai thác 60 - 70 nghìn tấn/năm);hằng năm có thể khai thác từ 45 - 50 nghìn tấn rong biển có giá trịkinh tế như rong câu, rong mơ, Bên cạnh đó, còn rất nhiều loài đặcsản quí như bào ngư, đồi mồi, chim biển và có thể khai thác vây cá,bóng cá, ngọc trai, Bị chi phối bởi đặc thù của vùng biển nhiệt đới,nguồn lợi thuỷ sản nước ta có thành phần loài đa dạng, kích thước cáthể nhỏ, tốc độ tái tạo nguồn lợi cao Chế độ gió mùa tạo nên sự thayđổi căn bản điều kiện hải dương học, làm cho sự phân bố của cá cũngthay đổi rõ ràng, sống phân tán với quy mô đàn nhỏ Tỷ lệ đàn cá nhỏ
có kích thước dưới 5 x 20m chiếm tới 82% số đàn cá, các đàn vừa (10
Trang 4x 20m) chiếm 15%, các đàn lớn (20 x 50m trở lên) chỉ chiếm 0,7% vàcác đàn rất lớn (20 x 500m) chỉ chiếm 0,1% tổng số đàn cá Số đàn
cá mang đặc điểm sinh thái vùng gần bờ chiếm 68%, các đàn mangtính đại dương chỉ chiếm 32% Phân bố trữ lượng và khả năng khaithác cá đáy tập trung chủ yếu ở vùng biển có độ sâu dưới 50m(56,2%), tiếp đó là vùng sâu từ 51 - 100m (23,4%) Theo số liệuthống kê, khả năng cho phép khai thác cá biển Việt Nam bao gồm cả
cá nổi và cá đáy ở khu vực gần bờ có thể duy trì ở mức 600.000 tấn.Nếu kể cả các hải sản khác, sản lượng cho phép khai thác ổn định ởmức 700.000 tấn/năm, thấp hơn so với sản lượng đã khai thác ở khuvực này hằng năm trong một số năm qua Trong khi đó, nguồn lợivùng xa bờ còn lớn, chưa khai thác hết Theo vùng và theo độ sâu,nguồn lợi cá cũng khác nhau Vùng biển Đông Nam Bộ cho khả năngkhai thác hải sản xa bờ lớn nhất, chiếm 49,7% khả năng khai thác cảnước, tiếp đó là Vịnh Bắc Bộ (16,0%), biển miền Trung (14,3%), TâyNam Bộ (11,9%), các gò nổi (0,15%), cá nổi đại dương (7,1%), hơnnữa bờ biển nước ta còn có hệ sinh thái nhiệt đới đa dạng , giàu tàinguyên thiên nhiên như hệ sinh thái rừng ngập mặn, rạn san hô, cỏbiển, các vùng cửa sông châu thổ Có thể nói đây là những ưu thế tolớn để phát triển nghề cá không thua kém bất kì 1 quốc gia nào trênthế giới
* Số lượng hải sản khai thác:
Cá biển chiếm khoảng 65% tổng số sản phẩm cá của Việt Nam,35% còn lại là cá nuôi và cá nước ngọt Các nguồn lợi hải sản ở cácvùng biển ven bờ với mức nước sâu dưới 50m đã được xem là khaithác cạn kiệt Năm 2000, sản lượng đánh bắt xa bờ chiếm 35% tổngsản lượng đánh bắt Theo tính toán, tiềm năng về nguồn lợi thuỷ sảnước tính khoảng trên 4,2 triệu tấn Sản lượng khai thác bền vững ước
Trang 5tính là 1,7 triệu tấn/năm Nguồn lợi hải sản chủ yếu là các loại cá cókhả năng di chuyển nhanh, lưu trú ở vùng biển Việt Nam trongkhoảng thời gian ngắn.
