Chức năng giáo dục là chức năng mà văn hóa thông qua các hoạt động, các sản phẩm của mình nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của con người, làm cho
Trang 11 Cơ sở lý thuyết
1.1 Văn hóa là gì?
Văn hóa là tất cả những sản phẩm của con người, bao gồm cả hai khía cạnh, khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các phương tiện… Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một phần của văn hóa
Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan
hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội, văn hóa được truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hoạt động và tương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của hoạt động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra
Văn hóa có rất nhiều chức năng như giáo dục, nhận thức, thẩm mĩ, giải trí, v.v Chức năng giáo dục là chức năng mà văn hóa thông qua các hoạt động, các sản phẩm của mình nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của con người, làm cho con người dần dần có những phẩm chất và năng lực theo những chuẩn mực xã hội đề ra Văn hóa thực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng những giá trị đã ổn định là truyền thống văn hóa mà còn bằng cả những giá trị đang hoàn thành Các giá trị này tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới Nhờ vậy, văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hoàn thành nhân cách ở con người Văn hóa tạo nên sự phát triển liên tục của lịch sử mỗi dân tộc cũng như lịch sử nhân loại văn hóa duy trì và phát triển bản sắc dân tộc và là cầu nối hữu nghị gắn bó các dân tộc, gắn kết các thế hệ trong mục tiêu hướng đến Chân - Thiện - Mỹ Chức năng nhận thức là chức năng đầu tiên, tồn tại trong mọi hoạt động văn hóa Bởi con người không có nhận thức thì không thể có bất cứ một hoạt động văn hóa nào Văn hóa giúp nâng cao trình độ nhận thức của con người bằng cách phát huy những tiềm năng ở con người Cùng với nhu cầu hiểu biết, con người còn có nhu cầu hưởng thụ, hướng tới cái đẹp Con người nhào nặn hiện thực theo quy luật của cái đẹp cho nền văn hóa phải có chức năng này Với tư cách là khách thể của văn hóa, con người tiếp nhận chức năng này của văn hóa và tự thanh lọc mình theo hướng vươn tới cái đẹp và khắc phục cái xấu trong mỗi người
Các hoạt động văn hóa, câu lạc bộ, bảo tàng, lễ hội, ca nhạc… thể hiện rõ nhất chức năng giải trí của văn hóa Sự giải trí bằng các hoạt động văn hóa là bổ ích, cần thiết,
Trang 2góp phần giúp con người lao động sáng tạo có hiệu quả hơn và giúp con người phát triển toàn diện
1.2 Lễ hội là gì?
Lễ hội là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, đã có từ hàng ngàn năm lịch sử, từ thời khai sinh, lập địa Lễ hội thể hiện lòng tri ân của nhân dân với truyền thống chung của dân tộc, ôn lại lịch sử và ghi nhận công đức của các bậc tiền nhân đã có công dựng nước và giữ nước, bảo vệ nền độc lập dân tộc qua các thời kỳ lịch sử
Lễ hội còn mang truyền thống đặc trưng của mỗi dân tộc, vùng miền; phản ánh những nét đẹp văn hóa truyền thống của mỗi dân tộc, tôn giáo, tính nhân văn vốn
có Bên cạnh đó, lễ hội còn mang tính giáo dục tư tưởng, đạo đức lối sống, giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc, xây dựng tinh thần đoàn kết trong cộng đồng Đến với lễ hội, mọi người còn được tham dự các trò chơi giải trí, các chương trình văn nghệ, nhắc nhở mọi người phải sống sao có tâm, có đức, cầu mong cho đất nước được bình an, bản thân và gia đình được may mắn và hạnh phúc trong cuộc sống
Lễ hội nhắc con người sống phải có ý thức văn hóa, có trách nhiệm với địa phương
và đất nước, đóng góp xây dựng trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử, nơi thờ tự, công đức xây dựng các công trình văn hóa, xã hội, góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế của địa phương… Bời vậy mà lễ hội có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng đạo đức lối sống của mỗi người
