1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận môn đường lối đề tài tình hình xuất khẩu thủy sản ở việt nam giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015

12 95 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 40,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vị trí của ngành xuất khẩu thuỷ sản trong nền kinh tế Việt Nam Hoà chung với quá trình phát triển kinh tế của đất nước, ngành xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho

Trang 1

I TỔNG QUAN VỀ NGÀNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN Ở VIỆT NAM

1 Khái niệm về hoạt động xuất khẩu thủy sản

Xuất khẩu là một bộ phận của hoạt động ngoại thương, trong đó hàng hóa và dịch

vụ được bán, cung cấp cho nước ngoài mà phương tiện thanh toán là những đồng tiền chung hoặc những đồng tiền mạnh trên thế giới

Thủy sản là một thuật ngữ chỉ chung về những nguồn lợi, sản vật đem lại cho con người từ môi trường nước và được con người khai thác, nuôi trồng thu hoạch sử dụng làm thực phẩm, nguyên liệu hoặc bày bán trên thị trường

Như vậy, xuất khẩu thủy sản là hình thức đánh bắt, nuôi trồng và chế biến các loại thủy sản để bán cho nước ngoài

2 Vị trí của ngành xuất khẩu thuỷ sản trong nền kinh tế Việt Nam

Hoà chung với quá trình phát triển kinh tế của đất nước, ngành xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho đất nước và có những bước tiến nhảy vọt, sớm trở thành ngành kinh tế then chốt trong nền kinh tế quốc dân

Trong suốt những năm qua, ngành xuất khẩu thuỷ sản đã có những bước chuyển biến rõ rệt, từ chỗ chỉ là một bộ phận không lớn của kinh tế nông nghiệp, trình độ công nghệ lạc hậu, đến nay ngành đã có quy mô ngày càng lớn, tốc độ phát triển ngày càng cao, chiếm 4 - 6% kim ngạch xuất khẩu cả nước, đóng góp một nguồn ngoại tệ vô cùng lớn cho ngân sách quốc gia Năm 2011, giá trị kim ngạch thuỷ sản xuất khẩu đạt 6,11 tỷ USD Đến năm 2014 giá trị này đã đạt dược khoảng 7,84 tỷ USD Đây là thành tựu quan trọng của một thời gian dài phát triển không ngừng, tăng trưởng cả về số lượng và chất lượng của ngành thuỷ sản Các sản phẩm thuỷ sản Việt Nam đã có mặt trên 80 quốc gia Nhà nước hiện tại đã xác định thuỷ sản sẽ là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước trong giai đoạn tới

Trang 2

3 Các điều kiện để phát triển ngành xuất khẩu thủy sản ở Việt Nam

3.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1 Vị trí địa lý và địa hình

Việt Nam nằm ở phía tây biển Đông, có 28 tỉnh thành có biển, với tổng chiều dài

bờ biển hơn 3260 km, kéo dài từ Quảng Ninh đến Kiên Giang Diện tích vùng nội thuỷ và lãnh hải rộng hơn 226.000 km2, có diện tích vùng đặc quyền kinh tế rộng trên 1.000.000

km2 Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, vùng biển Việt Nam có trên 4.000 hòn đảo lớn nhỏ và 2 quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa, là nơi có thể cung cấp các dịch vụ hậu cần cơ bản, trung chuyển sản phẩm khai thác, đánh bắt, đồng thời làm nơi neo đậu cho tàu thuyền trong những chuyến ra khơi

Biển Việt Nam còn có nhiều vịnh, đầm phá, cửa sông (trong đó hơn 10.000 ha đang quy hoạch nuôi trồng thuỷ sản) và trên 400.000 ha rừng ngập mặn Đó là tiềm năng

để Việt Nam phát triển hoạt động khai thác và nuôi trồng thuỷ hải sản Cùng đó trong đất liền còn có khoảng 7.000.000 ha diện tích mặt nước có thể nuôi trồng thuỷ sản, trong đó

có 120.000 ha hồ ao nhỏ, mương vườn, 244.000 ha hồ chứa mặt nước lớn, 446.000 ha ruộng úng trũng, nhiễm mặn, cấy lúa 1 hoặc 2 vụ bấp bệnh, và 635.000 ha vùng triều

3.1.2 Khí hậu

Biển Đông hoàn toàn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và nằm trong 2 đới: đới gió mùa nhiệt đới có mùa đông lạnh ở phía bắc và đới gió mùa cận nhiệt đới nóng quanh năm ở phía nam Quanh năm, nhiệt độ nước biển đều lớn hơn 25oC Một số vùng

có khí hậu ôn đới Tài nguyên khí hậu đã giúp cho ngành thuỷ sản phát triển một cách thuận lợi

