1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận môn đường lối đề tài toàn cầu hóa và những tác động của nó đối với nền kinh tế việt nam giai đoạn 2007 đến nay

13 97 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 92,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Toàn cầu hóa là quá trình hình thành một chỉnh thể thống nhất toàn thế giới, đó là sự ảnh hưởng tác động, xâm nhập lẫn nhau xuyên biên giới trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã h

Trang 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TOÀN CẦU HÓA

1.1 Khái niệm toàn cầu hóa

Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hóa, kinh tế,… trên quy mô toàn cầu

Toàn cầu hóa là quá trình hình thành một chỉnh thể thống nhất toàn thế giới,

đó là sự ảnh hưởng tác động, xâm nhập lẫn nhau xuyên biên giới trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, trước hết và chủ yếu là lĩnh vực kinh tế trên phạm vi toàn cầu Toàn cầu hóa được định nghĩa một cách khách quan nhất là sự phụ thuộc qua lại không ngừng giữa các quốc gia và các cá nhân Sự phụ thuộc qua lại có thể xảy ra trên lĩnh vực kinh tế, công nghệ, môi trường, văn hoá hay xã hội

1.2 Lịch sử của toàn cầu hoá

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, toàn cầu hóa kinh tế đã hình thành và phát triển qua một chặng đường khá dài Tính đến nay, thế giới đã ba lần “toàn cầu hóa” và lần này là lần thứ tư

Lần thứ nhất, diễn ra vào cuối thế kỷ XV sau khi Colombo phát hiện ra Châu Mỹ.

Từ đó, người Châu Âu đổ đi các nơi khai hóa văn minh theo lối chủ nghĩa thực dân Giá trị Châu Âu thay đổi và được truyền bá khắp nơi Kết quả toàn cầu hóa lần thứ nhất tạo ra

cơ hội tích lũy tư bản lớn và làm cho nước Anh trở thành bá chủ thế giới

Lần thứ hai, vào giữa thế kỷ XIX và được đánh dấu bằng thời kỳ người Châu Âu

chinh phục Châu Á và làm cho Nhật Bản tiến hành cuộc “Duy Tân” hưng thịnh đất nước

Lần thứ ba, diễn ra vào thời kỳ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai với trật tự thế

giới mới của các nước thắng trận làm cho nhiều nước Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ La-tinh giành được độc lập và hòa nhập với cộng đồng thế giới

Lần thứ tư, là thời kỳ hiện nay với đặc trưng là xu thế toàn cầu hóa được thúc đẩy bởi

những nhân tố như cuộc bùng nổ thông tin thế giới, làn sóng dân chủ thứ ba của Bồ Đào Nha vào năm 1974, sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu vào đầu thập kỷ 90 Toàn cầu hóa lần này

Trang 2

nặng về phương diện kinh tế và chính trị vì kinh tế toàn cầu hóa lấy thị trường làm mục tiêu, lấy toàn cầu hóa thông tin làm động lực Bởi vậy, nó mang ý nghĩa sâu rộng hơn nhiều so với những lần trước Cũng vì vậy nội dung động chạm đến nhiều nước, lôi cuốn đông đảo dân số các nước nhập cuộc

Theo quan điểm của Các Mác và Ănghen, xu hướng toàn cầu hóa kinh tế có từ khi đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa hình thành và tuy không dùng khái niệm toàn cầu hóa nhưng những nhận định của các ông thực chất là bàn về các vấn đề toàn cầu hóa Trong tác phẩm

“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, các ông viết: “…Vì luôn bị thúc đẩy bởi những nhu cầu

về những nới tiêu thụ sản phẩm, giai cấp tư bản xâm lấn khắp toàn cầu Nó phải xâm nhập khắp nơi, trụ lại ở khắp nơi và thiết lập những mối liên hệ ở khắp nơi Do bóp nặn ở thị trường thế giới, giai cấp tư bản đã làm cho sản xuất và tiêu dùng của tất cả các nước mang tính chất thế giới.” Như vậy, quốc tế hóa là cơ sở, tiền đề của toàn cầu hóa kinh tế và toàn cầu hóa là cấp độ của quốc tế hóa

1.3 Bản chất của toàn cầu hóa

Với tính cách là một xu thế lịch sử, toàn cầu hoá được quyết định bởi sự phát triển mạnh mẽ, mang tính bước ngoặt của lực lượng sản xuất trong thời đại cách mạng khoa học công nghệ