Lễ hội ở nước ta rất đa dạng và phong phú, tùy thuộc vào các dân tộc, vùng miền, đặc trưng riêng của mỗi địa phương… Mỗi một nơi lại có nội dung và cách tổ chức khác nhau, nhưng nhìn chung trong lễ hội bao giờ cũng có hai phần: phần “lễ” và phần “hội” Phần “lễ” là lý do tổ chức lễ hội, ôn lại truyền thống lịch sử, công lao của các bậc tiền nhân (bao gồm: lễ thánh, lễ thần, lễ phật, lễ các danh nhân mà địa phương thờ phụng v.v…) Nhiều nơi gắn “tế” với “lễ” bằng những hình thức khác nhau như dâng hương, dâng lễ vật, đồ thờ phụng, vàng mã… Tổ chức phần lễ thường do chính quyền địa phương, ban quản lý lễ hội hoặc dòng họ, đại diện những người có chức sắc, có uy tín, già làng, trưởng bản tham gia ban tổ chức Phần “hội” dưới sự điều hành của người chủ lễ, tổ chức những trò chơi dân gian, đặc trưng của dân tộc, vùng miền, địa phương Gắn với các trò chơi dân gian trong phần ”hội” còn có thể có những hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, lao động sản xuất, sinh hoạt và đời sống truyền thống của địa phương
Trên phạm vi toàn quốc có nhiều loại lễ hội, song có thể phân ra một số loại lễ hội sau: Lễ hội chùa, đền, đình; lễ hội dân gian của địa phương; lễ hội của các dân tộc
Trang 3thiểu số; lễ hội tôn giáo; lễ hội về công đức các bậc tiền nhân gắn với các sự kiện lịch sử, chính trị, văn hóa của đất nước, địa phương…
Mỗi lễ hội có những nét đặc thù riêng và cách tổ chức khác nhau, nhưng mục đích chung của lễ hội ở nước ta đều dựa trên những nguyên tắc chung và ý nguyện của mỗi người dân, bảo đảm nét văn hóa truyền thống dân tộc và của địa phương, ghi nhận công lao và học tập truyền thống của các bậc tiền nhân trong lịch sử, giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi người đối với đất nước nói chung, địa phương nói riêng, cầu mong cho dân giàu nước mạnh, cá nhân và gia đình những điều tốt lành và hạnh phúc
1.3 Quan điểm của Đảng về phát triển và xây dựng văn hóa.
Trong những năm 1943 – 1954: Đầu năm 1943, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp tại Võng La (Đông Anh, Hà Nội) đã thông qua bản Đề cương văn hóa Việt Nam do đồng chí Tổng bí thư Trường Chinh trực tiếp dự thảo Đề cương xác định lĩnh vực văn hóa là một trong 3 mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa) của cách mạng Việt Nam và đề ra ba nguyên tắc của nền văn hóa mới: Dân tộc hóa (chống lại mọi ảnh hưởng nô dịch và thuộc địa), Đại chúng hóa (chống lại mọi chủ trương, hành động làm cho văn hóa phản lại hoặc xa rời quần chúng), Khoa học hóa (chống lại tất cả những gì làm cho văn hóa phản tiến bộ, trái khoa học) Nền văn hóa mới Việt Nam có tính chất dân tộc về hình thức, dân chủ về nội dung Có thể coi Đề cương văn hóa Việt Nam là bản Tuyên ngôn, là Cương lĩnh của Đảng về văn hóa trước Cách mạng tháng Tám mà ảnh hưởng của nó còn tác động sâu rộng đến mãi sau này
Ngày 3/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày với các Bộ trưởng 6 nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong đó có 2 nhiệm vụ cấp bách thuộc về văn hóa Một là, cùng với diệt giặc đói là phải diệt giặc dốt Hồ Chí Minh nói: một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, thế mà hơn chín mươi phần trăm đồng bào chúng ta mù chữ; vì vậy, tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ Hai là, chế độ thực dân đã hủ hóa dân tộc Việt Nam bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác Vì vậy, một nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân ta, làm cho dân tộc ta trở thành một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị: mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện cần, kiệm, liêm, chính Như vậy, nhiệm vụ đầu tiên về xây dựng văn hóa của nước Việt Nam độc lập là:
Trang 4chống nạn mù chữ và giáo dục lại tinh thần nhân dân Đây là 2 nhiệm vụ hết sức khiêm tốn nhưng lại vĩ đại ở tầm nhìn, độ chính xác và tính thời sự của nó