Theo số liệu thống kê, tổng sản lượng hải sản đánh bắt năm
2001 là 1,2 triệu tấn Trong đó, 82% sản lượng hải sản đánh bắt được
là các loại cá, số còn lại là cua, mực, tôm các loại và một số loại hảisản khác Khoảng 60% sản lượng khai thác được phục vụ cho nhu cầutiêu thụ trong nước, 18% cho xuất khẩu và khoảng 20% cho các mụcđích khác
* Tiềm năng lớn cho nuôi trồng thủy sản trên biển:
Theo Tổng cục Thủy sản, nước ta có tiềm năng lớn về nuôi biển.Diện tích có khả năng sử dụng phát triển nuôi biển bao gồm các vùngvịnh kín, bãi triều ven biển và một phần ở các hải đảo, vùng biển hở.Tổng diện tích tiềm năng nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo củanước ta khoảng 244.190ha Trong đó, diện tích nuôi vùng bãi triềuven biển 153.300ha (chiếm 62% diện tích có khả năng nuôi biển);diện tích nuôi vùng vũng, vịnh, eo ngách và ven đảo là 79.790ha(33%); nuôi vùng biển hở 11.100ha (5%)
Mặc dù nuôi biển liên tục phát triển trong những năm qua,nhưng diện tích đã nuôi còn khiêm tốn Đến năm 2015, diện tích nuôibiển cả nước mới đạt 40.102ha, sản lượng 308.587 tấn (nhuyễn thể269.161 tấn; cá biển khoảng 30.000 tấn; tôm hùm 1.500 tấn…) Nhưvậy, tiềm năng để đẩy mạnh, phát triển nuôi biển còn lớn
5 đối tượng nuôi biển chính hiện nay là cá biển, nhuyễn thể,tôm hùm, cua ghẹ và rong biển Năm 2016, diện tích cá biển nuôi ao/đầm đạt 6.300ha và 1.164.643m3 lồng, sản lượng 28.293 tấn Các
Trang 6loài cá nuôi phổ biến nhất là cá song (chiếm xấp xỉ 50%), cá giò(30%) và cá vược (7 - 8%).
Nhuyễn thể đang được nuôi trên diện tích 47.129ha (năm2016), chủ yếu là nuôi bãi, sản lượng 294.472 tấn Các đối tượng nuôichủ yếu là nghêu Bến Tre, ngao đầu, ngao vân, vẹm xanh, ốc hương,
sò huyết, sò lông, tu hài, hàu cửa sông, hàu Thái Bình Dương… Ngao/nghêu chủ yếu nuôi ở các tỉnh phía Bắc, Bắc Trung bộ và Nam bộ; sòlông, sò huyết nuôi ở hầu hết các tỉnh ven biển, nhưng tập trungnhiều ở Kiên Giang và Vịnh Bắc Bộ; hàu được nuôi nhiều ở vùng cửasông các tỉnh, TP như Quảng Ninh, Hải Phòng, Nghệ An, Thừa Thiên -Huế, Khánh Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu… Đến năm 2016, đã có 58.990lồng nuôi tôm hùm, với sản lượng đạt hơn 1.300 tấn Còn cua, ghẹđược nuôi ghép với các loài khác nên diện tích tính chung khá lớn, lêntới hơn 220 ngàn ha, sản lượng khoảng 40.000 tấn/năm Rong biểnđược trồng chủ yếu ở khu vực biển Nam Trung bộ, với diện tích10.150 ha, sản lượng 101.000 tấn
* Xu hướng của thế giới:
Nuôi hải sản trên biển đang là xu hướng phát triển chung trênthế giới So với chăn nuôi động vật trên cạn, nuôi thủy sản nói chungđược đánh giá cao hơn nhiều về hiệu quả kinh tế, môi trường… Vềkinh tế, nuôi thủy sản có năng suất cao hơn so với nuôi gia súc, giacầm, nhờ hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) thấp hơn Về môi trường,nuôi thủy sản không gây tác hại nhiều tới môi trường như gia súc, giacầm…
Chính vì vậy, phát triển nuôi trồng thủy sản đang là xu hướngchung trên toàn cầu nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm trong bốicảnh dân số thế giới đang tăng lên và có thể đạt 9 tỷ người vào năm
Trang 72050 Tuy nhiên, nguồn nước ngọt và đất đai canh tác đang có xuhướng thu hẹp lại Do đó, nuôi hải sản trên biển đang được nhiềuquốc gia đẩy mạnh Việc phát triển nuôi hải sản trên biển còn gópphần quan trọng làm giảm tình trạng khai thác quá mức nhiều loàihải sản trong tự nhiên.
