1 Các khái niệm: - Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp: là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị tr
Trang 1I) Cơ sở lý luận về vai trò của KHKT trong vấn đề CNH, HĐH ở nông thôn nước ta.
1) Các khái niệm:
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp: là quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường.[1]
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn: là quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh tỉ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỉ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái; tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ở nông thôn.[1]
Trên cơ sở kế thừa và phát triển các quan niệm nêu trên có thể đi đến thống nhất quan niệm chung về CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn như sau:
CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn là quá trình hoàn thiện phương thức
tổ chức, phương thức quản lý và ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ vào hoạt động sản xuất kinh doanh, nhằm xóa bỏ cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn truyền thống, xây dựng cơ cấu kinh tế và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn hiện đại, đưa nông thôn phát triển nhanh
và bền vững.
- Khoa học – kỹ thuật: là công cụ và cũng là sản phẩm của nền kinh tế trí
thức, đó là thành tựu khoa học – công nghệ được áp dụng vào trong lao động sản xuất, không chỉ làm thay đổi mọi mặt của đời sống xã hội loài
Trang 2người mà còn tạo ra nhiều của cải vật chất hơn, làm tăng năng suất lao động, tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia
2) Tính tất yếu khách quan phải áp dụng khoa học – công nghệ vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nông thôn
- Xuất phát từ nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế nông nghiệp phổ biến sản xuất nhỏ, lạc hậu và đang ở trình độ thấp, đó là cơ sở vật chất, kỹ thuật còn lạc hậu, lao động xã hội đại bộ phận tập trung trong nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp còn mang nặng tính tự cấp, tự túc và thu nhập của nông dân thấp, đời sống mọi mặt của họ còn hết sức khó khăn Trong khi đó đến nay nhiều nước trên thế giới đã có nền nông nghiệp phát triển ở trình độ cao, mọi hoạt động sản xuất nông nghiệp đã được cơ giới hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, hoá học hoá Nhờ đó năng suất ruộng đất, năng suất lao động của họ đạt rất cao, tạo sự phân công lao động sâu sắc trong nông nghiệp và toàn bộ nền kinh tế quốc dân
- Mặt khác do yêu cầu về phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nhu cầu về nâng cao đời sống con người: đó là xã hội càng phát triển, đời sống con người càng được nâng cao thì nhu cầu của con người về lương thực và thực phẩm cũng ngày càng tăng cả về số lượng, chất lượng và chủng loại
Như vậy chỉ có một nền nông nghiệp phát triển ở trình độ cao mới hy vọng đáp ứng được nhu cầu tăng lên thường xuyên đó
- Xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế, trước hết là quá trình quốc tế hoá, khu vực hoá các quan hệ kinh tế thế giới, các hoạt động sản xuất thương mại, trao đổi thông tin khoa học kỹ thuật, chuyển giao công nghệ buộc chúng
ta phải đẩy nhanh việc thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp để chúng ta có thể tận dụng vốn, khoa học, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý nước ngoài vào trong hoàn cảnh thực tiễn và vận dụng vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước ta nhằm để tránh nguy cơ tụt hậu
Trang 3về kinh tế, rơi vào tình trạng "bãi rác công nghiệp" của thế giới, dẫn đến cuộc sống đói nghèo, lệ thuộc kinh tế nước ngoài v.v
Như vậy đứng trước những yêu cầu đổi mới đang diễn ra trước mắt ta cần
khẳng định trong bối cảnh quốc tế hiện nay, công nghiệp hoá, hiện đại là xu hướng phát triển chung của thế giới Trình độ công nghiệp hoá hiện đại hoá
biểu hiện trình độ phát triển của xã hội Vì vậy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói chung và công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nói riêng là con đường đúng đắn mà Đảng ta đã lựa chọn trong quá trình đi lên Chủ nghĩa Xã Hội của mình, nó là "nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội", nó là con đường tất yếu để đưa nước ta thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và "nguy cơ tụt hậu" hơn so với các nước trong khu vực
II) Vai trò của khoa học – công nghệ và đường lối của Đảng trong việc áp dụng khoa học – công nghệ trong vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay.
1) Vai trò của khoa học công nghệ trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam.