Trong những năm 1955 – 1986: Đường lối xây dựng và phát triển văn hóa trong giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa được hình thành bắt đầu từ Đại hội lần thứ III của Đảng (1960) mà điểm cốt lõi là chủ trương tiến hành cuộc cách mạng tư tưởng và văn hóa đồng thời với cuộc cách mạng về quan hệ sản xuất và cách mạng
về khoa học, kỹ thuật là chủ trương xây dựng và phát triển nền văn hóa mới, con người mới Mục tiêu là làm cho nhân dân thoát nạn mù chữ và thói hư tật xấu do xã hội cũ để lại, có trình độ văn hóa ngày càng cao, có hiểu biết cần thiết về khoa học,
kỹ thuật tiên tiến để xây dựng chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa
Đại hội IV và Đại hội V của Đảng tiếp tục đường lối phát triển văn hóa của Đại hội III, xác định nền văn hóa mới là nền văn hóa có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc, có tính đảng và tính nhân dân Nhiệm vụ văn hóa quan trọng của giai đoạn này là tiến hành cải cách giáo dục trong cả nước, phát triển mạnh khoa học, văn hóa nghệ thuật, giáo dục tinh thần làm chủ tập thể, chống tư tưởng tư sản và tàn
dư tư tưởng phong kiến, phê phán tư tưởng tiểu tư sản, xóa bỏ ảnh hưởng của tư tưởng, văn hóa thực dân mới ở miền Nam
Từ Đại hội VI đến Đại hội XII, Đảng ta đã hình thành từng bước nhận thức mới về đặc trưng của nền văn hóa mới mà chúng ta cần xây dựng; về chức năng, vai trò, vị trí của văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế
Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI (tháng 5/2014) đã nêu ra mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể, quan điểm nhiệm vụ, giải pháp về xây dựng và phát triển văn hóa con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước Trong đó, nổi bật là xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ
và khoa học Tiên tiến là yêu nước và tiến bộ với nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm mục tiêu tất cả vì con người Tiên tiến không chỉ về nội dung, tư tưởng mà cả trong hình thức biểu hiện, trong các phương tiện chuyển tải nội dung Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị văn hóa truyền thống bền vững của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã – Tổ quốc Đó là lòng nhân ái,
Trang 5khoan dung, trọng tình nghĩa, đạo lý, là đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống… Bản sắc dân tộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo Bản sắc dân tộc thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: cách tư duy, cách sống, cách dựng nước, giữ nước, cách sáng tạo trong văn hóa, khoa học, văn học, nghệ thuật… nhưng được thể hiện sâu sắc nhất là trong hệ giá trị của dân tộc Hệ giá trị là những
gì nhân dân quan tâm, là niềm tin mà nhân dân cho là thiêng liêng, bất khả xâm phạm Khi được chuyển thành các chuẩn mực xã hội, nó định hướng cho sự chọn lựa trong hành động của cá nhân và cộng đồng Vì vậy, nó là cơ sở tinh thần cho sự
ổn định xã hội và sự vững vàng của chế độ
Để xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc chúng ta chủ trương vừa bảo vệ bản sắc dân tộc vừa mở rộng giao lưu, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Bảo vệ bản sắc dân tộc phải gắn kết với mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ trong văn hóa các dân tộc khác để bắt kịp sự phát triển của thời đại Chủ động tham gia hội nhập và giao lưu văn hóa với các quốc gia
để xây dựng những giá trị mới của văn hóa Việt Nam đương đại Xây dựng Việt Nam thành một địa chỉ giao lưu văn hóa khu vực và quốc tế
Giữ gìn bản sắc dân tộc phải đi liền với chống những cái lạc hậu, lỗi thời trong phong tục, tập quán và lề thói cũ Nét đặc trưng nổi bật của văn hóa Việt Nam là sự thống nhất mà đa dạng, là sự hòa quyện bình đẳng, sự phát triển độc lập của văn hóa các dân tộc anh em cùng sống trên lãnh thổ Việt Nam Hơn 50 dân tộc trên đất nước ta đều có những giá trị và bản sắc văn hóa riêng Các giá trị và sắc thái đó bổ sung cho nhau, làm phong phú nền văn hóa Việt Nam thống nhất và củng cố sự thống nhất dân tộc