Theo các chuyên gia thủy sản, hiện nay, trên thế giới, đã cónhiều công nghệ lồng, bè có khả năng chịu sóng gió, giúp cho nuôigiảm thiểu rủi ro bởi thiên tai để nuôi biển đạt hiệu quả cao Thậmchí đã có cả công nghệ để nuôi cá biển trên đất liền Công nghệ sảnxuất thức ăn phù hợp với nuôi biển cũng đã có Những công nghệ này
có thể nhập khẩu và áp dụng vào sản xuất ở Việt Nam
* Lợi thế:
- Tự nhiên: Việt Nam là đất nước nằm trong bán đảo Trung Ấn,được thiên nhiên phú cho nhiều điều kiện thuận lợi để phát triểnnghành thuỷ sản Với bờ biển dài hơn 3200 km trải dài suốt 13 vĩ độBắc Nam tạo nên sự khác nhau rõ rệt về các vùng khí hậu, thời tiết,chế độ thuỷ học… Ven bờ có nhiều đảo, vùng vịnh và hàng vạn hađầm phá, ao hồ sông ngòi nội địa, thêm vào đó lại có ưu thế về vị trínằm ở nơi giao lưu của các ngư trường chính, đây là khu vực đượcđánh giá là có trữ lượng hải sản lớn, phong phú về chủng loại vànhiều đặc sản quí Việt nam có thế mạnh về khai thác và nuôi trồngthuỷ sản trên cả 3 vùng nước mặn, ngọt, lợ Khu vực đặc quyền kinh
tế biển khoảng 1 triệu km2 thuộc 4 khu vực được phân chia rõ ràng
về mặt thuỷ văn đó là: Vịnh Bắc Bộ ở phía Bắc, khu vực biển miềnTrung, khu vực biển Đông Nam và vùng Vịnh Tây Nam, hàng năm cóthể khai thác 1,2 –1,4 triệu tấn hải sản ,có độ sâu cho phép khai thác
ở nhiều tầng nước khác nhau ở vùng vịnh Bắc bộ và Tây nam bộ có
độ sâu phân bố giống nhau với 50% diện tích sâu dưới 50m nước và
Trang 8độ sâu lớn nhất không quá 100m Biển Đông nam bộ ,độ sâu từ 60m chiếm tới ¾ diện tích, độ sâu tối đa ở khu vực này là 300m Biểnmiền Trung có độ sâu lớn nhất, mực nuớc 30-50m, 100m chỉ cách bờbiển có 3-10 hải lý, độ sâu từ 200-500m chỉ cách bờ 20-40 hải lý,vùng sâu nhất đạt tới 4000-5000m.