Tuy nhiên bên cạnh những điều kiện thuận lợi cũng có những khó khăn do điều kiện địa hình và thuỷ vực phức tạp, hàng năm có nhiều mưa bão, lũ, vào mùa khô lại hay

bị hạn hán, gây khó khăn và cả những thổn thất to lớn cho ngành thuỷ sản

3.1.3 Tài nguyên sinh vật

Trang 3

khoảng 6.000 loài động vật đáy và 2.000 loài cá Có 83 loài sinh vật biển được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam (37 loài cá, 6 loài san hô, 5 loài da gai, 4 loài tôm rồng, 1 loài sam, 21 loài ốc, 6 loài động vật hai mảnh vỏ và 3 loài mực) Biển Việt Nam có 110 loài cá kinh tế (trích, thu, ngừ, bạc má, hồng,…) thuộc 39 họ, tổng trữ lượng cá biển khoảng 3 - 3, 5 triệu tấn và khả năng khai thác cho phép là trên một triệu tấn mỗi năm

Trong số nguồn lợi về cá, thì cá nổi đóng vai trò rất lớn Những đánh giá gần đây cho thấy, trữ lượng cá nổi trung bình ở các vùng biển Việt Nam vào khoảng 2.744.900 tấn, chiếm 54,37% tổng trữ lượng cá và khả năng khai thác là 1.372.400 tấn Trong đó, vịnh Bắc Bộ: trữ lượng là 433.100 tấn và khả năng khai thác là 216.500 tấn; Trung Bộ: trữ lượng là 595.600 tấn và khả năng khai thác là 297.800 tấn; Đông Nam Bộ: trữ lượng

là 770.800 tấn và khả năng khai thác là 385.400 tấn; Tây Nam Bộ: trữ lượng là 945.400 tấn và khả năng khai thác là 472.700 tấn

Ngoài ra, còn có nguồn lợi động vật thân mềm (hơn 2.500 loài) với trữ lượng đáng

kể, có giá trị kinh tế cao Rong biển có hơn 600 loài (sử dụng cho chế phẩm công nghiệp

24 loài, dược liệu 18 loài, thực phẩm 30 loài, thức ăn gia súc 10 loài và phân bón 8 loài) Trong vùng biển nước ta còn có nhiều loại động vật quý như đồi mồi, rắn biển, chim biển

và thú biển Vì nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, trong các vùng biển của nước ta còn có các hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái cỏ biển, hệ sinh thái san hô, hệ sinh thái đảo,

hệ sinh thái bờ đá, hệ sinh thái cồn cát,… Tiềm năng nuôi trồng thủy sảng ngước mặn, lợ trong các vùng cửa sông, đầm phá, vũng vịnh và vùng biển ven bờ rất lớn, có thể nuôi trồng các loài đặc sản như tôm, cua, rau câu, nuôi cá lồng,…

Tiềm năng nguồn lợi hải sản của nước ta rất lớn nhưng khả năng khai thác còn hạn chế Theo Viện Nghiên cứu Hải sản, tổng trữ lượng hải sản biển Việt Nam giao động trong khoảng 3,1 – 4,2 triệu tấn, trong khi đó khả năng khai thác chỉ đạt khoảng 1,4 – 1,6 triệu tấn Nguyên nhân là do chúng ta mới chỉ tập trung khai thác ven bờ gây nên sự mất cân đối, làm cho nguồn hải sản ven bờ nhanh chóng bị cạn kiệt

Trang 4

3.2 Điều kiện kinh tế xã hội

3.2.1 Dân số

Dân cư Việt Nam có lợi thế đặc biệt, đó là dân số “vàng” Đối với dân cư vùng biển, do tỷ lệ sinh đẻ cao, đời sống thấp kém, tuổi thọ ngắn nên tỷ trọng sức trẻ trong ngành thủy sản nói chung và xuất khẩu thủy sản nói riêng ngày một lớn Số hộ và số nhân khẩu lao động trong ngành vẫn tăng đều qua các năm, có khả năng cung cấp đủ sức lao động dồi dào cho ngành

Tuy nhiên hiện nay, lợi thế này vẫn chưa được phát huy tốt vì trình độ văn hóa cũng như trình độ chuyên môn của lực lượng lao động này còn thấp

3.2.2 Hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật

Các thành tựu của khoa học công nghệ từng bước được ứng dụng trong ngành đã đem lại hiệu quả cao trong công tác nuôi trồng và chế biến thủy sản, từ đó giúp cho chất lượng và số lượng thủy sản tăng, tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy phát triển xuất khẩu thủy sản