2 Thực trạng vấn đề
2.1 Vai trò của lễ hội trong việc gìn giữ văn hoá dân tộc Việt Nam.
2.1.1 Tổng quan về lễ hội ở Việt Nam.
Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, ra đời và phát triển trong xã hội loài người Ở Việt Nam, lễ hội gắn bó với cuộc sống của người dân, cư dân nông nghiệp sống với nghề trồng lúa nước, vòng quay của thiên nhiên và các mùa
vụ đã hình thành trong tâm thức con người về những nhu cầu tâm linh mà lễ hội chính là nơi thỏa mãn nhu cầu tâm linh đó của họ Trong nhận thức của mỗi người dân Việt Nam, lễ hội không chỉ là thành tố văn hóa gắn bó vô cùng thân thiết và
Trang 6thiêng liêng, mãnh liệt và gần gũi mà còn là một thành tố có tính chất tổng hợp trong các thành tố: tín ngưỡng, tôn giáo, nghệ thuật biểu diễn dân gian…
Hiện tại ở nước ta có nhiều loại lễ hội, bên cạnh lễ hội cổ truyền còn có Lễ hội mới, (lễ hội hiện đại, gắn với các sự kiện lịch sử hiện đại, cách mạng), lễ hội sự kiện (gắn với du lịch quảng bá du lịch, Lễ hội nhân kỷ niệm những năm chẵn thành lập thành phố, tỉnh, huyện)…, trong đó lễ hội cổ truyền thống có số lượng nhiều nhất (khoảng trên 7000 lễ hội trong tổng số gần 9000 lễ hội), phạm vi phân bố rộng (cả nông thôn, đô thị, vùng núi các dân tộc), có lịch sử lâu đời nhất Người ta có thể phân loại lễ hội cổ truyền theo thời gian các mùa trong năm, trong đó quan trọng nhất là mùa xuân, mùa thu (xuân thu nhị kỳ), phân chia theo phạm vi lớn nhỏ: Lễ hội làng,
lễ hội vùng, lễ hội quốc gia Phân loại theo tính chất của lễ hội: Lễ hội nghề nghiệp (nông, ngư, nghề buôn…), lễ hội tôn vinh anh hùng dân tộc, người có công với quê hương, đất nước, lễ hội gắn với các tôn giáo tín ngưỡng cụ thể như lễ hội của Phật, Kitô, Tín ngưỡng dân gian…
Lễ hội cổ truyền là một sinh hoạt văn hóa mang tính hệ thống tính phức hợp, một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể, bao gồm gần như tất cả các phương diện khác nhau của đời sống xã hội của con người: sinh hoạt tín ngưỡng, nghi lễ, phong tục, giao tiếp và gắn kết xã hội, các sinh hoạt diễn xướng dân gian (hát, múa, trò chơi, sân khấu…), các cuộc thi tài, vui chơi, giải trí, ẩm thực, mua bán… Không có một sinh hoạt văn hóa truyền thống nào của nước ta lại có thể sánh được với lễ hội
cổ truyền, trong đó chứa đựng đặc tính vừa đa dạng vừa nguyên hợp này
2.1.2 Vai trò của lễ hội.
a Hoạt động hưởng thụ và sáng tạo văn hóa của nhân dân.
Lễ hội là một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng, văn hóa của nhân dân trong các vùng làng và cả đô thị Trong các lễ hội, nhân dân địa phương đứng ra tổ chức, sáng tạo, truyền nhau từ các thế hệ này đến thế hệ khác tái hiện lại văn hóa cộng đồng và hưởng thụ các giá trị văn hóa thiêng liêng và tâm linh Do vậy, lễ hội bao giờ cũng thấm đượm tinh thần dân chủ và nhân bản sâu sắc Đặc biệt trong “thời điểm mạnh” của lễ hội, khi mà tất cả mọi người chan hòa trong không khí thiêng liêng, hứng khởi thì các cách biệt xã hội giữa cá nhân ngày thường dường như được xoá nhoà, con người cùng sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hoá của mình
Điều này có phần nào đối lập với đời sống thường nhật của những xã hội phát triển, khi mà phân công lao động xã hội đã được chuyên môn hoá, nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ văn hoá của con người đã phần nào tách biệt
Trang 7Đấy là chưa kể trong xã hội nhất định, một lớp người có đặc quyền có tham vọng
“cướp đoạt” các sáng tạo văn hoá cộng đồng để phục vụ cho lợi ích riêng của mình Đến như nhu cầu giao tiếp với thần linh của con người cũng tập trung vào một lớp người có “khả năng đặc biệt” Như vậy, con người, đứng từ góc độ quảng đại quần chúng, không còn thực sự là chủ thể của quá trình sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hoá một cách bình đẳng nữa Xu hướng đó phần nào xói mòn tinh thần nhân bản của văn hoá, làm tha hoá chính bản thân con người Do vậy, con người trong xã hội hiện đại, cùng với xu hướng dân chủ hoá về kinh tế, xã hội thì cũng diễn ra quá trình dân chủ hoá về văn hoá Chính nền văn hoá truyền thống, trong đó có lễ hội cổ truyền là môi trường tiềm ẩn những nhân tố dân chủ trong sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hoá ấy
b Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của các vùng miền, dân tộc.