Toàn cầu hoá vừa mang bản chất khách quan, vừa chứa đựng tính chất tự do

tư bản; vừa tích cực vừa tiêu cực; vừa đem lại thời cơ, thuận lợi và nguy cơ, thách thức đối với các quốc gia dân tộc, nhất là các nước kém phát triển và đang phát triển

Toàn cầu hoá là một quá trình vừa hợp tác rộng mở, vừa đấu tranh gay gắt, phức tạp giữa các quốc gia, tập đoàn, cộng đồng, cá nhân với nhau

Để bảo vệ lợi ích quốc gia trong quá trình tham gia toàn cầu hoá, các nước trên thế giới đã và đang triển khai mạnh mẽ quá trình khu vực hoá

CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐẾN KINH TẾ VIỆT NAM

Trang 3

2.1 Quyết định, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về toàn cầu hóa (từ năm 2006 đến nay)

2.1.1 Bối cảnh lịch sử

2.1.1.1 Quốc tế và khu vực

Trên thế giới, hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn Kinh tế thế giới và khu vực tiếp tục phục hồi và phát triển nhưng vẫn tiềm ẩn những yếu tố bất trắc khó lường Cạnh tranh kinh tế - thương mại, giành giật các nguồn tài nguyên, năng lượng, thị trường, nguồn vốn, công nghệ giữa các nước ngày càng gay gắt Khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt và những đột phá lớn Các mâu thuẫn lớn của thời đại vẫn rất gay gắt : cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang,… Ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam Á nói riêng, xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển tiếp tục gia tăng, nhưng luôn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định

2.1.1.2 Trong nước

Trong nước, những thành tựu 5 năm (2001 - 2005) và 20 năm đổi mới (1986 - 2006) làm cho thế và lực nước ta lớn mạnh lên nhiều so với trước Việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững môi trường hoà bình tạo thêm nhiều thuận lợi cho nhân dân ta đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội với tốc độ nhanh hơn Tuy nhiên, nước ta đang đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp, không thể coi thường bất cứ thách thức nào

Những năm tới, đất nước ta có cơ hội lớn để tiến lên, tuy khó khăn còn nhiều Đòi hỏi bức bách của toàn dân tộc lúc này là phải tranh thủ cơ hội, vượt qua thách thức, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững hơn

2.1.2 Quyết định và chủ trương của Đảng thông qua ba kì đại hội (từ đại hội X đến đại hội XII)

2.1.2.1 Đại hội Đảng lần thứ X (4/2006)

Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào

Trang 4

cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

Đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập vào chiều sâu, ổn định, bền vững Phát triển quan hệ với tất cả các nước, các vùng lãnh thổ trên thế giới và các tổ chức quốc tế theo các nguyên tắc: tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực; giải quyết các bất đồng và tranh chấp thông qua thương lượng hòa bình; tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi

Củng cố và tăng cường quan hệ với các đảng cộng sản, công nhân, đảng cánh tả, các phong trào độc lập dân tộc, cách mạng và tiến bộ trên thế giới Tiếp tục mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền

Phát triển công tác đối ngoại nhân dân theo phương châm "chủ động, linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả" Tích cực tham gia các diễn đàn và hoạt động của nhân dân thế giới Tăng cường vận động viện trợ và nâng cao hiệu quả hợp tác với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài để phát triển kinh tế - xã hội

Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình, phù hợp với chiến lược phát triển đất nước từ nay đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 Chuẩn bị tốt các điều kiện để ký kết các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương Thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện và có hiệu quả với các nước ASEAN, các nước châu Á - Thái Bình Dương Củng cố và phát triển quan hệ hợp tác song phương tin cậy với các đối tác chiến lược; khai thác có hiệu quả các cơ hội và giảm tối đa những thách thức, rủi ro khi nước ta là thành viên

Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)

Tiếp tục đổi mới thể chế kinh tế, rà soát lại các văn bản pháp quy, sửa đổi, bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật bảo đảm tính đồng bộ, nhất quán, ổn định và minh bạch Cải thiện môi trường đầu tư; thu hút các nguồn vốn FDI, ODA, đầu tư gián tiếp, tín dụng thương mại và các nguồn vốn khác Xác định đúng mục tiêu sử dụng và đẩy nhanh việc giải ngân nguồn vốn ODA, cải tiến phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng và có kế hoạch trả

nợ đúng hạn; duy trì tỉ lệ vay nợ nước ngoài hợp lý, an toàn

Đẩy mạnh công tác văn hoá - thông tin đối ngoại, góp phần tăng cường sự hợp tác, tình hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước Tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo,