Số lượng tàu thuyền máy ngày càng tăng tạo điều kiện cho việc đánh bắt Việc hình thành và xây dựng cơ sở dịch vụ cho khai thác thủy sản diễn biến trên cả 3 lĩnh vực:

cơ khí đóng sửa thuyền; bến cảng và dịch vụ cung cấp nguyên vật liệu; thiết bị và hệ thống tiêu thụ sản phẩm

Cơ sở hạ tầng giao thông vận tải cũng có ảnh hưởng lớn đến thương mại thủy sản Giao thông thuận tiện sẽ giúp cho xuất khẩu thủy sản diễn ra nhanh chóng hơn và nắm bắt được nhiều cơ hội hơn

3.2.3 Hệ thống pháp luật và chính sách quản lý của Nhà nước

Hệ thống pháp luật và chính sách quản lý của Nhà nước có tác động rất lớn đến hoạt động xuất khẩu thủy sản thông qua các rào cản thương mại của chính phủ, đó là: các quy định về nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản; các quy định về vệ sinh và an toàn thực phẩm; ưu đãi và hỗ trợ của Nhà nước và nước ngoài về nguồn vốn, công nghệ; hàng rào thuế quan và phi thuế quan,…

Ngoài ra, hệ thống pháp luật minh bạch, thông thoáng cũng như các chính sách điều phối nền kinh tế đúng đắn, đặc biệt là chính sách đối ngoại sẽ là nhân tố quyết định tới khả năng thu hút, tìm kiếm và hợp tác với các đối tác kinh tế, lựa chọn thị trường tiêu thụ cho các sản phẩm xuất khẩu

Trang 5

II TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 2011 ĐẾN

NĂM 2015

1 Những thành tựu của ngành xuất khẩu thuỷ sản

1.1 Về sản lượng và kim ngạch xuất khẩu

Xuất khẩu thuỷ sản có thể coi là thành quả lớn nhất của ngành thuỷ sản Việt Nam, góp phần xác định vị trí quan trọng của ngành thuỷ sản đối với nền kinh tế đất nước và trên thị trường quốc tế, từng bước đưa thuỷ sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam Tỷ trọng của ngành trong nền kinh tế từ năm 2011 đến năm 2015 luôn đạt ở ngưỡng

ổn định Tuy có những năm tỷ lệ tăng trưởng âm nhưng giá trị xuất khẩu vẫn đạt trên 6 tỷ USD, đóng góp một khoản ngoại tệ không nhỏ cho ngân sách quốc gia

Bảng 1 Giá trị xuất khẩu thuỷ sản (GTXKTS) so với kim ngạch xuất khẩu cả nước

(KNXKCN) từ năm 2011 đến 2015

(Tỷ USD)

Tỷ lệ tăng so với năm trước (%)

KNXKCN (Tỷ USD)

Tỷ trọng so với

cả nước (%)

(Nguồn: Tổng cục Hải quan)

1.2 Về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu

Việc đổi mới công nghệ đã giúp cho các doanh nghiệp có điều kiện đa dạng hoá các mặt hàng xuất khẩu, cơ cấu sản phẩm xuất khẩu đã có những thay đổi tích cực

Con tôm vốn được coi là sản phẩm xuất khẩu chủ đạo của ngành thuỷ sản Việt Nam Các loại tôn như: tôm hùm, tôm sú đen, tôm sú trắng và các loại tôm khác chiếm gần một nửa kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam Trong năm 2014, giá trị xuất khẩu tôm đạt 3,95 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 50,38% tổng giá trị xuất khẩu hàng thuỷ sản Năm 2015 mặc dù sụt giảm mạnh nhưng tôm tiếp tục giữ ngôi vị số một với giá trị xuất khẩu gần 3 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 44%

Trang 6

Xuất khẩu cá chiếm vị trí thứ hai trong các sản phẩm xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam.

Tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu cá năm 2014 giá trị xuất khẩu cá đạt 2,25 tỷ USD chiếm 28,7% trong cơ cấu mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu; năm 2015 là 2,07 tỷ USD, tương đương 30,9%

Bên cạnh đó các mặt hàng xuất khẩu khác như các loài thân mềm (mực, bạch tuộc), động vật 2 mạnh (ngao, sò) cũng được yêu mến trên thị trường quốc tế, chiếm tỷ lệ không nhỏ trong cơ cấu xuất khẩu thủy sản của Việt Nam

Bảng 2 Tỷ trọng các mặt hàng xuất khẩu của thuỷ sản Việt Nam (%)