Lễ hội không chỉ là tấm gương phản chiếu nền văn hoá dân tộc, mà còn là môi trường bảo tồn, làm giàu và phát huy nền văn hoá dân tộc ấy
Cuộc sống của con người Việt Nam không phải lúc nào cũng là ngày hội, mà trong chu kỳ một năm, với bao ngày tháng nhọc nhằn, vất vả, lo âu, để rồi “xuân thu nhị kỳ”, “tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ”, cuộc sống nơi thôn quê vốn tĩnh lặng ấy vang dậy tiếng trống chiêng, người người tụ hội nơi đình chùa mở hội Nơi đó, con người hoá thân thành văn hoá, văn hoá làm biến đổi con người, một “bảo tàng sống” về văn hoá dân tộc được hồi sinh, sáng tạo và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Tôi đã nhiều lần tự hỏi, nếu như không có nghi lễ và hội hè thì các làn điệu dân ca như quan họ, hát xoan ; các điệu múa xanh tiền, con đĩ đánh bồng, múa rồng, múa lân ; các hình thức sân khấu chèo, hát bội, rối nước, cải lương ; các trò chơi, trò diễn: Đánh cờ người, chọi gà, chơi đu, đánh vật, bơi trải, đánh phết, trò trám sẽ ra đời và duy trì như thế nào trong lòng dân tộc suốt hàng nghìn năm qua Và như vậy thì dân tộc và văn hoá dân tộc sẽ đi đâu, về đâu, sẽ còn mất ra sao?
Đã ai đó từng nói làng xã Việt Nam là cái nôi hình thành, bảo tồn, sản sinh văn hoá truyền thống của dân tộc nhất là trong hoàn cảnh bị xâm lược và đồng hoá Trong cái làng xã nghèo nàn ấy, ngôi đình mái chùa, cái đền và cùng với nó là lễ hội với
“xuân thu nhị kỳ” chính là tâm điểm của cái nôi văn hoá đó Không có làng xã Việt Nam thì cũng không có văn hoá Việt Nam
Trang 8Điều này càng cực kỳ quan trọng trong điều kiện xã hội công nghiệp hoá, hiện đại hoá và toàn cầu hoá hiện nay, khi mà sự nghiệp bảo tồn, làm giàu và phát huy văn hoá truyền thống dân tộc trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, thì làng xã và lễ hội Việt Nam lại gánh một phần trách nhiệm là nơi bảo tồn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc
c Tri ân công đức.
Tất cả mọi lễ hội cổ truyền đều hướng về nguồn Đó là nguồn cội tự nhiên mà con người vốn từ đó sinh ra và nay vẫn là một bộ phận hữu cơ; nguồn cội cộng đồng như dân tộc, đất nước, xóm làng, tổ tiên, nguồn cội văn hoá Hơn thế nữa, hướng
về nguồn đã trở thành tâm thức của con người Việt Nam - “uống nước nhớ nguồn”,
“ăn quả nhớ người trồng cây” Chính vì thế, lễ hội bao giờ cũng gắn với hành hương - du lịch
Ngày nay, trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật, tin học hoá, toàn cầu hóa, con người bừng tỉnh về tình trạng tách rời giữa bản thân mình với tự nhiên, môi trường; với lịch sử xa xưa, với truyền thống văn hoá độc đáo đang bị mai một Chính trong môi trường tự nhiên và xã hội như vậy, hơn bao giờ hết con người càng
có nhu cầu hướng về, tìm lại cái nguồn cội tự nhiên của mình, hoà mình vào với môi trường thiên nhiên; trở về, tìm lại và khẳng định cái nguồn gốc cộng đồng và bản sắc văn hoá của mình trong cái chung của văn hoá nhân loại Chính nền văn hoá truyền thống, trong đó có lễ hội cổ truyền là một biểu tượng, có thể đáp ứng nhu cầu bức xúc ấy Đó cũng chính là tính nhân bản bền vững và sâu sắc của lễ hội
có thể đáp ứng nhu cầu của con người ở mọi thời đại
2.1.3 Đánh giá chung tình hình lễ hội ở Việt Nam.