Trang 5

tham mưu về đối ngoại với sự tham gia và phát huy trí tuệ của các cơ quan nghiên cứu và các nhà khoa học

Bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại Phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân; chính trị đối ngoại và kinh tế đối ngoại; đối ngoại, quốc phòng

và an ninh; thông tin đối ngoại và thông tin trong nước Đường lối đối ngoại cũng có những điểm nhấn mới, tương ứng với sự thay đổi của hoàn cảnh, mục tiêu và yêu cầu phát triển của giai đoạn hội nhập

2.1.2.2 Đại hội Đảng lần thứ XI (1/2011)

Đánh giá tình hình 5 năm 2006-2010: Trong bối cảnh quốc tế và trong nước có rất

nhiều khó khăn, thách thức, nhất là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nỗ lực phấn đấu đạt được những thành

tựu quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của Đại hội X; ứng phó có kết quả

trước những diễn biến phức tạp của kinh tế thế giới và trong nước; cơ bản giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô; duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế khá, các ngành đều có bước phát triển, quy

mô nền kinh tế tăng lên Đời sống của nhân dân tiếp tục được cải thiện; chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế được mở rộng, vị thế, uy tín quốc tế của nước ta được nâng cao; phát huy dân chủ có tiến bộ, khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được tăng cường; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị đạt một số kết quả tích cực

Tuy nhiên, cũng còn nhiều hạn chế, khuyết điểm cần quyết tâm khắc phục Một số chỉ

tiêu, nhiệm vụ Đại hội X đề ra chưa đạt Kinh tế phát triển chưa bền vững, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá chậm; chế độ phân phối còn nhiều bất hợp lý, phân hoá giàu nghèo tăng lên Những hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hoá,

xã hội, bảo vệ môi trường chậm được khắc phục

Đề ra đường lối đối ngoại: Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra

đường lối đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ phát triển mới, trong đó có chủ trương rất quan trọng là “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” Từ “hội nhập kinh tế quốc tế” của các

Trang 6

kỳ đại hội trước, chuyển sang “hội nhập quốc tế” một cách toàn diện là một phát triển quan trọng về tư duy đối ngoại của Đảng ta tại Đại hội XI Đại hội Đảng lần thứ XI năm 2011 đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020, trong đó nhấn mạnh việc “không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế và sức mạnh tổng hợp của đất nước để chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và có hiệu quả”, và “thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ ; tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước”

Ngày 10 tháng 4 năm 2013, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 22-NQ/TW về hội nhập quốc tế Trên cơ sở đó, chúng ta đang chuyển sang giai đoạn hội nhập toàn diện: hội nhập giờ đây không chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh tế mà còn mở rộng trên nhiều lĩnh vực khác Tuy nhiên, “hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy phát triển văn hóa, xã hội; hội nhập trong các lĩnh vực phải được thực hiện đồng bộ trong một chiến lược hội nhập quốc tế tổng thể với lộ trình, bước đi phù hợp với điều kiện thực tế và năng lực của đất nước” (trích Nghị quyết 22-NQ/TW)

2.1.2.3 Đại hội Đảng lần thứ XII (1/2016)

Phát triển kinh tế bền vững là một trong những nội dung quan trọng của Đại hội lần thứ XII của Đảng

Đại hội XII đã có bước phát triển mới rất rõ nét, xác định đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam như sau: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”

Đại hội XII xác định mục tiêu đến năm 2020 là: “Phấn đấu cơ bản hoàn thiện đồng bộ

hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo các tiêu chuẩn phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; bảo đảm tính đồng bộ giữa thể chế kinh tế và thể chế chính trị, giữa Nhà nước và thị trường; bảo đảm sự hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, phát triển con người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo

Trang 7

đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển xã hội bền vững; chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế gắn với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; bảo đảm tính công khai, minh bạch, tính dự báo được thể hiện trong xây dựng và thực thi thể chế kinh tế, tạo điều kiện

ổn định, thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.104) Quan điểm mà Đại hội XII của Đảng: “Hội nhập là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh”, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Đây là luận điểm mới, rất sâu sắc được Đảng

bổ sung trong văn kiện Đại hội XII, có ý nghĩa định hướng, chỉ đạo quá trình hội nhập quốc tế của nước ta trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội

2.2 Những tác động của toàn cầu hóa đối với nền kinh tế Việt Nam (từ năm 2007 đến nay)

2.2.1 Những tác động tích cực

Thứ nhất, CSVC-KT tăng cường, nâng cao khả năng độc lập tự chủ của nền kinh tế:

Từ một nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất yếu kém, đến nay

tỷ lệ ngành côn nghiệp chế tác, cơ khí chế tạo và nội địa hóa sản phẩm ngày càng tăng; số lượng các khu công nghiệp, khu chế xuất tập trung hoạt động có hiệu quả tăng trưởng rõ rệt Ngành công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất như luyện kim, cơ khí, vật liệu xây dựng, hóa chất cơ bản, khai thác và hóa dầu đã và đang có những bước tiến triển mạnh mẽ Một

số sản phẩm công nghiệp đã cạnh tranh được trên thị trường trong và ngoài nước Ngành xây dựng tăng trưởng nhanh, năng lực xây dựng có những bước tiến đáng kể thoe hướng tân tiến Nhiều công trình quan trọng thuộc kết cấu hạ tầng xây dựng như sân bay, cảng biển, đường bộ, bưu chính viễn thông, theo hướng hiện đại

Thứ hai, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá đạt

kết quả tích cực:

Cơ cấu kinh tế vùng có sự điều chỉnh theo hướng phát huy lợi thế từng vùng Các cùng kinh tế trọng điểm phát triển khá nhanh, đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng và

là đầu tàu của nền kinh tế Điển hình, số tiền vùng KTTĐ Bắc Bộ đóng góp vào ngân sách nhà nước tăng từ 75 nghìn tỷ năm 2007 lên hơn 175 nghìn tỷ năm 2016

Cơ cấu lao động có sự chuyển đổi tích cực gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Từ năm 2007 đến 2016, tỷ trọng lao động trong công nghiệp và xây dựng tăng từ

Trang 8

19,1% lên 24,3%, nông lâm ngư nghiệp giảm từ 55,7% xuống 42,3%, thương mại dịch vụ tăng từ 25,2% lên 33,4% Lao động qua đào tạo tăng

Trong từng ngành kinh tế đều có sự chuyển dịch tích cực về cơ cấu sản xuất, cơ cấu công nghệ theo hướng tiến bộ, hiệu quả, gắn với sản xuất và thị trường

Thứ ba, nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá cao:

Những thành tựu của CNH-HĐH gớp phần đưa nền kinh tế có tỷ lệ tăng trưởng khá cao GDP bình quân năm 2007-2016 là 6,4%/năm Điều đó góp phần quan trọng vào công tác xóa đói giảm nghèo Đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện Thu nhập bình quân đầu người hàng năm tăng lên đáng kể Năm 2010 đạt 1.168 USD//người, năm 2017 dự báo có thể cán mốc 2.368 USD/người

Thứ tư, tăng nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI):

Năm 2007 với tổng số vốn đầu tư đăng kí là 21,3 tỷ USD, vốn thực hiện đạt 8,03 tỷ USD Từ năm 2008 đến năm 2012, Việt Nam đã thu hút được các dự án lớn, sử dụng công nghệ cao và có khả năng tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh Cụ thể:

Vốn thực hiện: đạt 10 tỷ USD, vượt 25% năm 2007 ( 8 tỷ USD)

Lao động: 16 vạn người, tăng 6,7% so với 2007

Nộp ngân sách nhà nước; 2 tỷ USD, tăng 29% so với năm 2007

Năm 2017: Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), trong 6 tháng

đầu năm 2017, tổng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đăng ký cấp mới, tăng thêm và góp vốn, mua cổ phần là 19,22 tỷ USD, tăng 54,8% so với cùng kỳ năm 2016

Thứ năm, nâng cao trình độ kỹ thuật- công nghệ:

Toàn cầu hóa giúp khoa học và công nghệ Việt Nam từng bước hội nhập, giao lưu với nền khoa học công nghệ của thế giới, tạo thuận lợi cho Việt Nam học tập kinh nghiệm, tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ thế giới phục vụ cho sự phát triển của kinh tế- xã hội của đất nước Việc chuyển giao các dây chuyền công nghệ, khoa học tiên tiến của thế giới vào từng ngành nghề, lĩnh vực cụ thể ở Việt Nam như: Công nghệ sản xuất ô tô, công nghệ sản xuất thiết bị di động cầm tay, chip và các sản phẩm viễn thông, các công

Trang 9

nghệ ứng dụng trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ xây dựng cầu đường

và đặc biệt công nghệ thông tin trong các ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng đã góp phần đưa các ngành này từng bước tiếp cận và đạt đến trình độ của thế giới

Thứ sáu, tự do thương mại toàn cầu, thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu:

Kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng, thể hiện qua bảng số liệu sau:

Xuất

Nhập

Đơn vị: tỷ USD

Tính riêng trong giai đoạn 2007-2010, là giai đoạn sau khi gia nhập WTO, xuất khẩu tăng bình quân 14% năm, nhập khẩu tăng bình quân 11% năm

Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn từ 2007 đến nay đã có sự chuyển dịch khá tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng nhóm hàng chế biến và giảm dần hàng xuất khẩu thô Thị trường ngoài nước ngày càng mở rộng, đa dạng… Cơ cấu thị trường xuất, nhập khẩu đã có sự chuyển dịch theo hướng giảm dần lệ thuộc vào thị trường Châu Á

2.2.2 Những tác động tiêu cực

Tác động tiêu cực đến thương mại quốc tế: Các mặt hàng nông phẩm như: thủy sản,

cà phê, gạo, tiêu điều, cao su,… khi xuất khẩu hầu hết dưới dạng thô và sơ chế, giá trị thu được rất thấp nhưng lại vấp phải những hàng rào bảo hộ gay gắt từ nước ngoài Việt Nam đã buộc phải cam kết thêm bãi bỏ mọi trợ cấp trong xuất khẩu nông sản, từ bỏ quyền sử dụng biện pháp tự vệ trong nông nghiệp Chuyển giao vốn, chuyển giao công nghệ nhưng thực chất

là bảo hộ công khai, trá hình, chuyển giao những công nghệ lạc hậu Khi có một biến động hay khủng hoảng ở một quốc gia nào sẽ tạo ra một hiệu ứng lan truyền ảnh hưởng đến các quốc gia hoặc khu vực khác

Trang 10

Tác động tiêu cực đến đầu tư quốc tế: Khi các tập đoàn lớn vào việt nam, người ta

kiểm soát phần lớn thị trường trong nước Các doanh nghiệp trong nước rất khó khăn trong việc cạnh tranh dẫn đến phải chấp nhận làm các công ty con cho những tập đoàn này Khi có một trục trặc xảy ra, các tập đoàn này đồng loạt rút vốn, gây ngưng trệ sản xuất, thất nghiệp hàng loat Nhà đầu tư nước ngoài ồ ạt đổ tài chính vào các lĩnh vực bất động sản, thị trường chứng khoán làm giá cổ phiếu lên cao, thị trường phát triển quá mức và bong bóng tài chính phát nổ, thị trường lao dốc, nhiều người trắng tay

Tình huống minh họa: Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ bắt đầu từ năm 2008:

 Tăng trưởng kinh tế thụt lùi

 Lạm phát tăng cao

 Vốn đầu tư toàn xã hội sụt giảm

 Sản xuất công nghiệp lao đao, tồn kho lớn

 Sức mua suy yếu, tiêu thụ hàng hóa khó khăn

 Thu hút vốn đầu tư nước ngoài khó khăn

Đỉnh điểm của quá trình lạm phát lên đến gần 20% và duy trì ở hai con số năm 2010

và 2011 Điều này làm cho môi trường kinh doanh của Việt Nam xấu đi Tỷ lệ đầu tư trên GDP liên tục sụt giảm 3 năm qua, xuống dưới 30% GDP trong nửa đầu năm 2013 so với mức trên 40% GDP trước đó Khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong những năm kinh tế thế giới biến động đã giảm sút rất rõ rệt: từ mức gần 72 tỷ USD năm 2008 đến nay trung bình chỉ còn khoảng 13 tỷ USD mỗi năm

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp trong nước phải chịu gia tăng sức ép cạnh tranh của

hàng hoá nhập khẩu và các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài ngay tại thị trường nội địa Bởi

vì, khi hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, thị trường nội địa phải “mở cửa”, các rào cản thuế quan cũng như phi thuế quan bị giảm bớt và loại bỏ, các doanh nghiệp nước ngoài được tự do tham gia buôn bán, cung cấp hàng hoá, dịch vụ như doanh nghiệp trong nước trên

cơ sở bình đẳng, không phân biệt đối xử Trong khi hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu do nước ngoài cung cấp đa dạng, phong phú với chất lượng và giá cả thấp hơn, các nhà cung cấp

“trường vốn” hơn và dày dặn kinh nghiệm trong cạnh tranh quốc tế, chưa nói tới tâm lý chung của người tiêu dùng vẫn chủ yếu là “sính hàng ngoại” Nhiều doanh nghiệp trong nước có nguy cơ bị mất thị phần của mình, thâm chí bị phá sản

Ngày đăng: 05/05/2020, 16:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w