30 Lợi thế về tiềm năng lao động và giá cả sức lao động: Laođộng nghề cá Việt nam có số lượng dồi dào, thông minh ,khéotay ,chăm chỉ ,có thể tiếp thu nhanh chóng và áp dụng sáng tạo côngnghệ tiên tiến Ngoài ra nước ta còn có lợi thế của người đi sau :suất đầu tư và mức độ lệ thuộc vào công nghệ chưa cao nên có khảnăng đầu tư những công nghệ hiện đại tiên tiến nhờ các tiến bộnhanh chóng của cách mạng khoa học công nghệ ,đặc biệt trongcông nghệ khai thác biển xa,công nghệ sinh học phục vụ nuôi thuỷsản nhất là nuôi cá biển và nuôi giáp xác …
- Thuận lợi về thị trường: Việt Nam nằm cạnh Trung quốc mộtnước đông dân nhất trên thế giới : hơn 1,3 tỉ người ,đây là 1 thịtrường đầy tiềm năng và tiêu thụ hải sản rất mạnh , hầu như từ trướcđến nay Việt nam chưa từng thoả mãn được nhu cầu về hải sản củaTrung quốc Ngoài trung quốc ra còn có thị trường Nhật Bản và HànQuốc cũng là 2 thị trường tiêu thụ rất mạnh các sản phẩm thuỷ sảncủa nước ta,vì vậy trong tương lai thuỷ sản Việt Nam còn có tiềmnăng mở rộng thị trường, đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu, vươn lên 1tầm cao mới
- Chính sách: Nhờ nhận thức được vai trò của ngành thuỷ sản,đặc biệt là xuất khẩu thuỷ sản, phát triển kinh tế chung của đấtnước, Nhà nước ta đã và đang có những chính sách hỗ trợ cho ngành.Tại hội nghị triển khai thực hiện kế hoạch năm 2003 của bộ thuỷ sản,Thủ tướng Phan Văn Khải cho rằng để thực hiện được mục tiêu phát
Trang 9triển, ngành thuỷ sản cần nhanh chóng rút kinh nghiệm và đổi mới,những vấn đề gì bức bách các địa phương, các doanh nghiệp nên gửingay về bộ thuỷ sản Vấn đề nào vượt quá thẩm quyền của bộ thì gửilên chính phủ, chính phủ sẽ giải quyết ngay… Trong công tác quihoạch bộ cũng có những đề án phù hợp Đây cũng là một thuận lợilớn cho ngành thuỷ sản trong quá trình phát triển…
* Hạn chế
- Nuôi trồng thủy sản vẫn chưa được quy hoạch, do không có kếhoạch tổng thể lâu dài và chỉ chú trọng mở rộng diện tích nên hiệuquả kinh tế không cao, có nơi còn gây hậu quả xấu về môi trườngsinh thái cũng như bảo vệ nguồn lợi Việc nuôi trồng nhiều lúc còntràn lan, thiếu tính khoa học nên chất lượng không cao, hiện nay vẫnchưa tìm được hướng thích hợp để huy động vốn đầu tư cho pháttriển ,đặc biệt là đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng Các chươngtrình nuôi trồng và khai thác nhiều khi chồng chéo nhau, không nhấtquán trong việc sử dụng đất, mặt nước và tàu thuyền, đặc biệt làtrong sử dụng vốn đầu tư
Đối với nghề khai thác hải sản, ngư dân thiếu các thông tin vềnguồn lợi, trữ lượng hải sản, còn trong nuôi trồng, ngư dân cũngkhông biết chắc là mình có làm đúng với qui hoạch sau này haykhông, cho dù có nơi họ “làm bừa” phá tan cả dự kiến trong quihoạch đang được xây dựng (điển hình nhất là phong trào chuyển đổiđất từ trồng lúa sang nuôi tôm)
Ngoài ra không thể không kể đến một nhân tố quan trọng còntồn tại ảnh hưởng trực tiếp tới giá trị thủy sản Việt nam đó là nănglực chế biến Vấn đề đa dạng hóa ,nâng cao chất lượng sản phẩm, cảitiến mẫu mã, đang trở thành đòi hỏi tất yếu của kinh tế thị trường,
Trang 10đặc biệt là chất lượng chế biến Có thể sản lượng đánh bắt khai thácrất lớn, song nếu trình độ chế biến và bảo quản không cao thì điều đócũng chẳng có ý nghĩa gì cả, bởi thủy là mặt hàng tươi sống, phải qua