Khoa học công nghệ là một trong bốn nguồn lực quyết định sự phát triển kinh tế
xã hội của mỗi quốc gia Ngày nay, khi mà nhân loại bước vào kỷ nguyên tri thức thì khoa học công nghệ càng khẳng định hơn vai trò quyết định đến quá trình tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia Đặc biệt là Việt Nam đang bước vào một thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH, nó chính là động
lực lớn thúc đẩy và góp phần tích cực rút ngắn quá trình này Nghị quyết Trung ương II của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã xác định rõ:
“CNH-HĐH đất nước phải bằng và dựa vào khoa học và công nghệ”, “Khoa học và công nghệ phải trở thành nền tảng và động lực cho CNH-HĐH” Chỉ bằng con đường CNH-HĐH, phát triển khoa học và công nghệ mới có thể đưa nước ta từ nghèo nàn lạc hậu trở thành một nước giàu mạnh văn minh Cụ thể, những vai
Trang 4trò quan trọng của khao học công nghệ đối với quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở nông thôn là:
- Khoa học công nghệ là động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, phát triển ngành, cụ thể là: Đổi mới công nghệ sẽ thúc đẩy sự hình thành và phát triển các ngành mới đại diện cho tiến bộ khoa học - công nghệ; dưới tác động của đổi mới công nghệ, cơ cấu ngành sẽ đa dạng, phong phú, phức tạp hơn; các ngành có hàm lượng khoa học - công nghệ sẽ phát triển nhanh hơn so với các ngành truyền thống hao tốn nhiều nguyên liệu, năng lượng, sức người,…
- Khoa học công nghệ sẽ cho phép nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra nhiều sản phẩm mới, đa dạng hóa sản phẩm, tăng sản lượng, tăng năng suất lao động, sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguyên liệu… nhờ vậy sẽ tăng khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường, thúc đẩy tăng trưởng nhanh, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Khoa học công nghệ sẽ giải quyết các nhiệm vụ bảo vệ môi trường, cải thiện điều kiện sống và làm việc, giảm lao động nặng nhọc, độc hại; biến đổi cơ cấu lao động theo hướng: nâng cao tỷ trọng lao động chất xám, lao động có kỹ thuật, giảm lao động phổ thông, lao động chân tay,…
- Khoa học công nghệ hạn chế ảnh hưởng của thiên nhiên, cho phép phát triển công nghiệp ngay cả khi thời tiết không thuận lợi
Khoa học - công nghệ tiết kiệm, thay thế sức người, sức của trong sản xuất
Ta thấy ở một quy trình sản xuất hiện đại tạo ra tác phong làm việc công nghiệp,
chuyên nghiệp, kỷ luật cao nên ở Nghị quyết trung ương II cũng đã nhấn mạnh
phải thật sự coi sự phát triển khoa học và công nghệ là sự nghiệp cách mạng của toàn dân, phát huy cao độ khả năng sáng tạo của quần chúng Bởi lẽ dù chúng ta
có tiến hành cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, có đưa trang thiết bị kỹ thuật tân tiến nhất, những quy trình công nghệ hiện đại nhất vào nước ta thì cũng
Trang 5không có gì để có thể bảo đảm đẩy mạnh được CNH-HĐH nếu không có được những con người am hiểu và sử dụng chúng Do đó, xã hội hoá tri thức khoa học
và công nghệ là một trong những nhu cầu thiết thực và cấp bách nhất để đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH đất nước
2) Quá trình chỉ đạo của Đảng trong việc áp dụng khoa học – công nghệ vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam a) Chủ trương
- Trong quá trình đổi mới và hội nhập ở nước ta, có nhiều nhân tố là động lực
quan trọng, tuy nhiên, tại Văn kiện Đại hội XII, Đảng ta đã chỉ ra và khẳng
định khoa học, công nghệ là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại và “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn tới lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu” Đây là sự đánh giá đúng đắn, khách quan, khoa học
và vai trò của khoa học, công nghệ trên quan điểm, lập trường chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta
- Trong 30 năm đổi mới, Đảng ta luôn coi “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã khẳng
định
- Ở Nghị quyết Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
IX (tháng 3-2002) đã chỉ ra nội dung tổng quát của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn bao hàm hai vế Vế thứ nhất, đó là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp Đây là quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu của khoa học - công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu
Trang 6sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa trên thị trường Ở vế thứ hai, đó là
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn Đây là quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm
và lao động nông nghiệp; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái; tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ở nông thôn
- Với mục tiêu tổng quát và lâu dài của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả và bền vững, có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại, Đảng ta đã đưa ra những chủ trương như phát triển lực lượng sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn; xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; phát triển kết cấu hạ tầng và đô thị hóa nông thôn; xây dựng đời sống văn hóa - xã hội và phát triển nguồn nhân lực; đồng thời bên cạnh đó, Đảng đã đề ra các giải pháp về quy hoạch, khoa học - công nghệ, đất đai, tài chính, tín dụng, lao động và việc làm, thương mại và hội nhập kinh tế
b) Phương hướng
Ở nước ta, thông qua các văn kiện của Đảng và nhà nước, vai trò vị trí của khoa học công nghệ trong công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn đã được xác định
Trang 7Trong xu thế toàn cầu hoá về kỹ thuật, sự cạnh tranh về hàng hoá và dịch vụ ở thị trường trong khu vực và thế giới ngày càng gay gắt, tính cạnh tranh của hàng hoá được nâng cao chủ yếu nhờ những tiến bộ khoa học - công nghệ của nhân loại Vì vậy việc xác định đường lối và chủ trương cũng như quan điểm chung của hệ thống là nhiệm vụ to lớn hàng đầu của chủ thể Đối với hệ thống kinh tế
xã hội trong xu thế sản xuất phát triển theo công nghệ Xét về góc độ quản lý chung của cấp nhà nước, Đảng đã có những chính sách hoạch định rõ đường lối chủ trương và quan điểm phát triển cho cả nền kinh tế của đất nước nói chung và nền nông nghiệp nói riêng, đó là:
- Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững, phát huy lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới Chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh, phù hợp đặc điểm từng vùng, từng địa phương Tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp, dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp Sớm khắc phục tình trạng manh mún về đất canh tác của các hộ nông dân, khuyến khích việc dồn điền đổi thửa, cho thuê, góp vốn cổ phần bằng đất; phát triển các khu nông nghiệp công nghệ cao, vùng trồng trọt và chăn nuôi tập trung, doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ gắn với hình thành các ngành nghề, làng nghề, hợp tác xã, trang trại, tạo ra những sản phẩm có thị trường và hiệu quả kinh tế cao
- Trên cơ sở tích tụ đất đai, đẩy mạnh cơ giới hoá, áp dụng công nghệ hiện đại (nhất là công nghệ sinh học); bố trí lại cơ cấu cây trồng, vật nuôi; phát triển kinh tế hộ, trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp, vùng chuyên môn hoá, khu nông nghiệp công nghệ cao, các tổ hợp sản xuất
Trang 8lớn Thực hiện tốt việc gắn kết chặt chẽ “bốn nhà” (nhà nông, nhà khoa
học, nhà doanh nghiệp, nhà nước) và phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ ở khu vực nông thôn Giữ vững diện tích đất trồng lúa theo quy hoạch, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia và tăng giá trị xuất khẩu gạo Mở rộng diện tích, áp dụng công nghệ cao để tăng năng suất, chất lượng các loại rau, cây ăn quả, cây công nghiệp có lợi thế Phát triển nhanh ngành chăn nuôi theo phương thức công nghiệp, bán công nghiệp với công nghệ tiên tiến
- Phát triển mạnh nuôi trồng thuỷ sản đa dạng theo quy hoạch, phát huy lợi thế từng vùng gắn với thị trường; coi trọng hình thức nuôi công nghiệp, thâm canh là chủ yếu đối với thuỷ sản nước ngọt, nước lợ và nước mặn; gắn nuôi trồng với chế biến bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm Đẩy mạnh việc đánh bắt hải sản xa bờ với ứng dụng công nghệ cao trong các khâu tìm kiếm ngư trường, đánh bắt và hiện đại hoá các cơ sở chế biến thuỷ sản Xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng, cơ sở dịch vụ phục vụ nuôi trồng, đánh bắt, chế biến, xuất khẩu thuỷ sản Coi trọng khâu sản xuất và cung cấp giống tốt, bảo vệ môi trường, mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu
- Tăng cường các hoạt động khuyến nông, khuyến công, khuyến lâm, khuyến ngư, công tác thú y, bảo vệ thực vật và các dịch vụ kỹ thuật khác
ở nông thôn Chuyển giao nhanh và ứng dụng khoa học, công nghệ, nhất
là công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp; chú trọng các khâu giống, kỹ thuật canh tác, nuôi trồng, công nghệ sau thu hoạch và công nghệ chế biến
3) Kết quả của việc áp dụng khoa học – công nghệ vào quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn ở nước ta
Trang 9a) Thành quả
- Phong trào thi đua ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp đã được các ngành, các địa phương và người dân hết sức chú trọng Nhờ đó, năng suất cây trồng, vật nuôi ngày một tăng lên
- Nhiều mô hình kinh tế mới ra đời, nhất là các mô hình kinh tế trang trại, gia trại với việc đưa vào trồng trọt, chăn nuôi các cây, con giống có chất lượng và giá trị kinh tế cao góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân Nhiều địa phương đã mạnh dạn chuyển đổi những diện tích trồng lúa, ngô kém hiệu quả sang trồng các loại cây khác như đậu đỗ, dưa hấu, ớt, lạc
- Việc ứng dụng cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp được nông dân ở các địa phương hết sức chú trọng Hầu hết các khâu làm đất, gặt, đập đều được bà con sử dụng các loại máy Trong chăn nuôi, bà con đã tích cực ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh nên số đàn gia súc, gia cầm phát triển khá tốt, tỷ lệ bò lai, lợn ngoại tăng dần hàng năm
- Trong gần 30 năm đổi mới, nông nghiệp Việt Nam đạt được mức tăng trưởng nhanh và ổn định trong một thời gian dài, các ngành trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản đều có tốc độ phát triển đáng kể
+ Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 1986 đạt 65,1 nghìn tỷ đồng, năm 2005 đạt 182 nghìn tỷ đồng, tăng gấp 2,8 lần và đến năm 2014 khoảng 830 nghìn tỷ đồng, trong đó: nông nghiệp đạt 617,5 nghìn tỷ đồng; lâm nghiệp đạt 23,9 nghìn tỷ đồng; thủy sản đạt 188,6 nghìn tỷ đồng Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2014 đạt mức tăng 5,98% so với năm 2013, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,49%, đóng góp 0,61% tăng trưởng
+ Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đã có bước tiến vượt bậc Năm 1986, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản chỉ đạt 400
Trang 10triệu USD, đến năm 2007 đã đạt tới 12 tỷ USD, năm 2014 đạt 30,86 tỷ USD Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu cao như: gạo, cà-phê, cao-su, hạt điều, hồ tiêu, gỗ và sản phẩm gỗ, thủy sản tăng nhanh và đứng nhóm hàng đầu thế giới
- Đến thời điểm cuối năm 2014 xuất hiện ngày càng nhiều cơ sở, trang trại chăn nuôi kiểu công nghiệp, áp dụng công nghệ cao, kỹ thuật tiên tiến, hiệu quả cao
+ Ngành thủy sản được đặc biệt quan tâm, giá trị sản xuất năm
2014 tăng 6,8% so với năm 2013 Khai thác thủy sản có chuyển biến mới theo hướng đẩy mạnh khai thác xa bờ, áp dụng kỹ thuật và thiết bị tiên tiến để nâng cao giá trị, chất lượng và hiệu quả khai thác
+ Lĩnh vực nuôi trồng thủy sản đã khắc phục khá thành công những khó khăn về dịch bệnh Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản năm 2014 đạt 3.413 nghìn tấn, tăng 6,1% so với năm trước
+ Công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản tiếp tục phát triển, nhiều doanh nghiệp đã đứng vững, duy trì và mở rộng sản xuất; xuất hiện nhiều cơ sở mới, trong đó một số cơ sở chế biến nông, lâm, thủy sản bằng công nghệ cao
- Ứng dụng khoa học, công nghệ trong sản xuất nông nghiệp ngày càng phổ biến theo hướng sử dụng giống mới, công nghệ sinh học, phương thức canh tác tiên tiến Đặc biệt, bên cạnh việc cơ giới hóa các khâu trong sản xuất nông nghiệp như tưới nước, tuốt và làm sạch nông sản, chế biến thức
ăn chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản… các khâu sơ chế, bảo quản nông, lâm, thủy sản sau thu hoạch cũng được ứng dụng công nghệ sản xuất tiên tiến, giúp kéo dài thời gian bảo quản sản phẩm mà vẫn giữ được giá trị dinh dưỡng
- Đời sống nông dân và bộ mặt kinh tế nông thôn có thay đổi lớn Từ một nước thường xuyên thiếu đói, hằng năm phải nhập khẩu hàng triệu tấn lương thực, đến nay Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn hàng