Năm Tôm đông lạnh Cá đông lạnh Mực, bạch tuộc Khác

(Nguồn: Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam VASEP)

1.3 Về thị trường xuất khẩu

Nhờ quá trình đổi mới công nghệ thiết bị, đa dạng hoá cơ cấu sản phẩm và nâng cao chất lượng, thị trường xuất khẩu của thuỷ sản Việt Nam đã được mở rộng hơn

Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn thì vấn đề thị trường được các doanh nghiệp quan tâm hơn lúc nào hết Bằng những biện pháp xúc tiến thương mại, chủ động tìm kiếm bạn hàng và thị trường mới thay vì thụ động ngồi chờ khách hàng đã giúp các doanh nghiệp mở rộng thị trường mới, đồng thời duy trì và phát triển các thị trường truyền thống Đến nay sản phẩm thuỷ sản của Việt Nam đã có mặt tại 80 nước và vùng lãnh thổ

Có thể kể đến các thị trường đối tác lớn của ngành xuất khẩu thủy sản Việt Nam như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, các nước thuộc Liên minh châu Âu EU,…

Bảng 3 Giá trị xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam tại các thị trường chính (Tỷ USD)

Trang 7

(Nguồn: Trung tâm tin học - Bộ Thuỷ sản)

2 Những hạn chế của ngành xuất khẩu thuỷ sản

Nhìn vào thực tế xuất khẩu thuỷ sản chúng ta có thể thấy được những thành công, những chuyển biến tích cực góp phần ổn định và phát triển kinh tế đất nước Tuy nhiên bên cạnh đó xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, khó khăn nhất định

2.1 Về chất lượng sản phẩm

Chế biến thuỷ sản cho xuất khẩu phụ thuộc rất lớn vào nguồn nguyên liệu, chất lượng nguồn nguyên liệu có cao thì mới đảm bảo chất lượng sản phẩm chế biến đạt yêu cầu xuất khẩu Chủng loại thuỷ sản xuất khẩu còn nghèo nàn, chủ yếu là tôm, mực đông lạnh, cá tra và các ba sa dưới dạng thô, mới chỉ qua sơ chế vì vậy mà giá trị xuất khẩu thấp, tính cạnh tranh của sản phẩm không cao, việc xuất khẩu cá sản phẩm cao cấp có phần chưa được chú trọng

Hơn nữa, trong những năm gần đây, chất lượng của các sản phẩm hải sản xuất khẩu cũng đã bị đưa lên bàn cân nghi ngờ, đặc biệt là 2 sản phẩm chủ lực là tôm đông lạnh và cá phi lê luôn nhận được nghi vấn về nồng độ hóa chất độc hại trong sản phẩm

2.2 Về trình độ của lực lượng lao động

Tuy Việt Nam là nước có “dân số vàng”, lực lượng dồi dào với tinh thần cần cù chịu khó, song trình độ tay nghề chưa cao, năng suất lao động thấp Thu nhập ít ỏi dẫn đến việc người lao động không gắn bó với nghề

Trình độ công nghệ và kỹ thuật sản xuất, chế biến và bảo quản tuy có được cải tiến nhưng vẫn khá thủ công so với các nước cùng xuất khẩu khác như: Thái Lan, Inđônêxia, Trung Quốc… Cùng với đó trình độ cán bộ quản lý doanh nghiệp còn nhiều hạn chế cả về

Trang 8

kiến thức và kinh nghiệm cạnh tranh trên thị trường quốc tế đã làm giảm lợi thế so sánh của xuất khẩu thủy sản Việt Nam

2.3 Về khả năng cạnh tranh và quảng bá thương hiệu

Khả năng phát triển thị trường cho xuất khẩu thuỷ sản cũng còn nhiều yếu kém Công tác dự báo nhu cầu, nghiên cứu kỹ đặc điểm, nhu cầu, truyền thống văn hoá, yêu cầu tiêu chuẩn kỹ thuật của thị trường còn bị bỏ ngỏ làm hạn chế tốc độ mở rộng thị trường Bên cạnh đó kinh nghiệm trong việc giải quyết các vụ kiện và tranh chấp thương mại cũng còn nhiều hạn chế Vấn đề thị trường vẫn là vấn đề khó khăn cho xuất khẩu thuỷ sản nước ta, làm sao để không bị mất thị phần và phát triển mở rộng đó là bài toán lớn đặt

ra với các doanh nghiệp nói riêng và toàn ngành thuỷ sản nói chung

Việc xây dựng, phát triển và quảng bá thương hiệu là một điểm yếu lớn của thuỷ sản Việt Nam Đây là một vấn đề mang tính chiến lược và cần được đầu tư lâu dài nhưng các doanh nghiệp lại chưa có kế hoạch và chương trình xúc tiến thương mại trên thị trường nước ngoài Và việc mất thương hiệu là điều rất dễ xảy ra (điển hình là nước mắm Phú Quốc) Các doanh nghiệp còn ít tham gia vào các hội chợ triển lãm để chủ động tìm kiếm khách hàng do đó nhiều khi để mất hợp đồng xuất khẩu vào tay các đối thủ cạnh tranh Điều này cần được nhanh chóng khắc phục để khẳng định thương hiệu thuỷ sản Việt Nam và phát triển mở rộng thị trường