sơ chế nhiều khâu mới có thể xuất khẩu, đem lại giá trị kinh tế cao
Không phải ngẫu nhiên mà vấn đề chất lượng lại được đặt lênhàng đầu, chẳng riêng gì hải sản, với mặt hàng nào cũng vậy, các thịtrường khó tính như EU, Hoa kì , Nhật bản đối với chất lượng sảnphẩm đều có yêu cầu rất cao Qua đó có thể thấy chất lượng thủysản cũng như lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm là vấn đề sốngcòn
1.2 Khai thác dầu khí ngoài biển
* Trữ lượng: Tiềm năng nổi bật của kinh tế biển Việt Nam lànguồn tài nguyên dầu khí, trữ lượng ước tính khoảng 3,0-4,5 tỷ m3quy dầu quy đổi, chủ yếu là khí (chiếm trên 50%) và tập trung chủyếu ở thềm lục địa Trữ lượng tài nguyên dầu khí đã phát hiện vàokhoảng 1,365 tỷ m3 quy dầu, chiếm 30-35% tổng trữ lượng và tiềmnăng dầu khí dự báo của Việt Nam, trong đó khí thiên nhiên chiếmtrên một nửa Các mỏ phát hiện dầu khí phân bố chủ yếu ở bốn bể làSông Hồng, Phú Khánh, Cửu Long, Nam Côn Sơn và Malay – Thổ Chu;các bể còn lại là bể Tư Chính Vũng Mây và cụm bể Trường Sa và cụm
bể Hoàng Sa chưa đủ số liệu để xác định chính xác diện tích bể cũngnhư các điểm khai thác Trong số các mỏ đã phát hiện, mỏ Bạch Hổ ở
bể Cửu Long được coi là lớn nhất với trữ lượng khoảng 340 triệu m3quy dầu, tương đương khoảng 2,1 tỷ thùng, đóng góp vào 80% trữlượng dầu khai thác hàng năm của Việt Nam
* Thực trạng khai thác:
Kể từ khi tấn dầu đầu tiên được khai thác từ mỏ Bạch Hổ (thuộc
bể trầm tích Cửu Long năm 1986) đến nay, PVN đã khai thác được
Trang 11tổng cộng khoảng 506,3 triệu tấn dầu quy đổi từ các mỏ ở trong vàngoài nước, trong đó sản lượng khai thác dầu đạt 380,9 triệu tấn, sảnlượng khai thác khí đạt 125,4 tỷ m3, sản lượng khai thác hàng nămluôn được duy trì ổn định và gia tăng theo từng năm.
Hiện nay, PVN đang quản lý điều hành khai thác dầu khí từ các
mỏ, cụm mỏ ở trong và ngoài nước Trong đó, các mỏ: Hàm Rồng,Thái Bình ở bể trầm tích Sông Hồng; các mỏ: Bạch Hổ, Rồng, ThỏTrắng, Gấu Trắng, Phương Đông, Rạng Đông, Cụm mỏ Sư Tử Đen - Sư
Tử Vàng - Sư Tử Trắng - Sư Tử Nâu, Tê Giác Trắng, Cá Ngừ Vàng,Thăng Long - Đông Đô,… ở bể trầm tích Cửu Long; các mỏ: Đại Hùng,Chim Sáo, Rồng Đôi/Rồng Đôi Tây, Lan Tây - Lan Đỏ, Hải Thạch - MộcTinh… ở bể trầm tích Nam Côn Sơn; Lô PM3-CAA và 46-Cái Nước,Sông Đốc… ở bể Malay - Thổ Chu và các mỏ ở nước ngoài: mỏ BirSeba ở Algeria, cụm mỏ Nhenhetxky ở Liên bang Nga, mỏ D30-LôSK305 ngoài khơi Malaysia
Trong giai đoạn 2011-2015, sản lượng khai thác dầu khí củaPVN đạt 133,52 triệu tấn dầu quy đổi (so với kế hoạch Chính phủ giao
là 128,77 triệu tấn dầu quy đổi), trong đó khai thác dầu thô đạt 84,75triệu tấn (77,65 triệu tấn trong nước và 7,10 triệu tấn ở nước ngoài)
và 48,76 tỷ m3 khí về bờ
Trong giai đoạn này, sản lượng dầu và khí không ngừng gia tăng theotừng năm và đạt đỉnh vào năm 2015 với sản lượng cả năm đạt 18,76triệu tấn dầu và 10,67 tỷ m3 khí về bờ
Cũng trong giai đoạn này, PVN đã đưa được 24 mỏ dầu và khímới vào khai thác, trong đó có 18 mỏ trong nước và 6 mỏ ở nướcngoài
Đã có 21 hợp đồng dầu khí mới được ký kết trong giai đoạn2011-2015 Hiện tại có 66 hợp đồng dầu khí đang có hiệu lực, trong
Trang 12đó 46 hợp đồng đang ở giai đoạn thăm dò, thẩm lượng và 20 hợpđồng dầu khí đang ở giai đoạn phát triển và khai thác.