Để bảo vệ và phát huy những giá trị, vai trò to lớn của các lễ hội, trong những năm gần đây, công tác quản lý và tổ chức lễ hội cơ bản đã thực hiện nghiêm các quy định về quản lý và tổ chức lễ hội của của Đảng và Nhà nước Lễ hội quy mô quốc gia đến các lễ hội nhỏ phạm vi làng, xã đều đảm bảo an ninh trật tự Nhiều lễ hội có chuyển biến tích cực, khắc phục được nhiều hạn chế, tồn tại như mê tín dị đoan, cờ bạc, lưu hành ấn phẩm trái quy định Do phát huy vai trò chủ thể của người dân hoạt động lễ hội đã được xã hội hoá rộng rãi, huy động được nguồn lực lớn từ nhân dân, nguồn tài trợ, cung tiến ngày càng tăng, nguồn thu qua công đức, lệ phí, dịch
vụ phần lớn đã được sử dụng cho tôn tạo di tích, tổ chức lễ hội nhằm bảo tồn các phong tục, tập quán truyền thống và hoạt động phúc lợi công cộng
Trang 9Phần lễ tổ chức trang trọng, linh thiêng và thành kính, chương trình tham gia phần hội phong phú hấp dẫn, bảo tồn có chọn lọc những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc theo xu hướng lành mạnh, tiến bộ, tiết kiệm, tổ chức các hoạt động văn hóa dân gian, diễn xướng dân gian, dân ca, dân vũ, dân nhạc của các dân tộc để quảng
bá, giới thiệu những giá trị văn hóa của các dân tộc Việt Nam Đồng thời các sinh hoạt lễ hội truyền thống đã góp phần giáo dục đạo lý uống nước nhớ nguồn, tạo sự gắn kết giữa các thành viên trong cộng đồng, làm nên vẻ đẹp của các công trình tín ngưỡng, tôn giáo
Một số lễ hội tổ chức với quy mô ngày càng lớn, hình thức tổ chức với nhiều nội dung, nhiều hoạt động, các địa phương đã dựa vào nội lực là chính, nhiều lễ hội đã chinh phục được du khách, tôn vinh di sản, nâng cao uy tín của thương hiệu du lịch hấp dẫn của địa phương
Thông qua tổ chức lễ hội đã huy động được nguồn lực lớn từ nhân dân, phần lớn kinh phí tổ chức lễ hội (đặc biệt là lễ hội dân gian) đều do nhân dân và du khách thập phương tự nguyện đóng góp Trong nhiều lễ hội, nhân dân đã đóng góp nguồn kinh phí lớn có thể tính được bằng tiền tỷ để trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa, bảo tồn các phong tục, tập quán truyền thống
Tuy nhiên, bên cạnh những cải thiện trong công tác quản lý, tổ chức các lễ hội của Đảng và Nhà nước cùng sự chung tay, góp sức của nhân dân, vẫn còn đó những bất cập tồn tại trong công tác quản lý, tổ chức cũng như ý thức chưa tốt của một bộ phận người dân và du khách Trình độ quản lý, chỉ đạo tổ chức hoạt động lễ hội của cán bộ văn hóa cơ cở và những người trực tiếp quản lý di tích và điều hành lễ hội còn hạn chế Một số lễ hội còn có biểu hiện lãng phí, ngoài ra còn xuất hiện hiện tượng bói toán, lên đồng, cờ bạc, xem tướng số, tử vi làm giảm đi tính tôn nghiêm
và những nét đẹp văn hóa trong hoạt động lễ hội Sự bùng nổ nhu cầu tham gia lễ hội của đông đảo nhân dân đã dẫn đến tình trạng lộn xộn, chen lấn xô đẩy không kiểm soát được tại một số lễ hội lớn vào dịp đầu xuân như ở lễ hội đền Trần, lễ hội đền Sóc, lễ hội chùa Hương…