Trang 9

III MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN

1 Nâng cao chất lượng và đa dạng hoá các sản phẩm

Việc đa dạng hoá sản phẩm là hướng quan trọng cho ngành thuỷ sản xuất khẩu

vào thị trường thế giới Đầu tiên phải đa dạng hoá các mặt hàng, đa dạng hoá về phương thức chế biến, điều này đòi hỏi hiểu biết rất kĩ về công nghệ chế biến, đặc điểm phong tục tập quán, về nhu cầu của từng thị trường Tiếp theo đó sẽ là đa dạng hoá về nguyên liệu chế biến, tạo tiền đề cho việc mơ rộng và thay đổi một cơ cấu hàng xuất khẩu phù hợp hơn với nhu cầu thị trường

Tạo ra một nguồn nguyên liệu có chất lượng cao Có thể nói chất lượng nguyên

liệu thuỷ sản cần được đảm bảo ngay từ khâu đánh bắt nuôi trồng Muốn vậy, trước hết phải xây dựng hệ thống dịch vụ kỹ thuật, tuyển chọn, bồi dưỡng nguồn nhân lực giúp người nuôi trồng có giống chất lượng tốt, sạch bệnh, đạt hiệu quả cao Kế tiếp, khâu nuôi trồng thuỷ sản phải theo đúng quy trình, tránh dịch bệnh, tránh sử dụng các loại thuốc kháng sinh không cho phép, đảm bảo dư lượng kháng sinh cho phép khi thu hoạch

Việc đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm theo đúng tiêu chuẩn

HACCC có tầm quyết định tới sự sống còn của các doanh nghiệp Các doanh nghiệp cần

tự hoàn thiện năng lực quản lý, tự giác kiểm tra và thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm, chỉ có như thế mới đảm bảo cho sự phát triển của mỗi doanh nghiệp xuất khẩu hàng thuỷ sản nói riêng và toàn ngành nói chung

2 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và trình độ sản xuất

Tích luỹ vốn, đầu tư đổi mới trang thiết bị máy móc, nâng cao chất lượng đa dạng hoá sản phẩm là tiêu đề cho xuất khẩu của doanh nghiệp Đồng thời tăng cường sự liên kết chặt chẽ, hình thành mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế từ người khai thác nuôi

trồng đến các nhà chế biến, thương mại, để giảm các chi phí, bằng cách đầu tư cho nghiên cứu khoa học, trợ giúp các hộ nuôi trồng vốn và kỹ thuật, và khi đó các nhà chế biến và xuất khẩu sẽ có được nguồn nguyên liệu ổn định chất lượng cao thông qua các hợp đồng bao tiêu sản phẩm

Trang 10

Bắt đầu với xuất phát điểm thấp hơn các nước trong khu vực và trên thế giới do đó trình độ nguồn lao động và trình độ quản lý còn yếu kém Cần tích cực đào tạo kỹ thuật canh tác, nuôi trồng thông qua các lớp tập huấn trực tiếp cho bà con nông dân, cử các kỹ

sư xuống tận nơi hướng dẫn kỹ thuật Nâng cao trình độ quản lý cho các nhà quản lý và cán bộ thị trường, tạo cơ hội tiếp cận học tập các nước có nền kinh tế phát triển, từ đó nâng cao hiệu quả công tác nghiên cứu thị trường, cung cấp thông tin thị trường chính xác nhất, đem lại hiệu quả cao nhất cho xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam

Mỗi doanh nghiệp nói riêng và toàn bộ ngành phải có được chiến lược cụ thể để tăng cường xúc tiến thương mại, giới thiệu sản phẩm đến các khách hàng trên toàn thế giới Đồng thời phải xây dựng và quảng bá thương hiệu tránh các trường hợp bị đánh cắp thương hiệu như trường hợp đã xảy ra với nứơc mắm Phú Quốc Thương hiệu sẽ là vũ khí quan trọng trong cuộc chiến cạnh tranh vô cùng gay gắt hiện nay

Ngày đăng: 05/05/2020, 16:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w