Giai đoạn 2016-2020, PVN dự kiến sẽ khai thác khoảng 115-135 triệutấn dầu quy đổi, trong đó 65-80 triệu tấn dầu thô và 50-55 tỷ m3 khí
Dự kiến sẽ phát triển, đưa 15 mỏ, công trình mới vào hoạt động
Các mỏ mới dự kiến sẽ được đưa vào khai thác và phát triểnphải kể tới mỏ Cá Tầm, Sao Vàng - Đại Nguyệt, mỏ khí Cá Voi Xanh,
dự án khí Tây Nam Bộ (Lô B) và mỏ dầu - khí Condensate Cá RồngĐỏ
* Làm chủ công nghệ khai thác dầu khí:
Khai thác dầu khí là lĩnh vực khoa học kỹ thuật chuyên sâu vàkhó, đòi hỏi các kiến thức tổng hợp của nhiều chuyên ngành khoahọc như: máy tính, công nghệ thông tin, toán, địa chất, tự động hóa,vật lý, vv…
Hiện nay, PVN đang điều hành khai thác các mỏ dầu khí có điều kiệnđịa chất phức tạp, chế độ vỉa không ổn định ở các tầng đá chứa khácnhau như tầng móng granite phong hóa nứt nẻ, các tầng chứa trầmtích hạt vụn (clastic reservoir)
Đặc biệt, hoạt động khai thác dầu khí từ đá móng granite ở mỏBạch Hổ (thuộc bể trầm tích Cửu Long) là loại đá chứa hai độ rỗng,hai độ thấm, đã được các nhà khoa học của PVN nghiên cứu và pháttriển thành công nghệ khai thác dầu trong đá móng, góp phần nângcao hiệu quả khai thác dầu từ đá móng Công trình này có ý nghĩakhoa học và thực tiễn rất lớn mang tầm cỡ khu vực, cũng như thế giớitrong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí - đã được Nhà nước traotặng giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ năm 2011
Để khai thác có hiệu quả và đảm bảo an toàn cho mỏ, cụm mỏ,PVN đã sử dụng nhiều công nghệ hiện đại, kể cả các ứng dụng mớinhất của công nghệ tin học, từ các phần mềm mô hình địa chất, thiết
Trang 13kế giếng khoan, thiết kế xây dựng công trình biển… đến các mô hình
mô phỏng khai thác mỏ, thiết kế khai thác, công nghệ khai thác dầutrong đá móng
Điển hình là các công nghệ mới của các hãng nổi tiếng trên thếgiới đã được PVN áp dụng như: phần mềm minh giải thử giếngPansystem của Weatherford, ENCRIN (Kappa) Phần mềm PIPESIMcủa hãng Schlumberger: mô phỏng giếng, phân tích khai thác, thiết
kế khai thác (gaslift, Well flow), tính toán thuỷ động lực học đườngống vận chuyển dầu khí (trạng thái ổn định) Phần mềm OLGA củahãng Schlumberger: mô phỏng đường ống vận chuyển dầu, khí,nước; Mô phỏng trạng thái ổn định và trạng thái chuyển tiếp như khởiđộng đường ống, đóng đường ống, khởi động lại, tăng giảm lưulượng; Mô phỏng sa lắng Wax, đánh giá khả năng tạo hydrate và xử