2.2 Thực trạng và những vấn đề đặt ra về văn hóa tại các lễ hội.
2.2.1 Mặt trái về các hoạt động thiếu tính văn hóa tại các lễ hội.
Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường, chúng ta đã có phần buông lỏng chỉ đạo, quản lý trên một số lĩnh vực văn hóa - xã hội, xem nhẹ việc giáo dục nếp sống và lối sống thiếu sự hướng dẫn kịp thời về phong tục, thiếu
Trang 10những quy định cụ thể của Nhà nước đối với lễ hội nên đã để phát sinh nhiều hiện tượng phản cảm trong xã hội
Đầu tiên, có thể thấy rằng những hình thức lễ lạt tốn kém, rườm rà có xu hướng phục hồi Những nhận thức lệch lạc dẫn đến những hành động khiến xã hội phải
“phàn nàn” nhiều như là nhét tiền lên tay tượng Phật, đặt tiền lẻ không chỉ lên nơi quy định mà hầu như bất cứ vị trí nào trên bàn thờ, trên bệ tượng, chuông, khánh, dưới giếng nước… Đồ hàng mã (voi, ngựa, hình nhân thế mạng, xe cộ, nhà cửa, điện thoại, vv.) đều làm to hơn hoặc to bằng đồ thật; tiền vàng mã chất đống chờ tiêu hóa, kim ngân, v.v…Dịch vụ sắm lễ, đội lễ, khấn thuê trở nên phổ biến công khai và trở thành một trong những dịch vụ ăn khách Xin xăm, xóc thẻ, giải quẻ thẻ
là hiện tượng không hiếm gặp ở các di tích trong kỳ lễ hội Điều này, chính là biểu hiện thương mại hóa lễ hội Nó thể hiện mong muốn mua bán mặc cả tận tay với thần linh
Bên cạnh đó, tại nhiều địa phương vẫn còn những hủ tục lạc hậu diễn ra tại các lễ hội gây bức xúc trong dư luận như tập tục chém lợn ở làng Ném Thượng (Bắc Ninh), đập đầu trâu ở lễ hội Cầu trâu (Phú Thọ), cướp phết ở lễ hội Phết (Tam Nông, Phú Thọ), cướp lộc ở Hội Gióng (Sóc Sơn, Hà Nội) Chém lợn hay đập đầu trâu đều là lễ hội có yếu tố hiến sinh Nếu đứng từ phía nhà nghiên cứu văn hóa, đó
là tập tục gắn lâu đời với người dân nhưng ngày nay, khi không còn nằm trong một cộng đồng nhỏ mà được mở rộng hơn thì việc đó không còn phù hợp nữa Đó là một hoạt động có tính chất bạo lực, có thể gây ảnh hưởng xấu đến tâm lý người xem đặc biệt là trẻ em
Nhiều nhà khoa học ủng hộ quan điểm: cần bảo tồn các lễ hội dân gian nhưng phải
có chọn lọc để phát huy những mặt tích cực, đồng thời loại bỏ những yếu tố tiêu cực, lạc hậu; lễ hội không phải bất biến mà có thể điều chỉnh phù hợp với thời đại mới
2.2.2 Trục lợi từ các hoạt động tâm linh.
Các nghi lễ, tín ngưỡng là những hoạt động không thể thiếu trong các lễ hội truyền thống thể hiện những nét đẹp trong văn hoá tâm linh của người Việt Những hoạt động này được xem như món chính trong những bữa ăn tinh thần được tổ chức hằng năm vì vốn dĩ văn hoá tâm linh có một vị trí rất quan trọng trong lòng người Việt Các nghi lễ thờ cúng các vị thần, những vật phẩm may mắn hay những hoạt động bói toán thu hút sự chú ý của rất nhiều người trong những lễ hội nói riêng và người Việt nói chung Hiểu được điều này, nhiều cá nhân hoặc các nhóm cá nhân