lý, mô phỏng phóng thoi… Phần mềm GAP của Petex: mô phỏngmạng lưới giếng khai thác và tối ưu bơm gaslift cho mạng lướigiếng…
Hàng năm, PVN đã đầu tư triển khai nhiều nghiên cứu khoa họcmang tính ứng dụng phục vụ cho hoạt động khai thác và quản lý mỏ
ở cả trong và ngoài nước Kết quả của những công trình nghiên cứu lànhững giải pháp khoa học ứng dụng vào hoạt động khai thác, nhằmđảm bảo duy trì và gia tăng sản lượng của giếng cũng như bảo đảm
an toàn cho giếng khai thác
Đến nay, PVN đã làm chủ được các công nghệ trong lĩnh vựckhai thác dầu khí, từ xây dựng thiết kế mô hình khai thác đến vậnhành khai thác, thiết lập hệ thống tự động hóa kiểm soát an toàn mỏ,
đã đưa ra được chế độ khai thác phù hợp đối với các mỏ, cụm mỏ đặctrưng nhằm đạt hiệu quả kinh tế và hệ số thu hồi dầu cao nhất Côngnghệ xử lý khí (đặc biệt là xử lý khí có hàm lượng CO2 cao) cũng đã
Trang 14được áp dụng thành công tại Việt Nam góp phần đưa các mỏ khí vàokhai thác phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
* Thách thức:
Trong các khó khăn thách thức trong lĩnh vực khai thác dầu khígiai đoạn 2016-2020, yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới việc thựchiện các chỉ tiêu kế hoạch của PVN nêu trên chính là giá dầu thấp,sản lượng khai thác của một số mỏ đã bước vào giai đoạn suy giảm.Ngoài ra, phần lớn các mỏ và cấu tạo đưa vào vận hành khai tháctrong giai đoạn này có trữ lượng nhỏ, chi phí đầu tư cao
1.3 Du lịch biển:
Việt Nam có nhiều tiềm năng về du lịch biển khi sở hữu đường
bờ biển dài hơn 3.260 km và hơn 3.000 hòn đảo, với những bờ cáttrắng, vịnh biển hoang sơ, những hòn đảo nhiệt đới quanh năm tươitốt…Và có tới 125 bãi biển mà hầu hết là các bãi tắm đẹp, trong đóbãi biển Đà Nẵng đã được tạp chí Forbes bầu chọn là 1 trong 6 bãitắm quyến rũ nhất hành tinh
Bên cạnh đó, lãnh thổ vùng đất ven biển, vùng biển và hệthống các đảo, nơi diễn ra du lịch biển đảo và vùng ven biển tậptrung tới 7/13 di sản thế giới ở Việt Nam; 6/8 các khu dự trữ sinhquyển; nhiều vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên…
Nắm bắt thế mạnh trên, thời gian qua, nhiều khu du lịch biển tiềmnăng đã được quy hoạch và đầu tư phát triển như: bãi biển Sầm Sơn(Thanh Hóa); bãi biển Non Nước, Mỹ Khê (Đà Nẵng); vịnh Nha Trang,vịnh Cam Ranh (Khánh Hòa); bãi biển Mũi Né (Bình Thuận); bãi biểnVũng Tàu (Bà Rịa-Vũng Tàu)
Việt Nam đã hình thành 3 trung tâm du lịch biển có sức hút vớikhách quốc tế, gồm vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), Đà Nẵng, Nha Trang